|
QUÂN ĐỘI VIỆT NAM
CỘNG H̉A
LS Đỗ Thái Nhiên
Lúc bấy giờ là tháng năm, 1985, người Việt
Nam tại quốc nội, nhất là dân chúng cư ngụ vùng Saig̣n, Gia Định, vẫn
nô nức nhưng kín đáo t́m đường vượt biên. Trong trường hợp âm
mưu vượt biên thất bại, người vượt biên sẽ bị Cộng Sản
Việt Nam hành hạ dưới tội danh "phản quốc". V́ thế, công việc chuẩn
bị vượt biên cần phải được bảo mật tuyệt đối.
Chính v́ hai chữ "bảo mật", nhiều người
đă ra khơi một cách hoàn toàn bất ngờ, không một lời giă biệt bằng hữu.
Riêng tôi, tôi nhất định vượt biên, nhất định bảo mật, nhất
định ân cần thăm viếng và từ biệt bạn bè cũ. Nhằm đáp ứng
các "nhất định" vừa nêu, một ngày trước khi rời xa quê hương, tôi
quyết định t́m gặp những người bạn đặc biệt của tôi.
Những người bạn đó hoàn toàn kín tiếng. Những người bạn đó không
c̣n bận tâm chọn lựa đời sống ở bên này hay bên kia bờ đại dương.
Những người bạn đó đă đi trọn đường trần bằng tất
cả gian khổ với một ước mơ bất thành: ước mơ Việt Nam
thống nhất, dân chủ và thịnh vượng. Những người bạn đó chính
là các bạn đồng ngũ thương mến của tôi đang an nghỉ tại nghĩa
trang Quân Đội Biên Ḥa.
Chiều hôm ấy, khoảng ba giờ, một ḿnh tôi thẫn
thờ bước vào nghĩa trang Biên Ḥa. Bức tượng Thương Tiếc nằm
ở ngay cổng đă bị mang đi nơi khác tự bao giờ. Con đường từ
xa lộ chạy vào tới đài kỷ niệm Chiến Sĩ Trận Vong vẫn c̣n đó,
vẫn dài, vẫn thẳng, nhưng hai hàng phượng đứng bên đường trông
thật tiều tụy và ủ dột. Có thể v́ phượng thiếu nước, thiếu
gió. Có thể v́ phượng muốn biểu tỏ tấm ḷng trắc ẩn của cỏ
cây dành cho hàng ngàn anh linh chiến sĩ đă vị quốc vong thân nhưng nay phải ngậm
đắng nuốt cay nơi suối vàng trước cảnh "quốc" đang bị đè
bẹp dưới ách độc tài Cộng Sản. Vào tới khu dành cho mộ phần của
chiến sĩ, khách viếng mộ tận mắt chứng kiến toàn thể nghĩa trang
đều bị đập phá tàn nhẫn. Đây là một ngôi mộ bị đào bới
để lộ cả quan tàI mở nắp, di cốt tử sĩ đă biến mất. Kia
là một ngôi mộ nằm ở triền đồi, bia đá vẫn c̣n nguyên nhưng di ảnh
của ngườI quá cố có dấu vết vài phát đạn vào mắt, vào miệng. Kế
đó là nơi an nghỉ của một sĩ quan cấp tá, trên bia đá, người nào đó
lấy sơn đen viết một câu giễu cợt, rất phản văn hóa.
Cứ như vậy, khách
viếng nghĩa trang lần lượt ghi nhận vô số h́nh ảnh năo nề của một
nghĩa trang bị nhận xuống tận cùng của hố ô nhục. Mặc cho ô nhục
chồng chất, toàn bộ mộ phần của nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa vẫn
lặng lẽ hướng về đài chiến sĩ trận vong. Đài này nằm trên đỉnh
một ngọn đồi tọa lạc tại trung tâm nghĩa trang. Kiến trúc trọng
yếu của đài chiến sĩ trận vong là một tháp xi-măng xám, cao vời vợi.
Tháp này gợi nhớ h́nh ảnh cây bảo kiếm của người chiến sĩ vô danh
năm xưa đă để lại nơi dương thế trước khi đi vào cơi
vĩnh hằng. Từ cơi vĩnh hằng xa xăm kia, người ta vẫn nghe vang vọng
một câu hỏi, nửa như kinh ngạc, nửa như phẫn hận: tại sao nghĩa
trang của những anh hùng vị quốc vong thân lại có thể bị lăng nhục???
Bây giờ nhiều năm đă trôi qua... Bây giờ những
xót xa về cảnh tượng hoang phế và cô tịch của nghĩa trang Quân Đội
Biên Ḥa đă lắng đọng... Bây giờ những uẩn ức về lệnh buông súng
tức tưởi đă trôi xa vào quá khứ... Bây giờ thời gian là năm 2002, một chiều
tĩnh lặng cuối thu. Không gian là công viên tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ
thuộc thị xă Westminster, California.
Tôi ngồi tựa lưng
vào chân tượng đài, trầm ngâm suy nghĩ về quân đội Việt Nam Cộng Ḥa.
I. Phương pháp đánh giá một Quân Đội.
Trước tiên, tôi nghĩ tới những luận
cứ chê trách QĐVNCH. Có người nêu rơ danh tánh vài ba ông tướng buôn lậu để
đơn giản cho rằng QĐVNCH là quân đội buôn lậu. Người khác đă viện
dẫn trường hợp đào ngũ, nghịên ngập của năm bẩy quân phạm
trong quân lao G̣ Vấp để vội vàng kết luận: QĐVNCH là quân đội vô kỷ
luật. Người khác nữa đă kể lại câu chuyện một quân nhân đầu
hàng địch quân trên trận địa đê? Nhanh chóng nhận định QĐVNCH là quân
đội hèn nhát... Tất cả các đánh giá vừa kể hiển nhiên là kiểu đánh
giá xuất phát từ những người rất giầu ác ư nhưng vô cùng nghèo nàn hiểu
biết về phương pháp đánh giá. Làm thế nào để chúng ta có thể đánh giá
một tập thể trên căn bản chừng mực và nghiêm chỉnh?
Đi t́m giải đáp cho câu hỏi vừa kể,
có lẽ chúng ta nên suy nghĩ về một phương pháp đánh giá trong khoa kinh tế học.
Mỗi khi tổng sản lượng quốc gia gia tăng, chưa hẳn người dân
được sống trong thịnh vượng. Những năm gần đây, tổng sản
lượng quốc gia Việt Nam được ghi nhận là gia tăng nhưng tuyệt
đa số quần chúng Việt Nam vẫn bị giam cầm trong cuộc sống cùng khổ.
Lợi nhuận của sinh hoạt kinh tế phải
là lợi nhuận chung của toàn bộ xă hội. Lợi nhuận kia phải được
phân bổ hợp lư cho toàn dân. Thế nhưng CSVN đă cưỡng chiếm lợi nhuận
kinh tế cho đảng CS và cho cá nhân đảng viên nhất là đảng viên thuộc giai
cấp tư bản đỏ. Đó là lư do giải thích tại sao tổng sản lượng
quốc gia VN gia tăng nhưng hai chữ "thịnh vượng" vẫn là ngườI khách
cực kỳ xa lạ đối với quần chúng nghèo túng. V́ vậy, muốn so sánh mức
độ thịnh vượng giữa hai hay nhiều nền kinh tế, các chuyên viên kinh tế
phải đồng thuận với nhau về một người tiêu thụ mẫu mực
gọi là "kinh tế nhân". Kinh tế nhân là người tiêu thụ một số lượng
nhất định về các sản phẩm kinh tế căn bản như vải vóc, lương
thực v...v... trong một thời lượng đă được quy ước trước.
Thế rồi từ ư niệm kinh tế nhân, chúng ta có thể xác định mức độ
thịnh vượng của một nền kinh tế bằng cách cân đo xem nền kinh tế
đó đă thực sự nuôi dưỡng được bao nhiêu kinh tế nhân trên tổng
dân số. Kết quả của việc cân đo này giúp chúng ta dễ dàng thiết lập bảng
xếp hạng kinh tế thịnh vượng giữa các quốc gia.
Đánh giá một nền kinh tế, chúng ta cần "kinh
tế nhân" làm thước đo. Đánh giá một quân đội, chúng ta cũng cần một
thước đo tương tự. Thước đo đó chính là một người lính
b́nh thường. Người lính đó không phải là một ông tướng lúc nào cũng
sẵn sàng "bỏ quân chạy lấy người". Người lính đó không phải là anh
binh nh́, suốt ngày ngồi ở vọng gác th́ thầm ca bài "Ky? Vật Cho Em". Người
lính đó mang trong người đầy đủ "tính lính" mà hầu hết binh lính trong QĐVNCH
đều có. NgườI lính đó là "người lính tiêu biểu". Bây giờ chúng ta hăy khảo
sát phẩm cách người lính tiêu biểu, mà bài viết này chỉ gọi tắt là người
lính.
II. Quá tŕnh thụ giáo của người lính.
Muốn xác định phẩm chất của một
quân đội, chúng ta không thể không t́m hiểu cội nguồn giáo dục đă đào tạo
ra hàng ngũ quân nhân cho quân đội đó. Chế đô. CSVN là chế độ độc
tài, tham ô và bóc lột. V́ vậy chế độ này cần rất nhiều tay sai để
bảo vệ giới thống trị. Cũng v́ vậy giáo dục của CSVN là giáo dục
đào tạo tay sai. Chủ nghĩa Marx Lenine và luận cứ ca tụng đảng, suy tôn
Hồ Chí Minh, là các công cụ trọng yếu của guồng máy giáo dục CS. Ngược
lại, VNCH có một nền giáo dục "rất Người". Trên toàn lănh thô? VNCH, các môn học
như: công dân giáo dục, sử học, văn chương, triết học v...v... không hề
có chỗ đứng dành cho tư tưởng độc tôn lănh tụ hay độc tôn chế
độ. Đó là nội dung cốt lơi của chương tŕnh giáo dục nhân bản mà người
lính của QĐVNCH đă được hấp thụ trong toàn bộ học tŕnh của
tiểu, trung và đại học. Đó là một sự thực mà không một người
nào đă từng sinh ra và lớn lên trong xă hội VNCH có thể phủ nhận được.
Một sự thực mà guồng máy thông tin tuyên truyền của CSVN không thể xuyên tạc hoặc bóp méo.
Ngay sau khi "xếp bút nghiên theo việc đao cung",
người lính lại bước vào trường học mới: ngành tâm lư chiến của
QĐVNCH. Tại đây người lính không hề bị nhồi sọ để trở
thành tay sai cho lănh tụ hay chế độ chính trị nào. Người lính của QĐVNCH
chỉ được trang bị một loại vơ khí tinh thần duy nhất là ḷng yêu nước
và tinh thần tôn trọng kỷ luật quân đội.
Song song với giáo dục học đường
dân sự và giáo dục tâm lư chiến của quân đội, người lính c̣n được
hấp thụ một nền giáo dục nhân bản của toàn bộ xă hội. Người
ta có thể không đồng ư với các chế độ chính trị tại VNCH về một
số sự việc nào đó nhưng không thể chối căi rằng VNCH là một chế
độ tôn trọng quyền tự do tư tưởng. Quyền tự do này được
thể hiện đậm nét trên hai lănh vực: nghệ thuật tŕnh diễn và nghệ thuật
văn học. Điều này giải thích lư do tại sao sau nhiều năm bi. CSVN t́m đủ
mọi phương cách để tiêu diệt, những tác phẩm văn học nghệ thuật
xuất phát từ xă hội VNCH vẫn được lưu truyền càng ngày càng mạnh
mẽ trong dân gian ở cả hai miền Nam và Bắc.
Nh́n chung lại, giáo dục học đường, giáo
dục tâm lư chiến cùng với giáo dục xă hội là ba nguồn giáo dục nhân bản mà
người lính VNCH đă được tôi luyện từ thời niên thiếu cho đến
hết cuộc đời binh nghiệp.Trong thực tiễn đời sống, ba nguồn
giáo dục căn bản kia đă hướng dẫn người lính VNCH sống và chiến
đấu đúng với hướng phát triển t́nh cảm trong sáng của một Con Người.
Hướng phát triển đó được triết học cụ thể hóa bằng biểu
đồ h́nh trôn ốc. Vạn vật vận động theo h́nh trôn ốc. H́nh trôn ốc
triết học có đỉnh đặt trên mặt đất, đáy hướng lên trời.
H́nh trôn ốc là h́nh vẽ diễn ư rằng mỗi vận động trong vạn vật
đều xuất phát từ một điểm để sau đó phát triển rộng ra,
cao lên, cả về lượng lẫn phẩm. Khảo sát diễn tiến phát triển t́nh
cảm của một cá nhân,chúng ta thấy: ngay sau khi được cha mẹ cho chào đời,
đứa bé quyến luyến cha me. Đó là t́nh con cái đối với cha mẹ (đỉnh
của h́nh trôn ốc) Thế rồi theo đà khôn lớn, đứa bé t́m tới t́nh anh chị
em ruột thịt, rồi t́nh họ hàng gần xa, rồi t́nh làng xă, t́nh quốc gia dân tộc,
t́nh nhân loạị.. Cứ như thế t́nh cảm của con người sau khi rời đỉnh
h́nh trôn ốc đă men theo các ṿng xoáy h́nh trôn ốc để từ thấp lên cao, từ đơn
giản đến phong phú cả về phẩm lẫn lượng. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa,
quá tŕnh giáo dục của người lính VNCH hoàn toàn phù hợp với nhận định
của triết học về vận động của vạn vật. Sự phù hợp vừa
nói khẳng định mạnh mẽ rằng: môI trường sống cùng với môi trường
giáo dục tại miền Nam Việt Nam trước 1975 đă tạo điều kiện
cho người lính VNCH trở thành những người thực sự yêu quê hương đất
nước theo đúng quy luật sinh hoạt t́nh cảm tự nhiên của Con Người.
