hoanhac.jpg














































 

Chủ đề: TÔI ĐĂ ĐI NHIỀU NƠI
Đến: Verborgene_Empfaenger

 

Tôi đă có nhân duyên đi khắp nhiều nơi, đến cũng rất nhiều chỗ. Đây cũng là cơ hội để cho tôi học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với mọi người. Trong cuộc sống nầy có rất nhiều người may mắn nắm bắt then chốt của công việc, của sự suy nghĩ và cứ theo đó mà hành động th́ đa phần có chút ít lạc quan, nhưng cũng có lắm người sống rất bi quan, không biết cách giải quyết như thế nào để có thể thoát ra những sự trói buộc, để nội tâm chúng ta được thư thái nhẹ nhàng hơn.
Nhiều lúc tôi lấy tư cách là một vị Thầy để nói chuyện với học tṛ đệ tử, th́ họ bảo rằng: "v́ tôi làm chủ mọi vấn đề, nên mới dễ dàng chủ động trong mọi t́nh huống; c̣n học tṛ đệ tử là những người phụ thuộc và bị động, nên khó sống hay làm việc trong sự chủ quan được."

Rơ ràng là như vậy. Ở Á Châu chúng ta đa phần là chỉ học cái kiến thức của ông Thầy, phần sáng tạo th́ ít đi, trong khi đó học theo lối học Âu Mỹ ngày nay có khác. Vị Thầy chỉ là một người bạn của học tṛ, sinh viên nhằm chia xẻ những tri thức và sự học hỏi của ḿnh cho học tṛ và từ đó học tṛ dạn dĩ hơn, chủ động hơn cũng như có nhiều khả năng tự lập hơn; chứ không bị lệ thuộc nhiều theo như sự giáo dục của Á châu chúng ta.

Từ đó khi ra làm việc hay bước vào công sở, cuộc sống xă hội, cuộc sống gia đ́nh họ tự phân chia trách nhiệm và thực hành bổn phận ấy với khả năng chuyên biệt của ḿnh. Rồi một nhóm 3, 5, 7 hay 10 người v.v... sẽ chỉ chịu trách nhiệm của phần ḿnh riêng lẻ, để rồi cộng hưởng giao thoa với nhau trong một môi trường to lớn hơn. Đây là cung cách tổ chức trong trường học, trong xă hội, trong công ăn việc làm của xă hội Âu Mỹ ngày nay.

Dĩ nhiên những xă hội nầy họ vẫn cần những người lănh đạo như Á Châu chúng ta, nhưng kẻ lănh đạo chỉ là người biết lắng nghe thuộc cấp tŕnh bày, bàn bạc và cốt làm sao cho công việc được thành tựu là điều chính yếu, chứ không phải lấy mọi người để làm bàn đạp tiến thân lên đài danh vọng của ḿnh như một số nước Á Châu đang chủ trương.


Nếu công việc thành tựu th́ kết quả đó là kết quả của tập thể. Nếu ngược lại, chỉ có cá nhân chịu trách nhiệm, không ảnh hưởng đến một tập thể hay một cộng đồng to lớn, mà giới lănh đạo trong trường hợp nầy phải biết quan tâm, chia sẻ với những người cùng làm việc chung; chứ không phải chỉ đứng chỉ tay năm ngón bảo người khác phải làm, c̣n ḿnh th́ chẳng có trách nhiệm ǵ cả.

Một xă hội như thế là một xă hội tương đối khá công bằng. Thế nhưng xă hội nầy c̣n tiến nữa, sẽ tiến dần đến phía trước, mà những ǵ nó sắp xảy ra, con người không tự làm chủ được. V́ lẽ dần dần nếp sống của con người bị thu hẹp trong những cá nhân tự kỷ; chỉ biết sống cho ḿnh, lo trau chuốt tự ngă của ḿnh và những ǵ thuộc về ḿnh; trong khi đó những người sống chung quanh ta th́ mặc kệ họ. Ngay cả những người gần gũi nhất trong gia đ́nh của ḿnh. Rồi đây mọi việc sẽ ra sao, ai trong chúng ta cũng khó đoán biết hết được, nhưng có một điều người ta không thể chối căi được, khi con người càng giàu có về vật chất th́ lănh vực tinh thần lại càng trở nên nghèo nàn keo kiệt. Có một hôm tôi đang hướng dẫn những sinh viên người Đức tại chùa Viên Giác Hannover, tôi bảo rằng: "ngày nay tất cả vật giá của mọi thứ đều leo thang, tăng giá; chỉ có một món duy nhất rẻ mạt, không biết các anh chị em có biết chăng?"


Thế rồi người nầy đưa mắt hỏi người kia, có kẻ trả lời món nầy món nọ, nhưng tôi trả lời thế cho họ. Đó là: "Đạo đức của con người". Đạo đức nầy ngày nay hạ giá quá! Luân thường đạo lư bị đảo lộn; cuộc sống gia đ́nh và đời sống của xă hội bị quay cuồng trong cơn thác loạn, chỉ biết tranh đấu với đồng tiền, chứ có rất ít người lo chiến đấu với vô minh; với khổ đau và sanh tử.

