
|

|
|

Bài
viết tưởng niệm cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát nhân ngày giỗ thứ
28 Nguyễn Tú
LTS: Nhân ngày giỗ thứ 28 (27 Tháng Tư, 2008) của
Bác Sĩ Phan Huy Quát (1908-1979), cựu thủ tướng Việt Nam Cộng Ḥa (1965), nhật
báo Người Việt xin đăng tải bài viết của Nguyễn Tú, trích từ nguyệt
san Khởi Hành số 138, Tháng Tư 2008, để tưởng niệm vị cựu thủ
tướng miền Nam tự do đă bỏ ḿnh trong lao tù Cộng Sản sau ngày 30 Tháng Tư
1975.
Bác Sĩ Phan Huy Quát sinh năm 1908 tại Nghệ Tĩnh, tham chính nhiều lần,
từng làm Tổng Trưởng Giáo Dục, Tổng Trưởng Quốc Pḥng, lần cuối
cùng giữ chức vụ Thủ Tướng Việt Nam Cộng Ḥa, vào năm 1965. Ông cũng
là Chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng, phân bộ Việt Nam,
và là chủ nhiệm tuần báo Diễn Đàn, Sài g̣n, 1972. Ngày 16 Tháng Tám 1975 Bác Sĩ Quát bị
Cộng Sản bắt do nội phản trên đường vượt biên; và chưa đầy
bốn năm sau ông từ trần trong nhà tù Chí Ḥa. Bài dưới đây do kư giả kỳ
cựu Nguyễn Tú, bạn ông, và cũng là bạn tù (người đă sống bên cạnh
Bác Sĩ Quát trong những ngày tháng và giờ phút cuối cùng tại khám Chí Ḥa), kể lại
"như một nén hương chiêu niệm chung."
Trong thời gian bị cầm tù, Bác Sĩ
Quát bị bệnh gan rất nặng song Việt Cộng không cho chữa chạy, thuốc
men do gia đ́nh tiếp tế không được nhận. Người con trai út bị giam
ở pḥng bên, có thuốc cho bố, cũng không làm sao mang sang. Khi biết ông không thể nào
qua khỏi, chúng mới đem ông lên bệnh xá. Ông chết ở đó vào ngày hôm sau, 27 Tháng
Tư 1979.
Tang gia đă được phép để mang thi hài ra quàn tại chùa Xá Lợi
và phát tang ở đấy vào ngày hôm sau, song phút chót, Hà Nội ra lệnh phải an táng ngay,
v́ ngày đó, 28 Tháng Tư 1979, Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc tới Sài G̣n; Việt Cộng
sợ dư luận quốc tế - nếu biết đến cái chết bị bỏ mặc
của một cựu Thủ Tướng Miền Nam - có thể ngó tới t́nh trạng giam
cầm của hàng trăm ngàn người khác. Cũng bởi thế, rất ít người
nghe biết đến sự đày đọa tù nhân Phan Huy Quát cũng như cái chết trong
tù của ông - bên cạnh các trường hợp tương tự của các trí thức văn
nghệ sĩ khác - của nhà cầm quyền Hà Nội.
Chí Ḥa, Sài G̣n Một
ngày cuối Tháng Tư 1979
Hôm
nay đến lượt bốn pḥng 5-6-7-8-, gác 1, khu ED được đi tắm, giặt.
Mọi người đều rộn rạo, hối hả chuẩn bị, cười hô
hố. Cứ ba ngày rưỡi mới được sối nước trên thân thể hôi
hám, ngứa ngáy và ṿ vội quần áo đă tích trữ kha khá mồ hôi, đất ghét, th́ trước
cái hạnh phúc nhỏ nhoi chỉ được phép hưởng hai lần mỗi tuần,
ai mà không "vui vẻ, hồ hởi, phấn khởi" dù, trên lư thuyết, thời gian tắm
được quy định 30 phút cứ bị cán bộ ăn bớt, chỉ c̣n vỏn
vẹn 15 phút.
Cả bốn pḥng đă lần lượt ra hành lang ngồi xổm sắp
hàng đợi cán bộ gác đến điểm số. Lần đó, viện cớ bị
cảm, tôi xin phép ở lại trong buồng. Tôi có mục đích riêng. Kiểm tra xong số
người ở lại mỗi buồng, cán bộ ra hiệu cho mọi người đứng
dậy, tiến về phía cầu thang. Tiếng guốc, tiếng dép khua trên cầu thang, tiếng
nói lao xao của đoàn người xa dần rồi lắng hẳn. Từ dưới sân
đă bắt đầu vọng lên tiếng sối nước ào ào, tiếng nói oang oang, tiếng
cười khanh khách thỉnh thoảng xen tiếng chửi thề thân mật, tiếng sặc
nước, tiếng rú khoái trá của các bạn tù được làn nước mát như
nước lũ chẩy dồn dập trên da. Hạnh phúc thật!
Buồng 5 chúng tôi
ở đầu dăy, sát với đầu cầu thang, nơi đây đặt một cái bàn
và một cái ghế cho cán bộ gác. Chỗ tôi nằm sát hàng song sắt. Tôi đứng dậy,
nh́n về phía đầu cầu thang chỉ cách chừng ba thước rồi quay người,
đảo mắt suốt dọc hành lang. Không có bóng cán bộ. Căn pḥng vơi đi 58 người
như rộng ra. Hơi nồng của 60 mạng tù tích tụ từ suốt ngày và đêm
trước tự giải phóng dần dần đem lại một cảm giác thoáng khí hơn.
Căn
pḥng chỉ c̣n lại hai người không đi tắm là tôi và một người nữa
đang nằm ở hàng giữa, sát tường, trên diện tích vỏn vẹn có 60 phân tức
2/3 của một chiếc chiếu hẹp. Đó là khoảng không gian đă được chia
rất đều cho 60 tù nhân mà Việt Cộng đă cải cho cái danh từ mỹ miều
là "trại viên" Người đồng pḥng này nằm, hai chân duỗi thẳng, hai cánh tay gập
lại trên bụng, hai bàn chân chắp vào nhau, mắt nhắm, vẻ mặt b́nh thản. Ông
bị bệnh đă hơn một tuần, không thuốc men. Nước da mặt đă chuyển
sang màu tai tái càng nổi bật với màu trắng của cḥm râu và mái tóc. Bệnh nhân nằm
im, không cựa quậy, thân h́nh như đă quen đóng khung trong không gian 60 phân của chiếc
chiếu. Ông là Bác Sĩ Phan Huy Quát đă từng là Tổng trưởng nhiều lần, chức
vụ cuối cùng và cao nhất trong hoạt động chính quyền của ông là chức
Thủ Tướng Việt Nam Cộng Ḥa vào Mùa Xuân 1965. Năm 1979 ông đă trên 70 tuổi.
không một bóng người, không một tiếng động khả nghi nào trên tầng gác
vắng lặng. Tôi bước vội tới chiếu của Bác Sĩ Quát rồi ngồi
sát bên. Bệnh nhân vẫn nằm im, mắt nhắm, không một phản ứng nào chứng
tỏ ông cảm giác thấy có người bên cạnh. Hơi thở yếu. Bộ đồ
ngủ của ông bận có cũ nhiều nhưng không bị xô lệch. Đôi ống quần
được kéo thẳng tới cổ chân. Đôi tà áo được khép gọn, ôm kín thân trên.
Cánh tay áo trùm tới tận cổ tay. Chẳng phải v́ cuộc sống tạm bợ trong
tù rất nhiều hạn chế khắc nghiệt cộng thêm lâm bệnh nặng đă hơn
một tuần - một trường hợp bất cứ ai cũng có thể buông thả,
mặc cho thân phận nổi trôi và có thể kém đi nhiều, ít cảnh giác về cách phục
sức và tư thế - mà Bác Sĩ Quát thiếu chững chạc. Và từ cái chững chạc
này như toát lên một cái ǵ có vẻ nghịch lư đến độ vừa đau đớn
vừa dũng mănh giữa thân phận con người và hoàn cảnh.
Tôi khẽ lên tiếng: "Anh
Quát! Anh Quát!"
Không một phản ứng của bệnh nhân. Tôi lắc nhẹ cánh tay bệnh
nhân, hơi cao giọng: "Anh Quát! Anh Quát!" Vẫn không một phản ứng, tôi đưa ngón
tay trỏ qua mũi bệnh nhân. Hơi thở quá yếu. Dưới sân, tiếng sối nước
bắt đầu thưa dần. Thời gian tắm giặt sắp hết. Tôi không muốn
mục đích khai bệnh giả của tôi bị lộ là cố ư ở lại buồng
để đích thân nói ít điều cho là cần thiết với Bác Sĩ Quát và cả với
tôi nữa.
Buồng 5 chúng tôi vẫn được Việt Cộng coi là một buồng
"phản động" nhất trong số bốn buồng của lầu 1, khu ED v́ chứa một
cựu Thủ tướng, 3 cựu Tổng trưởng, nhiều sĩ quan cấp tá, một
số ít dân sự "đầu chai đá, khó cải tạo, phần tử rất xấu, mất
dậy." Một buồng "ngụy nặng" nên được Việt Cộng tận t́nh "chiếu
cố" trong sinh hoạt hàng ngày. Ngoài ra, c̣n phải kể tới một vài tên "ăng ten" tức
chỉ điểm được cài trong buồng. Tóm lại, chúng tôi đều bị theo
dơi rất sát, rất chặt. Tôi phải làm gấp. Tôi lắc mạnh hơn cánh tay bệnh
nhân, cao giọng thêm: "Anh Quát! Anh Quát!"
Bệnh nhân vẫn lặng im. Phải làm thật
gấp. Tôi xoay nghiêng ḿnh, tỳ tay xuống chiếu, ghé miệng sát tai Bác Sĩ Quát, cố
nói thật rành rẽ: "Anh Quát! Anh Quát! Nhận ra tôi không?" Lần này đôi mi bệnh nhân hơi
động đậy rồi dướng lên, hé mở. Tôi thoáng thấy ḷng trắng mắt
vàng khè. Chẳng cần phải học ngành y mới biết bệnh gan của Bác Sĩ Quát
coi mới nặng. Bệnh nhân vắn tắt thều thào: "Anh Tú!" Tôi hơi yên tâm. Miệng
lại sát tai Bác Sĩ Quát, tôi nói: "Anh mệt lắm phải không?" Đầu bệnh nhân hơi
gật gật. Không hiểu lúc đó linh cảm nào xui khiến, tôi cố rót vào tai Bác Sĩ
Quát, giọng hơi nghẹn: "Anh có nhắn ǵ về gia đ́nh không?" Bệnh nhân cố gắng
lắc đầu, mắt vẫn nhắm. Dưới sân không c̣n tiếng sối nước
nữa. Có tiếng các buồng trưởng dục anh em tập hợp để điểm
số lại trước khi lên buồng. Chỉ c̣n độ hơn một phút. May lắm
th́ hai phút. Tôi dồn dập bên tai Bác Sĩ Quát: "Ai đặt bày, lừa bắt anh? Ai phản
anh? Thằng Liên phải không? Nói đi! Nói đi!" Đôi môi bệnh nhân như mấp máy.
Tôi
vội nhổm lên, ghé sát tai tôi vào miệng bệnh nhân. Một hơi thở kḥ khè, theo sau
là vài tiếng khô khốc, nặng nhọc như cố trút ra từ một chiếc bong bóng
đă dẹp hơi đến chín phần mười: "Thôi! Anh Tú ạ." Tiếng guốc,
dép, tiếng cười, nói ồn ào đă bắt đầu từ chân cầu thang. Tôi chưa
chịu buông: "Nói đi! Anh Quát! Nói đi!" Một hơi thở một chút gấp hơn, như
làn hơi hắt vội ra lần chót! "Thôi! Thôi! Bỏ đi!" Tiếng guốc, dép, tiếng
cười, nói ồn ào đă tới quá nửa cầu thang. Tôi vội nhổm dậy, bước
nhanh về chiếu ḿnh, nằm thẳng cẳng, vắt tay lên trán.