III. Bản chất của người lính VNCH.
Do yêu quê hương đất nước, người
lính VNCH đă nhận thức được rằng cuộc chiến đấu chống
quân đội CSVN trước 1975 là cuộc chiến đấu cho tự do dân chủ, cho
chính nghĩa. Sau 1975, nhà khoa học Nguyễn Thanh Giang đă kêu gọi mọi người Việt
Nam (Bắc cũng như Nam) hăy tri ân chiến sĩ VNCH trong trận hảI chiến chống
Trung quốc ơ? Hoàng Sa. Mới đây nhà văn Dương Thu Hương, một "chiến
sĩ chống Mỹ cứu nước" trước kia đă giác ngộ chính nghĩa bằng
cách viết bài "Tiếng Vỗ Cánh Của Bầy Qua. Đen". Qua bài viết này, Dương
Thu Hương tố cáo cuộc chiến tranh tại Việt Nam trước 1975 do CSVN phát
động là một tội ác phỉnh gạt vĩ đại. CSVN phỉnh gạt đồng
bào miền Bắc bằng cách nhân danh tự do và cơm áo, đẩy đồng bào lao thân
vào cuộc chiến tàn khốc tại miền Nam Việt Nam. Để rồi sau 30/4/1975,
CSVN đă để lộ nguyên h́nh là một đảng Mafia tham ô và bóc lột. Nói ngắn
và gọn, nhà văn Dương Thu Hương đă xác nhận điều được
gọi là chiến tranh "Giải Phóng Miền Nam" do CSVN phát động chẳng qua chỉ là
một hành động phi nghĩa. Các sự thể kể trên đă mạnh mẽ làm nổi
bật tính chất chính nghĩa trong cuộc chiến đấu bảo vệ tự do cho
miền Nam VN của người lính VNCH.
Do yêu quê hương đất nước, người
lính VNCH chấp nhận phục vụ quê hương với những điều kiện sinh
hoạt rất thanh bạch. Nghèo khổ không than trách. Nguy hiểm không sờn ḷng. Người
lính VNCH bao giờ cũng tận t́nh với nghĩa vụ bảo quốc, an dân. Người
lính tuyệt vời kia đă được đền thưởng những ǵ? Phần đền
thưởng đó lại chính là con đường "vị quốc vong thân" trong tuyệt đối
hiu quạnh. Con đường ấy đưa đẩy người lính rơi vào một
t́nh huống cực kỳ quái dị, cực kỳ tê táị "Đám Ma Tù" là điển h́nh
của t́nh huống vừa kể:
"Vài tên cầm súng bước đi đầu Tên nữa AK tiếp theo sau Một xác bó tṛn đôi manh chiếu Hai đầu buộc tréo bốn
dây lau Không
kèn, không trống, không đưa tiễn
Chẳng khói, chẳng nhang, chẳng nguyện cầu Chỉ có bạn tù khiêng
lặng lẽ Vùi nông một khối hận thù sâu !!!"
NgôMinh Hằng--Thi Phẩm Gọi Đàn
Do yêu quê hương
đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng chuyên cần đổ mồ
hôi trên thao trường của các quân trường, bao giờ cũng thiện chiến và anh
dũng đoạt chiến thắng lừng danh trên mọi h́nh thái trận địa. Các
chiến thắng B́nh Long, An Lộc, tái chiếm cổ thành Quảng Trị, mùa Hè Đo? Lửa
1972, phản ứng nhanh và chính xác trong biến cố Tết Mậu Thân v...v... là những thí
dụ điển h́nh tạo nên "Quân Sư? Vàng" của QĐVNCH.
Do yêu thương quê hương đất nước,
người lính VNCH bao giờ cũng nêu cao gương trách nhiệm trong mỗi hành động
chiến đấu. Hải Quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà anh dũng trầm ḿnh theo chiến
hạm do ông chỉ huy trong trận hải chiến với Trung Cộng tại quần đảo
Hoàng Sa. Các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Hai,Đại Tá Hồ
Ngọc Cẩn và vô số anh hùng quân đội vô danh khác đă ngạo nghễ chọn cái
chết thay v́ đầu hàng địch quân vào ngày 30/4/1975.
Do yêu thương quê hương đất nước,
người lính VNCH bao giờ cũng tôn trọng quân kỷ. Tuy nhiên điều này không có nghĩa
là người lính chỉ biết tuân hành mọi loại mệnh lệnh một cách mù quáng.
Trong rất nhiều trường hợp, nghĩa vụ ân cần chăm sóc thương bệnh
binh phải được xem trọng hơn nghĩa vụ tự giam bó trong quân kỷ. Đó
là ư nghĩa của Kinh và Quyềợn trong tinh thần quân kỷ của người lính VNCH.
Đó là ư nghĩa của kỷ luật tự giác mà người lính VNCH muốn đề
cao. Đó c̣n là lư do giảI thích tại sao trong QĐVNCH lại có những hành động phản
kháng kiểu Bác Sĩ Quân Y Hà Thúc Nhơn, Bác Sĩ Quân Y Phạm văn Lương.
IV. Hệ lụy của một quân đội bị
bức tử.
Phẩm chất người lính tiêu biểu của
QĐVNCH như đă tŕnh bày ở trên chính là phẩm chất của toàn thê? QĐVNCH. QĐVNCH
sinh ra, lớn lên và hùng mạnh trong môi trường nhân bản. QĐVNCH không hề là, không
thể là quân đội tay sai của ngoại bang hay bất kỳ chế độ chính trị
nào. QĐVNCH là h́nh ảnh sinh động của lương tri và ái quốc. QĐVNCH thiện
chiến và chiến đấu dũng cảm.
Thế nhưng, hành động phản bội của
người bạn đồng minh Hoa Kỳ đă mặc nhiên trói tay QĐVNCH. Khai thác hoàn
cảnh "bị trói tay" đó, CSVN vội vàng tạo tội ác 30/4/75. Nói rơ ràng hơn, Hoa Kỳ
phản bội cộng với bản chất gian ác của CSVN là hai lư do chủ yếu dẫn
đến "cái chết" của QĐVNCH. Thông thường chết có nghĩa là từ giă mọi
hệ lụy. Thế nhưng, ngay sau ngày bị "bức tử", QĐVNCH đă để lại
cho dương gian ba hệ lụy căn bản như sau:
Hệ lụy 1: Hơn ai hết, VC nhận biết
rất rơ bản chất nhân bản và ái quốc của QĐVNCH. Vẫn hơn ai hết VC
tự nhận biết bản chất Mafia của CSVN. Nhà văn Dương Thu Hương
gọi Mafia VC là "Bầy Qua. Đen". Lo sợ ḷng yêu nước và tính dũng cảm của
QĐVNCH được dư luận truyền tụng rộng răi và lâu dài. Sự thể
này sẽ làm gia tăng vượt bực ḷng căm phẫn của nhân dân VN đốI với
"Bầy Qua. Đen". V́ vậy trong các thập niên qua, CSVN không ngừng nỗ lực phá hoại
uy danh của QĐVNCH. Ngày 24/9/2002 trên báo The Orange County Register, qua bài viết "Victory most can celebrate"
của kư gia? Gordon Dillow, đă nhắc lại các sự việc:
Ba sự việc nêu
trên đi kèm với khối sách báo của VC viết về QĐVNCH là những bằng chứng
mạnh mẽ cho thấy ác ư hủy diệt uy danh QĐVNCH của VC.
Hệ lụy 2: Sau chiến tranh Việt Nam, dư
luận không hề cho rằng Hoa Kỳ đă thua kém VC trên địa bàn quân sự. Tuy nhiên
"Hoa Kỳ phản bội QĐVNCH" là một sự thực không thể chối căị nhằm
xóa bỏ mặc cảm phản bội, giới truyền thông Hoa Kỳ đă cố gắng
làm cho thế giới hiểu rằng chiến tranh VN là chiến tranh giữa Hoa Kỳ và VC.
Đó là lư do giải thích tại sao sách báo và nhất là điện ảnh Hoa Kỳ triệt
để tránh né đề cập tới vai tṛ của QĐVNCH trên chiến trường
VN. Sự thể "tránh né" vừa nói đă làm cho dư luận hiểu lệch đi rằng
QĐVNCH chỉ là cáI bóng mờ bên cạnh binh sĩ Hoa Kỳ và rằng QĐVNCH rất ngại
chiến đấu. Để bác khước kiểu "hiểu lệch" kia, chúng ta hăy mang con
số 400.000 tử sĩ VNCH đặt bên cạnh con số 50.000 binh sĩ Hoa Kỳ tử
vong trong chiến tranh VN (http://encyclopediạcom/section/ vietnam w. end of the war) . Sự sai biệt
lớn lao giữa hai con số là một bằng chứng bằng máu về ḷng ái quốc và
dũng cảm của QĐVNCH.
Hệ lụy 3: Đương đầu với
hệ lụy (1) và (2), QĐVNCH hoàn toàn im lặng trong cơi bức tử. T́nh trạng im lặng
kia là cơ hội làm cho một số người, nhất là những người ra đời
sau 1975 hiểu lầm tai hại về thanh danh của QĐVNCH. Đó là hệ lụy thứ
ba mà QĐVNCH đang gánh chịu.
V. Giải trừ oan khiên.
Những điều tŕnh bày ở trên đă minh chứng
cả ba hệ lụy là ba oan khiên. Làm thế nào để giải trừ oan khiên?
Giải trừ một: qúi vị cựu quân nhân của
QĐVNCH hăy hănh diện về tư cách cựu quân nhân của mỗi quư vị. Quư vị gia
đ́nh cựu quân nhân và tất cả những người xuất thân từ xă hội VNCH
hăy ghi khắc trong tim óc của mỗi quư vị: chúng ta đă có nhiều thập niên sống
trong sự che chở ân cần của QĐVNCH. Một quân đội đă bảo vệ
người dân bằng chính sinh mệnh của người lính.
Giải trừ hai: người Việt Nam lớn
lên trong chiến tranh hăy giải thích cho người VN ra đời sau 1975, nhất là những
người VN sinh trưởng tại quốc ngoại để họ hiểu biết tường
tận về lương tri và ḷng ái quốc của QĐVNCH trêạn những liên hệ thân
thiết giữa người dân và QĐVNCH. Hành động giải thích này hoàn toàn không mang
ư nghĩa của một cảm tính. Nó là sự truyềợn đạt từ thế hệ
này qua thế hệ khác những hiểu biết về vận động quan trọng của
lịch sử. Nó ẩn chứa trong nó ước mơ rằng: trong tương lai, quốc
gia Việt Nam sẽ có một quân đội thực sự v́ nhân dân. Các loại quân đội
tay sai của "Bác", của Đảng, của bất kỳ phe phái chính trị nào phải triệt
để bị loại bỏ. Ước mơ vừa nêu tuy gián tiếp nhưng mạnh
mẽ vinh danh QĐVNCH.
Giải trừ ba: đất nước là tài sản
chung của toàn dân. Người dân phải thực sự là chủ nhân ông tối cao và duy nhất
của đất nước. Đó là chân ư nghĩa của công bằng và lẽ phải. Đó
là quy luật sống tự nhiên của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại. Quy luật
sống tự nhiên kia đ̣i hỏi những hoạt động kiểu giáo dục, luật
pháp, kinh tế, nhất là quân sự phải là sinh hoạt nhân bản và công bằng của
xă hội. Bài viết này chỉ xin nhấn mạnh đến guồng máy quân đội.
Quân đội dân chủ bao giờ cũng vận động
theo chuẩn mực bởi dân, của dân và v́ dân. Nhà cầm quyền dân chủ không bao giờ
nuôi tham vọng biến quân đội trở thành công cụ bảo vệ ngôi vị cầm
quyền. Qua quá tŕnh giáo dục, qua quân sử và nhất là qua thực tiễn chiến đấu
và phục vụ, QĐVNCH đích thực là một quân đội của xă hội dân chủ.
QĐVNCH và dân chủ như h́nh vớI bóng. Chế độ dân chủ bị chà đạp,
QĐVNCH bị lăng nhục. V́ vậy mọi người Việt Nam trong cũng như
ngoài nước hăy nỗ lực mang lại dân chủ cho Việt Nam. Ngày chế độ
dân chủ được tái lập tại Viet Nam chính là ngày danh dự của QĐVNCH được
phục hồi.
Như vậy là ba phương
pháp giải trừ đi kèm với ba hệ lụy.
Mỗi giải trừ tượng trưng bởi
một nén nhang.
-
Nén nhang thứ ba là lời nguyền quyết tâm phục
hồi DANH DỰ cho QĐVNCH, một quân đội thực sự yêu nước , thiện
chiến, và dũng cảm.
Người viết
bài này kính cẩn đặt ba nén nhang kia dưới chân TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ
Việt Mỹ ,Westminster, California. Hành động này mang hàm ư chúc mừng ngày khánh thành tượng
đài.
Hành động này c̣n là sự biểu tỏ ḷng tuyệt
đối tôn kính và thương yêu đối với QĐVNCH./.
Đỗ Thái Nhiên
Nguyên thiếu úy , trưởng ban Quân số Tiểu Đoàn 3, Pháo Binh Pḥng
Không KBC
4314
Việt Nam Cộng Ḥa muôn năm __._,_.___
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ
QUÂN LỰC VNCH
Trần Đỗ Cung
Vài lời của người
dịch.
Tôi được một
bạn trẻ Không Quân giới thiệu và Tiến Sỹ Lewis Sorley liên lạc gửi cho tôi
bài diễn văn ông đă đọc tại Đại Học Kỹ Thuật Texas TTU về
đề tài Reassessing ARVN. Ông có ư muốn nhờ tôi phiên dịch bài này ra để phổ
biến rộng răi trong cộng đồng Mỹ gốc Việt. Tôi đă đọc kỹ
bài thuyết tŕnh giài 32 trang, nhận thấy rất bổ ích về phương diện sử
liệu và nhân bản và đă chấp thuận đề nghị. Trong bài thuyết
tŕnh Tiến Sỹ Sorley đă dùng nhăn quan của một quân nhân và một trí thức khoa bảng
để thẳng thắn bênh vực quân đội Việt Nam trong một thời kỳ
chiến đấu cam go gian khổ nhất của nước nhà. Ông đă dầy công nghiên
cứu các tài liệu đă bạch hóa hầu đưa ra những nhận xét rất xác đáng
về khả năng, ḷng quả cảm và sự chịu đựng tột cùng của các
chiến sỹ chiến đấu cho một nước Việt Nam tự do trước
những búa ŕu bất công của các lực lượng phản chiến và thiên tả Mỹ
Quốc. Những tên tuổi lớn ông đưa ra như Đại Sứ Ellsworth Bunker, Đại
Tướng Creighton Abrams, Thiếu Tướng James L. Collins, Đại Tướng Tham Mưu
Trưởng Lục Quân Harolk K. Johnson, Bộ Trưởng Quốc Pḥng Robert McNamara, trùm CIA
William Colby, Sir Thompson, Tướng John Paul Vann, Tướng Tiếp Vận Việt Nam Đồng
Văn Khuyên, Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, Trung Tướng
Ngô Quang Trưởng Tướng Cộng Sản Vơ Nguyên Giáp, Lê Trọng Tấn vv là những
nhân vật và dẫn chứng lịch sử trong giai đoạn nhiễu nhương và đau
đớn ê chề cho đất nước và tất cả chúng ta.
