doichienbinh.jpg



















 




























QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG H̉A
 
 
 
LS Đỗ Thái Nhiên 
 
Lúc bấy giờ là tháng năm, 1985, người Việt Nam tại quốc nội, nhất là dân chúng cư ngụ vùng Saig̣n, Gia Định, vẫn nô nức nhưng kín đáo t́m đường vượt biên. Trong trường hợp âm mưu vượt biên thất bại, người vượt biên sẽ bị Cộng Sản Việt Nam hành hạ dưới tội danh "phản quốc". V́ thế, công việc chuẩn bị vượt biên cần phải được bảo mật tuyệt đối.
Chính v́ hai chữ "bảo mật", nhiều người đă ra khơi một cách hoàn toàn bất ngờ, không một lời giă biệt bằng hữu. Riêng tôi, tôi nhất định vượt biên, nhất định bảo mật, nhất định ân cần thăm viếng và từ biệt bạn bè cũ. Nhằm đáp ứng các "nhất định" vừa nêu, một ngày trước khi rời xa quê hương, tôi quyết định t́m gặp những người bạn đặc biệt của tôi. Những người bạn đó hoàn toàn kín tiếng. Những người bạn đó không c̣n bận tâm chọn lựa đời sống ở bên này hay bên kia bờ đại dương. Những người bạn đó đă đi trọn đường trần bằng tất cả gian khổ với một ước mơ bất thành: ước mơ Việt Nam thống nhất, dân chủ và thịnh vượng. Những người bạn đó chính là các bạn đồng ngũ thương mến của tôi đang an nghỉ tại nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa.
 
Chiều hôm ấy, khoảng ba giờ, một ḿnh tôi thẫn thờ bước vào nghĩa trang Biên Ḥa. Bức tượng Thương Tiếc nằm ở ngay cổng đă bị mang đi nơi khác tự bao giờ. Con đường từ xa lộ chạy vào tới đài kỷ niệm Chiến Sĩ Trận Vong vẫn c̣n đó, vẫn dài, vẫn thẳng, nhưng hai hàng phượng đứng bên đường trông thật tiều tụy và ủ dột. Có thể v́ phượng thiếu nước, thiếu gió. Có thể v́ phượng muốn biểu tỏ tấm ḷng trắc ẩn của cỏ cây dành cho hàng ngàn anh linh chiến sĩ đă vị quốc vong thân nhưng nay phải ngậm đắng nuốt cay nơi suối vàng trước cảnh "quốc" đang bị đè bẹp dưới ách độc tài Cộng Sản. Vào tới khu dành cho mộ phần của chiến sĩ, khách viếng mộ tận mắt chứng kiến toàn thể nghĩa trang đều bị đập phá tàn nhẫn. Đây là một ngôi mộ bị đào bới để lộ cả quan tàI mở nắp, di cốt tử sĩ đă biến mất. Kia là một ngôi mộ nằm ở triền đồi, bia đá vẫn c̣n nguyên nhưng di ảnh của ngườI quá cố có dấu vết vài phát đạn vào mắt, vào miệng. Kế đó là nơi an nghỉ của một sĩ quan cấp tá, trên bia đá, người nào đó lấy sơn đen viết một câu giễu cợt, rất phản văn hóa.

Cứ như vậy, khách viếng nghĩa trang lần lượt ghi nhận vô số h́nh ảnh năo nề của một nghĩa trang bị nhận xuống tận cùng của hố ô nhục. Mặc cho ô nhục chồng chất, toàn bộ mộ phần của nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa vẫn lặng lẽ hướng về đài chiến sĩ trận vong. Đài này nằm trên đỉnh một ngọn đồi tọa lạc tại trung tâm nghĩa trang. Kiến trúc trọng yếu của đài chiến sĩ trận vong là một tháp xi-măng xám, cao vời vợi. Tháp này gợi nhớ h́nh ảnh cây bảo kiếm của người chiến sĩ vô danh năm xưa đă để lại nơi dương thế trước khi đi vào cơi vĩnh hằng. Từ cơi vĩnh hằng xa xăm kia, người ta vẫn nghe vang vọng một câu hỏi, nửa như kinh ngạc, nửa như phẫn hận: tại sao nghĩa trang của những anh hùng vị quốc vong thân lại có thể bị lăng nhục???
 
Bây giờ nhiều năm đă trôi qua... Bây giờ những xót xa về cảnh tượng hoang phế và cô tịch của nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa đă lắng đọng... Bây giờ những uẩn ức về lệnh buông súng tức tưởi đă trôi xa vào quá khứ... Bây giờ thời gian là năm 2002, một chiều tĩnh lặng cuối thu. Không gian là công viên tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ thuộc thị xă Westminster, California.

Tôi ngồi tựa lưng vào chân tượng đài, trầm ngâm suy nghĩ về quân đội Việt Nam Cộng Ḥa.
 
I. Phương pháp đánh giá một Quân Đội.
Trước tiên, tôi nghĩ tới những luận cứ chê trách QĐVNCH. Có người nêu rơ danh tánh vài ba ông tướng buôn lậu để đơn giản cho rằng QĐVNCH là quân đội buôn lậu. Người khác đă viện dẫn trường hợp đào ngũ, nghịên ngập của năm bẩy quân phạm trong quân lao G̣ Vấp để vội vàng kết luận: QĐVNCH là quân đội vô kỷ luật. Người khác nữa đă kể lại câu chuyện một quân nhân đầu hàng địch quân trên trận địa đê? Nhanh chóng nhận định QĐVNCH là quân đội hèn nhát... Tất cả các đánh giá vừa kể hiển nhiên là kiểu đánh giá xuất phát từ những người rất giầu ác ư nhưng vô cùng nghèo nàn hiểu biết về phương pháp đánh giá. Làm thế nào để chúng ta có thể đánh giá một tập thể trên căn bản chừng mực và nghiêm chỉnh?
Đi t́m giải đáp cho câu hỏi vừa kể, có lẽ chúng ta nên suy nghĩ về một phương pháp đánh giá trong khoa kinh tế học. Mỗi khi tổng sản lượng quốc gia gia tăng, chưa hẳn người dân được sống trong thịnh vượng. Những năm gần đây, tổng sản lượng quốc gia Việt Nam được ghi nhận là gia tăng nhưng tuyệt đa số quần chúng Việt Nam vẫn bị giam cầm trong cuộc sống cùng khổ.
Lợi nhuận của sinh hoạt kinh tế phải là lợi nhuận chung của toàn bộ xă hội. Lợi nhuận kia phải được phân bổ hợp lư cho toàn dân. Thế nhưng CSVN đă cưỡng chiếm lợi nhuận kinh tế cho đảng CS và cho cá nhân đảng viên nhất là đảng viên thuộc giai cấp tư bản đỏ. Đó là lư do giải thích tại sao tổng sản lượng quốc gia VN gia tăng nhưng hai chữ "thịnh vượng" vẫn là ngườI khách cực kỳ xa lạ đối với quần chúng nghèo túng. V́ vậy, muốn so sánh mức độ thịnh vượng giữa hai hay nhiều nền kinh tế, các chuyên viên kinh tế phải đồng thuận với nhau về một người tiêu thụ mẫu mực gọi là "kinh tế nhân". Kinh tế nhân là người tiêu thụ một số lượng nhất định về các sản phẩm kinh tế căn bản như vải vóc, lương thực v...v... trong một thời lượng đă được quy ước trước. Thế rồi từ ư niệm kinh tế nhân, chúng ta có thể xác định mức độ thịnh vượng của một nền kinh tế bằng cách cân đo xem nền kinh tế đó đă thực sự nuôi dưỡng được bao nhiêu kinh tế nhân trên tổng dân số. Kết quả của việc cân đo này giúp chúng ta dễ dàng thiết lập bảng xếp hạng kinh tế thịnh vượng giữa các quốc gia.
Đánh giá một nền kinh tế, chúng ta cần "kinh tế nhân" làm thước đo. Đánh giá một quân đội, chúng ta cũng cần một thước đo tương tự. Thước đo đó chính là một người lính b́nh thường. Người lính đó không phải là một ông tướng lúc nào cũng sẵn sàng "bỏ quân chạy lấy người". Người lính đó không phải là anh binh nh́, suốt ngày ngồi ở vọng gác th́ thầm ca bài "Ky? Vật Cho Em". Người lính đó mang trong người đầy đủ "tính lính" mà hầu hết binh lính trong QĐVNCH đều có. NgườI lính đó là "người lính tiêu biểu". Bây giờ chúng ta hăy khảo sát phẩm cách người lính tiêu biểu, mà bài viết này chỉ gọi tắt là người lính.
 
II. Quá tŕnh thụ giáo của người lính.
Muốn xác định phẩm chất của một quân đội, chúng ta không thể không t́m hiểu cội nguồn giáo dục đă đào tạo ra hàng ngũ quân nhân cho quân đội đó. Chế đô. CSVN là chế độ độc tài, tham ô và bóc lột. V́ vậy chế độ này cần rất nhiều tay sai để bảo vệ giới thống trị. Cũng v́ vậy giáo dục của CSVN là giáo dục đào tạo tay sai. Chủ nghĩa Marx Lenine và luận cứ ca tụng đảng, suy tôn Hồ Chí Minh, là các công cụ trọng yếu của guồng máy giáo dục CS. Ngược lại, VNCH có một nền giáo dục "rất Người". Trên toàn lănh thô? VNCH, các môn học như: công dân giáo dục, sử học, văn chương, triết học v...v... không hề có chỗ đứng dành cho tư tưởng độc tôn lănh tụ hay độc tôn chế độ. Đó là nội dung cốt lơi của chương tŕnh giáo dục nhân bản mà người lính của QĐVNCH đă được hấp thụ trong toàn bộ học tŕnh của tiểu, trung và đại học. Đó là một sự thực mà không một người nào đă từng sinh ra và lớn lên trong xă hội VNCH có thể phủ nhận được. Một sự thực mà guồng máy thông tin tuyên truyền của
CSVN không thể xuyên tạc hoặc bóp méo.
Ngay sau khi "xếp bút nghiên theo việc đao cung", người lính lại bước vào trường học mới: ngành tâm lư chiến của QĐVNCH. Tại đây người lính không hề bị nhồi sọ để trở thành tay sai cho lănh tụ hay chế độ chính trị nào. Người lính của QĐVNCH chỉ được trang bị một loại vơ khí tinh thần duy nhất là ḷng yêu nước và tinh thần tôn trọng kỷ luật quân đội.
Song song với giáo dục học đường dân sự và giáo dục tâm lư chiến của quân đội, người lính c̣n được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản của toàn bộ xă hội. Người ta có thể không đồng ư với các chế độ chính trị tại VNCH về một số sự việc nào đó nhưng không thể chối căi rằng VNCH là một chế độ tôn trọng quyền tự do tư tưởng. Quyền tự do này được thể hiện đậm nét trên hai lănh vực: nghệ thuật tŕnh diễn và nghệ thuật văn học. Điều này giải thích lư do tại sao sau nhiều năm bi. CSVN t́m đủ mọi phương cách để tiêu diệt, những tác phẩm văn học nghệ thuật xuất phát từ xă hội VNCH vẫn được lưu truyền càng ngày càng mạnh mẽ trong dân gian ở cả hai miền Nam và Bắc.
Nh́n chung lại, giáo dục học đường, giáo dục tâm lư chiến cùng với giáo dục xă hội là ba nguồn giáo dục nhân bản mà người lính VNCH đă được tôi luyện từ thời niên thiếu cho đến hết cuộc đời binh nghiệp.Trong thực tiễn đời sống, ba nguồn giáo dục căn bản kia đă hướng dẫn người lính VNCH sống và chiến đấu đúng với hướng phát triển t́nh cảm trong sáng của một Con Người. Hướng phát triển đó được triết học cụ thể hóa bằng biểu đồ h́nh trôn ốc. Vạn vật vận động theo h́nh trôn ốc. H́nh trôn ốc triết học có đỉnh đặt trên mặt đất, đáy hướng lên trời. H́nh trôn ốc là h́nh vẽ diễn ư rằng mỗi vận động trong vạn vật đều xuất phát từ một điểm để sau đó phát triển rộng ra, cao lên, cả về lượng lẫn phẩm. Khảo sát diễn tiến phát triển t́nh cảm của một cá nhân,chúng ta thấy: ngay sau khi được cha mẹ cho chào đời, đứa bé quyến luyến cha me. Đó là t́nh con cái đối với cha mẹ (đỉnh của h́nh trôn ốc) Thế rồi theo đà khôn lớn, đứa bé t́m tới t́nh anh chị em ruột thịt, rồi t́nh họ hàng gần xa, rồi t́nh làng xă, t́nh quốc gia dân tộc, t́nh nhân loạị.. Cứ như thế t́nh cảm của con người sau khi rời đỉnh h́nh trôn ốc đă men theo các ṿng xoáy h́nh trôn ốc để từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phong phú cả về phẩm lẫn lượng. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, quá tŕnh giáo dục của người lính VNCH hoàn toàn phù hợp với nhận định của triết học về vận động của vạn vật. Sự phù hợp vừa nói khẳng định mạnh mẽ rằng: môI trường sống cùng với môi trường giáo dục tại miền Nam Việt Nam trước 1975 đă tạo điều kiện cho người lính VNCH trở thành những người thực sự yêu quê hương đất nước theo đúng quy luật sinh hoạt t́nh cảm tự nhiên của Con Người.
 
III. Bản chất của người lính VNCH.
Do yêu quê hương đất nước, người lính VNCH đă nhận thức được rằng cuộc chiến đấu chống quân đội CSVN trước 1975 là cuộc chiến đấu cho tự do dân chủ, cho chính nghĩa. Sau 1975, nhà khoa học Nguyễn Thanh Giang đă kêu gọi mọi người Việt Nam (Bắc cũng như Nam) hăy tri ân chiến sĩ VNCH trong trận hảI chiến chống Trung quốc ơ? Hoàng Sa. Mới đây nhà văn Dương Thu Hương, một "chiến sĩ chống Mỹ cứu nước" trước kia đă giác ngộ chính nghĩa bằng cách viết bài "Tiếng Vỗ Cánh Của Bầy Qua. Đen". Qua bài viết này, Dương Thu Hương tố cáo cuộc chiến tranh tại Việt Nam trước 1975 do CSVN phát động là một tội ác phỉnh gạt vĩ đại. CSVN phỉnh gạt đồng bào miền Bắc bằng cách nhân danh tự do và cơm áo, đẩy đồng bào lao thân vào cuộc chiến tàn khốc tại miền Nam Việt Nam. Để rồi sau 30/4/1975, CSVN đă để lộ nguyên h́nh là một đảng Mafia tham ô và bóc lột. Nói ngắn và gọn, nhà văn Dương Thu Hương đă xác nhận điều được gọi là chiến tranh "Giải Phóng Miền Nam" do CSVN phát động chẳng qua chỉ là một hành động phi nghĩa. Các sự thể kể trên đă mạnh mẽ làm nổi bật tính chất chính nghĩa trong cuộc chiến đấu bảo vệ tự do cho miền Nam VN của người lính VNCH.
Do yêu quê hương đất nước, người lính VNCH chấp nhận phục vụ quê hương với những điều kiện sinh hoạt rất thanh bạch. Nghèo khổ không than trách. Nguy hiểm không sờn ḷng. Người lính VNCH bao giờ cũng tận t́nh với nghĩa vụ bảo quốc, an dân. Người lính tuyệt vời kia đă được đền thưởng những ǵ? Phần đền thưởng đó lại chính là con đường "vị quốc vong thân" trong tuyệt đối hiu quạnh. Con đường ấy đưa đẩy người lính rơi vào một t́nh huống cực kỳ quái dị, cực kỳ tê táị "Đám Ma Tù" là điển h́nh của t́nh huống vừa kể:
 
"Vài tên cầm súng bước đi đầu
Tên nữa AK tiếp theo sau

Một xác bó tṛn đôi manh chiếu

Hai đầu buộc tréo bốn dây lau

Không kèn, không trống, không đưa tiễn

Chẳng khói, chẳng nhang, chẳng nguyện cầu

Chỉ có bạn tù khiêng lặng lẽ

Vùi nông một khối hận thù sâu !!!"
NgôMinh Hằng--Thi Phẩm Gọi Đàn

Do yêu quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng chuyên cần đổ mồ hôi trên thao trường của các quân trường, bao giờ cũng thiện chiến và anh dũng đoạt chiến thắng lừng danh trên mọi h́nh thái trận địa. Các chiến thắng B́nh Long, An Lộc, tái chiếm cổ thành Quảng Trị, mùa Hè Đo? Lửa 1972, phản ứng nhanh và chính xác trong biến cố Tết Mậu Thân v...v... là những thí dụ điển h́nh tạo nên "Quân Sư? Vàng" của QĐVNCH.
Do yêu thương quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng nêu cao gương trách nhiệm trong mỗi hành động chiến đấu. Hải Quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà anh dũng trầm ḿnh theo chiến hạm do ông chỉ huy trong trận hải chiến với Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa. Các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Hai,Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và vô số anh hùng quân đội vô danh khác đă ngạo nghễ chọn cái chết thay v́ đầu hàng địch quân vào ngày 30/4/1975.
Do yêu thương quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng tôn trọng quân kỷ. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là người lính chỉ biết tuân hành mọi loại mệnh lệnh một cách mù quáng. Trong rất nhiều trường hợp, nghĩa vụ ân cần chăm sóc thương bệnh binh phải được xem trọng hơn nghĩa vụ tự giam bó trong quân kỷ. Đó là ư nghĩa của Kinh và Quyềợn trong tinh thần quân kỷ của người lính VNCH. Đó là ư nghĩa của kỷ luật tự giác mà người lính VNCH muốn đề cao. Đó c̣n là lư do giảI thích tại sao trong QĐVNCH lại có những hành động phản kháng kiểu Bác Sĩ Quân Y Hà Thúc Nhơn, Bác Sĩ Quân Y Phạm văn Lương.
 
IV. Hệ lụy của một quân đội bị bức tử. 
Phẩm chất người lính tiêu biểu của QĐVNCH như đă tŕnh bày ở trên chính là phẩm chất của toàn thê? QĐVNCH. QĐVNCH sinh ra, lớn lên và hùng mạnh trong môi trường nhân bản. QĐVNCH không hề là, không thể là quân đội tay sai của ngoại bang hay bất kỳ chế độ chính trị nào. QĐVNCH là h́nh ảnh sinh động của lương tri và ái quốc. QĐVNCH thiện chiến và chiến đấu dũng cảm.
Thế nhưng, hành động phản bội của người bạn đồng minh Hoa Kỳ đă mặc nhiên trói tay QĐVNCH. Khai thác hoàn cảnh "bị trói tay" đó, CSVN vội vàng tạo tội ác 30/4/75. Nói rơ ràng hơn, Hoa Kỳ phản bội cộng với bản chất gian ác của CSVN là hai lư do chủ yếu dẫn đến "cái chết" của QĐVNCH. Thông thường chết có nghĩa là từ giă mọi hệ lụy. Thế nhưng, ngay sau ngày bị "bức tử", QĐVNCH đă để lại cho dương gian ba hệ lụy căn bản như sau:
 
Hệ lụy 1: Hơn ai hết, VC nhận biết rất rơ bản chất nhân bản và ái quốc của QĐVNCH. Vẫn hơn ai hết VC tự nhận biết bản chất Mafia của CSVN. Nhà văn Dương Thu Hương gọi Mafia VC là "Bầy Qua. Đen". Lo sợ ḷng yêu nước và tính dũng cảm của QĐVNCH được dư luận truyền tụng rộng răi và lâu dài. Sự thể này sẽ làm gia tăng vượt bực ḷng căm phẫn của nhân dân VN đốI với "Bầy Qua. Đen". V́ vậy trong các thập niên qua, CSVN không ngừng nỗ lực phá hoại uy danh của QĐVNCH. Ngày 24/9/2002 trên báo The Orange County Register, qua bài viết "Victory most can celebrate" của kư gia? Gordon Dillow, đă nhắc lại các sự việc:
  • VC phá hủy có phương pháp nghĩa trang QĐVNCH
  • VC đẩy hàng ngàn cựu chiến binh tàn phế của QĐVNCH vào cảnh sống hành khất.
  • VC kiên tŕ và nỗ lực phá hoại công cuộc xây dựng tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ tại Westminster, California.

