|
THỦ ĐỨC ....
GỌI TA VỀ
(Viết từ đồi Tăng Nhơn Phú.)
hỡi Na , những Na và Lư
bài thơ này quà tặng hai người
có chồng đi xa làm lính.
.............
này Lư này Lư thân mến
bạn có biết viên đạn đó bay đi đâu không
nó rơi vào hồn chúng tôi rồi nổ.
(T́nh khúc cuối cùng ở K.B.C.4100
(Luân Hoàn và Cao Thoại Châu viết chung)
Thế hệ chúng tôi đă mang đầy
vết sẹo
Vết sẹo ngoài thân và vết
sẹo trong hồn.
(Trần Hoải Thư)
Cất tiếng đ̣i to. Tiếng
đời rơi rụng
Những âm thanh làm sẹo
ở trong hồn
(Bây giờ, Nguyên Sa)
(Trần Hoài
Thư)
Vết
sẹo từ một cuộc chiến tàn khốc. Vết sẹo từ những kẻ sinh
lầm thế kỷ. Vết sẹo từ một quân đội bị bức tử. Vết
sẹo từ những nhục nhằn tù tội. Vết sẹo từ những chiếc mă
tấu của lũ hải tặc. Và vết sẹo từ những cay đắng e chề
của kiếp người bỏ xứ lưu vong. Chúng hành hạ. Chúng ngủ rồi thức.
Chúng tiếp tục quấy rầy. Chúng không có lời giải. Như vậy, lấy ǵ để
ta bám vào mà sống. Lấy ǵ để ta ngẩng đầu, ít ra, trong những ngày c̣n lại
?
Trong
building tôi làm việc có một người cựu chiến binh da đen. Anh chỉ có mặt
ở VN chưa đầy một năm, nhưng h́nh như VN đă làm anh tự hào khi nhắc
đến. Anh luôn luôn khoác chiếc áo lính trận màu xanh olive, cũ mèm, và trên ngực áo của
anh không phải đeo huy chương nhưng những huy hiệu đơn vị cũ.
Trên mũ anh cũng vậy. Những huy hiệu cho tôi biết anh thuộc Sư đoàn
1 kỵ binh không vận Hoa Kỳ, mà bản doanh Bộ Tư Lệnh đặt ở An Khê.
Vâng,
có ǵ để anh phải mang chiếc áo trận kia mỗi ngày? Đó không phải là niềm tự
hào hănh diện?
C̣n
tôi, tôi cũng đang tự hào đây. Tôi cũng mang lại chiếc áo lính đây. Tôi cũng
đội lại chiếc mũ rừng đây. Tôi cũng tự hào xuất thân từ một
ngôi trường, mà đa số thuộc thành phần kẻ sĩ đây. Nó đă khiến
tôi thêm một lần nữa ngẩng đầu. Và khi người cựu chiến binh Mỹ
biết được cấp bậc của tôi, anh ta chào tay tôi. Vâng, tôi đă chào anh lại.
Cũng như ngày xưa những người lính thuộc Sư đoàn Không Kỵ kia đă
chào. Tôi chào v́ tôi vẫn là một người sĩ quan Thủ Đức.
Tôi
không hổ thẹn. Tại sao lại phải hổ thẹn? Tôi không cảm thấy nhục
nhả. Tại sao lại cảm thấy nhục nhả?. Tại sao người cựu chiến
binh da đen ấy giờ phút này vẫn c̣n mang mỗi ngày chiếc áo màu xanh rừng ấy?
Chỉ có những kẻ trong cuộc mới hiểu và thông cảm nhau mà thôi.
Như
vậy là Thủ Đức đă miên triền thúc dục ta phải viết. Viết cái ǵ cũng
được. Bởi v́ từng hạt bụi cũng là dính dấp đến mồ hôi
và nhục nhằn của ta. Một hạt cát cũng làm đau thốn bàn chân của ta. Thủ
Đức gọi ta về. Ai gọi đây, hay là tiếng tù và đă rúc lên trong những ngày đen
tối. Ai gọi đây. Hay là tiếng gào thét xung phong đă ch́m im dưới những ngôi
mộ oan khiên ? Thủ Đức gọi ta về. Có đủ để nói lên tất cả
những ư nghĩ thầm kín nhất của ta, bạn bè ta, để cho con cháu ta đọc,
hay để cho những người từng là kẻ thù của ta đọc, và hiểu rơ
hơn về những người mà họ kết tội là hăm hiếp phụ nữ, giết
trẻ sơ sinh. Hăy viết đi. Thủ Đức gọi ta về. Một người khoá
13 TĐ kể lại lần về VN vừa rồi, anh em khoá 13 TĐ cùng rũ nhau họp mặt
rất cảm động. Đêm đó, ai cũng ôm nhau mà khóc mà cười.