Nói về chiến dịch Hạ Lào Lam Sơn 719 ông đă
đưa ra những con số cho thấy địch quân đă bị thiệt hại nặng
nề và quân ta tuy không thắng trận nhưng đă không thất bại như bọn chủ
bại bên Mỹ đă rêu rao. Tôi được biết viên Trung Tướng cộng sản
chỉ huy chiến dịch là Trung Tướng Phạm Hồng Sơn, tên thật là Phạm
Thành Chính là một sinh viên luật cùng thời với tôi và cùng ở Đại Học Xá Bạch
Mai. Anh ta là anh em đồng hao với Vơ Nguyên Giáp, cùng là con rể nhà học giả Đặng
Thái Mai, lấy con út ông Mai là nhà văn và nhà giáo Đặng Anh Đào. Hiện tại Tướng
Phạm Hồng Sơn đă 84 tuổi, đă lăng trí và cũng đă ra ŕa như Giáp tuy được
cấp một biệt thự lớn ở đường Lư Nam Đế Hà Nội.
Có
cả năm trang dành cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trước hết tôi
phải nói rằng tôi cũng như nhiều đồng hương đă không mấy có thiện
cảm với ông Thiệu. Riêng tôi lại có một điều hận trong ḷng khi ông ta cho
tôi là đàn em của Nguyễn Cao Kỳ. Năm 1948 khi tôi vào Sài G̣n với mấy bạn Đại
Việt Nguyễn Tất Ứng, Nguyễn Đ́nh Tú tôi đă được đưa đến
thăm ông Nguyễn Văn Kiểu là anh lớn của ông Thiệu ở đường Kitchener.
Ông Kiểu là một đảng viên Đại Việt miền Nam, người rất hiền
hậu và trung thực làm chủ một cửa hàng bán nước mắm ở đó và chúng
tôi đă trở thành khá thân thiết. Hồi tôi nhận chức Thứ Ủy Tổng Cuộc
Trưởng Tiếp Tế trong chính phủ Nguyễn Cao Kỳ mà không có nhân viên pḥng sở
th́ tôi đă được tạm dùng bàn giấy của ông Kiểu ở Trụ Sở Liên
Minh Á Châu Chống Cộng số 122 trên đường Hồng Thập Tự. Sau khi tôi rời
TCTT, lúc ông Thiệu lên làm Tổng Thống th́ ông Kiểu đă đưa ư kiến cho chú em
là "Tám, tại sao không dùng anh Cung" th́ được một câu trả lời lạnh lùng, "Cung
là tay chân đao búa của Nguyễn Cao Kỳ". Nghe vậy tôi cho là một sỉ nhục. V́
coi tôi như là một lũ điếu đóm xun xoe mạt chược, nhậu nhẹt,
ăn tục nói phét xung quanh ông Kỳ th́ hơi quá!
Trong phần dành cho ông Thiệu tôi
thấy thương ông ta khổ tâm nhiều trong thời kỳ mười năm nắm
vận mệnh quốc gia, đương đầu với Mỹ, với đe dọa đảo
chính và với t́nh h́nh đa đoan của nước nhà. Được đọc bài phỏng
vấn cựu Phụ Tá thân cận Nguyễn Văn Ngân của Trần Phong Vũ tôi càng nh́n
rơ sự cô đơn của một lănh tụ thông minh, mưu trí nhưng sinh bất phùng thời.
Và tôi càng thông cảm nỗi bất hạnh của ông để đặt câu hỏi "một
người khác nắm quyền có khá hơn không hay là chúng ta lại phải trải qua một
bất hạnh lớn hơn không"?
Trần Đỗ Cung Prunedale, tháng 10, 2006
XÁC
ĐỊNH GIÁ TRỊ QUÂN LỰC VNCH
Trong một cuộc chiến dai dẳng và
khó khăn không một ai có thể nh́n rơ khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng
Ḥa. Hôm nay tôi tŕnh bày vấn đề này dưới nhiều khía cạnh trong tám mục chính
và hai phụ khoản.
Chính Phủ Việt Nam cấp các huy chương tham chiến cho
quân nhân Mỹ. Đặc biệt thấy gắn trên băng biểu chương một thẻ
kim khí khắc "1960…" Người ta đă không ghi niên điểm cuối cùng bởi lư do
dễ hiểu; tuy nhiên ta có thể xem 1960 là khởi điểm v́ đó là mốc đánh dấu
sự gia tăng tham chiến của Mỹ cho đến ngày quân đội Mỹ lên cực
điểm. Trong giai đoạn này chúng ta có môt cái nh́n tổng thể về thành tích của
quân đội Việt Nam từ 1960 cho đến 1975.
Vài năm trước đây tôi
đă viết một bài nhan đề "Dũng cảm và xương máu" để phân tích thành
quả quân đội Việt Nam trong vụ tấn công tháng Tư 1972. Bài đă được
đăng trong báo Parameters của trường Đại Học Quân Sự. Hồi c̣n sinh
thời ông Douglas Pike đă b́nh luận trong một ấn bản Indochina Chronology như sau:
"Đă có cố gắng chậm chạp nhưng liên tục điều chỉnh và cứu văn
danh dự của ngưới quân nhân Việt Nam từng bị nhục mạ bởi bọn
phóng viên truyền h́nh thương mại ngu dốt và cánh trí thức thiên tả. Bài của
ông Sorley đă xét lại lịch sử và ông ta lập luận vững vàng trong lănh vực này".
Tôi
vẫn tri ân lời khuyến khích ấy và ước ǵ Giáo Sư Pike c̣n hiện diện để
thấy các tài liệu lịch sử hiện hữu chứng minh sự dũng cảm đưa
đến trưởng thành và thành tựu của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa. Chỉ
v́ nước chúng ta không thực thi cam kết cho Nam Việt trong khi phe cộng sản vẫn
tiếp tục và đều đặn gia tăng yểm trợ Bắc Việt nên đồng
minh bất hạnh của chúng ta mới bị tràn ngập và thua trận.
Cho đến
nay chưa bao giờ có một cố gắng định mức toàn diện sự tiến
triển và thành tích của quân đội Việt Nam trong những năm bành trướng.
Trong thời giờ hạn hẹp ở đây tôi chỉ mong điều chỉnh phần
nào sự khiếm khuyết, bất công và nhiều lúc sai lạc mỗi khi bàn đến QLVNCH
tuy đó là một thái độ khôn ngoan cho đến nay.
Chúng ta rất thiếu hiểu
biết về cuộc chiến Việt Nam mặc dầu nó đă kết thúc ba mươi
năm qua. Là v́ những người phản chiến hoặc ít nhất chống sự tham
dự của chính ḿnh đă mô tả mọi khía cạnh qua một lăng kính xấu và nhiều
khi đă nói sai sự thật. Ông James Webb vạch mặt giới truyền thông, trí thức
và Hollywood là những nhóm đă "có lợi khi làm cho cuộc chiến bị xem là không cần
thiết hay không thắng được". Và v́ họ điều khiển dư luận nên
họ đưa ra những lập luận sai lầm ngay cả khi chiến tranh kết thúc
đă ba mươi năm. Những lập luận thật sai lạc, đi từ thóa mạ
người lính Việt trong một quá tŕnh chiến đấu cam khổ cho đến Jane
Fonda hạ nhục những tù binh Mỹ là bọn láo khoét hoặc đạo đức giả
khi nói rằng họ đă bị tra tấn hay hành hạ trong lúc bị giam cầm. Đă đến
lúc ta phải bỏ thái độ tiêu cực, lắm khi mạt sát và cố t́nh dùng chính trị
để đổ lỗi cho quân đội Việt Nam trong hầu hết các tranh luận.
PHẦN
1 : QUÂN ĐỘI VIỆT NAM LÚC ĐẦU
Đây là giai đoạn mà chúng ta chủ
động trong khi Việt Nam bị đẩy ra ngoài lề với nhiệm vụ b́nh định
(mà đây chính cũng là một khía cạnh của chiến tranh và bộ chỉ huy Mỹ đă
quên lăng). Bởi vậy họ không được cấp những vũ khí mới cũng
như được trợ chiến cần thiết.
Phần đông chúng ta và ngay cả
một số người Mỹ phục vụ tại chỗ đều chỉ trích quân đội
Việt Nam trong thời kỳ ấy. Họ đă không lưu ư đến một số yếu
tố ảnh hưởng nặng nề lên t́nh trạng đó. Quân cụ Mỹ cung cấp
đều là những thứ lỗi thời từ Thế Chiến II, nhất là các súng trường
M-1 vừa nặng vừa cồng kềnh với tầm vóc người Việt. Trong khi đó
th́ kẻ thù đă được Nga-Tầu trang bị đầy đủ súng AK-47.
Thiếu
Tướng James L. Collins đă tŕnh bầy về t́nh h́nh quân đội Việt Nam như sau,
"Năm 1964 địch quân đă bắt đầu xử dụng AK-47, một loại súng
tân tiến, tự động và rất bén nhậy. Trái lại lực lượng bạn
vẫn dùng loại khí cụ phế thải của Thế Chiến II…" Rồi từ
năm 1965 khi quân Mỹ lần hồi gia tăng nhập cuộc th́ nhu cầu chiến tranh
về phía bạn lại càng bị đẩy lui vào hậu trường".
Do đó các
đơn vị Việt luôn luôn bị địch quân áp đảo trong thế đánh không
cân xứng. Đại Tướng Fred Weyand khi thuyết tŕnh măn nhiệm chỉ huy Đệ
Nhị Lộ Quân đă nói rơ, "Sự chậm trễ cung cấp khí giới và quân cụ mới
cho Việt Nam, ít nhất ngang với sự yểm trợ của Nga Tầu cho quân địch
làm cho quân bạn yếu kém".
Chỉ từ khi Đại Tướng Creighton Abrams nhận
chức Tư Lệnh Phó Quân Lực Mỹ vào hồi tháng Năm 1967 người ta mới
bắt đầu chú ư đến quân Nam Việt. Tướng Abrams điện ngay cho Đại
Tướng Tham Mưu Trưởng Harold K. Johnson như sau. "Tôi thấy ngay là quân lực Mỹ
tại đây cũng như bên chính quốc chỉ nghĩ trước tiên đến hành quân
Mỹ và yểm trợ các đơn vị Mỹ. Do đó chương tŕnh cung cấp chiến
cụ cho Việt Nam đă ít ỏi mà lại c̣n không được thi hành một cách tích cực
và cấp tốc như đối với quân Mỹ. Rơ ràng chúng ta có trách nhiệm lớn với
quân bạn. Công việc phải làm ngay và tôi đang bắt tay cấp kỳ vào việc"!
Ngay
khi nhậm chức, Tướng Abrams liền gia tăng lực lượng Việt Nam, nhất
là cung cấp các súng M-16. Trong trận tấn công Tết Mậu Thân 1968 ông đă đưa được
M-16 vào tay Nhẩy Dù và các đơn vị tiền tiến khác. Tuy nhiên phần đông vẫn
bị lép vế đối với công sản. Trung Tướng Chỉ Huy Tiếp Vận Đồng
Văn Khuyên nhắc lại rằng, "Trong Vụ Tềt Mậu Thân người ta nghe rơ tiếng
sắc bén liên hồi của AK-47 trong Sài G̣n cũng như các thị trấn khác, như là một
diễu cợt khôi hài cho các phát súng lẻ tẻ Garant và Carbine trong tay hoảng hốt của
quân ta"!
Tuy vậy quân Việt vẫn đẩy lui địch quân một cách bất
ngờ và dũng cảm. Báo Time đă viết: "Nhiều người Mỹ đă ngạc nhiên
và Công Sản đă đau đớn sửng sốt thấy quân đội Việt Nam đă
tức tốc đương đầu và chiến đấu ngang tàng can đảm khác hẳn
dự đoán". Nhưng không thấy ai đề cập đến sự chênh lệch khí giới
của đôi bên.
Tháng Hai 1968 Tướng hồi hưu Bruce C. Clarke đi thăm Việt
Nam và viết một tờ nhận định được Đại Tướng Early
Wheeler chuyển đến tay Tổng Thống Johnson. Tướng Clarke nói "các đơn vị
Việt c̣n bị chi phối bởi một chương tŕnh quân viện nghèo nàn, kể cả
khí giới cá nhân. Điều này ảnh hưởng lớn đến tinh thần và thành quả
của binh sĩ. Quân sỹ cảm nhận rơ khi họ không được trang bị đầy
đủ"!
Tổng Thống Johnson liền mời Tướng Clarke đến văn
pḥng đàm luận thêm. Và sau đó ít ngày "viên phụ tá Tổng Thống điện thoại
báo cho tôi là Tổng Thống Johnson đă ra lệnh gửi ngay 100,000 súng M-16 cho quân VNCH". Tổng
Thống đă nhấn mạnh trong bài diễn văn lịch sử ngày 31 tháng Ba 1968, "Chúng
ta sẽ nhanh chóng tăng viện cho quân đội Việt Nam để đáp ứng sự
gia tăng hỏa lực của địch quân".Thật là kịp thời.
Tướng
Clarke trở lại Việt Nam vào tháng Tám 1969 để thấy "lực lượng VNCH đă
có 713,000 khẩu M-16 cùng với các khí giới khác và họ đă tiến bộ nhiều kể
từ Tết Mậu Thân". Hiện nay họ và các lực lượng diện địa đều
đă có súng cá nhân tối tân luôn cả phóng lựu M-79, súng máy M-60 và các đài vô tuyến AN/PRC-25
như quân đội Hoa Kỳ.