Ba sự việc nêu trên đi kèm với khối sách báo của VC viết về QĐVNCH là những bằng chứng mạnh mẽ cho thấy ác ư hủy diệt uy danh QĐVNCH của VC.
Hệ lụy 2: Sau chiến tranh Việt Nam, dư luận không hề cho rằng Hoa Kỳ đă thua kém VC trên địa bàn quân sự. Tuy nhiên "Hoa Kỳ phản bội QĐVNCH" là một sự thực không thể chối căị nhằm xóa bỏ mặc cảm phản bội, giới truyền thông Hoa Kỳ đă cố gắng làm cho thế giới hiểu rằng chiến tranh VN là chiến tranh giữa Hoa Kỳ và VC. Đó là lư do giải thích tại sao sách báo và nhất là điện ảnh Hoa Kỳ triệt để tránh né đề cập tới vai tṛ của QĐVNCH trên chiến trường VN. Sự thể "tránh né" vừa nói đă làm cho dư luận hiểu lệch đi rằng QĐVNCH chỉ là cáI bóng mờ bên cạnh binh sĩ Hoa Kỳ và rằng QĐVNCH rất ngại chiến đấu. Để bác khước kiểu "hiểu lệch" kia, chúng ta hăy mang con số 400.000 tử sĩ VNCH đặt bên cạnh con số 50.000 binh sĩ Hoa Kỳ tử vong trong chiến tranh VN (http://encyclopediạcom/section/ vietnam w. end of the war) . Sự sai biệt lớn lao giữa hai con số là một bằng chứng bằng máu về ḷng ái quốc và dũng cảm của QĐVNCH.
Hệ lụy 3: Đương đầu với hệ lụy (1) và (2), QĐVNCH hoàn toàn im lặng trong cơi bức tử. T́nh trạng im lặng kia là cơ hội làm cho một số người, nhất là những người ra đời sau 1975 hiểu lầm tai hại về thanh danh của QĐVNCH. Đó là hệ lụy thứ ba mà QĐVNCH đang gánh chịu.
V. Giải trừ oan khiên. 
Những điều tŕnh bày ở trên đă minh chứng cả ba hệ lụy là ba oan khiên. Làm thế nào để giải trừ oan khiên?
 
Giải trừ một: qúi vị cựu quân nhân của QĐVNCH hăy hănh diện về tư cách cựu quân nhân của mỗi quư vị. Quư vị gia đ́nh cựu quân nhân và tất cả những người xuất thân từ xă hội VNCH hăy ghi khắc trong tim óc của mỗi quư vị: chúng ta đă có nhiều thập niên sống trong sự che chở ân cần của QĐVNCH. Một quân đội đă bảo vệ người dân bằng chính sinh mệnh của người lính.
Giải trừ hai: người Việt Nam lớn lên trong chiến tranh hăy giải thích cho người VN ra đời sau 1975, nhất là những người VN sinh trưởng tại quốc ngoại để họ hiểu biết tường tận về lương tri và ḷng ái quốc của QĐVNCH trêạn những liên hệ thân thiết giữa người dân và QĐVNCH. Hành động giải thích này hoàn toàn không mang ư nghĩa của một cảm tính. Nó là sự truyềợn đạt từ thế hệ này qua thế hệ khác những hiểu biết về vận động quan trọng của lịch sử. Nó ẩn chứa trong nó ước mơ rằng: trong tương lai, quốc gia Việt Nam sẽ có một quân đội thực sự v́ nhân dân. Các loại quân đội tay sai của "Bác", của Đảng, của bất kỳ phe phái chính trị nào phải triệt để bị loại bỏ. Ước mơ vừa nêu tuy gián tiếp nhưng mạnh mẽ vinh danh QĐVNCH.
Giải trừ ba: đất nước là tài sản chung của toàn dân. Người dân phải thực sự là chủ nhân ông tối cao và duy nhất của đất nước. Đó là chân ư nghĩa của công bằng và lẽ phải. Đó là quy luật sống tự nhiên của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại. Quy luật sống tự nhiên kia đ̣i hỏi những hoạt động kiểu giáo dục, luật pháp, kinh tế, nhất là quân sự phải là sinh hoạt  nhân bản và công bằng của xă hội. Bài viết này chỉ xin nhấn mạnh đến guồng máy quân đội.
Quân đội dân chủ bao giờ cũng vận động theo chuẩn mực bởi dân, của dân và v́ dân. Nhà cầm quyền dân chủ không bao giờ nuôi tham vọng biến quân đội trở thành công cụ bảo vệ ngôi vị cầm quyền. Qua quá tŕnh giáo dục, qua quân sử và nhất là qua thực tiễn chiến đấu và phục vụ, QĐVNCH đích thực là một quân đội của xă hội dân chủ. QĐVNCH và dân chủ như h́nh vớI bóng. Chế độ dân chủ bị chà đạp, QĐVNCH bị lăng nhục. V́ vậy mọi người Việt Nam trong cũng như ngoài nước hăy nỗ lực mang lại dân chủ cho Việt Nam. Ngày chế độ dân chủ được tái lập tại Viet Nam chính là ngày danh dự của QĐVNCH được phục hồi. 

Như vậy là ba phương pháp giải trừ đi kèm với ba hệ lụy.
Mỗi giải trừ tượng trưng bởi một nén nhang. 
  • Nén nhang thứ nhất là lời tri ân của TỔ QUỐC
  • Nén nhang thứ hai là lời vinh danh tinh thần TRÁCH NHIỆM của QĐVNCH
  • Nén nhang thứ ba là lời nguyền quyết tâm phục hồi DANH DỰ cho QĐVNCH, một quân đội thực sự yêu nước , thiện chiến, và dũng cảm.

Người viết bài này kính cẩn đặt ba nén nhang kia dưới chân TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ Việt Mỹ ,Westminster, California. Hành động này mang hàm ư chúc mừng ngày khánh thành tượng đài.
Hành động này c̣n là sự biểu tỏ ḷng tuyệt đối tôn kính và thương yêu đối với QĐVNCH./.
 
Đỗ Thái Nhiên
Nguyên thiếu úy , trưởng ban Quân số
Tiểu Đoàn 3, Pháo Binh Pḥng Không

KBC 4314 
 
 
 
 
 
Việt Nam Cộng Ḥa muôn năm
__._,_.___

             XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ
            QUÂN LỰC VNCH
 
Trần Đỗ Cung
 
 
Vài lời của người dịch.

  Tôi được một bạn trẻ Không Quân giới thiệu và Tiến Sỹ Lewis Sorley liên lạc gửi cho tôi bài diễn văn ông đă đọc tại Đại Học Kỹ Thuật Texas TTU về đề tài Reassessing ARVN. Ông có ư muốn nhờ tôi phiên dịch bài này ra để phổ biến rộng răi trong cộng đồng Mỹ gốc Việt. Tôi đă đọc kỹ bài thuyết tŕnh giài 32 trang, nhận thấy rất bổ ích về phương diện sử liệu và nhân bản và đă chấp thuận đề nghị.
 
 Trong bài thuyết tŕnh Tiến Sỹ Sorley đă dùng nhăn quan của một quân nhân và một trí thức khoa bảng để thẳng thắn bênh vực quân đội Việt Nam trong một thời kỳ chiến đấu cam go gian khổ nhất của nước nhà. Ông đă dầy công nghiên cứu các tài liệu đă bạch hóa hầu đưa ra những nhận xét rất xác đáng về khả năng, ḷng quả cảm và sự chịu đựng tột cùng của các chiến sỹ chiến đấu cho một nước Việt Nam tự do trước những búa ŕu bất công của các lực lượng phản chiến và thiên tả Mỹ Quốc. Những tên tuổi lớn ông đưa ra như Đại Sứ Ellsworth Bunker, Đại Tướng Creighton Abrams, Thiếu Tướng James L. Collins, Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Lục Quân Harolk K. Johnson, Bộ Trưởng Quốc Pḥng Robert McNamara, trùm CIA William Colby, Sir Thompson, Tướng John Paul Vann, Tướng Tiếp Vận Việt Nam Đồng Văn Khuyên, Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tướng Cộng Sản Vơ Nguyên Giáp, Lê Trọng Tấn vv là những nhân vật và dẫn chứng lịch sử trong giai đoạn nhiễu nhương và đau đớn ê chề cho đất nước và tất cả chúng ta.
 
Nói về chiến dịch Hạ Lào Lam Sơn 719 ông đă đưa ra những con số cho thấy địch quân đă bị thiệt hại nặng nề và quân ta tuy không thắng trận nhưng đă không thất bại như bọn chủ bại bên Mỹ đă rêu rao. Tôi được biết viên Trung Tướng cộng sản chỉ huy chiến dịch là Trung Tướng Phạm Hồng Sơn, tên thật là Phạm Thành Chính là một sinh viên luật cùng thời với tôi và cùng ở Đại Học Xá Bạch Mai. Anh ta là anh em đồng hao với Vơ Nguyên Giáp, cùng là con rể nhà học giả Đặng Thái Mai, lấy con út ông Mai là nhà văn và nhà giáo Đặng Anh Đào. Hiện tại Tướng Phạm Hồng Sơn đă 84 tuổi, đă lăng trí và cũng đă ra ŕa như Giáp tuy được cấp một biệt thự lớn ở đường Lư Nam Đế Hà Nội.

Có cả năm trang dành cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trước hết tôi phải nói rằng tôi cũng như nhiều đồng hương đă không mấy có thiện cảm với ông Thiệu. Riêng tôi lại có một điều hận trong ḷng khi ông ta cho tôi là đàn em của Nguyễn Cao Kỳ. Năm 1948 khi tôi vào Sài G̣n với mấy bạn Đại Việt Nguyễn Tất Ứng, Nguyễn Đ́nh Tú tôi đă được đưa đến thăm ông Nguyễn Văn Kiểu là anh lớn của ông Thiệu ở đường Kitchener. Ông Kiểu là một đảng viên Đại Việt miền Nam, người rất hiền hậu và trung thực làm chủ một cửa hàng bán nước mắm ở đó và chúng tôi đă trở thành khá thân thiết. Hồi tôi nhận chức Thứ Ủy Tổng Cuộc Trưởng Tiếp Tế trong chính phủ Nguyễn Cao Kỳ mà không có nhân viên pḥng sở th́ tôi đă được tạm dùng bàn giấy của ông Kiểu ở Trụ Sở Liên Minh Á Châu Chống Cộng số 122 trên đường Hồng Thập Tự. Sau khi tôi rời TCTT, lúc ông Thiệu lên làm Tổng Thống th́ ông Kiểu đă đưa ư kiến cho chú em là "Tám, tại sao không dùng anh Cung" th́ được một câu trả lời lạnh lùng, "Cung là tay chân đao búa của Nguyễn Cao Kỳ". Nghe vậy tôi cho là một sỉ nhục. V́ coi tôi như là một lũ điếu đóm xun xoe mạt chược, nhậu nhẹt, ăn tục nói phét xung quanh ông Kỳ th́ hơi quá!

Trong phần dành cho ông Thiệu tôi thấy thương ông ta khổ tâm nhiều trong thời kỳ mười năm nắm vận mệnh quốc gia, đương đầu với Mỹ, với đe dọa đảo chính và với t́nh h́nh đa đoan của nước nhà. Được đọc bài phỏng vấn cựu Phụ Tá thân cận Nguyễn Văn Ngân của Trần Phong Vũ tôi càng nh́n rơ sự cô đơn của một lănh tụ thông minh, mưu trí nhưng sinh bất phùng thời. Và tôi càng thông cảm nỗi bất hạnh của ông để đặt câu hỏi "một người khác nắm quyền có khá hơn không hay là chúng ta lại phải trải qua một bất hạnh lớn hơn không"?

Trần Đỗ Cung
Prunedale, tháng 10, 2006

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ QUÂN LỰC VNCH

Trong một cuộc chiến dai dẳng và khó khăn không một ai có thể nh́n rơ khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Hôm nay tôi tŕnh bày vấn đề này dưới nhiều khía cạnh trong tám mục chính và hai phụ khoản.

Chính Phủ Việt Nam cấp các huy chương tham chiến cho quân nhân Mỹ. Đặc biệt thấy gắn trên băng biểu chương một thẻ kim khí khắc "1960…" Người ta đă không ghi niên điểm cuối cùng bởi lư do dễ hiểu; tuy nhiên ta có thể xem 1960 là khởi điểm v́ đó là mốc đánh dấu sự gia tăng tham chiến của Mỹ cho đến ngày quân đội Mỹ lên cực điểm. Trong giai đoạn này chúng ta có môt cái nh́n tổng thể về thành tích của quân đội Việt Nam từ 1960 cho đến 1975.

Vài năm trước đây tôi đă viết một bài nhan đề "Dũng cảm và xương máu" để phân tích thành quả quân đội Việt Nam trong vụ tấn công tháng Tư 1972. Bài đă được đăng trong báo Parameters của trường Đại Học Quân Sự. Hồi c̣n sinh thời ông Douglas Pike đă b́nh luận trong một ấn bản Indochina Chronology như sau: "Đă có cố gắng chậm chạp nhưng liên tục điều chỉnh và cứu văn danh dự của ngưới quân nhân Việt Nam từng bị nhục mạ bởi bọn phóng viên truyền h́nh thương mại ngu dốt và cánh trí thức thiên tả. Bài của ông Sorley đă xét lại lịch sử và ông ta lập luận vững vàng trong lănh vực này".

Tôi vẫn tri ân lời khuyến khích ấy và ước ǵ Giáo Sư Pike c̣n hiện diện để thấy các tài liệu lịch sử hiện hữu chứng minh sự dũng cảm đưa đến trưởng thành và thành tựu của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa. Chỉ v́ nước chúng ta không thực thi cam kết cho Nam Việt trong khi phe cộng sản vẫn tiếp tục và đều đặn gia tăng yểm trợ Bắc Việt nên đồng minh bất hạnh của chúng ta mới bị tràn ngập và thua trận.

Cho đến nay chưa bao giờ có một cố gắng định mức toàn diện sự tiến triển và thành tích của quân đội Việt Nam trong những năm bành trướng. Trong thời giờ hạn hẹp ở đây tôi chỉ mong điều chỉnh phần nào sự khiếm khuyết, bất công và nhiều lúc sai lạc mỗi khi bàn đến QLVNCH tuy đó là một thái độ khôn ngoan cho đến nay.

Chúng ta rất thiếu hiểu biết về cuộc chiến Việt Nam mặc dầu nó đă kết thúc ba mươi năm qua. Là v́ những người phản chiến hoặc ít nhất chống sự tham dự của chính ḿnh đă mô tả mọi khía cạnh qua một lăng kính xấu và nhiều khi đă nói sai sự thật. Ông James Webb vạch mặt giới truyền thông, trí thức và Hollywood là những nhóm đă "có lợi khi làm cho cuộc chiến bị xem là không cần thiết hay không thắng được". Và v́ họ điều khiển dư luận nên họ đưa ra những lập luận sai lầm ngay cả khi chiến tranh kết thúc đă ba mươi năm. Những lập luận thật sai lạc, đi từ thóa mạ người lính Việt trong một quá tŕnh chiến đấu cam khổ cho đến Jane Fonda hạ nhục những tù binh Mỹ là bọn láo khoét hoặc đạo đức giả khi nói rằng họ đă bị tra tấn hay hành hạ trong lúc bị giam cầm. Đă đến lúc ta phải bỏ thái độ tiêu cực, lắm khi mạt sát và cố t́nh dùng chính trị để đổ lỗi cho quân đội Việt Nam trong hầu hết các tranh luận.

PHẦN 1 : QUÂN ĐỘI VIỆT NAM LÚC ĐẦU

Đây là giai đoạn mà chúng ta chủ động trong khi Việt Nam bị đẩy ra ngoài lề với nhiệm vụ b́nh định (mà đây chính cũng là một khía cạnh của chiến tranh và bộ chỉ huy Mỹ đă quên lăng). Bởi vậy họ không được cấp những vũ khí mới cũng như được trợ chiến cần thiết.

Phần đông chúng ta và ngay cả một số người Mỹ phục vụ tại chỗ đều chỉ trích quân đội Việt Nam trong thời kỳ ấy. Họ đă không lưu ư đến một số yếu tố ảnh hưởng nặng nề lên t́nh trạng đó. Quân cụ Mỹ cung cấp đều là những thứ lỗi thời từ Thế Chiến II, nhất là các súng trường M-1 vừa nặng vừa cồng kềnh với tầm vóc người Việt. Trong khi đó th́ kẻ thù đă được Nga-Tầu trang bị đầy đủ súng AK-47.

Thiếu Tướng James L. Collins đă tŕnh bầy về t́nh h́nh quân đội Việt Nam như sau, "Năm 1964 địch quân đă bắt đầu xử dụng AK-47, một loại súng tân tiến, tự động và rất bén nhậy. Trái lại lực lượng bạn vẫn dùng loại khí cụ phế thải của Thế Chiến II…" Rồi từ năm 1965 khi quân Mỹ lần hồi gia tăng nhập cuộc th́ nhu cầu chiến tranh về phía bạn lại càng bị đẩy lui vào hậu trường".

Do đó các đơn vị Việt luôn luôn bị địch quân áp đảo trong thế đánh không cân xứng. Đại Tướng Fred Weyand khi thuyết tŕnh măn nhiệm chỉ huy Đệ Nhị Lộ Quân đă nói rơ, "Sự chậm trễ cung cấp khí giới và quân cụ mới cho Việt Nam, ít nhất ngang với sự yểm trợ của Nga Tầu cho quân địch làm cho quân bạn yếu kém".

Chỉ từ khi Đại Tướng Creighton Abrams nhận chức Tư Lệnh Phó Quân Lực Mỹ vào hồi tháng Năm 1967 người ta mới bắt đầu chú ư đến quân Nam Việt. Tướng Abrams điện ngay cho Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Harold K. Johnson như sau. "Tôi thấy ngay là quân lực Mỹ tại đây cũng như bên chính quốc chỉ nghĩ trước tiên đến hành quân Mỹ và yểm trợ các đơn vị Mỹ. Do đó chương tŕnh cung cấp chiến cụ cho Việt Nam đă ít ỏi mà lại c̣n không được thi hành một cách tích cực và cấp tốc như đối với quân Mỹ. Rơ ràng chúng ta có trách nhiệm lớn với quân bạn. Công việc phải làm ngay và tôi đang bắt tay cấp kỳ vào việc"!

Ngay khi nhậm chức, Tướng Abrams liền gia tăng lực lượng Việt Nam, nhất là cung cấp các súng M-16. Trong trận tấn công Tết Mậu Thân 1968 ông đă đưa được M-16 vào tay Nhẩy Dù và các đơn vị tiền tiến khác. Tuy nhiên phần đông vẫn bị lép vế đối với công sản. Trung Tướng Chỉ Huy Tiếp Vận Đồng Văn Khuyên nhắc lại rằng, "Trong Vụ Tềt Mậu Thân người ta nghe rơ tiếng sắc bén liên hồi của AK-47 trong Sài G̣n cũng như các thị trấn khác, như là một diễu cợt khôi hài cho các phát súng lẻ tẻ Garant và Carbine trong tay hoảng hốt của quân ta"!