Vâng,
c̣n ta. Ta nên khóc hay nên cười hay nên im lặng. Lời kể của người bạn
đă làm ta càng muốn viết hơn bao giờ. Hăy thử nhắm mắt lại, và thử
tưởng tượng một buổi họp mặt Thủ Đức tại quê nhà. Đa số
đều bị thương tật. Bởi v́ khoá 13, cấp bậc họ ít nhất cũng
là đại úy, hội đủ điều kiện qua Mỹ. Và tuổi họ đă quá
50 hay gần 60. Đáng lẽ họ là thành phần bất măn nhất, bởi v́ hầu hết
bạn bè đồng khóa đều hưởng quyền lợi HO, trong khi họ, mắt
mù, chân tay cụt, què. Họ đă bị thải ra ngoài cuộc chiến quá sớm. Họ
đă bị xă hội mới trù dập hơn những người khác, bởi v́ họ là
sĩ quan. Nhưng họ vẫn có mặt. Dù không có hội trường, tranh ảnh, bích chương,
biểu ngữ, ca nhạc, dạ vũ, diễn văn khai mạc, bế mạc. Họ vẫn
có mặt bởi v́ hơn bao giờ Thủ Đức gọi ta về. Người bạn nói
là anh đă khóc trước mặt họ. Anh không thể hiểu là trong những con người
đầy bất hạnh như thế, tiếng gọi về của ngôi trường xưa
lại thúc dục mọi người. Sài G̣n xuống. Vĩnh Long qua, Rạch Giá về. Và
cả ba, bốn chục người. Họ chống nạng, mang kính đen, ống tay áo
phơ phất, và mái tóc bạc phơ. Họ ngồi quanh bàn tiệc, cùng nhau kể lại,
và ráng nhớ lại những người cùng khoá chết hay c̣n sống. Họ nhắc lại
kỷ niệm. Và họ nâng cốc.
Họ
không nói ra, nhưng chắc chắn là tim họ đă nẩy nở niềm tự hào.
Vâng,
ta biết rồi. Ta cúi đầu ngưỡng mộ các niên trưởng của ta. Một
bửa tiệc hội ngộ th́ vẫn như trăm ngàn vạn bửa tiệc hội ngộ
khác. Như hội ngộ cựu học sinh trường...Như hội ngộ làng, xóm...Tất
cả vẫn là sự mừng vui tao phùng. Tất cả là những kỷ niệm của
một thời. Tất cả là kẻ xa kẻ gần huyên thuyên tâm sự. Và bia và rượu
và tiền bạc đô la. Nhưng ở buổi Thủ Đức gọi ta về này, nó mang một
ư nghĩa khác. Nó là một cuộc thách đố. Nó nói rằng, dù Thủ Đức đă mất,
bạo lực thống trị, nhưng tinh thần Thủ Đức vẫn c̣n. Nó nói lên sự
thách đố của người Thủ Đức trong một hoàn cảnh đầy đe
doạ và bất trắc.
Như
vậy mà họ lại đến với nhau. Tại sao vậy.
Tại
sao vậy? Hăy uống dùm đàn em một cốc rượu, để đàn em có thể
diễn đạt trọn vẹn về một cuộc hội ngộ khoá 13 TĐ tại Cần
Thơ. Để đàn em có thể thấy những người muôn năm ấy, hôm qua tụ
hội trở về. Để đàn em có thể h́nh dung ra những ngọn gió từ lâu đă
mất bây giờ trở lại, mang theo huơng mùi thân quen của những cây đào lộn
hột, hay những hoa dại từ hai b́a đường từ cỗng số 9 ra Băi bắn.
Để đàn em được sống lại trong một giờ một phút cùng Thủ Đức,
giữa lúc bộ bán cầu năo đang bị hao ṃn. Hay là tiếng mớ thảng thốt của
người bạn, tội nghiệp, không quen cam khổ hay là vầng trăng soi trên quân trường,
lạnh lẻo và cô đơn. Thủ Đức gọi ta về. Không phải về để
mà than khóc, tiếc nuối cái hào quang, hay ngậm ngùi cho một cuộc bể dâu dâu biển.
Mà trái lại, về để mà nung thêm lửa vào trái tim, để mà tự hào và hănh diện.
Về để mà nh́n lại một thời, ít ra, ḿnh làm được một điều
ǵ đó không hổ thẹn cùng lương tâm của ḿnh và con cháu ḿnh. Để chúng càng thuơng
phục cha anh chúng hơn bao giờ.
Bởi
v́ cha anh chúng đă sống như thế đó. Khổ như thế đó, chấp nhận
như thế đó. Rằng cha anh chúng đă được sinh ra trong thời nhiễu
nhương như thế. Họ không muốn đi lính nhưng vẫn phải đi lính.
Họ chẳng bao giờ mơ đến hoa mai vàng trên cổ áo mà vẫn có hoa mai. Dù hắn
không thích chiến tranh nhưng hắn cũng vẫn có mặt trong guồng máy, và chấp nhận
để trở thành một người lính trận.