Có người hỏi tôi rằng:
"Thưa Thầy, phải sống làm sao cho thoải mái, không bị mọi thứ chi phối ḿnh và phải giải quyết cuộc sống nầy ra sao, khi khổ đau đưa đến?"
Câu hỏi nghe rất đơn giản, nhưng câu trả lời có hàng trăm cách khác nhau. Tuy nhiên tôi cũng trả lời theo kinh nghiệm và sự hiểu biết của ḿnh rằng:
"muốn sống cho được an lạc, thoải mái, th́ hăy biết bỏ những ǵ đáng bỏ và biết giữ lại những ǵ đáng giữ." Điều nầy nghe thật đơn giản nhưng không dễ thực hiện, v́ đa phần cái ǵ ḿnh cũng muốn giữ lại. Cho nên hành trang ḿnh mang đi vào cuộc đời nặng trĩu cả hai vai và tâm thức. Như vậy c̣n đâu sức lực của tự thân và chỗ trống của tâm hồn và những lời hay ư đẹp cho nội tâm ḿnh. Sở dĩ có việc nầy v́ khả năng buông xả của con người c̣n rất yếu đuối; trong khi khả năng chấp thủ th́ quá dư thừa. Đây chính là nguyên nhân ở trong cơi Dục nầy vậy. Con người cái ǵ cũng muốn ôm vào ḷng, vào tâm thức, nhưng ta phải hiểu rằng mỗi người trong chúng ta sẽ ôm giữ chúng được trong bao lâu? Có thể 10, 20, 50 năm hay nhẫn đến 100 năm đi nữa; khi ta không muốn buông bỏ nó, th́ nó cũng buông bỏ ta mà ra đi thôi. Ngay cả tiền, t́nh, danh vọng, sắc đẹp, tài sản, người thân, quyền lực, ngai vàng v.v...

Vậy cái ǵ là thật tướng của vạn pháp? Xin trả lời là "Không". Từ "Không" ta đến nơi đây rồi kết cuộc rồi ta cũng sẽ về lại chỗ "Không" mà thôi. Vậy th́ tranh đấu, dành giựt địa vị, quyền lợi, tiền bạc để làm ǵ mà lối thoát phía trước là một cái "Không" to tướng. Biết th́ ai cũng biết vậy, nhưng tiếc thân nầy th́ ai lại không tiếc? Do đó mới sinh ra tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà thủ... thôi th́ đủ thứ đủ loại; nó giống như một loại tơ ṿ, tự thân ḿnh trói buộc ḿnh mà thôi.

Mới đây tôi có gặp Sư Thúc ở Houston tức là Ngài Trưởng Lăo Thích Chơn Điền cũng là nhà thơ Ngốc Tử. Có một bài thơ mới nhất Ngài sáng tác trong năm 2007 nhan đề là "Ruồi than trong lưới nhện" rằng:

 

„Tham dục lao vào chốn tử sinh,
Vô minh nghiệp thức dẫn ṿng quanh,
Ao tù ngũ trược càng thêm trược,
Khổ khổ rồi ra cũng tại ḿnh."

 

Chỉ cần b́nh chú bài thơ nầy thôi là ta có đủ một nhân sinh quan, một vũ trụ quan để sống trong cuộc sống đầy khổ đau phiền lụy nầy rồi. V́ sự tham lam ham muốn, nên chúng ta mới tự quay cuồng như con ruồi trong chốn lao tù sanh tử. Nơi đây ta ngỡ là vui nhưng chỉ toàn là phiền năo, khổ đau cái nầy chồng chất lên cái kia không bao giờ biết chán ngán và dừng lại. V́ vô minh và nghiệp lực nó dẫn ḿnh tới đây và điều quan trọng là ḿnh không biết tự làm chủ nó, nên mới khổ đau tục lụy như thế nầy. Kẻ biết và kẻ không biết khác nhau ở chỗ nầy. Người hiểu biết là người biết dừng đúng lúc, kẻ không biết là kẻ cứ thế mà lao vào. Điều nầy cũng giống như con ruồi biết rằng phía trước đang có nhện giăng tơ, nhưng ruồi vẫn không lưu tâm và không biết dừng lại, nên cuối cùng bị chết đứng giữa sa trường của cạm bẫy. Chúng ta cũng giống như vậy, trong chốn tử sinh nầy có lắm mật ngọt, bơ sửa, thịt thà, sắc đẹp, lợi danh... nhưng có ai biết dừng lại chăng? Hay chúng ta chỉ biết chờ đợi ở một phép lạ.

Cảnh sống trần gian nầy vốn đă vẩn đục, mà chúng ta càng cố cựa quậy th́ nó càng đục thêm, nên chúng ta không thể tự rời khỏi chốn nầy. V́ căn bản của thế gian là ô trược, nhơ nhớp, phiền năo, khổ đau v.v... ngày nay ta có khổ, thật sự ra không ai làm cho ta khổ, mà sự khổ đau hay an lạc tự chính ḿnh tạo nên mà thôi. Vậy th́ điều căn bản của vấn đề là phải: "Quẳng gánh lo đi", cái ǵ chúng ta mang được th́ mang, cái ǵ gánh được th́ gánh, c̣n những ǵ không kham nổi nữa th́ hăy để gánh lại giữa đường, không nên cố sức gánh, rồi cuối cùng cũng sẽ bị tử sanh, sanh tử chi phối mà thôi. Nếu ta không gánh th́ người đến sau sẽ gánh tiếp, đâu cần phải lo. Nếu không có ta th́ xă hội nầy không c̣n có ư nghĩa nữa, điều nầy là do ḿnh quá chủ quan. Có một ông giám đốc của một công ty nọ rất nổi tiếng và ông ta nghĩ rằng không ai có thể thay thế vị trí của ông ta được. Thế nhưng ông đột nhiên bị tai nạn xe hơi tử vong và chỉ cần 3 ngày sau là hăng kia đă t́m được một ông giám đốc mới, ông nầy c̣n giỏi hơn ông trước nữa.

Thật ra nếu ta có chết, th́ cây cỏ bên vệ đường vẫn c̣n sống đó. Chúng đâu có t́nh nguyện theo ta để chia xẻ những khổ đau của chúng ta đang gặp phải hay đối đầu đâu. Do vậy
"người nào tu học càng lâu, phải càng nên thấy ḿnh không là ǵ cả, th́ kẻ ấy mới là kẻ tu chân chính". Đây là lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Nếu ai trong chúng ta cũng như vậy mà thực hành th́ cuộc đời nầy có ư nghĩa biết bao nhiêu.