Tuy vậy quân Việt vẫn đẩy lui địch quân một cách bất ngờ và dũng cảm. Báo Time đă viết: "Nhiều người Mỹ đă ngạc nhiên và Công Sản đă đau đớn sửng sốt thấy quân đội Việt Nam đă tức tốc đương đầu và chiến đấu ngang tàng can đảm khác hẳn dự đoán". Nhưng không thấy ai đề cập đến sự chênh lệch khí giới của đôi bên.

Tháng Hai 1968 Tướng hồi hưu Bruce C. Clarke đi thăm Việt Nam và viết một tờ nhận định được Đại Tướng Early Wheeler chuyển đến tay Tổng Thống Johnson. Tướng Clarke nói "các đơn vị Việt c̣n bị chi phối bởi một chương tŕnh quân viện nghèo nàn, kể cả khí giới cá nhân. Điều này ảnh hưởng lớn đến tinh thần và thành quả của binh sĩ. Quân sỹ cảm nhận rơ khi họ không được trang bị đầy đủ"!

Tổng Thống Johnson liền mời Tướng Clarke đến văn pḥng đàm luận thêm. Và sau đó ít ngày "viên phụ tá Tổng Thống điện thoại báo cho tôi là Tổng Thống Johnson đă ra lệnh gửi ngay 100,000 súng M-16 cho quân VNCH". Tổng Thống đă nhấn mạnh trong bài diễn văn lịch sử ngày 31 tháng Ba 1968, "Chúng ta sẽ nhanh chóng tăng viện cho quân đội Việt Nam để đáp ứng sự gia tăng hỏa lực của địch quân".Thật là kịp thời.

Tướng Clarke trở lại Việt Nam vào tháng Tám 1969 để thấy "lực lượng VNCH đă có 713,000 khẩu M-16 cùng với các khí giới khác và họ đă tiến bộ nhiều kể từ Tết Mậu Thân". Hiện nay họ và các lực lượng diện địa đều đă có súng cá nhân tối tân luôn cả phóng lựu M-79, súng máy M-60 và các đài vô tuyến AN/PRC-25 như quân đội Hoa Kỳ.

Các sư đoàn Mỹ được trang bị tối tân và nhiều hơn phía Việt Nam nên khả năng tác chiến cũng gấp bội. Tùy viên của Tướng Abrams đă nhấn mạnh là Đại Tướng đă nghiên cứu so sánh khả năng tác chiến giữa sư đoàn Mỹ và Việt Nam để thấy chênh lệch hỏa lực 16 lần. Tướng Abrams dùng dữ kiện này để t́m cách tăng viện cho các sư đoàn VNCH. Phía VN c̣n bị kém hơn nữa v́ lúc đầu các yểm trợ chiến trường đều ưu tiên cho quân Mỹ, như oanh tạc B-52, xử dụng trực thăng, chiến đấu cơ cận chiến và chuyển quân giữa chiến địa.

Tướng Abrams nói thêm là trong lần tấn công thứ ba vào tháng Tám và Chín 1968 quân VN đă hạ được nhiều địch quân hơn cả tổng số của Đồng Minh. Họ cũng chịu nhiều tổn thất nhân mạng hơn theo số kiểm chứng cũng như theo ước tính với phân số ta và địch tử vong. Ông nói với Tướng Wheeler rằng đó là v́ thật sự quân đội VN không được yểm trợ như quân đội Mỹ cả về phẩm lẫn lượng (trọng pháo, không tập chiến thuật, không pháo và trực thăng vận). Bởi vậy việc chỉ trích quân đội VN trong thời kỳ đầu thiếu khách quan. Thiếu khí giới cần thiết trước một địch quân hùng hậu hơn lại c̣n bị đẩy xuống vai tṛ thứ yếu trong nhiều năm đă không cho họ cơ hội tăng tiến kinh nghiệm chiến đấu.

Về sau ông Robert McNamara từng là Bộ Trưởng Quốc Pḥng và chủ động chiến tranh đă viết một cách hời hợt về phía Việt Nam. Ông đă bị William Colby sửa lưng như sau, "Ông không có quyền nói xấu những người Việt đă đem xương máu chống cộng sản trong khi đại cường Mỹ đă phủi tay chỉ v́ lỗi lầm của McNamara. Mục đích hết sức cao đẹp nhưng Hoa Kỳ đă thua với McNamara và phần lớn là v́ hắn"!

PHẦN 2.- TẾT 1968

Chiến trận xẩy ra khắp nơi hồi Tết 1968 là một thử thách lớn cho Quân Đội VNCH. Nhiều người đă sửng sốt chứng kiến một thành tích vượt bực. Khi đi nhận giải Thayer tại trường Westpoint Đại Sứ Ellsworth Bunker lên diễn đàn ca ngợi chiến tích ấy. "Mặc dầu Quân Đội VN ít hơn nhưng họ đă chiến đấu vượt bực. Đại Tướng Abrams đă nói họ chiến đấu ngoài sức tưởng tượng của họ. Đă không có nổi dậy, không có đào ngũ và chính quyền vẫn nguyên vẹn. Trái lại họ phản ứng cấp kỳ, mạnh mẽ và đích đáng; họ chiến đấu với tối đa sức mạnh".

Thành tích vượt bực của quân đội VNCH trong trận Tết Mậu Thân 1968 rất cần thiết cho tương lai Việt Nam. Đại Sứ Bunker nói tiếp :"Kết quả là cả một chuỗi diễn tiến làm cho chính phủ Việt Nam vững mạnh, dân chúng tin tưởng hơn khả năng đương đầu với địch và chính quyền thấy sẵn sàng gánh vác vai tṛ chiến đấu hơn".

Ông John Paul Vann cũng đồng ư nói trong năm 1972 rằng "Tết Mậu Thân đă làm cho chính phủ Nam Việt gia tăng kiểm soát lănh thổ, tổng động viên nhân lực để có đủ quân số trám vào khi quân Mỹ rút lui và gia tăng lực lượng địa phương bảo dảm sự hiện diện chính quyền trung ương tại các vùng thôn quê".

Lúc Đại Tướng Abrams nhận chức chỉ huy lực lượng Mỹ tại Việt Nam th́ xẩy ra vụ tấn công thứ ba của cộng sản vào mùa Thu 1968. Ông điện cho Đại Tướng Earle Wheeler và Đô Đốc John McCain, "Tôi phải kết luận rằng việc quân Việt Nam đă giết nhiều địch trong ṿng sáu tuần lễ hơn cả quân Đồng Minh chứng tỏ tiến bộ lănh đạo và tinh thần xung kích của họ. Họ phải trả một giá rất cao về tử vong vá tôi cho phần lớn là v́ không được yểm trợ đúng mức. Do đó cần phải nhanh chóng tăng viện khí giới cho họ".

Trong cuộc họp thượng đỉnh ở Midway vào tháng Sáu 1969 chưong tŕnh nghị sự chú tâm đến bành trướng và tăng quân viện cho quân lực Việt Nam. Quân số tăng lên 820,000 rồi lại đưa lên đến 1.1 triệu người đă được kư kết. Ngoài ra, theo ghi nhận của Thiếu Tướng Trần Đ́nh Thọ, c̣n thỏa thuận trang bị thêm M-16, đại liên M-60 và hỏa tiễn LAW. Vậy thấy rằng ngay lúc ấy mà c̣n bàn đến M-16 th́ quân Việt đă phải chiến đấu từ lâu ở thế kém với một địch quân hùng hậu.

PHỤ ĐÍNH .- VÀI SO SÁNH

*Đă có 50 người đào ngũ mỗi ngày dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tổng Tư Lệnh. Đó là trường hợp Đại Tướng George Washington ở Valley Forge trong mùa Đông 1777-1778.

*Đă phải đưa đại pháo ra đường dẹp phiến loạn chống động viên. Đó là lúc Tổng Thống Abraham Lincoln đă phải quyết định ở Nữu Ước ḥi tháng Tư năm 1865 trong cuôc nội chiến Nam Bắc.

*Trong trận chiến cuối cùng đă chỉ có nửa quân số tham dự v́ tệ nạn đào ngũ. Đó là trường hợp Đại Quân Potomac của Tướng George Meade ở Gettysburg. "Ông ta hy vọng có 160,000 binh sĩ nhưng chỉ vỏn vẹn được 85,000 v́ 75,000 lính đă đào ngũ. Trong cuộc Nội Chiến Mỹ, tỷ lệ đào binh của Liên Quân là 33% trong khi bên kia c̣n hơn nữa ở mức 40 phần trăm".

*Trong cuộc tổng xung kích một nửa số binh sĩ trong các sư đoàn đă kháng lệnh. Đó là trường hợp Quân Đội Pháp năm 1917 làm cho ṭa án binh đă phải kết tử h́nh 554 quân nhân trong số ấy 49 người đă bị hành quyết.

*Đặc biệt có trường hợp một số đơn vị đă tháo chạy; đó là trong Thế Chiến II khi Đại Đội K thuộc Sư Doàn 25 Mỹ đă bỏ chạy toán loạn. Sử gia Geoffrey Perret ghi, "Hiếm thấy một Sư Đoàn Mỹ nào không có t́nh trạng Đại Đội bỏ ngũ như vậy".

*Nói đến một đơn vị mà Tư Lệnh Sư Đoàn bị cách chức, bốn phụ tá chính bị loại, hai Tiểu Đoàn Trưởng bị bắt sống và chin Tiểu Đoàn Trưởng khác bị thay thế. Đó là Sư Đoàn Mỹ 36 tại Salermo trong Thế Chiến II.

*Luôn luôn pháo kích, ám sát, bắt cóc và áp đảo thường dân vô tội là việc làm của công sản trong suốt cuộc chiến.

*Giết hại thường dân vô tội như trong trường hợp Thủy Bồ và Mỹ Lai là thành tích xấu xa của quân Mỹ trong những năm 1967-1968.

Ta có thể kể ra nhiều trường hợp tương tự. Điểm nên nhớ là nếu đem so sánh với các lực lượng đương thời hoặc theo lịch sử ghi nhận th́ QLVNCH đă chiến đấu ngang tàng và xứng đáng trong suốt cuộc chiến. Đó là một điểm son không bao giờ được nhắc tới.

Có rất nhiều tài liệu ghi sự dũng cảm và thiện chiến của QLVNCH, tuy nhiên các nhà viết sử không chú ư đến và các phóng viên báo chí th́ lờ đi. Trong Văn Khố Quôc Gia có hàng ngàn huy chưong Hoa Kỳ cấp cho quân sỹ Việt Nam v́ thành tích phục vụ quả cảm.

Quá tŕnh đẹp đẽ ấy lại càng đáng nể hơn nếu ta nghĩ rằng người lính Việt đă tham chiến từng nhiều thập niên và phần đông đă hy sinh cả quăng đời thanh niên của họ. Một người Mỹ đă nói rất chí t́nh, "Quân nhân Việt không có DEROS (ngày được trở về) như lính Mỹ chỉ phục vụ một năm ở Việt Nam. Họ chiến đấu không ngừng nghỉ năm này qua năm khác với một sức chịu đựng và ḷng nhiệt thành không tưởng tượng được. Ngay sau khi cộng sản thắng trận phần đông lại c̣n chịu giam cầm hàng chục năm trong các trại lao cải nghiệt ngă".

PHẦN BA.- ĐỊA PHƯƠNG QUÂN

Sau vụ Tết Mậu Thân 1968 Bộ Tư Lệnh Mỹ thay đổi. Đại Tướng Creighton Abrams lên thay Đại Tướng Westmoreland và đổi quan niệm về cuộc chiến và phương pháp hành xử. Tướng Abrams nhấn mạnh "chiến tranh toàn diện" gồm cả hành quân, b́nh định và gia tăng khả năng QLVNCH theo một quy tŕnh cấp bách ngang với chiến trận.

Chiến thuật cũng thay đổi từ quan niệm "truy và diệt" qua "b́nh định và giữ đất". Có nghĩa là khi địch bị đẩy ra khỏi vùng có dân th́ quân đội phải đóng lại chớ không rút đi cho địch trở lại. Do đó Địa Phương Quân được phát triển tối đa để phụ trách an ninh và b́nh định lănh thổ.

Trung Tướng Nguyễn Duy Hinh cho sự phát triển và nâng cao các lực lượng địa phương là việc làm quan trọng nhất của Mỹ. Đại Tướng Ngô Quang Trưởng nhận định rằng kết quả b́nh định xă ấp, gia tăng số dân sống dưới chính quyền và an toàn giao thông là công của lực lượng địa phưong quân và nghĩa quân.

Tháng Năm 1967 khi Đại Tướng Abrams đến Việt Nam th́ quân lực VN gồm có Lục Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Không Quân. Ngoài ra c̣n có những lực lượng diện địa bao gồm Địa Phương Quân và Nghĩa Quân phụ trách an ninh lănh thổ. Tỉnh Trưởng chỉ huy Địa Phương Quân c̣n Nghĩa Quân đặt dưới quyền Quận Trưởng. Các lực lượng này trú đóng tại địa phưong của họ và thực hiện mục tiêu "càn quét và giữ đất". Vào năm 1970 đă có 550,000 quân số, nghĩa là một nửa QLVNCH.

Một trùng hợp, đêm hôm trước Bing West và một nhân vật nữa đă lên kênh PBS "Giờ tin tức với Jim Lehrer" để thảo luận về t́nh h́nh Iraq. Một người đă nói đến quan niệm "càn quét và giữ vững" của Condoleza Rice. Nếu ta t́m nguồn gốc quan niệm này th́ hẳn phải kể Lực Lượng Diện Địa Nam Việt, Đại Tướng Abrams, Đại Tướng Harold K. Johnson và bản nghiên cứu PROVN (chương tŕnh b́nh định và phát triển Nam Viêt) của Đại Tá Jasper Wilson.

Ngay từ tháng Mười 1968 ông William Colby làm phụ tá Bính Định cho Tướng Abrams đă giải thích tầm quan trọng của các lực lượng ấy. "Để bảo vệ an ninh lănh thổ chúng ta chú trọng đến tăng tiến Địa Phưong và Nghĩa Quân, lên ngót một nửa toàn thể quân số. Chúng ta đă bắt đầu ngay từ tháng Mười vừa qua. Trong một buổi thuyết tŕnh Đại Tướng Abrams đă nhấn mạnh ba mươi điều phải làm trong đó có việc cử các toán nhỏ cố vấn quân sự đến các Đại Đội Địa Phương Quân và các Trung Đội Nghĩa Quân. Ta đă có 250 toán năm người rải rác khắp mọi nơi".

Ba tháng sau ông Colby đă thấy sự tăng tiến nhanh chóng huấn luyện và vũ khí cho các đơn vị ĐPQ cũng như NQ. "Dă có 91,000 binh sỹ nhiều hơn năm ngoái. Khoảng 100,000 người đă được trang bị súng M-16 và 350 toán cố vấn đă sống và làm việc với các đơn vị ĐPQ và NQ". Ngay khi lănh chức Tư Lệnh Đại Tướng Abrams đă thẳng thừng chuyển các súng mới cho họ. Ông nói trong bài thuyết tŕnh tháng Tám 1968, "Trong một năm ĐPQ và NQ được ưu tiên hàng đầu và nhận súng M-16 trước cả Lục Quân. Cũng như mọi việc, tôi đă bỏ vào quỹ-tiết-kiệm-lính với lăi xuất 10 phân. Trời Đất ơi, chúng ta đă đầu tư vào đây và đó là việc phải làm, ưu tiên tối đa trên tất cả mọi thứ"!

ĐPQ và NQ gia tăng khả năng và thành tích của họ và phải được ghi công đầu. Trong buổi thuyết tŕnh WIEU (dự đoán t́nh báo hàng tuần) cho quan khách Tướng Abrams nói, "Điều tôi quan tâm nhất là vai tṛ của ĐPQ và NQ trong chiến cuộc luôn bị quên lăng. Người ta chỉ thường nói đến QLVNCH trong khi đă lâu nay ĐPQ và NQ gánh chịu nhiều tổn thất và đă giáng cho quân địch nhiều đ̣n chí tử. Tôi nói thẳng, nếu ta muốn nói đến an ninh cho dân th́ đây mới là phần việc lớn"!

Cùng một lúc, ông nói rơ ràng về thành tích của các đơn vị này. "Tôi không biết có nên trang bị thêm các đại đội Lục Quân không. Nếu có thêm nhân số th́ tôi nghĩ đem đầu tư vào các lực lượng diện địa này có lợi hơn".

Cuối năm 1969, khi nh́n biểu đồ t́nh h́nh trong ba tháng vừa qua ghi rơ ai đă đem lại nhiều thành quả nhất về khí giới, tử vong, Tướng Abrams đă nói: "Thật rơ ràng và đúng. Số địch bị giết, khí giới thu được, hầm bí mật phát hiện, vv, th́ QĐVNCH vẫn giữ nguyên tỷ lệ 27/28% trong khi tỷ lệ của Đồng Minh sút giảm. Sự chênh lệch là do các lực lượng địa phương và đă xẩy ra từ tháng Tám vừa qua".

Một người trong cừ tọa nói lớn, "Đó là tính chất của cuộc chiến"!.

Tướng Abrams trả lời ngay, "Đúng lắm! Tôi luôn luôn hỏi lợi nhuận thu được từ 100,000 súng M-16 như thế nào? Như vậy hả? Vâng ta đă bắt đầu thấy kết quả"!

Ông Bill Colby cũng nhận xét rằng trong tháng Bẩy 1970 lực lượng địa phương cũng bảo vệ được súng của ḿnh. Tỷ lệ khí giới mất đối chiếu với vũ khí thu được là một trên ba, khác hẳn t́nh trạng năm năm trước đây.

Tướng Abrams nói thêm: "Các Lực Lượng Địa Phưong, các con sóc ấy tiến tới rất vững vàng. Một t́nh trạng đă được duy tŕ lâu nay là ĐPQ và NQ đă gánh chịu phần lớn trách nhiệm chiến tranh".

Các sỹ quan cao cấp Việt Nam cũng nh́n nhận như Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, "Các ĐPQ và NQ đă lần hồi gỡ bỏ mặc cảm của một phụ lực quân để trở thành các binh sỹ chính quy và là một bộ phận chính của bộ máy chiến tranh"! ĐPQ tăng tiến về phẩm cũng như lượng đă được các nhân vật b́nh luận khắt khe như Tướng Julian Ewell khen tặng, "Họ là mũi nhọn trên chiến trường"!

PHẦN 4 .- NHỮNG VẤN ĐỀ NHỨC NHỐI

Có ba vấn đề luôn luôn khó khăn cho QLVNCH trong suốt chiến tranh là, thiếu cán bộ lănh đạo giỏi, t́nh trạng tham nhũng lan rộng và đào ngũ.

Có lănh đạo với đầy đủ khả năng chỉ huy là một vấn nạn cho QLVNCH trong suốt cuôc chiến. Với sự gia tăng quân số đến 1.1 triệu người t́nh trạng lại càng trầm trọng hơn. Sự thất thoát cấp chỉ huy của các đon vị nhỏ lại càng làm cho vấn đề tệ hại khi quân số gia tăng.

