lyhuonga.jpg














































XUÔI RA BIỂN CẢ, NGƯỢC D̉NG VỀ NGUYÊN

NGỌC-HUỆ-CHƠN

Nhập đề:

Thói thường, cái ǵ “Thuận” th́ cho là “Xuôi Chiều”, c̣n cái ǵ “Nghịch lại” th́ cho là“Ngược Chiều.

Thế nhưng, hai chữ “Xuôi” và “Ngược” không gói ghém đầy đủ ư nghĩa phức-tạp trong cuộc đời.

            Bởi v́ cuộc sống th́ “thiên-h́nh vạn-trạng”; có cái bề ngoài không đồng nhứt với cái bề trong.

            Ví như: Trái dưa hấu, cái da bên ngoài th́ xanh mà ruột bên trong lại đỏ. Hoặc như:

                            Có khi ngoài mặt th́ giử vẻ tươi cười, nhưng trong ḷng th́ “gan bầm ruột tím

                            Phật-Giáo có câu: “Phật-Pháp bất ly thế-gian-pháp”.

                            Rồi cũng có người nói thêm:”Trong Đời có Đạo, lấy Đạo xây Đời”

            Nhưng cái “Đạo” trong “Đời” ấy ra sao? Có phải xuôi theo Đời chăng? Nếu “xuôi” theo Đời tại sao có câu:”Bội trần, Hiệp giác”?  Là v́ “Trần” là bụi bậm, mà bụi th́ hay làm hoen-ố mănh gương ḷng như: “Bụi tài-sắc, bụi danh-lợi”

            Nếu bảo rằng phải “Bội-Trần” là đưa lưng với các thứ bụi đó. Phải chăng Thánh-Hiền khuyên người đời ngoảnh mặt làm ngơ với danh-lợi sắc-tài chăng? V́ nếu không ngoảnh mặt  th́ bụi kia ắt phủ lấp cả đầu, rồi mắt đă bị vướng bụi th́, dù có mở trao tráo nhưng nào có thấy đâu là Nhơn đâu là Nghĩa? Nhơn Nghĩa là cái tầm thường mà c̣n không thấy th́ làm sao thấy được Ánh-Giác của Đấng Chí-Tôn?

            Do đó mà cần phải phân-định cái “hiện-tượng” và “bản-chất” của con người. Có phân biệt  được h́nh-thể bên ngoài  với thực-trạng bên trong th́ mới mong t́m về được cái Chơn-Lư tuyệt-đối.

            Cũng như đấng Jésus bảo con người: “T́m cái sống trong cái chết”  nghĩa là:

                        ”Không giết cái “Sống-Phàm” th́ làm sao sống được cái “Sống-Thánh”? 

                        “Không giết đời sống xác thịt, là ăn no ngủ kỹ, mừng-giận ghét-thương , th́ làm sao nếm được cái hương-vị của đời sống tâm-linh an-lành và giải-thoát?.”

            Thế cho nên, người trong Đạo-Giáo có t́m ra được ư-nghĩa cái “Sống Đạo” trong cái  “Chết -Phàm” th́ cái “Ngược” mà “Xuôi” mới thêm phần ư nghĩa.

 

Diễn đề:

Ư Nghĩa của đời sống con người:

            “Bụi hường tôi trồng trước nhà, vừa nẩy ra vài mụt. Sớm chiều tôi tưng-tiu chăm sóc và theo dơi sự phát triển của mỗi mụt. Lần lần nó to lớn rồi một buổi sáng nó tự xé tét đầu nụ và tḥ ra cái tược non xanh-xanh hồng-hồng. Hai hôm sau, mỗi tược đă ra dài, mập-mạp,như những đứa bé sơ-sinh sổ sữa, rất đáng thương.” Ngấm bụi hường tôi tự hỏi:

                        - Cái ǵ trong thân cây nhô lên làm thành nụ?

                        - Cái ǵ xé tét da cây để lấy chổ cho tược non xuất hiện?

                        - Có phải cái tược non đă xé da cây chăng?

                        - Nhưng nó yếu ớt quá th́ làm sao đâm lủng  vỏ cây vừa dày vừa cứng?

            Thật là bí mật, thật là huyền-diệu cho cái sức sống trong cây, ẩn tàng dưới lớp da cây, mạch nhựa dường như lưu-chuyển khắp cùng từ rể đến ngọn, tung ra tứ phía, từ cành lá đến nụ và hoa. Tất cả cành lá non nầy là những sai biệt đều do một cái “cứu cánh độc nhứt” tiềm-ẩn trong thân cây để nuôi dưỡng. Đó là “Sự Sống”. Nh́n cây hường, tôi học được một bài học về “mănh lực sinh-tồn của nhơn-sinh vật-loại.

             Con người đang sống là người “đang đi” trên cuộc hành-tŕnh. Khi nói đang đi nghĩa là đă khởi hành  tức là đă “khởi điểm” và đang hướng về đích-điểm, nhưng chưa đến chốn. Nh́n cây hường tôi học được bài học cho cuộc đời của tôi.

            Nếu đem so sánh, sự phát-triển  tiềm-ẩn bên trong của cây hường với cái mà Khổng-Tử đă bảo:”Sinh-sinh chi vị dịch” và “Cái ǵ tạo thành một chuổi dài cuộc đời để trở nên và triền-miên biến đổi? Đó là “Sự Sống” mà một triết-gia Tây-Phương đă nói:” La vie: Éternel devenir éternel changement”.

Như vậy, “Sống là kế-tục của cái Chết và Chết là cái bắt đầu của cái Sống”.

            Thế nên, Sống và Chết là nhịp điệu liên-hồi của cái ḍng sinh-hoạt vô-biên vĩ-đại, là một sự nối-tiếp nhấp-nhô lên xuống của lượng sóng vô cùng.

            Khi nói đến Sự Sống tức nói “cái hiện-hữu của ta” là cái có mặt của con người trên vũ-trụ nầy.

            Khi ta chấp nhận sự có mặt của ta ở đây th́ con người phải có một chổ ở, nghĩa là phải có một địa-vị và một vị-trí trong sứ-mạng làm người. V́ nó đang mang nặng nhân-cách nên bao giờ cũng phải biến đổi và “thời-gian” là yếu-tố cần-thiết cho sự biến đổi đó.

            Như vậy con người là một hiện-hữu trong một địa-vị và vị-trí nhứt định. Nhưng không phải v́ thế mà con người là một cố-định, v́ sự có mặt cũa con người với thời-gian nào đó; một trăm năm càng tốt, một đôi giờ cũng nên, rồi con người sẽ biến đổi. Khi bỏ địa-vị và vị trí củ con người vẫn mang theo ḿnh hậu quả của những nếp sống ở những địa vị và vị trí trong cuộc đời quá khứ.

            Vậây khi không gian là một yếu-tố cần-thiết cho cuộc sống làm người, khi hiểu con người như một cái “Có” đây; một h́nh-thái tương-giao và liên lạc trong những ảnh-hưởng hổ-tương giữa người với người và người với vạn vật, bằng hành vi thay đổi địa-vị và vị-trí.

            Như thế,mổi người c̣n là một “Cáù Thể”, v́ với không-gian và thời-gian, mỗi người đều biến-dổi. Con người biến đổi khi hoạt-động cũng như khi vô-vi, v́ cả hai hoạt-động và vô-vi đều thay đổi con người. Nói cách khác,  con người đang có đây là con người ở trạng-thái Động hay Tĩnh v́ con người lúc nào cũng biến đổi. Khi hiểu con người là một cái hiện-có, con người sẽ giàu hơn trong cả hai phạm-vi chiếm-hữu và hiện-thể, v́ sống làm người là sống tu-thân và chí-thiện.

