
|

|
|
HÀNH TR̀NH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG
Nguyên
tác: Spalding. Bản dịch: Nguyên Phong. Nhà xuất bản Người Việt ấn hành.
I.
Phần Mở Đầu
Trong cuộc sống vội vă, quay cuồng hiện
tại, nhiều người đă mất đi niềm tin. Họ quan niệm rằng sống
để thụ hưởng, thỏa măn các nhu cầu vật chất v́ chết là hết.
Không có Thượng Đế hay một quyền năng siêu phàm ǵ hết. Cách đây không lâu, một
tờ báo lớn tại Hoa Kỳ đă tuyên bố: “Thượng Đế đă chết.”
Tác giả bài báo công khai thách đố mọi người đưa ra bằng chứng rằng
Thượng Đế c̣n sống. Dĩ nhiên, bài báo đó tạo nên một cuộc bàn căi rất
sôi nổi. Một nhà Thiên văn Học tại trung tâm nghiên cứu Palomar cũng cho biết:
“Tôi đă dùng kính viễn vọng tối tân nhất, có thể quan sát các tinh tú xa trái đất
hàng triệu năm ánh sáng mà nào có thấy Thiên đường hay Thượng Đế cư
ngụ nơi nào?” Sự ngông cuồng của khoa học thực nghiệm càng ngày càng
đi đến chỗ quá trớn, thách đố tất cả mọi sự. Tuy nhiên, trong
lúc khoa học đang tự hào có thể chứng minh, giải thích tất cả th́ một
sự kiện xẩy ra: Một phái đoàn ngoại giao do Tiểu vương Ranjit Singh cầm
đầu sang thăm viếng nước Anh. trong buổi viếng thăm Đại học
Oxford, vua Ranjit đă sai một đạo sĩ biểu diễn. Vị đạo sĩ
nầy đă làm đảo lộn quan niệm khoa học lúc bấy giờ. Không những ông
ta có thể uống tất cả mọi chất hóa học, kể cả những chất
cường toan cực mạnh mà không hề hấn ǵ, ông ta c̣n nhịn thở hàng giờ
đồng hồ dưới đáy một hồ nước. Sau khi để một phái
đoàn y sĩ do Bác sĩ Sir Claude Wade khám nghiệm ông ta c̣n chui vào một quan tài để
bị chôn sống trong suốt 48 ngày. Khi được đào lên, ông ta vẫn sống như
thường. Đạo sĩ c̣n biểu diễn nhiều việc lạ lùng, dưới sự
kiểm chứng nghiêm khắc của các khoa học gia. Điều này gây sôi nổi dư luận
lúc đó, Hội Khoa học Hoàng Gia đă phải triệu tập một ủy ban để
điều tra những hiện tượng này. Một phái đoàn gồm nhiều khoa học
gia tên tuổi được chỉ thị sang Ấn Độ quan sát, sưu tầm, tường
tŕnh và giải thích những sự kiện huyền bí. Phái đoàn khoa học đă đặt
ra những tiêu chuẩn rơ rệt để giúp họ quan sát với một tinh thần khoa
học tuyệt đối: Không chấp nhận bất cứ một điều ǵ nếu
không có sự giải thích rơ ràng, hợp lư. Để soạn thảo bản tường tŕnh,
mỗi khoa học gia trong phái đoàn phải tự ḿnh ghi nhận những điều mắt
thấy, tai nghe vào sổ tay cá nhân. Sau đó, tất cả cùng nhau so sánh chi tiết và kiểm
chứng cẩn thận. Chỉ khi nào tất cả đều đồng ư th́ điều
đó mới được ghi nhận vào biên bản chính. Điền này đặt ra để
bảo đảm cho sự chính xác, không thành kiến đến mức tối đa. Tất
cả những điều ǵ xẩy ra mà không có sự giải thích khoa học, hợp lư đều
bị loại bỏ.
Khi ra đi, họ không mấy tin tưởng nhưng khi trở
về, họ đều đổi khác. Giáo sư Spalding đă cho biết: “Phương
Đông có những chân lư quan trọng đáng để cho người Tây Phương nghiên cứu,
học hỏi. Đă đến lúc người Tây Phương phải quay về Đông Phương
để trở về với quê hương tinh thần.” Điều đáng tiếc là
sự trở về của phái đoàn đă gặp nhiều chống đối mănh liệt
từ một dư luận quần chúng đầy thành kiến hẹp ḥi. Các khoa học gia
bị bắt buộc phải từ chức, không được tuyên bố thêm về những
điều chứng kiến. Sau đó ít lâu, Trưởng phái đoàn, giáo sư Spalding đă
cho xuất bản bộ sách “Journey to the East” và nó đă gây ngay một dư luận
hết sức sôi nổi. Người ta vội t́m đến những người trong phái
đoàn th́ được biết họ đă rời bỏ Âu Châu để sống đời
tu sĩ trong dăy Tuyết Sơn. Tuy thế, ảnh hưởng cuốn sách nầy đă tạo
hứng khởi cho nhiều người khác trở qua Ấn Độ để kiểm chứng
những điều ghi nhận của phái đoàn. Thiên kư sự của Sir Walter Blake đăng
trên tờ London Scientific cũng như loạt điều tra của kư giả Paul Brunton, Max
Muller đă vén lên tấm màn huyền bí của Đông Phương và xác nhận giá trị cuộc
nghiên cứu này.
Ấn Độ là xứ có rất nhiền tôn giáo. Tôn giáo gắn liền
với đời sống và trở nên một động lực rất mạnh làm chủ
mọi sinh hoạt người dân xứ này. Người Ấn hường tự hào rằng
văn hóa của họ là một thứ văn minh tôn giáo và dân xứ nầy được
thừa hưởng một kho tàng minh triết thiêng liêng không đâu có. V́ thế Hội Khoa
Học Hoàng Gia đă bảo trợ cho phái đoàn đến nghiên cứu những hiện
tượng huyền bí này.
Tuy nhiên, sau hai năm du hành khắp Ấn Độ từ Bombay
đến Calcutta, thăm viếng hàng trăm đền đài, tiếp xúc với hàng ngàn
giáo sĩ, đạo sĩ nổi tiếng, phái đoàn vẫn không thỏa măn hay học hỏi
điều ǵ mới lạ. Phần lớn các giáo sĩ chỉ lập đi lập lại
những điều đă ghi chép trong kinh điển, thêm thắt vào đó những mê tín dị
đoan, thần thánh hóa vài huyền thoại để đề cao văn hóa xứ họ.
Đa số tu sĩ đều khoe khoang các địa vị, chức tước họ đă
đạt. V́ không có một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả,
ai cũng xưng là Hiền triết (Rishi), Sư tổ (Guru) hay đại đức (Swami),
thậm chí có người xưng là Thánh nhân giáng thế (Bhagwan). Ấn Độ giáo không có một
chương tŕnh đào tạo tu sĩ như Thiên Chúa giáo, bất cứ ai cũng có thể
vỗ ngực xưng danh, ai cũng là tu sĩ được nếu y cạo đầu,
mặc áo tu hành, xưng danh tước, điạ vị để lôi cuốn tín đồ.
Ấn giáo không phải một tôn giáo thuần nhất mà có hàng ngàn tông phái khác nhau, mỗi tông
phái lại chia làm nhiều hệ phái độc lập chứ không hề có một tổ
chức hàng dọc như các tôn giáo Âu Châu. Các giáo sĩ mạnh ai giải thích kinh điển
theo sự hiểu biết của họ. Phần lớn cố t́nh giảng dạy những
điều có lợi cho họ nhất, ngoài ra họ c̣n tụ họp để phong chức
tước lẫn nhau hay chống đối một nhóm khác. Sự tranh luận tôn giáo là điều
xẩy ra rất thường, nhóm nào cũng tự nhận họ mới là chính thống,
mới là đúng với giáo lư của Thượng đế. Do đó, cuộc nghiên cứu
tôn giáo của phái đoàn không mang lại một kết quả mong ước, nhiều lúc
mọi người thấy lạc lơng, rối rắm không biết đâu là đúng, là sai.
Hội Khoa Học Hoàng Gia chỉ thị việc nghiên cứu phải đặt trên căn
bản trên một nền tảng khoa học, hợp lư nhưng lấy tiêu chuẩn nầy
áp dụng sẽ gặp nhiều trở ngại v́ văn hóa Ấn Độ và Âu Châu khác hẳn
nhau. Người dân xứ nầy chấp nhận các tông phái như một điều hiển
nhiên, không ai chất vấn khả năng các giáo sĩ hay suy xét xem lời tuyên bố của
họ có hợp lư hay không? Họ sùng tín một cách nhiệt thành, một cách vô cùng chịu
đựng.
Thất vọng về cuộc du khảo không mang lại kết quả
như ư muốn, giáo sư Spalding một ḿnh lang thang đi dạo trong thành Benares. Giữa rừng
người hỗn tạp ồn ào, một thuật sĩ cởi trần đang phùng má thổi
kèn gọi rắn. Một con rắn hổ to lớn nằm trong sọt ngửng cổ lên
cao, phun ph́ ph́. Tiếng kèn lên bổng xuống trầm, con rắn cũng lắc lư, nghiêng
ngả. Đám đông xúm lại x́ xầm coi bộ khâm phục lắm. Nếu họ hiểu
con rắn đă bị bẻ răng, nuôi bằng bă á phiện và được luyện tập
cẩn thận... Khắp xứ Ấn, các tṛ bịp bợm nầy diễn ra không biết
bao nhiêu lần trong ngày, nó sẽ kết thúc khi một vài tên “c̣ mồi” đứng
trong đám đông vỗ tay, ném tiền vào rổ và khuyến khích dân chúng ném theo... Đang mải
mê suy nghĩ, Spalding bỗng thấy một người Ấn to lớn, phong độ khác
thường chăm chú nh́n ông mỉm cười. Người Ấn lễ phép cúi đầu
chào bằng một tiếng Anh hết sức đúng giọng, ông cũng đáp lễ lại.
Câu chuyện dần dần trở nên thân mật, Spalding bèn lên tiếng hỏi người
bạn mới quen nghĩ sao về những tṛ bịp bợm này. Người Ấn trả
lời:
- Các vị minh sư đâu có cư ngụ trong đền thờ lộng lẫy,
họ đâu in danh thiếp với các chức tước, địa vị to lớn, trọng
vọng. Họ đâu cần phải quảng cáo các quyền năng, đạo quả hoặc
in tên trong điện thoại niên giám. Một vị minh sư không nhất thiết phải
có đông đệ tử, muốn t́m gặp họ phải biết phân biệt. Các đạo
sĩ mà ông đă gặp sở dĩ nổi tiếng, có đông giáo đồ v́ họ biết
thu thập đệ tử qua các h́nh thức quảng cáo, biết hứa hẹn những
điều giáo đồ muốn nghe, họ chả dạy điều ǵ ngoài một số
“từ chương” trong kinh sách. Điều này một người thông minh có thể
tự đọc sách, nghiên cứu lấy. Phải chăng ông thất vọng v́ các đạo
sĩ ông đă gặp chưa từng có các kinh nghiệm tâm linh?
Giáo sư Spalding ngạc
nhiên:
- Tại sao ông biết rơ như thế?
Người Ấn mỉm cười:
- Các ông đă bàn căi với nhau rằng cuối tháng này, nếu không thu thập thêm điều
ǵ mới lạ, phái đoàn sẽ trở về Âu Châu và kết luận rằng Á Châu chả
có điều ǵ đáng học hỏi. Giai thoại về các bậc hiền triết, thánh
nhân chỉ là những huyền thoại để tô điểm cho vẻ huyền bí Á Châu.
Giáo sư Spalding mất b́nh tĩnh:
- Nhưng tại sao ông lại biết những
điều này? Chúng tôi vừa bàn định với nhau như thế, ngay trong phái đoàn
c̣n có nhiều người chưa rơ kia mà?
Người Ấn nở một nụ cười
bí mật và thong thả nhấn mạnh:
- Tư tưởng, ông bạn thân mến có
một sức mạnh thần giao vượt khỏi thời gian và không gian. Thái độ
của ông bạn là lư do mà hôm nay tôi đến đây để chuyển giao một thông điệp
ngắn ngủi, chắc hẳn ông bạn rất thuộc thánh kinh: “Hăy Gơ Cửa Rồi
Cửa Sẽ Mở, Hăy T́m Rồi Ngươi Sẽ Gặp.” Đó là thông điệp của
một vị chân sư nhờ tôi chuyển giao.
Sự kiện người Ấn đứng
giữa chợ Banares nhắc đến một câu trong Thánh Kinh làm giáo sư Spalding ngây ngất
như say vừa tỉnh. Toàn thân ông như rung động bởi một luồng điện
cao thế. Ông lắp bắp:
- Nhưng làm sao chúng tôi biết các ngài ở đâu mà t́m?
Chúng tôi đă bỏ ra suốt hai năm trời đi gần hết các đô thị, làng mạc
xứ Ấn...
Người Ấn nghiêm nghị trả lời:
- Hăy đến
Rishikesh, một thị trấn bao phủ bởi dẫy Hi-Mă-Lạp-Sơn, các ông sẽ gặp
những đạo sĩ hoàn toàn khác hẳn những người đă gặp. Những đạo
sĩ này chỉ sống trong các túp lều sơ sài hoặc ngồi thiền trong các động
đá. Họ ăn rất ít và chỉ cầu nguyện. Tôn giáo đối với họ cần
thiết như hơi thở. Đó mới là những người dành trọn cuộc đời
cho sự đi t́m chân lư. Một số người đă thắng đoạt thiên nhiên và chinh
phục được các sức mạnh vô h́nh ẩn tàng trong trời đất... Nếu
các ông muốn nghiên cứu về các quyền năng, phép tắc thần thông th́ các ông sẽ
không thất vọng.
Người Ấn im lặng một lúc và nh́n thẳng vào mặt
giáo sư Spalding:
- Nhưng nếu các ông muốn đi xa hơn nữa để t́m gặp các đấng chân sư (Rishi) th́ các ông c̣n mất
nhiều thời gian nữa...
Giáo sư Spalding thắc mắc:
- Ông vừa dùng
danh từ Chân Sư, vậy chứ Chân Sư (Rishi) và Đạo Sĩ (Yogi) khác nhau thế nào?
- Nếu ông tin ở thuyết tiến hóa của Darwin
th́ tôi xin tóm tắc: Sự tiến hóa của linh hồn đi song đôi với thể xác.
Chân Sư là một người đă tiến rất xa trên mức thang tiến hóa trong khi Đạo
Sĩ chỉ mới bắt đầu...
- Như thế th́ các vị chân sư có thể
làm các phép lạ được chứ?