Đa phần chúng ta chỉ thấy việc của người chứ ít ai thấy việc của ḿnh, mà nếu thấy th́ chỉ thấy cái lỗi của người khác, chứ ít khi tự thấy cái lỗi của chính ḿnh. C̣n nếu tự thấy ḿnh, th́ chỉ thấy cái tốt, chứ ít thấy cái xấu của ḿnh. V́ sao vậy? V́ lẽ ta lấy ta làm chủ thể để đi phê phán người khác và ta lấy cái ta để đo lường cái ta của đối phương nên mới như vậy. Bao giờ ta là người và người là ta th́ ta sẽ dễ thông cảm và dễ tha thứ hơn. Thường ta tự củng cố tự ngă của ḿnh, nhưng trên thực tế tự ngă nó không là ǵ cả; nó chỉ là một cái

"Không""Hạnh phúc là những ǵ mà người ta đang có, chứ không phải những ǵ mà người ta đi t́m". Thật đúng như vậy! Thường người ta đi t́m đủ mọi thứ trên đời mà quên t́m lại chính ḿnh, nên ta mới bị khổ đau sinh tử dày ṿ. Bao giờ ta hiểu ta là ai th́ ta sẽ biết dừng lại.

Ngài Doogen là Tổ Thiền Tào Động ở thế kỷ thứ 13, khi Ngài sang Trung Quốc ở tỉnh Triết Giang nơi chùa Cảnh Phước để học đạo. Ngài đă đắc pháp với Lăo Thiền Sư Như Tịnh, pháp ấy chính là "B́nh Thường Tâm Thị Đạo". Nghĩa là tâm b́nh thường là đạo. Đôi khi ta chỉ lo đi t́m cái phi thường mà ta quên cái b́nh thường của ta đang có. Đó là "hai con mắt nằm dưới chân mày, lỗ mũi thẳng đứng, cái miệng nằm dưới lỗ mũi kia." Tâm b́nh thường là vậy. Ta chưa bao giờ biết quư những ǵ chúng ta đang có mà đa phần chúng ta hay rong rũi theo sắc trần, rồi cũng chỉ chuốt lụy vào thân mà thôi. Ta cũng giống như con thiêu thân tự đốt ḿnh trong ánh đèn dầu, nhưng nào đâu có biết, đến khi vùi thân vào chốn bụi hồng, ta mới cảm nhận thắm thía được sự khổ đau, tục lụy. Lúc ấy đă quá muộn rồi c̣n ǵ nữa!


Cho đến bao giờ th́ bài pháp Tứ Diệu Đế mà Đức Phật nói cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển ở Ba La Nại sau khi Đức Thế Tôn thành đạo, nó vẫn có một giá trị miên viễn lạ thường. Chỉ cần chúng sanh ư thức được chừng ấy việc của khổ đau; nguyên nhân gây ra sự khổ đau; phương pháp diệt khổ và con đường dẫn đến Niết Bàn, an lạc giải thoát, là con người được sống trong hạnh phúc rồi. Hạnh phúc không ai ban tặng cho ḿnh và đồng thời người ta không thể ra ngoài chợ để mua được. Nó cũng chẳng có bên ngoài, mà nó chỉ nằm bên trong chúng ta. Ta hăy đào sâu vào nội tâm; ta hăy quay lại với chính ḿnh, th́ ta sẽ thấy nó ở đâu rồi. Lúc ấy chúng ta sẽ mĩm cười cho sự tự đánh lừa ḿnh lâu nay.

V́ sao người ta hay nóng giận và sân si? V́ lẽ ta muốn chứng tỏ cho điều hiểu biết của chúng ta là đúng, nhưng đôi khi không phải như vậy. Lư do cái tự ngă ấy ḿnh tự vun sới rồi chất chứa cái ngă kiến sai lầm, nên ai không theo ta th́ ta sẽ hờn, sẽ giận và nổi máu anh hùng ngay. Những người hiểu biết họ sẽ dừng lại cơn sân hận bằng cách bỏ đi nơi khác hoặc giả nếu có tự tin hơn, hăy đi uống một ly nước lạnh để chế ngự nó, nếu là người can đảm hơn và muốn sửa sai th́ hăy đến trước tấm kính treo đâu đó trong nhà, ta có thể soi thấy được "bản lai diện mục của ḿnh". Nếu b́nh thường thấy ḿnh là đẹp, th́ hôm nay sau khi giận dữ thấy ḿnh càng đẹp hơn nữa hay chăng? Khi tâm tàm quư "xấu hổ" và kèm sự tự thẹn của ḿnh cũng như sự trợ giúp của những thiện hữu trí thức th́ chắc chắn ta sẽ thoát khỏi trầm luân khổ ải. Bằng không, chốn địa ngục A Tỳ sẽ chôn vùi ta, không có thời gian và không biết bao giờ có thể ra khỏi sự tối tăm ấy.

Đất là nơi ta bị vấp ngă, té xuống, nhưng cũng từ đất ta sẽ chống hai tay đứng thẳng lên. Có người từ đó sẽ đi vào đời bằng mọi cung cách khác nhau, nhưng cũng có lắm người tự ngă gục bên vệ đường, trên mặt đất; không có khả năng tự chế ngự để gượng đướng lên với đời, rồi cũng gởi thân tứ đại nầy vùi sâu vào ba tất đất. Đất chỉ vô t́nh làm một chuyện rất công b́nh, mà lâu nay đất chưa bao giờ chê thây chết, trong khi đó, biển cả bao la nhưng không dung chứa tử thi. Rơ ràng là con người có đủ điều kiện và sự hiểu biết để chọn cho ḿnh có một lối đi ít làm cản lối cho người khác. V́ đi ra th́ có ngang qua, dọc lại, nhưng nếu đi vào th́ mục đích chỉ thấy tánh mà thôi. Lúc ấy ta không làm phiền ḷng ai, mà ta chỉ mĩm cười sau khi ta thấy được mặt thật của sự tử sinh rồi.