            Tu-Thân là hành vi hiện-có của con người đang có mặt đây. Nó tùy nơi, tùy lúc, nghĩa là nơi nào và lúc nào mỗi người đều phải tu-thân trong mọi địa-vị và vị-trí cũng như trong mổi hoành cảnh riêng biệt. C̣n Chí-Thiện là một cái “sẽ-có” mà con người phải vươn tới phải chiếm lấy. Nhưng cái chí-thiện đó hiện giờ chưa có nhưng rồi sẽ có trong mỗi chúng ta.

            V́ cuộc đời là một  cuộc biến-đổi không ngừng cho nên, tự nó chứng minh, tự nó hiện-hữu, không cần phải sửa đổi nó cho hợp “lư’ hợp “t́nh”. Làm sao hợp lư hợp t́nh cho được khi mà sự hiện-hữu của nó chỉ trong vài giờ hay 100 năm. Mà “Lư” và “T́nh” là ǵ? Là những ước-lệ của người muốn vậy. V́ lẽ có người nên mới có Đời: Hai đối-thể nhưng có một thực tại. V́ có ước lệ nên Người muốn cho Đời phải như thế nầy hay thế khác. Trong khi: “Đời chỉ là Đời, tự nhiên vậy đó thôi. Cho nên mới có câu: “Nhân nguyện như thử như thử, Thiên-Lư nhi lai nhi lai”

            Thiên-Lư là Cuộc Sống, mà Cuộc sống là Thực-tại”

            Cho nên, muốn nắm lấy cái Thực-Tại th́ phải nhăy vào tâm-điểm của sự sống chớ đừng lảng vảng ở ṿng ngoài rồi sẽ bị sức ly-tâm  làm ta chán-ván mê-hoặc bởi nghiệp-lực quay tṛn của bánh xe Tạo-Hoá mà Lăo-Tử khuyên người đời phải biết.

   “Thệ viết viển, viển viết  phản”  nghĩa là “phải biết trở về với Bản-Thể  Chơn-Như của sụ sống”

            (Nếu Bản-Thể của ḿnh là Sự Sống mà ḿnh chưa biết th́ làm sao biết được việc lúc chết)

            Đó là lời dạy của đức Thánh Khổng rằng:”Dị tri sanh, yên tri tử”

            Bây giờ xin phát họa lại cuộc đời của con người rồi ta mới thấy: “Từ lúc một đứa hài-nhi mới bước vào đời cho đến lúc trưởng thành; v́ miếng cơm manh áo, v́ giang-sơn, xă-hội, nên con người  đem tâm-thần phục vụ cho hoàn-cảnh là điều bắt buộc, nhưng khi nhơn-đạo đă tṛn mà vẫn  c̣n bon-chen lận-đận mải trên bến chợ chiều th́ thật là uổng phí  cho một cuộc đời.. V́ thế mà Thầy Trang-Tử khuyên:”Đừng lấy người giết Trời”  (Vô dĩ Nhân diệt Thiên) NHK (chương Thu-Thủy)

            Nói cách khác, hoàn-cảnh bên ngoài chỉ cốt là để hổ-trợ phụ-bật, duy-tŕ tinh-thần bên trong. Cho nên người xưa cho rằng:”Đem tâm-thần vĩnh-viển để làm tôi tớ cho vật-chất h́nh-hài là một lỗi lầm rất lớn” (Tâm vi h́nh Dịch - Dịch Khôn quăi)

 

Con Người từ đâu mà có?

            Măi chạy theo ṿng đời vật-chất để tạo danh tác lợi và quên rằng:”Thân nầy có đây là do Tánh và T́nh của Mẹ.  Tánh và T́nh có hoà-hiệp th́ Âm-Dương Ngủ-Hành mới vầy-kết để nên ngôi Thái-Cực, rồi nương theo hô-hấp của Mẹ là sinh-khí của Trời-Đất mới tượng thai-bào.

            Nên Lăo-Tử mới nói:”Người có tuân theo Đất, Đất có tuân theo Trời

                                            Trời  tuân theo Đạo, Đạo có thuận theo Tự-Nhiên

      Th́ Đạo-Thể mới suốt thông  (ĐĐK, ch.25)

            Cũng như nói về Ngũ-Hành có luân-chuyển, Tứ-Thời có xây vần không ngừng nghỉ như cái khoen không đầu không mối. Có vậy mới gọi là “Du hành bất tức”

Cuộc sống của con người, có thể ví như những giọt nước phát xuất từ hơi nước bay lên rồi kết tụ thành mây, mây gặp thời-tiết thuận-hoà đông đặc thành nước, mưa đổ xuống đồng bằng chảy về sông rạch rồi ra biển cả. Tất cả đều:”Xuôi ra biển cả, rồi ngược ḍng về nguyên”. Một chu-kỳ bất tận mà sự sống của mọi người chúng ta đều phải đi qua. Nhưng cái điều đáng nói ở đây là: “Hiện-tại chúng ta  góp mặt nhau ở bến chợ đời. Chúng ta đang sống vui ở đây. Như vậy  không có nghĩa là thụ-động chấp-nhận vai tṛ để diển-xuất cho xong tấn tuồng múa rối đă soạn trước, mà ta phải hoạt-động.

Hoạt-động ở đây là những hành-động của mổi con người. Mỗi cá nhân chúng ta sanh ra từ trong cảnh bần hàn hay trong địa vị giàu sang, nhưng con người tự ḿnh nắm lấy vận-mạng của ḿnh, tự t́m đường thoát khỏi sức cám dổ của dục-vọng. Như vậy sự sống của mỗi cá-nhân phải đi qua những giai-đoạn:

1/- Sống là đấu tranh - 2/- Sống là lựa chọn.

1/- Đấu-tranh để sinh-tồn, để tiến-hóa th́ có khác nào một sự tranh-đấu giữa:

- Một con hươu cao cổ và một con sư-tử trong băi sa-mạc

   - Với con hươu, chân phải cao, cổ phải dài để vươn ḿnh tới trước và ăn những lá cây, cỏ cao, nhưng

- Với con sư-tử, tánh-chất của nó phải lanh-lẹ mới có thể đuổi bắt và giết chết thú vật khác  để làm    mồi mà ăn.

-  Đó là chưa kể đến những cuộc chiến-đấu một mất một c̣n của hai loại vi-trùng củ mới trong cơ thể chúng ta.

- Ngoài ra c̣n biết bao nhiêu cuộc chiến-đấu vật lộn, biết bao những thao-thức băn-khoăn giữa lư-trí    và t́nh-cảm trước khi quyết-định thi-hành một việc ǵ.

    Như vậy, chúng ta không ngạc-nhiên khi nghe nói:”Đời là môi trường tranh-đâu!”

2/- Nói đến đấu-tranh tức là nói đến lựa chọn một trong hai điều, đúng hơn là nói đến một thái-độ dứt-khoát trong lẻ sống của cuộc đời.

            Dứt-khoát làm sao cho trắng ra trắng, đen thành đen trong cái ṿng tương-đối; mặc dù có một thái-độ lờ-mờ bao trùm cả trắng lẩn đen. Đó là một trong những giai-đoạn tạm bợ, tính toán cho một lập trường hơn thiệt. Tuy nhiên cuối cùng, thái-độ ấy cũng vẩn phải ở trong phạm-vi lựa chọn.