Ngoài hành lang, các bạn
tù hối hả, xôn xao phơi quần áo mới giặt. Vài tiếng kỳ kèo nhau về chỗ
dây phơi. Rồi như một đội quân đă chọc được pḥng tuyến
địch, họ ùa vào pḥng, đứng lố nhố nghẹt lối đi quá nhỏ giữa
ba hàng chiếu. Căn pḥng như bị co hẹp lại. Tiếng cười đùa thưa
dần khi tất cả đă về được chiếu ḿnh. Khói thuốc lá bắt đầu
tỏa. Đây đó tiếng rít của vài b́nh thuốc lào nổi lên ṣng sọc. Bây giờ th́
mọi người, sau trận tắm thỏa thuê, đă ngả lưng trên chiếu. Cả
pḥng lặng tiếng. Tôi ngồi dậy, hỏi vọng qua hàng chiếu giữa, phía sát
tường: "Anh Châm! Anh coi lại xem anh Quát bệnh t́nh hôm nay ra sao?"
Bác Sĩ Hồ Văn
Châm, cựu Tổng trưởng Thông tin, Chiêu hồi và Cựu chiến sĩ, có phần chiếu
liền bên Bác Sĩ Quát. Ông Châm quay về phía Bác Sĩ Quát, tư thế nằm vẫn y như
trước. Cảnh lộn xộn, ồn ào, ầm ĩ vừa qua của căn pḥng không
làm Bác Sĩ Quát động đậy chút nào. Cái ǵ đă như làm tê liệt bộ phận
giây thần kinh điều khiển nguồn năng ư chí con người đến nỗi
Bác Sĩ Quát không phản ứng ǵ, hay không c̣n muốn phản ứng ǵ dù chỉ là một
phác họa - trước cảnh huống bên ngoài? Một h́nh ảnh buồn thảm lóe lên
trong tưởng tượng; nếu không phải là mùa oi bức th́ một tấm nền
mỏng đắp lên người dong dỏng và gầy guộc của Bác Sĩ Quát thừa
đủ để đóng vai tṛ một tấm khăn liệm. Bác Sĩ Châm hướng
về phía tôi, lắc đầu. Tôi lên tiếng với buồng trưởng: "Anh Phương!
Báo cáo cán bộ xin đưa Bác Sĩ Quát đi bệnh xá chứ!" Phương là hạ sĩ
quan binh chủng nhẩy dù, tuổi khoảng 30. Tuy c̣n trẻ, tóc Phương đă trắng
xóa, có lẽ v́ "xấu máu." Anh em bèn dán cho cái nhăn hiệu "Phương đầu bạc." Phương
lặng thinh, coi bộ ngần ngại. Nói cho ngay suốt hơn một tuần lễ Bác Sĩ
Quát lâm bệnh Phương đă mấy lần báo cáo xin đưa Bác Sĩ Quát đi bệnh
xá, nhưng đều bị từ chối. Tôi quay về phía Bác Sĩ Châm: "Anh Châm! Nói cho Phương
biết bệnh trạng của Bác Sĩ Quát đi!" Ông Châm bèn bảo: "Anh Phương! Báo
cáo cán bộ ngay đi!" Phương không đáp, lộ rơ vẻ ngần ngại. Trong pḥng bỗng
nhao nhao nhiều giọng thúc giục, gay gắt: "Báo cáo đi! Chờ ǵ nữa? Bệnh như
vậy mà không đi báo cáo, c̣n chờ ǵ nữa? Chờ người ta chết à?" Căn pḥng
đang im ắng, sống động hẳn lên.
Nhiều bạn đang nằm, nhóm người
nh́n về phía Phương. Đang cởi trần, Phương uể oải đứng dậy,
bận áo, ra khỏi pḥng, đi về phía đầu cầu thang. Một lát khá lâu, cán bộ
gác tới, có Phương theo sau. Anh chàng cán bộ, mặt hơi khinh khỉnh, từ bên ngoài
song sắt cộc lốc hỏi vọng: "Đâu?" Bác Sĩ Châm nhích người qua một bên,
chỉ vào Bác Sĩ Quát: "Đây, cán bộ!" Nh́n một lát, cán bộ quay lưng, Phương lẳng
lặng về chiếu ḿnh. Những anh em khác lại đặt ḿnh nằm. Căn pḥng ch́m
trong im lặng hoàn toàn như thể hồi hộp chờ đợi một phán quyết sinh
tử của trại.
Chừng 20 hay 30 phút sau, có tiếng lao xao ở đầu cầu
thang. Hai bạn tù được làm ở bệnh xá, đem một băng ca tới cùng với
cán bộ gác và một cán bộ khác, chắc là ở bệnh xá. Căn pḥng lại náo động.
Mọi người đều ngồi dậy hoặc đứng lên phần chiếu của
ḿnh.
Phương "đầu bạc" dẫn hai anh mang băng ca đến chỗ Bác
Sĩ Quát. Bệnh nhân như mê man, tự ḿnh không ngồi dậy được. Bốn anh
em khỏe mạnh trong pḥng xúm nhau nâng bệnh nhân đặt trên băng ca. Trong lúc đó Bác
Sĩ Châm vội nhét vào một túi nhỏ vài đồ cần thiết cho Bác Sĩ Quát: Kem
và bàn chải đánh răng, vài đồ lót, thêm một bộ đồ ngủ, đũa,
muỗng, chén... Băng ca được khiêng đi. Bệnh nhân vẫn nằm, mắt nhắm,
không một phản ứng. Dưới sân, một tiếng kêu lớn! "Lấy cơm!" Căn
pḥng trở lại cuộc sống đơn điệu hàng ngày của một trại tù.
Lúc đó khoảng 10 giờ rưỡi.
Trưa hôm sau, khi lấy cơm trở về,
anh em th́ thầm rỉ tai nhau: "Bác Sĩ Quátchết rồi!" Cả pḥng nhao nhao: "Hồi nào?
Hồi nào? Chết mau quá vậy?" Một anh đáp: "Nghe nói, hồi trưa hôm qua th́ phải."
Chỉ
một lát cáo phó miệng của các bạn tù đi lấy cơm đă lan truyền khắp
khu ED. Bữa cơm trưa hôm đó ít ồn ào hơn thường lệ. Có ai trong pḥng thốt
một câu: "Bệnh như vậy, suốt hơn một tuần xin đi bệnh xá, không cho.
Đợi gần chết mới cho th́ c̣n ǵ!" Một điếu văn ngắn, gọn, hàm súc
cho một bạn tù đă nằm xuống. Một lời ngắn, gọn, hàm xúc lên án chế
độ bất nhân, ác nghiệt của Cộng Sản. Căn pḥng gần như lặng
đi. Không bao lâu sau bữa cơm, cán bộ gác tới, bảo buồng trưởng thu dọn
đồ của Bác Sĩ Quát. Trước khi quay lưng, hắn c̣n nói với: "Nhớ làm
bản kê khai, nghe không!" Đối với tù nhân, đó là lời công nhận chính thức cái chết
của bất cứ "trại viên" nào.
Lần này, là cái chết của một vị cựu
thủ tướng. Manh chiếu của Bác Sĩ Quát đă được gỡ đi theo
giỏ đồ c̣n lại của ông xuống văn pḥng khu. Chỗ nằm cũ của
ông trơ ra phần sân xi măng đă xỉn đen thời gian, mồ hôi, đau khổ và
uất ức dồn nén của hàng hàng lớp lớp thế hệ tù chính trị mà ông đă
là một trong biết bao người kế tiếp bất tận. Trí tưởng tượng
của ta có mặc sức tung hoành sáng tác biết bao nhiêu chuyện về trại tù và thân phận
tù nhân dưới chế độ Cộng Sản, th́ mảnh không gian xi măng đen kia
thầm lặng mà hùng hồn nói lên c̣n hơn thế nữa. Những ngày kế tiếp, cái
chết tức tưởi mang nhiều vẻ không rơ ràng của Bác Sĩ Quát c̣n là đề
tài bàn tán của nhiều người trong pḥng được tóm gọn trong hai chữ "nghi
vấn." Nhiều người cho rằng nếu được đi bệnh viện sớm
hơn, hoặc nếu không, mà được phép biên thư về nhà để thân nhân kịp
thời gửi thuốc th́ có thể Bác Sĩ Quát đâu ra đến nông nỗi đó.
Năm
1979 vẫn c̣n nằm trong thời kỳ mà Việt Cộng gọi là "rất căng." Cuộc
cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam,
nếu xuôi xẻ về mặt quân sự, th́ về mặt dân t́nh và chính trị lại chẳng
xuôi xẻ chút nào. Nhiều nơi đă nổi lên những phong trào chống đối vũ
trang làm cho Việt Cộng vô cùng lo lắng trong việc ước lượng tầm cỡ
của mỗi phong trào để liệu cơ đối phó. Ngay tại Sài g̣n, năm 1976,
vụ Vinh Sơn xẩy ra chưa đầy một năm sau "đại thắng Mùa Xuân"
của Việt Cộng đă làm chúng thất điên bát đảo và mặc dù những người
chủ trương và lănh đạo vụ Vinh Sơn cùng với một số chiến hữu
đă bị Việt Cộng thẳng tay đàn áp và thanh toán, dư âm và ảnh hưởng
của vụ ấy vẫn c̣n kéo dài măi tới 1979 và sau nữa. Lại thêm cuộc chiến
với Trung Cộng Mùa Xuân 1979 ở miền Bắc và cuộc chiến với Căm Bốt
ở miền Nam khởi sự từ 1978. Do đó Việt Cộng càng siết chặt kỷ
luật đối với tù chính trị Tuy không có bằng chứng rơ ràng, nhiều người
trong pḥng có cảm giác "ăng ten," tức chỉ điểm viên, đă được tăng
cường.
Cuộc sống tiếp tục trong bầu không khí càng ngày càng ngột ngạt.
Việt Cộng "dư" lư lẽ để đối xử với tù nhân tàn nhẫn hơn,
bất nhân hơn. Bác Sĩ Quát đă lâm bệnh trong hoàn cảnh khắc nghiệt đó. Con
trai út của ông là Phan Huy Anh bị bắt cùng với ông ngày 16 Tháng Tám 1975 không được
ở chung cùng buồng, mà bị giam ở buồng 6 sát bên. Hai cha con chỉ trông thấy nhau
những lần đi tắm, tức hai lần một tuần. Khi tắm cũng không được
liên hệ với nhau. Huy Anh dù có muốn giúp bố giặt quần áo hay một vài việc
vặt vănh cũng không bao giờ được phép. C̣n nói chuyện với nhau th́ tuyệt
đối cấm. Nếu bị bắt quả tang hay có người tố cáo, hai cha con sẽ
bị cúp viết thư về nhà với hậu quả kèm theo là bị cúp thăm nuôi. Ấy
là chưa kể có thể bị kỷ luật đưa đi biệt giam. Việc thăm
nuôi của gia đ́nh cũng tách rời, riêng biệt: không bao giờ hai cha con được
thăm nuôi, gặp gỡ thân nhân cùng một lúc, cùng một ngày. Hai cha con sống sát buồng
nhau mà c̣n hơn hai kẻ lạ. Hai kẻ lạ c̣n có thể xin phép trao đổi với
nhau chút quà, nói với nhau dăm ba câu. Bác Sĩ Quát và Huy Anh luôn luôn bị từ chối và bị
theo dơi kỹ. Khi được tin bố lâm bệnh, Huy Anh nhiều lần xin phép qua thăm
và đem thuốc cũng không được. Chỉ tới phiên đi lănh cơm, Huy Anh mới
được bước ra khỏi buồng. Những lúc đó tôi thoáng bắt gặp ánh
mắt buồn bă của Huy Anh kín đáo nh́n qua song sắt tới chỗ bố đang nằm
lịm. Tôi c̣n nhớ hai ngày trước khi Bác Sĩ Quát được đưa đi bệnh
xá, cán bộ gác mới cho phép Huy Anh đem thuốc cho bố, sau không biết bao nhiêu lần
năn nỉ. Huy Anh chỉ được phép đứng ngoài cửa nh́n vọng vào. Thuốc
th́ do buồng trưởng nhận đưa cho Bác Sĩ Quát. Thuốc đến quá muộn,
dù chỉ là thứ thuốc thông thường trị bệnh gan. Lần "nh́n thăm" thầm
lặng được phép công khai đó dài không quá hai phút. Và đó cũng là lần chót Huy
Anh được chính thức nh́n bố qua chiều dài gần 8 thước của căn
buồng dưới đôi mắt cú vọ của cán bộ gác ngồi phía đầu cầu
thang giám sát.