Có một ông Bác Sĩ Phật Tử bảo với tôi rằng:
"những ǵ ông ta làm cho Phật sự hôm nay, ông không sợ ai chê cười hoặc khen tặng, mà ông chỉ sợ là ông không làm được ǵ để đem lại lợi lạc cho Phật Pháp mà thôi." Câu nói ấy giống như một triết lư sống, một nhân sinh quan, một vũ quan của một người trí thức Phật Tử. Trên đời nầy người "trí thức" rất nhiều, nhưng người "tri thức" th́ rất ít. V́ trí thức hay hiểu người mà ít hiểu ḿnh, c̣n tri thức th́ tự hiểu ḿnh nhiều hơn là hiểu người.

Tất cả chúng ta, nếu mọi người đều học hạnh: "tiên trách kỷ, hậu trách nhân". Nghĩa là đầu tiên tự trách ḿnh, sau đó mới trách người, th́ xă hội nầy chắc chắn sẽ được an ổn nhiều hơn; mọi người sẽ sống trong một xă hội thái b́nh và an lạc. Nếu ngược lại chỉ c̣n cách ta tự đốt thân lẫn tâm ta mà thôi.

Tiếng khen và lời chê thật ra nó không có thật tướng, v́ người đối diện thích th́ khen và không thích th́ chê, đó là chuyện b́nh thường trong cuộc sống, c̣n ta, không lẽ ta chỉ sống theo lời khen tiếng chê ấy sao? Như vậy ta chỉ là một người bị động, chứ ta không là ta nữa! Ví dụ, khi người ta khen ḿnh trẻ đẹp th́ vui và khi bị chê xấu xí, dại dột th́ ḿnh buồn, vậy sự vui buồn ấy nó có thật tướng hay không? Vậy tại sao ta phải bị nó quấy nhiễu? Già hay trẻ, đẹp hay xấu, giỏi hay dở... nó chỉ là những sự đối đăi trong cuộc đời. Tại sao ta lại bị nó làm biến tướng và ta lại đi làm nô lệ cho nó; khiến nó muốn cái ǵ th́ ta chạy theo nó muốn đứt hơi luôn, nhưng nào có kết quả ǵ đâu? Ngoại trừ phiền năo và khổ đau đang đón chào ta.

Vậy th́ câu hỏi được đặt ra: Bao nhiêu th́ đủ?
- Kẻ biết đủ là đủ, c̣n người không biết đủ th́ không bao giờ có đủ cả.
T́nh bao nhiêu th́ đủ? Tiền bao nhiêu th́ đủ, danh vọng, địa vị bao nhiêu th́ đủ? Tài sản, con cái, lợi danh bao nhiêu th́ đủ?... rơ ràng nó cũng giống như thời gian và không gian. Thời gian th́ vô cùng mà không gian th́ vô tận. Nó không có cái bắt đầu và không có cái chấm dứt. Ngoại trừ chúng ta biết chấm dứt sự khổ đau sanh tử nầy, bằng cách là chúng ta phải tự bước ra khỏi những sự lẫn quẩn của cuộc đời nầy mà thôi. Do đó cụ Nguyễn Công Trứ đă nói: to tướng mà thôi. Đă là không th́ c̣n ǵ để nói đến nữa? Những điều nói ra đó chỉ bằng thừa mà thôi. Nếu ai trong chúng ta biết tôn trọng sự thật nầy, th́ người ấy sống rất có hạnh phúc. Tục ngữ Nga có câu rằng:

 

"Cái ṿng danh lợi cong cong,
Kẻ ḥng ra khỏi, người mong bước vào."

Danh và lợi là những chất mật ngọt của cuộc đời, nó không thẳng tấp, mà nó lại cong queo, nhưng ở đây lắm người muốn bước vào thử xem sao. V́ đă có không biết bao nhiêu tao nhân mặc khách đă trải qua nơi chốn hồng trần ấy. Kẻ chán người chê, nhưng cũng có lắm kẻ mê chưa ngộ. Cho nên mới có cảnh "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược là vậy". Thật ra, sự thật đă hiển nhiên phơi bầy ra đó mà con người tự cố t́nh lừa dối ḿnh, nên mới bị cuộc đời làm mờ mắt mà thôi. Người trí và kẻ hiểu biết quyết không phải như vậy.

Thiền sư xem hoa nở, trăng tṛn, con người và sự vật, thường hay thốt lên rằng:

"Hoa nở để rồi tàn,
Trăng tṛn để rồi khuyết,
Người c̣n để ly biệt."

Đó là một nguyên lư của cuộc sống. Đó là mặt thật của cuộc đời. Ta nên đối diện với tử sinh và làm chủ với sinh tử, chứ đừng để tử sinh chi phối, th́ đó ta mới thật là ta.