            Cũng như: - Một anh nông-dân, lựa chọn một thửa ruộng ph́-nhiêu hơn,

                                - Sự ghi tên vào một phân-khoa đại-học của một sinh-viên,

                                - Sự lựa chọn một tôn-giáo cho cuộc đời lư-tưởng  của ḿnh.

            Nhiều khi ta tự hỏi: Tại sao lại có sự chấp thuận hay phủ-nhận một hiện-tại hiện-hữu?

            Tất cả những cái đó  đều do một động-cơ thúc đẩy đưa ta đến một sự lựa chọn của ư-thức phân-biệt, cái đó có thích-hợp hay không đối với sự sống c̣n của con người mà thôi. Thật vậy, không ai có thể trút lên lưng người khác gánh nặng trách-nhiệm của ḿnh. Như vậy, tranh-đấu, giao-phong vào trận chiến không phải để bám-víu vào một cuộc đời vật lộn không ngừng và không lối thoát, một cuộc đời điểm-tô bằng những cái vô-vị hằng ngày, bằng những cái lo nghĩ bân-quơ không đáng vào đâu; cũng không phải như kẻ ngày ngày cố lăn tảng đá cho đến chết mà không thấy đó là một cái thất-bại hoàn-toàn. Thế nên, tham-chiến là thức-tĩnh nhậân-chân trạng huống của ḿnh là sáng-suốt đo lường cái hữu-hạn của con người và như thế là nhận-thức cái t́nh cảnh chiến-bại cố-hửu của ḿnh để chuyển bại thành thắng. Như thế là, tự nhận cái số-phận hữu-sanh, hữu-diệt, để tự diệt mọi cái sợ hăi trước tử thần.

            Phải dám từ chối cái đời sống giả-nhân, giả-nghĩa đừng tự dối ḿnh bằng những hy-vọng thấp hèn, mà phải: -

            - Sáng-suốt tự thấy cái bần cùng xơ-xác của ḿnh,

            - Sáng-suốt tự thấy cái thái-độ nhắm mắt đưa chơn.

            Làm được như thế là ta đă đạt cái chân thật, là ta đă đặt chân lên con đường “Hướng Thượng” là con đường “Ngược ḍng về nguyên” .

            Rồi sẽ tiến về đâu?

            Tôi vừa thưa tŕnh cùng Quí Vị giai-đoạn đầu của cuộc đời là giai-đoạn: “Xuôi ra cuộc sống: hay là “Giai đoạn Phóng-Ngoại”. Con đường Phóng Ngoại là con đường đi ra cuộc đời để chịu khổ sở gian-truân ngỏ hầu đền bù tội ác của kiếp quá-khứ và cho đời hiện tại là biển khổ, cho xác thân là thù địch. Đó là quan-niệm tiêu-cực của con người Tĩnh. Nhưng nếu có một cái nh́n bao-quát hơn và có một quan-niệm tích-cực của con người Động th́ ta sẽ thấy con người thật ra: Đă, Đang và Sẽ tạo cho ḿnh một lịch-sử rất ly-kỳ, lắm lúc cũng gặp nhiều truân-chuyên, nhưng cũng hưởng nhiều vinh-hạnh. Thực-tế hơn là con người luôn luôn tiến-hóa.

            Nói đến tiến-hóa, tức là nói đến chiều-hướng và mục-tiêu của cuộc tiến-hóa đó. Một cuộc tiến-hóa mà nhân-loại đă đi qua và sẽ đến. Dựa vào Dịch-Kinh và Trung-Dung, Đức Khổng-Tử đă cho biết:

            - Căn-bản của nhân-quần là Trung-Tâm-Điểm của ṿng Tṛn là Trời.

            - Mục-phiêu của nhân-loại quần-sinh cũng là Trời, là Trung-Điểm.

                        Con đường tiến-hóa của nhân-loại đi từ giai-đoạn thực-tiển là Trung-Điềm đến Ṿng-Tṛn là đến giai-đoạn vật-chất mà khi đến hết giai-đoạn vật-chất th́ con người sẽ đến chổ bế-tắc là múc đầu đường, muốn khỏi tiêu-diệt lẻ tất nhiên con người phải quay lưng lại với cuộc đời vật-chất để hướng về tinh-thần. Có hướng về tinh-thần th́ mới mong có hy-vọng Phục-Hồi (conversion) được ngôi vị củ.

            Đi vào con đường vật-chất, là con đường đi ra từ trung-điểm ra ṿng ngoài, tức là lạc-lơng  vào bến chợ đời, tượng-trưng bằng ṿng tṛn, mải chen lấn tranh đua nhau để mua danh bán lợi. Khi mà mặt trời xế ngả về Tây là cuộc đời bắt đầu đen tối.  Nếu con người biết sực tỉnh giấc mê để quày đầu trở lại (Dégénération) t́m về ánh sáng.

            Quày đầu trở về ánh sáng là quày về hướng tinh-thần là đi vào con đường Phục-Sinh

(Rédemption, Régénération, Salut).

             Cái thời kỳ Hồi-Phục là thời-kỳ đen tối nhứt của cuộc đời mà Dịch-Học tượng-trưng bằng giờ Tư (nửa đêm và bằng quẻ Khôn (hoàn-toàn vật-chất). Nhưng giữa cái đen tối giao-thời ấy lại có một ánh sáng hiện ra. Cũng như,:

            - Giữa cái cảnh điêu tàn của nhơn-loại lại có cái mầm-móng tái-sanh hiện ra.

            - Sau cái cảnh phũ-phàng của nhân-thế, sau cái giờ phút chán-chê vật-chất, con người hồi-tỉnh lại mà quày về với giá trị tinh-thần.

            - Dĩ nhiên giai-đoạn đầu làm sao tránh khỏi cảnh  gian-truân, phong-trần tân-khổ, nhưng chung cuộc, sớm muộn ǵ rồi cũng sẽ được hiển-vinh.

            Tuy nhiên, cần phải đi theo cho đúng con đường mà Tạo-Hóa đă vạch sẳn cho nhơn-loại, nhưng kết-quả sẽ sớm muộn c̣n tùy ở sự giác-ngộ, tùy theo tốc-độ của trí-tuệ, tùy theo công-phu tu-luyện, cho nên thời-gian trên trở nên co-giăn vô hạn-định.

            Đó là con đường định-mạng của chúng sanh đều phải đi qua và phải t́m cho thấy mỗi giai-đoạn từ sống đến chết của số kiếp con người, đó là một khía cạnh của các đoàn thể bao-la mà mỗi giai đoạn đi qua như vậy là mỗi lần làm giàu thêm cái kinh-nghiệm về tư-tưởng cũng như nghiệp-quả để khoác lên cho con người một bộ mặt mới. Th́ cũng như:

            - Trái đất có lúc xa lúc gần mặt trời.

            - Nhơn loại cũng có lúc gần lúc xa Thượng-Đế.

            - Tạo-Hoá đă vạch sẳn cái ṿng tiến-hóa từ muôn tuở cũng như cái ṿng châu-luân của trái đất và các v́ sao, từ khi chúng vừa tạo-vựng. Cuộc tiến-hóa của con người cũng như cái ṿng tṛn có hai chiều “Thuận và nghịch”

            Theo chiều Thuận là từ vô h́nh tiến ra hữu h́nh. Đó là chiều “Xuôi ra biển cả” là chiều “Sanh” của vũ-trụ. Trên giai đoạn nầy, ta sẽ t́m ra những học hỏi, tạo dựng vật-chất, t́m ra được nhiều ứng-dụng mới mẻ cho cuộc đời, nhưng dần-dà ta sẽ tiến lên chổ phàm-phu tục-tử. Đó là 50 năm đầu.