Bây
giờ, chúng tôi là kẻ sống sót. Đáng lẽ chúng tôi phải sợ nh́n lại quá khứ,
sợ nhắc lại màu áo trận xưa. Đáng lẽ chúng tôi phải toát mồ hôi hột khi
nhớ lại một thời mà con kiến cũng không lọt được bom đạn,
để mà cố hưởng cuộc sống mới ở cái xứ mà hầu hết mọi
người trên quả địa cầu này đều mơ tưởng: American dream. Nhưng
tại sao, chúng tôi vẫn nhớ đến hôm qua. Nhớ như nhớ một cái ǵ không c̣n
t́m được. Nhớ trong khi người ta cố lăng quên. Nhớ để như hôm
nay, trời lạnh, ta mang lại chiếc áo jacket màu olive để đến sở, để
trùm cái mũ đội đầu như ngày xưa ta vẫn từng trùm vào những đêm
trên Trường Sơn. Và đôi khi mắt phải mờ đi khi xe ta qua một ngọn
đồi sương mù dày đặc. Nhớ như thể nhớ một t́nh nhân đầu
đời.
V́
sao? V́ danh vọng, hay địa vị hay quyền lực để mà nuối tiếc? Không.
Ta là cấp thấp, một sĩ quan cấp úy nhỏ nhoi, chỉ chỉ huy một trung đội
tối đa 20 người. Hay là tại v́ đời lính tang bồng hồ thỉ, màu áo
hoa dù, nhiều em gái hậu phương. C̣n khuya. Những vũng bùn śnh vẫn c̣n ngập
lụt giao thông hào. Đạn trái phá vẫn như c̣n gào thét bên tai chưa kịp hoảng hồn
th́ tiếp đến mưa đạn trái pháo khác.
Th́
v́ sao?
Phải,
ta biết rồi. V́ không có mái nhà nào đầy t́nh nghĩa như mái nhà hôm qua. V́ trong cơi hoạn
nạn vẫn c̣n nở những nụ hoa, trong cơi lầm than vẫn c̣n thấy những điều
hạnh phúc. V́ ta được sống ở đây, đâu phải số nghiệp của
ta, mà là nhờ ta đă mang cái màu áo trận của một thời.
V́
sao. V́ trong máu huyết của chúng tôi, chất lính vẫn c̣n chảy đậm. Nó giúp chúng
tôi vươn lên sau những lần ngă quị.
V́
sao. V́ có những bạn bè đồng đội, và cấp chỉ huy của chúng tôi đă
mở chốt lựu đạn, đă lấy súng kê vào màng tang của họ để bóp
c̣. Họ đă làm chúng tôi phải tự hào được mang cùng một màu áo...
V́
sao. V́ càng ngày chúng tôi càng hiểu rằng, việc chiến đấu của chúng tôi là đúng.
Cho dù chúng tôi là kẻ thua trận.
...Bây
giờ chúng tôi đă mất hết, may chỉ c̣n lại cái danh dự của một con người.
Danh dự đă nuôi dưỡng chúng tôi, giúp chúng tôi c̣n đứng thẳng mà không hổ thẹn
với con cháu và người bản xứ.
Danh
dự của một người cựu sĩ quan trẻ tốt nghiệp trường Bộ
Binh Thủ Đức. V́ chúng tôi đă chu toàn bổn phận rất khiêm nhường của một
người lính. Chúng tôi đâu có để nơi chúng tôi ǵn giữ bị mất. Chúng tôi
đâu có để pháo địch bắn vào thành phố khi chúng tôi được lệnh
bảo vệ ṿng đai. Chúng tôi không có ra lệnh rút lui mà chỉ ra lệnh xung phong chiếm
mục tiêu. Chúng tôi không bao giờ căi lệnh dù cái lệnh ấy là cái lệnh thí quân ngu xuẫn.
Chúng tôi đă đánh giặc với trái tim đầy nhân bản. Chúng tôi không hổ thẹn
bỏ rơi đồng đội. Chúng tôi đă ngẩng đầu khinh mạn dù chúng tôi
ở trong tù tội... Chúng tôi cũng mang trên vai những tấn nợ như cả miền
Nam đă mang. Chúng tôi cũng đă vác thập tự giá trên những triền đá sắc của
quê hương đất nước như cả một thế hệ đă vác.
Chúng
tôi là những người tốt nghiệp từ Thủ Đức, một quân trường
đào tạo trung đội trưởng bộ binh trong ṿng chín tháng. Nó là nơi mà một
ngài cựu đại tá tâm sự là sợ phải đâm lưỡi lê vào tim người
nên không dám đầu quân vào bộ binh. "Đầu tiên, tôi được lệnh đi khoá Một
Nam Định. Nhưng nghĩ lại cái cảnh phải mang súng trường gắn lưỡi
lê đâm vào tim người cho dù là h́nh nhân đi nữa, tôi phát sợ. Cuối cùng tôi đầu
quân vào đơn vị khác. Dầu là hiện dịch, nhưng chắc ăn". Nó cũng là
nơi mà một cựu thiếu tá phải thú thật rằng, lư do ông không vào Thủ Đức
bởi v́ ông sợ chết... Thủ Đức chết nhiều quá...
Vị
đại tá kia có lư của ông. Bởi tâm ông là tâm hiền. Không thể bắt ông cầm súng
gắn lưỡi lê để đâm vào tim người được. Cũng như vị
thiếu tá kia. Ông đă dám nói thật. Thật về cái ư nghĩ, tâm trạng thầm kín nhất
giữa lúc người ta không dám nói.