Vậy sống trong cuộc đời tương đối nầy phải làm sao cho được vừa ḷng người?
Câu hỏi tuy rộng nghĩa, nhưng tựu chung ḿnh phải xét tự lực của chính ḿnh có thể kham nhẫn đến đâu, chứ không nên chạy theo thị phi phải trái của cuộc đời. Sách xưa có câu chuyện khuyên người, tôi xin chép lại để hầu quư vị:


Có hai cha con người kia mua được một con lừa nên rất đắc ư. Một hôm người con leo lên lừa để cỡi, dọc đường bị người quở rằng: "tại sao đứa con bất hiếu quá vậy? Trong khi nó c̣n trẻ mà cỡi lừa, c̣n cha của nó già rồi, mà phải đi dưới đất trong cơn nắng cháy?" Người cha nghe nói như thế thấy có lư nên bảo con leo xuống để ḿnh leo lên lưng lừa cỡi đi. Đi được một lúc, người qua đường thấy bảo rằng: "Ông già kia tại sao không biết thương con, trong khi trời nắng chan chan như thế nầy lại để con thơ đi dưới đất c̣n ḿnh th́ cỡi lừa như vậy?" Ông ta nghe như thế thấy cũng có lư. Nghĩ lại cho cùng, cha cỡi cũng bị nói, mà con cỡi cũng bị nói, nên ông bảo đứa con leo lên luôn trên lưng lừa, th́ chắc rằng không bị mĩa mai nữa. Thế là cả hai cha con đều cùng cỡi trên lưng lừa. Đi được một quảng đường nữa, lại gặp người bảo: "tại sao hai cha con ông nầy chẳng biết thương thú vật ǵ cả, con lừa có một chút xíu mà hai cha con ông cỡi trên lưng nó th́ con lừa nó chịu sao nổi, nếu vấp té nó sẽ bị găy chân ngay." Bây giờ chẳng c̣n cách nào hơn là cả hai cha con ông leo xuống lừa đi bộ hết là xong. Đi được một đoạn tưởng như thế là yên thân, nào ngờ có người đối diện bảo rằng: "tại sao cha con ông nầy lại ngu ngốc như vậy ḱa? Con vật sinh ra phải làm tôi tớ cho con người, mà tại sao cha con ông không cỡi nó, mà lại đi bộ nhọc nhằn như thế?..."

Quả là lời nào nghe cũng có lư hết cả. Nhưng cha con ông đă làm để ch́u theo những lời lẻ đó, nhưng kết cuộc vẫn không vừa ḷng một ai, cho nên ông ta quyết định là đoạn đường c̣n lại, ḿnh phải tự làm chủ lấy ḿnh chứ không thể ch́u theo ư của tất cả mọi người được.

Điều nầy cũng giống như lời Phật dạy: "các con đừng tin theo một lời ǵ, dầu lời ấy do chính ta nói ra. Các con cũng đừng nên tin một điều ǵ, dầu điều ấy đă được nhiều đời truyền tụng lại; các con hăy tin một điều ǵ, mà điều ấy đă được thể nghiệm qua bản thân nhận xét của các con."


Như vậy trong cuộc sống nầy rất đa dạng, mỗi người nên tự chọn cho ḿnh một cách sống sao cho thích hợp nhất với chính bản thân ḿnh.

Viết xong ngày 28 tháng 04 năm 2008 tại chùa Phật Ân Minnesota tại Hoa Kỳ.

 

Trở về đầu trang

 

hoanhac.jpg






Tiêu đề: Quê Hương ơi !! Chào mi Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


Xem lý lịch thành viênGửi tin nhắn
   
 
NGƯỜI Ở LẠI BÊN KIA
Nguyên Nhung

Arrow Slice show Power Point Presentation by:Nguyen Nhung
http://68.101.114.153:4027/vietnamlib/tacgia/nguyennhung/media/Mothoichinhchien-NN.pps

nguyenngochanh-08.jpg

  (Photo:Nguoi Chien Si Vo Danh - ảnh Nguyen Ngoc Hanh)

Anh là một phóng viên chiến trường, ngoài phần lương khô và vật dụng cá nhân trong ba lô mang trên lưng như bao nhiêu người lính khác, anh c̣n phải đeo lủng lẳng chiếc máy quay phim và cái caméra trước ngực.

Hành trang anh chỉ có thế, mũ sắt trên đầu, cuốn sổ tay trong chiếc túi áo có nắp gắn hai chữ Báo Chí, hai tấm thẻ bài, một bộ râu tua tuả v́ đă mấy ngày anh theo đoàn quân tiến vào trận địa. Người lính ra chiến trường đă có cây súng làm bạn, riêng anh, người phóng viên chiến trường đi vào vùng lửa đạn, chỉ vỏn vẹn có chiếc máy quay phim, đă ghi lại biết bao nhiêu h́nh ảnh trung thực của người lính sống thời chiến chinh gian khổ, trên mọi nẻo đường của đất nước.


Tiếng đạn bay líu chíu ngang đầu, anh thầm nghĩ : " Không biết sống chết lúc nào ". Chiếc máy quay phim đă thu vào bao nhiêu thước phim giữa mặt trận khi nóng bỏng, lúc âm ỉ đến lạnh người. Đoàn quân lầm lũi tiến vào rừng dừa trước mặt, phân tán mỏng theo lệnh người sĩ quan chỉ huy. Những bóng người lầm lũi bước , đôi giày vải ướt sũng trên thửa ruộng sâm sấp nước, đói và mệt, chiếc ba lô trên vai anh như nặng trĩu xuống. Trong bóng chiều nhập nhoạng, thần chết như rập ŕnh chiếc lưỡi hái trên thân phận người lính, cơn mưa chiều luồn những giọt tái tê vào ḷng người chiến sĩ. . .

* * *

Anh nhớ lại trận đánh ở vùng Thới Lai, Cờ Đỏ vào mùa mưa năm trước, trong một vùng dầy đặc những cỏ lác và sông rạch. Không phải lần nào quân ta cũng thắng. Đêm ấy, anh bị mất phương hướng, giữa bóng đêm chập chùng và ánh trăng khuya mờ ảo, anh lần ṃ ra được đường cái, ở đấy có một ngôi chuà nằm chơ vơ ven quốc lộ. Dưới ánh trăng mờ, ngôi chùa âm u không một ánh đèn, không một tiếng chuông tiếng mơ, chỉ có mùi d́u dịu của hoa sứ phảng phất giữa đêm khuya. Đă mấy ngày mà trận đánh chưa kết thúc, sự yên tĩnh tạm thời để chờ một cuộc đụng độ tiếp theo, dân chúng hầu như đă tản cư ra quận lỵ, hoặc chạy theo phía bên kia vào những làng mạc xa hơn.