             C̣n 50 năm sau của chu kỳ trăm tuổi ta phải theo chiều “nghịch” là từ hữu-h́nh trở ngược về  vô-h́nh. Đi chiều nầy ta sẽ t́m ra được Chơn-Lư tuyệt-đối và tinh-hoa của nhơn-loại và dần-dà sẽ tiến tới bực Siêu-Phàm Thánh-Thiện.

            - Chiều Thuận là chiều SANH của Trời-Đất, là chiều “Nhứt Bản Tán Vạn Thù”

            - Chiều Nghịch là chiều THÀNH của Trời-Đất, là chiều “Vạn Thù Qui Nhứt Bản”

            Theo lẽ thường của Trời Đất th́ có đầu rồi mới có đuôi, có thủy mới có chung, có Dương rồi mới có Âm. Có Sống rồi mới có Chết. Riêng về con người nếu không áp dụng định-luật Dương Âm Thủy-Chung th́ cuộc sống, dọng đầu  xuống đất mà đi.

            Nhưng Dịch-Lư th́ dụng ư nói nghịch lại: Âm-Dương - Tử-Sanh - Chung-Thủy.

            Đó là dựa theo sự biến-hoá vô biên của Trời-Đất để:

            1/- Xiển-Minh cái lẻ “Cùn tắc biến - Biến tắc Thông” để

            2/- Bày ra 2 chiều tiến-hóa xuôi ngược lại qua.

                        Đó là đứng trên quan-niệm Lưỡng-Nguyên mà nói (Théorie dualiste de l’homme)

                     C̣n đứng trên quan-niệm Tam-Tài (Conception Dualiste de l’Homme)

            Chúng ta có thể t́m ra bổn-phận và mục-đích Chơn-Thật của con người là:

- V́ con người có Xác, có Hồn và có Thần

            1/- V́ có Xác (Matériel).- Nên ai ai cũng lo cho có Của có Tiền, Đủ Ăn, Đủ Mặc, có một hoàn-cảnh vật-chất khả-quan mà trên h́nh-thức Đạo-Giáo gọi là “Vật-Đạo” hay “Địa-Đạo”.

            Địa-Đạo hay Vật-Đạo thường được các Đạo-Giáo nhắc đến rất nhiều, như:

            - Đức Ramakhrishna cũng nói: “Kẻ bụng rổng không thể theo Đạo được”

            - Phương-ngôn VN cho rằng: “Có thực mới vực được Đạo”.

            - Vivekananda viết: Ngày nay, tôi tin chắc rằng không giúp cho dân chúng bớt nghèo nàn th́ giăng Đạo cho họ nghe vô ích

            2/- Bước sang phần Hồn (Âme).- Đạo-Giáo gọi là Nhơn-Đạo

Nhơn-Đạo dạy con người ăn ở làm sao cho hợp-t́nh hợp-lư, xứng đáng với danh-nghĩa con người để mọi người cùng chung nhau sanh sống trong t́nh-thương Huynh-Đệ Đại-Đồng, không c̣n ai bị áp-bức, lợi-dụng, bóc-lột nhau.

      - Chúa Jésus, cả Đức Khổng-Tử cũng như Thánh-Thư của Ấn-Độ-Giáo  không hẹn nhau mà:

                        - Đều đồng thanh kêu gọi mọi người phải thương yêu người khác như chính ḿnh.

                        - Đều chủ-trương:”Kỷ  sở bất dục, vật thi ư-nhơn”.

            Như vậy,  Nhơn-Đạo không xa lánh cuộc Đời, mà chính hằng lo lắng sao cho xă-hội loài người  mỗi ngày một trở nên hoàn-mỹ.

            Sau khi phần Xác và phần Hồn của mỗi con người đă làm xong trách-nhiệm sứ-mạng tại thế của ḿnh rồi

            3/- Bây giờ bước sang giai-đoạn thứ Ba là con người c̣n có Tinh-Thần

            - Đạo-giáo gọi đây là “Thiên-Đạo” là một lối sống hoàn-thiện phối-kết với Thượng-Đế.

            - Âu-Châu gọi đây là “Cuộc sống Huyền-Đồng” (vie mystique)

            - Khổng-Tử và Lăo-Tử gọi là Phối-Thiên

            - Bà-La-Môn-Giáo gọi là “Sống Hiệp-Nhứt với Atman hay Thượng-Đế

            - Phật-giáo gọi là “Đáo-Bỉ-Ngạn” hay “Nhập Niết-Bàn”.

                        Theo Thánh-Kinh của Công-Giáo gọi:

            - Thiên-Đạo là thờ-phượng Thượng-Đế bằng  Tâm-Thần, v́ Thượng-Đế là Thiên-Thần và Nhơn-Thần con người mới có thể t́m cầu ứng-hợp với Thượng-Đế.

                        Theo Nho-Giáo:

Thiên-Đạo chính là Đạo Trung-Dung. V́ Nho-Giáo chủ-trương cần phải t́m cho ra Thượng-Đế để làm trụ cốt, làm Tâm-Điểm cho hoàn-vũ và đem tâm-hồn con người gạn lọc khơi trong để đạt tới tinh-hoa của nhơn-loại trở nên thuần-túy chí-thiện..

                                                                

KẾT LUẬN

            Xuyên qua ít nhiều dẩn chứng vừa nêu trên, để chúng ta có một chiều hướng suy tư hầu lưu ư đến Bổn-Nguyên của ḿnh, t́m cho ra từ Khởi-Thủy đến ngày Huờn-Nguyên.

            V́ trước khi đến thế-gian nầy để làm người, chúng ta đều phải xuất-phát từ chổ Khởi-Thủy ấy không phải từ chổ nhục-thể của cha sinh mẹ đẻ mà từ một khối Đại-Linh-Quang trong đức Háo-Sanh của Thượng-Đế. Các Tiểu-Linh-Quang từ khối Đại-Linh-Quang phân thân xuống trần, rồi tùy theo nhiệm-vụ và sứ-mạng đă định của mỗi một đơn-vị đến cơi dinh-hoàn nầy để làm công việc tiến-hóa trong đức háo-sanh.

            Rồi trải qua một giai-đoạn dài trên đường tiến-hóa, những Tiểu-Linh-Quang ấy ví như khách lữ-hành từ Đông sang Tây, từ Nam sang Bắc, đă thay đổi biết bao nhiêu lần phương tiện để di-chuyển.

            Đối với những phương-tiện đó là thể xác của mổi kiếp sống, là mỗi giai-đoạn mà linh-hồn đă mang nặng mỗi kiếp người ví như một mắc khoen trong sợi dây xích dài vô-tận.

            Thánh-giáo trong Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ độ,  Đấng Thiêng-Liêng thường nhắc:”Cơi đời là chốn phù-du giả tạm. Đừng ai quá chấp Ngă rồi ôm chầm lấy nó để rồi tự hủy-hoại bước đường tiến-hóa trong kiếp tái sanh”

            Nghe nói vậy  có người đang trong cảnh “phu-ấm thê-vinh”, vội-vàng dứt bỏ tất cả để t́m vào cái “KHÔNG”. Cũng có những người không tin, măi đấm đuối say mê, ôm gh́ lấy cái giả-tướng ấy. Hai hoàn-cảnh hai tâm-trạng của hai lớp người ấy đều sai với lư Đạo. V́, chỉ có những thực-tạo mới phục-vụ cho cái thực-tại. Nhưng phục-vụ để cùng biến-dưỡng, tiến-hoá cùng Thiên-Lư vũ-trụ, chớ không phải để phục-vụ cho tư-tâm bản-ngă. Đó là mượn cái Giả để tạo cái Chơn  vĩnh-cửu.