Công việc huấn luyện và các kế sách tuyển mộ các chỉ huy mới rồi đôn họ lên theo chiến tích thật là nhọc nhằn và khó khăn. Sau chiến dịch Lam Son 719, Đại Tướng Abrams tham dự một cuộc duyệt binh tại Huế đă nói, "Thật là một việc đáng ghi. Họ đôn quân, HSQ được thăng lên, HSQ lên thành Chuẩn Úy, Chuẩn Úy lên Thiếu Úy. Tổng Thống Thiệu tuyên bố rằng đó là việc nhỏ với 5,000 thăng cấp, mà thăng cấp mặt trận".

Tướng Abrams rất thích: "Đó là chuyện đă xẩy ra ở Lào. Không có cách ǵ tốt hơn trong quân đội là đi vào hàng ngũ lựa chọn những phần tử chiến tích thích đáng mà đôn lên". (Cũng như vậy đối với các viên chức tại Trung Tâm Huấn Luyện Vũng Tàu hầu giúp họ tăng tiến khả năng quản trị và lănh đạo trong công việc).

Vài vị chỉ huy Việt Nam đă không ngớt chỉ trích khả năng lănh đạo của ḿnh. Đại Tướng Cao Văn Viên đă viết trong cuốn sách của ông như sau, "Trong thời gian tôi phục vụ ở cương vị Tộng Tham Mưu Trưởng tôi đă chứng kiến sự thành công cũng như thất bại của khả năng lănh đạo của chúng ta. Mặc dầu chúng ta đă cố gắng tối đa nhưng vẫn không đủ trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước".

Sự đào ngũ trong các sư đoàn là một căn bệnh trầm trọng của QLVNCH. Tuy nhiên không phải đào ngũ theo phe đich nhưng phần lớn là để tránh ra trận hay để về nhà. Đó là một việc khác hẳn phía địch khi phần đông những đào binh quay về hàng ngũ quân ta. Trái lại đào binh ta thường trở lại ngũ tại địa phương. Theo Anthony Joes đó là sự hoán chuyển từ quân đội chính quy về địa phưong quân mà tỷ lệ đào ngũ gần như không có mặc dầu số tử vong cao hơn quân chính quy.

Tham nhũng là một nhược điểm nữa không bao giờ gột tẩy được mặc dầu ảnh hưởng lên chiến cuộc không mấy quan trọng như ngưới ta thường kêu la. Tuy nhiên Đại Tướng Cao Văn Viên đă kết luận như sau. "tham nhũng không phải yếu tố đưa đến sự xụp đổ của chế độ nhưng chắc chắn nó gây ảnh hưởng tệ hại đến tŕnh độ binh nghiệp và như vậy làm suy nhược khả năng chiến đấu".

Ông Tom Polgar của CIA nhận định xác đáng rằng tham nhũng không thể lật đổ một quốc gia cũng như trường hợp Phi Luật Tân, Nam Hàn hay Thái Lan. "Nước nào mà không trả công tương xứng cho viên chức đều có tham nhũng, đó là một quy luật. Tuy nhiên tham nhũng ḅn rút hết tiêm lực quốc gia khi có ngoại xâm".

Đại Tá William LeGro đă ở lại đến những ngày cuối cùng với DAO (Cơ Quan Tùy Viên Quốc Pḥng) đồng ư. Ông nói: "Tham nhũng không làm cho sụp đổ. Sự giảm thiểu viện trợ Hoa Kỳ đến con số không là đáp số". Ông ta nói thêm: "Chúng ta đă đối xử một cách xấu xa bỉ ổi với bạn Việt Nam của chúng ta".

PHỤ ĐÍNH .- NGUYỄN VĂN THIỆU.

Phần này bàn về cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Tối Cao QLVNCH.

Tổng Thống Thiệu lănh đạo quốc gia trong một thời kỳ ngặt nghèo nhất. Trong khi chiến đấu chống ngoại xâm và nội loạn được Nga Tầu yểm trợ tối đa, ông đă đặt các cơ cấu dân cử từ trung ương cho đến hạ tầng xă ấp. Ông đă gia tăng quân đội và với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, ông đă tăng tiến phẩm chất quân lực để thay thế quân Mỹ. Ông trực tiếp lănh đạo chương tŕnh b́nh định nông thôn và phá vỡ hệ thống khủng bố đe dọa dân quê. Ông thực thi một chính sách cải cách ruộng đất đáng khen, phân phát cho 400,000 nông dân 2 triệu rưỡi mẫu ruộng, và tổ chức bốn triệu dân thành một lực lượng dân vệ với 600,000 khẩu súng.

Trong sáu năm phục vụ Đại Sứ Ellsworth Bunker thường xuyên tiếp xúc với Tổng Thống Thiệu và đă nhận xét xác đáng về con người cùng khả năng của ông ấy. Đại Sứ Bunker nói: "Ông ta đối phó với t́nh h́nh một cách khôn ngoan và khéo léo. Ông ta là một con người trí thức đầy khả năng. Thoạt đầu ông đă cai trị theo hiến pháp chớ không theo một lũ Tướng Tá chỉ muốn ông hành động theo ư họ. Càng ngày ông càng hành xử như một chính trị gia (đây là một lời khen của Bunker), đi về vùng quê, thanh tra b́nh định, chuyện tṛ với dân xem họ muốn ǵ". Ông Bunker khen ngợi ông Thiệu và có khi coi ông ta như một đối thủ chính trị có bản lănh. Bunker nói: 'Tôi nghĩ Thiệu là một người khôn ngoan và chín chắn".

Ông Thiệu cũng hết sức thực tế khi phàn nàn với Bunker rằng, "Thật là khổ cho chúng tôi đă không có mấy vị Tướng đủ khả năng chỉ huy hơn một sư đoàn"! Khi nói vậy ông ám chỉ cả chính ông một cách khiêm nhượng và rất đúng.

V́ quân đội cung cấp phần lớn khả năng hành chính cũng như chính trị nên ông Thiệu bị giới hạn một cách đau thương trong việc thay thế các phần tử thiếu khả năng hay bất xứng. Lại nữa ông ta cũng cần phải lưu giữ những người đáng tin cậy mặc dầu yếu kém. Trong thời đầu nhiệm kỳ ông đă cắt nghĩa cho một nhân viên Mỹ cao cấp như sau: "Hoàn toàn thanh lọc cấp chỉ huy trong quân đội là một việc bất khả thi. Mỗi sự thay thế một vị tư lệnh đều phải sắp đặt và thi hành hết sức cẩn trọng. Không thể kéo quân đội ra khỏi chính trị trong một sớm một chiều. Tổ chức quân đội vẫn là thế đứng duy nhất của tôi và hơn nữa là một cơ chế vững vàng nhất để bảo đảm thống nhất quốc gia".

Đại Sứ Bunker cũng như Đại Tướng Abrams hiểu rơ vấn đề nên tỏ ra rất kiên tâm và thông cảm. Nhưng họ cũng đưa ra những đề nghị chính xác liên quan đến các cấp chỉ huy cao thiếu khả năng. Thường th́ được nghe theo tuy phải mất thời giờ trong khi sắp xếp chính trị. Trong một thời gian đă có những thay đổi lớn trong cấp lănh đạo quân cũng như chính, có khi do áp lực khủng hoảng chiến trường. Tuy nhiên chưa bao giờ có việc thanh trừng rộng răi là v́ không những để tránh xáo trộn mà lại c̣n không có đủ người xứng đáng thay thế. Đào tạo nhiều cấp chỉ huy tốn quá nhiều th́ giờ.

Giới cao cấp Hoa Kỳ nhận thấy sự quan trọng của Thiệu trong việc b́nh dịnh. Tướng Abrams bảo rằng ông Thiệu hiểu nhiều hơn bất cứ ai về công tác b́nh định và William Colby gọi ông là "con người b́nh định số một". Lịch sử Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Mỹ đă nhận định "Thiệu là một yếu tố quan trọng. Ông ta nhận định rơ ràng sự quan trọng của chương tŕnh b́nh định và thiết lập các cơ cấu hành chính cấp địa phương".

Nhiều dịp Tổng Thống Thiệu mời Đại Sứ Bunker cùng đi kinh lư thôn xă. Ông Bunker đă nghe ông Thiệu nhấn mạnh sự thiết lập cơ chế hành chính địa phương, tổ chức bầu cử xă ấp, huấn luyện các viên chức địa phương và cải cách ruộng đất. Tại Trung Tâm huấn luyện Vũng Tầu 1,400 xă trưởng nghĩa là ba phần tư làng xă Nam Việt đă theo học trong chin tháng đầu năm 1969. Tổng Thống Thiệu đi thăm mọi lớp và cho các học viên khi trở về làng có thể hănh diện nói với dân là "Tổng Thống đă khuyên nhủ tôi thế này thế nọ". Cuối năm 1969 t́nh h́nh đă tiến bộ rơ rệt khiến cho ông John Paul Vann, một nhân vật hàng đầu trong chương tŕnh b́nh định đă nói trước cử tọa tại Princeton rằng, "Hoa Kỳ đă thắng trên trận địa và nay đang thắng chính trị với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu".

Hồi tháng Tư 1968, trái với ư kiến của hầu hết các cố vấn, Tổng Thống Thiệu đă thiết lập các lực lượng Nhân Dân Tự Vệ. Ông Thiệu lập luận rằng, "chính quyền căn bản trên dân. Bởi vậy chính quyền không có nền móng nếu không dám đưa khí giới cho dân". Do đó khoảng bốn triệu người, trong số những người quá trẻ hoặc quá già để nhập ngũ, đều xung vào Dân Vệ và được trang bị 600,000 súng cá nhân. Lập luận xác đáng là chính phủ Thiệu được dân ủng hộ, Dân Vệ đă dùng súng chống lại sự đô hộ cộng sản chớ không phải chống chính phủ.

Về sau qua bao nhiêu tài liệu người ta thấy rơ rằng cộng sản đă nhiều lần kêu gọi tổng nổi dậy nhưng không bao giờ dân đă nổi dậy theo chúng. Theo con mắt khách quan của nhiều quan sát viên th́ không lạ ǵ mà sau bao nhiêu năm ám sát, bắt cóc, khủng bố, ức chế và pháo kích bừa băi các khu dân cư trong toàn Nam Việt mà cộng sản đă không chinh phục được ḷng dân.

Tháng Mười năm 1971 trong t́nh h́nh chiến tranh dữ dội Tổng Thống Thiệu đă thắng cử không có đối thủ. Nhiều người đă chỉ trích ông cho rằng sự thắng cử của ông không xứng đáng v́ không có đối lập.. Tuy nhiên mặc dầu địch đe dọa và kêu gọi tẩy chay đầu phiếu đă có 87.7 phần trăm cử tri hợp lệ đến pḥng phiếu và 91.5 phần trăm đà bỏ phiếu cho ông Thiệu. Đó là một tỷ lệ cao nhất của Việt Nam. Nếu không hay ho v́ không có đối thủ hay dân không bằng ḷng sự lănh đạo của ông th́ tại sao họ lại đi bỏ phiếu đông như vậy mặc dầu có thể nguy hiểm đến tính mạng? Người ta thấy rằng, mặc dầu có nhiều chỉ trích, phần đông dân chúng muốn ông tiếp tục lănh đạo xứ sở.

Ông John Paul Vann tuyên bố hồi tháng Giêng 1972 rằng "yếu tố căn bản không chối căi được là khoảng 95 phần trăm dân chúng muốn có chính phủ Việt Nam hiện hữu hơn là chính phủ cộng sản hay một chính phủ do phía bên kia đưa ra".

Thật là buồn khi nhiều người Việt đă chỉ trích ông Thiệu. Tôi đă nói chuyện với nhiều bạn Việt hiện sinh sống ở đây. Mới đây một người bạn học thức và thông minh đă nói với tôi một cách phũ phàng rằng Tổng Thống Thiệu đă nói dối. Tôi hỏi lại như thế nào th́ được trả lời ngay: "Thiệu biết rơ là người Mỹ sẽ bỏ rơi mà không nói cho chúng tôi biết".

Tôi cho đó là một lời buộc tội quá nặng và cần bàn lại. Đại Sứ Bunker nhớ đă tự tay đưa cho Tổng Thống Thiệu ba bức thư cam kết của Tổng Thống Nixon giúp Việt Nam nếu cộng sản vi phạm trắng trợn hiệp định. Nhưng ông Bunker nói, "Quốc Hội bó tay chúng ta và kết quả là nước Mỹ đă bội phản". Ông Bunker giải thích rơ ràng, "tôi không thể h́nh dung được làm sao Tổng Thống Thiệu có thể biết trước cung cách và hành động điếm nhục ấy của Hoa Kỳ"!

Ông Thiệu đă từ chức vài ngày trước khi Sài G̣n thất thủ hầu mong có dàn xếp ổn thỏa. Trong bài giă từ ông đă làm đúng khi giận dữ chua chắt về một cuộc tranh đấu cam go trong nhiều năm. Nó đă cho thấy rằng ông cũng đă sửng sốt như bất cứ ai khi người đồng minh một thời đă quay lưng lại một người bạn trong lúc hoạn nạn (và phản bội cả những người Mỹ đă hy sinh tại Việt Nam).

Theo tôi th́ Nguyễn Văn Thiệu đă thi hành nhiệm vụ một cách can dảm trong nhiều năm chiến tranh để xứng đáng được kính nể và biết ơn của những ai vẫn muốn thấy miền Nam Việt Nam tốt đẹp (c̣n có nể trọng hay không là tùy trường hợp).

PHẦN 5 .- LAM SON 719

Rơ ràng người ta đă cho rằng chiến dịch Lam Son 719 vào Hạ Lào là một thảm bại cho Nam Việt. Tuy nhiên sự thật khác hẳn, v́ hiện nay với băng ghi Abrams và các nguồn tin khác đă cho biết là quân Bắc Việt thiệt hại nặng khiến cho chúng mất trớn tổng tấn công miền Nam để ta có th́ giờ kiện toàn Việt-Nam-Hóa-Chiến-Tranh.

Trong tài liệu WIEU (cập nhật hằng tuần t́nh báo) ngày 30 tháng Giêng ta thấy địch quân biết đôi chút về hành quân vượt biên giới của ta. Tám ngày trước khi cuộc hành quân khởi diễn, COMINT (t́nh báo vô tuyến) nhận thấy địch quan tâm đến các hoạt động phía ta tại vùng 1 và những khu vực lân cận Hạ Lào. Đă phát hiện các truyền tin của địch từ ngày 24 tháng Giêng để ư đến "quân ta có thể đánh qua biên giới phá trục tiếp vận của chúng". Cũng có tin tức là địch hết sức lo cuộc đổ bộ vào Bắc Việt và sư xâm nhập Lào từ những chiến hạm ngoài khơi, vv.

Ngày 8 tháng Hai các đơn vị QLVNCH vượt biên vào Lào trên trục lộ 9 với thiết giáp, nhẩy dù, biệt động, thủy quân lục chiến và lục quân. Tổng số 10,000 quân đă nhập đất Lào vào cuối tuần. Cùng lúc, 10,600 quân tiến vào Cao Mên.

Khi Đô Đốc McCain Tư Lệnh Thái B́nh Dương (CINPAC) dự thuyết tŕnh ngày 19 tháng Hai th́ được biết các đụng độ khá cao ở cấp Đại Đội và nhiều trận lẻ tẻ đă diễn ra trên khắp chiến trường. MACV theo rơi sáu tiểu đoàn địch đương đầu QĐVN tại Lào. Quân Đội Mỹ không được phép tham dự nhưng sư yểm trợ của không lực Mỹ đă mất 21 trực thăng trong 7,000 phi xuất (tổng số thất thoát trong chiến dịch là 108 nghĩa là 21 cho 100,000 phi xuất).

Trung Tướng William E. Potts của MCV J-2 đă tóm lược cho Đô Đốc McCain như sau: "Điểm đáng ghi nhận là trong chiến dịch Lam Son, địch quân đă đua ra tất cả những ǵ chúng hiện có hoặc đang gửi đến ngoại trừ Sư Đoàn 325 và Tiểu Đoàn 9 thuộc Sư Đoàn 304. Vậy nếu chúng bị thiệt hại th́ chúng sẽ tụt hậu trong một thời gian khá lâu". Tướng Abrams nói thêm, "Lẽ cố nhiên chúng ta mong đón tất cả bọn chúng với toàn thể sức mạnh của chúng ta". .

Dầu vậy, đến ngày 20 tháng Hai, nghĩa là gần hai tuần sau chỉ có sáu Trung Đoàn địch hiện diện trong chiến dịch Lam Sơn. Thuyết tŕnh viên nói trong buổi họp chỉ huy WIEU (dự đoán t́nh báo hàng tuần) ngày hôm ấy là, "thật vậy sự phản công mạnh mẽ của địch đă xẩy ra đêm 18 tháng Hai. Phía ta có một lực lượng tương đương với 18 tiểu đoàn vẩn tiếp tục t́m địch thanh toán".

Đại Tướng Abrams nhấn mạnh với ban Tham Mưu và các cấp chỉ huy của ông là phải cho quân Việt Nam mọi phương tiện cần thiết để họ chiến thắng trong trận hệ trọng này. "Đây là một dịp dể giáng cho địch một vố ta chưa bao giờ làm được". Ông nhấn mạnh hết sức ư nghĩa khi Hoa Thịnh Đốn đưa ra một vài chỉ trích: "Ai cũng biết cái rủi ro từ lúc đầu nhưng ta thấy là đă đến lúc phải chấp nhận rủi ro". Khi qua Hoa Thịnh Đốn Đại Sứ Bunker đă tŕnh bầy tất cả các khía cạnh tương quan.

Cho đến ngày 24 tháng Hai MACV vẫn theo dơi sáu Trung đoàn địch (tăng lên thành bẩy ba ngày sau) trong chiến dịch Hạ Lào. Trong tường tŕnh cho Tướng Abrams, thuyết tŕnh viên đă nói rằng bốn tiểu đoàn trong số 18 cung cấp cho Trung Đoàn địch h́nh như đă bị tê liệt. Cũng trong ngày ấy số tử thương của địch quân được ước lượng là 2,191 người trong khi quân bạn mất 276 mạng.

Đến dây th́ một khó khăn lớn xẩy ra là thiếu hụt trực thăng. Mà Quốc Lộ 9, con đường chính Đông Tây có nhiều đoạn bị đào sâu lên đến cả sáu thước khiến cho việc xử dụng con lộ này hầu như bị gián đoạn. Nhất là loại bồn chở xăng không thể đi qua được. Bởi vậy phải tiếp tế bằng phi cơ, ảnh hưởng nặng nề lên đội ngũ trực thăng. Sự tính toán điều hành và sửa chữa cấp bách đă xoay lại t́nh thế. Cho nên khi Tướng Julian Ewell, một nhân vật không mấy thiện cảm với chiến dịch, đi thanh tra ông đă nói, "tỷ lệ sẵn sàng hành quân (operational readiness) ngày Chủ Nhật khi tôi đến thăm là 79%, một con số vượt bực".

Cùng lúc địch tung ra một trận tấn công lớn với thiếp giáp và tràn ngập cứ điểm 31 là nơi trú quân của Tiểu Đoàn Bộ Đệ Nhất Sư Đoàn VNCH. Người ta đă ghi nhận địch có 350 quân bị giết và 15 thiết giáp bị phá hủy đối lại 13 quân bạn chết, 39 bị thương và ba thiết vận xa bị hư hại.

