1lyhuonga.jpg

Anh lua dem gia thua
Khi Mua Giang sinh den
TRANG NHA DIEN DAN DONG TIEN
 

          TRANG NHẠC GIÁNG SINH - TRANG NHẠC GIÁNG SINH

2noel.jpg

Những bài Thánh Ca Giáng Sinh ngọai quốc nổi tiếng khắp thế giới


Silent Night -Frank Gruber -Ban nhạc Yesterday Piano Café tŕnh bày
 
Ave Maria - Nana Mouskouri tŕnh bày
                           Silent night
 
We wish you a Merry Christmas
Hark ! the Herald angels sing :
Một trong 10 bài ca Giáng sinh hay nhất thế giới
Tà áo đêm Noen
 
Cao Cung lên
 
Jingle Bells
 
Chris De Burgh - A Spaceman Came Travelling
The Christmas Song
 
Ella Fitzgerald - God Rest Ye Merry Gentlemen
 
Midnight aroilittletown.

Click here : NHẠC GIÁNG SINH ONLINE ( Từng bản , sẽ được nghe liên tục - Nếu muốn nghe bản nào th́ click vào bản đó)

giangsinh.jpg

Lịch sử bài Thánh Ca nổi tiếng :
Silent Night - Frank Gruber



Lịch sử bài thánh ca nổi tiếng Đêm Thánh Vô Cùng bắt đầu từ đêm vọng Giáng Sinh năm 1818 tại một ngôi làng nhỏ bé vùng đồi núi Orbendorf, nước Áo.

Linh mục Josef Mohr, cha xứ của giáo xứ Saint Nicholas, đă sáng tác một bài thơ ngắn đặt đề tựa là "Đêm Thánh", ngài muốn phổ nhạc để hát trong thánh lễ nửa đêm.
Nhưng cha xứ lại không phải là một nhạc sĩ. V́ thế mà ngài đă nhờ đến người bạn của ngài, Ông Franz Gruber, giáo viên và cũng là nhạc sĩ rất hợp với ngài để phổ nhạc bài thơ đơn sơ này. Franz Gruber là người đàn phong cầm tại giáo xứ. Tuy nhiên, ông lại soạn bài hát cho đàn guitar với bài thơ Đêm Thánh của vị bạn cha xứ tại Saint Nicholas Orbendorf. Và rồi bài hát nổi tiếng Đêm Thánh Vô Cùng ấy đă được hát lần đầu tiên trong đêm 24 tháng 12 năm 1818.

Kể từ đó bài thánh ca Đêm Thánh Vô Cùng tự nhận danh hiệu là một bài hát gây ấn tượng nhất cho đêm giáng sinh .

Bài Đêm Thánh Vô Cùng đă được chuyển ngữ sang nhiều thứ tiếng trên hoàn vũ. Người ta c̣n hát với tiếng Et-ki-mô và với thổ ngữ ban-tu ở Phi Châu. Không có một âm hưởng nào, đời hay đạo, được quốc tế biết tới nhiều như bài thánh ca giáng sinh khiêm nhu này của Áo quốc.

Thực tế, có chăng một đêm êm dịu hơn cái đêm được nh́n thấy một hài nhi hạ sinh lại đặt vào trong một máng cỏ nơi chuồng súc vật, trong khi đó các thú gia cầm quen thuộc như ḅ và lừa lại thổi hơi cho ấm hài nhi? Chuyện hoang đường hay sự thật? Thật không quan trọng; mà trọng điểm là đă khơi động niềm xúc cảm cho nhân loại.

Thật khá lư thú, khi mà hầu hết các âm hưởng nhạc Giáng sinh truyền thống đều bị mai một hay chuyển đỗi, trong khi âm hưởng của bản Stille Nacht vẫn lưu giữ được nguyên vẽ trong sáng về h́nh thức và cách cấu trúc.


Silent Night -Frank Gruber -Ban nhạc Yesterday Piano Café tŕnh bày


sưu tầm.

< Được sửa bởi: thanhthuduc lúc 12/10/2008 1:17:13 PM >

JINGEL BELL -Yesterday Piano Café



. Đôi Chút Về Giáng Sinh
Submitted by admin on Wed, 2006-12-20 03:39. | |

Mỗi năm khi tiết trời trở mùa se lạnh, những cành cây khô lá rụng dần, và từng đợt tuyết trắng rơi nhè nhẹ cũng là lúc báo hiệu mùa lễ hàng năm sắp về. Ngay sau ngày lễ Tạ Ơn, hầu như mọi nơi từ trong nhà ra đến ngoài phố, người ta bắt đầu dựng những cây thông, giăng đèn lấp lánh, đâu đó vang vọng tiếng nhạc ḥa lẫn tiếng chuông reo vang vang báo hiệu ngày lễ Giáng Sinh sắp đến. Mọi người như có vẻ bận rộn hơn, vui vẻ rộn ră hơn. Thỉnh thoảng đâu đó ở vài góc phố hoặc trước cửa hiệu mua sắm lại vang lên những tiếng kêu gọi chia sẻ t́nh thương cho người kém may mắn vào dịp lễ. Từ lâu lắm rồi, mỗi năm cứ vào thời điểm này người ta đều như thế. H́nh như con người không biết chán với những cảm giác rộn ră của ngày lễ Giáng Sinh. Đây có lẽ là một đặc điểm kỳ diệu và duy nhất mà ngày lễ Giáng Sinh có thể mang lại t́nh yêu thương giữa nhân loại. Nếu được hỏi Giáng Sinh bắt đầu từ bao giờ, có lẽ ít ai c̣n nhớ. Nhưng nếu được hỏi cảm giác ngày lễ Giáng Sinh ra sao, chắc chắn ai cũng có thể cảm nhận được một phần nào đó của ngày lễ này.