            Cũng như: Cuốn vần A.B.C. không làm cho học-sinh trở nên hàng bác-học nhưng muốn trở nên hàng bác-học, khởi-thủy phải trải qua cuốn vần ấy.

            Những vui buồn sướng khổ của kiếp sanh-tồn, con người phải chịu trong luật tuần-huờn, là con đường tiến-hoá để giúp cho con người giác-ngộ để “Phản-Bổn Huờn-Nguyên” là “Trở về nguồn cội của ḿnh”.

            Nguồn cội của con người là Đại-Linh-Quang hay là Đạo. V́ Đạo đă tạo-dựng nên vạn-vật mà Đạo và vạn-vật liên-hệ nhau từ lúc khởi-thủy sơ-sanh. Nói đến “Nguồn cội con người” là nói đến cái “Lư Nhứt-Quán”. Mà muốn hiểu Lư-Nhứt-Quán th́ phải hiểu cái Sơ-Thủy của vạn-vật và con người rồi ta mới thấy rơ nghĩa Nhứt-Quán đó.

            1/- Tỷ như một rừng cây: Cả ngàn cây  h́nh-dạng đều khác. Nếu nói h́nh-dạng đều khác sao lại nói rằng”Sự vật tỷ như rừng cây?” Thật ra, muôn lá ngàn cây, nhưng cái nghĩa Nhứt-Quán của nó nằm ở “chổ buổi đầu”. V́ buổi ban đầu, khi cây mới mọc, từ cái hột đến cái mộng đều ngồng-ngoèo như  cọng lá, muôn hột đều như nhau. Đó là cái nghĩa Nhứt-Quán, v́  tiền-thân của cái cây là do cái “hột” và cái “mộng” ấy, nhưng cái giống nhau là cái “mộng”

            2/- Xin chứng minh thêm bằng một tỷ-dụ khác: “Con người mới sanh ra, tất cả người nào cũng ḿnh-trần  thân-trụi, tai, mặt, đầu, ḿnh, tay chơn, mắt, mủi đều giống nhau. Nhưng sau khi trưởng-thành rồi, do tập-tục thói quen hay thất-t́nh  lục-dục ô-nhiểm, nên mỗi người khác biệt tâm-t́nh đổi thay y-phục.

            Một việc rất tầm thường, nhưng v́ khinh-thường nên chẳng bận tâm lưu ư, do đó mà làm mất hết ư-nghĩa Đồng-Nhứt của Nhứt-Quán, rồi mới coi ta khác người, người khác ta, từ đó con người mất hết t́nh-thương, chớ kỳ thật, giữa hai người nam-nữ hoà-hiệp nhau sẽ sanh ra muôn ngàn người.

            Một hột lúa, sanh ra cây mạ - Cây mạ sẽ trở thành cây lúa và cây lúa sẽ trổ bông - Một bông lúa có cả trăm hột. Như vậy, chúng ta cùng chung một thể-chất là cùng một “Điểm-Linh-Quang” th́ nhơn-loại đều là anh em nhau cả.  Cùng chung một khởi điểm để rồi “Xuôi ra cuộc thế” nhưng thất-t́nh lục-dục che mất cái “ánh-sáng của Đại-Đạo”, mà “Đại-Đạo th́ bao giờ cũng bao-dung rộng mở, như “Biển Cả” sẳn sàng đón nhận mọi gịng sông.

            Vậy th́, điểm then-chốt của bài viết  của tệ đệ hôm nay là mong đợi  Huynh Tỷ chúng ta quên đi cái dị đồng , để cùng nhau đem cái t́nh-thương hạn hẹp để “Ngược ḍng về Nguyên”

NGỌC-HUỆ-CHƠN

 

lyhuonga.jpg






VƯỜN RAU QUÊ HƯƠNG

Nguyên Nhung

 

Ngày mua được căn nhà mười lăm tuổi, có sẵn mảnh vườn sau, Hân nghĩ ngay đến chuyện gầy dựng một vườn rau quê hương trên xứ người, để bù đắp cho những thiếu thốn tinh thần, mà dẫu xứ sở này dư thừa vật chất vẫn không khỏa lấp nổi.  

Suốt ngày bù đầu nơi xưởng máy, công việc th́ đều đều nhàm chán, vây xung quanh là những vách tường sơn xám khiến lúc nào cuộc sống cũng buồn tẻ. Chiếc máy lạnh chạy ŕ ŕ suốt ngày, bấy nhiêu con người thở ra hít vào cái không khí đặc quánh mùi dầu mỡ. Hân thèm, thèm lắm, khoảng không gian màu xanh của quê nhà, giàn dưa chuột thấp lè tè với những quả xanh, vạt rau cải, những luống hành hẹ và mùi cỏ khô lẫn với mùi phân ḅ ngai ngái, nhưng đầy ắp không khí miền quê Nam Bộ. Hân nhớ lắm một mảng trời xanh, một đêm trăng tĩnh mịch trước sân nhà, ụ rơm khô có con ḅ đang nhơi cỏ. Trăng nằm sóng soải trên từng cuộn mây trắng, khiến chàng h́nh dung trời như một vùng biển xanh, mà những giải mây trắng kia lại là những con sóng bạc đầu gờn gợn trong không gian.   

Thật ra mỗi một đời người, mỗi một thân phận đă gắn bó ít nhiều với những thăng trầm của ḍng lịch sử quê nhà, Hân ra đời vào những năm đất nước chia hai. Dạo ấy, làn sóng người Bắc di cư vào Nam đă đổ về vùng ven đô này lập nghiệp, Hân lớn lên và cùng đi học với những đứa trẻ từ miền Bắc vào. Khi mùa màng gặt hái xong, trên cánh đồng c̣n trơ lại những cọng rơm tươi, Hân đă từng dẫn đám bạn xa lạ ấy đi mót lúa, đậu phọng hay hái trái dại trong khu rừng cao su phía xa. Dạo ấy c̣n thanh b́nh, miền quê không nghe tiếng súng, nghe văng vẳng tiếng chuông chùa xóm người Nam, ḥa với tiếng chuông nhà thờ xóm người Bắc. 

Riêng Hân, chàng thanh niên ngày nào phải bỏ quê nhà ra đi, nay đă là người đàn ông đứng tuổi. Vẫn ngậm ngùi đau xót nhiều năm tháng, khi bất chợt nhận ra cái cảm giác mâu thuẫn trong tâm hồn ḿnh, khi không hề phản bội quê hương, mà vẫn cam ḷng chịu hai chữ vong quốc. 

H́nh ảnh quê hương c̣n trong ḷng Hân là những rẫy đất trồng đủ thứ rau xanh. Miền quê nghèo, đất thịt pha cát chỉ thích hợp cho việc trồng rẫy. Tuổi thơ của chàng đă chạy nhảy trên những luống khoai, luống cải, những cánh đồng trồng đậu trồng cà. Cuối năm theo cha mẹ ra rẫy, trẩy những trái dưa hấu tṛn căng, xanh thẫm mang ra bán trong những buổi chợ Tết. Chiếc xe ḅ nghiến những bánh xe gỗ lóc cóc trên con đường đất khô ran, Hân c̣n ngửi được cả mùi phân ḅ lẫn với cỏ hắt lên từ những thửa đất trồng rau ven đường. Thuở ấy, Hân c̣n bé, nghe mấy đứa miền Bắc đọc ra rả bài thơ cảnh miền Nam:

        "Tôi yêu tiếng Việt miền Nam

Yêu con sông rộng, yêu hàng dừa cao

        Yêu xe thổ mộ xôn xao

Trên đường khúc khuỷu đi vào miền quê

        Tôi yêu đồng cỏ nắng se". . .      