Ngôi chùa tương đối nằm ở khu khá yên tĩnh giữa hai lằn đạn, nhưng không có bóng dáng người dân nào ở đó. Trong bóng tối mờ mờ và yên lặng, anh lần ṃ men theo bụi cây trước cổng chùa, anh nh́n thấy nhiều thân người nằm la liệt trên sân, im lặng như một băi tha ma. Họ đang ngủ, quá mệt mỏi cho nên anh chỉ kịp cởi ba lô vứt xuống đất, rồi cứ thế nằm vật xuống bên cạnh một người lính. Anh cần ngủ hơn tất cả mọi thứ trên đời, dù chưa ăn uống ǵ nhưng anh không cảm thấy đói, và chỉ có giấc ngủ mới làm anh tạm quên đi tiếng đạn réo, tiếng bom rơi, tiếng đại bác rền rĩ trong những giờ phút căng thẳng của chiến trường. Anh thiếp đi thật mau, trong lúc ngủ mê h́nh như anh có đạp chân vào người lính kế bên nhưng không nghe tiếng chửi thề. Hạnh phúc nhất của người lính có lẽ là những phút giây hiện tại, tạm quên đi nỗi nguy hiểm, cận kề với nỗi chết.


Chưa bao giờ anh có một giấc ngủ ngon lành đến thế. Không chiêm bao mộng mị, không giường, không chiếu, chỉ có một mặt đất ẩm lạnh và bầu trời nhấp nháy sao đêm. Gió đêm như được ướp mùi hương của những bông hoa sứ làm loăng đi mùi ǵ tanh tanh giống như mùi máu.


Sáng ra, ánh mặt trời rọi vào mặt anh khiến anh thức giấc, chim chóc hót líu lo chào một ngày vừa lên, sự sống của muôn loài vẫn diễn ra b́nh dị mỗi ngày dù chiến tranh và sự chết đang hiện diện quanh quất, đó đây. Anh hoàn toàn tỉnh giấc, thèm một ly cà phê và điếu thuốc thơm buổi sáng. Anh lạ lùng ngó đám người nằm ngủ trên sân chuà, chợt một cảm giác lạnh toát chạy dài trên sốùng lưng người lính. Giờ th́ anh đă hiểu, đêm qua anh đă ngủ một giấc ngủ tṛn trịa và yên b́nh bên những người lính tử trận, xác họ ngày hôm nay sẽ được chở về nhà xác trên tỉnh lỵ, chờ thân nhân đến nhận.


" Không phải lúc nào ta cũng thắng ", anh nghĩ như vậy khi nh́n những tử thi nằm lạnh lẽo suốt đêm trên sân chùa. Chiến tranh là vậy, thắng hay thua th́ bên nào cũng có người nằm xuống, có những giọt nước mắt của mẹ già, vợ dại, con thơ, chỉ có điều thật buồn khi tất cả đều là người Việt Nam. Anh nghe có tiếng bước chân nhẹ nhàng của một tà áo đà lướt bên hiên chùa, và mùi nhang thoảng bay trong gió. Một vị sư già có lẽ là người duy nhất c̣n lại nơi đây, đang cầm một nắm nhang ra cắm xuống trước những thây người nằm la liệt dưới sân chùa, miệng lầm rầm niệm Phật. Đôi mắt nhà sư thoáng một vẻ ngơ ngác và sợ hăi, khi nh́n thấy một người sống đang ngồi thu lu giữa đám người chết, cả hai cùng im lặng không nói được lời nào.

* * *

Năm 1969, anh theo cuộc hành quân miền biên giới giữa Campuchia và Việt Nam, Cộng quân đang cố thủ trong vùng núi Cô Tô, Châu Đốc. Người phóng viên chiến trường hơn ba mươi tuổi, đang độ chín mùi của nghề nghiệp, hăng say lao vào vùng lửa đạn khi Cộng quân dùng Campuchia làm bàn đạp thôn tính miền Nam.


Gia đ́nh anh gốc gác miền Bắc, cả một thời ấu thơ và thanh niên anh gắn bó với quê nhà, may mà năm 1954 anh nhanh chân chạy thoát. Bố anh chết ngay năm đó, tất cả gia tài, sự nghiệp bỗng dưng mất hết trong một ngày khiến người cha phẫn chí mà chết. Mẹ anh dẫn ba đứa em dại, đầu quấn khăn tang lếch thếch lên chuyến tàu há mồm xuôi Nam. Một cuộn phim của dĩ văng vừa hiện về trong trí anh, căn nhà gạch hai gian bề thế phố Cửa Tiền, rặng bàng trước cửa, hoa gạo đỏ mùa hè, giếng nước Tiền Hùng, cái ao sau nhà xanh um khóm chuối ngự. Cả một tuổi thơ đầm ấm và mối t́nh đầu tuổi thanh xuân nằm lại sau lưng cho một tất tả bỏ chạy.


Từ trên máy bay trực thăng anh nhảy xuống theo gót chân người sĩ quan chỉ huy, máy quay phim chạy rè rè thâu vào h́nh ảnh núi non chất ngất, những người lính chạy lúp xúp nép vào những bờ đá cao tiến tới. Địch bắn ra như mưa, viên đạn đi ngọt như cắt từ một hốc núi bay thẳng tới ngực anh, anh chưa thấy đau v́ tầm đạn đi nhanh quá khiến anh ê ẩm như bị một viên gạch ném tới đột ngột. Cho đến khi anh thấy ấm ấm và rát bỏng trên ngực áo, máu đă ướt thẫm hai chữ Báo Chí trên chiếc áo nhà binh. Anh loạng choạng ngă xuống với thước phim đang quay dở, chỉ kịp nh́n thấy loà nhoà h́nh ảnh người lính cứu thương bế anh lên chiếc trực thăng tải thương, đang phần phật đôi cánh quạt trên một vùng cỏ xanh.