Và
đó là lư do chúng tôi phải tự hào thêm một lần nữa. Chúng tôi đă chấp nhận
đến một quân trường mà hai ông sĩ quan cấp tá đă sợ và t́m cách xa
lánh. Nó là nơi mà chúng tôi, những người cùng chung một số phận, chung một
định mệnh, đă nương tựa lẫn nhau, đă chia xẻ cùng nhau cái nghiệp
của người thanh niên trong thời loạn.
Nhưng
ai có thể dám nói rằng, những thầy giáo, những kỹ sư, sinh viên hay những kẻ
thi rớt tú tài 2 là những kẻ khi đánh giặc th́ ở đàng sau, khi tan hàng th́
chạy trước ?
Xin
hăy đọc dùm những hàng sau đây viết về ngày cuối cùng ở truờng Bộ
Binh Thủ Đức để hiểu rơ hơn:
"...Chiếc
T54 bắn một hồi rồi di chuyển về phía cổng số 9. Nhưng cổng này
đă bị 4 chiếc xe đậu chặn ngang đường. Nó lại chạy ra cổng
số 1. "Nó chạy ra ḱa." Một sinh viên sĩ quan la lên. Các tổ M72 thi nhau nhả đạn.
Chiếc chiến xa T54 lần này cũng may mắn không bị cháy nhưng bị đứt
xích, nó cố gắng lết ra đến Niệm Phật Đường Quảng Đức Chợ
Nhỏ quay pháo tháp vào trong trường và nhả đạn như mưa.
Trước
t́nh h́nh nan giải này, hai khóa sinh chưa được gắn cấp hiệu alpha, đă t́nh
nguyện mỗi người mang 4 trái lựu đạn lân tinh ḅ ra tiêu diệt chiến xa
địch. Họ đă ḅ qua mấy đường hẽm ở Chợ Nhỏ tiến
về phía sau Niệm Phật Đường cạnh chiếc T54 vẫn đang nhả đạn
vào trường. Bỗng một quả cầu lửa nổ tung, tiếng nổ long trời,
một cột khói đen hừng hực bốc lên như hàng chục trái ḿn chống chiến
xa cùng nổ một lúc.Tiếng reo ḥ vang lên từ những vị trí pḥng thủ: "Chiến
xa cháy rồi. Nó cháy rồi." "
(trích
Ngày Cuối cùng tại trường Sĩ quan Thủ Đức của Minh Tân Lê Quảng Trị,
KBC số 22)
...
Đêm đầu tiên tại ngôi trường lính là đêm xuống tóc. Đêm vĩnh biệt cuộc
đời dân sự, chào tay tự do muôn năm, giă từ những đám mây bềnh bồng
của tuổi trẻ. Ôi những sợi tóc xanh của một thời mộng mị, xanh
mướt cơn mơ, mà cũng đầy những màu buồn bă của một thế
hệ chiến tranh, với một vài sợi trở thành bạc trắng, lẻ loi, ngơ
ngác làm sao. Những mái tóc đă một thời chải chuốt, trang điểm cùng đời.
Những đầu tóc đă một thời để dài nổi loạn. Những dấu
vết thanh niên ngậm ngùi từng cuộn, từng đám bay xuống thềm, rụng xuống
đất, hay vương vít trên chiếc khăn trắng choàng quanh cổ. Ai buồn ai vui
ai trong đêm xuống tóc. Ai nhỏ lệ ai mừng vui ai hănh diện ai cợt đùa. Chiếc
tông đơ tàn nhẫn ủi rạp, cắt ngang không thương không xót. Không cần nh́n
vào tấm gương cũng biết h́nh bóng ta như thế nào. Bởi ta đă thấy ta
qua những người bạn cùng cảnh ngộ. Kỳ lạ. Lạ kỳ. Ta không muốn
nhưng ta vẫn chào thua. Ta không thích nhưng ta vẫn bị ép. Ta cúi đầu, nh́n tóc ta
nằm tung vải tội t́nh. Ta mặc niệm một thời trên những sợi đen
như mun, như hồn ta cũng đầy những băi mồ nhang khói. Tóc ơi. Tóc ta để
dài như đời ta buông thả. Tóc ta biếng lười ủ rũ như nỗi chán
chường nôn mửa hiện sinh. Thế mà bây giờ, như thế đấy. Không cần
biết ta là ai. Không cần tôn trọng ta là ai. Ta đă không c̣n là ta nữa.