Người ta nhận thấy ngày mồng 1 tháng Ba một Trung Đoàn địch nữa đă tham chiến nâng tổng số lên tám đơn vị (trong 24 tiểu đoàn có sáu đă bị tê liệt). Đại Tướng Abrams nói, "thật là một trận khủng khiếp". Trong buổi thuyết tŕnh cập nhật ngày 4 tháng Ba thuyết tŕnh viên đă nhắc lại rằng ngày 11 tháng Hai đă thấy dấu hiệu địch chuyển sang thế tấn công. Tuy nhiên sự việc chỉ xẩy ra ngày 18. Ta có thể nói là địch đă mất quân số vào khoảng bẩy tiểu đoàn chủ động, c̣n số thiết giáp của họ vào khoảng 100 chiếc lúc đầu th́ nay chỉ c̣n từ 65 đén 70 chiếc mà thôi. Ở thời điểm này ta ước lượng địch quân có tại hiện trường 15,000 chiến binh cộng với từ 8,000 đến 10,000 quân hậu cần trong khi bên ta huy động mười sáu tiểu đoàn chủ động.

Khi một tù binh thuộc Trung Đoàn 24-B khai rơ sự tộn thất nặng nề trên đường 92 về phía Bắc Bản Đông th́ pḥng J-2 MACV giảm hiệu lực của địch đi hai Tiểu Đoàn, nghĩa là trong số 30 Tiểu Đoàn địch thuộc 10 Trung Đoàn tung ra trên chiến trường đương đầu với quân VN th́ chúng đă mất hẳn 10 Tiểu Đoàn. Tướng Abrams nói, "Tôi càng tin chắc rằng đây có thể là trận quyết định chiến cuộc". Tướng Potts nói thêm, "Họ mất một nửa chiến xa, một nửa đại bác pḥng không và 10 trên 30 Tiểo Đoàn".

Trong một buổi cập nhật t́nh báo hàng tuần (WIEU) ngày 20 tháng Ba Đại Sứ Bunker nói Chiến Dịch Lam Sơn đang chấm dứt là một cuộc hành quân rất thích ứng. Tướng Abrams bèn trả lời: "Thật là một trận đánh cam go. Tuy nhiên ảnh hưởng lên phần cuối năm nay hết sức to lớn. Chúng đă tung nhiều lực vào Lam Son và đă bị thua đậm"

Ngày 23 tháng Ba khi địch quân tung vào thêm Trung Đoàn thứ mười ba, thuyết tŕnh viên tŕnh bầy rằng chín trong số mười một Trung Đoàn đă bị thiệt hại nặng nghĩa là họ chỉ c̣n khoảng 17 Tiểu Đoàn chủ động trong số 33 đem ra. Ngoài ra họ lại c̣n mất khoảng 3,500 đơn vị hậu cần. Khi các yếu tố dược tŕnh bầy trong kỳ WIEU th́ Tướng Potts nói thêm, "Không phải các Tiểu Đoàn ấy bị sút kém nhưng chúng đă bị hoàn toàn tiêu diệt".

Quân đội VNCH cũng chịu nhiều tổn thất, 1,416 bị giết và 714 mất tích. Nhiều khí cụ đă bị phá hủy hay bỏ lại khi vội vă rút lui. Khi xét lại kết quả, Đại Tướng Sutherland nhận định như sau: "Khuyết điểm từ lâu là Bộ Tham Mưu VN không có đủ khả năng thiết kế và phối hợp Không Lực cũng như phối hợp yểm trợ không địa. Tuy nhiên họ dă học hỏi nhiều trong chiến dịch này".

Quần chúng hết sức ủng hộ trận Lam Sơn. Khi Đức Ông Thompson tới viếng thăm hồi cuối tháng Ba người ta đă tŕnh bầy với ông kết quả cuộc thăm ḍ dư luận trong 36 tỉnh. Kết quả cho thấy 92% đồng ư với các chiến dịch như Lam Sơn 719, 3% chống đối và phần c̣n lại không có ư kiến. Kết quả cho thấy một phân xuất rất cao so với bất cứ lần thăm ḍ về bất cứ một vấn đề ǵ trước đây.

QLVNCH đă chiến đấu trong 42 ngày liền tại Lào. MACV tŕnh bầy khiêm tốn cho Bộ Trưởng Lục Quân Stanley Resor là Chiến Dịch Hạ Lào đă "thử thách QLVNCH trước một địch quân quyết tâm trong trận địa xuyên biên giới. Chắc chắn là đă phá được đường tiếp vận của họ". Ở Hoa Kỳ người ta kêu đó là một thảm bại của quân Việt. Lẽ cố nhiên bộ máy tuyên truyền Hà Nội vội vă túm lấy cơ hội.

Tuy nhiên Tướng Abrams nhận định là chiến dịch nhất định có lợi cho QLVNCH. "Từ trước ta cứ tưởng rằng Bắc Việt có thể chiến thắng họ. Chiến tranh chưa chấm dứt nhưng Bắc Việt bắt đầu thấy là họ phải đương đầu với một công việc khó hơn nhiều".

PHẦN 6 .- MỘT CUỘC CHIẾN THẮNG LỢI

Phương pháp áp dụng trong giai đoạn Abrams đă có kết quả tốt mặc dầu nhiều người không tin như vậy. Quân Mỹ đă lần hồi rút nên quân Việt đạt nhiều thành quả hơn. V́ chiếm được nhiều đất hơn nên đă thấy nhiều lính địch quy thuận hơn. Trong năm 1969 có 47,000 hàng binh cọng thêm 37,000 hồi chánh năm 1970. Mỗi Sư Đoàn Bắc Quân có 8,689 quân số. Như vậy th́ số đào ngũ của họ trong hai năm bằng chín Sư Đoàn. Đă đến chiến thắng mặc dầu vẫn phải đánh nhau là v́ Nam Việt đă đủ khả năng giữ vững chủ quyền và tự lực hành động với lời hứa yểm trợ của Hoa Kỳ như họ vẫn làm cho đồng minh tại Tây Đức và Nam Hàn.

Ngay từ cuối năm 1969 John Paul Vann, một nhân vật chính của chương tŕnh b́nh định đă viết cho cựu Đại Sứ Henri Cabot Lodge như sau: "Tôi không cần thăm Hoa Thịnh Đốn hay Ba Lê như trước để t́m cách thay đổi chính sách Việt Nam. Tôi hài ḷng với chính sách hiện hữu. Tôi nghĩ rằng chúng ta đă đạt mục tiêu bỏ được số Mỹ tử vong sau 1972 và chiến phí (cuộc chiến sẽ c̣n kéo giài măi) sẽ giảm hẳn v́ được người Việt lo liệu với sự trợ giúp tiếp vận và tài chính của chúng ta".

Ngoài trách nhiệm chiến đấu thay vào quân Mỹ rút đi, Nam Việt c̣n phải đương đầu với nhiều thay đổi chính sách. Đại Tướng Abrams nói rơ là họ phải vượt qua các trở ngại mỗi ngày một khó hơn. Ông nhắc lại, "Chúng ta đă bắt đầu từ năm 1968,. Mục tiêu của chúng ta là đến 1974 họ phải quất nặng bọn VC để sau nữa sẽ đập cả bọn Việt Cộng lẫn quân Bắc Cộng tại miền Nam. Rồi họ phải nén chặt chúng lại, nén ba bốn lần. Như vậy chúng ta bắt đầu; trong một thời gian dài – ông ra dấu bằng tay – và phải kết thúc trong thời gian ngắn hơn nhiều".

"Và nếu cần truy cản Việt Cộng, Bắc Cộng hay giúp Cao Mên chẳng hạn th́ chúng ta cũng giúp tay vào. Tuy nhiên chúng ta cần hết sức cẩn thận không có sẽ bị trật đường rầy. Ta tránh làm như vậy v́ nó sẽ làm cho ta điên lên". Sự thay đổi đường lối quan trọng nhất là loại bỏ dự tính giữ lại một lực lượng Mỹ lâu dài tại chỗ như thể ở Tây Âu hay Nam Hàn.

Ông Thomas J. Barnes trở lại Việt Nam sau ba năm vắng mặt để làm việc trong chương tŕnh b́nh định vào mùa Thu 1971. Ông nói với Tướng Fred Weyand là "tôi đă ngạc nhiên với ba tiến bộ chính, sự phồn thịnh của nông thôn, Địa Phương và Nghĩa Quân giữ vững vị trí và phát triển sự tự trị chính trị kinh tế làng xă. Ta đă giúp làng xă lấy lại tính cách độc lập và tự lực theo tập tục Việt Nam. Đó là việc tham gia quan trọng nhất của chúng ta trong công việc b́nh định".

Ngay từ giữa tháng Ba 1971 quân đội Việt Nam đă gánh vác chiến đấu. Thuyết tŕnh viên đă nói với Đại Tướng Ewell rằng sự chú trọng của Tướng Abrams vào công tác b́nh định nay đă hầu như thành tựu 100% với các kế hoạch tương quan. Quân Mỹ đă gần như rời khỏi việc hành quân".

Những tin tức từ phía địch đă xác nhận thành quả. Trong một cuốn sách in bởi nhà Xuất Bản Thế Giới Hà Nôi, hai tác giả Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vơ đă viết, "cuối năm 1968 trong Nam Bộ các Ấp Chiến Đấu và những vùng xôi đậu đă bị quân đội Sài G̣n chiếm lại. Cuối 1968 chúng ta đă bị tổn thất nặng. Địch dồn lực lượng vào công tác b́nh định thôn quê gây cho chúng ta nhiều khó khăn trong hai năm 1969-1970. Từ khi quân Mỹ vào Việt Nam chúng ta chưa bao giờ gập nhiều vấn nạn như trong hai năm ấy. Các căn cứ của ta ở thôn quê bị suy nhược và vị trí co thắt lại. Quân ta bị tiêu diệt, không c̣n đất bám và phải qua đồn trú tại Cao Mên. Chúng ta trải qua một thời kỳ hết sức khó khăn trong những năm 1969-1970-1971. Kể từ giữa năm 1968 địch đă tập trung đánh phá các vùng giải phóng để tiêu diệt và đẩy chúng ta ra khỏi cứ địa".

Tháng Giêng 1972 Vann nói rằng "chưa bao giờ chúng ta phải tham chiến ít như bây giờ. Ngày nay thấy rơ các vùng quê phồn thịnh, đường xá khai thông, cầu kỳ mở lại và bạn có nhiều rủi ro hơn với cả đống Honda và Lambretta ngược xuôi. Chương tŕnh Việt Nam Hóa Chiến Tranh đă có kết quả ngoài tưởng tượng". Đó là công đầu của Việt Nam Cộng Ḥa.

PHẦN 7 .- TỔNG TẤN CÔNG PHỤC SINH 1972

Thành quả Việt-Nam-Hóa-Chiến-Tranh và việc b́nh định nông thôn khiến cho đối phương phải t́m một phương án khác. Đó là cuộc tấn công Phục Sinh. Douglass Pike viết: "Không c̣n là một cuôc chiến cách mạng nữa, và theo quan niệm của Vơ Nguyên Giáp th́ phải qua giai đoạn chiến tranh quy ước nhỏ giống như ở Triều Tiên".

Trong vài ngày về Mỹ John Paul Vann đă tŕnh bầy hiện t́nh Việt Nam trước một cử tọa giáo sư chọn lọc. "Họ dựa vào các giới chức dân cử xă ấp khi kinh tế tăng trưởng, an ninh tiến bộ và chiến tranh đă chuyển sang Cao Mên và Lào. Sự thực là 95% dân chúng muốn lưu giữ chính quyền hiện tại hơn là một chính phủ cộng sản hay một cơ cấu do bên kia đưa ra".

Theo lịch sử ghi chép của Quân Đội Nhân Dân th́ kế hoạch tấn công 1972 được chấp thuận bởi Ban Quân Ủy Trung Ương từ tháng Sáu 1971. Mục tiêu là chiến thắng vào năm 1972 làm cho quân Mỹ xâm lược phải thưong thảo trong thế yếu. Ông Pike diễn giải, "đó là một cuộc tấn công toàn diện với nhân lực, khí giới và tiếp vận quy mô. Vào giữa mùa Hè tất cả 14 Sư Đoàn Bắc Quân rời khỏi Bắc Việt. Chúng xử dụng nhiều thiếp giáp và đại pháo nặng hơn QLVNCH và đạn dược cũng không giới hạn".

Cuối tháng Ba 1972 địch tiến hành một cuộc xâm lăng cổ điển với 20 Sư Doàn và một trận chiến tàn bạo sắt máu đă xẩy ra. Ông Douglas Pike viết, "Cuộc tấn công được sửa soạn công phu đă bị bẻ gẫy v́ không yểm làm cho chúng không tập hợp được và v́ sư chống trả dũng cảm và kiên tŕ của quân Nam Việt. Bắc Quân và hệ thống giao thông của chúng đă bị triệt hạ nặng. Nhưng chính yếu là QLVNCH và cả Địa Phương Quân đă hiên ngang chống trả như chưa từng thấy".

Bắc Quân tổn hại 100,000 người trong số 200,000 xung trận và có lẽ 40,000 đă bị giết. Họ đă mất già nửa thiết giáp và đại pháo. Sẽ cần ba năm để hồi phục trước khi tấn công lại và Tướng Vơ Nguyên Giáp bay khỏi chức Tổng Tư Lệnh. Trái lại Nam Quân mất 8,000 tử vong, gần ba lần thương binh và vào khoảng 3,500 mất tích. Tướng Giáp đă tính sai và phải trả một giá đắt cho lỗi lầm ấy. Ông Pike kết luận: "Giáp đă ước sai ḷng quyết tâm và sự chống trả mănh liệt của Quân Nam Việt. Hắn sai lầm về sức đề kháng của QLVNCH".

Về sau nhiều người chỉ trích nói rằng Nam Quân đă đẩy lui được Bắc Quân nhờ có không yểm của Mỹ. Tướng Abrams đă phản ứng mạnh mẽ và nói với các cấp chỉ huy của ông rằng, "Tôi không tin là không có không trợ mọi việc đă giữ vững được. Tuy nhiên phải có những người Việt Nam đúng thẳng chiến đấu. Nếu họ không dũng cảm làm như vậy th́ đến mười lần không quân cũng không chận đứng được bọn cộng sản".
Bọn chỉ trích cũng triệt hạ QLVNCH cho rằng họ sống sót được là nhờ Quân Mỹ. Không một ai nhớ rằng 300,000 Quân Mỹ phải đóng ở Tây Đức là v́ người Đức không thể chống lại Nga Xô Viết hay nhóm Liên Minh Warsaw nếu không có Quân Mỹ. Họ cũng quên là 50,000 Quân Mỹ phải lưu lại Nam Hàn để giúp trong trường hợp bọn Bắc tấn công. Và không ai đă nghĩ rằng v́ Quân Mỹ hiện diện nên phải chê bai và chế riễu Quân Đội Tây Đức cũng như Nam Hàn. Chỉ có Nam Việt bị tách rời ra để bôi nhọ một cách bất công và ác độc mặc dầu chỉ được không trợ chớ không được Quân Lực Mỹ hỗ trợ như Đức hay Cao Ly.

Quân Nam Việt đă thực sự đánh bại cuộc tấn công Phục Sinh 1972 với xương máu và ḷng quả cảm. Đại Tướng Abrams nói với Tổng Thống Thiệu rằng "nhờ khả năng bén nhậy của các cấp chỉ huy nên đă gặt hái thành quả và họ đă chứng tỏ đủ bản lĩnh đương đầu với cuộc thử thách. Những anh hùng bảo quốc Nam Việt đă giáng cho quân xâm lăng một đ̣n chí tử khiến cho chúng cần ba năm nữa mới có thể mở lại một cuộc tấn công quy mô". Tuy nhiên trong khi ấy bao nhiêu thay đổi hệ trọng đă xẩy ra trên một b́nh diện rộng lớn hơn.

QLVNCH đă trở thành một lá chắn thiện nghệ, nhanh nhẹn và quyết tâm cho xứ sở của họ. Tuy nhiên họ đă bị bôi nhọ bởi những luận điệu tiêu cực gồm cả vu khống của bọn phản đối Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến hay ít nhất chính sự tham gia của cá nhân họ hay bọn thân cộng. Trái lại đă có bao nhiêu thành tích rơ ràng trên trân địa hồi cuối Xuân và trong mùa Hè 1972.
PHẦN 8 .- BỎ RƠI
 
 Phần này bàn về t́nh h́nh sau khi Hiệp Định Paris được kư kết vào tháng Giêng 1973. Để dụ Việt Nam thỏa thuận điều mà họ cho là quá sai lầm khi cho Bắc Việt được để lại miền Nam một lực lượng lớn, Tổng Thống Nixon đă hứa với Tổng Thống Thiệu rằng nếu Bắc Việt bội ước và lại tấn công Nam Việt th́ Hoa Kỳ sẽ can thiệp mạnh mẽ để trừng phạt chúng. Và Nixon nói thêm, nếu chiến tranh trở lại, nước Mỹ cam kết thay thế các chiến cụ trên căn bản một đổi một theo như điều khoàn của Hiệp định Paris (chiến xa, trọng pháo vv). Sau nữa Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ kinh tế tài chánh cho Việt Nam. Thật ra, Hoa Kỳ đă bội ước tất cả các khoản kể ra.
 
Trong khi ấy th́ Bắc Viễt đă nhận viện trợ không tiền khoáng hậu của các quan thầy. Theo một cuốn sử xuất bản tại Hà Nội năm 1994 th́ trong ṿng chin tháng sau khi kư kết Hiệp Định Paris, từ tháng Giêng đến tháng Chín 1973, Bắc Việt đă gửi tiếp tế vào Nam bằng bốn lần năm vừa qua. Dầu vậy con số c̣n nhỏ nhoi so với lượng chúng đưa vào Nam từ đầu 1974 cho đến ngày chấm dứt cuộc chiến năm 1975. Trong ṿng mười sáu tháng, theo tài liệu cộng sản, th́ bằng 1.6 lần quân viện trong cả mười ba năm.
 
 Nếu chính phủ Nam Việt không kư Hiệp Định th́ không những Hoa Kỳ sẽ đơn phương tính với bên kia mà Quốc Hội Mỹ cũng nhanh chóng cắt hết viện trợ. Mặt khác nếu Việt Nam chấp thuận Hiệp Định với hy vọng sẽ tiếp tục nhận viện trợ Mỹ th́ họ bắt buộc phải chấp nhận t́nh trạng Bắc Quân sẽ trú đóng một cách nguy hiểm trên lănh thổ. Nam Việt đă quyết định phương án thứ nh́, một tiên liệu quyết tử để thấy một cách đau đớn là phải chấp nhận cả hai việc tồi nhất, quân Bắc Việt trong lănh thổ và viện trợ Mỹ chấm dứt.
 
 Nguyên Tổng Trưởng Quốc Pḥng Melvin Laird giải thích hệ quả như sau. "Trong hai năm sau Hiệp Định, Nam Việt đă can đảm chống lại một cách đáng nể một địch quân được yểm trợ tối đa. Hoà đàm Bắc Nam vẫn tiếp tục cho đến ngày mà Quốc Hội cắt hẳn viện trợ vào năm 1975. Và Nam Việt nhanh chóng bị tràn ngập. Chúng ta đă tiết kiệm được khoảng 257 triệu mỗi năm và làm cho Nam Việt xụp đổ sau khi đă chiến đấu dũng mănh từ năm 1973 không có sư giúp đỡ của quân Mỹ.
 
 Nhiều người Mỹ không thích nghe rằng bọn độc tài Nga Xô và Trung Hoa đă tỏ ra đáng tin cậy hơn là nước Mỹ Dân Chủ. Nhưng đó là sự thật phũ phàng. Phóng viên William Tuohy đă nhiều năm phúc tŕnh cuộc chiến cho Washington Post viết, "một chuyện không tin được và không tha thứ được là một đại cường quốc đă bỏ rơi đồng minh yếu kém vào tay bọn Bắc Cộng. Nhưng chúng ta đă làm như vậy".
 