Người Ấn mỉm cười khẽ
lắc đầu:
- Chắc chắn như thế, nhưng phép thuật thần thông
đâu phải mục đích tối hậu của con đường đạo. Nó chỉ
là kết quả tự nhiên do sự tập trung tư tưởng và ư chí. Đối với các
bậc chân sư, sử dụng phép thuật là điều ít khi nào các ngài phải làm. Mục
đích của con đường đạo là giải thoát, là trở nên toàn thiện như
những đấng cao cả mà đức Chúa Jesus là một.
Giáo sư Spalding căi:
-
Nhưng Chúa Jesus đă từng làm các phép lạ.
Người Ấn bật cười
trả lời:
- Ông bạn thân mến, bạn nghĩ rằng đức Jesus làm vậy
vào mục đích khoe khoang hay sao? Không bao giờ, đó chỉ là những phương tiện
để cảm hóa những người dân hiền lành, chất phác và đem lại cho họ
một đức tin mà thôi.
Một lần nữa, người Ấn lạ lùng này lại
nói về một đấng giáo chủ mà gần như mọi người Tây Phương
đều biết đến. Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi:
- Thế tại
sao các đấng Chân Sư không xuất hiện dạy dỗ quần chúng?
Người
Ấn nghiêm nghị:
- Ông nghĩ rằng các ngài sẽ tuyên bố cho người đời
biết ḿnh là ai chăng? Nếu đấng “Christ” hay đức Phật hiện
ra tuyên bố các giáo điều, liệu ông có chịu tin không? Có lẽ các ngài phải biểu
diễn các phép thần thông như đi trên mặt nước hay biến ra hàng ngàn ổ bánh
ḿ cho dân chúng th́ các ông mới tin sao? Điều này chắc rồi cũng sẽ có một số
đạo sĩ Hắc đạo biểu diễn để lôi cuốn tín đồ nhưng
các đấng cao cả đâu có làm thế phải không ông bạn?
- Nhưng... nhưng
các ngài sống ẩn dật như thế có lợi ǵ cho thế gian đâu?
Người
Ấn mỉm cười:
- V́ không biết rơ các ngài nên thế gian không thể xét đoán
các ngài một cách đứng đắn. Ai bảo rằng các ngài không giúp ích ǵ cho nhân loại?
Nếu tôi quả quyết rằng đấng 'Christ' vẫn thường xuất hiện
và vẫn giúp đỡ nhân loại không ngừng th́ ông có tin không? Có lẽ ông sẽ đ̣i
hỏi một bằng chứng, một h́nh ảnh hoặc một cái ǵ có thể chứng
minh được. Bạn thân mến, những tư tưởng sâu xa của các đấng
cao cả không dễ ǵ chúng ta hiểu thấu. Có lẽ câu trả lời giản dị nhất
là các ngài phụng sự thế gian một cách âm thầm, lặng lẽ bằng cách phóng ra
các tư tưởng yêu, bác ái, tốt lành mà sức mạnh có thể vượt thời gian
và không gian. Tuy mắt ta không trông thấy nhưng hiệu lực của nó vô cùng mạnh mẽ.
Khi xưa, nhân loại c̣n ấu trĩ nên các ngài đă xuất hiện để đặt
một nền móng, căn bản, hướng dẫn loài người. Đến nay, nhân loại
đă ít nhiều trưởng thành và phải tự lập, sử dụng khả năng của
ḿnh, chịu trách nhiệm về những việc họ làm.
Giáo sư Spalding suy nghĩ
và hỏi:
- Lúc năy bạn nói rằng có một vị chân sư nhờ bạn chuyển
giao một thông điệp cho chúng tôi. Bạn có thể cho tôi biết địa chỉ của
ngài được không?
- Bạn thân mến, tất cả đều do nhân duyên, đến
khi nào đủ duyên bạn sẽ gặp các ngài.
Nói xong, người Ấn Độ cúi
đầu chào và biến mất trong đám người đông đúc, ồn ào giữa ngôi
chợ thành phố Benares
Chương 1: Người Đạo Sĩ Thành Benares
Thành phố Benares là một nơi có nhiều di tích lịch
sử và có rất nhiều tu sĩ. Bất cứ một người Âu Mỹ nào đến
đây cũng ngạc nhiên về thành phố dân cư đông đúc, nhà cửa san sát và khắp
nơi nhan nhản những đền thờ, lăng tẩm đồ sộ. Có những
ngôi đền trông th́ thật cổ kính, trang nghiêm nhưng khi bước vào trong bạn sẽ
thấy ǵ? Một số tín đồ hành lễ ngây ngô vừa cầu nguyện vừa rung
một cái chuông nhỏ để lời cầu xin của họ thấu đến tai các
vị thần. Một số khá đông đạo sĩ ngồi trong các tư thế Yoga cực
kỳ lạ lùng, khó tập luyện để tín đồ đến bỏ tiền vào trong
bát nhỏ bầy trước mặt họ. Chúng tôi có cảm tưởng như họ làm
xiếc biểu diễn kiếm ăn hơn là thực hành một pháp môn tu hành chân chánh.
Trong
khi mọi người trong phái đoàn đang quay phim những đạo sĩ ngồi trên
bàn đinh, các đền thờ to lớn th́ giáo sư Spalding thong thả đi dạo ngoài
bờ sông. Ông nh́n thấy một đạo sĩ vóc người lực lưỡng đang
đi gần đó. Như có một mănh lực vô h́nh nào đó thúc đẩy, Spalding muốn
vượt lên để nh́n cho rơ, ông bèn rẽ qua một lùm cây rậm rạp để bắt
cho kịp vị đạo sĩ nọ. Vừa đi vài bước, ông đă giựt ḿnh
v́ gặp một con rắn hổ mang to lớn chặn lối. Rắn hổ là một loại
rắn cực độc, hàng năm có hàng ngàn người bị rắn cắn chết v́
xứ Ấn giống rắn này có nhiều vô kể, xuất hiện khắp nơi. Tiến
thoái luỡng nan, chưa biết phải làm ǵ th́ con rắn đă trườn tới ngửng
cao cổ phun ph́ ph́. Bất ngờ, vị đạo sĩ ở đâu đi đến, ông
chẳng nói ǵ chỉ bước thẳng vào giữa con rắn và giáo sư Spalding. Vị đạo
sĩ dơ tay vuốt nhẹ, con rắn từ từ ḅ vào trong bụi rậm, mất hút
trước sự ngạc nhiên của giáo sư Spalding. Vị đạo sĩ mỉm cười
thong thả tuyên bố:
- Cái phàm ngă hữu h́nh, hữu hoại không thể làm việc
này mà đó là cái Chân Ngă thâm diệu, cái mà ta gọi là Thượng Đế ngự trong tôi và muôn
loài đă khiến con rắn bỏ đi, khi hoàn toàn gạt bỏ cái phàm ngă bên ngoài để
cho cái Chân Ngă tự biểu lộ và hành động th́ không chuyện ǵ có thể xẩy ra
nữa. Bằng cách phát triển toàn vẹn t́nh thương và bác ái của Thượng Đế
cho nó xuyên qua ḿnh và ban rải cho muôn loài ta sẽ cảm hóa được các thú dữ. Khi
ông vừa gặp con rắn, một tư tưởng sợ hăi phát ra và tôi đă nhận được
tư tưởng này. Ngoài ra h́nh như ông có ư muốn gặp tôi?
Giáo sư Spalding ấp
úng:
- Chúng tôi đang suy tầm các hiện tượng huyền bí Á Châu - thú thật là
tôi đang cảm thấy hoang mang và thất vọng về những điều nh́n thấy
ngoài chợ nhưng khi vừa nh́n thấy ông tôi linh cảm có một sự ǵ khác thường
- H́nh như có một mănh lực vô h́nh nào xui khiến...
Đạo sĩ chăm chú nh́n giáo
sư rồi ra dấu cho ông này ngồi xuống bên gốc cây cổ thụ gần đó.
Đạo sĩ lên tiếng:
- Sáng nay trong cơn thiền định, tôi nhận được
một thông điệp về các ông, do đó tôi mới rời am thất đi dạo bên ngoài.
Phải chăng các ông muốn t́m hiểu về phép tu Yoga? Đáng lư không bao giờ tôi tiết
lộ điều này nhưng tôi đă nhận thông điệp phải giúp đỡ các ông
vậy th́ ông cứ hỏi, tôi sẽ cố gắng trả lời tùy theo sự hiểu của
ḿnh.
- Xin ông cho chúng tôi được biết về khoa Yoga.
Đạo sĩ yên lặng
trong chốc lát và lên tiếng:
- Không ai biết rơ pháp môn Yoga bắt đầu từ
lúc nào trong lịch sử. Kinh sách Ấn Độ Giáo nói rằng thần Shiva truyền dạy
môn này cho hiền triết Gheranda. Nhà hiền triết dạy lại cho các đệ tử
của ông nhưng chỉ có Marteyanda là lănh hội được các tinh túy và phổ biến
trong giới trí thức thời đó.
Yoga là một khoa học bao gồm nhiều thứ
từ Thiên văn, Địa lư, Triết học, Toán học v. v... Pháp môn tôi được truyền
dạy gọi là Hatha Yoga chỉ là một phần nhỏ của toàn bộ Yoga. Theo lời
sư phụ tôi th́ trong thời cực thịnh Yoga phát triển khắp nơi và lôi cuốn
giới hiền triết, trí thức rất đông. Theo thời gian, thời hoàng kim đă
qua. Nhân loại đă sa vào hố thẳm của sa đọa vật chất, bị lôi cuốn
vào các cám dỗ xác thịt. Để chống lại sự phá sản tâm linh này, các hiền triết
đă hội thảo để t́m một giải pháp. Sau cùng họ đi đến kết
luận là cho phép truyền dạy một phần của môn Yoga cho quần chúng nhằm đem
lại một giải pháp cho giai đoạn lúc đó. Phần được truyền dạy
này trích ở chương Yuj (cái ách) gồm các phương pháp trói buộc tinh thần lẫn
thể xác trong một kỷ luật khắt khe để đạt mục đích tập
trung Tâm và Thân làm một với bản thể trời đất. Từ đó phần này được
truyền bá khắp nơi và tồn tại đến ngày nay. V́ trích ở chương Yuj
nên nó được gọi là Yoga. Nên nhớ đây chỉ là một phần rất nhỏ
của môn Yoga nguyên thủy vậy mà phần nhỏ này cũng chỉ rất ít người
hiểu rơ một cách đứng đắn. Đa số đă hiểu sai nên mới có các lối
tập luyện kỳ dị, các lối tu khổ hạnh điên rồ, các tư thế lố
bịch. Như các ông thấy, có các đạo sĩ nằm bàn đinh, dơ cánh tay lên trời
cho đến khi nó khô liệt. Sự luyện tập như thế không có ích ǵ mà cũng chả
mang lại một kết quả ǵ. Đó là những kẻ đă làm hoen ố danh dự một
khoa học như Yoga. Đối với đa số, Yoga đă bị hạ thấp xuống
thành một môn thể dục để thân thể khỏe mạnh cường tráng.
Tuy
thế, nếu luyện thế đúng cách nó vẫn mang lại nhiều kết quả tốt
cho thể xác. Nhưng các đạo sĩ Yogi lại khác, họ biết rằng luyện tập
môn này sẽ giúp họ khám phá các năng lực tiềm tàng, mầu nhiệm, giúp họ đạt
các phép thần thông biến hóa.
Để luyện ư chí, họ tập trung năng lực
vào các việc như hành xác, bắt nó chịu các thử thách cực độ như phơi
nắng, dầm sương, ngồi trên than hồng, đứng bằng tay, tréo chân lên cổ,
nhịn đói, nhịn khát, lấy gươm xiên vào da thịt, v. v...
Để chứng
minh quyền năng ư chí, họ đem tṛ này ra biểu diễn cho quần chúng để t́m
cách vừa kiếm tiền, vừa hưởng sự kính trọng của đám dân chúng khờ
khạo.
Mục đích của Yoga đâu phải làm tṛ lạ mắt cho người
đời kính phục.
Giáo sư Spalding ngắt lời:
- Nhưng ta có nên trách họ
không? Nếu các đạo sĩ chân tu dấu kín các phép tu chân truyền th́ sự hiểu lầm
làm sao tránh khỏi.
Đạo sĩ mỉm cười thong thả giải thích:
-
Một ông vua có khi nào phơi bày ngọc ngà, châu báu cho mọi người coi chơi. Ông ta cất
dấu cẩn thận có phải thế chăng? Pháp môn Yoga c̣n ǵ quư bằng nên người
tu chân chính không khi nào đem rao bán ngoài chợ. Kẻ nào thành tâm muốn học hỏi phải
ra công t́m kiếm và đó là phương pháp duy nhất. Một danh sư không cần quảng
cáo rầm rộ v́ không cần các đệ tử xúm vào xưng tụng. Trái lại, ông tuyển
chọn đệ tử gắt gao và chỉ tryền dạy các giáo lư bí truyền khi người
đệ tử tỏ ra xứng đáng. Khoa Yoga bí mật v́ cách luyện rất nguy hiểm
đối với người non kém, chưa đủ khả năng. Khai mở các bí huyệt
đâu phải tṛ chơi tầm thường.
Có rất nhiều môn Yoga khác nhau nhưng
tôi tu luyện theo môn Hatha Yoga nhằm việc chủ trị xác thân trước khi chủ trị
tinh thần.
Lúc đầu ta phải luyện tập bắp thịt và bộ máy hô hấp
cho thật thuần thục sau đó mới đi vào thần kinh, năo tủy. Nếu tập
đúng cách, sức khỏe sẽ tăng cường, sống lâu và có ư chí mạnh mẽ.
Đó chỉ là giai đoạn nhập môn, nó đ̣i hỏi ít nhất từ một đến
bốn năm mới đáng kể. Thân thể có cường tráng, tinh thần có dũng mănh
mới có thể tiếp tục bước vào giai đoạn kế tiếp.
Giáo sư
Spalding gật gù:
- Như thế môn này khác phương pháp thể dục của người
Âu Mỹ thế nào? Chúng tôi cũng có các cách khiến thân thể khỏe mạnh.
Đạo
sĩ bật cười lớn:
- Người Âu Mỹ biết cách làm thân thể nẩy
nở trên bộ da, bắp thịt, làm sao so với lối luyện tập của người
Á Châu vốn chú trọng từ bên trong ra ngoài.