Với những người theo Thiên Chúa giáo (Christians), Giáng Sinh bắt đầu từ Kinh Thánh (Bible) khi con Thiên Chúa là Giêsu (Jesus) được sinh ra xuống trần gian để làm người với mục đích cứu chuộc nhân thế khỏi tội lỗi và đem b́nh an đến cho con người. Do đó, chữ Christmas trong tiếng Anh được ghép từ hai chữ Christ và Mass, có nghĩa là ngày mừng con Thiên Chúa được sinh ra mà tiếng Việt dịch là Ngày Chúa Giáng Sinh. Theo lịch sử, ngày lễ Giáng Sinh đầu tiên được bắt đầu vào khoảng năm 336 sau Công Nguyên tại Rome và được coi là ngày lễ linh thiêng và quan trọng trong năm của tín đồ Thiên Chúa giáo. Dần dà, ngày lễ Giáng Sinh đă không chỉ dành riêng của một tôn giáo, một quốc gia, hay một sắc tộc, mà nó đă trở thành một ngày lễ dành cho tất cả mọi người trên thế giới.

Nhắc đến truyền thống mừng lễ Giáng Sinh th́ mỗi sắc dân hoặc quốc gia vui mừng một cách khác nhau. Đối với người Việt xa xứ th́ hầu như đă quen dần với các phong tục mừng lễ của người bản xứ Tây phương, đặc biệt là phong tục tặng quà. Cứ độ 1 tháng trước lễ Giáng Sinh, ai ai cũng lo mua sắm những món quà đủ cỡ. Sau đó họ gói những món quà trong giấy hoa đính kèm theo chiếc nơ kết bằng ribbon đủ màu sắc để tặng người thân hoặc bạn bè. Ngoài ra, những cánh thiệp với lời chúc tốt đẹp nhất cũng được dùng thay cho các gói quà. Phong tục này khởi đầu theo câu chuyện trong Kinh Thánh khi 3 vua từ phương xa nhờ đi theo dấu hiệu chỉ dẫn của ngôi sao bắc đẩu đă đến đươc nơi chúa sinh để dâng tặng ngài vàng, nhũ hương, và mộc dược. Tuy nhiên, phong tục tặng quà cho nhau chỉ thực sự bắt đầu vào cuối thế kỷ thứ 17. Măi cho đến khi câu chuyện về ông già Noel (Santa Clause) cưỡi tuần lộc tặng quà cho các trẻ em ngoan vào đúng nửa đêm Vọng Giáng Sinh ra đời, đồng thời cộng thêm sự hạ giá vào dịp lễ của các cửa hàng mua sắm mới thực sự làm cho phong tục tặng quà trở thành một trong phần không thể thiếu của ngày lễ Giáng Sinh.

Biểu tượng đặc trưng cho lễ Giáng Sinh chính là cây thông trang hoàng rực rỡ bằng các món trang sức đủ h́nh dạng và màu sắc. Tại sao cây thông được dùng trong mùa Giáng Sinh? Câu trả lời bắt đầu từ thế kỷ thứ 7 khi một thầy ḍng gốc Credition, Devonshire đến Đức để rao giảng lời Chúa. Ông đă sống và làm việc ở Thuringia, nơi sau này phát sinh ra kỹ nghệ sản suất đồ trang trí Giáng Sinh. Câu chuyện bắt đầu khi người thầy ḍng này đă dùng cây Linh Sam v́ nó có h́nh dạng tam giác để diễn tả chúa 3 ngôi (Cha, Con, và Thánh Thần) cho người dân ở đây. Kể từ đó, người dân ở đây tôn sùng gọi cây Linh Sam là Cây của Chúa giống như lúc trước người ta đă tôn sùng cây Sồi. Đến thế kỷ thứ 12, ở vùng trung âu (Central Europe?) người ta treo ngược cây này trên trần nhà vào mỗi dịp Giáng Sinh như là biểu tượng của Thiên Chúa (Christinanity). Đến khoảng thế kỷ thứ 17, truyền thống trưng bày cây thông trong nhà lan rộng khắp Châu Âu và sau đó là châu Mỹ khi những người di dân gốc Đức đặt chân đến tiểu bang Pensylvania. Ban đầu, cây thông Giáng Sinh chỉ là một cây thông đơn sơ mà người ta đốn từ các rừng thông đem về dựng trong nhà. Theo lịch sử, ông Martin Luther được xem là người đầu tiên dùng những cây nến nhỏ đặt lên trên các cành lá của cây Evergreen vào thế kỷ thứ 16 để tạo ra những ánh sáng lung linh tựa như những ánh sao từ trời cao chiếu xuống Bethlehem, nơi chúa sinh ra. Đến năm 1880, cửa hàng Woolworths là tiệm đầu tiên bày bán các món đồ trang trí cây thông (ornaments) đă được làm sẵn. Và những dây đèn điện đủ màu mới thực sự xuất hiện để thay thế cho các ngọn nến trước kia vào năm 1882. Rồi 41 năm sau tức 1923, ông Calvin Coolidge đă tổ chức buổi lễ giăng đèn cây thông Giáng Sinh đầu tiên bên ngoài nhà Trắng. Từ đó, tục lệ giăng đèn cây thông Giáng Sinh và hát thánh ca mới trở thành một trong những truyền thống hàng năm tại của phủ tổng thống Hoa Kỳ.