 Binh sỹ Nam Việt can đảm chiến đấu cho đến khi viện trợ bị cắt dần dần rồi ngưng hẳn. Trong ṿng hai năm sau khi kư Hiệp Định Paris Nam Việt đă mất 59,000 quân tức là nhiều hơn số quân Mỹ tử trận trong mười năm. Nếu nghĩ rằng dân số Nam Việt chỉ bằng một phần mười Mỹ Quốc th́ ta thấy rằng sư thiệt hại hết sức thảm khốc và cường độ trận chiến đă cao như thế nào.
 
 Bà Merle Pribbenow nhấn mạnh rắng sự ghi nhận của Bắc Việt cho thấy trong 55 ngày cuối cùng họ đă phải đương đầu với một chiến cuộc hết sức gay go. Đó là một chiến tích đáng ghi cho Nam Việt khi họ biết là kết cục sẽ chắc chắn như thế nào. Đại Tướng Bắc Quân Lê Trọng Tấn đă ghi, "Trong giai đoạn cuối cùng Quân Y của chúng ta đă phải di tản và chữa chạy cho quá nhiều thương binh, 15 lần nhiều hơn trong trận chiến biên giới, 1.5 lần hơn trận Diện Biên Phủ và 2.5 lần nhiều hơn trong trận Hạ Lào". Bà Pribbenow chiết tính là "Quân Đội Nhân Dân đă chịu tối thiểu từ 40,000 đến 50,000 thương binh và có thể c̣n nhiều hơn nữa, nghĩa là c̣n cao hơn tổng số tổn thất lúc QLVNCH xụp đổ theo nhận xét của các sử gia".
 
 Đại Tá William LeGro đă ở lại DAO đến phút chót đă có một cái nh́n chính xác về sự việc. Ông nói: "Sự gỉảm quân viện Mỹ cho đến gần số không là lư do đưa đến sự xụp đổ cuối cùng". Ông nói thêm, "Chúng ta đă làm một việc hết sức quái gở với người bạn Việt Nam".
 
 Gần đến ngày cuối, ông Tom Polgar đứng đầu CIA Sài G̣n gửi một điện văn ngắn ngủi: "Kết quả quá rơ ràng v́ Nam Việt không thể sống sót nếu không có quân viện Mỹ trong khi khả năng chiến tranh của Bắc Việt vẫn giữ nguyên với sự trợ lực của Nga Xô Viết và Trung Cộng".
 
 Sau chiến tranh t́nh h́nh trở nên quá đen tối như người ta sợ. Phóng viên Seith Adams của New York Times viết về hoàn cảnh Đông Nam Á một cách xác đáng và cảm động như sau. "Hơn một triệu người Nam Việt bỏ xứ. Khoảng 400,000 người bị đầy vào các trại cải tạo, một ít trong thời gian ngắn nhưng nhiều người đă bị giam giữ đến mười bẩy năm. Một triệu rưởi dân bị cưỡng bách đi các vùng 'kinh tế mới là những nơi hoang dă trong hoàn cảnh đói kém và bệnh tật".
 
 Cựu Đại Tá Việt Cộng Phạm Xuân Ẩn mô tả sự vỡ mộng của y với kết quả chiến thắng của cộng sản đă áp đặt như thế nào lên xứ sở. Ông ta phàn nàn, "tất cả các lư luận về 'giải phóng' trong hai mưoi, ba mươi hay bốn mươi năm qua đă gây ra một xứ sở nghèo nàn và rách nát lănh đạo bởi một lũ ác độc, một bọn lư thuyết gia ít học và chuyên chế".
 
 Đại Tá Bắc Quân Bùi Tín cũng thẳng thắn nói về hậu quả cho cả những người chiến thắng: "Thật là quá chậm cho thế hệ tôi, một thế hệ của chiến tranh, của chiến thắng và bội phản. Chúng tôi đă thắng nhưng chúng tôi cũng đă thua".
 
 Sư cố gắng của những người miền Nam trong một cuộc tranh đấu dai dẳng cuối cùng là một thảm trạng. Quân đội đă mất 275,000 người chết trong khi chiến đấu. 450,000 dân bi hy sinh, phần đông do khủng bố cộng sản hoặc bị chết trong những cuộc pháo kích bừa băi vào các đô thị và thêm 935,000 người nữa bị thương.
 
 Trong số cả triệu người trở thành thuyền nhân một số có thể rất cao đă bỏ mạng trên biển cả. Có lẽ 65,000 người đă bị hành quyết bởi bọn tự xưng là giải phóng. Khoảng 250,000 hay hơn nữa đă chết trong các trại tù "cải tạo" man rợ. Hai triệu người bị đẩy ra khỏi quê cha đất tổ để trở thành một diaspora Việt Nam.
 
 Ta không thể hoàn toàn xác định giá trị của QLVNCH mà không nói đến các cựu chiến binh bị đầy khỏi xứ với các gia đ́nh của họ hầu lập nghiệp lại trên đất Mỹ. Đó chính là một câu chuyện khác về sự can đảm, quyết tâm và thành quả. Đă biết quá rơ tính chất của bọn mạo danh là "giải phóng", một băng đảng luôn luôn giết hại, gây thương tích, bắt cóc và ức chế hang ngàn dân vô tội, nên họ bỏ chạy hàng loạt khi sự chống đỡ tan ră.
 
 May thay nhiều người đă thoát được đến bờ bến tự do làm lại đời mới. Mỹ Quốc may mắn đón nhận một triệu di dân Việt Nam là một tăng tiến cho văn hóa và một đóng góp đáng kể vào phúc lợi của chúng ta. Với một quyết tâm và cần cù không tưởng tượng được, những người Mỹ mới này đă dậy dỗ con cái, nuôi sống gia đ́nh và lợi dụng các cơ hội mà xứ sở này đă dành cho bất cứ ai tham gia vào xă hội. Đó chính là những người đă bao năm đem xương máu ra chiến đấu cho quê hương cũ trong hang ngũ QLVNCH. Chúng ta dă bỏ rơi họ và những hy sinh của họ đă thành vô nghĩa. Tuy nhiên cưu mang họ trên đất này đă cho chúng ta đền tội đôi phần.
 
 
 KẾT LUẬN
 
 Để kết luận, tôi chỉ xin nói rằng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến giá trị, bởi người Nam Việt và các đồng minh của họ bảo vệ một mục đích cao đẹp. Tất cả các chiến binh đều đă tham chiến với một tấm long vô biên và họ đă gần như đạt được mục đích bảo đảm cho NamViệt có tự do như một quốc gia độc lập. Có lần một phóng viên đă nhận xét rằng Đại Tướng Creighton Abrams phải được chỉ huy một cuộc chiến hay hơn. Tôi đă nói câu ấy cho trưởng nam của Tướng Abrahms và được phản hồi ngay; "Cha tôi không nh́n như vậy. Ông nghĩ rằng người Nam Việt rất xứng đáng". Và tôi đồng ư.
 
 Tóm lại, đối chiếu biểu của QLVNCH bao gồm cà địa phương và nghĩa quân trong năm 1970 rất tích cực. Rốt cục chúng ta đă không thắng trận, tuy nhiên tinh thần, sự tận tâm, can đảm và ḷng quyết chí của tất cả các chiến binh đă nẩy nở thăng hoa trên đất nước này. Chúng ta đều cùng tiến tới.
 
 
 NÓI VỀ TÁC GIẢ
 
 Ông Lewis Sorley đă phục vụ tại Việt Nam chỉ huy một Tiểu Đoàn Thiết Giáp trên Tây Nguyên. Ông thuộc thế hệ thứ ba trong gia đ́nh tốt nghiệp Đại Học Quân Sự Hoa Kỳ. Ông cũng đậu bằng Tiến Sỹ của Đại Học John Hopkins. Trong hai thập niên binh nghiệp ông chỉ huy thiết giáp và nhiều dơn vị thiết kị tại Mỹ, Đức cũng như Việt Nam. Ông cũng đă phục vụ tại Bộ Lục Quân, văn pḥng Tham Mưu Trưởng Bộ Binh và là giảng viên tại West Point và Đại Học Chiến Tranh Bộ Binh.
 
 Ông là tác giả của hai cuốn sách, Thunderbolt, General Creighton Abrams and the Army of His Times và General Harold K. Johnson and the Ethics of Command. Ông đă viết quân sử nhan đề, A Better War; the Unexamined Victory and Final Tragedy of America's Last Year in Vietnam. Ông cũng ghi chép và nhuận chính Vietnam Chronicles: the Abrams Tapes 1968-1972".
 
 Tài liệu tham chiếu:
 1. "Bibliography Periodicals" của Douglas Pike.
 2. "History Proves Vietnam Victors Wrong" của James Webb.
 3. "The Development of the South Vietnamese Army" của Thiếu Tướng James Lawton Collins Jr.
 4. "Senior Officer Debriefing Report, CG II Field Force, Vietnam, 29-3-1966 của Đại Tướng Fred C. Weyand.
 5. "Message Abrams to Johnson, MAC 5307, 04950Z 6-1967.
 6. "Lt-General Dong Van Khuyen, RVNAF Logistics".
 7. "Time, 19 April 1968"
 8. "Letter, General Bruce C. Clarke to General Hal C. Pattison"
 9. "The History of the Joint Chief of Staff: The Joint Chief of Staff and the War in Vietnam, 1960-1968"
 10. "Brigadier Geberal Zeb B. Bradford Jr. Interview, 12 October 1989"
 11. "Message, Abrams to Wheeler and McCain, October 1968"
 12. "William Colby, 'Vietnam after McNamara', The Wahington Post 27-4-1995".
 13. "Ambassador Ellsworth Bunker, Thayer Award Address".
 14. "John Paul Vann, Remarks, Lexington, Kentucky, 1972".
 15. "Brigadier General Tran Dinh Tho, The Cambodian Incursion".
 16. "Geoffrey Perret, There's a War to be Won".
 17. "Message, Cliff Snyder, National Archives to Sorley".
 18. "An example of LCol Cau Lê 47 Regiment Commander, 12 years in combat and 13 years prisoner of the communist, awarded Silver Star and Bronze Star for valorous combat leadership. Le and his family established a new life in America after his wife Kieu Van had worked as a nurse to support their five children until her husband was released from captivity. See Robert F. Dorr and Fred L. Borch, 'US Medals'".
 19. "General Cao Van Vien et al, the US Advisor".
 20. "Lt General Ngo Quang Truong, Territorial Forces".
 21. "General Creighton Abrams at WIEU, 18 April 1973"
 22. "Thomas Polgar as quoted in J. Edward Lee and Toby Haynsworth"
 23. "Colonel LeGro as quoted in L. Edward Lê and Toby Haynsworth"
 24. "Ambassador Ellsworth Bunker, Oral History Interview"
 25. "Quoted in Jeffrey J. Clarke, Advice and Support"
 26. "As reported by Major General George J. Forsythe, following a 20 January 1968 meeting with President Thieu"
 27. "Joint Chiefs of Staff, the History of the Joint Chiefs of Staff"
 28. "Notes by Vicent Davis on telecom during which Vann described his 15 December 1969 Presentation at Princeton"
 29. "Lester A, Sobel, ed,. South Vietnam. US Communist Confrontation in Southeast Asia.
 30. "Remarks, Lexington, Kentucky 1972, Vann papers"
 31. "Ellsworth Bunker Interview, Duke University, Living History Project"
 32. "WIEU, 30 January 1973, in Sorley, Vietnam Chronicles"
 33. "COMUS Update, 16 February 1971"
 34. "Briefing with Admiral McCain, 19 February 1971"
 35. "Commanders Weekly Intelligence Update, 20 February 1971"
 36. "Message, LtGeneral James W. Sutherland to Abrams, March 1971, Special Abrams Papers Collection"
 37. "COMUS with Sir Robert Thompson, 25 March 1971"
 38. "Secretary of the Army Brief, 26 April 1971"
 39. "Major General Nguyen Duy Hinh, Lam Son 719"
 40. "Military Institute of Vietnam, Victory in Vietnam (University Press of Kansas)"
 41. "John Paul Vann, Letter to Henry Cabot Lodge, 9 December 1969, Vann Papers"
 42. "Message, Barnes to Weyand, March 1972, MHI files"
 43. "Lưu Van Loi and Nguyen Anh Vu (Le Duc Tho and Kissinger Negociation in Paris"
 44. "Remarks, Lexington, Kentucky 8 January 1972, Vann Papers"
 45. "Douglas Pike, 'A Look Back at the Vietnam War: the View from Hanoi'"
 46. "Douglas Pike, PAVN, People's Army of Vietnam"
 47. "Message, Abrams to Laird, May 1972"
 48. "Melvin R. Laird, "Iraq: Learning the Lesson of Vietnam"
 49. "The Washington Post (28 December 1968)"
 50. "James L. Buckley, 'Vietnam and its Aftermath' in Anthony T. Bouscaren, ed."
 51. "Merle L. Pribbenow, Message to Sorley, 1 May 2002"
 52. "Seth Mydams, 'A War Story Missing Pages', The New York Times 24 April 2000"
 53. "Vietnam Magazine Auguat 1990"
 54. "The Boston Globe, 20 April 2000"
 55. "Colonel Stuart Herrington, Fall of Saigon, Discovery Channel, 1 May 1995"
 56. "Australian Minister for Immigration Michael McKeller was quoted as saying that 'about half the boat people perished at sea'. Thus he said in 1979, 'We are looking at a death rate of between 100,000 and 200,000 in the last four years'. The Age Newspaper, The Boat People: an Age Investigation"  
 
 

lyhuonga.jpg






Nhận Xét Về Chương Tŕnh Đại Nhạc Hội Trực Tiếp Thu H́nh Cho ASIA 58 “Lá Thư Từ Chiến Trường” ngày 22 tháng 3, 2008 tại Long Beach, California.
Duy-Khiêm & AsiaFans, Apr 03, 2008

Cali Today News - Có thể nói đây là một chương tŕnh thật xuất sắc và thành công nhất từ trước đến nay của Trung Tâm Asia như đă được nhiều khán giả đặt niềm tin, kỳ vọng và mong đợi từ lâu về một chủ đề nhằm tôn vinh những người lính Việt Nam Cộng Ḥa. Hai xuất hát đă bán hết sạch vé, nhứt là xuất hát buổi tối đă bán hết vé từ hơn 10 ngày trước khi khai mạc. Đặc biệt nhứt là lần đầu tiên có rất nhiều nam nữ khán giả đi xem đại nhạc hội đă mặc những bộ quân phục, lễ phục của các binh chủng Hải, Lục, Không quân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ngày xưa. Những h́nh ảnh này đă được đài truyền h́nh SBTN ghi lại qua phần phỏng vấn “Một Ngày Qua Ống Kính” khiến những khán giả ở xa không có dịp đi xem chương tŕnh này lại càng náo nức, mong chờ cho đến ngày phát hành DVD.
Về phần nội dung th́ đây là một chương tŕnh mang thật nhiều ư nghĩa khiến khán giả hiện diện vô cùng cảm động. Có những tiết mục đă làm cho nhiều người rưng rưng nhỏ lệ, khi hồi tưởng lại một thời dĩ văng đă mịt mờ trong tâm trí với những t́nh cảm đau thương buồn vui lẫn lộn, nhưng lại như hiện về rơ ràng trước mắt qua những âm thanh, ánh sáng và màu sắc chan ḥa trên sân khấu Asia ngày hôm nay.

Toàn thể chương tŕnh được tổ chức thật qui mô và tốn kém nhằm vinh danh cho tất cả những chiến sĩ thuộc quân lực Việt Nam Cộng Ḥa năm xưa đă v́ nhiệm vụ, lư tưởng, danh dự và trách nhiệm mà hy sinh cả cuộc đời tươi trẻ với sứ mạng bảo vệ quê hương miền Nam được tự do, thanh b́nh, ngăn cản làn sóng đỏ từ phương Bắc tràn về. Ngoài ra chương tŕnh Asia 58 này cũng đă dành một phần nhỏ để ca ngợi những đóng góp của các hậu duệ của quân lực VNCH đang phục vụ trong quân lực Hoa Kỳ trên khắp các chiến trường nhằm đem lại b́nh yên và tự do cho tất cả chúng ta. V́ vậy, chương tŕnh này không phải chỉ nhằm mục đích tiếc thương một quá khứ hào hùng hay ngậm ngùi cho thân phận người lính VNCH cùng vợ con của họ, mà c̣n gián tiếp nhắc nhở đến những món nợ ân t́nh mà tất cả chúng ta đă vay của họ từ trước mà chưa có dịp đền ơn đáp nghĩa một cách vẹn toàn.
Những mối t́nh “anh tiền tuyến, em hậu phương” của một thời chinh chiến xa xăm, đă được các ca sĩ hàng đầu của Trung Tâm Asia kể lại qua những bài hát thật chọn lọc, dàn dựng thật công phu và ḥa âm thật đặc sắc. Hầu hết những bài hát này đă ghi khắc vào tâm tư t́nh cảm của hàng triệu người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Ngoài ra c̣n có những sáng tác mới lạ được giới thiệu trong chương tŕnh này rất phù hợp với những biến động thời cuộc vừa xăy ra ở quê nhà. Đó cũng là những thông điệp thầm kín mà Trung Tâm Asia và các nghệ sĩ dành cho thế hệ tiếp nối cha ông trong cuộc chiến đấu hào hùng chống cộng sản độc tài đă và đang dày xéo quê hương, đất nước Việt Nam.

Đây không phải là lần đầu tiên Trung Tâm Asia thực hiện một chương tŕnh về “lính” v́ trước kia đă có những băng video “Chiến Tranh Và Ḥa B́nh”, “Những T́nh Khúc Thời Chinh Chiến” và “Người Lính” . Nhưng những chương tŕnh đó đều được thực hiện ở trong phim trường, nghĩa là phải mất hàng tháng trời mới hoàn tất một chương tŕnh và các ca sĩ, diễn viên có thể tŕnh diễn tới lui nhiều lần một tiết mục mà không bị áp lực nặng nề của khán giả chung quanh chi phối. Nhưng ở chương tŕnh Asia 58 mới nhứt này, các nghệ sĩ, nhạc sĩ, chuyên viên kỹ thuật, phụ diễn của Trung Tâm Asia đă trở thành những người lính chiến thật sự trên chiến trường. Sau hơn “ba tháng quân trường” tập luyện kỹ càng cho từng tiết mục, họ đă cùng nhau trổ tài trong hoàn cảnh hết sức căng thẳng trước hàng ngàn khán giả hiện diện trong một xuất hát kéo dài vỏn vẹn có 5 tiếng đồng hồ mà thôi. Đó là những khó khăn của một chương tŕnh live show trực tiếp thu h́nh. Nên chắc chắn là Asia 58 sẽ khác hẳn những băng video về “lính” trước kia, v́ được phối hợp một cách tuyệt vời về kỹ thuật sân khấu và điện ảnh rất sống động và tân kỳ.