Trước hết có bốn cách thức
căn bản: Nghỉ ngơi làm xoa dịu thần kinh, cân năo. Tĩnh tọa để tập
trung ư chí. Điều tức để tẩy uế thân thể, khu trục các chất cặn
bă và khí công để kiểm soát hơi thở. Hăy lấy một thí dụ giản dị
như việc nghỉ ngơi, hăy quan sát con mèo khi nó nằm yên hay ŕnh bên lỗ chuột. Con
mèo biết cách dưỡng sức, bảo tồn sinh lực không hao phí chút nào. Mọi cử
động tư thế là cả một sự suy nghĩ, kiểm soát để thoải
mái tối đa. Người Âu các ông tưởng ḿnh biết nghỉ ngơi nhưng thật
ra, các ông không biết ǵ cả. Các ông ngồi trên ghế một lúc rồi quay bên nầy, ngả
bên nọ. Khi th́ tréo chân, lúc lại dang tay, coi th́ thoải mái nhưng trí óc các ông hoạt động
liên miên từ việc này đến việc nọ. Như thế chỉ là hoạt động
âm thầm chứ đâu phải nghỉ ngơi.
Loài vật biết cách dưỡng
sức bởi v́ chúng có bản năng d́u dắt mà bản năng là tiếng nói tự nhiên.
Loài người được hướng dẫn bằng lư trí nhưng thay v́ làm chủ lư
trí họ đă không kiểm soát được bộ óc của họ nên hậu quả là
cả hệ thống thần kinh lẫn xác thể đều bị ảnh hưởng.
Sự nghỉ ngơi hoàn toàn gần như không có.
Giáo sư Spalding thở dài thú nhận:
- Đó là điều chúng tôi không bao giờ nghĩ đến nhưng liệu ông có thể
nói rơ hơn về khái niệm sơ đẳng môn Hatha Yoga không?
- Tôi chỉ có thể
nói một vài tư thế giúp con người tăng cường sức khỏe thôi. Có hai
mươi tư thế (Asana) mà ai cũng có thể tập luyện để tăng cường
sinh lực. Các tư thế này có ảnh hưởng đến một số bí huyệt khiến
nó tác động lên các cơ quan suy yếu, giúp nó hoạt động trở lại mạnh
mẽ hơn. Khoa học Tây Phương đă chứng minh rằng ngoài các mạch máu chính,
thân thể con người c̣n có hàng triệu các vi ti mạch chạy khắp nơi để
đưa dưỡng khí nuôi cơ thể. Nếu một cơ quan hay bắp thịt ít hoạt
động hay suy yếu th́ số lượng các vi ti mạch (cappilaries) cũng giảm bớt
đi. Tập thể thao hay bơi lội có thể làm các mạch máu nhỏ nầy gia tăng
hoạt động khiến cơ quan phục hồi. Cũng như thế, tập các tư
thế Yoga sẽ làm luồng Hỏa hầu (Prana) lưu chuyển, kích động các cơ
quan từ trong khiến nó hoạt động đúng với hiệu năng của nó. Ông nên
nhớ, tập thể thao có thể làm các cơ quan hoạt động nhưng tập Yoga
làm nó hoạt động đúng với hiệu năng sẵn có. Do đó, nó mang lại nhiều
hiệu quả thần diệu hơn. Con người không c̣ lo bệnh tật ǵ nữa, nếu
có bệnh cũng sẽ khỏi hoàn toàn.
Giáo sư Spalding lắc đầu:
- Tôi
không tin người Âu Mỹ sẽ chấp nhận việc tập Yoga chữa được
hết bệnh tật.
Đạo sĩ mỉm cười:
- Một thân thể khỏe
mạnh, cường tráng làm sao có thể bị bệnh được? Bệnh tật là
do sự mất quân b́nh trong cơ thể. Người Âu Mỹ các ông chỉ biết hoạt
động chứ đâu biết nghỉ ngơi, thế đă là lư do gây nên các bệnh thần
kinh rồi.
- Thôi được, xin ông nói thêm về cách tập luyện ra sao?
Đạo
sĩ thong thả giải thích:
- Việc đầu tiên là phải ngồi cho thoải
mái, ngồi trên ghế, nhất là các ghế bành êm ấm rất có hại cho xương sống,
con đường vận hà chính của luồng Hỏa hầu Prana, và là nguyên nhân gây nên các
chứng đau lưng, bại xuội, phong thấp. Phép ngồi thật ra rất dễ,
chỉ cần ngồi xếp bằng dưới đất, không dựa vào đâu, không nghiêng
ngả bên nào, giữ cơ thể thật thăng bằng, xương sống phải thật
thẳng và thở nhẹ, đều đặn. Ai cũng có thể thở nhẹ trong vài
phút nhưng sau đó sẽ lại thở loạn xạ ngay. Đó là v́ bộ óc quen hoạt động,
quen náo nhiệt. Hăy giữ cho ḷng yên tĩnh, vắng lặng không bận rộn vào mọi
chuyện vớ vẩn. Lúc đầu chưa quen chủ trị tư tưởng th́ hăy nghĩ
đến một cái ǵ đẹp đẽ, mỹ lệ như bông hoa, gịng suối. Đó là
bước đầu cho việc nghỉ ngơi.
Giáo sư Spalding buột miệng:
- Như thế đâu có ǵ khó khăn lắm.
Đạo sĩ bật cười:
- Nghỉ ngơi cần ǵ phải khó khăn, phiền phức. Khi giữ được
xương sống thẳng và thở hít đều đặn th́ luồng chân khí sẽ lưu
thông khắp cơ thể và từ đó sẽ điều chỉnh các chỗ bế tắc,
ứ đọng trong châu thân. Cách thứ hai là nằm ngửa trên mặt đất, chân duỗi
thẳng, đưa hai ngón chân cái ra ngoài. Hai tay buông xuôi bên thân ḿnh, mắt nhắm lại để
sức nặng toàn thân phân phối đều trên sàn gạch. Nên nhớ phải nằm trên
sàn chứ không phải trên giường, nhất là giường nệm v́ giường mềm
mại khiến thân thể lệch lạc không đều. Hăy nằm cho thoải mái, không nên
cố gắng thái quá, đầu óc phải thảnh thơi, chớ suy nghĩ hay mong mỏi
điều ǵ. Tư thế này sẽ xoa dịu bộ thần kinh khiến nó lấy lại
trạng thái quân b́nh. Nên nhớ nền tảng chính của Hatha Yoga dựa trên sự nghỉ
ngơi, dưỡng sức chứ không phải hành xác với các tư thế vặn vẹo
kỳ cục.
- Nhưng Yoga có các tư thế đó cơ mà?
- Vấn đề
đứng ngồi một tư thế đặc biệt trong một khoảng thời gian
không quan trọng nhưng sự tập trung ư chí để thi hành tư thế đó một
cách đứng đắn sẽ thúc đẩy các mănh lực tiềm tàng trong cơ thể
con người. Những mănh lực này là bí mật của thiên nhiên, nó chỉ phát triển
khi người luyện tập phải kèm theo một phương pháp thở (Khí Công). Tư
thế giúp con người chủ trị giác quan, hơi thở giúp con người mở cửa
vào thế giới tinh thần. Nên nhớ tinh thần và thể xác luôn đi song đôi. Không
thể có một tinh thần bạc nhược trong một thể xác tráng kiện hay tinh
thần minh mẫn trong một thể xác bệnh hoạn. Trong giai đoạn cao của Hatha
Yoga th́ hành giả sẽ phải tham thiền nhập định rất lâu, thế ngồi
của thể xác là điều quan trọng v́ nó giúp sự tập trung tư tưởng được
dễ dàng, giúp hành giả tinh tấn, tăng cường ư chí...
- Nhưng tôi vẫn
thắc mắc về các tư thế kỳ lạ, vặn vẹo thân ḿnh của Yoga như
chổng ngược đầu, vắt chân lên cổ...
- Bạn nên nhớ, trung tâm bí
mật của hệ thần kinh rải rác nhiều chỗ trong cơ thể. Mọi tư
thế có công dụng riêng, ảnh hưởng đến một bí huyệt nhất định.
Nhờ kích động các bí huyệt đó mà ta có thể ảnh hưởng các bộ phận
trong cơ thể cũng như hoạt động trí năo. Các tư thế lạ lùng chỉ
dùng để kích động các bí huyệt mà thôi. Ngoài ra không c̣n ǵ khác nữa. Bạn phải
nhớ kỹ rằng ngoài các tư thế c̣n có phương pháp khí công nữa chứ không
phải chỉ vận động các bắp thịt thôi.
Người Tây Phương
tập thể thao, vận động thể xác mạnh mẽ, tiêu phí sinh lực để
làm nẩy nở bắp thịt. Người Á Châu tin rằng chính cái sức mạnh ở
trong mới điều khiển và chỉ huy các bắp thịt. Bạn cho rằng phương
pháp chổng ngược chân lên trời (trồng cây chuối) là lố bịch ư? Tư
thế này dồn máu xuống bộ óc do trọng lượng của nó. B́nh thường máu
được đưa lên óc do sức vận động của tim. Sự khác biệt ở
chỗ để máu tự nhiên dồn xuống óc xoa dịu cân năo rất có lợi cho ai làm
việc nhiều bằng trí óc và giúp quả tim ngơi nghỉ không phải cố gắng để
đưa máu lên óc. Nhờ tim được ngơi nghỉ mà tránh được các chứng
đau tim. Khi thực hành các tư thế này phải cẩn thận, làm chậm răi, từ
từ, có ư thức, giữ vững tư thế trong một thời gian, không nên cố gắng
thái quá. Nên nhớ ch́a khóa là ở sự nghỉ ngơi thong thả chứ không phải hùng
hục. Môn Yoga giúp thân thể tự động điều ḥa trong sự yên tĩnh, thăn
bằng, khác hẳn các lối tập thể thao co tay, múa chân ào ạt của người
Âu. Làm thế tuy bắp thịt cơ thể nẩy nở nhưng thân thể náo động,
có hại cho thần kinh.
Giáo sư Spalding im lặng không thốt nên lời nào, tất
cả những ǵ người đạo sĩ này nói ra đều hợp lư, rất khoa học,
không hề có tính chất mê tín dị đoan như ông đă nghe các tu sĩ khác thần thánh
hóa. Một người Âu trung b́nh vốn coi rẻ dân tộc Á Châu như loại người
chậm tiến, di sản một miền nóng bức, thiếu ăn, chắc phải ngạc
nhiên khi thấy từ thời xưa người Ấn đă được giáo dục một
cách tập thể dục tối tân, tinh vi, và khoa học như thế.
Đạo sĩ
Ấn nh́n ông mỉm cười như đoán được ư nghĩ:
- Yoga là khoa học
của vũ trụ, nó không những chỉ áp dụng riêng đối với dân Á Châu mà khắp
nơi. Tôi không thể đi sâu vào chi tiết nhưng dù sao duyên hội ngô lần này cũng
tốt đẹp. Tôi giúp ông bạn một ch́a khóa bí truyền này: Luật thiên nhiên định
rằng trung b́nh con người thở với số nhịp là 21.600 lần mỗi ngày. Sự
hô hấp quá nhanh làm gia tăng nhịp điệu nói trên và thu ngắn sự sống. Sự
hô hấp chậm răi, kéo dài, đều đặn là tiết kiệm sinh lực và kéo dài sự
sống, đó là bí quyết khoa Khí công. Mỗi hơi thở tiết kiệm sẽ tích tụ
lại thành một số dự trữ giúp ta kéo dài sự sống. Các đồ ăn có chất
kích thích hay hút thuốc làm cho hơi thở dồn dập, giảm số lượng dưỡng
khí vào phổi tất nhiên làm ta giảm thọ nhanh. Có lẽ ông bạn c̣n nghi ngờ...? Khoa
Yoga ư thức rất rơ sự liên quan chặt chẽ giữa cơ quan hô hấp và tuần
hoàn. Cả hai cơ quan này liên hệ mật thiết với hệ thần kinh. Bộ thần
kinh là ch́a khóa vào cánh cửa tâm linh, do đó, hơi thở chính là lối vào tinh thần. Nhưng
hơi thở chỉ là sự biểu lộ trên địa hạt vật chất của
một sức mạnh tế nhị hơn. Sức mạnh này mới là cột trụ sinh
hoạt xác thể và chính cái sức mạnh vô h́nh, vô ảnh ẩn tàng trong cơ thể chúng
ta mới thực sự điều khiển đời sống. Khi nó rời xác thân th́ hơi
thở ngừng lại và sự chết đến. Sự kiểm soát hơi thở giúp ta
làm chủ một phần nào luồng sinh lực vô h́nh này. Khi sự chủ trị thân xác được
thực hiện đến mức cao siêu, con người sẽ kiểm soát được
sự vận động các cơ quan trong thân thể như tim, gan, bao tử, phổi...
-
Làm sao có thể được, tim ngừng đập là chết rồi c̣n ǵ? Giáo sư Spalding
kêu lớn.
- Bạn không tin ư, được bạn hăy để tay lên ngực tôi.
Giáo sư Spalding để tay lên ngực đạo sĩ và tay kia bắt mạch. Một
sự rung động lạ lùng xẩy ra, nhịp tim đập của đạo sĩ từ
từ chậm dần và ngưng hẳn. Đây là một ảo tưởng? Giáo sư vội
đưa tay xem đồng hồ, đúng một phút im lặng rồi quả tim bỗng
bắt đầu đập trở lại. Đạo sĩ mỉm cười giải thích:
- Bây giờ th́ ông tin rồi chứ? Có lẽ ông nghĩ rằng điều này phản
khoa học, tôi xin lấy thí dụ sau mà ông có thể kiểm chứng được: Con voi
thở chậm hơn con khỉ do đó nó sống lâu hơn. Quan sát lối hô hấp loài vật
như con rắn chẳng hạn, nó thở rất chậm nên sống lâu hơn con chó. Nếu
nghiên cứu kỹ bạn sẽ thấy sự liên hệ mầu nhiệm giữa hơi thở
và sự sống lâu. Một kẻ sống đời êm đềm, sống lâu hơn người
có đời sống vội vă, náo nhiệt. Có các giống dơi ngủ suốt mùa đông.
Chúng treo cẳng trên vách đá ngưng thở nhiều tháng và chỉ tỉnh giấc khi xuân
đến. Con gấu cũng ngủ suốt mùa đông như thế. Tại sao loài vật
làm được mà loài người lại không làm được? Đó đâu phải phản
khoa học hay phản thiên nhiên. V́ các khoa học gia kết luận rằng điều này không
thể xẩy ra nên không bao giờ họ nh́n thêm điều ǵ nữa. Đối với người
Á Châu, bất cứ việc ǵ cũng có thể xẩy ra và thiên nhiên là ông thầy rất tốt.
- Nhưng như thế đâu có lợi ǵ, sống lâu thêm vài tháng, vài giờ...