Cho măi đến bây giờ, chàng mới cảm thấy nỗi nhớ quê hương thật sâu sắc và dữ dội, nhất là trong những ngày cận Tết. Tất cả h́nh ảnh miền quê cũ, cây mai trước sân, con gà gáy sớm, con heo ủn ỉn đi ra đi vào xục mơm vào nồi cám, những thứ tầm thường ấy sao vẫn làm chàng nhớ đến quắt quay.    

Quê hương chàng nhiều tháng năm sau đó đă trở thành băi chiến trường, mà những người bắn giết lẫn nhau lại cũng chỉ là những khuôn mặt thân quen cùng lớn lên từ thôn xóm hiền lành ấy. Rừng cao su bạt ngàn trơ trụi lá v́ thuốc khai quang và bom đạn. Nh́n cảnh tiêu điều của rừng chiều quạnh hiu, những nhánh cây giơ lên trời như những bộ xương khô in trên nền trời màu tím thẫm lúc hoàng hôn, ḷng Hân ră rời như đánh mất một cái ǵ không rơ rệt. Chiến tranh là vậy, là đánh mất màu xanh của cây và đánh mất màu xanh của tâm hồn. Chỉ tội nghiệp cho những người dân sống ở đó, vẫn phải nương vào những ruộng rẫy để mưu sinh, để tồn tại. Khi mùa mưa tới, những trận đánh càng xảy ra thường hơn. Ban ngày buổi chợ quê nhóm lèo tèo vào lúc sáng sớm, chỉ mười giờ là chợ tan, trên nền xi măng của nhà lồng chợ chỉ c̣n vương lại những mảnh lá chuối khô, nắng đă chói chang dội xuống mái nhà tôn hầm hập nóng.      

Chiều về, trời chưa tắt nắng, ở chiếc lô cốt đóng ven đường lộ chính, vợ con những người lính đă chui vào những mái lều thấp lè tè cất xung quanh cái đồn lính. Cái đồn nằm cô quạnh giống như một cái bếp than, được úp xuống với ba cái cửa ṭ ṿ, từ lỗ châu mai tḥ ra mấy họng súng . Họ sống nhiều năm tháng phập phồng ở đó trong ṿng rào kẽm gai đầy ḿn rải quanh đồn. Những đứa trẻ đen đủi trong ṿng rào kẽm gai, vài người đàn bà theo chồng sống một đời bất an trong thứ hạnh phúc nắm được từng giờ. Những khuôn mặt người lính địa phương gầy g̣, mặc đồ trận màu xanh đi giày vải, đôi mắt lơ láo v́ căng thẳng chờ đợi kẻ thù, bóng tối và sự chết ập xuống bất ngờ không hề trông đợi.   

Có những buổi chợ sớm, người đi chợ nhốn nháo lên v́ một loạt đạn vang lên giữa buổi chợ đông, và người ta bỏ chạy tán loạn khi một người bị bắn gục, ḍng máu đỏ loang chảy trên nền đất. Những khuôn mặt quen quen mà ngày là bạn, đêm đă trở thành thù, nước da đen ṛn với nắng gió rẫy nương. Hân đă có những thằng bạn chung lớp, sau này theo bên kia, lúc gặp nhau vẫn tay bắt mặt mừng, vẫn có thể nă súng vào chàng không thương tiếc. Một cuộc chiến tranh kỳ cục và cay đắng cho người dân Việt Nam, được du nhập ở tận đâu đâu, biến con người, quê hương thành hai hố thẳm đen ng̣m, đầy những hận thù và chết chóc.    

Cho nên, ngày chiến tranh chấm dứt, dẫu đứng về phía những người bại trận, Hân vẫn không thể nào không thở phào nhẹ nhơm. Ít ra là cuộc chiến đă kết thúc, khu rừng cao su sau mùa mưa có thể đâm những chiếc lá xanh, đỡ xơ xác khi chiều xuống. Ít ra chàng sẽ không phải nh́n thấy những đôi mắt trẻ thơ thập tḥ trong ṿng rào kẽm gai, những người lính trở về đời sống b́nh thường và sẽ có một mái nhà. Và ít ra, những người ở bên kia không phải t́m cách giết những người bên này.      

Điều khiến chàng đau ḷng là sự thiếu hiểu biết của người thắng trận, nó tiếp tục đưa đẩy dân tộc vào nhiều nỗi thống khổ, mà đáng lẽ phải được hàn gắn những vết thương chiến tranh trong suốt bao nhiêu năm tương tàn. Bởi vậy Hân mới phải bỏ quê hương mà đi, mang theo bên ḷng bao nỗi niềm đau xót.         

*   *   * 

Khu vườn phía sau được người chủ cũ trồng mấy cây thông bên vệ rào, nay đă lớn, tàn xoè ra làm mát một khoảng sân rộng. Những cây hoa cúc dại màu tím vàng, mọc tràn lan trên băi cỏ trống, người chủ cũ chắc cũng không có nhiều th́ giờ cho việc trồng tỉa để khu vườn tươi đẹp hơn.      

Người ta thích trồng thông v́ thông mang dáng dấp quân tử, với Hân th́ chẳng có cây nào tiểu nhân, chẳng có cây nào quân tử, và cũng chẳng có hoa nào lẳng lơ. Chẳng qua là tại tâm, hễ tâm rộng th́ nh́n đời thoáng đăng bao dung, c̣n tâm hẹp th́ nh́n đâu cũng thấy hận thù, nghi ngại. Cho nên, nếu có làm thông, được dáng đứng uy nghi, quân tử, th́ cũng đâu hẹp ḥi ǵ mà không che chở cho những cây cỏ nhỏ nhoi, c̣i cọc giữa băi cỏ đời mênh mông. 

Tiết trời vừa sang Xuân, cây cỏ sau giấc ngủ Đông chợt sống lại, những bông hoa tím xinh xinh chen lẫn với cỏ non tràn lan khắp mảnh vườn sau. Những bông hoa be bé không tên ấy thật dễ thương, đơn sơ, nhu ḿ như h́nh ảnh người con gái miền quê thuở nào, màu áo bà ba tím ngọt đă để lại trong ḷng Hân một nỗi nhớ khó quên. Loại hoa này có sức sống bền bỉ như loài cỏ dại, Hân thích nhất vẻ đẹp mảnh mai dịu dàng của hoa, h́nh như từ lúc bắt đầu nở cho đến khi tàn, hoa chẳng bao giờ khép cánh mỏi mệt, những cánh hoa xinh xinh tiếp nối để chẳng bao giờ tàn. Khi hoàng hôn xuống, mặt trời sắp đi ngủ c̣n để lại chân trời một vầng mây phơn phớt đỏ, rồi chuyển dần qua màu tím, Hân cảm thấy ḷng ḿnh rưng rưng với nỗi buồn thầm kín mơ hồ tận trong tiềm thức, mà những bông hoa tim tím rung rinh trong gió chiều h́nh như cũng biết rung động với nỗi buồn man mác đó.      