Phần quân phục của từng binh chủng trong quân lực VNCH kỳ này cũng được thực hiện thật kỹ lưỡng với những huân chương, phù hiệu rất chính xác. Đó là nhờ sự hỗ trợ và cố vấn nhiệt t́nh của các tổ chức cựu quân nhân vùng Nam California dành cho Trung Tâm Asia. Tất cả các nam ca sĩ đều mặc quân phục của quân lực VNCH, ngay cả MC Việt Dzũng cũng mặc một bộ chiến y rằn ri của Biệt Động Quân với tấm thẻ bài trên cổ từ đầu tới cuối chương tŕnh. Các nữ ca sĩ th́ dĩ nhiên có nhiều kiểu áo quần màu sắc khác nhau, thời trang thay đổi, kín đáo hay không cũng tùy theo từng tiết mục tŕnh diễn. Cô MC Thùy Dương cũng thay đổi nhiều kiểu y phục khác nhau và khả năng ứng đối, giới thiệu chương tŕnh của cô đă tiến bộ rất rơ trong kỳ đại nhạc hội này. Bên cạnh MC kỳ cựu Nam Lộc c̣n có sự xuất hiện của nhà văn quân đội Phan Nhật Nam trong màu áo của binh chủng Nhăy Dù và nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh trong chiếc áo dài tha thướt càng làm tăng lên vẻ trang trọng ở những phần vinh danh cho các chiến sĩ đă hy sinh cho tổ quốc thân yêu. Có lúc khán giả đă tự động đồng loạt đứng lên vỗ tay hoan hô sau những lời phát biểu hoặc một ca khúc nào đó trong chương tŕnh. Sau đó th́ không khí im ĺm trở lại để mọi người cùng lắng nghe từng giai điệu và những âm thanh của một màn tŕnh diễn khác.

Những tiết mục gây thật nhiều ấn tượng:

Trên sân khấu của Asia hôm nay, khán giả đă vô cùng ngạc nhiên khi thấy sừng sững trước mắt ḿnh là khung cảnh rừng núi âm u của miền quê hương yêu dấu với một màu xanh thẫm ngút ngàn trải rộng thật sâu. Như một vùng “rừng lá thấp” nào đó ngày xưa, đă khiến cho khán giả hồi tưởng lại những gian khổ, nhọc nhằn, vất vả, hiểm nguy của đời lính nơi chiến trường ngày đêm kề cận với tử thần. Ở một góc sân khấu là một vọng gác nằm trơ vơ hiu quạnh của một tiền đồn đèo heo hút gió nào đó. Những ánh đèn màu thay đổi liên tục suốt chương tŕnh, những âm thanh rền vang của súng đạn sa trường với khói lửa đạn bom như đưa mọi người trở về quá khứ của thời binh đao, trận mạc trên đất nước Việt Nam của thời điểm bốn mươi năm về trước. Những h́nh ảnh này cũng đă gây thật nhiều ấn tượng cho thế hệ cháu con đă được sinh ra và trưởng thành nơi hải ngoại, chỉ biết một cách rất mơ hồ về thời chinh chiến Việt Nam qua phim ảnh thực hiện sau này và những lời kể chuyện của thân nhân trong gia đ́nh.

Khai mạc chương tŕnh là một liên khúc với những tiếng hát được nhiều người ưa thích qua những lời ca đă khắc sâu vào tâm trí của chúng ta. Ánh đèn sân khấu bừng lên với sự xuất hiện của Băng Tâm trong chiếc áo ngắn theo kiểu áo bà ba cải tiến được cắt may thật khéo, trong tay cầm lá thư và bắt đầu cất lên những lời hát “Gửi Về Anh”. Sau đó là ca sĩ Y Phụng cũng mặc một kiểu áo ngắn xinh đẹp tiến ra tiếp lời với Băng Tâm ở đoạn sau của bài hát. Cả hai ca sĩ này đă tŕnh diễn rất nhịp nhàng để mở đầu cho một kết hợp khá lạ lùng với Lâm Nhật Tiến và Đặng Thế Luân qua bài hát quen thuộc nhưng tràn đầy ư nghĩa là “Nó và Tôi”. Những người yêu bé nhỏ ở hậu phương lại có cùng một câu hỏi “Giờ Này Anh Ở Đâu?” với Như Quỳnh, Ngọc Huyền và Nguyễn Hồng Nhung. Cuối cùng là Thiên Kim và các nghệ sĩ nêu trên đă kết thúc tiết mục mở màn bằng bài hát “Có Những Người Anh” của Vơ Đức Hảo để vinh danh tất cả các chiến sĩ thuộc QLVNCH. Vô cùng cảm động v́ những lời hát “Cám Ơn Anh” này và thật bất ngờ ngạc nhiên khi thấy lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ to lớn từ trên cao hạ xuống để kết thúc cho liên khúc mở màn, nên tất cả khán giả đă đồng loạt tự động đứng lên vỗ tay tán thưởng vang dội ở hí trường lộng lẫy này.

Sau đó là phần tŕnh diễn liên tục những t́nh khúc thời chinh chiến với nhiều bài hát quen thuộc đă được rất nhiều người yêu mến và gởi lời yêu cầu Trung Tâm Asia thực hiện trong thời gian qua. Có thể nói những tác giả tiêu biểu nhứt của loại nhạc t́nh cảm “hậu phương, tiền tuyến” mang đầy chất lăng mạn, chất ngất thương yêu, và mơ về một quê hương đất nước thanh b́nh, ấm no hạnh phúc là nhóm Lê Minh Bằng, nhạc sĩ Trúc Phương và ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Đó là những bài hát đă được các giọng ca trẻ trung của những thế hệ sau này cất lên như Y Phụng với “Viết Từ KBC”, Đan Nguyên với “Kẻ Ở Miền Xa”, Diệp Thanh Thanh với “Tàu Đêm Năm Cũ”, Ngọc Huyền với “Thương Vùng Hỏa Tuyến”, Băng Tâm với “Giấc Ngủ Cô Đơn”, Nguyên Khang và Ngọc Hạ với “Chân Trời Tím”. Đây là lần thứ ba ca sĩ trẻ Đan Nguyên xuất hiện ở sân khấu Asia và cũng là lần thứ ba chàng thanh niên này hát một bài hát khác của cùng một tác giả Trúc Phương (trước đó là “Thói Đời” và “24 Giờ Phép”) với những lời ca như sau:

“Tôi ở miền xa …trời quen đất lạ
Nhiều Đông lắm Hạ ..nối tiếp đi qua
Thiếu bóng đàn bà …
Đời không dám tới …
Đành viết cho tôi…nhạc t́nh sao lắm lời..
Đơn vị thường khi ... nằm trên đất giặc
Thèm trong hăi hùng ...tiếng hát môi em
Tiếng hát ngọt mềm ...người nâng lính khổ
Viết bởi câu ca ..v́ tiền hay thiết tha..
(Kẻ Ở Miền Xa – Trúc Phương)

Những bài hát của các tác giả khác cũng đă được chọn lựa rất thích hợp cho từng tiếng hát và gây nhiều ngạc nhiên thích thú cho khán giả như “T́nh Lính” với tiếng hát Thùy Hương đơn ca và “Lính Mà Em” với bộ ba Evan, Spencer, James. “T́nh Ca Người Đi Biển” với Đoàn Phi và Ánh Minh song ca. Đây là những bài hát kích động vui nhộn được giao phó cho các ca sĩ trẻ với những bước nhảy nhịp nhàng bên cạnh các vũ công mặc những kiểu quần áo thời trang thật hấp dẫn. Riêng bộ ba Trish, Cardin và Doanh Doanh th́ nhún nhẩy với bài hát tiếng Anh “Tell Me Why” theo như sở trường của họ và cũng để làm thay đổi không khí khá trầm buồn của những bài t́nh ca thời chiến.

Có lẽ phần tŕnh diễn của các ca sĩ đă từng giúp vui cho các chiến sĩ ở tiền đồn cách đây gần 40 năm là những tiết mục khiến cho các bậc cha ông của chúng ta cảm động nhiều nhứt. Đó là Thanh Thúy với “Bóng Nhỏ Đường Chiều”, Phương Dung và Trung Chỉnh với “Thiệp Hồng Anh Viết Tên Em”, Ngọc Minh và Thanh Phong với “Anh Về Với Em”, Tam Phương với “Qua Cơn Mê” và “Cho Tôi Được Một Lần”, Thanh Lan và Nhật Trường (ghép tiếng) với “Người Chết Trở Về”. Những giọng ca đó đă từng gắn liền với những bài hát lẫy lừng của một thời chinh chiến xa xưa. Giờ đây họ diễn tả lại một lần nữa trên sân khấu Asia qua phần ḥa âm mới lạ, điêu luyện của dàn nhạc Asia, của kỹ thuật âm thanh, ánh sáng tân kỳ đă khiến cho khán giả bồi hồi xúc động và đáp lại bằng những tràng vỗ tay tưởng chừng không dứt. Thêm một lần nữa, tiếng hát liêu trai của Thanh Thúy cất lên nghe rất năo nùng:

“Ai biết ai v́ đời cùng ngược xuôi chung lối ṃn
Ngày anh hai mươi tuổi, em đôi tám trăng tṛn
Đêm lạnh c̣n chăn đơn gối lẻ
Chưa buồn khi canh vắng khép đôi mi
Bao thương nhớ từ độ anh vui bước quân hành
Nửa năm anh viết lá thư xanh bảo rằng
”Sẽ về phố phường …”
Mừng rơi nước mắt ướt mi người tôi thương
(Bóng Nhỏ Đường Chiều – Trúc Phương)

Một thế hệ ca sĩ khác thành danh ở hải ngoại sau này đă tŕnh diễn những ca khúc của thời chinh chiến ngày xưa theo chất giọng riêng biệt của họ cũng làm cho khán giả thả hồn ḿnh vào từng lời ca tiếng hát như Vũ Khanh với “Phút Giao Mùa”, Don Hồ với “Nhớ Thành Đô”, Tuấn Vũ và Mỹ Huyền với “Kể Chuyện Trong Đêm”, Thiên Kim với “Những Người Không Chết”, Lâm Thúy Vân với “T́m Anh”, Y Phương với “Các Anh Đi”, Tường Nguyên vàTường Khuê với “Ngày Sau Sẽ Ra Sao?”. Nguyễn Hồng Nhung đă khiến nhiều người ngạc nhiên khi đơn ca bài hát “Người T́nh Không Chân Dung” là một bài thuộc loại “nặng kư”, khó ai có thể ca diễn được cho hay như những tên tuổi vang bóng trước kia. Lại như Quốc Khanh với phần tŕnh diễn “Một Chuyến Bay Đêm” cũng là một bài hát rất quen thuộc từ bốn chục năm nay, nhưng được Quốc Khanh diễn tả lại theo phong cách mới của riêng anh. Hy vọng những khán giả khó tính sẽ ngạc nhiên và thích thú thưởng thức những “bài hát cũ, giọng ca mới” này.

Chương tŕnh Asia 58 này cũng đă giới thiệu hai tiếng hát mới là Bích Vân và Hồ Hoàng Yến. Cả hai ca sĩ này đều được giao phó cho hai bài hát rất nổi tiếng của cố nhạc sĩ Phạm Đ́nh Chương là “Anh Đi Chiến Dịch” và “Đêm Cuối Cùng”. Cũng như các ca sĩ trẻ trung khác được sinh ra và lớn lên sau khi chiến tranh ở Việt Nam đă hoàn toàn chấm dứt, họ phải đặt hết tâm tư t́nh cảm vào nội dung bài hát và t́m hiểu thật cặn kẻ từng lời ca th́ mới diễn tả hết những nét hay đẹp, đầy t́nh cảm của những bài hát này. Chắc chắn khi ra DVD, có nhiều nhận xét rất thú vị của khán giả khắp nơi sẽ dành cho những tiếng hát trẻ được sinh ra thời hậu chiến hay ở hải ngoại sau này khi họ tŕnh diễn những bài hát của các bậc tiền bối ngày xưa.

V́ có quá nhiều bài hát chọn lọc cho một chủ đề (36 bài hát) và số lượng ca sĩ hùng hậu lên đến 45 người, nên có rất nhiều tiết mục hoặc hoạt cảnh sân khấu phải ghép hai ca sĩ tŕnh diễn liên tiếp với nhau, mỗi người hát một bài. Nhưng việc ghép hai ca sĩ cũng khá ḥa hợp về sắc vóc, tuổi tác và nhạc điệu nên việc này không làm cho khán giả khó chịu hoặc bực ḿnh. Trong đó có những ca sĩ hát chung với nhau một tiết mục hoặc song ca rất ăn khớp với nhau được sắp xếp rất hợp t́nh hợp lư như Băng Tâm và Đặng Thế Luân, Nguyên Khang và Ngọc Hạ, Như Quỳnh và Lâm Nhật Tiến, Phương Dung và Trung Chỉnh, Ngọc Minh và Thanh Phong, Mỹ Huyền và Tuấn Vũ, Asia 3 và Thùy Hương, Ánh Minh và Đoàn Phi, Phương Thảo và Ngọc Lễ, Y Phụng và Đan Nguyên…v..v..

Trong không khí đầy t́nh người, thật thiết tha và cảm động với những bài hát quen thuộc có vui, có buồn ngày xưa của buổi đại nhạc hội, khán giả lại được thưởng thức một màn tŕnh diễn thời trang rất bất ngờ với chủ đề “Màu Áo Hoa Rừng” . Đó là những chiếc áo dài được nhà vẽ kiểu thiết kế thời trang Thái Nguyễn dành đặc biệt cho chương tŕnh Asia 58 này. Những cô người mẫu thướt tha dịu dàng trong những chiếc áo dài cải tiến đủ kiểu, màu sắc mới lạ với những bông hoa của núi rừng Việt Nam là Ánh Minh, Băng Tâm, Trish Thùy Trang, Thùy Hương, Diệp Thanh Thanh, Thiên Kim, Như Quỳnh, Nguyễn Hồng Nhung, Y Phụng, Y Phương. Mười cô người mẫu, mỗi người mỗi vẻ, cùng phụ họa cho tiếng hát của ca sĩ trẻ Lê Nguyên qua liên khúc “Thương Anh” và “Tôi Nhớ Tên Anh”. Thật ngạc nhiên khi một ḿnh ca sĩ Lê Nguyên lại được hát tới hai bài hát và anh cũng là một chiến sĩ thật may mắn đang tung hoành giữa mười người đẹp với sắc nước hương trời. Một tiết mục giải trí nhẹ nhàng và khá đặc biệt trong một chương tŕnh hoàn toàn về “lính”.

Tuy không có phần tŕnh diễn cổ nhạc hay cải lương, nhưng không thể thiếu một màn kịch ngắn của gia đ́nh nghệ sĩ Quang Minh, Hồng Đào và hai cô con gái của họ là Vicky và bé Tí Tẹo với những đối thoại buồn vui lẫn lộn. Nhưng qua vở kịch “Quê Hương” này, khán giả đă có thể thấy rơ những đức tính cao quư của những người hiền phụ Việt Nam khi người chồng đă hy sinh nơi chiến trường từ lâu, mà họ vẫn ấp ủ hoài h́nh bóng thân yêu thời trẻ và ngại ngần khi t́m đến một t́nh yêu mới ở tuổi xế chiều.

Cũng qua chương tŕnh này, khán giả có dịp ôn lại những bản t́nh ca của giai đoạn hai mươi năm chiến tranh khốc liệt nhứt trên quê hương và lại thấy rơ ràng tính nhân bản rất dân chủ ở miền Nam (hay quốc gia VNCH) qua việc các nhạc sĩ được tự do sáng tác những bài hát yêu đương rất lăng mạn, t́nh người. Trái ngược lại, ở miền Bắc cộng sản những bài hát thuộc loại “nhạc vàng” đều bị cấm tuyệt để dành chỗ cho những lời ca sắt máu, kêu gọi lớp người trẻ tuổi lên đường “xẽ dọc Trường Sơn” để nhuộm đỏ miền Nam theo tham vọng điên cuồng của các lănh tụ nhập cảng về nước những chủ thuyết ngoại lai. Nhiều bài hát trong chương tŕnh Asia 58 này đă bị cấm tŕnh diễn trong nước từ hơn 30 năm nay.
Những “Lá Thư Từ Chiến Trường”:

Ngoài ra, chủ đề của Asia 58 đă xoáy vào một khía cạnh rất trung thực của người lính chiến VNCH ngày xưa. Ra đi từ thuở đôi mươi, xa gia đ́nh và tất cả những người thân yêu, đối diện và kề cận với những cái chết ở ch́ến trường, những chiến sĩ này chỉ có thể viết ra tâm sự của họ qua những “lá thư từ chiến trường” để gởi về thân nhân, bè bạn ở quê nhà. Ngược lại, trong lúc những người lính đang cận kề cái chết nơi tuyến đầu lửa khói th́ ở chốn hậu phương yên b́nh, có những người hiền phụ hoặc các “em gái hậu phương” đang ngồi nắn nót viết từng lá thư cho chồng hay người yêu hoặc những người anh trai và mong đợi từng lá thư gởi về từ chiến tuyến.

Đặc biệt là thời gian vừa qua Trung Tâm Asia đă nhận được hàng trăm lá thư (nguyên thủy “origin” được viết từ chiến trường VN ngày xưa) do quư khán giả khắp nơi trong cũng như ngoài nước gởi về TT Asia để đóng góp phần tài liệu sống động cho chương tŕnh Asia 58. Có những lá thư được ǵn giữ từ những ngày đầu cuộc chiến trải qua hơn 50 năm, giấy mực đă hoen ố phai màu. Có những lá thư của những thương phế binh quân lực VNCH gởi ra từ chốn quê nhà xa xăm. Có những lá thư của những chiến sĩ đă hy sinh và được gia đ́nh cất giữ như những kỷ vật vô cùng quư giá. Có những lá thư của các ca sĩ lừng danh như Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh đă từng viết gởi cho các chiến sĩ nơi tiền đồn của hơn 40 năm về trước cũng được Trung Tâm Asia sưu tầm để dành riêng cho DVD Asia 58 này. Khán giả đă bồi hồi xúc động khi nghe MC đọc một lá thư viết ngày 20 tháng 1 năm 1963 của sĩ quan hải quân Hoàng Đ́nh Báu như sau:

KBC 3328 ngày 20-1-1963.

(KBC tức Khu Bưu Chính, một loại hộp thơ quân đội mang bí số zip code)

Em yêu,

Sáng nay tàu anh neo ngoài cửa biển Thuận An. Anh đang đứng trên đài chỉ huy đặt ống nḥm nh́n về rặng liễu xanh bao quanh gịng nước phá Tam Giang êm đềm chảy để cố t́m lại những kỷ niệm chúng ḿnh quen nhau. Mới đó mà đă hai năm xa cách rồi phải không em? .

Biển là người t́nh muôn thuở của thế gian, nên khi bước chân vào lính biển anh có cảm giác vừa lâng lâng hạnh phúc, vừa hồi hộp như lần đầu tiên nắm lấy tay em. Biển cũng mênh mông và sâu thẳm, ác độc khi nổi cơn thịnh nộ nhưng biển cũng là chứng nhân muôn đời của bao ước hẹn thủy chung và của t́nh yêu mà anh đă dành trọn cho em.....”

Ôi những lời thiết tha, tŕu mến nhưng cũng thật là lăng mạn giữa khung cảnh trời nước mênh mang của một sĩ quan với nhiều trách nhiệm mang nặng trên vai nhưng không quên được người yêu ở quê nhà. C̣n những người em gái hậu phương hay những cô ca sĩ đem tiếng hát giúp vui cho những anh chiến sĩ th́ cũng có những lời chân t́nh làm ấm ḷng anh lính chiến như sau:

“Các anh chiến sĩ của Phương Dung,

Mỗi lần đến hát ở Đài phát thanh Quân Đội, Phương vẫn có cảm tưởng rằng Phương đang hát cho các anh nghe. Từ mỗi lời nhạc Phương muốn gởi gấm đến cho những trận tuyến xa xôi, những cứ điểm trên đèo heo hút gió. Phương tưởng tượng khi các anh họp mặt hay các anh lẻ loi một ḿnh, ngồi nghe tiếng hát từ xa vọng về, chắc cũng gợi lại cho các anh đôi kỷ niệm hay làm quên đi những phút gian nguy. Được như thế, ḷng của Phương cũng thấy thanh thản yên vui.