Đạo
sĩ mỉm cười một cách bí mật trả lời:
- Một ngày nào đó bạn
sẽ hiểu lời tôi nói. Tôi không thể giải thích ǵ thêm lúc này. Bạn có tin rằng nếu
luyện tập pháp môn này đến mức cao siêu ta có thể thắng đoạt tử
thần không? Bạn đồng ư rằng ngưng thở là chết và nếu ta giữ được
hơi thở th́ ta bảo tồn sự sống có đúng không?
- Dĩ nhiên như thế.
- Bạn thân mến, một đạo sư có thể cầm giữ hơi thở không
những trong nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm và nhiều thế kỷ tức
là họ có thể kéo dài sự sống theo ư muốn có đúng không? Ông bạn đă đồng
ư rằng hơi thở ở đâu tức là sự sống ở đó kia mà.
- Nhưng
làm sao có ai giữ được lâu như thế?
- Khi bạn lên dăy Hy-Mă-Lạp-Sơn,
bạn sẽ gặp những người này và điều này không lạ lùng như bạn
nghĩ. Khoa Yoga chân truyền có thể đem lại nhiều quyền năng bất ngờ,
lạ lùng nhưng đă mấy ai khổ công tập luyện. Trong thời buổi điên
đảo hiện nay, con người mê mải trong danh lợi, phù phiếm, các ảo ảnh
cuộc đời, làm ǵ có th́ giờ suy nghĩ đến sinh hoạt tâm linh. Đó cũng là
lư do những người thực sự mong muốn một trạng thái tâm linh thường
ẩn ḿnh nơi hoang vắng, các bậc đó không bao giờ phải đi t́m đồ đệ
mà người t́m đạo phải đi kiếm các ngài...
Giáo sư Spalding thắc
mắc:
- Nhưng sống lâu trong hoang vắng để làm ǵ chứ?
- Hiện
giờ đầu óc bạn vẫn c̣n suy nghĩ như người Âu nghĩa là lư luận
theo một chiều. Muốn học hỏi bạn phải cởi bỏ các thành kiến sẵn
có th́ mới mong học hỏi những điều mới lạ. Một thời gian nữa
bạn sẽ hiểu điều tôi muốn nói.
Dĩ nhiên, các bậc chân sư kéo dài
đời sống v́ những lư do chính đáng, cao cả chứ đâu tham sống sợ chết
như người thường. Trên dẫy Tuyết Sơn có những vị đă sống
cả trăm năm, có vị sống đến cả ngàn năm. Tất cả đều
có những sứ mạng riêng nên họ giữ nguyên thể xác. Một đạo sĩ thấp
kém như tôi không đủ kiến thức để có ư kiến. Tôi cho bạn biết trước
một điều, bạn sẽ cầm về Anh móng tay của một vị Lạt Ma đă
sống hơn bốn trăm năm.
- Liệu ông có thể cho chúng tôi biết làm cách
nào để kéo dài đời sống như thế được?
- Có ba phương
pháp kéo dài sự sống. Phương pháp thứ nhất là luyện tập tất cả các
tư thế (asana) cùng với môn khí công bí truyền cho thật thuần thục tuyệt hảo.
Phương pháp này chỉ có thể thực hiện dưới sự chỉ dẫn của
một vị danh sư đă có kinh nghiệm v́ sai một ly đi một dặm, đó là chưa
kể người tập phải có một nếp sống tinh khiết, trong sạch hoàn toàn.
Một ư niệm xấu khi thiền định có thể làm loạn động hơi thở
đưa đến t́nh trạng “Tẩu hỏa nhập ma,” điên loạn hoặc
chết ngay.
Phương pháp thứ hai là sử dụng dược chất, pha chế
các loại thuốc đặc biệt các loại cây cỏ hiếm hoi, phương pháp này
cũng chỉ một thiểu số biết cách bào chế và chỉ truyền lại cho các
đệ tử riêng. Phương pháp luyện đơn này chỉ được dùng trong
trường hợp đặc biệt v́ nó có các hiệu quả không thể lường được.
Phương pháp thứ ba là lối mở các kinh kỳ bát mạch, sinh tử huyền
quan rất khó giải thích theo khoa học thực nghiệm. Tôi chỉ có thể nói như thế
c̣n tin hay không là quyền của ông. Trong óc con người có một lỗ trống rất
nhỏ nằm sâu bên trong và có một nắp đậy bên ngoài. Nơi cuối cùng của đốt
xương sống là sào huyệt của luồng hỏa hầu Kundalini. Sự trụy lạc,
trác táng làm tiêu hao sinh lực khiến con người trở nên già nua, cằn cỗi. Trái lại
nếu biết kiểm soát ta có thể tiết kiệm sinh lực. Khi một người
làm chủ toàn xác thân, y sẽ kiểm soát được luồng Hỏa hầu này. Chỉ
những đạo sĩ Yogi thượng thặng mới dám luyện đến luồng
Hỏa hầu khiến nó thức tỉnh đi ngược lên trên theo xương sống
khai mở các bí huyệt, các trung tâm quan trọng nằm dọc theo lộ tŕnh. Khi mở được
nắp đậy lỗ hổng ngay trong óc để luồng Hỏa hầu chui vào cư
ngụ nơi đây ta sẽ khai mở nhiều quyền năng, cải lăo hoàn đồng
kéo dài sự sống. Sự khó khăn nhất là việc mở được cái nắp đậy
trên óc, việc này có khi cần sự trợ giúp của một danh sư sử dụng nội
lực giúp y đả thông kinh kỳ bát mạch. Việc này rất khó v́ kẻ táo bạo
luyện công dễ mất mạng như chơi.
Người thành công có thể kéo dài
sự sống như ư muốn và khi chết thể xác họ vẫn tươi tốt như
khi c̣n sống. Không hề hư hại...
Giáo sư Spalding im lặng, tất cả những
điều vị đạo sĩ tiết lộ thật lạ lùng, ngoài tầm hiểu biết
của khoa học. Chắc chắn khoa sinh lư học không thể chấp nhận luồng sinh
lực vô h́nh này. Có lẽ nó xuất phát từ trí tưởng tượng của các đạo
sĩ chất phác, mê tín chăng? Có nên tin hay không?
Như đọc được tư
tưởng giáo sư, đạo sĩ mỉm cười:
- Tôi biết ông bạn nghi
ngờ v́ các điều trên hoàn toàn trái với lư thuyết khoa học nhưng bạn hỡi,
minh triết bao trùm mọi khoa học, nó là khoa học vũ trụ, so với môn khoa học
thực nghiệm th́ môn này chỉ là một mănh vụn.
- Một ngày nào đó, khoa học
sẽ tiến đến vấn đề tôi vừa tŕnh bày, lúc đó tŕnh trạng hiểu
biết của nhân loại đă tiến hóa cao hơn bây giờ nên có thể hiểu biết
một cách chính xác hơn. Bạn nên hiểu luật vũ trụ định rằng khoa học
thực nghiệm phải luôn luôn đi song song với sự tiến hóa của nhân loại.
Vài trăm năm trước có phải khoa học lúc đó thật là ấu trĩ so với
bây giờ hay không? Nếu đi ngược ḍng lịch sử, bạn có thấy rơ mực
tiến hóa của khoa học và nhân loại luôn luôn bổ túc cho nhau không? Thời tiền sử,
nói về nguyên tử lực là điều vô lư và có nói cũng chả ai hiểu. Thời Trung
cổ, nếu có giảng giải về không gian sẽ bị kết án là phù thủy. Lịch
sử Âu châu đă chứng minh rằng những người thông minh quá đều bị chế
nhạo là điên khùng rồi bị thiêu sống. Đó cũng là lư do các bậc danh sư không
hề xuất hiện và các phương pháp tu hành được ǵn giữ cẩn thận,
bí mật, chỉ những người thành tâm mới được dạy bảo.
-
Nhưng có cách nào một người Âu như tôi được truyền dạy các điều
này không?
- Được lắm chứ, nhưng liệu bạn có sẵn sàng từ bỏ
chốn phồn hoa đô hội để ẩn ḿnh nơi hoang vu, tịch mịch tu học
không?
- Điều này... cũng được, nhưng tôi phải thu xếp công việc
đă...
- Bạn có sẵn sàng từ bỏ mọi hoạt động vui thú phàm tục
để hoàn toàn dành cho việc thực hành pháp môn Yoga - không phải vài ngày, vài giờ mà trọn
đời.
- Nhưng không lẽ trọn đời chỉ làm có thế thôi... có lẽ
khi tôi già đă...
Đạo sĩ bật cười:
- Bạn mến, Yoga không phải
một tṛ tiêu khiển trong lúc nhàn rỗi hoặc khi tuổi già bóng xế. Người Âu các
ông sao ham hoạt động và tham lam quá vậy?
Giáo sư Spalding đỏ mặt căi:
- Nhưng tập Yoga để làm ǵ? Kéo dài đời sống khổ hạnh thêm vài
năm có ích lợi ǵ đâu?
Đạo sĩ nghiêm mặt:
- Ai bảo mục đích
Yoga là cầu sống lâu? Sống khổ hạnh mà không có ư nghĩa để làm ǵ? Phần
lớn các đạo sĩ luyện thân thể cường tráng sống lâu hơn người
khác chưa thấu hiểu mục đích tối hậu. Bạn nghĩ các bậc Chân Sư
chỉ lo sống thêm ít lâu hay sao? Người đời thường chỉ hiểu một
chiều và đi ngay đến kết luận. Chinh phục thể xác chỉ là bước
đầu đưa con người đến việc chinh phục tinh thần. Giữ cho
ḿnh không hành động xấu th́ dễ nhưng giữ cho tâm không nghĩ xấu mới khó
khăn gấp bội và đ̣i hỏi nỗ lực phi thường. Đời người quá
ngắn, việc tập luyện kiểm soát thể xác đă đ̣i hỏi nhiều năm,
không đủ để tu tập tinh thần, do đó, các đạo sĩ mới kéo dài thêm
đời sống. Môn Hatha Yoga như tôi nói chỉ nhằm mục đích chủ trị xác
thân, khi thành công phải tu tập thêm Raja Yoga nhằm chủ trị tinh thần nữa chứ.
Hatha Yoga dọn đường cho Raja Yoga...
- Thế tại sao không tập Raja Yoga ngay
có hơn không?
Đạo sĩ lại bật cười
- Người Âu thật
hấp tấp, muốn đi xa phải đi từ từ, phải tập đi trước
khi tập chạy chứ. Đốt giai đoạn là bảo đảm thất bại. Khi thể
xác chưa làm chủ nổi th́ làm sao đă đ̣i làm chủ tinh thần...
Giáo sư Spalding
nôn nóng:
- Nhưng làm sao tôi có thể học môn Raja Yoga, bạn có thể chỉ cho tôi
thêm về môn này không?
- Này ông bạn, việc ǵ cũng có duyên phận, nếu đủ
duyên bạn sẽ gặp thầy hay bạn giỏi. Hăy có một ḷng khao khát chân lư rồi
định mạng sẽ dẫn dắt bạn.
- Nhưng tôi đâu quen biết ai, các
bậc chân sư đâu có tên trong điện thoại niên giám - tôi làm sao gặp các ngài?
Đạo
sĩ mỉm cười một cách bí mật
- Hăy vững niềm tin, ḷng khao khát cầu
đạo có một tư tưởng mạnh mẽ và chắc chắn sẽ được
đáp ứng. Hăy gơ cửa rồi cửa sẽ mở, hăy t́m rồi ngươi sẽ gặp,
bạn quên rồi sao?
Giáo sư Spalding giựt ḿnh, một lần nữa câu nói quen thuộc
trong Kinh Thánh lại được nhắc nhở bởi một đạo sĩ xứ Ấn.
Ông bối rối không biết nói ǵ. Đạo sĩ mỉm cười nói tiếp:
- Người
Âu có tính ṭ ṃ cái ǵ cũng muốn biết. Thực hành mới là quan trọng chứ biết
để làm ǵ? Phương pháp rèn luyện tinh thần cũng giống như thể xác thôi.
Nếu tập luyện thể thao đều đặn bắp thịt sẽ nẩy nở,
rắn chắc th́ tập rèn luyện tinh thần cũng vậy. Nhiều người có các
tính xấu như ích kỷ, tham lam, hà tiện, đa nghi... do đó, họ hành động không
tốt với người khác. Đa số cho rằng đó là bản tính tự nhiên, không đổi
được. Thật ra, nếu muốn ta có thể sửa đổi mọi tính t́nh. Nếu
một tập luyện đúng cách làm bắp thịt nở nang th́ sự kiểm soát thích nghi
sẽ tạo các đức hạnh cần thiết. Kinh Rig Veda đă ghi rơ: Kẻ nào quan niệm
sự tiến hóa một cách rơ ràng chính xác sẽ ư thức được quyền lợi
và hạnh phúc của ḿnh. Muốn trở nên một bậc toàn thiện ta phải có các đức
hạnh và can đảm. Người nào muốn cải thiện xă hội phải biết
cải thiện ḿnh trước đă. Phải biết quên quyền lợi riêng để
chú tâm vào phận sự chung. Phải hiểu rằng các cơ hội tiếp xúc với mọi
người đều tạo cho ta cơ hội phụng sự. Phụng sự mọi người
chính là phụng sự Thượng Đế.
Những người nhiệt tâm sửa ḿnh
phải ư thức quyền năng vô hạn của tư tưởng v́ hành động phát
sinh từ tư tưởng. Người t́m đạo phải biết kiểm soát tư
tưởng của ḿnh và sử dụng chúng một cách hợp lư và bác ái.
Kiểm soát
tư tưởng là mục đích môn Raja Yoga. Trở ngại lớn nhất của những
người luyện tâm, rèn chí là sự kiêu ngạo và óc chỉ trích. Với óc chỉ trích,
con người công kích tất cả họ sẵn sàng bôi nhọ mọi đức hạnh,
t́m sự sai quấy ở khắp mọi người. Người tu pháp Raja Yoga phải có
thái độ ngược lại, phải t́m thấy điều thiện ở tất cả
mọi người và nh́n thấy mọi sự đều có cái lư riêng của nó. Có thế
họ mới giúp ḿnh và người khác được. Trở ngại thứ hai là sự
nông nổi, làm điều này chưa xong đă nhẩy sang việc khác. Vừa bắt tay vào
việc đă mong thấy kết quả và nếu kết quả chưa như ư muốn liền
bỏ điều theo đuổi để nhẩy sang một điều khác. Rốt cuộc
không có điều ǵ xong cả. Thái độ này không thể chấp nhận được.
Sự bền tâm kiên chí là điều cần thiết để chủ trị tư tưởng.
Dĩ nhiên, kiếp người ngắn ngủi không ai có thể trừ hết thói hư, tật
xấu trong một kiếp, do đó, việc tu hành cũng kéo dài trong nhiều kiếp sống.