Đêm
đầu tiên lạ lùng làm sao. Sự thay đổi đến kỳ cục. Từ một
thế giới bao la mênh mông, ta phải chạm trán một thế giới tù túng, chật chội,
rập khuôn của tập thể. Ngoài đời, ta chỉ biết có ta, không cần nhớ
số kiểm tra, căn cước, khai sinh, ngày sinh tháng đẻ. Nhưng ở đây ta
bắt đầu phải nhớ. Đó là số quân. Số quân là ta. Ta là số quân. Ta phải
dùng nó khi tŕnh diện. Ta phải khắc nó vào thẻ bài. Ta phải nhớ nằm ḷng khi gặp
cán bộ. Ta chính là cái máy có nhản hiệu không phải nhản hiệu con người mà
nhản hiệu đầy những con số. Sự thay đổi khiến ta trở thành
thụ động. Thụ động và chấp nhận. Không cần biết cái lệnh kia
đúng hay sai. Thi hành trước khiếu nại sau. Không cần biết lư lịch căn
gốc, không cần biết bạn là kỹ sư tôi là thầy giáo, bạn là kẻ t́nh nguyện
và tôi được hoăn dịch nhiều lần. Không cần biết bạn có lư tưởng
ngút trời c̣n tôi th́ Ta hỏng tú tài, ta đợi ngày đi đau ḷng ta muốn khóc...
Rồi
chúng ta được phát quân trang, quân dụng. Rồi được chích thuốc làm
quen mưa quen nắng. Chỉ chích một lần. Nhưng là một lần để đời.
Cả đêm thuốc hành đến nóng sốt, và mấy ngày thuốc làm vật vả làm
vết chích sưng đỏ cả cánh tay. Rồi, những thằng lính mới ṭ te, trong
những bộ quần áo khác cở, rộng thùng th́nh, đội chiếc mũ beret đen,
bắt đầu xuất hiện, bên cạnh những người sinh viên khoá đàn anh. Rồi
những lần chào tay rụt rè lúng túng. Rồi dần dần ta càng biết thêm về ngôi
trường. Về chín cổng quân trường, về F(Pḥng), K(Khu), B(Băi), khu thiết giáp,
trại gia binh, hội quán sĩ quan, 301, chỗ nào dễ dàng chui rào trốn trại...Ta mới
khám phá cả những dịch vụ âm thầm mà mạnh mẽ nhắm vào ta. Từ hớt
tóc, sửa quần áo, giặt ủi, hay ăn uống, nhậu nhẹt, ghi sổ trừ lương.
Ta
mới biết chị Năm, chị Tám, những người tiên phong trong việc phát minh
và áp dụng thẻ thiếu chịu trên hoàn cầu bằng những cuốn vở mà chúng
ta quen gọi là những trang nợ đời. Họ không tốt nghiệp trường kinh
tế tài chánh nào, nhưng họ đă biết rơ thói quen của con người. Ăn trước
tính sau. Họ cũng biết chắc là không ai có thể quịt nợ họ được.
Bởi v́ họ đă nắm chắc cái cán là tiền lương của đám sinh viên chúng
ta. Họ ngọt ngào lắm, dễ thương lắm, con gái họ cũng xinh lắm. Họ
nấu cơm tháng cho những sinh viên trưởng giả. Họ cung cấp bia rượu
dù ở đây chúng ta không được phép dùng. Họ c̣n biết rơ hôm nay đại đội
nào đi băi, ở băi nào, để họ tăng phái đội quân bán hàng rong. Họ biết
rơ hơn ai tánh t́nh từng ông cán bộ, hay huấn luyện viên. Họ hiệp cùng Ban quân lương
thẳng tay trừ nợ sinh viên không thương xót. Họ đă đi vào đời sống
của chúng ta từ khoá này qua khoá khác. Cần ǵ mơ được nổi danh, nổi tiếng,
hay nhiều người biết. Chị Tư, chị Năm, chị Tám, ai lại không biết,
và ai lại không bồi hồi khi nhắc lại những bà chị sẵn sàng cho chúng ta ăn
uống thả dàn, ghi sổ thả cửa. Để ta c̣n t́m lại những ǵ đă mất
sau khi vào trường lính. Trong bóng lờ mờ của ánh điện vàng, bóng ta bóng bạn
lay động trên vách. Thủ Đức đầy ấp gió. Những ngọn gió từ khắp
hết trời quê hương. Để đêm nay, gió làm mái tóc cô hàng tung toé. Ta mang gió cho cô hay
là cô mang gió cho ta. Ôi, những ngọn gió quân trường. Càng lên cao càng lộng. Gió cuốn
bụi đỏ trên băi bắn hay băi ḅ hỏa lực. Gió làm lá cao su trên đồi rụng
đầy. Gió đă đẩy đưa những định mệnh có cùng một mẫu
số chung, góp lại thành băo. Băo là sức mạnh. Quân đội nói thế. Nhưng ta th́
chẳng cần những mỹ từ dân vận tâm lư chiến ấy. Ta chỉ cần: Ta
mang gió núi miền Trung lại. Em sưởi dùm ta một mảnh t́nh. Đôi khi thấy lá vàng Nhơn
Phú. Ngỡ hồn ḿnh hiu hắt vàng thu. Như vậy, ta cần phải cảm tạ một
chỗ bên đời gian khổ. Dù chỉ là một hai tiếng đồng hồ được
quyền tự do sau giờ ăn, ta vẫn không quên la cà những quán bên đường trong
khu Thiết Giáp. Để ta c̣n khuấy cốc xây chừng, để ta c̣n uống thêm nét buồn
vời vợi, để em c̣n ghi tên ta trên cuốn sổ nợ đoạn trường trước
khi ta xuống núi.