Người con gái đêm đêm hát dưới ánh đèn sân khấu, phải chăng đă là một mối ràng buộc với người trai đi theo tiếng gọi của sông núi, v́ những người trai đó đă quên thân ḿnh cho những người con gái được sống yên ổn.

….Phương chỉ biết cầu nguyện cho sức khoẻ của các anh và mong cho đất nước sớm được yên b́nh.”

PHƯƠNG DUNG

C̣n người chiến binh nơi quân trường đă gởi lời tâm sự về cho người yêu bé nhỏ ở hậu phương như sau: (xem h́nh)

Ngoài ra c̣n có những lá thư mới nhứt được gởi từ chiến trường Iraq và Afganistan, những lá thư emails của các chiến sĩ mang gịng máu Lạc Hồng 100% nhưng được sinh ra và lớn lên tại Mỹ và đang phục vụ cho quân lực Hoa Kỳ cũng góp phần đóng góp vào chương tŕnh Asia 58 bằng những cảm nghĩ vui buồn của họ.
Những phần tŕnh chiếu tài liệu và vinh danh chiến sĩ:

Nhận xét một cách tổng quát th́ các tiết mục ca nhạc kịch, chiếm khoảng 80 phần trăm chương tŕnh, 20% những phần c̣n lại rất quan trọng và khiến cho buổi đại nhạc hội hôm nay thêm phần trang trọng là việc vinh danh những vị danh tướng tài ba lỗi lạc nhứt của quân lực VNCH. Đó là các vị tướng đều đă hy sinh nơi chiến trường hoặc ra người thiên cổ như tướng Đỗ Cao Trí, Nguyễn Viết Thanh, Lê Văn Hưng và Ngô Quang Trưởng.

Hai vị khách mời danh dự để làm MC là nhà văn Phan Nhật Nam và nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đă góp phần giới thiệu, tâm t́nh và nêu lên cảm nghĩ của họ (là hai thế hệ khác nhau) về công lao, sự nghiệp của những vị tướng này. Xen kẽ với những tiết mục văn nghệ vui buồn là những đoạn phim tài liệu vô cùng quư báu về các vị danh tướng lẫy lừng đă khiến cho khán giả bồi hồi xúc động khi được dịp xem lại những h́nh ảnh sống động của một thời chinh chiến ngày xưa.
Đặc biệt nhứt là phần vinh danh và giới thiệu một nữ Đại Úy Phi Công F-18 tên là Elizabeth Phạm hiện đang phục vụ cho quân lực Hoa Kỳ. Nhiều khán giả đă nhỏ lệ v́ vô cùng cảm động và hănh diện khi chứng kiến tận mắt món quà lưu niệm và lá thư của nữ Đại Úy Phi Công Elizabeth Phạm từ chiến trường Falluhah, Iraq gởi về tặng Trung Tâm Asia. Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đă giới thiệu như sau: “Đại Úy Phi Công Elizabeth Phạm là một thiếu nữ quả cảm và cô cũng là con gái của một cựu sĩ quan QLVNCH”. Sau đó khán giả đă được xem video clip với những h́nh ảnh hào hùng của người thiếu nữ này trên chiến trường Iraq.
Qua đoạn phim video clip tŕnh chiếu, khán giả đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi được biết thêm rất nhiều điều thú vị về cô gái mang ḍng máu Việt Nam 100% này. Đại Úy Elizabeth Phạm là một trong số các nữ phi công đầu tiên và duy nhứt của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, thuộc Không Đoàn ‘Bats 242’ Yểm Trợ và Tấn Công Dưới Mọi Thời Tiết. Đơn vị của cô gồm những Phi Công đă được chọn lọc từ các thành phần ưu tú nhứt của Quân Lực Hoa Kỳ. Cô đă gia nhập quân đội sau khi tốt nghiệp Đại Học San Diego, được huấn luyện phi hành với thành tích xuất sắc và đă được chọn làm Nữ Phi Công đầu tiên của US Marine điều khiển phóng pháo cơ siêu thanh F-18 Hornet vào năm 2003.

Rất nhiều lần chiếc oanh tạc cơ F-18 của Elizabeth (trị giá 35 triệu dollars, bay với vận tốc 2,400 km/giờ để lao xuống ném bom ở Iraq) trở về căn cứ với hàng chục lỗ đạn xuyên thủng thân máy bay, c̣n 2 cánh th́ nứt ra từng mănh gần như sắp găy ĺa. Từ đó cô đă có biệt danh là “The Miracle Woman” khi an toàn “trở về từ cơi chết”.

Tuy phần giới thiệu này rất trang trọng và gây nhiều ấn tượng cho các khán giả thuộc nhiều thế hệ khác nhau và tạo được niềm hănh diện về con cháu Bà Trưng, Bà Triệu với ư chí quật cường và ḷng dũng cảm, nhưng sau đó màn đối thoại rất tiếu lâm của các MC Nam Lộc và Dương Nguyệt Ánh lại làm cho khán giả được dịp bật cười với những lư luận khá khôi hài và ngộ nghĩnh. Cô Dương Nguyệt Ánh nói: “Kính thưa quư vị, Nguyệt Ánh là người “chế bom”, c̣n cô Elizabeth Phạm là người “ném bom”, như vậy th́ anh Nam Lộc ở đây lại là người “ôm bom” phải không quư vị? (cười). Lời của MC Dương Nguyệt Ánh đă làm cho không khí hội trường được thêm phần sôi động với những tràng vỗ tay của khán giả trước khi chuyển qua phần tŕnh diễn kế tiếp.

Những sáng tác mới của chương tŕnh này:

Ở mỗi chương tŕnh Asia, ngoài những bài hát được ưa chuộng từ hàng chục năm qua, th́ lại thường có vài bài hát mới vừa sáng tác và rất phù hợp với t́nh h́nh thời sự liên quan đến đến chúng ta và được nhiều người chú ư trong những tháng gần đây. Nhạc sĩ Anh Bằng đă sáng tác một bài hát tựa đề “Tiếc Thương” phổ nhạc từ lời thơ của thi sĩ Cao Tần tức Lê Tất Điều. Bài hát có nội dung nói về một pho tượng đă bị bắn nát do ḷng thù oán của con người và kể chuyện về bức tượng “Thương Tiếc” đă bị giựt sập và đem đi mất tích khỏi khu nghĩa trang quân đội ở Biên Ḥa sau ngày cộng sản chiếm được miền Nam. Có những câu hát đă làm khán giả rưng rưng nước mắt qua sự diễn tả của hai ca sĩ tài danh là Như Quỳnh và Lâm Nhật Tiến như “Viên đạn nào thù oán, bắn nát pho tượng này, giở từng trang lịch sử, run mười đầu ngón tay…”. Đây là lần thứ ba Như Quỳnh trở lại hát ở Trung Tâm Asia cũng với một bài hát hoàn toàn mới lạ (trước đó là “Mưa Buồn” và “Khóc Mẹ Dân Oan”). Thêm một lần nữa bài hát này đă làm nhiều người xúc động, khi xót thương cho những người chiến sĩ quân lực VNCH đă hy sinh đền nợ nước mà cũng chưa được yên thân nơi nghĩa trang quân đội ở quê nhà.
Đôi song ca Phương Thảo, Ngọc Lễ cũng tŕnh bày một sáng tác mới là “Bài Thơ Cho Con” được nhạc sĩ Ngọc Lễ phổ nhạc từ một bài thơ của thi sĩ Duy An Đông, nhằm nói lên những tâm sự của người cha từ nơi chiến trường dành cho đứa con ở quê nhà. Có thể nói đôi uyên ương Phương Thảo, Ngọc Lễ đă có những phong cách tŕnh diễn riêng của họ như là những ca sĩ thuộc thế hệ trưởng thành sau thời chinh chiến. Nhưng hy vọng ở các chương tŕnh sau này, khán giả sẽ có dịp thưởng thức tài nghệ hát solo một ḿnh của Phương Thảo với nhiều loại nhạc mang giai điệu và tiết tấu khác nhau nhằm tạo nên sự mới mẻ và cho thấy cô có thể phát triển thêm tài năng sẵn có và kinh nghiệm tích luỹ từ nhiều năm qua.
Nhưng đặc sắc nhứt phải nói là một bài hát hoàn toàn mới lạ do nhạc sĩ Trúc Hồ vừa sáng tác và cũng để dành riêng cho toàn thể nghệ sĩ hợp ca trong màn kết thúc cho chương tŕnh đại nhạc hội “Lá Thư Từ Chiến Trường” hôm nay. Bài hát này có tựa đề là “Đáp Lời Sông Núi”. Do đâu mà nhạc sĩ Trúc Hồ lại năy ra ư tưởng để viết những lời ca và giai điệu hùng tráng này?

Theo những lời đối thoại của các MC Nam Lộc và Dương Nguyệt Ánh trên sân khấu Asia, khán giả đă được biết là sau những lần nghe tin các cuộc biểu t́nh rầm rộ từ trong nước cũng như ở hải ngoại của đồng bào chúng ta nhằm phản đối việc Trung Cộng ngang nhiên chiếm đóng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cùng với việc nhà cầm quyền cộng sản VN khiếp nhược trước việc này, cộng với những sự kiện lịch sử hào hùng của hải quân VNCH trong cuộc chiến chống Trung Cộng xâm lăng hải đảo Hoàng Sa hồi năm 1974 đă khiến cho nhạc sĩ Trúc Hồ vô cùng xúc động mà sáng tác nên bài hát “Đáp Lời Sông Núi”. Nội dung của bài hát nhằm kêu gọi mọi người đứng lên bảo vệ giang sơn và cùng nhau giành lại từng tấc đất, từng bờ biển, cây cối, phố phường do cha ông xây dựng vun bồi từ xưa để khỏi rơi vào tay giặc ngoại xâm phương Bắc.

Trước khi các ca sĩ hợp ca bài hát này, một đoạn phim video clip đă được tŕnh chiếu để khán giả có dịp nh́n lại trận hải chiến đầu tiên và duy nhứt mà hải quân VNCH đă chống lại quân xâm lược Trung Cộng vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 tại quần đảo Hoàng Sa, lúc đó đang thuộc về chủ quyền của quốc gia VNCH. Đoạn phim này cũng nhằm vinh danh cố Hải Quân Trung Tá Ngụy Văn Thà, người đă liều ḿnh ở lại hy sinh tuẫn tiết chết theo chiến hạm Nhật Tảo HQ 10 mà ông là hạm trưởng, để các chiến sĩ hải quân dưới quyền có thể vượt ṿng vây của Trung Cộng mà thoát về đất liền. Đó là sự hy sinh vô cùng cao cả của người hạm trưởng và các chiến sĩ hải quân VNCH đă v́ danh dự và trách nhiệm mà bỏ ḿnh dưới làn đạn của Trung Cộng trong lịch sử cận đại nhưng rất hào hùng này mà ít người biết được và chú ư đến.

Đại nhạc hội kết thúc với phần tŕnh diễn thật trang nghiêm và vô cùng ấn tượng khi tất cả các nữ ca sĩ đều mặc áo dài toàn một màu trắng, cùng xếp hàng thành chữ V trước một tấm bia đá với lời ghi khắc “Tổ Quốc Ghi Ơn”, c̣n các nam ca sĩ th́ đứng xếp hàng ở phía sau lưng. Khán giả đă chăm chú, lắng nghe từng lời ca của bài hợp ca rất hùng tráng và mang thật nhiều ư nghĩa này do tất cả các ca sĩ của Trung Tâm Asia cùng nhau cất tiếng hát cho tổ quốc, cho quê hương, cho hồn thiêng sông núi và cho tất cả những người chúng ta cùng chung một ṇi giống Tiên Rồng.

ĐÁP LỜI SÔNG NÚI

Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
Đây muôn triệu con tim, đây muôn triệu khối óc,
Cùng gịng máu Việt Nam.
Đây Hưng Đạo Vương, đây Lư Lê Trần,
Bốn ngàn năm, chưa một lần khuất phục ngoại xâm.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
Quyết bảo vệ giang san, từng tấc đất, từng cây cỏ,
Từng phố phường, từng con đường, từng bờ biển quê hương.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san ta thà chết cho quê hương.
Đây muôn triệu con tim, đây muôn triệu khối óc,
Cùng gịng máu Việt Nam.
Đây Hai Bà Trưng, đây Lư Lê Trần,
Bốn ngàn năm chưa một lần khuất phục ngoại xâm.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi.
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
VIỆT NAM, VIỆT NAM, VIỆT NAM .....
(Trúc Hồ ©2008 )

Chương tŕnh đại nhạc hội đă bế mạc sau năm tiếng đồng hồ, nhưng nhiều khán giả vẫn chưa muốn ra về, nhiều người vẫn muốn tâm sự với những bạn bè, người thân ở chung quanh v́ những cảm xúc, h́nh ảnh ngập tràn trong tâm trí chưa thể xóa nḥa. Có lẽ họ phải đợi khi DVD Asia 58 phát hành để có dịp xem lại nhiều lần các tiết mục tŕnh diễn và biết đâu có thể thấy lại chính ḿnh trong đó ở hàng ghế khán giả đang sụt sùi nước mắt hay hân hoan vỗ tay tán thưởng một tiết mục nào đó của chương tŕnh Asia 58.

*Những đoạn phim tài liệu video clip đươc tŕnh chiếu để vinh danh:

-Cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí (1929-1971)
-Cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh (1931-1970)
-Cố Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng (1933-1975)
-Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (1929-2007)
-Cố Hải Quân Trung Tá Ngụy Văn Thà (1943-1974) và trận chiến Hoàng Sa 1974
-Nữ Đại Úy Phi Công Elizabeth Phạm và chiến trường Iraq.
*Những ca sĩ được phỏng vấn và tâm t́nh với khán giả về chủ đề hôm nay:
-Thanh Thúy
-Phương Hồng Quế
-Ngọc Minh
*Danh sách chính xác các bài hát và ca sĩ tŕnh bày (Full Song list) :

ASIA 58 : LÁ THƯ TỪ CHIẾN TRƯỜNG
Long Beach, California: Saturday, March 22, 2008

(1). LIÊN KHÚC: Gửi Về Anh (Đỗ Thu) : Băng Tâm & Y Phụng / Nó và Tôi (Song Ngọc - Vọng Châu) : Lâm Nhật Tiến & Đặng Thế Luân / Giờ Này Anh Ở Đâu (Khánh Băng) : Như Quỳnh & Nguyễn Hồng Nhung & Ngọc Huyền / Có Những Người Anh (Vơ Đức Hảo) : Thiên Kim cùng toàn thể nghệ sĩ.

(2). ANH ĐI CHIẾN DỊCH (Phạm Đ́nh Chương) : Bích Vân / CÁC ANH ĐI (Văn Phụng) : Y Phương.

(3). VIẾT TỪ KBC (Lê Minh Bằng) : Y Phụng / KẺ Ở MIỀN XA (Trúc Phương) : Đan Nguyên.

(4). T̀NH CA NGƯỜI ĐI BIỂN (Trường Hải) : Ánh Minh & Đoàn Phi.

(5). TÀU ĐÊM NĂM CŨ (Trúc Phương) : Diệp Thanh Thanh / NHỚ THÀNH ĐÔ (Hoàng Thi Thơ) : Don Hồ.

(6). CHÂN TRỜI TÍM (Trần Thiện Thanh) : Ngọc Hạ & Nguyên Khang

(7). THƯƠNG VỀ VÙNG HỎA TUYẾN (Lê Minh Bằng) : Ngọc Huyền / T̀M ANH (Hoàng Thi Thơ) : Lâm Thúy Vân.
(8). LÍNH MÀ EM (Anh Thy) : Evan & Spencer & James / T̀NH LÍNH (Y Vân) : Thùy Hương.
(9). BÓNG NHỎ ĐƯỜNG CHIỀU (Trúc Phương) : Thanh Thúy / PHÚT GIAO MÙA (Trần Thiện Thanh) : Vũ Khanh.

(10). ĐÊM CUỐI CÙNG (Phạm Đ́nh Chương) : Hồ Hoàn Yến / MỘT CHUYẾN BAY ĐÊM (Song Ngọc - Hoài Linh) : Quốc Khanh.

(11). Liên khúc THƯƠNG ANH (Y Vân) / TÔI NHỚ TÊN ANH (Hoàng Thi Thơ) : Lê Nguyên cùng phần phụ diễn của: Ánh Minh, Như Quỳnh, Diệp Thanh Thanh, Thiên Kim, Băng Tâm, Trish Thùy Trang, Thùy Hương, Y Phương, Y Phụng và Nguyễn Hồng Nhung, qua màn tŕnh diễn thời trang “Mầu Áo Hoa Rừng” do nhà thiết kế Thái Nguyễn thực hiện.

(12). ANH VỀ VỚI EM (Trần Thiện Thanh) : Ngọc Minh & Thanh Phong.

(13). NGƯỜI T̀NH KHÔNG CHÂN DUNG (Hoàng Trọng) : Nguyễn Hồng Nhung & NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CHẾT (Phạm Thế Mỹ) : Thiên Kim.

(14). QUA CƠN MÊ (Trần Trịnh - Nhật Ngân) / CHO TÔI ĐƯỢC MỘT LẦN (Bảo Thu) : Tam Phương (Phương Hoài Tâm, P. Hồng Quế, P. Hồng Ngọc)

(15). GIẤC NGỦ CÔ ĐƠN (Lê Minh Bằng) : Băng Tâm / NHỚ NHAU HOÀI (Anh Việt Thu) : Đặng Thế Luân.

(16). KỊCH NGẮN: “QUÊ HƯƠNG” : Quang Minh, Hồng Đào, Vicky & Bé Tí Tẹo.
(17). THIỆP HỒNG ANH VIẾT TÊN EM (Song Ngọc - Hoài Linh) : Phương Dung & Trung Chỉnh.
(18). NGƯỜI CHẾT TRỞ VỀ (Trần Thiện Thanh) : Nhật Trường & Thanh Lan.

(19). NGÀY SAU SẼ RA SAO (Vân Tùng) : Tường Nguyên & Tường Khuê.

(20). KỂ CHUYỆN TRONG ĐÊM (Hoàng Trang) : Tuấn Vũ & Mỹ Huyền.

(21). TIẾC THƯƠNG (Anh Bằng phổ thơ Cao Tần) : Lâm Nhật Tiến & Như Quỳnh.

(22). BÀI THƠ CHO CON (Thơ: Duy An Đông / Ngọc Lễ phổ nhạc) : Phương Thảo & Ngọc Lễ.

(23). TELL ME WHY : Trish & Cardin & Doanh Doanh.

(24). ĐÁP LỜI SÔNG NÚI (Trúc Hồ) : Toàn thể nghệ sĩ hiện diện hợp ca.

*Xin xem thêm video-clips phóng sự “Một Ngày Qua Ống Kính” của SB-TN ở các links sau đây:
1.Các diễn viên tập dợt cho một màn hoạt cảnh (Bích Châu phỏng vấn):
http://www.sbtn.net/?catid=161&newsid=26004&pid=157
2.Bên trong sân khấu trước ngày tŕnh diễn (Giáng Ngọc phỏng vấn):
http://www.sbtn.net/?catid=161&newsid=26047&pid=157
3. Cảm tưởng của khán giả khi đến xem “Lá Thư Từ Chiến Trường”
4. Cộng Sản Việt Nam đe dọa sẽ trừng phạt những người phổ biến Asia 58 ở Việt Nam qua phóng sự ngắn từ trong nước gởi ra (tin SBTN):
http://www.sbtn.net/?catid=161&newsid=26161&pid=157

lyhuonga.jpg