Ngoài cây thông c̣n có một loại cây khác cũng được xuất hiện chỉ vào dịp Giáng Sinh, đó là cây Tầm Gửi mà tiếng Anh gọi là Mistletoe. Ở Hoa Kỳ có một tục lệ dễ thương nhất về cây tầm gửi đó là nếu ai đó đứng dưới chùm cây tầm gửi sẽ phải hôn người đang đứng bên cạnh. Theo người xưa kể lại, người đàn ông phải hái hết tất cả các trái tầm gửi trên cành trong lúc anh ta hôn người phụ nữ. Và đối với phụ nữ nào c̣n độc thân đứng dưới cành cây tầm gửi mà không được hôn sẽ bị vướng cảnh độc thân suốt cả năm. Sự tích về cây tầm gửi bắt đầu bằng câu chuyện thần thoại về vị thần mặt trời mùa hạ tên là Balder. Vị thần này một lần nằm mơ thấy ḿnh sẽ bị chết. Cậu bé Balder bèn kể lại cho mẹ là nữ thần Frigga, vị thần của t́nh yêu và sắc đẹp. Bà mẹ Frigga sau khi nghe xong đă quá lo sợ nghĩ rằng giấc mơ có thể là một điềm báo nên bà cầu xin tất cả vạn vật trên trái đất hăy bảo vệ con trai bà. Bà c̣n nguyền rằng nếu Balder chết đi th́ tất cả mọi vật cũng sẽ phải chết theo. Từ đó, thần Balder lớn lên và miễn nhiễm với bất kỳ cây cỏ ǵ mọc lên từ mặt đấy mà các trẻ con cùng lúc dùng để ném vào cậu. Tuy thế, một trong số kẻ thù của Balder là Loki đă t́m ra kẽ hở trong lời nguyền của nữ thần Frigga chính là cây tầm gửi. Sở dĩ cây tầm gửi không bao giờ mọc lên từ đất mà là sống nhờ vào thân cây khác nên không bị ảnh hưởng bởi lời nguyền của nữ thần Frigga. Do biết thế, Loki đă dùng thân cây tầm gửi làm thành mũi tên, rồi lừa người em bị mù của Balder là Holder dùng mũi tên ấy bắn vào Balder. Chính mũi tên ấy đă hạ sát Balder. Ba ngày trôi qua, tất cả vạn vật trên thế gian t́m đủ mọi cách để cứu Balder nhưng đều thất bại. Cuối cùng, chính những giọt nước mắt của bà mẹ Frigga khóc than con ḿnh đă làm cho những trái tầm gửi chuyển từ màu đỏ sang trắng đem sinh mạng của Balder trở lại. Nhờ đó mà cậu được hồi sinh. Quá đỗi vui mừng, nữ thần Frigga đă lấy lại tiếng xấu của cây tầm gửi và bà đă hôn tất cả những ai bước dưới cây tầm gửi để tạ ơn cứu mạng con bà. Từ sự tích này, cây tầm gửi đă trở thành biểu tượng t́nh yêu vào dịp Giáng Sinh.

Mặc dù Noel có rất nhiều tục lệ phong phú khác nhau, nhưng đặc biệt nhất vẫn là ông già Noel mà tiếng Anh gọi là Santa Clause. Theo bách khoa toàn thư, ông già Noel là một nhân vật có thật. Đó chính là vị thánh trẻ Nicholas của thế kỷ thứ 4. Thánh Nicholas sinh tại nước Lycian vào thời trung cổ, ngài đến Palestine và Ai Cập lúc c̣n trẻ. Ngài nổi tiếng là người có ḷng thương người và đối xử tốt với những người nghèo khó hay buồn tủi. Sau khi chết, ngài đă được giáo hội Công Giáo phong thánh qua nhiều phép lạ mà ngài đă làm cho người nghèo hay cô thế. Thánh Nicolas là ông già Noel có thật ngoài đời. Thế c̣n ông già Noel phúc hậu, râu tóc trắng xóa trong các truyện cổ tích trẻ con bắt đầu có khi nào? H́nh ảnh ông già Noel này chỉ bắt đầu được ra đời khi nhà thơ Clement Moore đă viết bài thơ Một Đêm Trước Giáng Sinh vào năm 1822 riêng tặng gia đ́nh ông. Trong bài thơ, nhà thơ đă miêu tả đêm Giáng Sinh với h́nh ảnh các tuần lộc kéo xe trượt tuyết trên không, ống khói, và một ông già mập lùn phúc hậu với bao quà lớn gấp đôi ông treo trên vai. Bài thơ đă được đăng trên báo nhiều lần và được độc giả đón nhận nồng nhiệt đến độ ai cũng có thể thuộc nằm ḷng bài thơ này vào khoảng thời gian năm 1830. Măi đến khoảng giữa năm 1863 và 1886, tuần báo Harpers Weekly đă đăng thêm một số h́nh vẽ phóng tác thêm để tả về nơi làm việc của ông già Noel, cảnh ông đọc thư trẻ em gửi đến hoặc đang ḍ lại danh sách quà tặng trước khi đi phát quà đêm Vọng Giáng Sinh, etc. Trong đợt h́nh ảnh này, trang phục màu đỏ viền trắng của ông già Noel đă được phỏng họa theo trang phục của thánh Nicholas. Từ đó trở đi, ông già Noel đă đi vào lịch sử của nhân loại.

Giáng Sinh là câu chuyện cổ tích lâu đời nhất từ trước đến nay qua bao thế hệ mà chính con người góp phần vào không ít để làm cho Giáng Sinh măi tồn tại. Giáng Sinh cũng chính là mùa yêu thương, mùa hy vọng, và là mùa mang b́nh an đến cho nhân loại. Chúng ta có thể không nhớ Giáng Sinh có tự bao giờ, nhưng chúng ta vẫn có thể làm cho Giáng Sinh tiếp tục hiện hữu bằng chính hành động yêu thương của mỗi chúng ta dành cho gia đ́nh và mọi người xung quanh.

Mến chúc tất cả một mùa Giáng Sinh tràn đầy yêu thương, an lành và hạnh phúc.


1lyhuonga.jpg


       

          Kính chúc quí vị muà Giáng Sinh An B́nh và  năm mớí Hạnh Phúc

Bài Thánh Ca mở đâu trang nhạc Giáng Sinh  : ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG.(Silent Night - ( lời Việt))  Kính mời quư Vị thưởng thức qua một lần.

NGỌN NẾN LUNG LINH

Nguyên Nhung

 1-

 

Tôi không nhớ được mùa Giáng Sinh năm ấy tôi bao nhiêu tuổi, nhưng chắc chỉ độ lên mười. Có lẽ đó là một mùa Giáng Sinh khá buồn và ảm đạm v́ các anh chị tôi đi làm, đi học xa không về được, ở nhà quạnh quẽ chỉ c̣n hai mẹ con. Thời thơ ấu, tôi thèm lắm những bóng đèn xanh đỏ chớp nháy trên cây Giáng Sinh, một hang đá bằng giấy quết mực đen với những tượng Thánh xinh xinh bằng đất nung. Nhưng mộng ước ấy xa vời lắm đối với một đứa trẻ mười tuổi quá bé bỏng, trong lúc mẹ tôi xoay sở lo cho các con cơm ăn áo mặc đă vất vả, thời buổi ấy quả là một gánh nặng nhọc nhằn, trên đôi vai bé nhỏ của người đàn bà góa bụa.