Các sư đoàn Mỹ được trang bị tối
tân và nhiều hơn phía Việt Nam nên khả năng tác chiến cũng gấp bội. Tùy
viên của Tướng Abrams đă nhấn mạnh là Đại Tướng đă nghiên cứu
so sánh khả năng tác chiến giữa sư đoàn Mỹ và Việt Nam để thấy
chênh lệch hỏa lực 16 lần. Tướng Abrams dùng dữ kiện này để t́m
cách tăng viện cho các sư đoàn VNCH. Phía VN c̣n bị kém hơn nữa v́ lúc đầu
các yểm trợ chiến trường đều ưu tiên cho quân Mỹ, như oanh tạc
B-52, xử dụng trực thăng, chiến đấu cơ cận chiến và chuyển
quân giữa chiến địa.
Tướng Abrams nói thêm là trong lần tấn công thứ
ba vào tháng Tám và Chín 1968 quân VN đă hạ được nhiều địch quân hơn cả
tổng số của Đồng Minh. Họ cũng chịu nhiều tổn thất nhân mạng
hơn theo số kiểm chứng cũng như theo ước tính với phân số ta và địch
tử vong. Ông nói với Tướng Wheeler rằng đó là v́ thật sự quân đội
VN không được yểm trợ như quân đội Mỹ cả về phẩm lẫn
lượng (trọng pháo, không tập chiến thuật, không pháo và trực thăng vận).
Bởi vậy việc chỉ trích quân đội VN trong thời kỳ đầu thiếu
khách quan. Thiếu khí giới cần thiết trước một địch quân hùng hậu
hơn lại c̣n bị đẩy xuống vai tṛ thứ yếu trong nhiều năm đă
không cho họ cơ hội tăng tiến kinh nghiệm chiến đấu.
Về sau
ông Robert McNamara từng là Bộ Trưởng Quốc Pḥng và chủ động chiến tranh
đă viết một cách hời hợt về phía Việt Nam. Ông đă bị William Colby sửa
lưng như sau, "Ông không có quyền nói xấu những người Việt đă đem xương
máu chống cộng sản trong khi đại cường Mỹ đă phủi tay chỉ v́
lỗi lầm của McNamara. Mục đích hết sức cao đẹp nhưng Hoa Kỳ
đă thua với McNamara và phần lớn là v́ hắn"!
PHẦN 2.- TẾT 1968
Chiến trận xẩy ra khắp nơi hồi Tết 1968 là một thử thách lớn
cho Quân Đội VNCH. Nhiều người đă sửng sốt chứng kiến một thành
tích vượt bực. Khi đi nhận giải Thayer tại trường Westpoint Đại
Sứ Ellsworth Bunker lên diễn đàn ca ngợi chiến tích ấy. "Mặc dầu Quân Đội
VN ít hơn nhưng họ đă chiến đấu vượt bực. Đại Tướng
Abrams đă nói họ chiến đấu ngoài sức tưởng tượng của họ.
Đă không có nổi dậy, không có đào ngũ và chính quyền vẫn nguyên vẹn. Trái lại
họ phản ứng cấp kỳ, mạnh mẽ và đích đáng; họ chiến đấu
với tối đa sức mạnh".
Thành tích vượt bực của quân đội
VNCH trong trận Tết Mậu Thân 1968 rất cần thiết cho tương lai Việt Nam.
Đại Sứ Bunker nói tiếp :"Kết quả là cả một chuỗi diễn tiến
làm cho chính phủ Việt Nam vững mạnh, dân chúng tin tưởng hơn khả năng
đương đầu với địch và chính quyền thấy sẵn sàng gánh vác vai
tṛ chiến đấu hơn".
Ông John Paul Vann cũng đồng ư nói trong năm 1972 rằng
"Tết Mậu Thân đă làm cho chính phủ Nam Việt gia tăng kiểm soát lănh thổ, tổng
động viên nhân lực để có đủ quân số trám vào khi quân Mỹ rút lui và gia
tăng lực lượng địa phương bảo dảm sự hiện diện chính
quyền trung ương tại các vùng thôn quê".
Lúc Đại Tướng Abrams nhận
chức chỉ huy lực lượng Mỹ tại Việt Nam th́ xẩy ra vụ tấn
công thứ ba của cộng sản vào mùa Thu 1968. Ông điện cho Đại Tướng
Earle Wheeler và Đô Đốc John McCain, "Tôi phải kết luận rằng việc quân Việt
Nam đă giết nhiều địch trong ṿng sáu tuần lễ hơn cả quân Đồng
Minh chứng tỏ tiến bộ lănh đạo và tinh thần xung kích của họ. Họ
phải trả một giá rất cao về tử vong vá tôi cho phần lớn là v́ không được
yểm trợ đúng mức. Do đó cần phải nhanh chóng tăng viện khí giới cho
họ".
Trong cuộc họp thượng đỉnh ở Midway vào tháng Sáu 1969 chưong
tŕnh nghị sự chú tâm đến bành trướng và tăng quân viện cho quân lực Việt
Nam. Quân số tăng lên 820,000 rồi lại đưa lên đến 1.1 triệu người
đă được kư kết. Ngoài ra, theo ghi nhận của Thiếu Tướng Trần
Đ́nh Thọ, c̣n thỏa thuận trang bị thêm M-16, đại liên M-60 và hỏa tiễn
LAW. Vậy thấy rằng ngay lúc ấy mà c̣n bàn đến M-16 th́ quân Việt đă phải
chiến đấu từ lâu ở thế kém với một địch quân hùng hậu.
PHỤ
ĐÍNH .- VÀI SO SÁNH
*Đă có 50 người đào ngũ mỗi ngày dưới
sự chỉ huy trực tiếp của Tổng Tư Lệnh. Đó là trường hợp
Đại Tướng George Washington ở Valley Forge trong mùa Đông 1777-1778.
*Đă phải
đưa đại pháo ra đường dẹp phiến loạn chống động viên.
Đó là lúc Tổng Thống Abraham Lincoln đă phải quyết định ở Nữu Ước
ḥi tháng Tư năm 1865 trong cuôc nội chiến Nam Bắc.
*Trong trận chiến cuối
cùng đă chỉ có nửa quân số tham dự v́ tệ nạn đào ngũ. Đó là trường
hợp Đại Quân Potomac của Tướng George Meade ở Gettysburg. "Ông ta hy vọng có
160,000 binh sĩ nhưng chỉ vỏn vẹn được 85,000 v́ 75,000 lính đă đào
ngũ. Trong cuộc Nội Chiến Mỹ, tỷ lệ đào binh của Liên Quân là 33% trong
khi bên kia c̣n hơn nữa ở mức 40 phần trăm".
*Trong cuộc tổng xung kích
một nửa số binh sĩ trong các sư đoàn đă kháng lệnh. Đó là trường
hợp Quân Đội Pháp năm 1917 làm cho ṭa án binh đă phải kết tử h́nh 554 quân nhân
trong số ấy 49 người đă bị hành quyết.
*Đặc biệt có trường
hợp một số đơn vị đă tháo chạy; đó là trong Thế Chiến II khi
Đại Đội K thuộc Sư Doàn 25 Mỹ đă bỏ chạy toán loạn. Sử
gia Geoffrey Perret ghi, "Hiếm thấy một Sư Đoàn Mỹ nào không có t́nh trạng Đại
Đội bỏ ngũ như vậy".
*Nói đến một đơn vị mà Tư
Lệnh Sư Đoàn bị cách chức, bốn phụ tá chính bị loại, hai Tiểu Đoàn
Trưởng bị bắt sống và chin Tiểu Đoàn Trưởng khác bị thay thế.
Đó là Sư Đoàn Mỹ 36 tại Salermo trong Thế Chiến II.
*Luôn luôn pháo kích, ám
sát, bắt cóc và áp đảo thường dân vô tội là việc làm của công sản trong
suốt cuộc chiến.
*Giết hại thường dân vô tội như trong trường
hợp Thủy Bồ và Mỹ Lai là thành tích xấu xa của quân Mỹ trong những năm
1967-1968.
Ta có thể kể ra nhiều trường hợp tương tự. Điểm
nên nhớ là nếu đem so sánh với các lực lượng đương thời hoặc
theo lịch sử ghi nhận th́ QLVNCH đă chiến đấu ngang tàng và xứng đáng trong
suốt cuộc chiến. Đó là một điểm son không bao giờ được nhắc
tới.
Có rất nhiều tài liệu ghi sự dũng cảm và thiện chiến của
QLVNCH, tuy nhiên các nhà viết sử không chú ư đến và các phóng viên báo chí th́ lờ đi. Trong
Văn Khố Quôc Gia có hàng ngàn huy chưong Hoa Kỳ cấp cho quân sỹ Việt Nam v́ thành
tích phục vụ quả cảm.
Quá tŕnh đẹp đẽ ấy lại càng đáng
nể hơn nếu ta nghĩ rằng người lính Việt đă tham chiến từng nhiều
thập niên và phần đông đă hy sinh cả quăng đời thanh niên của họ. Một
người Mỹ đă nói rất chí t́nh, "Quân nhân Việt không có DEROS (ngày được
trở về) như lính Mỹ chỉ phục vụ một năm ở Việt Nam. Họ
chiến đấu không ngừng nghỉ năm này qua năm khác với một sức chịu
đựng và ḷng nhiệt thành không tưởng tượng được. Ngay sau khi cộng
sản thắng trận phần đông lại c̣n chịu giam cầm hàng chục năm trong
các trại lao cải nghiệt ngă".
PHẦN BA.- ĐỊA PHƯƠNG QUÂN
Sau vụ Tết Mậu Thân 1968 Bộ Tư Lệnh Mỹ thay đổi. Đại
Tướng Creighton Abrams lên thay Đại Tướng Westmoreland và đổi quan niệm
về cuộc chiến và phương pháp hành xử. Tướng Abrams nhấn mạnh "chiến
tranh toàn diện" gồm cả hành quân, b́nh định và gia tăng khả năng QLVNCH theo
một quy tŕnh cấp bách ngang với chiến trận.
Chiến thuật cũng thay đổi
từ quan niệm "truy và diệt" qua "b́nh định và giữ đất". Có nghĩa là khi
địch bị đẩy ra khỏi vùng có dân th́ quân đội phải đóng lại chớ
không rút đi cho địch trở lại. Do đó Địa Phương Quân được
phát triển tối đa để phụ trách an ninh và b́nh định lănh thổ.
Trung
Tướng Nguyễn Duy Hinh cho sự phát triển và nâng cao các lực lượng địa
phương là việc làm quan trọng nhất của Mỹ. Đại Tướng Ngô Quang
Trưởng nhận định rằng kết quả b́nh định xă ấp, gia tăng
số dân sống dưới chính quyền và an toàn giao thông là công của lực lượng
địa phưong quân và nghĩa quân.
Tháng Năm 1967 khi Đại Tướng Abrams
đến Việt Nam th́ quân lực VN gồm có Lục Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục
Chiến và Không Quân. Ngoài ra c̣n có những lực lượng diện địa bao gồm
Địa Phương Quân và Nghĩa Quân phụ trách an ninh lănh thổ. Tỉnh Trưởng
chỉ huy Địa Phương Quân c̣n Nghĩa Quân đặt dưới quyền Quận
Trưởng. Các lực lượng này trú đóng tại địa phưong của họ
và thực hiện mục tiêu "càn quét và giữ đất". Vào năm 1970 đă có 550,000 quân
số, nghĩa là một nửa QLVNCH.
Một trùng hợp, đêm hôm trước Bing West
và một nhân vật nữa đă lên kênh PBS "Giờ tin tức với Jim Lehrer" để thảo
luận về t́nh h́nh Iraq. Một người đă nói đến quan niệm "càn quét và giữ
vững" của Condoleza Rice. Nếu ta t́m nguồn gốc quan niệm này th́ hẳn phải
kể Lực Lượng Diện Địa Nam Việt, Đại Tướng Abrams, Đại
Tướng Harold K. Johnson và bản nghiên cứu PROVN (chương tŕnh b́nh định và phát
triển Nam Viêt) của Đại Tá Jasper Wilson.
Ngay từ tháng Mười 1968 ông William
Colby làm phụ tá Bính Định cho Tướng Abrams đă giải thích tầm quan trọng
của các lực lượng ấy. "Để bảo vệ an ninh lănh thổ chúng ta chú trọng
đến tăng tiến Địa Phưong và Nghĩa Quân, lên ngót một nửa toàn thể
quân số. Chúng ta đă bắt đầu ngay từ tháng Mười vừa qua. Trong một
buổi thuyết tŕnh Đại Tướng Abrams đă nhấn mạnh ba mươi điều
phải làm trong đó có việc cử các toán nhỏ cố vấn quân sự đến các
Đại Đội Địa Phương Quân và các Trung Đội Nghĩa Quân. Ta đă
có 250 toán năm người rải rác khắp mọi nơi".
Ba tháng sau ông Colby đă
thấy sự tăng tiến nhanh chóng huấn luyện và vũ khí cho các đơn vị
ĐPQ cũng như NQ. "Dă có 91,000 binh sỹ nhiều hơn năm ngoái. Khoảng 100,000 người
đă được trang bị súng M-16 và 350 toán cố vấn đă sống và làm việc
với các đơn vị ĐPQ và NQ". Ngay khi lănh chức Tư Lệnh Đại Tướng
Abrams đă thẳng thừng chuyển các súng mới cho họ. Ông nói trong bài thuyết tŕnh
tháng Tám 1968, "Trong một năm ĐPQ và NQ được ưu tiên hàng đầu và nhận
súng M-16 trước cả Lục Quân. Cũng như mọi việc, tôi đă bỏ vào quỹ-tiết-kiệm-lính
với lăi xuất 10 phân. Trời Đất ơi, chúng ta đă đầu tư vào đây
và đó là việc phải làm, ưu tiên tối đa trên tất cả mọi thứ"!
ĐPQ
và NQ gia tăng khả năng và thành tích của họ và phải được ghi công đầu.
Trong buổi thuyết tŕnh WIEU (dự đoán t́nh báo hàng tuần) cho quan khách Tướng Abrams
nói, "Điều tôi quan tâm nhất là vai tṛ của ĐPQ và NQ trong chiến cuộc luôn bị
quên lăng. Người ta chỉ thường nói đến QLVNCH trong khi đă lâu nay ĐPQ và
NQ gánh chịu nhiều tổn thất và đă giáng cho quân địch nhiều đ̣n chí tử.
Tôi nói thẳng, nếu ta muốn nói đến an ninh cho dân th́ đây mới là phần việc
lớn"!