Hôm Bác Sĩ Quát được khênh đi bệnh xá, Huy Anh cũng không được
phép ra khỏi buồng dù chỉ để nói ít câu thăm hỏi và nh́n bố nằm thoi thóp
trên chiếc băng ca. Một ngày sau khi Bác Sĩ Quát chết, Huy Anh được trại
cho phép về thọ tang bố. Nhiều người trong chúng tôi hi vọng sẽ có tin thêm
về tang lễ và nhất là về cái chết quá đột ngột của Bác Sĩ Quát khi
Huy Anh trở lại trại. Thói quen giấu diếm, bưng bít đă trở thành một thứ
siêu vi trùng máu của Việt Cộng, thế nên khi Huy Anh trở về, chúng tôi chẳng biết
tin ǵ thêm ngoài việc tang lễ đă xong xuôi. Sau này có tin là Huy Anh sẽ được thả
nếu "thật tâm cải tạo tốt." Có nghĩa trong là không được tiết lộ
bất cứ điều ǵ liên quan đến cái chết, đến tang lễ của bố,
đến bất cứ những ǵ Huy Anh đă nh́n được, nghe được ở
xă hội Sài G̣n bên ngoài trong thời gian được về nhà. Phải thừa nhận Việt
Cộng rất "siêu" về thủ đoạn dọa nạt, nhất là đối với
những ai đang bị gọng ḱm của chúng siết chặt. Dù Bác Sĩ Quát đă chết,
không c̣n là một mối lo chính trị đối với Việt Cộng, do vậy không c̣n
cần thiết giữ Huy Anh làm con tin để đe dọa, đầy đọa tinh thần
ông bố nữa, cũng phải đợi đến cuối năm 1979, Huy Anh mới được
thả.
Trong thập niên 1940, Bác Sĩ Phan Huy Quát đă được nhiều người
ở Hà Nội biết tiếng là một lương y. Bệnh nhân của ông, cả Việt
lẫn Pháp, rất tín nhiệm ông v́ tư cách đứng đắn và lương tâm nghề
nghiệp rất cao của ông. Ngay cả một số người Pháp đă chọn ông làm
bác sĩ gia đ́nh của họ, một trường hợp rất hiếm trong y giới
người Việt thời ấy. Một đề tài nghiên cứu y học của ông có
liên quan đến bệnh đau mắt của Hoàng Đế Bảo Đại thời đó đă
được tặng giải thưởng đặc biệt của Hoàng Đế. Cuộc
đời chính trị của ông chỉ thực sự bắt đầu sau khi cựu Hoàng
Bảo Đại đă kư hiệp ước Vịnh Hạ Long với Cao ủy Bollaert của
Pháp ngày 8 Tháng Ba 1949. Trong chính phủ đầu tiên của quốc gia Việt Nam do cựu Hoàng Bảo Đại lănh đạo,
Bác Sĩ Quát tham chính với tư cách Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Sau
đó ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng Trưởng Quốc Pḥng.
Từ giữa năm 1953 trở đi, t́nh h́nh cuộc chiến với Việt Minh ở miền
Bắc Việt Nam ngày càng tồi
tệ. Thất trận của Pháp ngày 07 Tháng Năm 1954 ở Điện Biên Phủ mở màn
cho Hội Nghị Genève về Đông Dương với hậu quả là Việt Nam bị chia
đôi ở vĩ tuyến 17 do Hiệp Định Genève được kư kết giữa Pháp
và Việt Minh ngày 20 Tháng Bảy 1954. Ở Pháp, Quốc Trưởng Bảo Đại phong
ông Ngô Đ́nh Diệm làm thủ tướng. Ngày 7 Tháng Bảy 54, ông Diệm về nước.
Được ủy toàn quyền lănh đạo Việt Nam,
ông Diệm thành lập nội các mới và kiêm nhiệm luôn Bộ Quốc Pḥng.
Bác Sĩ
Quát trở lại nghề cũ, mở một pḥng mạch ở Dakao gần đầu cầu
Phan Thanh Giản. Suốt chín năm ông Diệm cầm quyền, Bác Sĩ Quát không tham chính: ông
khó có thể thuận với Tổng Thống Diệm về lề lối làm việc quá quan
liêu, hống hách và độc đoán của gia đ́nh họ Ngô. Thêm nữa ông là một thành
viên trong nhóm Caravelle đă công khai đưa ra bản tuyên bố chỉ trích chế độ
và đ̣i chính quyền Diệm thực hiện tự do, dân chủ. Cuộc đảo chính
ngày 01 Tháng Mười Một 1963 do một số tướng lănh Việt Nam Cộng Ḥa lănh
đạo chấm dứt chế độ Ngô Đ́nh Diệm theo liền cái chết bi thảm
của vị tổng thống và hai em ông là Ngô Đ́nh Nhu và Ngô Đ́nh Cẩn. Đại Tướng
Dương Văn Minh và Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ cầm quyền mới
được ba tháng th́ bị Tướng Nguyễn Khánh, tư lệnh vùng II chiến thuật,
chỉnh lư ngày 30 Tháng Giêng 64. Bác Sĩ Quát được mời làm Tổng Trưởng Ngoại
Giao. Ông ở chức vụ này tới khoảng Tháng Chín, 1964 rồi lại trở về pḥng
mạch.
Cuộc đời chính trị của ông đạt tuyệt đỉnh danh
vọng khi, vào giữa Tháng Hai năm 1965, ông được Tướng Nguyễn Khánh triệu
mời thành lập nội các mới. Giữ chức thủ tướng được khoảng
ba tháng th́ ông trao quyền lại cho Hội Đồng Quân Lực v́ những mâu thuẫn khó bề
giải quyết giữa ông và Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu. Ông lui về, trực
tiếp điều khiển pḥng thí nghiệm y khoa của ông ở đường Hai Bà Trưng.
Hoạt động chính trị của ông thu hẹp lại trong khuôn khổ của Liên Minh
Á Châu Chống Cộng mà ông là chủ tịch phân hội Việt Nam cho tới ngày Sài G̣n thất
thủ 30 Tháng Tư 1975.
Nhưng ngày kết liễu nền Đệ Nhị Cộng Ḥa chưa
phải là ngày chấm dứt hoạt động của Bác Sĩ Phan Huy Quát. Nó đưa hoạt
động ấy sang một hướng khác, hoàn toàn xa lạ với con người vốn
dĩ trong bao năm đă quen và chỉ quen hoạt động chính trị theo lối "chính
quy," trong "đường lối chính quy." Và con người thận trọng trong ông đă
lao vào một trận địa mà trước kia ông chưa từng một lần lưu
tâm và nghiên cứu địa h́nh phức tạp, hết sức bất thường do vậy
cũng hết sức bất ngờ: địa h́nh của trận địa hoạt động
bí mật, mà v́ tính chất của riêng nó, đ̣i hỏi một cách suy nghĩ khác, một thứ
thông minh khác, một loại bén nhạy khác, thậm chí đến cái can đảm trong hoạt
động bí mật cũng phải là cái can đảm khác. Vị cựu thủ tướng,
tự thân, chưa được chuẩn bị kỹ càng cho h́nh thái hoạt động
bí mật nó có những điều luật, những nguyên tắc đặc thù của riêng
nó. Điều này cũng dễ hiểu: ông chưa từng thấy có nhu cầu đó. Hoạt
động chính trị của ông từ trước không cần đ̣i hỏi ông có những
nhu cầu đó. Vậy mà trước hoàn cảnh đất nước rối bời đang
diễn tiến trước mắt, ông đă chọn dấn thân vào con đường mới
mẻ này. Một quyết định dũng cảm của một con người ngày ấy
đă gần 70 tuổi, và chắc chắn không phải là một quyết định dễ
dàng.
Sau ngày Sai gon thất thủ 30 Tháng Tư 1975, Bác Sĩ Phan Huy Quát không đáp "lời
mời" ra tŕnh diện của Việt Cộng được phổ biến trên đài phát
thanh, truyền h́nh và báo chí của chúng cho tất cả "ngụy quân, ngụy quyền". Liền
sau khi cộng quân ào ạt tuôn vào Saigon từ hai hướng Bắc và Nam ngày 30 Tháng Tư 1975,
Bác Sĩ Quát đă dời tư thất ở đường Hiền Vương và bắt
đầu cuộc đời "du mục" trong Saigon, quyết không để cho Việt Cộng
bắt. Cứ đôi ba ngày các con ông thay phiên nhau dẫn ông đi thay đổi chỗ trú ngụ.
Sau gần ba tháng trốn tránh như thế, ông có dấu hiệu mệt mỏi. Các con ông khuyên
ông trốn "trụ" hẳn một nơi. Ông nhượng bộ, về nhà trưởng nữ
trong một hẻm khuất ở quận Phú Nhuận.
Những ai đă sống ở
Saigon sau ngày 30 Tháng Tư 1975 chắc khó quên cái không khí ồn ào, nhộn nhạo, hỗn tạp
bao trùm khắp nơi, khắp chốn của cái thành phố hơn ba triệu người
này hầu như ngày nào cũng hối hả tuôn ra đầy nghẹt đường phố.
Vẻ mừng rỡ bề ngoài v́ chiến tranh đă chấm dứt không che đậy nổi
nhiều nỗi lo âu âm ỉ bên trong: Kẻ chiến thắng sẽ định đoạt
số phận của Saigon như thế nào? Thái độ nào tốt
nhất để đối phó với kẻ chiến thắng đang huênh hoang, ngạo mạn?
Tùy hoàn cảnh và cương vị riêng của mỗi cá nhân, người th́ chọn lối
âm thần sống ẩn, người th́ mặc, muốn ra sao th́ ra, cứ sống "tự
nhiên cái đă". Nhưng đại đa số th́ tính chuyện trốn khỏi Việt Nam bằng đường biển sau khi Mỹ
đă vĩnh viễn phủi tay. Một số khác th́ tính chuyện tiếp tục tranh đấu
chống Cộng. Đă manh nha những sự thăm ḍ, móc nối nhau, t́m ngơ ngách trong hai lănh vực
chính yếu: thứ nhất vượt biên, thứ nh́ chống Cộng.