C̣n
nữa. C̣n hội quán sinh viên sĩ quan rộng mênh mông. Nơi cà phê không ngon không vị, nhưng
có cô hàng có bờ lông măng rất mượt, khiến mỗi lần nh́n mỗi lần
động đậy tà dâm. Em không cho ta ghi sổ nhưng em đă cho ta ghi em, một bóng hồng
rất hiếm muộn tại ngôi trường lính.. Em của ngày xưa, ba mươi năm
về trước. Xin em cho ta được trở về một thời tuổi trẻ.
Ta sẽ gắng nhớ, gắng cảm nhận những giọt mồ hôi vàng. Những giọt
mồ hôi vàng đọng lóng lánh trên vầng trán của bạn bè ta dưới vành nón sắt.
Để ta c̣n thấy ta, thấy cả bè bạn. Em có thấy trên vách tấm tranh vĩ đại
mà khoá đàn anh ta đă vẻ không?. Màu đỏ. Màu đen. Người sinh viên bắn cung.
Ta nghe ai nói người họa sĩ kia đă tử trận. Th́ ta đang tiếp anh ta đây.
Ta
đang nhớ về Thủ Đức như bạn ta đang nhớ. Có phải đêm qua gió
quá dữ để băi bắn rụng đầy lá cao su. Và quân trường những cơn
mưa lá ngâu đă rụng xuống doanh trại. Gió lộng như từ tứ phương
tụ hội về đồi. Gió mang suốt ngày khắp nơi vang vang lời ca Đường
trường xa và nhịp đếm Một Hai Ba Bốn. Ô hay, ta gầy c̣m, trên dưới
40 kư, thế mà cũng chịu đựng được sao. Quân trường đổ mồ
hôi. Chiến trường bớt đổ máu. Kinh nhật tụng cho giai đoạn một.
Tay ta trói gà không chặt mà đ̣i đánh một hai. Hai chân ta đôi khi luống cuống, bước
không đúng nhịp mà đ̣i đi diễn hành cuối khoá. Ta tập quay trái, quay phải, quay
đằng sau. Chân trái phải xê dịch như thế nào, chân phải phải quay ra làm sao.
90 độ. Phải rán tập trung trí óc. Chụm chân lại. Rồi quay 90 độ.
Phải rán nghĩ trong đầu. Khi đi phải bắt đầu bằng chân trái. Rán mà
nhớ. Ta chẳng khác một tên học tṛ lúc nào cũng bị ám ảnh bởi cái roi mây của
thầy. Ngày nhỏ, ta tập lính bước một hai, khẩu súng là cuống chuối hay
khúc gỗ mang lên vai. Bây giờ, ta cũng vậy. Vẫn là một tṛ chơi bất tận.
Nhưng thời nhỏ dại ấy lại quá dễ dàng, cớ sao bây giờ lại quá khó.
Bằng chứng là ta bị phạt liên miên.
Bây
giờ, quá xa, quá lâu để mà nhớ về những ngày tháng cũ, nhưng h́nh như bên
tai ta vẫn c̣n văng vẳng tiếng hát vang lừng từ một góc trời Tăng Nhơn
Phú. Cám ơn nó, bởi v́ nó khiến ḷng ta ấm lại giữa lúc tiếng gọi đ̣ chiều
đă dục. Không biết tới chuyến nào sẽ chở đời ta qua bên sông cô tịch.
May mà tiếng hát nào như gió băo đánh bạt cái ư nghĩ đen tối bi quan. Ta đă dứng
dậy đến bên khung cửa. Dưới ánh điện đường trong một đêm
về sáng, ta thấy lại một vũ đ́nh trường, với những ống đạn
pháo binh sơn trắng bao quanh, ta thấy lại những đại đội đang xuôi
ngược diễn hành. Có khi hai đại đội cùng di chuyển đối đầu
nhau, và một bên dậm chân tại chỗ, chờ bên kia vượt qua. Không ai bận tâm lấy
ai. Phải nh́n thẳng. Phải ca phải hát. Lính phải hùng. Gió làm lời ca bay bổng trên
chín cổng, vang khắp băi đồi. Khi hai chân ta bước nhịp, hai tay ta đánh theo,
miệng ta cất lời, th́ bạn ta cũng vậy. Tất cả sẽ tạo nên một
tập thể đồng nhất, tiến về phía trước. Trời ơi, cả một
rừng cờ sắc áo như thế, khoá này tiếp đến khoá khác, biết bao nhiêu bước
chân tập tành để chuẩn bị cho một cuộc lên đường, để rồi,
vũ đ́nh trường giờ đây chỉ c̣n lại một băi mồ hoang phế. Tiếng
ca hùng tráng ngày ấy đâu rồi. Tiếng hát đă một lần lồng lộng cùng lá
cờ giữa sân ngôi trường lính ngày ấy đâu rồi. Cổ họng ta đă một
thời gào to cùng tiếng ca lời hát, thế mà bây giờ nó nuốt vào đến nghẹn
những bài hát kỳ lạ, lạ kỳ. Những bài hát của kẻ thắng trận. Hăy
quên. Hăy quên. Làm sao ta có thể quên được. Họ vẫn cho ta ăn dù khẩu phần
c̣n thua một con chó. Họ vẫn cho ta làm, họ vẫn cho ta hát ca... Băo nổi lên rồi.