Cùng một lúc, ông nói rơ ràng về thành tích của các đơn vị này. "Tôi
không biết có nên trang bị thêm các đại đội Lục Quân không. Nếu có thêm nhân
số th́ tôi nghĩ đem đầu tư vào các lực lượng diện địa này
có lợi hơn".
Cuối năm 1969, khi nh́n biểu đồ t́nh h́nh trong ba tháng vừa
qua ghi rơ ai đă đem lại nhiều thành quả nhất về khí giới, tử vong, Tướng
Abrams đă nói: "Thật rơ ràng và đúng. Số địch bị giết, khí giới thu được,
hầm bí mật phát hiện, vv, th́ QĐVNCH vẫn giữ nguyên tỷ lệ 27/28% trong khi
tỷ lệ của Đồng Minh sút giảm. Sự chênh lệch là do các lực lượng
địa phương và đă xẩy ra từ tháng Tám vừa qua".
Một người
trong cừ tọa nói lớn, "Đó là tính chất của cuộc chiến"!.
Tướng
Abrams trả lời ngay, "Đúng lắm! Tôi luôn luôn hỏi lợi nhuận thu được
từ 100,000 súng M-16 như thế nào? Như vậy hả? Vâng ta đă bắt đầu thấy
kết quả"!
Ông Bill Colby cũng nhận xét rằng trong tháng Bẩy 1970 lực lượng
địa phương cũng bảo vệ được súng của ḿnh. Tỷ lệ khí
giới mất đối chiếu với vũ khí thu được là một trên ba, khác
hẳn t́nh trạng năm năm trước đây.
Tướng Abrams nói thêm: "Các Lực
Lượng Địa Phưong, các con sóc ấy tiến tới rất vững vàng. Một
t́nh trạng đă được duy tŕ lâu nay là ĐPQ và NQ đă gánh chịu phần lớn
trách nhiệm chiến tranh".
Các sỹ quan cao cấp Việt Nam cũng nh́n nhận như
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, "Các ĐPQ và NQ đă lần hồi gỡ bỏ mặc
cảm của một phụ lực quân để trở thành các binh sỹ chính quy và là một
bộ phận chính của bộ máy chiến tranh"! ĐPQ tăng tiến về phẩm cũng
như lượng đă được các nhân vật b́nh luận khắt khe như Tướng
Julian Ewell khen tặng, "Họ là mũi nhọn trên chiến trường"!
PHẦN
4 .- NHỮNG VẤN ĐỀ NHỨC NHỐI
Có ba vấn đề luôn luôn khó
khăn cho QLVNCH trong suốt chiến tranh là, thiếu cán bộ lănh đạo giỏi, t́nh
trạng tham nhũng lan rộng và đào ngũ.
Có lănh đạo với đầy đủ
khả năng chỉ huy là một vấn nạn cho QLVNCH trong suốt cuôc chiến. Với
sự gia tăng quân số đến 1.1 triệu người t́nh trạng lại càng trầm
trọng hơn. Sự thất thoát cấp chỉ huy của các đon vị nhỏ lại
càng làm cho vấn đề tệ hại khi quân số gia tăng.
Công việc huấn
luyện và các kế sách tuyển mộ các chỉ huy mới rồi đôn họ lên theo chiến
tích thật là nhọc nhằn và khó khăn. Sau chiến dịch Lam Son 719, Đại Tướng
Abrams tham dự một cuộc duyệt binh tại Huế đă nói, "Thật là một việc
đáng ghi. Họ đôn quân, HSQ được thăng lên, HSQ lên thành Chuẩn Úy, Chuẩn
Úy lên Thiếu Úy. Tổng Thống Thiệu tuyên bố rằng đó là việc nhỏ với
5,000 thăng cấp, mà thăng cấp mặt trận".
Tướng Abrams rất thích:
"Đó là chuyện đă xẩy ra ở Lào. Không có cách ǵ tốt hơn trong quân đội là
đi vào hàng ngũ lựa chọn những phần tử chiến tích thích đáng mà đôn
lên". (Cũng như vậy đối với các viên chức tại Trung Tâm Huấn Luyện
Vũng Tàu hầu giúp họ tăng tiến khả năng quản trị và lănh đạo
trong công việc).
Vài vị chỉ huy Việt Nam đă không ngớt chỉ trích khả
năng lănh đạo của ḿnh. Đại Tướng Cao Văn Viên đă viết trong cuốn
sách của ông như sau, "Trong thời gian tôi phục vụ ở cương vị Tộng
Tham Mưu Trưởng tôi đă chứng kiến sự thành công cũng như thất bại
của khả năng lănh đạo của chúng ta. Mặc dầu chúng ta đă cố gắng
tối đa nhưng vẫn không đủ trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước".
Sự
đào ngũ trong các sư đoàn là một căn bệnh trầm trọng của QLVNCH. Tuy
nhiên không phải đào ngũ theo phe đich nhưng phần lớn là để tránh ra trận
hay để về nhà. Đó là một việc khác hẳn phía địch khi phần đông
những đào binh quay về hàng ngũ quân ta. Trái lại đào binh ta thường trở
lại ngũ tại địa phương. Theo Anthony Joes đó là sự hoán chuyển từ
quân đội chính quy về địa phưong quân mà tỷ lệ đào ngũ gần như
không có mặc dầu số tử vong cao hơn quân chính quy.
Tham nhũng là một nhược
điểm nữa không bao giờ gột tẩy được mặc dầu ảnh hưởng
lên chiến cuộc không mấy quan trọng như ngưới ta thường kêu la. Tuy nhiên
Đại Tướng Cao Văn Viên đă kết luận như sau. "tham nhũng không phải
yếu tố đưa đến sự xụp đổ của chế độ nhưng
chắc chắn nó gây ảnh hưởng tệ hại đến tŕnh độ binh nghiệp
và như vậy làm suy nhược khả năng chiến đấu".
Ông Tom Polgar của
CIA nhận định xác đáng rằng tham nhũng không thể lật đổ một
quốc gia cũng như trường hợp Phi Luật Tân, Nam Hàn hay Thái Lan. "Nước nào
mà không trả công tương xứng cho viên chức đều có tham nhũng, đó là một
quy luật. Tuy nhiên tham nhũng ḅn rút hết tiêm lực quốc gia khi có ngoại xâm".
Đại
Tá William LeGro đă ở lại đến những ngày cuối cùng với DAO (Cơ Quan Tùy
Viên Quốc Pḥng) đồng ư. Ông nói: "Tham nhũng không làm cho sụp đổ. Sự giảm
thiểu viện trợ Hoa Kỳ đến con số không là đáp số". Ông ta nói thêm: "Chúng
ta đă đối xử một cách xấu xa bỉ ổi với bạn Việt Nam của
chúng ta".
PHỤ ĐÍNH .- NGUYỄN VĂN THIỆU.
Phần này bàn về
cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Tối Cao QLVNCH.
Tổng
Thống Thiệu lănh đạo quốc gia trong một thời kỳ ngặt nghèo nhất.
Trong khi chiến đấu chống ngoại xâm và nội loạn được Nga Tầu
yểm trợ tối đa, ông đă đặt các cơ cấu dân cử từ trung ương
cho đến hạ tầng xă ấp. Ông đă gia tăng quân đội và với sự trợ
giúp của Hoa Kỳ, ông đă tăng tiến phẩm chất quân lực để thay thế
quân Mỹ. Ông trực tiếp lănh đạo chương tŕnh b́nh định nông thôn và phá
vỡ hệ thống khủng bố đe dọa dân quê. Ông thực thi một chính sách cải
cách ruộng đất đáng khen, phân phát cho 400,000 nông dân 2 triệu rưỡi mẫu ruộng,
và tổ chức bốn triệu dân thành một lực lượng dân vệ với 600,000
khẩu súng.
Trong sáu năm phục vụ Đại Sứ Ellsworth Bunker thường
xuyên tiếp xúc với Tổng Thống Thiệu và đă nhận xét xác đáng về con người
cùng khả năng của ông ấy. Đại Sứ Bunker nói: "Ông ta đối phó với
t́nh h́nh một cách khôn ngoan và khéo léo. Ông ta là một con người trí thức đầy khả
năng. Thoạt đầu ông đă cai trị theo hiến pháp chớ không theo một lũ
Tướng Tá chỉ muốn ông hành động theo ư họ. Càng ngày ông càng hành xử như
một chính trị gia (đây là một lời khen của Bunker), đi về vùng quê, thanh tra
b́nh định, chuyện tṛ với dân xem họ muốn ǵ". Ông Bunker khen ngợi ông Thiệu
và có khi coi ông ta như một đối thủ chính trị có bản lănh. Bunker nói: 'Tôi nghĩ
Thiệu là một người khôn ngoan và chín chắn".
Ông Thiệu cũng hết sức
thực tế khi phàn nàn với Bunker rằng, "Thật là khổ cho chúng tôi đă không có mấy
vị Tướng đủ khả năng chỉ huy hơn một sư đoàn"! Khi nói vậy
ông ám chỉ cả chính ông một cách khiêm nhượng và rất đúng.
V́ quân đội
cung cấp phần lớn khả năng hành chính cũng như chính trị nên ông Thiệu
bị giới hạn một cách đau thương trong việc thay thế các phần tử
thiếu khả năng hay bất xứng. Lại nữa ông ta cũng cần phải lưu
giữ những người đáng tin cậy mặc dầu yếu kém. Trong thời đầu
nhiệm kỳ ông đă cắt nghĩa cho một nhân viên Mỹ cao cấp như sau: "Hoàn toàn
thanh lọc cấp chỉ huy trong quân đội là một việc bất khả thi. Mỗi
sự thay thế một vị tư lệnh đều phải sắp đặt và thi hành
hết sức cẩn trọng. Không thể kéo quân đội ra khỏi chính trị trong một
sớm một chiều. Tổ chức quân đội vẫn là thế đứng duy nhất
của tôi và hơn nữa là một cơ chế vững vàng nhất để bảo đảm
thống nhất quốc gia".
Đại Sứ Bunker cũng như Đại Tướng
Abrams hiểu rơ vấn đề nên tỏ ra rất kiên tâm và thông cảm. Nhưng họ cũng
đưa ra những đề nghị chính xác liên quan đến các cấp chỉ huy cao thiếu
khả năng. Thường th́ được nghe theo tuy phải mất thời giờ trong
khi sắp xếp chính trị. Trong một thời gian đă có những thay đổi lớn
trong cấp lănh đạo quân cũng như chính, có khi do áp lực khủng hoảng chiến
trường. Tuy nhiên chưa bao giờ có việc thanh trừng rộng răi là v́ không những
để tránh xáo trộn mà lại c̣n không có đủ người xứng đáng thay thế.
Đào tạo nhiều cấp chỉ huy tốn quá nhiều th́ giờ.
Giới cao cấp
Hoa Kỳ nhận thấy sự quan trọng của Thiệu trong việc b́nh dịnh. Tướng
Abrams bảo rằng ông Thiệu hiểu nhiều hơn bất cứ ai về công tác b́nh định
và William Colby gọi ông là "con người b́nh định số một". Lịch sử Bộ
Tổng Tham Mưu Quân Đội Mỹ đă nhận định "Thiệu là một yếu
tố quan trọng. Ông ta nhận định rơ ràng sự quan trọng của chương
tŕnh b́nh định và thiết lập các cơ cấu hành chính cấp địa phương".
Nhiều
dịp Tổng Thống Thiệu mời Đại Sứ Bunker cùng đi kinh lư thôn xă. Ông Bunker
đă nghe ông Thiệu nhấn mạnh sự thiết lập cơ chế hành chính địa
phương, tổ chức bầu cử xă ấp, huấn luyện các viên chức địa
phương và cải cách ruộng đất. Tại Trung Tâm huấn luyện Vũng Tầu
1,400 xă trưởng nghĩa là ba phần tư làng xă Nam Việt đă theo học trong chin tháng
đầu năm 1969. Tổng Thống Thiệu đi thăm mọi lớp và cho các học
viên khi trở về làng có thể hănh diện nói với dân là "Tổng Thống đă khuyên
nhủ tôi thế này thế nọ". Cuối năm 1969 t́nh h́nh đă tiến bộ rơ rệt
khiến cho ông John Paul Vann, một nhân vật hàng đầu trong chương tŕnh b́nh định
đă nói trước cử tọa tại Princeton rằng, "Hoa Kỳ đă thắng trên trận
địa và nay đang thắng chính trị với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu".
Hồi
tháng Tư 1968, trái với ư kiến của hầu hết các cố vấn, Tổng Thống
Thiệu đă thiết lập các lực lượng Nhân Dân Tự Vệ. Ông Thiệu lập
luận rằng, "chính quyền căn bản trên dân. Bởi vậy chính quyền không có nền
móng nếu không dám đưa khí giới cho dân". Do đó khoảng bốn triệu người,
trong số những người quá trẻ hoặc quá già để nhập ngũ, đều
xung vào Dân Vệ và được trang bị 600,000 súng cá nhân. Lập luận xác đáng là chính
phủ Thiệu được dân ủng hộ, Dân Vệ đă dùng súng chống lại sự
đô hộ cộng sản chớ không phải chống chính phủ.
Về sau qua bao
nhiêu tài liệu người ta thấy rơ rằng cộng sản đă nhiều lần kêu gọi
tổng nổi dậy nhưng không bao giờ dân đă nổi dậy theo chúng. Theo con mắt
khách quan của nhiều quan sát viên th́ không lạ ǵ mà sau bao nhiêu năm ám sát, bắt cóc, khủng
bố, ức chế và pháo kích bừa băi các khu dân cư trong toàn Nam Việt mà cộng sản
đă không chinh phục được ḷng dân.
Tháng Mười năm 1971 trong t́nh h́nh chiến
tranh dữ dội Tổng Thống Thiệu đă thắng cử không có đối thủ.
Nhiều người đă chỉ trích ông cho rằng sự thắng cử của ông không
xứng đáng v́ không có đối lập.. Tuy nhiên mặc dầu địch đe dọa
và kêu gọi tẩy chay đầu phiếu đă có 87.7 phần trăm cử tri hợp lệ
đến pḥng phiếu và 91.5 phần trăm đà bỏ phiếu cho ông Thiệu. Đó là
một tỷ lệ cao nhất của Việt Nam. Nếu không hay ho v́ không có đối thủ
hay dân không bằng ḷng sự lănh đạo của ông th́ tại sao họ lại đi bỏ
phiếu đông như vậy mặc dầu có thể nguy hiểm đến tính mạng?