 

Là một đứa trẻ con, nhưng dường như ông Trời đă cho tôi một tâm hồn khá nhạy cảm để âm thầm t́m niềm vui cho ḿnh từ những nhỏ nhoi nhất. Bởi vậy, đêm Giáng Sinh năm ấy dù không có đèn sao nhấp nháy, những trái châu xanh đỏ, nhưng tôi đă biết dùng những chiếc kẹo đủ màu để treo lên nhánh cây dương xỉ nhặt được trong khu nhà thờ, khi người ta đến đó trang hoàng hang đá cho mùa Giáng Sinh. Duy nhất một ngọn nến trắng bập bùng, ánh sáng lung linh hắt lên tường bóng một cành cây và một bóng người. Ngọn nến trắng đêm ấy đă làm cho cành cây và cái bóng của đứa trẻ thơ như lớn hơn, in lên tường chập chờn một giấc mơ tuyệt vời ấm áp. Tôi không nhớ được hết cảm giác đó v́ thời gian qua đi khá lâu, nhưng cảm nhận về ngọn nến trắng thời thơ ấu đă giúp tôi vượt qua nhiều nỗi buồn, mỗi khi lẻ loi, thất vọng, tôi vẫn cứ nhớ hoài ngọn nến trắng mùa Giáng Sinh năm tôi mười tuổi. Tôi c̣n nhận được một món quà đặc biệt của bà hàng xóm, bạn của mẹ tôi, cho đến bây giờ dù thời gian qua đi mấy chục năm, tôi vẫn h́nh dung ra được h́nh dáng và mùi vị của nó: một củ khoai lang nướng.

 

Món quà Giáng Sinh nghèo nàn của bà hàng xóm quê mùa thật vừa bụng tôi lắm, dù rằng mẹ tôi có làm vài món ăn đặc biệt cho ngày Lễ. Tôi mơ màng nh́n ngọn nến lung linh soi lên cây Giáng Sinh của tôi, cứ gọi như vậy v́ nó là niềm vui có thể làm được của một đứa trẻ con mười tuổi, củ khoai nướng gói trong mảnh lá chuối c̣n nóng hổi, mùi mật ngọt của khoai bốc lên thơm lừng, mùi rơm rạ h́nh như c̣n ủ trong lớp vỏ khoai cháy xém. Nụ cười tŕu mến trên khuôn mặt hiền lành của bà hàng xóm, khi đưa cho tôi món quà Giáng Sinh nghèo nàn ấy. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ khuôn mặt quê mùa, chân thật của bà, củ khoai lang nướng đêm Giáng Sinh ngày thơ ấu đă theo tôi vào đời. Khi trưởng thành, những lúc bụng đói mắt cay, đời gặp lúc gian nan, buồn tủi, tôi cũng nhớ củ khoai nướng, nhớ mùi khoai lang nướng. Khi sung sướng hạnh phúc ở quê người, đời no đủ những cao lương mĩ vị, tôi cũng nhớ mùi vị củ khoai nướng. Phải chăng trong tôi vẫn vấn vương thứ T̀NH NGƯỜI nhỏ nhoi ấy, không thể mua được bằng tiền. . .

 

2-

 

Tôi yêu đóm lửa ngọn nến trắng từ hồi c̣n thơ ấu, chắc là ngọn nến sáng mùa Giáng Sinh năm xưa cũng đi theo tôi đến những chặng đường c̣n lại của đời người. Có một câu chuyện tôi sắp kể ra đây, đó là câu chuyện của ông cụ Rôbéctô tôi có dịp gặp ở ngôi nhà nguyện. Mỗi ngày, sau Thánh Lễ buổi sáng, mọi người đă lục tục ra về, ngôi nhà nguyện đóng kín cửa như ch́m trong yên lặng và bóng tối, chỉ c̣n lại duy nhất một ngọn nến trắng trên bàn thờ. Ánh nến hắt lên tường những chấm sáng lung linh, soi lên bức tượng Đức Mẹ bồng con bằng thạch cao trắng toát. Nến trắng và tượng trắng, tất cả chỉ là một màu trắng nhưng nghe trong thinh lặng chút b́nh an tràn ngập tâm hồn.

 

Tôi ngồi lại một lúc giữa những hàng ghế chỏng trơ không c̣n ai, nh́n chăm chăm lên ngọn nến. Tôi ở lại một ḿnh chỉ v́ thích đóm lửa nhỏ nhoi của ngọn nến, say sưa nh́n đóm lửa nhỏ lay lắt tỏa ánh sáng hắt hiu xuống chiếc khăn trải bàn cũng màu trắng, trong cái tĩnh lặng của tâm hồn. Tôi không cầu nguyện ǵ đâu, nhưng cảm giác b́nh yên khi nh́n ánh sáng của cây nến trắng đă rất đủ. Chắc hẳn trong mỗi đời người ai cũng có lúc thèm sự yên tĩnh của tâm hồn. À không, ở dăy ghế bên kia c̣n một ông già Mễ Tây Cơ, ông vẫn quỳ im lặng nh́n lên ngọn nến như tôi vậy, nhưng khác hơn là miệng ông mấp máy cầu nguyện. Mặt ông héo quắt với cḥm râu bạc, đôi mắt đăm đăm nh́n lên ngon nến, nét mặt thành khẩn như đang cố bám lấy một niềm hy vọng nơi bức tượng Thánh trên bàn thờ.