Hai lănh vực
này tưởng là hoàn toàn riêng biệt, trái lại, thường xoắn vào nhau khá chặt,
bởi lẽ nhiều khi t́m đường vượt biển lại dẫn đến
mối chống Cộng, t́m đường chống Cộng lại dẫn tới mối
vượt biên. Bất cứ ai chọn dấn thân vào một trong hai lănh vực này đều
bị lôi cuốn vào cái ṿng luẩn quẩn lưỡng nguyên bi hài kịch đó. Bác Sĩ
Quát không ngờ sẽ rơi vào chính cảnh huống ấy. Trong thâm tâm, ông không muốn bỏ
chạy: ông vốn nặng t́nh quê hương. Nhưng gia đ́nh ông 14 người, mặc
nhiên là một áp lực tinh thần, thầm lặng đấy, nhưng đáng kể, buộc
ông không thể không nghĩ đến sự an toàn cho vợ, con, dâu, rể và các cháu nội
ngoại, nghĩa là phải nghĩ đến chuyện vượt biên. Ngoài t́nh quê hương
ông cũng nặng t́nh gia đ́nh không kém. Thực ra, khoảng một tuần trước
ngày 30 Tháng Tư 1975 lịch sử, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đă ra lệnh cho ông Đại
sứ của ḿnh ở Saigon nhân danh chính phủ mời Bác Sĩ Quát qua Đài Bắc trú ngụ
nếu như phía Mỹ chưa lo liệu cho bác sĩ. Lúc đó Bác Sĩ Quát chưa quyết
tâm ra đi nên chỉ cảm ơn và nói sẽ liên lạc sau. Về phía Mỹ, khi hay tin Bác
Sĩ Quát c̣n ở Saigon, ngày 28 Tháng Tư 1975 đă liên lạc với ông, hứa đưa
hai ông bà qua Mỹ. Bác Sĩ Quát trả lời không thể nhận sự giúp đỡ quư hóa
ấy nếu tất cả gia đ́nh ông gồm 14 người không được cùng đi.
Phía Mỹ ngần ngại, nhưng rồi cũng thuận ư muốn của Bác Sĩ Quát và
cho ông một điểm hẹn. Điểm hẹn này sau bị lộ. Thêm nữa ngày 29 Tháng
Tư 1975, t́nh h́nh căng thẳng tột độ, chính phủ Dương Văn Minh ra tối
hậu thư buộc Mỹ phải triệt thoái toàn bộ nhân viên D.A.O. tức bộ phận
tùy viên Quốc Pḥng của Mỹ trong thời hạn 24 tiếng đồng hồ. Liên lạc
giữa phía Mỹ và Bác Sĩ Quát bị tắc nghẽn. Chuyến trực thăng cuối
cùng chở người Việt tị nạn không có Bác Sĩ Quát và gia đ́nh.
Như
đă nói, ông nặng t́nh gia đ́nh, không muốn gia đ́nh bị khổ trong ṿng ḱm kẹp
của Cộng Sản và muốn gia đ́nh sống một nơi an toàn. Đồng thời ông
cũng không muốn làm "kẻ bỏ chạy" v́ ông cũng rất nặng t́nh quê hương,
đất nước. Ông muốn, nếu đi th́ cả nhà cùng đi. Nếu ở lại
th́ cả nhà cùng ở lại. Nhưng sau hai lần lỡ dịp di tản gia đ́nh, Bác Sĩ
Quát ư thức rất rơ hai mối t́nh song hành kia, t́nh gia đ́nh và t́nh quê hương, đất
nước, khó mà dung được với nhau và chỉ có thể chọn một. Và ông đă
chọn.
Ông bằng ḷng cho con trai út Phan Huy Anh đi thăm ḍ đường lối.
Do một người bạn của Huy Anh giới thiệu, Bác Sĩ Quát thuận gặp một
người tên Nguyễn Ngọc Liên. Liên tự xưng là một thành viên quan trọng của
một tổ chức chống Cộng nhận nhiệm vụ bắt liên lạc với Bác
Sĩ Quát, mời ông gia nhập tổ chức và nơi tổ chức có thể giúp gia đ́nh
ông vượt biên. Bác Sĩ Quát đồng ư về đề nghị thứ hai của Liên.
C̣n về đề nghị gia nhập tổ chức, ông nói sẽ có quyết định
sau khi gặp người đại diện có thẩm quyền của tổ chức. Đôi
bên đồng thuận. Gia đ́nh Bác Sĩ Quát gồm bà Quát, các con, cháu hơn mười
người được dẫn đi trước xuống Cần Thơ, ở lại
đó hai ngày. Hôm sau lên xe đi tiếp, dọc đường bị chận lại, đưa
về khám Cần Thơ. Cả nhà biết là đă bị mắc lừa. Một tuần sau
bị giải về trại giam Chí Ḥa, Saigon. Bà Quát, tuy tuổi đă
cao và mắc bệnh đau tim, vẫn bị biệt giam, điều kiện sinh hoạt rất
khắc nghiệt. Do con, cháu bà năn nỉ măi, Việt Cộng cho phép một cháu ngoại
gái của bà mới 12 tuổi qua ở biệt giam để chăm sóc bà. Được mấy
tháng, v́ t́nh trạng sức khỏe ngày càng xấu đi, bà Quát được đưa ra
ở pḥng tập thể với các con cháu. Được hơn một năm, có lẽ v́ xét
thấy gia đ́nh bà Quát đại đa số là giới nữ và khai thác cũng không thêm
được ǵ, Việt Cộng bèn thả hết. Riêng người con rể c̣n bị giữ
lại, đưa đi trại cải tạo Hàm Tân, gần mười năm sau mới
được thả.
Về phần Bác Sĩ Quát và con trai út của ông là Huy Anh th́ được
tên Liên đưa đi tạm trú tại một căn nhà kín đáo ở Chợ Lớn. Hai
ngày sau, theo kế hoạch, tên Liên đưa Bác Sĩ Quát và Huy Anh ra khỏi Saigon.
Khi xe ô-tô tới một điểm hẹn vắng vẻ thuộc tỉnh Biên Ḥa th́ đă
có một xe ô-tô khác đậu bên đường, nắp ca pô mở sẵn theo mật hiệu
đă quy định. Xe chở Bác Sĩ Quát và Huy Anh dừng lại. Một toán người
đi tới, vây quanh xe, rút súng hăm dọa. Bác Sĩ Quát biết ḿnh bị lừa. Ông và
Huy Anh được giải về Bộ Tư lệnh Cảnh Sát, đường Vơ Tánh,
Saigon. Hôm đó là ngày 16 Tháng Tám 1975, khởi đầu cuộc thử
thách chót trong đời vị cựu Thủ tướng. Một cuộc thử thách không
giống bất cứ một thử thách nào ông đă đương đầu trước
kia. Một cuộc thử thách mà chủ đích của Việt Cộng nhằm hạ nhục
con người chỉ chấm dứt sau khi vị cựu Thủ tướng đă vận
tất cả năng lượng vật chất và tinh thần ném hết vào cuộc đấu
tranh cuối cùng của ông, lần này mới thực là mặt đối mặt với quân
thù với không biết bao nhiêu căng thẳng, gay go về nhiều mặt. Cuộc đấu
tranh riêng lẻ mà ông chưa từng có một ư niệm và không bao giờ ngờ có ngày phải
tiến hành trong đơn độc, đă kết thúc vào trưa ngày 27 Tháng Tư 1979, đúng
ba hôm trước ngày Kỷ niệm Saigon thất thủ.
Cựu
Thủ Tướng Phan Huy Quát đă vĩnh viễn nằm xuống sau ba năm, tám tháng đấu
tranh không nhượng bộ trong gọng ḱm Việt Cộng.
Ngày 30 Tết, năm Mậu
Ngọ (dương lịch: 1978)
Gần một tháng trước Tết Mậu Ngọ
tôi bị chuyển về pḥng 1, gác 1, khu BC. Ba pḥng 2, 3, 4 bỏ trống. Chỉ riêng pḥng 1
có "khách hàng". Bác Sĩ Quát và tôi gặp lại nhau ở đó. Trong mấy ngày Tết, kỷ
luật nới lỏng, mọi người được đi lại thăm bạn bè ở
các pḥng khác, gác khác trong cùng một khu. Bác Sĩ Quát và tôi không ra khỏi gác 1. Chúng tôi thường
đi bộ dọc hành lang trống vắng vẻ, Bác Sĩ Quát bắt nhịp đi theo tiếng
chống nạng của tôi lúc đó chân bị tê liệt. Mấy ngày Tết quả là một
dịp hiếm có để có thể nói với nhau nhiều chuyện, khỏi sợ bị
để ư hay soi mói quá đáng. "Ăng ten" cũng phải ăn Tết chứ! Bác Sĩ Quát
đă tóm lược cho tôi nghe cuộc "phiêu lưu" của ông và gia đ́nh. Tôi có hỏi ông
về thời gian ông giữ tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát, đường Vơ Tánh.
Ông kể:
"Chúng bắt tôi viết bản tự khai tất cả những ǵ tôi làm khi
tôi giữ chức Thủ tướng. Bản viết của tôi không dài quá một trang tôi
viết vắn tắt là trong thời gian tôi ở cương vị Thủ tướng, tôi
lănh đạo việc nước, tôi chỉ đạo cuộc chiến chống Cộng.
Tất cả mọi cấp, từ cấp thấp nhất, đến cao nhất gần
gũi với Thủ tướng ở mọi ngành quân, dân, chính đều làm việc theo
chỉ thị và mệnh lệnh của tôi. Một ḿnh tôi trách nhiệm. Chúng không bằng ḷng,
bắt tôi viết lại. Tôi viết y như trước. Cù cưa như vậy đến
hơn một tháng, gần hai tháng. Chúng bèn chuyển sang thẩm vấn. Hỏi câu nào tôi trả
lới vắn tắt: Tôi trách nhiệm. Chúng đủ tṛ áp lực như anh biết đấy.
Sau đó, để bớt căng thẳng, tôi nhận viết. Vả lại, thú thực
lúc đó nhịp tim đập của tôi loạn xạ đă nhiều ngày, và tôi không có thuốc
trợ tim. Tôi cảm thấy chóng mệt. Tôi cứ từ từ viết được hơn
70 trang, trong đó tôi nêu một số nhận định về thời cuộc, đưa
ra một số đề nghị kiến thiết quốc gia. Trên trang nhất, tôi đề
tên người nhận văn bản của tôi là Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch
Mặt trận Giải phóng Miền Nam.
Chúng bắt tôi xóa, chỉ được viết là bản tự khai. Tôi không chịu. Sau cùng
chúng cũng nhận tập viết của tôi."
Tôi hỏi Bác Sĩ Quát: "Anh có tin là chúng
chuyển tập viết của anh tới Nguyễn Hữu Thọ không? - Tôi ngờ lắm.
Ông đáp. Nhưng không sao. Tôi mượn cớ đề tên Nguyễn Hữu Thọ để
ngầm bảo chúng rằng tôi không biết tới Hà Nội trong khi tất cả chúng ta đều
rơ là Nguyễn Hữu Thọ và Mặt trận Giải phóng Miền Nam chỉ là công cụ
của Hà Nội và Hà Nội thừa biết điều đó hơn ai hết."