Người ta thấy rằng, mặc dầu có nhiều chỉ trích, phần đông dân chúng
muốn ông tiếp tục lănh đạo xứ sở.
Ông John Paul Vann tuyên bố hồi
tháng Giêng 1972 rằng "yếu tố căn bản không chối căi được là khoảng
95 phần trăm dân chúng muốn có chính phủ Việt Nam hiện hữu hơn là chính phủ
cộng sản hay một chính phủ do phía bên kia đưa ra".
Thật là buồn khi
nhiều người Việt đă chỉ trích ông Thiệu. Tôi đă nói chuyện với nhiều
bạn Việt hiện sinh sống ở đây. Mới đây một người bạn
học thức và thông minh đă nói với tôi một cách phũ phàng rằng Tổng Thống
Thiệu đă nói dối. Tôi hỏi lại như thế nào th́ được trả lời
ngay: "Thiệu biết rơ là người Mỹ sẽ bỏ rơi mà không nói cho chúng tôi biết".
Tôi
cho đó là một lời buộc tội quá nặng và cần bàn lại. Đại Sứ
Bunker nhớ đă tự tay đưa cho Tổng Thống Thiệu ba bức thư cam kết
của Tổng Thống Nixon giúp Việt Nam nếu cộng sản vi phạm trắng trợn
hiệp định. Nhưng ông Bunker nói, "Quốc Hội bó tay chúng ta và kết quả là nước
Mỹ đă bội phản". Ông Bunker giải thích rơ ràng, "tôi không thể h́nh dung được
làm sao Tổng Thống Thiệu có thể biết trước cung cách và hành động điếm
nhục ấy của Hoa Kỳ"!
Ông Thiệu đă từ chức vài ngày trước
khi Sài G̣n thất thủ hầu mong có dàn xếp ổn thỏa. Trong bài giă từ ông đă làm
đúng khi giận dữ chua chắt về một cuộc tranh đấu cam go trong nhiều
năm. Nó đă cho thấy rằng ông cũng đă sửng sốt như bất cứ ai khi
người đồng minh một thời đă quay lưng lại một người bạn
trong lúc hoạn nạn (và phản bội cả những người Mỹ đă hy sinh tại
Việt Nam).
Theo tôi th́ Nguyễn Văn Thiệu đă thi hành nhiệm vụ một cách
can dảm trong nhiều năm chiến tranh để xứng đáng được kính nể
và biết ơn của những ai vẫn muốn thấy miền Nam Việt Nam tốt đẹp
(c̣n có nể trọng hay không là tùy trường hợp).
PHẦN 5 .- LAM SON 719
Rơ
ràng người ta đă cho rằng chiến dịch Lam Son 719 vào Hạ Lào là một thảm
bại cho Nam Việt. Tuy nhiên sự thật khác hẳn, v́ hiện nay với băng ghi Abrams
và các nguồn tin khác đă cho biết là quân Bắc Việt thiệt hại nặng khiến
cho chúng mất trớn tổng tấn công miền Nam để ta có th́ giờ kiện toàn
Việt-Nam-Hóa-Chiến-Tranh.
Trong tài liệu WIEU (cập nhật hằng tuần t́nh báo)
ngày 30 tháng Giêng ta thấy địch quân biết đôi chút về hành quân vượt biên giới
của ta. Tám ngày trước khi cuộc hành quân khởi diễn, COMINT (t́nh báo vô tuyến) nhận
thấy địch quan tâm đến các hoạt động phía ta tại vùng 1 và những
khu vực lân cận Hạ Lào. Đă phát hiện các truyền tin của địch từ
ngày 24 tháng Giêng để ư đến "quân ta có thể đánh qua biên giới phá trục tiếp
vận của chúng". Cũng có tin tức là địch hết sức lo cuộc đổ
bộ vào Bắc Việt và sư xâm nhập Lào từ những chiến hạm ngoài khơi,
vv.
Ngày 8 tháng Hai các đơn vị QLVNCH vượt biên vào Lào trên trục lộ 9 với
thiết giáp, nhẩy dù, biệt động, thủy quân lục chiến và lục quân. Tổng
số 10,000 quân đă nhập đất Lào vào cuối tuần. Cùng lúc, 10,600 quân tiến vào
Cao Mên.
Khi Đô Đốc McCain Tư Lệnh Thái B́nh Dương (CINPAC) dự thuyết
tŕnh ngày 19 tháng Hai th́ được biết các đụng độ khá cao ở cấp Đại
Đội và nhiều trận lẻ tẻ đă diễn ra trên khắp chiến trường.
MACV theo rơi sáu tiểu đoàn địch đương đầu QĐVN tại Lào. Quân Đội
Mỹ không được phép tham dự nhưng sư yểm trợ của không lực Mỹ
đă mất 21 trực thăng trong 7,000 phi xuất (tổng số thất thoát trong chiến
dịch là 108 nghĩa là 21 cho 100,000 phi xuất).
Trung Tướng William E. Potts của MCV
J-2 đă tóm lược cho Đô Đốc McCain như sau: "Điểm đáng ghi nhận
là trong chiến dịch Lam Son, địch quân đă đua ra tất cả những ǵ chúng
hiện có hoặc đang gửi đến ngoại trừ Sư Đoàn 325 và Tiểu Đoàn
9 thuộc Sư Đoàn 304. Vậy nếu chúng bị thiệt hại th́ chúng sẽ tụt
hậu trong một thời gian khá lâu". Tướng Abrams nói thêm, "Lẽ cố nhiên chúng ta mong
đón tất cả bọn chúng với toàn thể sức mạnh của chúng ta". .
Dầu
vậy, đến ngày 20 tháng Hai, nghĩa là gần hai tuần sau chỉ có sáu Trung Đoàn địch
hiện diện trong chiến dịch Lam Sơn. Thuyết tŕnh viên nói trong buổi họp chỉ
huy WIEU (dự đoán t́nh báo hàng tuần) ngày hôm ấy là, "thật vậy sự phản công
mạnh mẽ của địch đă xẩy ra đêm 18 tháng Hai. Phía ta có một lực lượng
tương đương với 18 tiểu đoàn vẩn tiếp tục t́m địch
thanh toán".
Đại Tướng Abrams nhấn mạnh với ban Tham Mưu và các cấp
chỉ huy của ông là phải cho quân Việt Nam mọi phương tiện cần thiết
để họ chiến thắng trong trận hệ trọng này. "Đây là một dịp
dể giáng cho địch một vố ta chưa bao giờ làm được". Ông nhấn
mạnh hết sức ư nghĩa khi Hoa Thịnh Đốn đưa ra một vài chỉ trích:
"Ai cũng biết cái rủi ro từ lúc đầu nhưng ta thấy là đă đến lúc
phải chấp nhận rủi ro". Khi qua Hoa Thịnh Đốn Đại Sứ Bunker đă
tŕnh bầy tất cả các khía cạnh tương quan.
Cho đến ngày 24 tháng Hai MACV
vẫn theo dơi sáu Trung đoàn địch (tăng lên thành bẩy ba ngày sau) trong chiến dịch
Hạ Lào. Trong tường tŕnh cho Tướng Abrams, thuyết tŕnh viên đă nói rằng bốn
tiểu đoàn trong số 18 cung cấp cho Trung Đoàn địch h́nh như đă bị tê
liệt. Cũng trong ngày ấy số tử thương của địch quân được
ước lượng là 2,191 người trong khi quân bạn mất 276 mạng.
Đến
dây th́ một khó khăn lớn xẩy ra là thiếu hụt trực thăng. Mà Quốc Lộ
9, con đường chính Đông Tây có nhiều đoạn bị đào sâu lên đến cả
sáu thước khiến cho việc xử dụng con lộ này hầu như bị gián đoạn.
Nhất là loại bồn chở xăng không thể đi qua được. Bởi vậy
phải tiếp tế bằng phi cơ, ảnh hưởng nặng nề lên đội ngũ
trực thăng. Sự tính toán điều hành và sửa chữa cấp bách đă xoay lại
t́nh thế. Cho nên khi Tướng Julian Ewell, một nhân vật không mấy thiện cảm
với chiến dịch, đi thanh tra ông đă nói, "tỷ lệ sẵn sàng hành quân (operational
readiness) ngày Chủ Nhật khi tôi đến thăm là 79%, một con số vượt bực".
Cùng
lúc địch tung ra một trận tấn công lớn với thiếp giáp và tràn ngập cứ
điểm 31 là nơi trú quân của Tiểu Đoàn Bộ Đệ Nhất Sư Đoàn
VNCH. Người ta đă ghi nhận địch có 350 quân bị giết và 15 thiết giáp bị
phá hủy đối lại 13 quân bạn chết, 39 bị thương và ba thiết vận
xa bị hư hại.
Người ta nhận thấy ngày mồng 1 tháng Ba một Trung
Đoàn địch nữa đă tham chiến nâng tổng số lên tám đơn vị (trong
24 tiểu đoàn có sáu đă bị tê liệt). Đại Tướng Abrams nói, "thật là
một trận khủng khiếp". Trong buổi thuyết tŕnh cập nhật ngày 4 tháng Ba thuyết
tŕnh viên đă nhắc lại rằng ngày 11 tháng Hai đă thấy dấu hiệu địch
chuyển sang thế tấn công. Tuy nhiên sự việc chỉ xẩy ra ngày 18. Ta có thể
nói là địch đă mất quân số vào khoảng bẩy tiểu đoàn chủ động,
c̣n số thiết giáp của họ vào khoảng 100 chiếc lúc đầu th́ nay chỉ c̣n
từ 65 đén 70 chiếc mà thôi. Ở thời điểm này ta ước lượng địch
quân có tại hiện trường 15,000 chiến binh cộng với từ 8,000 đến
10,000 quân hậu cần trong khi bên ta huy động mười sáu tiểu đoàn chủ động.
Khi
một tù binh thuộc Trung Đoàn 24-B khai rơ sự tộn thất nặng nề trên đường
92 về phía Bắc Bản Đông th́ pḥng J-2 MACV giảm hiệu lực của địch
đi hai Tiểu Đoàn, nghĩa là trong số 30 Tiểu Đoàn địch thuộc 10 Trung
Đoàn tung ra trên chiến trường đương đầu với quân VN th́ chúng đă
mất hẳn 10 Tiểu Đoàn. Tướng Abrams nói, "Tôi càng tin chắc rằng đây có
thể là trận quyết định chiến cuộc". Tướng Potts nói thêm, "Họ mất
một nửa chiến xa, một nửa đại bác pḥng không và 10 trên 30 Tiểo Đoàn".
Trong
một buổi cập nhật t́nh báo hàng tuần (WIEU) ngày 20 tháng Ba Đại Sứ Bunker
nói Chiến Dịch Lam Sơn đang chấm dứt là một cuộc hành quân rất thích ứng.
Tướng Abrams bèn trả lời: "Thật là một trận đánh cam go. Tuy nhiên ảnh
hưởng lên phần cuối năm nay hết sức to lớn. Chúng đă tung nhiều lực
vào Lam Son và đă bị thua đậm"
Ngày 23 tháng Ba khi địch quân tung vào thêm Trung
Đoàn thứ mười ba, thuyết tŕnh viên tŕnh bầy rằng chín trong số mười
một Trung Đoàn đă bị thiệt hại nặng nghĩa là họ chỉ c̣n khoảng
17 Tiểu Đoàn chủ động trong số 33 đem ra. Ngoài ra họ lại c̣n mất
khoảng 3,500 đơn vị hậu cần. Khi các yếu tố dược tŕnh bầy
trong kỳ WIEU th́ Tướng Potts nói thêm, "Không phải các Tiểu Đoàn ấy bị sút
kém nhưng chúng đă bị hoàn toàn tiêu diệt".
Quân đội VNCH cũng chịu nhiều
tổn thất, 1,416 bị giết và 714 mất tích. Nhiều khí cụ đă bị phá hủy
hay bỏ lại khi vội vă rút lui. Khi xét lại kết quả, Đại Tướng Sutherland
nhận định như sau: "Khuyết điểm từ lâu là Bộ Tham Mưu VN không có
đủ khả năng thiết kế và phối hợp Không Lực cũng như phối
hợp yểm trợ không địa. Tuy nhiên họ dă học hỏi nhiều trong chiến
dịch này".
Quần chúng hết sức ủng hộ trận Lam Sơn. Khi Đức
Ông Thompson tới viếng thăm hồi cuối tháng Ba người ta đă tŕnh bầy với
ông kết quả cuộc thăm ḍ dư luận trong 36 tỉnh. Kết quả cho thấy
92% đồng ư với các chiến dịch như Lam Sơn 719, 3% chống đối và phần
c̣n lại không có ư kiến. Kết quả cho thấy một phân xuất rất cao so với
bất cứ lần thăm ḍ về bất cứ một vấn đề ǵ trước
đây.
QLVNCH đă chiến đấu trong 42 ngày liền tại Lào. MACV tŕnh bầy khiêm
tốn cho Bộ Trưởng Lục Quân Stanley Resor là Chiến Dịch Hạ Lào đă "thử
thách QLVNCH trước một địch quân quyết tâm trong trận địa xuyên biên giới.
Chắc chắn là đă phá được đường tiếp vận của họ".
Ở Hoa Kỳ người ta kêu đó là một thảm bại của quân Việt. Lẽ
cố nhiên bộ máy tuyên truyền Hà Nội vội vă túm lấy cơ hội.
Tuy nhiên
Tướng Abrams nhận định là chiến dịch nhất định có lợi cho QLVNCH.
"Từ trước ta cứ tưởng rằng Bắc Việt có thể chiến thắng
họ. Chiến tranh chưa chấm dứt nhưng Bắc Việt bắt đầu thấy
là họ phải đương đầu với một công việc khó hơn nhiều".