Điều quan trọng là khi đă nhận thức con đường phải đi, cần
tập trung nỗ lực để đi đến cùng. ư chí con người tồn tại
từ kiếp này qua kiếp khác, những điều đă học hỏi sẽ không bao giờ
mất cả. Cho đến khi cả tâm hồn lẫn thể xác đều đặt dưới
sự kiểm soát của ư chí th́ con người sẽ trở nên một bậc thánh nhân.
Khi
đó họ sẽ ư thức các sự kiện vĩ đại của sự sống vô cùng
và rời bỏ cái bản ngă để ḥa ḿnh vào gịng tiến hóa vũ trụ, ḥa nhập
với chân ngă bất diệt.

|
|

|

|

|

|

|
|
2.
- Như thế môn này sẽ giúp ta trở nên một vị Thánh?
- Này ông bạn,
đừng nên kết luận vội vàng. Con đường dẫn đến quả vị
tiên thánh đâu phải chỉ có một. Có nhiều con đường đưa đến
chân lư và không đường nào hơn đường nào. Đây là một điều vô cùng quan
trọng mà bạn phải ghi nhớ măi măi: Không một con đường nào hơn đường
nào dù là Hatha Yoga hay Raja Yoga hay là môn ǵ chăng nữa. Tại sao ta cứ nghĩ pháp môn này mới
hay, tôn giáo kia mới tốt? Không một đường nào có thể là duy nhất được.
Tốt hơn cả hăy tự biết ḿnh. Thay v́ t́m một chân lư tuyệt đối hăy t́m
sự tuyệt đối nơi ḿnh v́ chân lư để sống chứ không phải để
dạy.
Giáo sư Spalding im lặng không thốt lên câu nào. Lời nói của Đạo sĩ
như có một sức mạnh vang dội trong ḷng ông. Các thành kiến từ trước bỗng
tan biến hết và ông cảm thấy xúc động vô cùng.
Đạo sĩ mỉm cười:
- Này ông bạn, không một vị thánh nào vỗ ngực xưng danh mà chỉ có các kẻ
c̣n u mê trong bản ngă mới tha thiết đến danh vọng, địa vị. Khi họ
đeo đầy ḿnh những chức tước th́ làm sao họ giải thoát được?
Thượng Đế ban cho ta trí thông minh để nhận xét th́ ta phải biết phân biệt
chứ. Hăy nh́n thành Benares
với cả trăm đền thờ khác nhau, hàng ngàn giáo sĩ, tông phái. Ai cũng tự
nhận rằng phe ḿnh gần Thượng Đế nhất. Tại sao suốt hai năm nay
phái đoàn các ông đă đi khắp nơi, thăm viếng khắp chỗ mà vẫn không
thỏa măn? Phải chăng v́ sự hiểu biết phân biệt các ông đă cao, không chấp
nhận sự mê tín, mù quáng nữa.
Kinh Gita nói rơ: “Thầy nào, tṛ nấy, một
tu sĩ chân chính không có đệ tử bất hảo và một đệ tử thông minh không
t́m thầy bất lương.” Luật thiên nhiên đă dạy “đồng thanh tương
ứng, đồng khí tương cầu.” Một người sáng suốt đâu thể
đi theo kẻ u mê... Một tu sĩ hiểu biết phải lo làm chủ chính ḿnh để
cầu giải thoát chứ đâu phải lo lôi kéo đệ tử cho đông, xây cất các
đền đài cho đẹp dể tự hào về các thành quả nầy. Như thế
là phô trương bản ngă, kiêu căng, ngă mạn làm sao c̣n giải thoát được.
Bạn
hăy sử dụng lư trí và trực giác để phân biệt những người này, nếu
bạn tha thiết mong cầu chân lư th́ chắc chắn điều mong ước sẽ thành
sự thật. Chúng ta gặp nhau thế này cũng đă quá đủ, đă đến lúc
tôi phải trở về am thất.
- Nhưng làm sao tôi sẽ gặp lại ông... tôi
chưa biết tên ông.
- Hăy gọi tôi là Bramananda.
Giáo sư Spalding yên lặng nh́n
vị đạo sĩ khuất dần qua hàng cây rậm rạp. Bóng chiều từ từ
rơi xuống trên sông Hằng.
Chương 2: Thực Nghiệm Và Chiêm Tinh Bí Truyền
Lawrence Keymakers là một người Anh giàu có, sống tại
Benares nhiều năm. Ông làm chủ nhiều xí nghiệp lớn và
có một kiến thức rất rộng về xứ này. Thương gia Lawrence khoản đăi phái đoàn trong ṭa biệt thự rộng, xây
cất bên sông Hằng.
Sau câu chuyện xă giao, giáo sư Allen lên tiếng:
- Bạn
nghĩ sao về những điều người Ấn gọi là Minh Triết thiêng liêng và
những sự kiện mê tín dị đoan xẩy ra ngoài chợ?
Lawrence lắc đầu:
- Xứ này vẫn có những tṛ biểu
diễn như thế, nhưng ngoài những cái mà ta cho là ảo thuật hoặc mê tín dị
đoan c̣n ẩn náu những ư nghĩa tâm linh rất ít ai biết được. Muốn t́m
hiểu phải nghiên cứu cặn kẽ chứ không thể kết luận vội vă...
Giáo
sư Olivers bật cười:
- Bạn cho rằng những tṛ ngồi bàn đinh, thổi
kèn gọi rắn c̣n ẩn dấu những ư nghĩ tâm linh hay sao?
- Tùy tâm trạng của
ḿnh mà xét đoán sự kiện, nếu ta nh́n nó dưới cặp mắt của người
Âu th́ ta sẽ chỉ thấy nó là một tṛ múa rối, không hơn không kém nhưng nếu ta
gạt bỏ các thành kiến, biết đâu ta chẳng học hỏi thêm được
nhiều điều.
Giáo sư Allen châm biếm:
- Bạn ở Ấn đă lâu,
chắc đă học hỏi được nhiều điều mới lạ...
Lawrence mỉm cười:
Đúng thế, tôi đă
học hỏi rất nhiều và điều đầu tiên tôi học được là sự
khiêm tốn. Chỉ có sự khiêm tốn mới giúp ta học hỏi thêm những điều
mới lạ. Các bạn hăy nh́n ly nước đầy trên tay tôi đây, nếu tôi tiếp
tục rót thêm th́ nước sẽ tràn ra ngoài. Trừ khi tôi đổ bớt nước trong
ly đi th́ tôi mới rót thêm nước vào được. Kiến thức cũng thế,
chỉ khi ta khiêm tốn gạt bỏ những thành kiến có sẵn ta mới tiếp nhận
thêm được những điều mới lạ. Các bạn muốn nghiên cứu học
hỏi những minh triết của xứ Ấn nhưng vẫn giữ thành kiến của
người Âu, khinh bỉ mọi sự th́ có khác chi ly nước đầy, làm sao rót thêm
nước vào được nữa?
Mọi người im lặng, câu nói thẳng
của vị thương gia ít nhiều đă va chạm tự ái phái đoàn. Dù sao họ cũng
là những khoa học gia nổi tiếng nhất của Hoàng Gia lúc nào cũng được
nể v́, kính trọng. Để phá tan bầu không khí nặng nề, giáo sư Morimer chỉ một
h́nh vẽ lạ lùng treo trên tường:
- Đây là h́nh vẽ ǵ vậy? Trông như các tinh
tú th́ phải...?
- Bạn nói đúng, đó là số tử vi của tôi.
Mọi
người bật cười, giáo sư Allen khôi hài:
- Lá số tử vi? Lawrence thân mến, bạn đă trở thành người Ấn hồi
nào vậy?
Lawrence nghiêm mặt:
- Đây là một món quà vô giá của Sudeih Babu, nhà chiêm
tinh giỏi nhất Ấn Độ.
Toàn thể phái đoàn phá lên cười v́ nghĩ đến
những gă thầy bói ngồi xổm bên lề đường. Khắp xứ Ấn, chỗ
nào cũng có thầy bói, thầy tướng kiếm ăn qua sự mê tín của dân chúng. Đồ
nghề của họ là một vài cuốn sách bẩn thỉu, vài niên lịch lạ lùng. Họ
tự hào có thể biết rơ số phận sang hèn mọi người nhưng h́nh như không
biết ǵ về số phận chính họ.
Lawrence
lắc đầu:
- Sudeih là một vị thầy, một người thuộc giai cấp
thượng lưu quư phái chứ không phải loại thầy bói hạ cấp. Y nghiên cứu
tử vi từ nhỏ và có thể biết trước nhiều điều quan trọng. Các
bạn muốn khảo cứu hiện tượng huyền bí sao không đến gặp y
biết đâu y chả giúp các bạn. Sudeih có thói quen là không bao giờ tiếp khách lạ nhưng
y là bạn thâm giao của tôi, tôi sẽ hết ḷng giới thiệu.
Giáo sư Allen lắc
đầu:
- Chúng tôi muốn nghiên cứu nền văn minh xứ Ấn chứ không
phải xem vận mạng hên xui tốt xấu...
Lawrence
mỉm cười bí mật:
- Như thế các bạn lại càng phải đến
gặp nhà chiêm tinh này. Các bạn nên nhớ dù muốn, chưa chắc Sudeih đă chịu tiếp
các bạn. Chính tiểu vương xứ Punjab đến xin yết
kiến ba ngày, ba đêm mà Sudeih cũng không thèm tiếp...
Nhà chiêm tinh ở một biệt
thự rộng lớn, quanh nhà trồng rất nhiều cây cảnh. Đă có hẹn trước
nên gia nhân mời tất cả mọi người vào trong pḥng khách. Đó là một căn pḥng
rất lớn, trang trí sang trọng như pḥng một ông Hoàng.
Babu là một người
Ấn gầy g̣, bé nhỏ nhưng có một đôi mắt sáng ngời chứng tỏ một
đời sống nội tâm dồi dào. Y di chuyển hết sức chậm răi như một
con mèo và nói bằng một tiếng Anh rất đúng giọng và lịch sự:
- Keymakers
cho biết các ông muốn t́m hiểu về khoa chiêm tinh?
Giáo sư Olivers nói ngay:
-
Xin ông hiểu cho, chúng tôi muốn sưu tầm các hiện tượng huyền bí chứ không
hoàn toàn tin tưởng ǵ về môn này.
Babu im lặng nh́n mọi người, y lạnh
lùng:
- Nếu các ông muốn, tôi có thể lấy lá số tử vi cho các ông.
Giáo
sư Olivers nghi ngờ:
- Xin ông đừng dài ḍng về tương lai và may rủi.
Hăy nói thử về quá khứ của tôi xem sao.
Babu gật đầu hỏi giáo sư
Olivers vài câu về ngày sinh rồi y phóng bút vẽ các kư hiệu lạ lùng lên một tờ giấy.
Y chậm răi tuyên bố:
- Ông sinh truởng trong một gia đ́nh thương gia. Từ
nhỏ ông nuôi mộng hải hồ thích du lịch nhưng gia đ́nh ông nghiêm khắc ngăn
cấm. Thân phụ ông muốn con ḿnh phải theo học về thương mại tại
Oxford để nối nghiệp. Tuy nhiên, ông
lại có năng khiếu về khoa học nên chỉ một thời gian ngắn ông đă
chuyển qua ngành Vật lư học. Cha ông giận quá nhất định không giúp đỡ
ǵ ông nữa. Gia tài sự nghiệp truyền cho các em ông. Đến khi ông trở nên một khoa
học gia lỗi lạc của Hoàng Gia th́ cha ông lại bắt ông trở về đi vào con
đường chính trị.
Dưới áp lực gia đ́nh, ông thành hôn với một
thiếu nữ gịng dơi quư tộc. Cuộc hôn nhân không mang lại hạnh phúc và ông vùi đầu
trong pḥng thí nghiệm để t́m quên. Người vợ quen thói giao thiệp rộng đă
phá nát tài sản, sự nghiệp và c̣n ngoại t́nh. Cha ông buồn phiền, thất vọng
qua đời. Ông chịu đựng người vợ suốt 18 năm cho đến khi
bà ta từ trần. Sau khi thu xếp mọi việc, ông gia nhập phái đoàn với mục
đích rời xa Luân Đôn và thỏa măn giấc mộng hải hồ.
Giáo sư Olivers ngồi
im không thốt lên một tiếng chứng tỏ những điều Babu nói không sai. Một
không khí nặng nề bao trùm căn pḥng. Babu lạnh lùng tiếp:
- Ông có muốn tôi nói
thêm chi tiết hay nói về tương lai nữa không?
Giáo sư Olivers lắc đầu
xua tay, mặt mày tái nhợt như người vừa trải qua một điều ǵ kinh
khủng. Giáo sư lên tiếng:
- Nhưng tại sao các tinh tú ở xa lại ảnh hưởng
đến từng cá nhân được?
Babu thong thả trả lời:
- Nếu
tinh tú ở xa quá th́ khoa học thực nghiệm giải thích thế nào về ảnh hưởng
của mặt trăng đối với nước thủy triều lên xuống hoặc
chu kỳ trong thân thể đàn bà?
- Nhưng nếu tôi bị tai nạn th́ điều
đó ăn nhập ǵ đến các hành tinh?
Babu lắc đầu mỉm cười:
- Các ông nên nghĩ thế này, tinh tú chỉ là biểu tượng mà thôi. Tự nó không
ăn nhập ǵ đến chúng ta hết mà chính cái dĩ văng của ta đă ảnh hưởng
đến đời sống hiện tại. Tinh tú chỉ phản chiếu lại cái ảnh
hưởng này mà thôi. Không ai có thể hiểu khoa chiêm tinh nếu họ không tin luật Luân
Hồi (Reincarnation). Con người chết và tái sinh trở lại trong nhiều kiếp. Định
mệnh của y theo dơi và ảnh hưởng lên đời sống của y theo luật Nhân
Quả (Karma of cause and effect). Nếu ta không tin con người chết đi và đầu thai
lại để học hỏi, để tiến hóa, để trở nên một người
toàn thiện th́ mọi sự đều là ngẫu nhiên hay sao? Một Thượng Đế công
b́nh, bác ái có lẽ nào dung túng điều này?