Trước tiên, Hân phải làm cỏ và dọn một băi đất xốp và mát để ương cây con. Mùa Xuân là mùa đẹp nhất để ươm cây, nh́n những cây đậu, cây mùng tơi, cây bầu cây bí nứt hạt hé mầm vào giữa tiết xuân mát mẻ, Hân liên tưởng đến những đứa bé được sinh ra trong t́nh thương, sự săn sóc tŕu mến của ông bà, cha mẹ. Chàng không thể không nhớ đến những đôi mắt trẻ thơ ở quê nhà, những đôi mắt đen tṛn, mở thao láo bên trong ṿng rào kẽm gai thời đất nước chiến tranh, những đôi mắt trẻ thơ trên hè phố, biểu hiện cho sự đói khổ, toát ra ánh nh́n van xin khi đất nước đă ḥa b́nh, Hân lại càng ngậm ngùi cho sự thống khổ của đất nước.    

Trước khi gieo hạt, Hân đă ngâm hạt giống một ngày một đêm với nước ấm, xong được ủ vào những chiếc chậu nhỏ. Với cơn mưa xuân nhè nhẹ và cái mát mẻ của trời Xuân, chỉ vài hôm sau cây nứt hạt, nhúm đất con con bỗng bị đẩy ra bởi bàn tay non nớt của hai chiếc lá nơn, cây đă cựa ḿnh, như đứa hài nhi cố cựa quậy để ra khỏi ḷng mẹ. Rồi từ cái màu ưng ửng ấy, nhờ ánh sáng mặt trời, chỉ vài hôm lá to dần lên, xanh mướt, y như những lượt tóc tơ mượt mà trên đầu đứa trẻ nhỏ, rất thích mắt. Vẫn chưa quen với mưa nắng cuộc đời, người chủ vườn vẫn phải săn sóc cho cây với cái t́nh êm ái lắm, v́ chỉ cần một cơn mưa nặng hạt, một buổi nắng trưa hanh hao là cái thân ẻo lả kia có thể đổ xuống ngả nghiêng, v́ gốc chưa vững.    

Nh́n những chồi non một ngày một lớn, tự nhiên Hân thoáng một chút bâng khuâng, v́ chàng vốn là người hay suy nghĩ. Phải rồi, chàng nghĩ đến phận người, những đứa bé sinh ra trên mảnh đất vùng quê khốn khổ của chàng, vẫn những đôi chân không nhảy nhót trên đường làng, lùng sục trong những rẫy những ruộng để mót về những hột đậu phọng hay hạt lúa c̣n sót lại trên đồng. Đất nước chàng ở đó có những con người nuốt hết những của ngon, của ngọt, khiến những đứa bé vừa sinh ra lại được coi là gánh nặng cho xă hội, cho đất nước. Chàng biết họ đă có kế hoạch làm sao cho những đứa bé không thể ra đời, với ư nghĩ hăi sợ sau này sẽ có những kẻ dành mất phần ăn của họ, lấy mất chỗ đứng của họ. Chứ họ có biết đâu rằng, con người vốn bắt đầu từ 0 th́ cũng trở về 0, như triệu triệu con người sinh ra, rồi lại triệu triệu con người mất đi, chỉ là để nối tiếp công việc bảo tồn đời sống của nhân loại. Tham sống sợ chết đă đành, nhưng sống như thế nào và chết như thế nào th́ với những kẻ vô nhân, chỉ có nghĩa là vơ vào cho đầy ắp túi tham của họ mà thôi.       

Những cây đậu đũa giờ này đă vươn cao lên tới cái giàn nằm cách mặt đất độ hai thước, và khi những chú đậu non như hai đứa bé song sinh, tḥ hai cọng đậu dài như hai chiếc đũa qua lỗ mắt cáo trên mặt giàn, lúc ấy cả nhà đă sửa soạn có được những bữa cơm ngon với rau cỏ trong vườn. Cô nàng mùng tơi đă khoe những chiếc lá mọng, được chuẩn bị hái nấu với tôm tươi bóc vỏ, là khi ấy khu vườn đă bước vào tiết cuối xuân mát mẻ. Cuối Xuân khi trời c̣n rất xanh, bát canh mùng tơi xanh biếc hay đĩa đậu đũa xào tôm thịt, ăn với dưa mắm trộn tỏi ớt, thêm một chén nước mắm nguyên chất giầm với quả ớt chín chỉ thiên, chẳng ngon lắm sao??!!       

Đúng ra đâu phải cây nào cũng qua tiến tŕnh đâm hoa, kết quả th́ mới được coi là có giá trị. Rau thường chỉ ăn lá, mà thứ trúc đào chỉ cho hoa đỏ thắm, dù không ăn uống được nhưng nàng ta vẫn có cái thắm tươi riêng biệt để tô điểm cuộc đời. Những hoa chanh, hoa lài thường tỏa hương vào buổi tối, dưới ánh trăng, khu vườn thoang thoảng trong không gian mùi hương của hoa cỏ, cũng đủ sức làm dịu đi nỗi mệt nhọc sau một ngày làm việc. Nếu không nhờ những cánh hoa ấy, mùi hương ấy làm sao con người có thể quân bằng nội tâm. Rồi những loại rau như cây bù ngót, thân khẳng khiu và ngay đuỗn mọc ra những chiếc lá xanh nho nhỏ, chỉ cần hái đầy một rổ, ṿ sơ rồi nấu với chút thịt nạc băm nhuyễn, mát đáo để. Người khô hạn, phổi hanh hao, mắt mờ, đầu váng vất, nắm lá xanh ấy có tác dụng thần kỳ, cái nóng cái khô như biến ngay đi, dễ chịu như được người con gái đắp chiếc khăn mặt ướt lên trán vào một trưa hè.      

Cây cỏ trong khu vườn rau của Hân, giống như thần dân của một vị vua nhân đức, được hưởng phúc ấm của người lănh đạo mà làm đẹp cuộc đời. Đấy cũng nhờ ở cách dùng, cách trân trọng tối đa, nhờ thế mà cây tươi tốt, xum xuê, nẩy hoa đơm trái. Chân lư ấy mà áp dụng được trong một gia đ́nh, một tập thể, một quốc gia th́ hẳn nhiên đă có thiên đàng tại thế.     

Nh́n vườn rau xanh tươi tốt của ḿnh, Hân có cái vui đang làm một điều ǵ có ích lợi, dẫu rằng chỉ thu hẹp lại trong thế giới cây cỏ. Muốn thực hiện được sự công bằng không thiên vị cho bất cứ loại cây nào, lợi nhiều hay ít, người chủ vườn vẫn phải có cái nh́n vô tư và thẳng thắn. Lăo bí rợ không thể ỷ ḿnh có sức khoẻ, cành lá mập mạp mà lấn sang mảnh đất của đám rau má trẻ con nằm nép bên vệ rào, dẫu rằng công dụng của lăo có đa năng, đa hiệu thật đấy. Đọt bí xào tỏi ăn bùi và thơm, khi kết trái th́ quả nào quả nấy to đùng như bụng ông địa, thứ ấy mà đè lên mảng rau má kia th́ chúng chỉ có chết, bởi vậy Hân cũng chỉ cho chúng lan tràn đến mức nào thôi.      

Chàng thú vị nhân cách hóa cho đám cây cỏ của ḿnh. Mỗi thứ cây là một loại người khác nhau, một chỗ đứng khác nhau, chàng chỉ dung ḥa chúng chứ không cai trị, v́ con người có thói quen thích lănh đạo và lấn lướt người khác. Những vạt rau má bé tư teo như những đồng tiền hai mươi lăm xu, xem vậy mà lợi hại ra ǵ, cứ xay ra để uống với chút đường và đá, mát t́ mát phổi không thứ nào bằng, c̣n kẹt lắm nấu suông với lon súp gà, thêm mấy con tôm khô, cũng có một tô canh mát mẻ. Có từng xực những bữa ê hề thịt thà, ít rau cỏ, mới thấy quư khi được ăn một bát canh rau, bao nhiêu sân si lắng xuống, ḷng cứ nhẹ tênh như bay về chốn non bồng nước nhược.     