 

Buổi sáng nay đi ngang công viên để đến nhà nguyện, tôi đă nh́n thấy mùa Đông trở về, một rừng lá vàng khô xôn xao đuổi nhau lăn xuống cuối dốc, trơ lại những nhánh cây khô, treo trên đó là những thân tầm gửi đang đong đưa theo gió sớm. Buổi sáng đầu mùa Đông mang theo chút giá buốt, khu công viên chỉ lác đác dăm người đi bộ, và những cây hoa dại có một sức chịu đựng dẻo dai, nở những bông hoa li ti trên bờ cỏ ven đường.

 

Khi ngọn nến tàn là lúc ấy tôi với ông già Mễ cũng ra khỏi ra nguyện. Ánh sáng leo lét của ngọn nến cháy bập bùng rồi gần như lả xuống trong ḷng chiếc b́nh thủy tinh trong suốt, y như cái ngoẹo đầu cuối cùng của một người khi từ giă cơi đời. Ông già Mễ mỉm cười chào tôi trước sân nhà nguyện, ở đấy có một vườn hoa nhỏ và hai băng ghế dài đặt song song đối diện nhau. Có khi tôi cũng ngồi lại một chút để nh́n vẩn vơ lũ chim sẻ đang nhảy nhót trên sân t́m mồi, bỗng đồng loạt bay ào lên khi thấy có bóng người bước tới. Đôi khi tôi và ông Rôbéctô hay trao đổi vài câu chuyện nhỏ, cái miệng móm mém của ông phều phào kể cho tôi nghe những nỗi buồn nho nhỏ trong gia đ́nh, ông hay đi nhà thờ để cầu nguyện cho đứa cháu đang đi lính ở phương xa.

 

Khi biết tôi ở lại một ḿnh cũng chỉ v́ thích ánh sáng lung linh của ngọn nến trắng, và câu chuyện mùa Giáng Sinh thời thơ ấu, ông RôBécTô cảm động lắm. Đôi mắt ông hấp háy, nḥa ướt qua giọng nói khàn khàn ẩm đục. Mùa Giáng Sinh đến, trời bắt đầu lạnh hơn, tôi có ư nghĩ chuẩn bị một món quà cho ông bạn già vong niên trước ngày Lễ Giáng Sinh. Có ǵ đâu, tôi lại nhớ đến củ khoai lang nướng bà hàng xóm tặng tôi đêm Giáng Sinh, bây giờ nghe ông Rôbéctô thích vài món ăn Việt Nam, tôi nghĩ đến chuyện tặng ông một hộp cơm rang và chục cái chả gị tôm thịt. Chẳng có ǵ hơn bằng một món quà đáp ứng đúng sự ưa thích của người nhận, ông Rôbéctô cảm động lắm khi nhận món quà của tôi buổi sáng trước ngày Lễ Giáng Sinh, tôi thấy đôi mắt ông nḥa lệ khi nắm lấy tay tôi nói phều phào những lời cảm ơn.

 

Tôi không nghĩ đến việc cho đi để nhận lại một món quà thật dễ thương của ông Rôbéctô vài hôm sau đó. Khi tan buổi lễ, ông gặp tôi trước sân nhà nguyện, với một gói giấy hoa thật đẹp, th́ ra ông già đă nhờ cô con gái mua hộ cho tôi một món quà thật xinh: đó là chiếc áo len màu hồng nhạt. Vẫn cái giọng Mễ Tây Cơ lùng bùng những thanh âm nằng nặng, ông nói rằng món quà này thật là thích hợp cho tôi, người phụ nữ Á Đông có dáng dấp nhỏ nhắn và nước da trắng trẻo. Quả thật chiếc áo len màu hồng khi mặc vào đă làm tôi như trẻ lại hằng chục tuổi. Món quà của ông Rôbéctô đă thắp lại trong tôi ngọn nến sáng mùa Giáng Sinh năm nào, với củ khoai lang nướng khi tôi là cô bé lên mười thuở ấy. . .

 

Ông Rôbéctô đă qua đời vài năm nay, ông chết v́ bịnh ung thư phổi. Những năm cuối của cuộc đời, ông không đến được nhà nguyện mỗi ngày, nhưng trước khi chết ông vẫn mong được gặp những khuôn mặt yêu thương của những người Việt ông quen biết. Rất tiếc là tôi không thường gặp ông sau này, nhưng tôi biết ông ra đi rất êm ả. Người ta kể rằng trong những giây phút cuối cùng của đời người, ông chỉ xin đốt lên cho ḿnh một ngọn nến. . .

 

3-

 

Những ngày cuối năm với những cơn mưa mùa Đông làm ẩm ướt không gian, đất trời như nặng trĩu một nỗi sầu da diết. Trong căn nhà vắng lặng, bóng chiều h́nh như đến vội với những giọt mưa rả rích ngoài hiên. Trời rét lắm, gió và rét khiến những chú chim sẻ nhiều chuyện không ríu rít như mọi ngày, chúng rủ nhau vào trốn gió sau bụi mía, lả ḿnh vào hàng rào đang rung rung những chiếc lá úa. Những con chim sẻ mùa Đông trông thật dễ thương, xù lông ra tṛn quay như một cụm len màu nâu xám biết nhảy nhót.

 

Góc vườn nơi cửa sổ nhà bếp rất khuất gió, bụi mía sắp tàn như một mái nhà tranh trống trước hở sau, che tạm cho một gia đ́nh nghèo khổ. Sau cơn mưa, trời chuyển qua những đợt gió lạnh buốt xương, tôi đứng từ trong nhà nh́n ra khung cửa kính nhà bếp, ṭ ṃ nh́n mấy chú chim sẻ núp dưới ṿm lá mía. Cũng đỡ buồn lắm khi ngắm nh́n bầy chim sẻ mùa Đông, y như những đứa trẻ bụi đời trên vỉa hè thành phố một đêm mưa nào đó, rúc vào nhau trong tấm chiếu trải bên lề đường, cuộn tṛn lại với nhau đưới tấm chăn bẩn . Mấy con chim sẻ cũng khôn ngoan rủ nhau tụ vào một chỗ, có con đang co ro ngủ gật, có con mắt láo liên, thỉnh thoảng lại lách chách bay lên tàu lá như vừa t́m được một con mồi đỡ ḷng cho ngày Đông buốt giá. Nhu cầu ăn để sống vẫn bắt nó phải t́m mồi dù đôi cánh lảo đảo trong gió rét như muốn rơi xuống thảm cỏ, trông thật tội nghiệp.