Tôi bật
cười, Bác Sĩ Quát cũng cười theo. Chúng tôi hiểu nhau. Trong buồng có một
vài bạn tù đứng đắn, chúng tôi có thể nói chuyện thẳng thắn, cởi
mở, không nghi ngại. Tôi nhớ một lần, vẫn trong dịp Tết Mậu Ngọ,
chúng tôi năm người đứng nói chuyện gần ở một góc hành lang, câu chuyện
loanh quanh thế nào mà dẫn đến việc một bạn tù hỏi Bác Sĩ Quát về
một vài cộng sự viên thân cận nhất của ông mà ông thật tâm tác thành cho: "Có thật
hay không, tiếng đồn có người đá ngầm anh khi có dấu hiệu anh trên đà
xuống dốc?" Bác Sĩ Quát mỉm cười, trả lời, giọng b́nh thản: "Tôi
đă có nhiều dịp gần cụ Trần Trọng Kim khi sinh thời cụ. Tôi nhớ
măi một lời cụ dậy: sống ở đời phải cho nó chững. Tôi thường
kể lại cho các con, cháu trong nhà nghe lời của cụ Trần, kẻo uổng." Câu nói
của Bác Sĩ Quát không trả lời thẳng vào câu hỏi của anh bạn. Nhưng có
vẻ như mấy bạn biết thưởng thức câu trả lời đó v́ họ
cười ha hả.
Sau Tết, chúng tôi bị chuyển sang pḥng 5, gác 1, khu ED. Được
vài hôm, pḥng nhận thêm một tù nhân từ biệt giam qua. Người này, khi nhận thấy
Bác Sĩ Quát th́ tỏ vẻ lúng túng, ngượng ngập. Có chi lạ đâu? Hắn là Nguyễn
Ngọc Liên, người mời chèo Bác Sĩ Quát vào khu để rồi rơi vào bẫy sập
ở Biên Ḥa. Trong pḥng ngoài Bác Sĩ Quát và tôi, không một ai khác biết mối liên hệ giữa
Bác Sĩ Quát và hắn. Bác Sĩ Quát cư xử rất tự nhiên, không tỏ vẻ ǵ khó
chịu bực tức, nóng nẩy. Riêng tôi cũng không để lộ cho tên Liên rơ là tôi biết
chuyện của hắn. Cuộc sống ở Chí Ḥa đơn điệu, buồn tẻ,
ngột ngạt.
Ngày này sang ngày khác, mọi người như chết đi trên 2/3 manh
chiếu của ḿnh. Không bao giờ tôi nghe thấy Bác Sĩ Quát thốt lên dù chỉ nửa
lời than van về số phận của ḿnh hay của gia đ́nh về sự mất mát
tài sản mà Việt Cộng đă tịch thu toàn bộ chỉ để lại cho ông hai
bàn tay trắng. Ông sống lặng lẽ, trầm ngâm, kín đáo. Nhiều lần, cán bộ
Việt cộng cố ư công khai làm nhục ông trước mặt mọi người. Ông giữ
im lặng, cái im lặng kẻ cả. Không ai nhận thấy ở ông một vẻ ǵ kiêu
kỳ, của một người đă từng giữ những chức vụ cao sang trong
chính quyền cũ.
Ông biết ḥa ḿnh một cách đúng mức. Với anh em cùng cảnh
ngộ và cái đúng mức không gượng ép ấy tự nhiên bảo vệ tư thế
riêng của ông bằng một khoảng cách mà chẳng ai dám nghĩ muốn vượt qua.
Ngay đối với tên Liên mà nhiều yếu tố trong vụ Biên Ḥa đủ để
được xứng đáng nhăn hiệu "tên phản bội, tên lừa bịp", ông vẫn
giữ được cách lịch sự bao dung buộc kẻ kia tự ḿnh phải có thái
độ ăn năn, kính cẩn đối với ông. Thế nên tôi rất hiểu tâm địa
ông khi ông thều thào: "Thôi! Bỏ đi!" để trả lời câu hỏi dồn ông về
tên Liên bên chiếu bệnh. Ông biết v́ ông mà vợ, con, cháu ông đang dũng cảm chịu
khổ, chịu nhục, chịu thiếu thốn ở khu phụ nữ. Ông biết một
cháu nội gái của ông, con gái đầu ḷng của Huy Anh, mới ba tháng đă "được"
Việt cộng bỏ tù v́ bố mẹ và đang thiếu sữa.
Ông biết chừng
nào Việt Cộng chưa bẻ găy được ư chí đối kháng thầm lặng của
ông th́ gia đ́nh ông, đa số là phụ nữ và con nít vần là những con tin hữu hiệu
trong tay Việt Cộng dùng làm lợi khí đe dọa, đầy đọa tinh thần ông,
nghiền nát những ǵ là nhân tính trong ông, buộc ông phải thốt lên một lời quỵ
lụy quy hàng, Nhưng ông đă đứng được đầu gió. V́ ông đă cứng.
***
Tôi
thường nghĩ, trong suốt cuộc đời tham chính, thành tựu của Bác Sĩ
Phan Huy Quát có ư nghĩa lớn lao nhất, có ích cho quốc dân nhất, do đó quan trọng
vào bậc nhất v́ trực tiếp liên quan sâu sắc nhất đến tiền đồ
tổ quốc, là ông đă giành được chủ quyền cho ngành giáo dục Việt Nam,
khi ông được Cựu Quốc Trưởng Bảo Đại phong ông làm Tổng Trưởng
Bộ Giáo Dục trong chính phủ đầu tiên của Quốc gia Việt Nam mới được
Pháp thừa nhận nền độc lập. Do ḷng trí kiên nhẫn, thái độ khéo léo, mềm
dẻo nhưng không thiếu cương quyết trong thương thảo rất khó khăn,
nhiều khi đến độ rất căng thẳng với phái đoàn Pháp mà một số
thành viên lại là thầy học cũ của ông ở Đại học Y khoa Hà Nội. Ông đă
thuyết phục được phía Pháp trao trả Việt Nam trọn quyền của ngành giáo dục. Ông đă đặt
nền móng vững chắc cho việc dùng Việt ngữ là ngôn ngữ chính trong mọi giáo
tŕnh, mở đầu kỷ nguyên cải cách giáo dục toàn diện từ tiểu học,
qua trung học, lên tới đại học và trên đại học mang tính chất hoàn toàn
quốc gia mà dấu ấn căn bản và nguyên tắc đó không một ai, sau ông, có thể
thay đổi được. Pháp ngữ đă lui xuống thứ hạng như bất cứ
sinh ngữ nào khác được giảng dậy trong mọi cấp học tŕnh. Thành quả
tranh đấu gay go trong thầm lặng nhưng thật rực rỡ của ông với Phái
đoàn Pháp và công cuộc tiến hành cải cách giáo dục của ông đă được
báo chí thời đó xưng tụng và mệnh danh một cách rất xứng đáng là "Kế
hoạch giáo dục Phan Huy Quát." Tên tuổi ông đă gắn liền với tương lai của
biết bao thế hệ nam, nữ, thanh, thiếu niên trong lănh vực giáo dục nó là ch́a khóa
của tiến bộ văn minh và phát triển văn hóa cho đất nước, cho dân tộc.
Thành
công nào có thể đẹp hơn, lâu bền hơn thành công của ông trong sự nghiệp
giáo dục đào tạo con người?
***
Một pḥng lẻ loi dành cho lính gác ở
ngoài ṿng rào trại giam Chí Ḥa đă được quét dọn khá tươm tất. Giữa
pḥng, một tấm ván gỗ khổ hẹp đặt trên đôi mẻ. Trên tấm ván một
h́nh người nằm ngửa, chân duỗi thẳng, hằn rơ dưới tấm mền
mỏng phủ kín từ đầu xuống chân. Thi thể Bác Sĩ Phan Huy Quát, cựu Thủ
tướng Việt Nam Cộng Ḥa nằm đó, cô đơn, lạnh lẽo giữa một
buổi trưa hè nắng gắt, oi nồng. Cùng với tấm ván và đôi mẻ, thi thể
ông là tĩnh vật trang trí độc nhất của căn pḥng lính gác quạnh hiu. Chung quanh
không một bóng người. Cái tĩch mịch của căn pḥng như muốn thét lên mà bị
nghẹn.
Tang gia được chính quyền Việt Cộng hứa cho phép quàn thi hài
Bác Sĩ Quát tại chùa Xá Lợi. Đến phút chót Việt Cộng bội hứa như chúng
vẫn có thói quen đó đă trở thành quán tính. Chúng buộc tang gia phải chôn cất ngay
ngày hôm sau tức là ngày 28 Tháng Tư 1979. T́m hiểu ra mới biết ngày 28 là ngày ông Tổng
thư kư Liên Hiệp Quốc tới Saigon: cho đem thi hài Bác Sĩ
Quát về quàn tại Chùa Xá Lợi có thể gây ra nhiều phiền phức, rối ren không
lường được. Quái thật! Một chế độ luôn luôn tự vỗ ngực
lớn tiếng huênh hoang ta đây "Anh hùng nhất mực" và "ra ngơ là gặp anh hùng" lại
sợ đủ thứ! Sợ từ đứa bé sơ sinh sợ đi nên phải bắt
nó vào tù với mẹ nó cho chắc!
Sợ từ cái xác chết sợ đi, nên bắt
chôn ngay sợ xác chết "thần giao cách cảm" với Tổng thư kư Liên Hiệp Quốc
th́ rầy rà to. Đám tang bị hối thúc rồi cũng chu toàn nhờ sự tận t́nh giúp
đỡ của thân bằng, quyến thuộc. Sau tang lễ đơn sơ, c̣n sót lại
là nghi vấn về cái chết của vị Cựu Thủ tướng. Hồ sơ bệnh
lư do Việt cộng chính thức đưa ra là "nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu
năo cùng viêm gan siêu vi trùng". Hồ sơ vẫn nguyên vẹn là một nghi vấn.
***
Nếu
tôi biết hát, tôi sẽ cất giọng ca vừa đủ nghe tù khúc:
"Anh nằm đây, Bạn
bè anh cũng nằm đây..." Gọi là một chút để ấm ḷng người đă
khuất.
Nguyễn Tú
Kư giả Nguyễn Tú, nguyên đặc
phái viên chiến trường Nhật báo Chính Luận tại Việt Nam trước 1975, cũng
như của nhiều báo ngoại quốc, đă bị giam hơn mười năm trong lao
tù Cộng Sản. Ông vượt biên tới Hong Kong năm 1990 và sau đó tới Hoa Kỳ.
Hiện ông cư ngụ tại vùng Hoa Thịnh Đốn.
|
|

|

|

|

|

|
|

Mặc
cảm chiêu hồi và khát vọng tự do
Trần Trung Đạo,
Sep 15, 2008
Cali Today News - Mùa hè năm nay tôi đến thăm một đảo nhỏ vùng Trung Mỹ.
Thật ngạc nhiên. Cuối tháng Bảy, những hàng phượng vĩ trổ bông màu đỏ
rực giống hệt như trong các sân trường ở Việt Nam. Tuổi học tṛ mộng mơ ngủ yên trong kư ức
chợt thức dậy ở một nơi rất xa xôi. Nh́n hàng phượng vĩ ḷng lại
bâng khuâng nhớ đến quê nhà. Cả gia đ́nh ngồi bên hàng phượng đỏ và
kể cho nhau nghe những kỷ niệm về hoa phượng. Hai mươi bảy năm.
Thời gian tôi sống ở ngoài nước đă dài hơn thời gian tôi sinh ra và lớn
lên trong nước, thế nhưng, Việt Nam vẫn là đề tài chính không chỉ trong
sinh hoạt cộng đồng, những buổi họp mặt anh em văn nghệ, trong bữa
cơm gia đ́nh mà ngay cả trong những ngày ở lại trên một ḥn đảo cách Việt
Nam hàng chục ngàn dặm. Đơn giản, bởi v́ đó là đất nước. Không
có ǵ quan trọng hơn đất nước. Mỗi người rồi sẽ ra đi nhưng
đất nước sẽ ở lại cho nhiều đời sau.