PHẦN
6 .- MỘT CUỘC CHIẾN THẮNG LỢI
Phương pháp áp dụng trong giai
đoạn Abrams đă có kết quả tốt mặc dầu nhiều người không tin
như vậy. Quân Mỹ đă lần hồi rút nên quân Việt đạt nhiều thành quả
hơn. V́ chiếm được nhiều đất hơn nên đă thấy nhiều lính
địch quy thuận hơn. Trong năm 1969 có 47,000 hàng binh cọng thêm 37,000 hồi chánh năm
1970. Mỗi Sư Đoàn Bắc Quân có 8,689 quân số. Như vậy th́ số đào ngũ
của họ trong hai năm bằng chín Sư Đoàn. Đă đến chiến thắng mặc
dầu vẫn phải đánh nhau là v́ Nam Việt đă đủ khả năng giữ vững
chủ quyền và tự lực hành động với lời hứa yểm trợ của
Hoa Kỳ như họ vẫn làm cho đồng minh tại Tây Đức và Nam Hàn.
Ngay
từ cuối năm 1969 John Paul Vann, một nhân vật chính của chương tŕnh b́nh định
đă viết cho cựu Đại Sứ Henri Cabot Lodge như sau: "Tôi không cần thăm Hoa
Thịnh Đốn hay Ba Lê như trước để t́m cách thay đổi chính sách Việt
Nam. Tôi hài ḷng với chính sách hiện hữu. Tôi nghĩ rằng chúng ta đă đạt mục
tiêu bỏ được số Mỹ tử vong sau 1972 và chiến phí (cuộc chiến sẽ
c̣n kéo giài măi) sẽ giảm hẳn v́ được người Việt lo liệu với
sự trợ giúp tiếp vận và tài chính của chúng ta".
Ngoài trách nhiệm chiến
đấu thay vào quân Mỹ rút đi, Nam Việt c̣n phải đương đầu với
nhiều thay đổi chính sách. Đại Tướng Abrams nói rơ là họ phải vượt
qua các trở ngại mỗi ngày một khó hơn. Ông nhắc lại, "Chúng ta đă bắt
đầu từ năm 1968,. Mục tiêu của chúng ta là đến 1974 họ phải quất
nặng bọn VC để sau nữa sẽ đập cả bọn Việt Cộng lẫn
quân Bắc Cộng tại miền Nam. Rồi họ phải nén chặt chúng lại, nén ba bốn
lần. Như vậy chúng ta bắt đầu; trong một thời gian dài – ông ra dấu
bằng tay – và phải kết thúc trong thời gian ngắn hơn nhiều".
"Và nếu
cần truy cản Việt Cộng, Bắc Cộng hay giúp Cao Mên chẳng hạn th́ chúng ta cũng
giúp tay vào. Tuy nhiên chúng ta cần hết sức cẩn thận không có sẽ bị trật
đường rầy. Ta tránh làm như vậy v́ nó sẽ làm cho ta điên lên". Sự thay đổi
đường lối quan trọng nhất là loại bỏ dự tính giữ lại một
lực lượng Mỹ lâu dài tại chỗ như thể ở Tây Âu hay Nam Hàn.
Ông
Thomas J. Barnes trở lại Việt Nam sau ba năm vắng mặt để làm việc trong
chương tŕnh b́nh định vào mùa Thu 1971. Ông nói với Tướng Fred Weyand là "tôi đă
ngạc nhiên với ba tiến bộ chính, sự phồn thịnh của nông thôn, Địa
Phương và Nghĩa Quân giữ vững vị trí và phát triển sự tự trị chính
trị kinh tế làng xă. Ta đă giúp làng xă lấy lại tính cách độc lập và tự
lực theo tập tục Việt Nam. Đó là việc tham gia quan trọng nhất của chúng
ta trong công việc b́nh định".
Ngay từ giữa tháng Ba 1971 quân đội Việt
Nam đă gánh vác chiến đấu. Thuyết tŕnh viên đă nói với Đại Tướng
Ewell rằng sự chú trọng của Tướng Abrams vào công tác b́nh định nay đă
hầu như thành tựu 100% với các kế hoạch tương quan. Quân Mỹ đă gần
như rời khỏi việc hành quân".
Những tin tức từ phía địch đă
xác nhận thành quả. Trong một cuốn sách in bởi nhà Xuất Bản Thế Giới
Hà Nôi, hai tác giả Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vơ đă viết, "cuối năm 1968
trong Nam Bộ các Ấp Chiến Đấu và những vùng xôi đậu đă bị quân đội
Sài G̣n chiếm lại. Cuối 1968 chúng ta đă bị tổn thất nặng. Địch
dồn lực lượng vào công tác b́nh định thôn quê gây cho chúng ta nhiều khó khăn
trong hai năm 1969-1970. Từ khi quân Mỹ vào Việt Nam chúng ta chưa bao giờ gập nhiều
vấn nạn như trong hai năm ấy. Các căn cứ của ta ở thôn quê bị suy
nhược và vị trí co thắt lại. Quân ta bị tiêu diệt, không c̣n đất bám và
phải qua đồn trú tại Cao Mên. Chúng ta trải qua một thời kỳ hết sức
khó khăn trong những năm 1969-1970-1971. Kể từ giữa năm 1968 địch đă
tập trung đánh phá các vùng giải phóng để tiêu diệt và đẩy chúng ta ra khỏi
cứ địa".
Tháng Giêng 1972 Vann nói rằng "chưa bao giờ chúng ta phải tham chiến
ít như bây giờ. Ngày nay thấy rơ các vùng quê phồn thịnh, đường xá khai thông,
cầu kỳ mở lại và bạn có nhiều rủi ro hơn với cả đống
Honda và Lambretta ngược xuôi. Chương tŕnh Việt Nam Hóa Chiến Tranh đă có kết
quả ngoài tưởng tượng". Đó là công đầu của Việt Nam Cộng Ḥa.
PHẦN
7 .- TỔNG TẤN CÔNG PHỤC SINH 1972
Thành quả Việt-Nam-Hóa-Chiến-Tranh
và việc b́nh định nông thôn khiến cho đối phương phải t́m một phương
án khác. Đó là cuộc tấn công Phục Sinh. Douglass Pike viết: "Không c̣n là một cuôc chiến
cách mạng nữa, và theo quan niệm của Vơ Nguyên Giáp th́ phải qua giai đoạn chiến
tranh quy ước nhỏ giống như ở Triều Tiên".
Trong vài ngày về Mỹ
John Paul Vann đă tŕnh bầy hiện t́nh Việt Nam trước một cử tọa giáo sư
chọn lọc. "Họ dựa vào các giới chức dân cử xă ấp khi kinh tế tăng
trưởng, an ninh tiến bộ và chiến tranh đă chuyển sang Cao Mên và Lào. Sự thực
là 95% dân chúng muốn lưu giữ chính quyền hiện tại hơn là một chính phủ
cộng sản hay một cơ cấu do bên kia đưa ra".
Theo lịch sử ghi chép
của Quân Đội Nhân Dân th́ kế hoạch tấn công 1972 được chấp thuận
bởi Ban Quân Ủy Trung Ương từ tháng Sáu 1971. Mục tiêu là chiến thắng vào năm
1972 làm cho quân Mỹ xâm lược phải thưong thảo trong thế yếu. Ông Pike diễn
giải, "đó là một cuộc tấn công toàn diện với nhân lực, khí giới và tiếp
vận quy mô. Vào giữa mùa Hè tất cả 14 Sư Đoàn Bắc Quân rời khỏi Bắc
Việt. Chúng xử dụng nhiều thiếp giáp và đại pháo nặng hơn QLVNCH và đạn
dược cũng không giới hạn".
Cuối tháng Ba 1972 địch tiến hành một
cuộc xâm lăng cổ điển với 20 Sư Doàn và một trận chiến tàn bạo
sắt máu đă xẩy ra. Ông Douglas Pike viết, "Cuộc tấn công được sửa
soạn công phu đă bị bẻ gẫy v́ không yểm làm cho chúng không tập hợp được
và v́ sư chống trả dũng cảm và kiên tŕ của quân Nam Việt. Bắc Quân và hệ
thống giao thông của chúng đă bị triệt hạ nặng. Nhưng chính yếu là QLVNCH
và cả Địa Phương Quân đă hiên ngang chống trả như chưa từng thấy".
Bắc
Quân tổn hại 100,000 người trong số 200,000 xung trận và có lẽ 40,000 đă bị
giết. Họ đă mất già nửa thiết giáp và đại pháo. Sẽ cần ba năm
để hồi phục trước khi tấn công lại và Tướng Vơ Nguyên Giáp bay khỏi
chức Tổng Tư Lệnh. Trái lại Nam Quân mất 8,000 tử vong, gần ba lần thương
binh và vào khoảng 3,500 mất tích. Tướng Giáp đă tính sai và phải trả một giá
đắt cho lỗi lầm ấy. Ông Pike kết luận: "Giáp đă ước sai ḷng quyết
tâm và sự chống trả mănh liệt của Quân Nam Việt. Hắn sai lầm về sức
đề kháng của QLVNCH".
Về sau nhiều người chỉ trích nói rằng Nam
Quân đă đẩy lui được Bắc Quân nhờ có không yểm của Mỹ. Tướng
Abrams đă phản ứng mạnh mẽ và nói với các cấp chỉ huy của ông rằng,
"Tôi không tin là không có không trợ mọi việc đă giữ vững được. Tuy nhiên
phải có những người Việt Nam đúng thẳng chiến đấu. Nếu họ
không dũng cảm làm như vậy th́ đến mười lần không quân cũng không chận
đứng được bọn cộng sản". Bọn chỉ trích cũng triệt
hạ QLVNCH cho rằng họ sống sót được là nhờ Quân Mỹ. Không một ai
nhớ rằng 300,000 Quân Mỹ phải đóng ở Tây Đức là v́ người Đức
không thể chống lại Nga Xô Viết hay nhóm Liên Minh Warsaw nếu không có Quân Mỹ. Họ
cũng quên là 50,000 Quân Mỹ phải lưu lại Nam Hàn để giúp trong trường hợp
bọn Bắc tấn công. Và không ai đă nghĩ rằng v́ Quân Mỹ hiện diện nên phải
chê bai và chế riễu Quân Đội Tây Đức cũng như Nam Hàn. Chỉ có Nam Việt
bị tách rời ra để bôi nhọ một cách bất công và ác độc mặc dầu
chỉ được không trợ chớ không được Quân Lực Mỹ hỗ trợ
như Đức hay Cao Ly.
Quân Nam Việt đă thực sự đánh bại cuộc
tấn công Phục Sinh 1972 với xương máu và ḷng quả cảm. Đại Tướng
Abrams nói với Tổng Thống Thiệu rằng "nhờ khả năng bén nhậy của
các cấp chỉ huy nên đă gặt hái thành quả và họ đă chứng tỏ đủ
bản lĩnh đương đầu với cuộc thử thách. Những anh hùng bảo
quốc Nam Việt đă giáng cho quân xâm lăng một đ̣n chí tử khiến cho chúng cần
ba năm nữa mới có thể mở lại một cuộc tấn công quy mô". Tuy nhiên trong
khi ấy bao nhiêu thay đổi hệ trọng đă xẩy ra trên một b́nh diện rộng
lớn hơn.
QLVNCH đă trở thành một lá chắn thiện nghệ, nhanh nhẹn
và quyết tâm cho xứ sở của họ. Tuy nhiên họ đă bị bôi nhọ bởi những
luận điệu tiêu cực gồm cả vu khống của bọn phản đối
Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến hay ít nhất chính sự tham gia của cá nhân họ hay bọn
thân cộng. Trái lại đă có bao nhiêu thành tích rơ ràng trên trân địa hồi cuối Xuân
và trong mùa Hè 1972.
PHẦN 8 .- BỎ RƠI Phần
này bàn về t́nh h́nh sau khi Hiệp Định Paris được kư kết vào tháng Giêng 1973.
Để dụ Việt Nam thỏa thuận điều mà họ cho là quá sai lầm khi cho
Bắc Việt được để lại miền Nam một lực lượng lớn,
Tổng Thống Nixon đă hứa với Tổng Thống Thiệu rằng nếu Bắc
Việt bội ước và lại tấn công Nam Việt th́ Hoa Kỳ sẽ can thiệp mạnh
mẽ để trừng phạt chúng. Và Nixon nói thêm, nếu chiến tranh trở lại, nước
Mỹ cam kết thay thế các chiến cụ trên căn bản một đổi một
theo như điều khoàn của Hiệp định Paris (chiến xa, trọng pháo vv). Sau
nữa Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ kinh tế tài chánh cho Việt Nam. Thật
ra, Hoa Kỳ đă bội ước tất cả các khoản kể ra.