 

Đứng trong nhà nh́n qua lớp cửa kính trong suốt, ở góc pḥng chớp tắt những chiếc đèn nhấp nháy trên cây Giáng Sinh, tôi thấy con chim bé bỏng đang vỗ vỗ đôi cánh nhỏ, rồi gơ cái mỏ nhỏ xíu lên mặt kính, cũng ṭ ṃ nh́n tôi, làm như nó cũng thèm thuồng được vào trú ẩn trong căn nhà có ánh đèn ấm áp. Tôi chia xẻ được ǵ đây? Người và chim là hai thế giới khác hẳn nhau, và có lẽ dù được cho ăn no, chú chim sẻ vẫn không thích thú ǵ khi bị con người giam chú vào cái lồng chim chật hẹp. Những chú chim sẻ mùa Đông như những búp len xậm màu, xếp hàng xúm xít vào nhau để trốn gió sau rặng mía ven bờ rào, lại dẫn đưa tôi đến một khía cạnh khác của con người, mà ở câu chuyện này tôi vẫn thấy cái đẹp nhỏ nhoi của T́nh Người ấm áp biết bao nhiêu. Đó là câu chuyện của hai người vô gia cư, hay là chuyện "lá rách đùm lá nát" đă làm thức dậy chút bâng khuâng trong tâm hồn những quả tim chai đá.

 

4-

 

Một buổi tối mùa Đông trước ngày Lễ Giáng Sinh, trời mưa phùn, rét như cắt ruột. Đường phố vắng xe qua lại, phía xa là những ánh đèn màu rực rỡ chớp tắt quấn trên những thân cây ven đường. Suốt một tuần sắp lễ Giáng Sinh, thời tiết bỗng dưng âm ỉ rét, những đợt gió lạnh từ hướng Bắc thổi về, người có việc ra đường co ro trong những chiếc áo ấm dày cộm và khăn phu la quấn quanh cổ. H́nh như người ta ngại đi ra đường vào một tối trời mưa như vậy, chỉ c̣n một vài cửa hàng bán "fast food" và cà phê là c̣n mở cửa, có dăm người khách ngồi im lặng trầm ngâm trước khay thức ăn ăn uống uể oải. Khách đến tiệm vào giờ này có lẽ là những kẻ xa nhà, thiếu một bếp lửa hồng để sưởi ấm cơi ḷng cô quạnh, ngày giáp Lễ thường sau giờ làm việc, ai nấy hối hả về nhà chuẩn bị đón mừng lễ Giáng Sinh.

 

Người phụ nữ bán hàng đang dọn dẹp mấy thứ lặt vặt, mong đến giờ đóng cửa để đi về, v́ chỉ c̣n mấy tiếng đồng hồ nữa là đến nửa đêm. Bà nghĩ đến hai đứa con đi học xa vừa về nhà với mẹ mấy hôm nay, đă lâu lắm người mẹ chỉ mong được gặp các con trong những dịp Lễ Tạ Ơn hay mùa Giáng Sinh, và bà đă chuẩn bị những món ăn truyền thống mùa Giáng Sinh cho các con từ mấy ngày hôm trước. Gia cảnh đơn chiếc v́ năm ngoái người chồng đă qua đời sau một tai nạn, bà vẫn ở một ḿnh trong căn chung cư cũ kỹ, những ngày gió mưa căn nhà nhỏ như càng ẩm ướt, lạnh lẽo.

 

Ngay khi ấy, cánh cửa tiệm bật mở đem theo một làn gió buốt lạnh vào trong tiệm ăn, hai người đàn ông chùm đụp trong những tấm chăn bẩn bước vào tiệm. Người phụ nữ nghĩ đó là hai người khách cuối cùng, v́ bà cũng nhớ ra đó là hai người đàn ông nghèo khổ, không có một mái nhà, chỗ trú của họ là cái gầm cầu ngoài xa lộ đi về hướng Galveston. Thỉnh thoảng họ có dắt nhau đến đây, trông họ có vẻ là hai anh em, người đàn ông lớn tuổi trông vẻ mặt rất ngây ngô như một đứa trẻ chậm phát triển.

 

Trong hai người đàn ông ấy, ông già gương mặt đờ đẫn, ngờ nghệch nh́n thế giới xung quanh ông như nh́n một thế giới khác, thời gian đă cày lên khuôn mặt ông những nếp nhăn chằng chịt, bộ râu hung hung nay đă xám ngoét, bết vào nhau như một cụm rơm bẩn. Người đàn ông kia trẻ hơn, có đôi mắt màu xanh lơ trông hiền lành như màu biển, co ro trong chiếc áo rét bằng dạ xám bẩn và cũ. Họ rét lắm, chằng đụp lên người những quần áo và chăn bẩn, bốc lên một mùi hôi. Ngoài trời, cơn mưa phùn mùa Đông như những chiếc kim khâu luồn từng giọt căm căm vào xương tủy, gió nhiều hơn mưa, mưa và gió lại là hai vị Thần nguy hiểm của những người bần cùng, nghèo khổ.

 

Hai người đứng xếp hàng chờ đợi. Người đàn ông trung niên vét măi hết túi này đến túi kia được một nắm hào lẻ, chưa đầy một đồng bạc nhưng cũng đủ mua một ly cà phê nóng. Theo quy định của cửa hàng, khách vào tiệm phải mua một món ǵ mới được phép ngồi lại. Trời rét ngọt ở bên ngoài, nhưng trong tiệm thật ấm v́ có máy sưởi, quần áo của hai người đàn ông nghèo khổ toát ra một mùi hôi khiến những người trong tiệm phải nhăn mặt. Mua xong ly cà phê, họ vội vă dẫn nhau vào cái bàn xa nhất, như sợ rằng mùi hôi trên quần áo, cái nheo nhóc, bẩn thỉu của thân phận người nghèo cũng sẽ làm những người xung quanh khó chịu.