Lần ấy viên đạn đi cách tim anh khoảng hai cm, nếu không giải phẫu kịp, máu ứ đầy phổi có lẽ anh đă nằm xuống ngay tuổi ngoài ba mươi . Anh thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, phải nằm trong Quân y viện mấy tháng trời, để được nh́n thấy sự hi sinh và đau đớn tận cùng của người lính trong thời chiến.Những h́nh ảnh ấy vương vấn trong hồn anh, măi măi về sau, để tim anh vẫn thắt lại khi hôm nào bất chợt nh́n thấy trên vỉa hè, người thương binh lê đôi nạng gỗ, khập khễnh bước khi đôi mắt chất chứa nỗi bất hạnh cho cả một tương lai.

* * *

Năm 1972, mặt trận lại sôi động ở vùng biển Long Toàn, Trà Vinh. Bom đạn rền rền át cả tiếng sóng biển ŕ rào, người dân Khờ Me sống ở những làng mạc hiền hoà với chuà chiền cổ kính, lại vội vă bỏ vùng quê đi lánh bom đạn. Nhà cửa đổ nát, vườn tược tan hoang, anh ứa lệ nh́n hai đứa bé lạc mẹ, mặt mày nhem nhếch nước mắt, nước mũi giữa cảnh khói lửa tơi bời. Giữa vùng giao tranh, chỉ có lằn đạn líu chíu trên đầu người thường dân vô tội, quê hương ḿnh sao khốn khổ đến thế.
Anh nhớ lại một ngày năm 54, năm ấy anh mới mười tám tuổi và đứa em út mới lên sáu, mẹ anh trắng hai bàn tay làm lại cuộc đời trên miền Nam tự do. Những buổi chiều gió mưa, mẹ con ngậm ngùi nhớ về quê nhà. Khu phố êm ả có rặng bàng trở màu khi mùa thu đến, những buổi chợ phiên người trong các làng quê kĩu kịt gánh hàng ra chợ Nghệ.
Người phóng viên chiến trường đâu phải lúc nào cũng ngồi trên máy bay, đâu phải lúc nào cũng theo đuôi Tư lệnh để quay cảnh chiến thắng, gắn huy chương lên ngực áo người chiến sĩ. Anh đă phải ngắm nh́n chiến tranh như phải xem một bức tranh vẽ bằng máu, thâu vào h́nh ảnh và sự chiến đấu cam go của người lính nơi vùng lửa đạn. Trong khi ấy, chiến tranh quả là khó hiểu, những bàn tay dấu mặt như mụ phù thuỷ đang vẽ vời những lời nguyền ruả sấm sét xuống quê hương anh. Chiến trường này tiếp nối đến chiến trường khác, những cuộc hành quân liên miên từ tháng này qua tháng nọ, nghĩ đến đời sống gian khổ của người lính trong vùng đóng quân đầy những rủi ro bất trắc, anh chỉ ao ước một ngày nào chiến tranh chấm dứt. Một ngày nào đó những thước phim của anh chỉ là h́nh ảnh nụ cười dễ thương của trẻ thơ, là nét mặt vui tươi của người lính giữa khung cảnh ấm cúng của gia đ́nh, là đôi mắt hấp háy của mẹ già không ứa lệ, khi đêm đêm vẫn th́ thầm cầu nguyện sự an b́nh cho những đứa con.


Anh phóng viên chiến trường giơ ống kính lên, thâu bằng cận ảnh hai khuôn mặt ngây thơ, bốn con mắt ngơ ngác giữa khói lửa mịt mù của hai đứa trẻ thơ mà anh bắt gặp, khi cuộc chiến không bao giờ tính toán được sự bi thảm của nó. Những đôi mắt trẻ thơ sợ hăi, ngác ngơ khi địch quân dùng khu vực nhà dân làm bàn đạp để tiến quân, hai đứa bé c̣n lại khi cha mẹ chúng có thể đă ngă xuống bởi những lằn đạn vô t́nh. T́nh cảm giữa người và người bắt anh phải quên đi những thước phim, những tấm h́nh giá trị khi lọt vào tay bọn thông tấn nước ngoài. Hai tay bế hai đứa bé anh băng ra khỏi khu nhà đang rần rật cháy, giờ phút ấy anh chỉ có một ư nghĩ phải mang hai đứa bé ra khỏi vùng giao tranh, dù có thể lănh một viên đạn của đối phương.


Suốt một đời làm lính và xông pha nơi những chiến trường nóng bỏng, anh phóng viên chiến trường đă bao phen đối mặt với tử thần. Anh c̣n bị thương một lần nữa trước khi chiến tranh kết thúc, chiếc máy bay trực thăng bị hỏa tiễn tầm nhiệt bắn trúng đằng sau đuôi, như một khối sắt khổng lồ rớt xuống cánh đồng ngập nước vùng Đồng Tháp Mười. May là Thượng đế đă che chở anh, đă cho anh trở về với một xác thân lành lặn.


Ngày chiến tranh kết thúc, một kết thúc bi thảm khiến anh hụt hẫng. Người lính bại trận trở về miền quê với những vết đau âm ỉ mỗi lần nhớ đến bạn đồng đội cũ. Trong những chiều gió mưa, ḷng anh bùi ngùi khi hồi tưởng đến một khoảnh khắc nào đó, bóng dáng những người lính năm xưa giờ như những bóng ma buồn bă trong dĩ văng, và anh lặng lẽ nghe những giọt nước mắt buồn tủi chảy ngược vào tim buốt lạnh.