Chỉ nhớ bốn chữ. Kẻ thua trận hát về trận băo cuốn lốc đời
hắn, bắt hắn phải bị đày đọa mất nhà mất cửa, xa vợ
xa con. Kẻ thua trận gân cổ ca Giải phóng miền Nam... Chỉ nhớ nổi 4 chữ.
Hăy quên. Người ta cấm ta hát ta ca, nên ta mới không bao giờ quên những lời ca tiếng
hát đă dạy ta khôn lớn. Như vậy ta làm sao quên được.
Trong
một đêm về sáng, ta nghe tiếng động bên ngoài. Có lẽ trời đă nổi
gió. Xứ người. Ta đang ở xứ người. Ta không có ǵ để mơ ước
nữa. Nhưng rơ ràng tại sao hồn ta lại trôi dạt về một phương nào.
Về một nơi đă dạy ta, trui rèn ta, ít ra, sức mạnh về sự tự tin,
để ta c̣n dùng nó trong những ngày đen tối nhất.
Bởi
v́, ta biết ta sẽ làm được, như đă từng mang khẩu garant nặng nề,
như đă từng ḅ hỏa lực, leo dây tử thần, hay di chuyển bộ hàng bao cây
số trong khi thân ta chỉ là ngọn cỏ ngọn lau. Ta có thể làm được, bởi
mưa và nắng Tăng Nhơn Phú đă làm da ta đen và dày dạn hơn, để ta làm
quen với mưa và nắng của kiếp đời lính tráng và tù tội.
Ngày
c̣n dân sự, mỗi lần gặp mưa là ta ho ta cảm. Khi trời mưa băo th́ ta ngại
ta chùn. Nhưng quân trường đă dạy ta, cứ lao vào, lao mạnh vào, bất chấp,
càng mưa băo, ta càng khinh mạn, càng sấm sét ầm ầm, ta càng lạnh lùng. Cảm tạ
hai mùa mưa nắng, dạy ta gian truân để ta mới vượt qua bao nhiêu thử thách.
Không thể ngờ một gă thư sinh, đôi mắt cận 7 độ, gầy như que
củi, mang bộ đồ trận như mang cái bao tải, vậy mà đă đi thứ
lính thám kích chuyên nhảy diều hâu bắt mồi. Không ngờ ta đă vượt qua tất
cả những khó khăn như mọi người. Không ngờ ta không bỏ cuộc. Cám
ơn trường lính dù không bao giờ ta muốn nó. Cám ơn nó đă bỏ đôi giày nhà
binh nặng trịch như hai ḥn đá vào hai bàn chân ta, bỏ khẩu súng thép lên vai ta, cái ba
lô và những sợi dây đạn trên lưng ta, chiếc nón sắt trên đầu ta, để
ta được làm quen với nỗi nhọc nhằn của chung một thế hệ. Cám
ơn trường lính, ít ra, những cơn mưa vần vũ xối xả trên những
băi bắn, băi tập kia, đă giúp ta c̣n đứng vững cùng những thử thách lớn
lao hơn, ghê rợn hơn từ những cơn mưa oan khiên của Trường Sơn
và của rừng khổ sai biên giới. Cái thử thách của trường lính đă tích lủy
lại trong da thịt, trong buồng tim buồng phổi để ḿnh "tự thắng" lấy
ḿnh. Học nhẫn nhục. Học chịu đựng. Để rồi sau này, khi nằm trong
tù tội, ta lại thêm một lần mang bài học này ra áp dụng trước những cơn
băo cuồng điên của kẻ chiến thắng.
Trời
lại nổi gió. Sleepy Hollow, trủng ngủ, nhưng ta đang thức. Gió đă cuốn
cát bụi băi bắn làm che mờ tầm nhắm vào lổ chiếu môn. Gió làm bạt những
chiếc áo mưa lính, lất phất khi ta ngồi trên băi học bài học về địa
h́nh, hay phục kích. Gió làm cát vũ đ́nh trường bay cuồn cuộn khi đại đội
di chuyển qua sân cờ. Gió đẩy đưa những kẻ lạ lẩm nay lại được
quen biết nhau. Bạn từ Sóc Trăng, ta từ Huế. Bạn nguyên là Thiếu sinh quân.
Ta là giáo sư. Bạn hiền như cục đất, da trắng như con gái. c̣n ta cận
thị, gầy ṛm. Để rồi bạn nằm giường trên ta nằm giường dưới.
Để rồi tự nhiên ta với bạn cùng chung trung đội, cùng bị phạt dă chiến
chung, hít đất nhảy xổm chung... Để rồi ta được cơ duyên được
quen bao nhiêu người khác, đến từ khắp nơi khắp chốn.