Có lần tôi
được hỏi mai mốt có dịp trở về, ngoài gia đ́nh, tôi sẽ đi đâu
khác. Tôi trả lời rằng tôi sẽ đi thăm Hà Nội. Thật vậy, tôi không hề
có ư nghĩ trở về chỉ để thăm những hàng phượng đỏ trên
đường Bạch Đằng Đà Nẵng, những đồi sim tím ở Quế
Sơn hay t́m lại những ǵ tôi đă mất. Không. Nền nhà cũ, con đường xưa,
trường học, ḍng sông tuổi thơ đă là kỷ niệm và dù vui hay buồn cũng
đă thuộc về quá khứ. Mỗi thứ đă có một ngăn riêng trong tâm hồn.
Tôi vẫn ôm ấp và sống với chúng trong mỗi ngày tôi c̣n có mặt ở đây. Nếu
có dịp trở về, tôi sẽ đến thăm sông Hồng, Quốc Tử Giám, hồ
Hoàn Kiếm, chùa Một Cột. Tôi sẽ đi Phong Châu, Phú Thọ để dâng nén hương
lên anh linh các đấng vua Hùng. Tôi sẽ hành hương về Yên Tử, vùng đất tổ
của Phật giáo Việt Nam.
Ở mỗi nơi tôi sẽ không quên dành một phút để trịnh trọng thưa rằng
tôi là người có lỗi.
Tôi có lỗi bởi v́ trước đây tôi đă nghĩ
sai về Hà Nội, nghĩ xấu về Hà Nội, nghĩ sai về miền Bắc, nghĩ
xấu về miền Bắc. Hà Nội trong tôi 33 năm trước là trung tâm quyền lực
của một chế độ độc tài, tàn bạo đă mang súng đạn của Nga,
Tàu về tàn sát hàng triệu người dân miền Nam, giày xéo lên quê hương Việt Nam.
Tôi có mặc cảm rằng ra Hà Nội là đầu hàng, ra Hà Nội là chấp nhận chế
độ, là một h́nh thức chiêu hồi. Tôi ở lại Việt Nam thêm 6 năm nhưng nhất định không đi thăm
miền Bắc, dù có nhiều cơ hội. Thực tế chính trị Việt Nam sau 1975 với hàng loạt các chính sách vô cùng thất nhân tâm
là những đám mây đen che khuất đi những đền tháp vàng son của một
Hà Nội uy nghi trong tâm hồn tôi. Đứng trên đường phố Sài G̣n buổi trưa
30 tháng 4 năm 1975, tôi nhớ lại những ngày ở Đà Nẵng đầu năm 1968
với tiếng gầm thét của những máy bay chiến đấu, những khẩu đại
pháo ṇng dài, những quân trang quân dụng, tất cả đều được chế tạo
và mang đến từ nước Mỹ. Và 30 tháng 4 năm 1975 cũng chẳng khác ǵ. Từ
khẩu súng trường cho đến túi lương khô, nếu không mang nhăn hiệu Trung Quốc
th́ cũng Liên Xô. Cả con người cùng ḍng giống với tôi nhưng xa lạ không khác
ǵ những anh chàng Mỹ đen Mỹ trắng trước đây. Đặc tính lai căn
thể hiện không chỉ trong sách vở, trong giáo tŕnh mà cả trong cách ăn nói, giọng
hát, diễn kịch, điệu múa, dáng đi cũng rập theo cung cách của Nga. Hà Nội
trong tôi sau 1975 không c̣n là Hà Nội nơi Trần Quang Khải từng khẳng khái ngâm vang “Thái
b́nh nên gắng sức, non nước ấy ngàn thu” trong đêm liên hoan mừng chiến
thắng quân Nguyên cuối thế kỷ 13. Giấc mơ được ra thăm miền
Bắc của tôi không ai đụng nhẹ nhưng đă tan như chiếc bong bóng nước
trong cơn mưa Sài G̣n buổi sáng cuối tháng 4 năm 1975.
Tôi cắt đứt
không thương tiếc t́nh yêu dành cho chiếc nôi văn hóa của dân tộc Việt Nam mà
từ tuổi thiếu thời tôi bao đêm mơ ước một lần được
đến, được trở về thăm, được hôn lên mảnh đất
nơi tôi đă từng viết “mỗi chiếc lá như c̣n nghe hơi thở, mỗi
cành cây như có một linh hồn”. Thật vậy. Những năm đầu thập
niên 1970, khi c̣n học trung học Trần Quư Cáp ở Hội An, nếu ai hỏi tôi sẽ
làm ǵ sau khi đất nước thanh b́nh, tôi trả lời ngay rằng tôi sẽ đi thăm
miền Bắc. Không phải v́ tôi bị ảnh hưởng bởi nhạc Trịnh Công Sơn
“khi đất nước tôi thanh b́nh, tôi sẽ đi ba miền”, mà v́ trong các môn học
tôi vẫn thích nhất môn sử. Quê cha của tôi là Quảng Nam nhưng đất tổ của
tôi là miền Bắc. Khi c̣n nhỏ, mỗi năm trong ngày giỗ chạp, bác tôi thường
nhắc nhở con cháu, ḍng họ chúng tôi lần đầu từ ngoài Bắc đi vào Nam chỉ
có hai anh em, người anh dừng lại ở Quảng Nam nhưng người em th́ đi
tiếp vào Quảng Ngăi. Nhưng cũng sau lần chia tay đó họ đă lạc nhau cho đến
bây giờ. Tôi lớn lên với cảm t́nh sâu đậm dành cho cả hai xứ Quảng thân
yêu và niềm khao khát t́m về những bà con cùng tộc ở miền Bắc vẫn âm thầm
chảy trong tâm hồn tôi. Thầy dạy môn sử cũng đam mê lịch sử như tôi
và đă dạy chúng tôi những giờ sử tuyệt vời. Thầy diễn tả các trận
Tụy Động, Chúc Động c̣n hay hơn Kim Dung tả trận Tụ Hiền Trang trong
Thiên Long bát bộ. Từ ô cửa của trung học Trần Quư Cáp, những buổi chiều
tôi đă thả hồn ḿnh trôi theo sóng nước sông Hồng, và đâu đó dưới ḷng
sông như vẫn c̣n những chiếc cọc gỗ lim mà hơn một ngàn năm trước
đă đâm thủng chiến thuyền quân Nam Hán hay hơn bảy thế kỷ trước
Trần Hưng Đạo đă đánh bại quân Nguyên. Tôi thuộc nằm ḷng tên tuổi
của các vị danh tướng thời Lê Lợi như Lê Thạch, Lê Sát, Lê Lai, Nguyễn
Xí, Đinh Lễ, Đinh Liệt… và các vương tước nhà Trần như Trần
Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản… Những
địa danh Đông Đô, Tây Đô, Chi Lăng, Vạn Kiếp, Thiên Trường đi vào
ư thức tuổi học tṛ của tôi như những niềm kiêu hănh không bao giờ phai nhạt.
Là
một trong những sinh viên thuộc diện “sinh viên chế độ cũ”, sau
mấy tháng đi làm thủy lợi, chúng tôi trở về trường Luật học tiếp.
Để t́m giải đáp cho những câu hỏi về Đảng Cộng sản, về
chiến tranh và cách mạng Việt Nam, tôi học rất nghiêm túc, chăm chú lắng nghe các
cán bộ giảng dạy kinh tế chính trị, triết học Mác - Lê, đến nhà tập
thể để t́m hiểu thêm từ các giáo sư đại học miền Bắc về
những điều các ông các bà có thể không nói hết ở trường và đọc tất
cả những ǵ có thể đọc. Sau thời gian khá dài học hỏi và tiếp xúc với
nhiều người, tôi hiểu ra rằng những ǵ tôi nghĩ về miền Bắc trước
đó là không đúng. Tôi đă vơ đũa cả nắm. Đồng bào miền Bắc,
giống như chúng tôi ở miền Nam, đều là nạn nhân của ư thức hệ cộng
sản, thậm chí họ c̣n chịu đựng dài hơn, lâu hơn và đau đớn hơn
nhiều. Thế hệ trẻ chúng tôi ở miền Nam cũng may mắn hơn những người
cùng tuổi ở miền Bắc. Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong một xă hội tuy không hẳn
hoàn toàn tự do nhưng vẫn có ít nhiều chọn lựa. Chúng tôi chẳng những có quyền
phàn nàn, chỉ trích mà c̣n xuống đường, hoan hô và đả đảo. Tuổi trẻ
miền Bắc th́ không. Họ sinh ra khi Đảng đă có rồi. Sự có mặt của
Đảng Cộng sản như họ được dạy từ lớp mẫu giáo là
một quy luật tất yếu của xă hội loài người. Đảng cần thiết
như hơi thở và sự sống, tự nhiên như nắng và mưa, khoa học như
mặt trời mọc buổi sáng và lặn vào buổi tối. Đảng là tối thượng,
là tuyệt đối, trên cả cha mẹ, gia đ́nh và tổ quốc. Chính sách tẩy năo,
thuần hóa con người không phải là sản phẩm độc quyền của chế
độ cộng sản, nhưng chỉ trong xă hội cộng sản việc “trồng
người” mới được xem như là mục tiêu của nền giáo dục.
Tôi ư thức điều đó cũng là thời gian tôi phải lo t́m đường vượt
biển, nên không có dịp ra thăm miền Bắc.
Đối với
miền Nam, tôi cũng hiểu ra rằng miền Nam mất không phải v́ thiếu 300
triệu đôla viện trợ đặc biệt đầu 1975 hay v́ bị Mỹ bỏ
rơi như cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thở than oán trách trong diễn
văn cuối cùng của ông vài ngày trước khi lên máy bay. Miền Nam mất không phải
v́ quân đội Việt Nam Cộng ḥa yếu kém hơn quân đội cộng sản hay các
tướng lănh Việt Nam Cộng ḥa không tài ba thao lược bằng các tướng cộng
Sản. Cộng sản thắng cuộc chiến Việt Nam, như tôi đă viết trong vài
bài trước trên talawas, chỉ v́ từ ngày thành lập 1930 họ luôn nhất quán với
mục đích toàn trị và bất chấp mọi phương tiện để đạt
đến mục đích; họ tổ chức tinh vi và phát huy triệt để tính Đảng
từ trong mỗi tổ ba người cho đến cấp trung ương, và quan trọng
nhất, họ tận dụng ḷng yêu nước truyền thống, nhất là đặc
tính bảo thủ, của người dân Việt Nam. Việt Nam Cộng ḥa th́ hoàn toàn khác.
Tại miền Nam không có một đảng chính trị nào được tổ chức tinh
vi đến mức có thể gọi là lực đối kháng tương xứng với
Đảng Cộng sản, không có một hệ thống thông tin ngang tầm với bộ
máy tuyên truyền cộng sản và các nhà lănh đạo miền Nam, v́ những vướng
mắc bản thân và mải lo tranh quyền đoạt lợi, đă không làm sáng lên được
chính nghĩa, không tổng hợp được ḷng yêu nước, yêu tự do dân chủ
trong người dân miền Nam thành sức mạnh. V́ thế, nếu không có ngày 30 tháng 4 năm
1975 th́ rồi cũng sẽ có 30 tháng 4 năm 1976, 30 tháng 4 năm 1977, nói khác đi, việc
miền Nam rơi vào tay cộng sản chỉ là vấn đề sớm hay muộn, trước
hay sau chứ không phải là khả năng có hay không có thể xảy ra.
Với nhận
thức đó, tôi không c̣n mang mặc cảm chiêu hồi khi nghĩ về Hà Nội và t́m lại
được trong tôi t́nh yêu dành cho chiếc nôi của lịch sử Việt Nam. Vâng, nhưng đó không phải là quan trọng nhất.