Khi qua đời thể xác hư thối
tan ră nhưng tính t́nh, dục vọng, ư chí vẫn c̣n nguyên cho đến khi ta đầu thai
vào một kiếp sống mới th́ những tính này sẽ trở nên cá tính (personality) của
kiếp sau. Các hành tinh chỉ là tấm gương ghi nhận các nguyên nhân này và phản chiếu
trở lại. Bất cứ một hành động nào cũng tạo nên một nguyên nhân dù
xấu hay tốt ví như ta ném một trái bóng lên không trung. Trước sau ǵ nó cũng rơi
xuống v́ trọng lượng và ảnh hưởng của sức hút trái đất, nhưng
đến khi nào nó rơi xuống c̣n tùy sức ném của ta nặng nhẹ ra sao. Khoa Chiêm
tinh nghiên cứu các vũ trụ tuyến này để đoán được khi nào cái nguyên
nhân trước sẽ trở lại. Babu im lặng một lúc và thong thả giải thích thêm:
- Trước khi đi xa hơn, tôi muốn các ông hiểu lịch sử chiêm tinh để
có một cái nh́n thật đứng đắn. Từ ngàn xưa, Chiêm tinh học vẫn được
coi là một khoa học quan trọng. Chiêm tinh gia chỉ đứng ở địa vị
thứ hai sau Giáo Sĩ mà thôi. Đối tượng của khoa chiêm tinh là vũ trụ. Tiếc
thay phần này đă bị thất truyền chỉ c̣n phần nhỏ nói về sự liên
hệ giữa con người và các bầu tinh tú c̣n được lưu truyền đến
nay và được xem là khoa bói toán. Khoa chiêm tinh có từ lúc nào không ai biết nhưng hiền
triết Bhrigu đă truyền dạy các môn đồ của ông vào khoảng 6000 năm trước.
Ṇng cốt của nó nằm trong bộ sách Brahma Chinta do ông soạn ra. Bhrigu có bốn đệ
tử: Người thứ nhất rất giỏi về khoa học đă đi sang Ba Tư
lập nghiệp, từ đó ngành Chiêm tinh đi về hướng Tây và ảnh hưởng
đến Hy Lạp và La Mă sau này. Người thứ hai rất giỏi về triết học
đi về phương Đông sang Trung Hoa truyền bá ngành này ở đây. Người thứ
ba thích nghiên cứu những hiện tượng siêu h́nh đă lên Tuyết Sơn nhập thất
và sau truyền môn này cho dân chúng Tây Tạng. Người thứ tư ở lại xứ Ấn
và làm đến chức quốc sư. Bộ sách Brahma Chinta được coi là quốc bảo
cất trong cung điện.
Sau này, các hoàng tử tranh cướp ngôi vua đă giành nhau bộ sách quư. Sau mấy chục
năm chinh chiến, bộ sách được phân chia làm nhiều phần, mỗi ông Hoàng giữ
một mảnh và từ đó khoa Chiêm tinh trở nên thất truyền - Các mẫu vụn này
đă được các thầy bói sưu tầm, ghi chép lại để kiếm ăn nhưng
họ chỉ nắm một vài then chốt chứ không sao hiểu hết. Như các ông thấy,
căn nhà này rất lớn, gồm có 49 pḥng, mỗi pḥng đều chứa đầy các
sách vở do tôi sưu tầm. Tất cả gia tài sự nghiệp của tôi đều được
sử dụng để sưu tầm các sách cổ - Tôi xuất thân từ một gia đ́nh
Hoàng tộc nhưng tôi chỉ ham mê khoa Chiêm Tinh. Tôi bỏ ra mấy chục năm nghiên cứu,
theo học các vị Chiêm Tinh Gia nổi tiếng cho đến khi sưu tầm được
bộ Brahma Chinta. Dĩ nhiên, bộ sách này nguyên bản mấy ngàn trang nhưng tôi chỉ sưu
tầm được có vài trăm trang và tốn gần 20 năm nghiên cứu nó.
Babu
mỉm cười nh́n giáo sư Olivers:
- Bạn Olivers thân mến, lá số tôi lấy
cho ông rất khác thường so với người Âu. Tin hay không tùy ư bạn, đúng hay sai
chỉ bạn biết nhưng tôi muốn nói thêm rằng các nghiệp quả đă trả
xong. Đời bạn đă bước vào một khúc quanh quan trọng. Lá số cho thấy bạn
đă đến bên thềm Đạo và sẽ được một sự d́u dắt của
một hiền giả.
Giáo sư Olivers cảm động xiết chặt đôi tay
gầy guộc của nhà Chiêm Tinh. Toàn thể phái đoàn cũng xúc động không kém. Khi
trước họ đă nghi ngờ khoa bói toán nhưng sự kiện vừa xẩy ra đă
thay đổi tất cả. Không ai ngờ giáo sư Olivers lại có một đời sống
cá nhân bất hạnh như thế.
Babu đưa toàn thể phái đoàn đi xem những
căn pḥng chứa sách với những tủ lớn chứa hàng ngàn cuốn sách cổ. Giáo
sư Mortimer, một nhà khảo cổ học của trường Harvard đă phải kinh
ngạc trước kho tàng sách vở vô giá này. Có những bộ sách viết trên lá buôn (Papyrus)
cả ngàn năm trước xen lẫn các tài liệu khắc trên gỗ vào Thế Kỷ Thứ
Sáu. Toàn thể phái đoàn có cảm tưởng như phần lớn kho Minh Triết xứ
Ấn đều tập trung nơi đây. Giáo sư Mortimer lên tiếng:
- Những sách
vở này nói về những ǵ vậy?
- Đó là những sách về vấn đề Tôn
Giáo, Minh Triết cổ truyền, Triết Học Ấn Độ.
- Như thế ông cũng
là một triết gia?
Babu mỉm cười:
- Một người không hiểu
về triết lư sẽ chỉ là một hạng chiêm tinh tồi hay thầy bói hạ cấp.
- Ông có thu nhận đệ tử không?
- Có rất nhiều người đến
xin tôi dạy dỗ nhưng tôi từ chối v́ thấy họ không đủ thiên tư để
lĩnh hội hay ư chí để đi đến cùng. Tôi nghĩ ḿnh chưa đủ sức
làm thầy ai hết mà chỉ là một người ham mê nghiên cứu cũng như các ông
là những khoa học gia say mê kiến thức khoa học.
- Nhưng ông cũng dùng Chiêm
Tinh để hướng dẫn đời ḿnh chứ? Ông có thể xem được quá
khứ vị lai kia mà.
Babu lắc đầu:
- Không đâu, tôi đă t́m thấy
ánh sáng Chân Lư và không cần đến khoa Chiêm Tinh. Khoa học này chỉ hữu ích cho những
kẻ c̣n lần ṃ trong bóng tối. Tôi đă hoàn toàn trao trọn đời ḿnh vào tay Thượng
Đế. Không c̣n lo nghĩ, ưu phiền ǵ về tương lai nữa. Bất cứ điều
ǵ xẩy ra tôi cũng chấp nhận như ư muốn của Ngài.
- Nếu ông bị
kẻ hung dữ hăm hại làm lâm nguy tính mạng th́ ông có cho đó là Thiên Ư không? Ông sẽ làm
ǵ để tự vệ chứ?
- Tôi biết rằng trong khi nguy cấp chỉ cần
cầu nguyện là đủ. Cầu nguyện là cần thiết v́ lo âu chẳng ích ǵ. Nhiều
khi tôi gặp khó khăn và lúc đó tôi ư thức sự giúp đỡ của Thượng Đế
hơn bao giờ hết. Các bạn có biết rằng tôi đă xé bỏ lá số tử vi của
ḿnh từ khi t́m thấy ánh sáng Chân Lư. Tôi tin chắc rằng con người có thể cải
tạo tinh thần để ḥa hợp với Đấng Toàn Năng c̣n các việc xẩy ra
do hậu quả của quá khứ ta không thể thoát được th́ lo lắng có ích ǵ?
Ư niệm về Thượng Đế là điều phái đoàn luôn luôn nghe nói đến:
Người dân Á Châu có một tinh thần tôn giáo rất mạnh, tôn sùng Thượng Đế
quá nhiệt thành. Họ đâu hiểu rằng người Âu vốn có óc hoài nghi, thường
thay thế cái đức tin đơn giản bằng cái lư trí phức tạp. Làm sao họ
có thể hiểu rằng Thượng Đế chỉ là một quan niệm, một giả
thuyết cũng như trăm ngàn giả thuyết khác nghĩa là cần phải chứng
minh cụ thể.
Babu mỉm cười như đọc được ư nghĩ mọi
người:
- Này các bạn, cái lư trí tự cao tự đại của con người
không có ích ǵ cả. Chỉ khi nào họ đạt đến trạng thái tĩnh lặng của
tâm hồn họ mới ư thức các luật huyền bí vũ trụ và sự nhỏ bé của
con người. Khi tách khỏi trạng thái u mê của lư trí họ mới ư thức sự
an lạc tuyệt vời khi ḥa hợp với Thượng Đế.
Giáo sư Allen lắc
đầu:
- Tại sao ông không nghĩ rằng đó là một ảo ảnh? Một
sự tưởng tượng?
Babu bật cười:
- Này các bạn, một
bà mẹ sinh con có khi nào lại nghi ngờ rằng đứa con đó không có thật. Khi hồi
tưởng lúc lâm bồn có khi nào bà ấy cho rằng đó chỉ là một sự tự
kỷ ám thị? Khi nh́n đứa con mỗi ngày một lớn khôn làm sao bà mẹ lại nghĩ
rằng đứa bé không hiện hữu? Sự giác ngộ tâm linh là một biến cố
vô cùng quan trọng trong đời người mà không ai có thể quên được v́ từ
đó, con người hoàn toàn thay đổi, trở nên một người mới.
Babu
liếc mắt nh́n toàn thể phái đoàn, tất cả đều là những giáo sư, khoa
học gia danh tiếng nhất... Y mỉm cười tuyên bố:
- Chúng ta chỉ mới
ở vào một buổi b́nh minh của khoa học nhưng mỗi khám phá mới, mỗi kiến
thức mới đều đem lại cho chúng ta một bằng chứng rằng vũ trụ
nầy là công tŕnh của một Đấng Hóa Công.
Hăy lấy một thí dụ Toán học
cho dễ hiểu: Nếu ta bỏ vào túi 10 thẻ nhỏ, mỗi thẻ có ghi từ số
1 đến 10 và tuần tự rút ra tùng cái một. Sau khi rút xong ta lại bỏ thẻ vào
túi, trộn đều và rút ra lần nữa. Làm sao ta có thể rút tuần tự từ số
1 dến số 10? Theo toán học ta phải rút mười lần mới có một lần
rút được thẻ mang số 1. Phải rút 100 lần mới có một lần rút được
số 1 và 2. Phải rút 1000 lần mới được số 1, 2, 3 liên tiếp. Nếu
muốn rút theo thứ tự từ 1 đến 10 th́ trường hợp đặc biệt
này chỉ có thể xẩy ra một lần trong mười tỷ lần có đúng không? Nếu
áp dụng Toán Học vào các điều kiện tạo đời sống ở quả đất
này th́ ta thấy nguyên lư ngẫu nhiên không sao hội đủ các điều kiện cần
thiết. Vậy th́ ai đă tạo ra nó?
Trái đất quay quanh trục của nó với
vận tốc 1600 cây số một giờ ở giữa đường xích đạo. Nếu
nó quay chậm 10 lần th́ ngày sẽ dài gấp 10 và dĩ nhiên sức nóng của mặt trời
cũng gia tăng gấp 10 lần. Thế th́ cây cối, sinh vật đều bị thiêu
sống hết c̣n ǵ. Nếu cái ǵ chống được sức nóng cũng chết lạnh
v́ đêm cũng dài ra gấp 10 và sức lạnh cũng tăng lên gấp 10 lần kia mà. Ai
đă làm trái đất quay trong một điều kiện tốt đẹp như thế?
Mặt trời là nguồn sống của quả đất phải không? Mặt trời
nóng khoảng 5500 độ bách phân. Quả địa cầu ở đúng một vị trí
tốt đẹp không xa quá mà cũng không gần quá. Vừa vặn đủ để đón
nhận sức nóng của mặt trời. Nếu sức nóng mặt trời gia tăng một
chút, ta sẽ chết thiêu và ngược lại nếu sức nóng mặt trời giảm
đi một chút, ta sẽ chết rét. Tại sao trái đất nằm ở điều kiện
thuận lợi như vậy? Trục trái đất nghiêng theo một tà độ là 23 độ.
Nếu trái đất đứng thẳng không nghiêng theo bên nào th́ sẽ không có thời tiết
bốn mùa. Nước sẽ bốc hơi hết về hai cực và đông thành băng giá
cả.
Mặt trăng là một vệ tinh của trái đất điều khiển
thủy triều biển cả. Nếu nó không cách xa trái đất 380000 cây số mà xích lại
gần hơn 80000 cây số th́ một cuộc hồng thủy sẽ xẩy ra. Nước
sẽ bị sức hút dâng lên ngập tất cả các lục địa mỗi ngày hai lần.
Tóm lại tất cả mọi đời sống trên mặt địa cầu sẽ biến
mất nếu các điều kiện trên sai lệch đi một ly. Nếu nói rằng đời
sống chỉ là một sự ngẫu nhiên th́ trong tỷ tỷ lần may ra mới có một
điều kiện tốt đẹp hoàn toàn để có sự sống như thế được.
Babu yên lặng nh́n mọi người. Không ai có thể ngờ nhà chiêm tinh xứ Ấn
lại có thể sang sảng chứng minh một cách khoa học và hùng biện trước
một cử tọa toàn những khoa học gia nổi tiếng nhất ở Âu Châu.
Babu
quay sang nh́n giáo sư Allen, một nhà sinh vật học của trường Havard:
- Nếu
toán học xem có vẽ trừu tượng quá hăy thử quan sát thiên nhiên dưới cái nh́n
của khoa Sinh Vật Học (Biology) xem sao:
Với khả năng sinh tồn của
mọi vật, ta thấy sự hiện diện của tạo hóa rất chu đáo. Sự
sống không có sức nặng hay bề đo mà mạnh mẽ làm sao? Bạn hăy nh́n một
rễ cây non nớt, mềm yếu, vậy mà nó có thể soi nứt một tảng đá cứng
rắn. Sự sống chinh phục không khí, đất, nước. Nó thống trị mọi
nguyên tố, nó bắt buộc vật chất tan ră rồi lại kết hợp thành các h́nh
thể mới. Sự sống là nhà điêu khắc nặn thành những h́nh thể mới
lạ, là họa sĩ vẽ những cảnh vật thiên nhiên tô điểm cho tạo hóa.
Sự sống cũng là nhạc sĩ dạy chim hót thánh thót, dạy côn trùng ngân nga, là nhà hóa
học chế các hương thơm, quả ngọt. Sự sống từ các loài thảo
mộc thu hút thán khí biến thành dưỡng khí nuôi muôn loài. Hăy nh́n những giọt Nguyên sinh
chất (Protoplasm) trong suốt gần như vô h́nh, mắt ta không thể nh́n thấy mà nó di
động nhờ hấp thụ sinh khí thái dương. Chính cái tế bào đơn độc
này chứa mầm sống của muôn loài và là cội nguồn của toàn sự sống theo
khoa học thực nghiệm. Tự nó không tạo ra sự sống vậy th́ sự sống
ở đâu đă đến?