 

Người phụ nữ bán hàng để ư nh́n hai người "homeless" mà chỉ mua có một ly cà phê. Khi nhận ly cà phê trên tay bà, người đàn ông trẻ hơn vội vă đưa cánh tay d́u người đàn ông già đi về chiếc bàn trong góc tối. H́nh ảnh đó khiến bà xúc động, một người "không có ǵ" cũng đang cố sức giúp một người" không có ǵ" gượng đứng trên cơi đời đầy đau khổ, khi họ nhường cho nhau ủ đôi bàn tay lạnh cóng vào ly cà phê nóng c̣n bốc khói. Người đàn ông trẻ hơn đẩy ly cà phê vào đôi tay ông bạn già đang run rẩy, rồi một chốc người kia lại đẩy ly cà phê sang phía người đối diện, họ cứ chuyền tay nhau ly cà phê nóng c̣n bốc khói mà không uống ngụm nào. Họ cần một chút ấm trong đêm nay, mà cơn gió tháng chạp lạnh lẽo đă luồn vào gầm cầu trống trải khiến họ rét run bần bật . Thời tiết và thời gian là đôi bạn đồng hành ác độc đè lên đôi vai họ một cách nghiệt ngă, để họ không c̣n sức chịu đựng mà chống chỏi cơn giá rét mùa Đông như những năm trước.

 

Người phụ nữ đứng trong quầy hàng, như bức xúc trước cái khổ của đồng loại. Dù sao bà cũng có một mái nhà để chui ra chui vào, dù sao bà cũng có hai đứa con, và lát nữa đây khi tiệm đóng cửa, con bà sẽ đến đón mẹ về nhà để đón mừng ngày Lễ Giáng Sinh. So sánh giữa hai cái khổ, bà vẫn thấy ḿnh hạnh phúc hơn hai người đàn ông "homeless" kia. Không biết nghĩ sao, bà móc túi t́m vài đồng bạc lẻ, và thật sung sướng khi đóng vai một người khách, bà có đủ tiền mua tặng cho hai người đàn ông nghèo khổ một khay thức ăn nóng hổi. Bà bưng khay thức ăn đến cái bàn của hai người đàn ông, với một nụ cười dịu dàng và câu chúc "Giáng Sinh Vui Tươi", bên chiếc khay c̣n thêm một ngọn nến trắng cắm trong cái ly nhỏ bằng thủy tinh trong suốt, bà vừa mua nó hồi trưa nay tại một tiệm chín mươi chín xu để buổi tối đặt trên bàn ăn, đốt lên ngọn lửa giáng sinh ấm áp mừng ngày xum họp trong gia đ́nh.

 

Hai người "homeless" ngỡ ngàng nh́n người phụ nữ. Người đàn ông mắt màu xanh lơ có cḥm râu bạc nh́n chăm chăm vào khuôn mặt của người phụ nữ tốt bụng, nói lời cảm ơn nghẹn ngào với đôi mắt rưng rưng. Ông đẩy khay thức ăn qua cho người bạn già ngớ ngẩn của ḿnh, bằng ánh mắt thương yêu tŕu mến. Ngọn nến mà người đàn bà tốt bụng vừa đốt lên để mừng Giáng Sinh, cho họ một cảm giác cực kỳ hạnh phúc, v́ họ đang tận hưởng được sự trân trọng như những con người b́nh thường trong xă hội.

 

Sau khi ăn xong khay thức ăn, người đàn ông trẻ tuổi dọn dẹp rồi lại d́u người bạn già ra khỏi tiệm ăn. Đi qua chỗ người phụ nữ, ông ta ngước đôi mắt xanh và mấp máy một lời chúc tốt lành nhất mùa Giáng Sinh đến người phụ nữ, họ mỉm cười với nhau. Đă tới giờ đóng cửa, hai kẻ cùng khổ không nhà ấy dẫn nhau trở về cái dạ cầu, nơi trú ẩn của họ hằng bao nhiêu năm nay, họ xin người đàn bà cho họ mang theo ngọn nến trắng. Bụng đă no, ḷng đă ấm v́ t́nh người như một món quà Giáng Sinh quá bất ngờ, vừa rơi xuống từ Trời để họ biết là vẫn c̣n những tấm ḷng tử tế trên cơi đời này. Người phụ nữ cũng sửa soạn ra về, mang theo trong ḷng một niềm vui nhỏ nhoi mà thật là ấm áp. Đôi mắt xanh hiền hậu của người "homeless" nh́n bà lúc năy trông quen quá, dường như bà đă nh́n thấy ở đâu? Sau một phút nghĩ ngợi, bà chợt "à"ø lên một tiếng nhỏ. Phải rồi, đó là đôi mắt tượng Chúa treo trên vách nhà nguyện, ngồi giữa một bầy trẻ thơ đang ríu rít đứng xung quanh.

 

5-

 

Người ta kể cho tôi nghe một câu chuyện khác, lần này th́ tôi nhớ ra ông Tom, người đưa thư da đen quen thuộc vùng ngoại ô SouthEast. Ông Tom gốc gác người Phi Châu, da đen bóng, tổ tiên ông bao đời đă từng sống nơi vùng đầm lầy Lousiana, người du lịch đó đây có thể thấy bên ven đường đi Baton Rouge, đài kỷ niệm những bước chân đầu tiên của người nô lệ da đen trên xứ Mỹ.

 

Ông Tom làm nghề phát thư cho khu vực này khá lâu, từ khi hàng cây sồi ven đường c̣n bé tư, những căn nhà khang trang thuở ấy nay đă cũ kỹ, và chủ nhân những căn nhà ấy bây giờ có thể là một bà cụ già đi không vững, đám trẻ đă đi đâu mất, chỉ c̣n những tiếng chim ríu rít trên rặng sồi là c̣n y nguyên. Ông Tom biết hết những căn nhà trên con đường River, biết cả những căn nhà lần lượt đổi chủ, và những phụ nữ xinh đẹp dễ thương năm nào, nay bước vào tuổi già c̣n lại một ḿnh trong khu nhà êm ả đầy bóng cây râm mát.