Quan trọng hơn thế nữa v́ tôi hiểu đă rằng ngay từ trên những điêu
tàn đổ nát, một cuộc chiến mới đă được phát động trong
âm thầm trên phạm vi cả nước, đó là cuộc chiến giữa khát vọng tự
do nhân bản và cộng sản độc tài toàn trị, giữa tự do và nô lệ, giữa
thịnh vượng văn minh và nghèo nàn lạc hậu. Tôi bắt gặp trong ánh mắt của
những người dân đang chui rúc dưới những tấm ny-long trên đường
Trần Hưng Đạo, trong những căn nhà không vách ở các vùng kinh tế mới, đang
sắp hàng bán máu ở bịnh viện Chợ Rẫy môt niềm đau câm nín và tôi tin một
ngày những nỗi đau câm nín đó sẽ biến thành vũ khí. Không ai nói đây là cuộc
tranh đấu dễ dàng. Bằng chứng là, dù nói ǵ th́ nói, sau 33 năm chế độ
cộng sản vẫn c̣n tồn tại và Việt Nam vẫn c̣n là một nước lạc
hậu về văn minh, nghèo nàn về kinh tế và tất cả các quyền căn bản
của một con người vẫn c̣n là một mơ ước xa xôi.
Cộng sản
c̣n sống bởi v́ nhiều người nghĩ rằng cộng sản đă chết.
Nếu
cho rằng cộng sản đă chết th́ trước khi chết cộng sản sống
ở đâu? Liên Xô sau Cách mạng 1917 có phải là cộng sản không? Liên Xô dưới thời
Stalin có phải là cộng sản không? Trung Quốc dưới thời Mao với những
“nhà máy luyện kim sau hè” và công xă nhân dân có phải là cộng sản không? Bắc Hàn
dưới thời Kim Nhật Thành có phải là cộng sản không? Campuchia dưới thời
Pol Pot có phải là cộng sản không? Việt Nam
dưới thời Hồ Chí Minh với Cải cách Ruộng đất và Nhân văn - Giai phẩm
có phải là cộng sản không? Tất cả đều không và đều có, đều
khác nhau và đều giống nhau. Không, bởi v́ chưa có nước cộng sản nào kể
cả Liên Xô với những kế hoạch 5 năm đầy tham vọng, đạt được
những bước phát triển kinh tế có thể giải thích đúng với lư thuyết
của Mác; và đều giống nhau, v́ tất cả đều dùng những phương
tiện mà lư thuyết Mác - Lê đă đề cao, đó là áp dụng bạo lực không thương
tiếc đối với các thành phần xă hội cản trở bước tiến hay chống
đối lại các mục tiêu của Đảng Cộng sản.
Đặng Tiểu
B́nh, một thời đă được thế giới ca ngợi là nhà cải cách xă hội
lớn và thậm chí có người c̣n hy vọng ông ta sẽ từng bước mở đường
cho một Trung Quốc dân chủ, hội nhập vào ḍng phát triển của văn minh thế
giới khi họ Đặng chuyển hướng nền kinh tế tập trung sang kinh tế
thị trường, xóa bỏ toàn bộ hệ thống công xă thời Mao, tố cáo tội
ác của Cách mạng Văn hóa, thiết lập các khu kinh tế đặc biệt làm cửa
ngơ giao thương quốc tế, cho phép người dân phát biểu ư kiến qua phương
tiện của “Bức tường dân chủ” gần khu Tử Cấm thành ở
Bắc Kinh. Đặng Tiểu B́nh viếng thăm Mỹ vào tháng Giêng 1979 và được
Tổng thống Jimmy Carter tiếp đăi như quốc khách, mặc dù chức vụ của
ông ta chỉ là Phó Thủ tướng. Nhưng cũng chính Đặng Tiểu B́nh chứ không
ai khác, là người có quyền tối hậu trong quyết định tàn sát nhiều ngàn
sinh viên Trung Quốc yêu dân chủ đầu tháng 6 năm 1989. Những chiếc tăng của
các binh đoàn 27 và 28 trên đường phố Bắc Kinh gợi lại cho người xem
h́nh ảnh của những chiếc tăng Liên Xô tại thủ đô Praha, Tiệp Khắc
mùa xuân 1965 hay thủ đô Budapest, Hungary tháng 11 năm 1956. Thời điểm khác nhau, nạn
nhân cũng khác màu da, nhưng phương pháp mà các lănh tụ cộng sản áp dụng để
tiêu diệt kẻ thù của đảng dù ở nước nào cũng giống nhau và độc
ác như nhau. Cộng sản không phải chỉ là mớ lư luận mơ hồ mà chính là thực
tế vô cùng cụ thể và tàn bạo. Đặc điểm áp dụng bạo lực không
thương tiếc đó vẫn c̣n sống hùng và sống mạnh tại Việt Nam. Các cơ quan truyền thông quốc tế
khi nhắc đến Việt Nam thường kèm theo chữ cộng sản đi đầu
như để nhắc nhở người đọc về một xă hội c̣n nhiều
lạc hậu, là một cơ chế chính trị độc tài, là một đảng chính
trị sống nhờ bạo lực chứ không phải là nơi có những con người
đang theo đuổi mục tiêu “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”
như Mác viết.
Cộng sản
c̣n sống v́ căn bệnh sùng bái cá nhân vẫn c̣n hoành hành và tác hại.
Khi nói đến
bịnh sùng bái cá nhân, người ta sẽ nghĩ ngay đến Bắc Hàn trước. Nhà
báo Robert Marquand, một chuyên viên về Bắc Hàn của tờ Christian Science Monitor, trong các
phóng sự về phần đất cô lập từ thế giới nầy đă thu thập
hàng trăm tin tức, mẩu chuyện về cuộc sống đồi trụy cha con Kim
Nhật Thành mà đối với phần lớn nhân loại gần như là những chuyện
khó tin đến độ hoang đường. Theo Robert Marquand, Kim Chính Nhất có khoảng
từ 2 đến 4 tỉ đôla kư thác trong các ngân hàng châu Âu. Sau khi kế thừa sự nghiệp
của “lănh tụ vĩ đại” năm 1994, Kim Chính Nhật sống xa hoa trong cung
điện Trường Thọ ở B́nh Nhưỡng và ngày đêm tận hưởng thú
vui xác thịt với các đoàn vũ cho chính họ Kim đặt tên như “đội
ca vũ”, “đội hạnh phúc”, “đội thỏa măn”. Đối
với việc ăn uống, y rất kiêng cữ và chọn lọc. “Lănh tụ kính yêu”
thích món ăn Ư hơn là món do các đầu bếp Bắc Hàn chuẩn bị. Để món
ăn được nấu cho đúng kiểu, lănh tụ mướn không những chỉ
đầu bếp Ư mà c̣n yêu cầu chở nguyên cả cái bếp từ Ư sang để nấu
nướng cho y ăn. Những điều đó xảy ra trong thời điểm khi khối
Xô-viết vừa tan ră, các nguồn viện trợ lớn từ các quốc gia cộng sản
bị cắt đứt, hạn hán, mùa màng thất thu, và trên đường phố tỉnh
Bắc Hàm Kính (North Hamgyong) người chết đói nằm la liệt. Không một thống
kê nào cho biết chính xác bao nhiêu người dân vô tội, bao nhiêu trẻ em Bắc Hàn đă
chết, nhưng theo ước lượng từ nhiều cơ quan từ thiện quốc
tế cũng như lời kể những viên chức Bắc Hàn cao cấp đào thoát được,
khoảng 600 ngàn cho đến 3 triệu (hơn 10 phần trăm dân số) dân Bắc Hàn chết
đói trong giai đoạn từ 1990 đến 1997. Tại sao một đất nước
23 triệu người lại có thể chấp nhận để những người lănh
đạo đất nước đối xử một cách tàn tệ như thế? Phải
chăng họ sợ chết, bị bỏ tù, tra tấn, lao động khổ sai? Tất
cả lư do đó đều đúng nhưng chưa phải là hoàn toàn chính đáng. Theo giáo sư
và kư giả Bradley K. Martin, tác giả của tác phẩm Dưới sự bảo bọc đầy
t́nh thương của cha già dân tộc (Under the Loving Care of the Fatherly Leader), được
nhà điểm sách Nicholas D. Kristof của The New York Review of Books đánh giá là tác phẩm xuất
sắc nhất về xă hội Bắc Hàn từ trước đến nay, ở Bắc Hàn
“mọi người bị tiêm nhiễm ngay từ khi mới sinh ra để tin vào các
lư thuyết tôn thờ cá nhân. Họ tin rằng cha con Kim Nhật Thành là bậc thánh nhân, vượt
qua khỏi các luật căn bản của loài người, là một giống người
đặc biệt, loại người xứng đáng để tôn thờ”. Phần
lớn dân Bắc Hàn vẫn tin rằng nạn đói là do thời tiết, hạn hán, thất
thu chứ không phải là hậu quả của một chính sách cai trị dă man, ngu xuẩn
và tàn bạo nhất trong lịch sử loài người.
Các đảng
viên cộng sản hay đoàn viên trung kiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
khi đọc những mẩu chuyện đau ḷng đang xảy ra tại Bắc Hàn, hẳn
nhiên cảm thấy an ủi bởi v́ Việt Nam
không phải là Bắc Hàn. “Bác Hồ t́nh yêu bao la” của họ không giống như
Kim Nhật Thành. “Bác Hồ” xứng đáng được gọi là “cha già dân
tộc”, là “nhà thơ lỗi lạc” của văn học Việt Nam, là “nhà
quân sự thiên tài” không thua kém ǵ Hưng Đạo Đại vương, là “nhà giáo
dục vĩ đại” của đất nước, không, không thể so sánh “Bác
Hồ” với cha con Kim Nhật Thành bịnh hoạn kia được. Xin đừng
mừng vội. Nếu đi hỏi những người dân Bắc Hàn, họ cũng trả
lời tương tự như thế. Với người dân Bắc Hàn, Kim Nhật Thành
cũng là “nhà thơ, nhà khoa học, nhà giáo dục vĩ đại”, đừng nói
chi là “Bác Hồ” của Việt Nam mà cả gần bảy tỉ người trên
trái đất nầy không ai có một đời sống thanh bần, trong sạch, một
trái tim to lớn, một t́nh yêu bao la dành cho đất nước hơn là “lănh tụ
vĩ đại” và “lănh tụ kính yêu” của họ. Điều đó cho thấy
mức độ trầm trọng tuy có thể khác nhau, nhưng nhiều người Việt
Nam cũng đang mang một
căn bịnh như người dân Bắc Hàn. Một em bé khăn quàng đỏ của Việt
Nam cũng ca ngợi “Bác
Hồ t́nh yêu bao la” một cách chân thành như một em bé khăng quàng đỏ Bắc
Hàn ca ngợi “lănh tụ vĩ đại Kim Nhật Thành” của em. Sùng bái cá nhân là
căn bịnh của chủ nghĩa cộng sản, nơi nào chủ nghĩa cộng sản
đặt chân đến là nơi đó bịnh sùng bái cá nhân phát sinh và tồn tại theo suốt
chiều dài của Đảng. Việt Nam cũng thế, đừng nói chi các làng bản
xa xôi, nông thôn hẻo lánh, nơi ông Hồ được đưa vào miếu Thần hoàng
để cúng tế hàng năm, mà ngay cả ở thành phố, trong chùa chiền, trong sách vở
văn học, ông Hồ Chí Minh, giống như cha con họ Kim ở Bắc Hàn, vẫn được
xem như là “là bậc thánh nhân vượt qua khỏi các luật căn bản của
loài người, là một giống người đặc biệt, loại người xứng
đáng để tôn thờ”. Chúa và Phật có thể sai nhưng ông Hồ th́ không. Tất
cả những t́m hiểu, nghiên cứu khoa học, khách quan, độc lập về cuộc
đời ông Hồ đều bị nghiêm cấm và có thể bị bỏ tù nếu vi phạm.