Này các ông bạn, cá hồi (Salmon) sinh ra ở nước
ngọt, theo ḍng nước ra biển và sống ở đây cho đến khi trưởng
thành rồi lại trở về nguồn. Hăy nh́n nó lội ngược ḍng về sinh quán,
nó bơi một mạch đâu hề phân vân lưỡng lự. Nếu ta bắt nó đem
đến một chỗ khác, nó vẫn trở lại nơi xưa. Ai đă dạy cho nó phân
biệt một cách chắc chắn như vậy? Loài lươn biển cũng thế, chúng
rời sinh quán từ các ao hồ, sông lạch khắp nơi trên thế giới để
bắt đầu một cuộc du hành đến tận ngoài khơi quần đảo Bermuda. Muốn đến đây một con lươn Âu Châu phải đi
gần 4000 cây số, lươn Á Châu phải đi xa hơn có khi gần 8000 cây số. Chỉ
tại đây chúng mới sinh sản và chết. Các con lươn con sinh ra tại đây không
biết ǵ về sinh quán mà vẫn trở về quê hương xa xôi của cha mẹ chúng nó.
Biết t́m về một cái lạch ở Pháp hay một cái hồ ở Nam Dương. Giống
nào về nhà giống đó, một con lươn Pháp không bao giờ bị bắt ở Ấn
Độ và một con lươn giống Thái Lan không bao giờ đi lạc sang Phi Châu. Ai đă
ban cho loài lươn nguồn cảm kích phân biệt như thế? Ai đă hướng dẫn
những con lươn bé bỏng trên đường phiêu du ngàn dặm như vậy? Chắc
chắn không thể do ngẫu nhiên phải không các bạn?
Toàn thể phái đoàn kinh
ngạc trước kiến thức quảng bác của nhà chiêm tinh gầy g̣, bé nhỏ. Không
ai ngờ một xứ chậm tiến như Ấn lại có một nhà bác học uyên thâm
như vậy. Babu mỉm cười nói tiếp:
- Có lẽ các ông c̣n nhiều phân vân,
thôi được hăy nói về yếu tố di truyền cho thực tế hơn. Yếu
tố này là một mầm sống nguyên thủy rất nhỏ chứa đựng trong tất
cả các tế bào. Mọi sinh vật đều có đặc điểm di truyền khác
nhau. Yếu tố này cho ta thấy rơ sự sống đă được trù định từ
trước v́ một cái cây sẽ tạo ra một cái cây chứ không phải con vật. Từ
các loại sinh vật bé nhỏ như con kiến đến các loài sinh vật to lớn như
cá voi đều chịu sự chi phối của yếu tố này.
Điều này chắc
chắn không phải ai nghĩ ra hay ngẫu nhiên phải không? Chỉ có Đấng Sáng Tạo
mới có đủ quyền năng làm các việc đó. Này các bạn, khắp nơi trong
vũ trụ đâu đâu cũng có một sự quân b́nh tuyệt đối, không loài nào lấn
át loài nào. Hăy nh́n loài côn trùng, chúng sinh sản rất nhanh mà sao không chiếm quả đất?
Ấy là v́ chúng không có bộ phổi như loài có vú (Mamma). V́ chúng thở bằng khí quản
(Trachea) và khi chúng lột xác lớn lên, khí quản không lớn lên theo nên thân thể chúng bị
giới hạn trong khuôn khổ nhất định. Con người hơn loài thú ở điểm
lư trí. Bản năng con thú tuy kỳ diệu nhưng bị giới hạn. Bộ óc con người
tuyệt vời ở chỗ nó có thể vượt xa tầm giới hạn của nó. Muốn
quan niệm sự hiện hữu của Thượng Đế, cần phải có một năng
khiếu mà chỉ loài người mới có. Ta có thể gọi nó là trí tưởng tuợng
cũng được nhưng nhờ nó mà con người mới thu nhận các sự kiện
vô h́nh, vô ảnh. Trí tưởng tượng mở cho ta một chân trời bao la và nhờ
thế ta mới ư thức một thực tại tuyệt diệu rằng Thượng Đế
là tất cả, ngài ở khắp mọi nơi nhưng không ở đâu Ngài hiện rơ như
trong tâm hồn chúng ta.
Toàn thể phái đoàn yên lặng, thán phục những dẫn
chứng hoàn toàn khoa học và giản dị của nhà chiêm tinh. Vài giờ trước đây,
ai cũng nghi ngờ khả năng của “Gă thầy bói” nhưng hiện giờ
mọi người đều công nhận y là một nhà bác học với kiến thức
uyên bác không thua ai.
Babu mỉm cười nh́n tất cả mọi nguời và nói:
-
Là khoa học gia, các ông hăy suy nghĩ về những điều tôi vừa tŕnh bày. Hăy quan sát
vũ trụ, hăy dẹp bỏ các thành kiến sẵn có và sự ngông cuồng của khoa học
thực nghiệm rồi các ông sẽ thấy tất cả đều diễn ra trong một
trật tự, mỹ lệ và điều ḥa. Các ông sẽ ư thức sự bé nhỏ của
con người trước vũ trụ bao la v́ khoa học xây dựng trên căn bản của
giác quan vốn rất giới hạn, sao có thể cảm xúc vũ trụ được?
Nếu ta cứ khăng khăng cho rằng những cái ǵ không nghe được, không nh́n
được đều không hiện hữu th́ thật là một sai lầm tai hại. Có
biết bao nhiêu sự kiện xẩy ra mà giác quan giới hạn không thể cảm nhận
cho đến một ngày nào họ khai mở các giác quan khác...
- Làm sao ông biết như
thế?
- Tôi đă nghiên cứu trực tiếp các vấn đề này trong khi Thiền
Định. Các sách vở bí truyền cũng đều nói rất rơ như vậy...
Giáo
sư Mortimer hấp tấp:
- Chúng tôi có thể nghiên cứu hay phiên dịch những sách
này không?
Babu mỉm cười:
- Liệu ông có muốn bỏ ra vài chục năm
để phiên dịch không? Sách vở huyền môn đâu phải loại sách phổ thông để
mọi người coi chơi. Theo tôi hiểu th́ chỉ một thiểu số người
thích nghiên cứu nó v́ trong tiền kiếp họ đă có những hứng khởi tâm linh, đă
từng nghiên cứu vấn đề này, đă có đủ trí tuệ để xét suy một
cách tường tận. Họ là những người đă đến bên thềm Đạo
và sắp bước vào. Chỉ những người này mới thích thú để tâm nghiên
cứu những quyển sách khô khan như những sách trong nhà tôi.
Toàn thể phái đoàn
im lặng, mỗi người theo đuổi một ư nghĩ riêng nhưng tất cả đều
đồng ư rằng nhà chiêm tinh nói không sai. Giáo sư Allen lên tiếng:
- Tại sao thấy
ánh sáng Chân Lư rồi mà ông vẫn tiếp tục hành nghề chiêm tinh. Tại sao ông c̣n chỉ
vẽ cho người đời quá khứ, vị lai?
Babu hănh diện tuyên bố:
-
Tôi sống và phụng sự thế gian bằng nghề nghiệp này. Đâu phải ai tôi cũng
tiếp. Dù bạn là Tiểu Vương hay Thủ Tướng, nếu thấy bạn không
có tâm hướng thiện, sửa đổi th́ không đời nào tôi hé môi nói một điều
ǵ. Biết bao nguời đă đến cổng nhưng mấy người vào được
đến đây. Cách đây ít lâu, một Tiểu Vương cho khuân đến một rương
ngọc chỉ để hỏi tôi một điều nhưng tôi không trả lời. Nếu
không nhận được một thông điệp bằng tư tưởng th́ dễ ǵ
tôi tiếp các ông và nếu không xem qua lá số của giáo sư Olivers dễ ǵ tôi tiết lộ
các bí mật cho những người lạ, nhất là người Âu Mỹ.
Từ xưa
đến nay khoa Chiêm tinh vẫn bị người đời hiểu lầm và diễn tả
sai lạc rất nhiều. Nhờ nghiên cứu bộ sách nguyên thủy Brahma Chinta nên tôi có thể
nói cho các ông biết chút ít về khoa học này với hy vọng sẽ đánh đổ phần
nào thành kiến sai lầm của người Âu.
Khi sinh ra đời, mỗi cá nhân đều
mang sẵn một tài sản khác nhau đó là Nghiệp Báo. Tài sản này có thể tốt đẹp
do các nguyên nhân hợp với Thiên Ư hoặc xấu xa bởi các lỗi lầm trong tiền
kiếp. Tất cả nguyên nhân này đều chứa chấp trong Tàng Thức (A Lại Da
thức) và trở nên một động lực chi phối đời ta. Động lực này
được phân phối bởi các mănh lực trong vũ trụ một cách vô cùng phức
tạp và biến thành một thứ gọi là Vũ Trụ Tuyến (Cosmic rays). Những vũ
trụ tuyến này không ồ ạt ảnh hưởng đến ta ngay mà tùy theo sự thay
đổi của tinh tú để phản chiếu xuống trần gian. Điều này rất
hợp lư v́ trải qua vô lượng kiếp sống, con người đă làm biết bao
điều xấu xa, đâu thể nào trong vài ba kiếp mà trả hết được.
Đó cũng là lư do con người cứ trầm luân trong luân hồi sinh tử.
Chiêm tinh
học nghiên cứu sự xê dịch, vận hà của tinh tú mà đoán biết được
các ảnh hưởng con người trong kiếp sống này. Nhờ nghiên cứu Chiêm Tinh
mà người ta hiểu rơ rằng không hề có một Đấng Thần Linh thưởng phạt
hay kiểm soát các hành động của ta. Tất cả chỉ là hậu quả của những
ǵ do ta tạo nên và phải gánh chịu.
- Nhưng chính ông đă đề cập đến
Thượng Đế và sự hiện hữu của Ngài kia mà? Babu bật cười:
-
Các ông vẫn c̣n quan niệm rằng Thượng Đế là một ông già ngồi trên cao nắm
quyền sinh sát, định đoạt số phận con người - đó là một quan
niệm rất ấu trĩ. Thượng Đế cao cả hơn nhiều - Ngài sáng tạo
và đặt tất cả vào một trật tự trong vũ trụ. Làm ǵ có việc ngài
định đoạt số phận từng người như các ông nghĩ. Tất cả
diễn tiến theo luật vũ trụ - nhân nào quả nấy, một lực nào cũng
có một phản lực đi kèm đó là khoa vật lư chứ đâu phải ǵ xa lạ? Làm
ǵ có việc số mệnh đă định sẵn, nếu thế ta cứ tiêu cực, bất
động mặc cho số phận run rủi hay sao? Này các ông bạn, Chiêm Tinh Học là một
khoa học thực tiễn và tiến bộ không thể có vấn đề mê tín. Lá số
tử vi không có nghĩa là con người chỉ là nô lệ của quá khứ mà chỉ cho
ta thấy rơ sự tuần hoàn của vũ trụ mà trong đó con người có thể thay
đổi tính mạng.
Chiêm Tinh Học nghiên cứu phản ứng của con người
dưới ảnh hưởng tinh tú. Các tinh tú chỉ là những khí cụ trung gian biểu
lộ một cách trung thực các tác động quân b́nh của nghiệp quả gây nên trong
quá khứ. Mỗi người sinh ra đời vào một ngày giờ mà ảnh hưởng
của tinh tú ḥa hợp với nghiệp quả cá nhân của y. Các vũ trụ tuyến được
tinh tú phản chiếu xuống làm mạch máu di chuyển, tế bào thay đổi dĩ nhiên
ảnh hưởng đến cuộc đời con người. Mặc dù con người
không thể thay đổi việc đă xẩy ra trong quá khứ nhưng nhờ ư chí tự
do, y có thể vượt khỏi tầm ảnh hưởng này và chiến thắng ảnh
hưởng tinh tú.
Tôi lấy một thí dụ như thương gia Keymakers bạn của các ông. Đáng lư theo
số mạng th́ ông ta phải chết trong cuộc chiến vừa qua. Nhưng v́ một mầm
thiện nẩy sinh, thấy chiến tranh quá ư tàn khốc ông động ḷng trắc ẩn
mang tài sản ra giúp đỡ rất nhiều nạn nhân chiến cuộc. Dĩ nhiên, khi đó
ông ta không hề biết ǵ về số mạng của ḿnh nhưng hành vi bác ái này đă tạo
một phản lực mạnh mẽ thúc đẩy các vũ trụ tuyến xê dịch sang
một bên và nhờ thế ông ta thoát chết. Số mạng của ông ta hoàn toàn thay đổi
từ đó. Các ông hiểu rằng hoán cải số mạng không có nghĩa việc quá khứ
sẽ bị xóa bỏ nhưng đáng lư một biến cố lớn sẽ xẩy ra trong
kiếp này lại không xẩy ra. Khi ta phát tâm làm một việc hợp với Thiên Ư th́ một
ảnh hưởng tinh tú bỗng chói sáng và các từ điện mạnh mẽ đẩy
ngược luồng vũ trụ tuyến sang hướng khác. Do đó, con người có
thể cải mệnh số dễ dàng nếu biết làm các việc tốt lành, đẹp
đẽ. Dĩ nhiên, ảnh hưởng xấu không mất đi nhưng sẽ tiềm
ẩn, chờ một cơ hội khác sẽ phát hiện lại. Nói một cách khoa học
th́ đời người có thể ví như một phương tŕnh toán học A * B equals
C. A và B là nguyên nhân và C là hậu quả nhưng nếu ta thêm vào đó một nguyên nhân X th́
A * B * X sẽ không thể bằng C nữa v́ đă có thêm nguyên tố X. Đó là nguyên lư hoán cải
số mạng mà tôi vừa tŕnh bày.
Đời người thực ra đă ghi khắc trên
tinh tú nhưng các tinh tú khi sáng khi mờ và sự mờ tỏ do chính ta quyết định.
Khi ta có các hành vi xấu xa nó tạo ra những động lực xấu và sẽ thu hút các
điều xấu ghi khắc trên tinh tú phản chiếu xuống mau lẹ hơn. Dĩ nhiên
hậu quả không thể lường. Trái lại, nếu ta ư thức điều này, phát
tâm làm việc hữu ích tự nhiên phát sinh các động lực tốt đánh bật các
ảnh hưởng xấu sang một bên. Nhờ nghiên cứu Chiêm Tinh Học một cách đứng
đắn, khoa học, con người sẽ hiểu biết mệnh trời, biết tin
tưởng ở ḿnh và sống cuộc đời thoải mái, không bi quan, không lạc quan,
an vui tự tại.
- Như thế người đi trên đường Đạo sẽ
gặp ǵ khi đă có nghiệp quả xấu?