Với lũ cây non be bé Hân nâng niu như trẻ thơ, th́ với mấy cây già cỗi sắp tiêu diêu về bên kia thế giới, Hân vẫn có cái trân trọng như trân trọng người có tuổi. Có lẽ cũng từ sự tương quan tuổi tác mà chàng có sự săn sóc ấy chăng? Suy bụng ta ra bụng người, cây mười tuổi như người trăm tuổi, nhất là với những cây có đời sống ngắn ngủi, sự hiện diện của chúng trong khu vườn với một khoảnh khắc nào đó, vẫn cống hiến cho con người niềm vui thật nhỏ bé, khi nh́n những lộc non đơm đầy trên cành nhánh khẳng khiu. Thế nhưng cảnh chia biệt giữa cây và người vẫn làm Hân cảm nhận được một nỗi buồn thắm thía như hai người bạn đă tới lúc chia xa, không hẹn ngày tái ngộ. Cây cam già đă cỗi, không kết trái đơm hoa, đă đến lúc phải ra đi vẫn để lại trong ḷng Hân một nỗi trống trải đến nhiều ngày mới quên được, đành ḷng là phải tiễn đưa nhau, nhưng chàng cũng cảm khái được mấy vần ai điếu: 

"Càng ngày cây càng nhỏ lại

Càng lúc trái càng bé đi

Mùa Xuân chờ hoài không tới

Mùa Đông đợi hoài chẳng đi."

(Thơ N.N.)     

Hân nhớ có lần chàng đau nặng, lúc nào người cũng ren rét, bệnh chẳng ra bệnh ǵ, nằm liệt một chỗ mấy tháng trời. Trận ấy may là chàng thoát chết, lúc tỉnh hồn tỉnh viá, Hân soi gương thấy mặt mũi vêu vao, hốc hác, thoát chết lần ấy, chàng tự nhủ phải tận dụng những giây phút quư giá của đời người mà làm điều ǵ hữu ích cho cuộc sống. Cận kề giữa hai bờ sinh tử, lơ mơ nh́n ánh nắng chiều se sắt ngoài hàng dâm bụt đỏ, mảng trời xanh không một gợn mây, chàng thấy đời quả đẹp vô cùng. Từ đấy chàng tự hỏi, sao không làm điều ǵ đẹp đẽ để lúc hai tay buông xuôi sẽ không ân hận, tiếc nuối, để biết cái hạnh phúc khi được làm người, cũng bởi cái ân sủng từ nhiều kiếp trước mà thành. Lỡ như, Hân mỉm cười khi nghĩ nếu ḿnh ăn ở chẳng ra chi, trời cho tái sinh làm kiếp vịt quạc quạc, lại có ai đó ân oán với ḿnh từ kiếp trước, cắt cổ làm bữa tiết canh th́ c̣n ǵ là đời vịt.    

Hân hay nghĩ vớ vẩn, nghĩ lung tung rồi cười một ḿnh cho đời đỡ buồn. Sống cũng nhiều, vui cũng nhiều, buồn cũng nhiều, nh́n chặng đời qua th́ chỉ những hận thù, bon chen, bóc lột, ganh ghét. Hân vẫn mơ tưởng một ngày ḿnh làm vua, không phải để vui hưởng vinh hoa phú quư như các vị vua trần thế, nhưng ít ra chàng sẽ cố gắng lập lại cái thanh b́nh trật tự cho thần dân của ḿnh, hưởng thực sự nền thái b́nh thịnh trị.      

Đời đâu dễ mà mơ được một giấc mộng trọn vẹn như thế. Thôi th́ chàng trồng cây, trồng rau, trồng hoa, rồi đem cung cách của ḿnh mà sắp xếp, săn sóc cây cỏ như vua thương dân, để an ủi cho riêng ḿnh là đă thực hiện được những hoài băo tốt đẹp, ít là cho loài thực vật. Khu vườn rau quê hương, là cả một giang sơn gấm vóc, một bờ cơi có ranh giới hẳn hoi, có trên có dưới, không lấn áp kèn cựa, không nâng ai quá đỗi để tủi hổ kẻ tầm thường, một xă hội cây cỏ chan ḥa t́nh yêu thương, không gian dối.       

C̣n một vài việc tuy bận rộn Hân vẫn phải làm. Đó là cây kim quất nay đă gần chục tuổi, đă quá tuổi xuân xanh và đang vào độ tàn héo. Mỗi lần rắc một lượt phân, lượt đất cho cây, Hân vẫn hóm hỉnh: "Chào cụ". Chả biết cụ quất có bịnh hoạn ǵ không mà dù chăm cách mấy cụ vẫn không tươi lên được, hay là tai cụ nghễnh ngăng cho nên không nghe được tiếng gió xuân đă th́ thào về với đất trời, y như người đă ốm, đă già, máu không lưu thông nên lúc cố đâm được mấy chiếc lá non, th́ chỉ một sáng một chiều đă héo ngay đi, trông rất thương tâm. Chục năm trước, độ c̣n xuân xanh, mùa Xuân như khoác một chiếc áo vàng óng ả lên cây kim quất trẻ tuổi, quả trĩu cành, hoa trắng muốt, lá biếc xanh. Hân dạo ấy cũng biết làm thơ, chàng cảm khái khi nh́n mùa Xuân về với hai vần thơ nhỏ:]

    “Mùa Xuân em mặc áo vàng,

Đất trời như đă rộn ràng quanh tôi.”

Cây kim quất nay đă già, cũng biết rét run lẩy bẩy khi cơn gió Đông thổi về, dù đă được Hân che chắn, chăm sóc cẩn thận. 

*  *  * 

Hân vẫn gửi tất cả tâm t́nh, cả trái tim của ḿnh cho cây cỏ, như chàng vẫn hướng về quê nhà với nỗi niềm thiết tha mong đợi. Một ngày nào đó những mầm non sẽ mọc lên, sẽ làm xanh tươi một đất nước thống khổ v́ chinh chiến kéo dài hàng bao nhiêu năm, sẽ thay đổi bộ mặt cho tổ quốc với những cái tâm trong sáng, biết thiết tha với tiền đồ của dân tộc.    

Với một khuôn mặt trầm lặng và tính t́nh kín đáo, cộng thêm tư tưởng có vẻ lập dị, người không hiểu chàng sẽ có thể nghĩ chàng là kẻ có tính hơi man mát, điên điên, mấy ai đă nghĩ tới được chiều sâu của một con người nặng ḷng với quê hương, xứ sở. Tổ quốc ở bên kia giờ này vẫn c̣n đầy những con sâu đục rỗng xương tủy dân tộc, c̣n kẻ tha hương vẫn chưa t́m được lối về, những con én vẫn bay nhưng mùa xuân th́ chưa thấy. Đường về th́ thiên h́nh vạn trạng, con người vẫn đục trong lẫn lộn. Đến bao giờ mới có một sự tương kính lẫn nhau để xứ sở được vươn lên, đất nước không bị áp bức?     

Thôi th́ trong hiện tại, trên mảnh sân này, Hân đă thực hiện được điều ấy với cây cỏ trong vườn rau quê hương của chàng.

lyhuonga.jpg