 

Ông Tom thân với cụ Mary nhất, cũng từ cái hôm ông bị một con chó trong khu vực ra được cổng rào, rượt ông chạy trối chết rồi vấp chân vào bậc xi măng bên vệ đường, ngă lăn ra trước cổng nhà cụ Mary, đúng vào lúc bà cụ ra mở thùng thư để lấy thư như thường lệ. Bà cụ nh́n người đưa thư da đen ái ngại, rồi bà mời ông vào ngồi nghỉ trên chiếc ghế đá ở sân trước, trong khi ông Tom chưa hoàn hồn v́ cái ngă đau làm đầu gối ông bị trầy trụa, rướm máu.

 

Bà cụ Mary vào nhà, lúc trở ra bà bưng cho ông một ly nước cam, với một túi vải đựng dăm thứ thuốc sát trùng và băng cá nhân. Bà dịu dàng bảo ông Tom vén ống quần lên cho bà xem vết thương, nhẹ nhàng lau vết thương cho ông rồi băng lại cẩn thận. Ông Tom cảm thấy dễ chịu quá, trước kia ông vẫn ngấm ngầm cho rằng đâu đó là sự chia cách của màu da, của con người giữa những tầng lớp xă hội, và những đau buồn của dĩ văng từ đời tổ tiên khiến ông có ít nhiều mặc cảm với người da trắng. Hai người mỉm cười với nhau, chỉ có thế mà ông Tom nhớ măi v́ hôm ấy là một ngày đẹp nhất của mùa thu . . .

 

Từ đó họ thành đôi bạn vong niên của nhau. Ông Tom cũng biết thêm bà cụ Mary sống cu ky có một ḿnh, con cháu bà ở một thành phố khác, từ khi cụ ông qua đời th́ bà Mary cô quạnh thêm v́ vắng người hủ hỉ. Mỗi ngày đem thư đến khu vực này, ông Tom luôn mong thấy khuôn mặt và nụ cười hiền lành của bà bạn vong niên ra lấy thư, hôm nào vắng bà cụ là ông Tom lại cảm thấy không yên bụng.

 

Năm nay mùa Giáng Sinh lại đến. Mùa Đông rét hơn mọi năm, hay là ông Tom nay đă yếu để thấy rằng cơn gió mùa Đông Bắc bỗng dưng lại khắc nghiệt hơn những năm trước. Sau mùa Giáng Sinh ông Tom sẽ có những ngày nghỉ phép, ông về thăm lại anh em của ḿnh ở vùng đầm lầy Lousiana, ông sẽ trở về khu nhà tồi tàn, cũ kỹ nhưng ấm áp t́nh thương gia đ́nh. Trước khi đi, ông Tom sẽ nói cho bà Mary biết những ngày ông đi vắng, và ông cũng mong rằng con cháu bà sẽ về xum họp với bà trong những ngày nghỉ lễ cuối năm. Những ngày cuối năm bận rộn, ông Tom lái xe đem đầy nhóc những cánh thiệp Giáng Sinh, thùng thư nào cũng có những cánh thiệp mang đầy lời chúc tốt đẹp, nhưng hai ngày qua mà thùng thư của bà Mary vẫn c̣n nguyên, không thấy bà lấy thư như mọi khi.

 

Ông Tom lái xe đi rồi lại băn khoăn nghĩ ngợi măi, không yên ḷng chút nào cả. Bà bạn già của ông không biết đi đâu, ra sao? Lúc trước mỗi lần đi vắng đôi ngày, bà có nói cho ông Tom biết, nhưng lần này ông chỉ nghe bà khoe người con trai sẽ về thăm, lũ cháu đi nghỉ Đông với bạn bè ở miền Bắc. Chắc chắn là bà Mary ở trong nhà, nhưng lư do nào mà thùng thư của bà hai hôm rồi vẫn chưa lấy? Đáng lẽ ông Tom lái xe về Bưu Điện khi đă bỏ hết thư trong ngày, nhưng nghĩ sao ông lại quành xe về nhà bà cụ Mary, và ông rón rén mở cánh cổng rào thấp, hồi hộp gơ cửa chờ đợi. Ông gơ năm, bảy lần, ông bần thần trong dạ, linh tính cho ông biết bà bạn già không đi đâu, nhưng chẳng biết v́ sao bà không mở cửa.

 

Tuổi già sống một ḿnh như bà cụ Mary là chấp nhận tất cả nỗi cô đơn, buồn rầu, hiu quạnh, chưa kể những cơn bịnh đến bất ngờ không chống đỡ được. Ông Tom định bỏ đi nhưng ḷng không an ổn, ông nhớ lại buổi chiều thu hôm nào bà Mary đă lật đật lấy cho ông một ly nước cam, đă lau chùi băng lại vết thương trầy trụa trên đầu gối ông, đă cho ông một nụ cười hiền dịu nhất của t́nh nhân loại. Không nghĩ ǵ nữa, ông Tom quyết định gọi "emergency" để báo cáo về sự vắng mặt của bà bạn già dễ mến của ḿnh. Khi người ta phá cửa vào nhà, bà Mary chỉ c̣n thoi thóp thở, nằm bất động trên giường với khuôn mặt xanh lướt. . . .

 

Câu chuyện của người đưa thư da đen cứu sống một người đàn bà già nua cô độc trong căn nhà ở đường River, người ta có đưa lên chương tŕnh truyền h́nh địa phương một buổi tối áp lễ Giáng Sinh. Chẳng biết có ai nghĩ ǵ về những nỗi buồn đầy ắp trong cuộc sống thường ngày, hay chỉ có ông Tom đang cầu nguyện cho bà bạn già mau b́nh phục.

 

Mùa Giáng Sinh

NGUYÊN NHUNG

1lyhuonga.jpg