Từ đây cuộc đời bắt đầu là những chia xa, bạn bè anh tan tác mỗi người mỗi nơi mỗi ngả. Có những người nằm xuống trong giờ thứ 25 của cuộc chiến, đă bị quên lăng với mồ hoang mả lạc. Có những người ra đi làm những cánh chim cô đơn, gậm nhấm nỗi sầu vong quốc. Có những người đi vào chốn lao tù với đói khát triền miên, khi trở về chỉ là những chiếc bóng ngác ngơ , sợ hăi cả những bước chân của chính ḿnh.


* * *


Sau hai mươi năm ngày chiến tranh kết thúc, người phóng viên chiến trường năm xưa nay đă già, ngồi bán cá kiểng, cá đá cho trẻ con trước khuôn viên một trường tiểu học, cạnh ngôi giáo đường cổ kính. Mỗi lần nghe tiếng chuông ngân ban chiều, anh lại th́ thầm đọc mấy câu kinh cho những linh hồn đă khuất. Gia tài của anh chỉ có một hồ cá bằng thủy tinh với những con cá đủ màu bơi lội nhởn nhơ. Cả một xă hội cá quây quần bên nhau lượn lờ tranh sống, những cọng rong xanh, vài con lăng quăng sót lại từ bữa ăn chiều. Anh chép miệng, bầy cá đă no rồi, chứ lúc đói chúng nó cũng tranh nhau đớp mồi như đám người khốn khổ chen nhau chờ phát chẩn. Lúc này anh đâm lẩn thẩn như thế, chuyện cá chuyện người cứ lẫn lộn trong con mắt người phóng viên đă hết thời


Lúc ấy trời đă về chiều, hai đứa bé đánh giày độ trên mười tuổi vào hàng, ngắm nghía mấy con cá lia thia được rọng riêng trong những chiếc keo thủy tinh trên bệ gỗ, giữa mỗi cái keo đều có một tấm giấy cứng để che cho chúng khỏi nh́n thấy mặt nhau. Mỗi đứa chọn một con, chúng tḥ tay vào túi lôi ra những đồng tiền nhàu nát, đưa cho người bán cá. Hai thằng nhỏ bày ra cuộc đá cá ngay cửa hàng của người bán cá, tự nhiên anh cũng cảm thấy hào hứng muốn theo giơi trận đá cá của hai đứa trẻ con. Không biết ở đâu lố nhố mấy đưá trẻ nữa quần áo bẩn thỉu, chân đi đất, xúm vào bu xung quanh hai thằng nhỏ đánh giày, khiến anh tự nhiên hồi hộp như ngày xưa mỗi lần theo đoàn quân vào vùng lửa đạn.


Hai con cá trong một cái keo, không biết thù nhau tự kiếp nào xông vào nhau, hai cái thân cá ḿnh xanh vây đỏ lúc ấy phồng lên những chiếc vảy óng ánh, ḿnh chúng như to ra qua thành thuỷ tinh, xoắn lấy nhau đẩy ra những cú húc tơi tả. Lũ trẻ vây xung quanh nín thở, hai con cá lia thia mê mải tấn công nhau, thỉnh thoảng chiếc mỏ cá lại va vào thành keo đau điếng. Sau một lúc quần nhau dữ dội, một con như ngộp thở ngoi lên mặt nước hớp không khí, cái ḿnh cá vẩy óng ánh màu xanh nay đă nhợt nhạt như màu miếng vỏ dưa cố chạy thoát thân, lũ trẻ đứng bên ngoài vỗ tay hét rộ lên những tràng cười khoái chí.


Tan cuộc, hai thằng nhỏ đánh giày bỏ hai con cá cho người bán cá, bưng hộp đồ nghề đi về ngả thành phố, chỗ hotel và mấy quán rượu có đông người ngoại quốc và đám Việt kiều về thăm quê. Trời giăng giăng những đám mây đen khiến phố xá chừng như tối xầm lại, bất giác anh chợt nhớ đến cơn mưa đầu mùa của tháng tư năm nào làm ḷng quặn lên một nỗi buồn. Tự nhiên, người phóng viên chiến trường năm xưa cảm thấy ngùi ngùi, tưởng ḿnh như con cá bại trận manh giáp tả tơi, bị vứt lại bên lề đường một cách thảm thương.


Tội nghiệp anh, những cuộn phim của dĩ văng như run rẩy theo làn khói thuốc, anh bập hoài điếu thuốc đen trên môi, những móng tay cáu vàng ám khói. Cơn mưa chiều đột ngột đổ xuống rơi lộp độp trên tấm poncho nhà binh che trên vỉa hè, gơ những nhịp trống vào đầu anh khiến anh nghĩ đến những cơn mưa nơi vùng hành quân năm xưa, khi anh c̣n là một người lính. Anh tưởng tượng lát nữa đây khi về nhà, với âm thanh hùng hồn của một ngày nào rất xa, anh sẽ tường thuật cho đứa cháu ngoại nghe trận đá cá chiều hôm nay trước cửa trường học. Hai con cá cùng một loại đá nhau chí tử, một con thắng nhưng cũng ê ẩm, ḷng ṿng trong chiếc keo thuỷ tinh chật hẹp, không hi vọng đá nổi một trận nữa, một con bại anh quăng ra mặt đường, đă nát ḿnh dưới những ṿng xe lăn.


Phố đă lên đèn, anh thu dọn cửa hàng để về nhà mà ḷng nặng trĩu một nỗi buồn không tên tuổi. Anh phóng viên chiến trường năm xưa th́ thầm nói với ḿnh, " Hơn hai mươi năm rồi, chẳng biết c̣n ai nhớ đến ḿnh không nhỉ ? "

Viết cho anh tôi, một phóng viên chiến trường

NGUYÊN NHUNG.


(Music bg - Artist Unknown)

TRỞ VỀ ĐẦU TRANG

hoanhac.jpg