- Nghiệp quả xấu ví như một
án treo, bất động - nhưng không ai có thể tránh được nó. Đối với những
người đă vào cửa Đạo, đă hiểu biết th́ họ lại cầu xin được
trả quả cho lẹ. Tuy họ không gây các nhân xấu nữa nhưng họ đủ can
đảm để chịu đựng nghiệp quả. Có thế họ mới rút ngắn
thời gian trong sinh tử luân hồi. Hiểu biết mệnh trời để sống thoải
mái chính là mục đích khoa Chiêm Tinh chân chính.
Babu im lặng suy nghĩ sau cùng y bước
đến một tủ lớn mang ra một cái hộp nạm vàng rất đẹp. Trong
hộp chứa một quyển sách cổ viết trên lá Buôn (Papyrus) y long trọng tuyên bố:
- Đây chính là một phần của bộ Brahma Chinta mà tôi sưu tầm được.
Các ông nên biết huyền môn có hai phần: Công truyền (Exoteric) và bí truyền (Esoteric). Loại
bí truyền chỉ được dạy cho các đệ tử đă bước vào cửa
Đạo, đă được tuyển chọn rất kỹ. Hiền triết Bhrigu chỉ
truyền cho 4 đệ tử bộ sách này. Tôi tiếc rằng mẫu nhỏ này c̣n nhiều
thiếu sót và rất khó hiểu, mất hơn 20 năm nghiên cứu mà tôi chỉ hiểu chút
ít thôi. Gặp gỡ các bạn bữa nay là một nhân duyên hiếm có tôi xin dịch vài trang
để làm quà cho các bạn:
- Vạn vật trong vũ trụ dù ở cơi vô h́nh hay
hữu h́nh đều được sắp hạng và phân loại theo quy mô của số
7. Tất cả mọi h́nh thức sinh hoạt trong dăy hành tinh hiện tại đều thuộc
một trong 7 cung. Mỗi cung có 7 phân bộ hay 49 nhóm.
Toàn thể Thái Dương hệ
của chúng ta đều là sự biểu lộ của Thượng Đế, mỗi phần
tử trong đó đều là một phần của Ngài. Ngoài ra có 7 vị tinh quân (Logoi) mỗi
vị kiểm soát một cung. Thật ra các vị này chỉ là những trung tâm thần lực
những con đường vận hà để thần lực Thượng Đế ban răi ra.
Con người có ba thể chính là thể xác, thể vía và thể trí tương ứng với
ba cơi giới Hạ Giới, Trung Giới và Thượng Giới. Thượng Đế cũng
thế. Tất cả vật chất trong Hạ Giới hợp thân thể xác của Ngài.
Tất cả vật chất cơi Trung Giới hợp thành Vía của Ngài và tất cả vật
chất cơi Thượng Giới hợp thành thể Trí của Ngài. Tóm lại, tất cả
đều là thành phần của Thượng Đế từ hạt bụi đến các dăy
Thiên Hà. Mọi nguyên tử vật chất cấu tạo nên chúng ta đều là một phần
của Thượng Đế xuyên qua 7 cung - khi qua đây nó bị thay đổi ít nhiều tùy
ảnh hưởng các cung. Khoa chiêm tinh có thể phân biệt người nào chịu ảnh
hưởng cung nào tùy số lượng nguyên tử cấu tạo xuất phát từ cung
liên hệ.
Babu nh́n mọi người thấy cũng có vẻ ngơ ngác. Y mỉm cười
giải thích:
- Đề tài này rất khó hiểu, thôi để tôi giải thích rộng
ra vậy. Nói theo danh từ Thiên Chúa Giáo th́ Bẩy vị Tinh Quân (Logoi) này đă xuất hiện
trong linh ảnh (Vision) của Thánh Jean. Sách Khải Huyền 4. 5 nói rơ: “Có 7 ngọn đèn
thắp trước Ngài, đó là 7 vị Đại Thiên Thần của Chúa Trời.” Lúc khởi
thủy mọi người chúng ta đều là thành phần của Thượng Đế nghĩa
là cùng bắt nguồn từ một nơi. Sau đó, chúng ta tách rời ra xuyên qua 7 con đường
vận hà này. Theo sự hiểu biết của tôi th́ 7 con đường biểu lộ 7
đức tính của Thượng Đế qua 7 vị Tinh quân: Vị thứ nhất là Thiên
Thần Michael (Sức mạnh) liên hệ đến Hỏa Tinh. Vị thứ hai là Gabriel (Toàn
tri) liên quan đến Thủy Tinh. Vị thứ ba là Raphael (Quyền năng) liên quan đến
Thái Dương. Vị thứ tư là Uriel (Ánh sáng) liên quan đến Mặt Trăng. Vị
thứ năm là Zakiel (Hảo ư) liên quan đến Mộc Tinh c̣n hai vị kia là Jophiel và Chamuel
th́ tôi không biết rơ hành tinh liên hệ.
Khoa học thực nghiệm tin rằng các hành
tinh đều là sự kết hợp ngẫu nhiên của vật chất. Nếu là ngẫu
nhiên tại sao chúng nằm ở các vị trí nhất định trong vũ trụ và di chuyển
theo một quỹ đạo cố định? Mọi vật dường như tuân theo
một định luật thiên nhiên nhưng đằng sau định luật đó luôn luôn
có một sức mạnh thiêng liêng cai quản. Tôi cố gắng dùng tên các vị thiên thần
và danh từ Thiên Chúa Giáo để giải thích cho các ông. Điều này có thể được
diễn tả khác đi tùy quan niện tôn giáo, văn hóa nhưng sự thật vẫn là một.
Muốn hiểu khoa Chiêm Tinh phải đi ngược về nguồn cội. Con người
từ một chốn nguyên thủy ví như nước cùng một nguồn chảy theo bẩy
ḍng suối khác nhau để ra biển. Mỗi ḍng suối sẽ mang một tính chất khác
nhau, do đó nước trong suối cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều.
Loài người có thể phân biệt ra 7 đức
tính rơ rệt tùy theo con đường vận hà mà họ trải qua. Khoa Chiêm Tinh nghiên cứu
con người và ảnh hưởng hành tinh đến các tính nết nhất định.
Cũng như khoa Sinh Lư Học phân biệt con người qua tính chất nồng nhiệt,
lănh đạm, Bạch Huyết chất hay Đa Huyết chất. Thực ra đó chỉ là các
phương pháp khác nhau để tŕnh bày tính chất con người.
Dĩ nhiên, không
dễ ǵ t́m ra cung của mỗi người v́ y đă đi sâu trong luân hồi sinh tử,
tạo các nghiệp quả phức tạp và những nguyên nhân này chế ngự, ảnh hưởng
đến tính t́nh y rất nhiều. Chỉ với sự khai mở các giác quan như Thần
Nhăn hay có một kinh nghiệm sâu xa về huyền môn ta mới có thể biết rơ họ thuộc
cung nào.
Nếu một người biết rơ cung của ḿnh và tiếp tục trau dồi
bản tính sẵn có th́ y sẽ tiến rất nhanh v́ khí cụ hữu hiệu nhất là phương
pháp thuộc về cung liên hệ. Thí dụ như người có khiếu về âm nhạc
lại cứ học Toán. Không phải y sẽ không tiến bộ ǵ nhưng nếu đi về
âm nhạc y sẽ tiến nhanh hơn v́ hợp với khả năng hơn. Sự hiểu
biết ḿnh là ai, có những khả năng tiềm ẩn nào sẽ giúp ta định hướng
đi cho chính xác. Đó mới là mục đích của khoa Chiêm Tinh.
Đa số con người
hành động không ư thức, chịu ảnh hưởng ngoại cảnh nên luôn bất măn,
không thoải mái. Họ tự đóng kịch với chính ḿnh hoặc sống theo một lề
lối khuôn khổ không thích hợp. Trong Kinh Thánh có câu: “Nếu các ngươi không hồn
nhiên như trẻ con, các ngươi không thể vào nước Thiên Đàng”. Điều này khuyên
ta nên sống thật với chính ḿnh. Chiêm Tinh Học có thể giúp ta biết ta là ai, thích hợp
với những công việc ǵ? Sự nghiên cứu Chiêm Tinh như thế mới gọi là đứng
đắn chứ không phải chỉ xem quá khứ, vị lai, may rủi.
- Làm sao con
người có thể biết họ thích hợp với cung nào?
- Một nhà Chiêm Tinh giỏi
có thể lấy lá số tử vi để xem cá nhân liên hệ với cung nào, điều
này đ̣i hỏi rất nhiều thời giờ, kinh nghiệm. Một phương pháp khác
là hăy nh́n hành động mỗi người: Người thuộc cung 1 sẽ đạt đến
mục đích bằng sức mạnh ư chí. Người thuộc cung 2 phân tích kỹ lưỡng
vấn đề để lựa chọn phương pháp nào hữu hiệu nhất. Người
thuộc cung 3 nghiên cứu rất kỹ về thời gian, giờ khắc thuận lợi
nhất v. v... Một thí dụ khác như trong việc chữa bệnh, người thuộc
cung 2 sẽ t́m hiểu nguyên nhân và phương pháp nào thích hợp nhất để chữa
khi người thuộc cung 3 sẽ nghiên cứu thời gian nào thuận lợi để
chữa. Người thuộc cung 6 sẽ t́m cách chữa bệnh bằng đức tin. Người
thuộc cung 7 sẽ chữa bằng các nghi lễ, cúng tế v. v... Tuy nhiên, cách tốt hơn
hết là tự ḿnh, xét lấy ḿnh. Hăy dẹp bỏ những điều ḿnh vẫn khoác lên
bản ngă như danh vọng, địa vị, ham muốn. Hăy thành thật với chính ḿnh
th́ ta có thể xem được ḿnh thuộc về cung nào. Nếu ta là người có ư chí
mạnh mẽ, cương quyết làm việc trong tinh thần khoa học th́ có lẽ ta thuộc
cung 1. Nếu ta là người khôn khéo, thích lư luận và làm việc một cách hiệu quả
th́ có lẽ ta thuộc cung 2. Nếu ta là người nhạy cảm, thích hoạt động
xă hội, từ thiện th́ có lẽ ta thuộc cung 5. Nếu ta là người có đức
tin mạnh mẽ, cẩn thận, có thể ta thuộc cung 7 v. v...
Đề tài các cung rất
khó giải thích trong một thời gian ngắn. Tôi chỉ có thể nói vắn tắt thôi:
Cái vật chất sơ khai nguyên thủy bắt đầu tiến hóa qua 7 con đường
vận hà hay 7 đức tính quan trọng. Chỉ khi nào con người phát triển toàn vẹn
cả 7 đức tính này y sẽ trở nên toàn thiện. Dĩ nhiên, chúng ta đều bất
toàn dù mỗi cá nhân đă nẩy nở các đức tính cần thiết căn bản.
Người
Âu Tây đă khai mở rất nhiều khả năng suy luận, khoa học nhưng thiếu
khả năng sùng tín, bác ái. V́ lư trí nẩy nở nhiều hơn t́nh cảm nên họ có vẻ
thiếu thiện cảm, lạnh lùng thích chống báng thay v́ dung ḥa. Trong khi đó, người
Á Châu phát triển mạnh về sùng tín và bác ái nhưng thiếu khả năng suy luận,
để t́nh cảm chi phối nên họ có vẻ chịu đựng, nhượng bộ,
khoan dung, dễ dăi. Cả hai đều không quân b́nh tuyệt đối nên trong tương
lai sẽ có các biến chuyển mạnh mẽ, xáo trộn để cả hai dân tộc có
dịp học hỏi, ḥa hợp với nhau.
Babu im lặng suy nghĩ một lúc rồi
trầm giọng:
- Trong cuộc đời nghiên cứu sách vở bí truyền của
các tôn giáo, tôi không hề thấy có sự khác biệt giữa các giáo lư nếu không nói là giống
hệt nhau. Tiếc thay, con người chỉ thích đi t́m sự khác biệt để chỉ
trích, phê b́nh và càng ngày càng đi xa đến chỗ vô minh cùng cực.
- Nhưng các tôn
giáo có khác biệt nhau chứ?
Babu nhẹ nhàng:
- Này các bạn, mỗi quốc gia
có phong tục, tập quán riêng biệt. Mỗi thời buổi đều có các thay đổi,
giá trị khác nhau do đó, một chân lư cũng có thể được giảng dạy bằng
các phương pháp khác nhau. Phương pháp, ngôn ngữ có thể khác nhưng chân lư vẫn
là một cũng như Thượng Đế có 7 con đường vận hà khác nhau qua bẩy
cung. Nguyên tử mỗi cung có các rung động khác nhau, có màu sắc khác nhau, tính chất khác
nhau nhưng nó đều là nguyên tử xuất phát từ Thượng Đế. Nếu bạn
thay đổi áo mặc khác nhau th́ bạn đâu có thay đổi, chiếc áo có thể khác
nhưng người mặc áo vẫn chỉ là một. Nếu các ông đi ngược về
cội nguồn các ông sẽ hiểu sự thay đổi từng thời kỳ qua ảnh
hưởng tinh tú.
Giáo sư Allen thắc mắc:
- Xin ông giải thích thêm về
việc này.
Babu trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi trả lời:
- Trong 7
vị Tinh Quân có những biến đổi diễn ra từng thời kỳ giống như
sự tuần hoàn của hơi thở trong bộ máy hô hấp hay sự vận động
của trái tim. Các sự biến đổi này diễn ra vô cùng phức tạp dưới
thiên h́nh vạn trạng. V́ lẽ thể vía con người được cấu tạo
cùng một nguyên tử với thể vía các vị Tinh Quân nên khi vị Tinh quân thay đổi
tự nhiên mọi người trên thế gian cũng ít nhiều ảnh hưởng theo. Nói
một cách khác, khi vị Tinh Quân cai quản một cung thay đổi th́ những người
đă đi qua cung đó, nguyên tử cấu tạo có chứa đựng nhiều tỷ lệ
của cung đó sẽ thay đổi theo. Trong lịch tŕnh tiến hóa, đă có những sự
thay đổi trong đầu óc loài người từng thời kỳ và do đó, văn minh
nhân loại cũng đổi thay. Theo sự nghiên cứu của tôi th́ mỗi chu kỳ kéo
dài khoảng 100 năm, nhưng cứ 25 năm cuối lại có các biến chuyển gây ảnh
hưởng cho chu kỳ kế tiếp.
- Như vậy th́ sự biến chuyển kỳ
này sẽ bắt đầu vào khoảng 1975 cho đến năm 2000 và ảnh hưởng
đến thế kỷ 21?
Tiếp theo hành trinh về Phương Đông >>3 & 4

|
|

|

|