Bịnh sùng bái cá nhân như một loại tà đạo mấy chục năm qua đă giết
chết các mầm mống sáng tạo, vươn lên, suy nghĩ độc lập trong nhiều
thế hệ Việt Nam.
Đảng
Cộng sản c̣n tồn tại nhờ vào một tầng lớp có học phục vụ
cho Đảng.
V́ các lư do địa-chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam khống chế tư tưởng
và đời sống con người khôn khéo hơn cha con Kim Nhật Thành nhiều. Thay v́ đóng
đinh toàn bộ đất nước vào một hệ thống giáo điều không tưởng
như lư thuyết Juche ở Bắc Hàn, Đảng Cộng sản Việt Nam đă tạo
ra những không gian sinh tồn tương đối rộng và tồn tại một cách độc
lập dành cho các thành phần xă hội khác nhau. Mỗi thành phần có một môi trường
sinh hoạt riêng và chịu các điều kiện chi phối riêng. Như Mác đă nói “Giai
cấp tiểu tư sản là đ̣n xóc nhọn hai đầu”, thành phần có học
phục vụ đắc lực nhưng nguy hiểm, cho nên vừa được nhiều
biệt đăi mà cũng vừa bị kiểm soát chặt chẽ hơn so với các thành phần
khác. Ngày nay, trong khu vườn văn học vẫn có tiếng chim kêu, có tiếng nước
chảy, tiếng suối reo và các nhà thơ, nhà văn vẫn có quyền sáng tác, miễn là
đừng bước ra khỏi giới hạn mà Đảng đă khoanh vùng. Ngoại trừ
một số nhỏ đă vượt qua hay đang t́m cách vượt qua khỏi hàng rào cản
để cùng chịu đựng với những bất hạnh của dân tộc, dùng ng̣i
bút để nói lên thảm trạng của đất nước hay đấu tranh cho quyền
lợi đất nước, phần lớn đă ở lại trong vườn. Như Erich
Maria Remarque viết trong Chiến hữu, “hạnh phúc bắt đầu từ thói quen”,
họ dần dần cũng cảm thấy hạnh phúc và tự an ủi rằng ít ra môi trường
sáng tác ngày nay tốt hơn nhiều so với ba mươi ba năm trước. Ngày nay họ
không phải thức đêm nén bút để ca ngợi một “anh hùng diệt Mỹ”
mà họ chưa bao giờ biết mặt hay tả một “chiến thắng thần
thánh” mà họ chưa hề tham dự. Ngày nay họ có quyền viết về t́nh dục,
t́nh yêu và cả về cuộc sống, miễn là đừng viết về cuộc sống
của những người đang ở trong các nhà tù của chế độ, cuộc sống
của hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam đang bán mồ hôi nước mắt khắp
thế giới, cuộc sống của hàng ngàn người dân oan khiếu kiện bị mất
nhà mất đất đang ngồi chờ các quan lớn trả lời trong các công viên.
Hơn ai hết,
thành phần có học biết rằng dù trong khoa học tự nhiên hay khoa học nhân văn,
không có phản biện sẽ không bao giờ có sự thăng tiến và phản biện chỉ
h́nh thành trên môi trường tự do sáng tạo chứ không thể ở một môi trường
nào khác, thế nhưng, họ chấp nhận làm một người câm điếc để
được tồn tại hơn là phản biện để rồi bị tước
đi bổng lộc. Mới đây, ông Chu Hảo, nguyên thứ trưởng Khoa học Công
nghệ và Môi trường, trong buổi phỏng vấn dành cho web Dân Trí mà talawas có nối lại
trong mục spectrum, cũng thừa nhận rằng “để có độc lập tư
duy, tự do sáng tạo và khách quan phê phán th́ phải có một cơ chế dân chủ để
đảm bảo cho các quyền đó.” Quá đúng. Tuy nhiên, khi được hỏi
tại sao thời c̣n là Thứ trưởng ông đă không nói câu đó mà đợi cho đến
khi không c̣n tại chức mới “lớn tiếng”, ông Hảo đáp “Đơn
giản là khi c̣n tham gia quản lư, họ là con người của guồng máy đó nên phải
tôn trọng kỉ luật guồng máy, chưa kể người trong cuộc khó có cái nh́n
khách quan như người ở ngoài cuộc.” Ông không giải thích nhưng người
đọc cũng hiểu việc “tôn trọng kỉ luật guồng máy” chính là
việc phục vụ cho quyền lợi của Đảng Cộng sản theo kiểu ăn
cây nào th́ rào cây nấy. Nếu hiểu theo cách nói của ông Chu Hảo, trong guồng máy nhà nước
hiện nay không ai đáng gọi là trí thức v́ không ai dám phản biện, dám nói lên những
cái đúng, tố cáo những cái sai, biết đau cái đau của dân tộc và biết buồn
trong nỗi buồn của dân tộc. Như phần lớn những người thuộc
tầng lớp có học, ông cũng không đủ can đảm bước ra khỏi chiếc
chiếu mà Đảng đă trải cho các ông ngồi. Tâm trạng của ông Chu Hảo cũng
là tâm trạng chung của những người thuộc tầng lớp gọi là trí thức
trí thức xă hội chủ nghĩa hiện nay, khi về hưu, thất sủng, bị bỏ
rơi, họ phê b́nh, phán xét như những quan ṭa, nhưng thời gian trẻ trung, năng
nổ, đóng góp được nhiều nhất cho đất nước th́ họ lại
là những kẻ ṭng phạm.
Nhà báo Mike Benge
của tờ Washington Times, trong bài b́nh luận trên ấn bản ngày 1 tháng 7 năm 2007, ‘Láo
to’ sống tại Việt Nam (‘Big Lie’ lives in Vietnam), cho rằng Thomas Jefferson sẽ
lăn lộn trong mồ nếu biết ông Hồ Chí Minh đă dùng câu nói bất hủ: “Tất
cả mọi người đều sinh ra có quyền b́nh đẳng. Tạo hoá cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy,
có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”
để lừa gạt dân tộc Việt Nam
suốt hơn nửa thế kỷ qua. Trong cuộc chạy đua vào chức vụ Tổng
thống Hoa Kỳ, về quan điểm và cách giải quyết các vấn đề của
Mỹ, John McCain và Barrack Obama gần như khác nhau hoàn toàn nhưng cả hai đều rất
giống nhau trong định nghĩa về đất nước. Tối ngày 11 tháng 9 vừa
qua, trong buổi phỏng vấn nhân dịp lễ tưởng niệm nạn nhân khủng
bố, khi được hỏi tại sao ông yêu nước Mỹ, John McCain trả lời
“Tôi yêu nước Mỹ, không chỉ là nơi tôi sinh ra và lớn lên mà c̣n là lư tưởng,
là khát vọng”. Tương tự, trong diễn văn chấp nhận làm ứng cử
viên Đảng Dân chủ, Barrack Obama đă nói: “Có một lời hứa đă làm cho nước
Mỹ khác với các quốc gia khác, rằng qua sự làm việc cần mẫn và hy sinh, mỗi
chúng ta có thể theo đuổi những giấc mơ riêng nhưng vẫn đến cùng nhau
như một gia đinh nước Mỹ, để bảo đảm rằng các thế
hệ sau cũng có thể theo đuổi các giấc mơ của họ.” John McCain và
Barrack Obama không nói để tuyên truyền hay kiếm phiếu mà là sự thật. Từ khi
Thomas Jefferson nắn nót những ḍng chữ đầu tiên cho bản Tuyên ngôn Độc lập
của nước Mỹ 1776 cho đến hôm nay, nước Mỹ trải qua nhiều cuộc
chiến, trong đó có cuộc chiến giành độc lập đầy vinh quang và một
cuộc nội chiến tương tàn đẫm máu, nhưng họ vẫn là một cường
quốc. Nước Mỹ trưởng thành không phải nhờ bom nguyên tử mà nhờ ở
giấc mơ, lời hứa, khát vọng, như Tổng thống Kennedy một lần đă
viết: “Con người có thể chết, đất nước có thể thăng hay
trầm, nhưng lư tưởng luôn sống măi”.
Nhà báo Mike Benge
dùng câu nói của Thomas Jefferson để mỉa mai giới lănh đạo cộng sản Việt
Nam như là những người ăn cắp ư tưởng của Mỹ để lừa
gạt dân tộc Việt Nam nhưng ông có thể không biết rằng khát vọng độc
lập tự do của dân tộc Việt Nam là một khát vọng có thật và bắt đầu
từ nhiều ngàn năm thăng trầm của lịch sử. Câu nói của Thomas Jefferson
rất hay, những câu trả lời của John McCain, Barrack Obama rất ư nghĩa, nhưng
không phải là quá mới lạ. Tổ tiên Việt Nam
đă mơ, đă sống và đă chết cho giấc mơ khai phóng của ḿnh. Khát vọng
tự do dân chủ chưa bao giờ bức thiết hơn lúc này, khi một phần lănh thổ
của tổ tiên đang nằm trong tay ngoại bang, khi Việt Nam mỗi ngày một lùi thêm
so với đà tiến của nhân loại. Đây không phải lúc đứng trước
ngă ba để chọn lựa đường nào là đúng nhất. Không giống như ngày
xưa, thế hệ hôm nay chỉ có hai con đường để chọn, hoặc làm công
cụ cho chế độ độc tài hoặc đi về phía dân tộc để cùng
tranh đấu cho một ngày mai tươi đẹp. Nếu trước 1954, chính nghĩa
của dân tộc Việt Nam là giải phóng đất nước ra khỏi chế độ
thực dân bóc lột th́ chính nghĩa của ngày nay là giải phóng đất nước khỏi
chế độ cộng sản độc tài, chuyên chính, đưa dân tộc đi lên cùng
nhịp với đà tiến tự do, dân chủ và văn minh. Vũ khí được trang
bị hôm nay không phải là bom napalm, tăng T54, súng M16 hay AK47 mà là ḷng yêu nước chân chính,
là trí tuệ của thời đại. Người lính tự do trong trận chiến hôm nay
là những người Việt Nam yêu nước, kiên nhẫn, biết hy sinh những quyền
lợi và cả những đau nhức bản thân ḿnh cho nhu cầu chung của đất
nước, biết vượt qua được những cách ngăn tôn giáo, Bắc - Nam
để sống v́ tương lai của các thế hệ mai sau. Cuộc tranh đấu
sẽ không diễn ra ở miền Nam
hay miền Bắc, trên không hay ngoài biển, mà trải rộng khắp nơi, trong và cả
ở ngoài nước. Chỗ dựa của người lính tự do không phải là đôla
Mỹ hay súng đạn Nga mà là lịch sử, là Đống Đa, Vạn Kiếp trước
đây và Hoàng Sa, Trường Sa hôm nay. Những tranh luận, biện minh, đối thoại,
hay mặc cảm chiêu hồi, v́ thế, đều không c̣n cần thiết nữa.
Chẳng lẽ
33 năm với tất cả chịu đựng và hy sinh, với tất cả máu và nước
mắt nhỏ xuống khắp ba miền, chưa đủ là lư do để thay đổi
chế độ độc tài này bằng một thể chế tự do dân chủ, mà phải
đào xới thêm trong các văn khố ở Washington DC, Bắc Kinh, Moskva…, để chứng
minh ai bán nước hơn ai?
(By Calitoday)
|
|

|

|