Trong khi ấy th́ Bắc Viễt đă nhận viện
trợ không tiền khoáng hậu của các quan thầy. Theo một cuốn sử xuất bản
tại Hà Nội năm 1994 th́ trong ṿng chin tháng sau khi kư kết Hiệp Định Paris, từ
tháng Giêng đến tháng Chín 1973, Bắc Việt đă gửi tiếp tế vào Nam bằng
bốn lần năm vừa qua. Dầu vậy con số c̣n nhỏ nhoi so với lượng
chúng đưa vào Nam từ đầu 1974 cho đến ngày chấm dứt cuộc chiến
năm 1975. Trong ṿng mười sáu tháng, theo tài liệu cộng sản, th́ bằng 1.6 lần
quân viện trong cả mười ba năm. Nếu chính phủ Nam Việt không
kư Hiệp Định th́ không những Hoa Kỳ sẽ đơn phương tính với bên
kia mà Quốc Hội Mỹ cũng nhanh chóng cắt hết viện trợ. Mặt khác nếu
Việt Nam chấp thuận Hiệp Định với hy vọng sẽ tiếp tục nhận
viện trợ Mỹ th́ họ bắt buộc phải chấp nhận t́nh trạng Bắc
Quân sẽ trú đóng một cách nguy hiểm trên lănh thổ. Nam Việt đă quyết định
phương án thứ nh́, một tiên liệu quyết tử để thấy một cách
đau đớn là phải chấp nhận cả hai việc tồi nhất, quân Bắc Việt
trong lănh thổ và viện trợ Mỹ chấm dứt. Nguyên Tổng Trưởng
Quốc Pḥng Melvin Laird giải thích hệ quả như sau. "Trong hai năm sau Hiệp Định,
Nam Việt đă can đảm chống lại một cách đáng nể một địch
quân được yểm trợ tối đa. Hoà đàm Bắc Nam vẫn tiếp tục
cho đến ngày mà Quốc Hội cắt hẳn viện trợ vào năm 1975. Và Nam Việt
nhanh chóng bị tràn ngập. Chúng ta đă tiết kiệm được khoảng 257 triệu
mỗi năm và làm cho Nam Việt xụp đổ sau khi đă chiến đấu dũng
mănh từ năm 1973 không có sư giúp đỡ của quân Mỹ. Nhiều người
Mỹ không thích nghe rằng bọn độc tài Nga Xô và Trung Hoa đă tỏ ra đáng tin cậy
hơn là nước Mỹ Dân Chủ. Nhưng đó là sự thật phũ phàng. Phóng viên William
Tuohy đă nhiều năm phúc tŕnh cuộc chiến cho Washington Post viết, "một chuyện
không tin được và không tha thứ được là một đại cường quốc
đă bỏ rơi đồng minh yếu kém vào tay bọn Bắc Cộng. Nhưng chúng ta đă
làm như vậy". Binh sỹ Nam Việt can đảm chiến đấu cho
đến khi viện trợ bị cắt dần dần rồi ngưng hẳn. Trong ṿng
hai năm sau khi kư Hiệp Định Paris Nam Việt đă mất 59,000 quân tức là nhiều
hơn số quân Mỹ tử trận trong mười năm. Nếu nghĩ rằng dân số
Nam Việt chỉ bằng một phần mười Mỹ Quốc th́ ta thấy rằng
sư thiệt hại hết sức thảm khốc và cường độ trận chiến
đă cao như thế nào. Bà Merle Pribbenow nhấn mạnh rắng sự ghi nhận
của Bắc Việt cho thấy trong 55 ngày cuối cùng họ đă phải đương
đầu với một chiến cuộc hết sức gay go. Đó là một chiến tích
đáng ghi cho Nam Việt khi họ biết là kết cục sẽ chắc chắn như thế
nào. Đại Tướng Bắc Quân Lê Trọng Tấn đă ghi, "Trong giai đoạn cuối
cùng Quân Y của chúng ta đă phải di tản và chữa chạy cho quá nhiều thương
binh, 15 lần nhiều hơn trong trận chiến biên giới, 1.5 lần hơn trận Diện
Biên Phủ và 2.5 lần nhiều hơn trong trận Hạ Lào". Bà Pribbenow chiết tính là "Quân
Đội Nhân Dân đă chịu tối thiểu từ 40,000 đến 50,000 thương binh
và có thể c̣n nhiều hơn nữa, nghĩa là c̣n cao hơn tổng số tổn thất
lúc QLVNCH xụp đổ theo nhận xét của các sử gia". Đại Tá William
LeGro đă ở lại DAO đến phút chót đă có một cái nh́n chính xác về sự việc.
Ông nói: "Sự gỉảm quân viện Mỹ cho đến gần số không là lư do đưa
đến sự xụp đổ cuối cùng". Ông nói thêm, "Chúng ta đă làm một việc
hết sức quái gở với người bạn Việt Nam". Gần đến
ngày cuối, ông Tom Polgar đứng đầu CIA Sài G̣n gửi một điện văn ngắn
ngủi: "Kết quả quá rơ ràng v́ Nam Việt không thể sống sót nếu không có quân viện
Mỹ trong khi khả năng chiến tranh của Bắc Việt vẫn giữ nguyên với
sự trợ lực của Nga Xô Viết và Trung Cộng". Sau chiến tranh t́nh
h́nh trở nên quá đen tối như người ta sợ. Phóng viên Seith Adams của New York
Times viết về hoàn cảnh Đông Nam Á một cách xác đáng và cảm động như
sau. "Hơn một triệu người Nam Việt bỏ xứ. Khoảng 400,000 người
bị đầy vào các trại cải tạo, một ít trong thời gian ngắn nhưng nhiều
người đă bị giam giữ đến mười bẩy năm. Một triệu
rưởi dân bị cưỡng bách đi các vùng 'kinh tế mới là những nơi hoang
dă trong hoàn cảnh đói kém và bệnh tật". Cựu Đại Tá Việt
Cộng Phạm Xuân Ẩn mô tả sự vỡ mộng của y với kết quả chiến
thắng của cộng sản đă áp đặt như thế nào lên xứ sở. Ông ta
phàn nàn, "tất cả các lư luận về 'giải phóng' trong hai mưoi, ba mươi hay bốn
mươi năm qua đă gây ra một xứ sở nghèo nàn và rách nát lănh đạo bởi
một lũ ác độc, một bọn lư thuyết gia ít học và chuyên chế". Đại
Tá Bắc Quân Bùi Tín cũng thẳng thắn nói về hậu quả cho cả những người
chiến thắng: "Thật là quá chậm cho thế hệ tôi, một thế hệ của
chiến tranh, của chiến thắng và bội phản. Chúng tôi đă thắng nhưng chúng
tôi cũng đă thua". Sư cố gắng của những người miền
Nam trong một cuộc tranh đấu dai dẳng cuối cùng là một thảm trạng. Quân
đội đă mất 275,000 người chết trong khi chiến đấu. 450,000 dân bi
hy sinh, phần đông do khủng bố cộng sản hoặc bị chết trong những
cuộc pháo kích bừa băi vào các đô thị và thêm 935,000 người nữa bị thương. Trong
số cả triệu người trở thành thuyền nhân một số có thể rất
cao đă bỏ mạng trên biển cả. Có lẽ 65,000 người đă bị hành quyết
bởi bọn tự xưng là giải phóng. Khoảng 250,000 hay hơn nữa đă chết
trong các trại tù "cải tạo" man rợ. Hai triệu người bị đẩy ra khỏi
quê cha đất tổ để trở thành một diaspora Việt Nam. Ta không
thể hoàn toàn xác định giá trị của QLVNCH mà không nói đến các cựu chiến
binh bị đầy khỏi xứ với các gia đ́nh của họ hầu lập nghiệp
lại trên đất Mỹ. Đó chính là một câu chuyện khác về sự can đảm,
quyết tâm và thành quả. Đă biết quá rơ tính chất của bọn mạo danh là "giải
phóng", một băng đảng luôn luôn giết hại, gây thương tích, bắt cóc và ức
chế hang ngàn dân vô tội, nên họ bỏ chạy hàng loạt khi sự chống đỡ
tan ră. May thay nhiều người đă thoát được đến bờ
bến tự do làm lại đời mới. Mỹ Quốc may mắn đón nhận một
triệu di dân Việt Nam là một tăng tiến cho văn hóa và một đóng góp đáng
kể vào phúc lợi của chúng ta. Với một quyết tâm và cần cù không tưởng
tượng được, những người Mỹ mới này đă dậy dỗ con
cái, nuôi sống gia đ́nh và lợi dụng các cơ hội mà xứ sở này đă dành cho
bất cứ ai tham gia vào xă hội. Đó chính là những người đă bao năm đem
xương máu ra chiến đấu cho quê hương cũ trong hang ngũ QLVNCH. Chúng ta dă
bỏ rơi họ và những hy sinh của họ đă thành vô nghĩa. Tuy nhiên cưu mang
họ trên đất này đă cho chúng ta đền tội đôi phần. KẾT
LUẬN Để kết luận, tôi chỉ xin nói rằng cuộc chiến
Việt Nam là một cuộc chiến giá trị, bởi người Nam Việt và các đồng
minh của họ bảo vệ một mục đích cao đẹp. Tất cả các chiến
binh đều đă tham chiến với một tấm long vô biên và họ đă gần như
đạt được mục đích bảo đảm cho NamViệt có tự do như
một quốc gia độc lập. Có lần một phóng viên đă nhận xét rằng Đại
Tướng Creighton Abrams phải được chỉ huy một cuộc chiến hay hơn.
Tôi đă nói câu ấy cho trưởng nam của Tướng Abrahms và được phản
hồi ngay; "Cha tôi không nh́n như vậy. Ông nghĩ rằng người Nam Việt rất
xứng đáng". Và tôi đồng ư. Tóm lại, đối chiếu biểu của
QLVNCH bao gồm cà địa phương và nghĩa quân trong năm 1970 rất tích cực. Rốt
cục chúng ta đă không thắng trận, tuy nhiên tinh thần, sự tận tâm, can đảm
và ḷng quyết chí của tất cả các chiến binh đă nẩy nở thăng hoa trên đất
nước này. Chúng ta đều cùng tiến tới. NÓI VỀ TÁC GIẢ
Ông Lewis Sorley đă phục vụ tại Việt Nam chỉ huy một Tiểu
Đoàn Thiết Giáp trên Tây Nguyên. Ông thuộc thế hệ thứ ba trong gia đ́nh tốt
nghiệp Đại Học Quân Sự Hoa Kỳ. Ông cũng đậu bằng Tiến Sỹ
của Đại Học John Hopkins. Trong hai thập niên binh nghiệp ông chỉ huy thiết
giáp và nhiều dơn vị thiết kị tại Mỹ, Đức cũng như Việt
Nam. Ông cũng đă phục vụ tại Bộ Lục Quân, văn pḥng Tham Mưu Trưởng
Bộ Binh và là giảng viên tại West Point và Đại Học Chiến Tranh Bộ Binh. Ông
là tác giả của hai cuốn sách, Thunderbolt, General Creighton Abrams and the Army of His Times và General
Harold K. Johnson and the Ethics of Command. Ông đă viết quân sử nhan đề, A Better War; the Unexamined
Victory and Final Tragedy of America's Last Year in Vietnam. Ông cũng ghi chép và nhuận chính Vietnam Chronicles:
the Abrams Tapes 1968-1972". Tài liệu tham chiếu: 1. "Bibliography Periodicals"
của Douglas Pike. 2. "History Proves Vietnam Victors Wrong" của James Webb. 3. "The Development
of the South Vietnamese Army" của Thiếu Tướng James Lawton Collins Jr. 4. "Senior Officer
Debriefing Report, CG II Field Force, Vietnam, 29-3-1966 của Đại Tướng Fred C. Weyand. 5.
"Message Abrams to Johnson, MAC 5307, 04950Z 6-1967. 6. "Lt-General Dong Van Khuyen, RVNAF Logistics". 7.
"Time, 19 April 1968" 8. "Letter, General Bruce C. Clarke to General Hal C. Pattison" 9. "The History of
the Joint Chief of Staff: The Joint Chief of Staff and the War in Vietnam, 1960-1968" 10. "Brigadier Geberal Zeb
B. Bradford Jr. Interview, 12 October 1989" 11. "Message, Abrams to Wheeler and McCain, October 1968" 12.
"William Colby, 'Vietnam after McNamara', The Wahington Post 27-4-1995". 13. "Ambassador Ellsworth Bunker, Thayer
Award Address". 14. "John Paul Vann, Remarks, Lexington, Kentucky, 1972". 15. "Brigadier General Tran Dinh
Tho, The Cambodian Incursion". 16. "Geoffrey Perret, There's a War to be Won". 17. "Message, Cliff Snyder,
National Archives to Sorley". 18. "An example of LCol Cau Lê 47 Regiment Commander, 12 years in combat and 13 years
prisoner of the communist, awarded Silver Star and Bronze Star for valorous combat leadership. Le and his family established
a new life in America after his wife Kieu Van had worked as a nurse to support their five children until her husband was released
from captivity. See Robert F. Dorr and Fred L. Borch, 'US Medals'". 19. "General Cao Van Vien et al, the US Advisor". 20.
"Lt General Ngo Quang Truong, Territorial Forces". 21. "General Creighton Abrams at WIEU, 18 April 1973" 22.
"Thomas Polgar as quoted in J. Edward Lee and Toby Haynsworth" 23. "Colonel LeGro as quoted in L. Edward Lê and Toby
Haynsworth" 24. "Ambassador Ellsworth Bunker, Oral History Interview" 25. "Quoted in Jeffrey J. Clarke,
Advice and Support" 26. "As reported by Major General George J. Forsythe, following a 20 January 1968 meeting with
President Thieu" 27. "Joint Chiefs of Staff, the History of the Joint Chiefs of Staff" 28. "Notes by Vicent
Davis on telecom during which Vann described his 15 December 1969 Presentation at Princeton" 29. "Lester A, Sobel,
ed,. South Vietnam. US Communist Confrontation in Southeast Asia. 30. "Remarks, Lexington, Kentucky 1972, Vann papers" 31.
"Ellsworth Bunker Interview, Duke University, Living History Project" 32. "WIEU, 30 January 1973, in Sorley, Vietnam
Chronicles" 33. "COMUS Update, 16 February 1971" 34. "Briefing with Admiral McCain, 19 February 1971" 35.
"Commanders Weekly Intelligence Update, 20 February 1971" 36. "Message, LtGeneral James W. Sutherland to Abrams,
March 1971, Special Abrams Papers Collection" 37. "COMUS with Sir Robert Thompson, 25 March 1971" 38. "Secretary
of the Army Brief, 26 April 1971" 39. "Major General Nguyen Duy Hinh, Lam Son 719" 40. "Military Institute
of Vietnam, Victory in Vietnam (University Press of Kansas)" 41. "John Paul Vann, Letter to Henry Cabot Lodge, 9
December 1969, Vann Papers" 42. "Message, Barnes to Weyand, March 1972, MHI files" 43. "Lưu Van Loi
and Nguyen Anh Vu (Le Duc Tho and Kissinger Negociation in Paris" 44. "Remarks, Lexington, Kentucky 8 January 1972,
Vann Papers" 45. "Douglas Pike, 'A Look Back at the Vietnam War: the View from Hanoi'" 46. "Douglas Pike,
PAVN, People's Army of Vietnam" 47. "Message, Abrams to Laird, May 1972" 48. "Melvin R. Laird, "Iraq: Learning
the Lesson of Vietnam" 49. "The Washington Post (28 December 1968)" 50. "James L. Buckley, 'Vietnam and
its Aftermath' in Anthony T. Bouscaren, ed." 51. "Merle L. Pribbenow, Message to Sorley, 1 May 2002" 52.
"Seth Mydams, 'A War Story Missing Pages', The New York Times 24 April 2000" 53. "Vietnam Magazine Auguat 1990" 54.
"The Boston Globe, 20 April 2000" 55. "Colonel Stuart Herrington, Fall of Saigon, Discovery Channel, 1 May 1995" 56.
"Australian Minister for Immigration Michael McKeller was quoted as saying that 'about half the boat people perished at sea'.
Thus he said in 1979, 'We are looking at a death rate of between 100,000 and 200,000 in the last four years'. The Age Newspaper,
The Boat People: an Age Investigation"

|