Đến
để mà bỏ một phần đời trong đấy. Đến để thừa hưởng
từ khoá đàn anh, chiếc giường sắt, cái tủ đứng, khẩu súng trường.
Đến để tiếp tục những ǵ như khoá đàn anh hôm qua đă trải qua. Và
hết ngàn người này đến ngàn người khác, cho một tṛ chơi triền miên
bất tận. Không biết chiếc giường ta đang nằm, ngày trước có một
người đă từng nằm, anh ta c̣n sống hay đă nằm xuống vĩnh viễn.
Không biết bao nhiêu người đă có mặt trong pḥng này và bao nhiêu người đă ra
đi. Đôi khi trong đêm ta thức giấc, thấy vầng trăng hiện ngoài khung cửa
pḥng, sáng vằng vặc, bỗng nhiên nhớ đến hai câu thơ Chinh phụ ngâm: Chàng từ
khi vào nơi gió cát. Đêm trăng này nghỉ mát phương nao. Rồi ta cũng sẽ trở
thành nhân vật chàng ấy, như tất cả những người đă có mặt tại
nơi này. Có điều khác với người xưa, có người vợ, có người
t́nh, có người lo sợ, c̣n chàng hôm nay, không có ǵ hết. Cuộc chiến tranh
này quả là mất dạy nhất, chó đẽ nhất. Nó làm cha mẹ ta phải xa ĺa mỗi
người một ngă. Nó lại làm ta và em lại không được gần gũi nhau. Khi
mà em cứ xem ta là lính đánh thuê, th́ ta c̣n ai để mà làm kẻ chinh phụ. Khi mà tâm trí
em chỉ biết mơ đến hoàng tử hay những ngài khoa bảng, kỹ sư, bác
sĩ, giáo sư đại học, luật sư... th́ có ai c̣n khóc dùm ta một giọt lệ
thừa... Trong những đêm trăng như thế, tự nhiên ḷng ta yếu mềm. Ta thèm
những tiếng ngáy, tiếng thở của bạn ta. Ta ao ước được nghe
tiếng hát trong máy thu thanh. Ta ao ước được mở đèn đọc một
trang sách mới... Ta thèm được ngồi vào bàn và viết. Nhưng ta đành bó tay. Rơ
ràng ở đây không c̣n quyền cá nhân nữa.
Bây giờ
ta mới thấm thía được thế nào là mùi quân đội, là cái gian khổ của
người lính mà từ lâu ta không thể h́nh dung ra nổi. Ta mới hiểu được
khẩu Garant là nặng như thế nào. Cái ba lô, nón sắt, dây nịt đạn, đôi giày
trận là nặng như thế nào. Ta chạy lên dốc mà hai chân như quị xuống, để
hiểu rằng, có những người lính binh nhất binh nh́, những khinh binh, những
người mang đại liên, súng cối, họ c̣n cực gấp trăm ngàn lần hơn
ta nữa. Khi ta di hành từ trường ra băi, trên lưng trên vai chỉ bấy nhiêu thứ
như poncho, dây đạn, khẩu súng trường, mà ta thở hồng hộc, mà mồ
hôi đổ ra như tắm để hiểu rằng dưới ta, có những người
lính cấp bậc thấp, chiếc ba lô c̣n có cả mười mấy ngày lương khô
gạo, áo quần, hai lần cấp số đạn, lựu đạn... c̣n nặng gấp
chục lần hơn những ǵ ta đang mang nữa. Những con cá mối bất tận
ở nhà bàn vẫn c̣n quí gấp trăm lần chiếc lon guigoz âm ấp nước mưa
của người lính ngoài chiến trận. Ta chỉ di chuyển một hai cây số mà đă
mỏi mê, trong khi những người lính ngoài tiền tuyến th́ hết ngày sang ngày khác
Bây
giờ khẩu garant ta mang trên vai Bây giờ khẩu
trung liên bar ta mang trên vai Ta mới biết rằng
những thỏi sắt đó nặng như thế Ta
mới biết rằng trong cuộc đời dạy học ta là một thằng dốt
nát Trong mười mấy năm ta làm bao nhiêu
tội lỗi Trong mười mấy năm ta
không nói cho học tṛ ta biết Anh em ta và quê hương
ta Vác những thỏi sắt nặng như thế
Từ bao nhiêu năm nay Bây giờ nằm kích ở ven ruộng sương xuống ướt vai Bây giờ đứng gác đêm ở rừng già gió lạnh
thấu xương Ta mới biết rằng
sương lạnh như thế Ta mới biết
rằng gió lạnh như thế Ta muốn kêu
to lên ta là một thằng dốt nát
(Xin
lỗi về những nhầm lẫn dĩ vảng, Nguyên
Sa)


|
|
|
|
|
 |
 |
 |
 |
|
|
Tiếp
theo.....
Bây
giờ ta mới hiểu thế nào là tập thể. Ta biết thế nào là tiểu đội
trung đội đại đội. Ta trần truồng như nhộng trong nhà tắm chung.
Ta vừa đi một hai như chú lính ṭ te vừa hát bài Lục quân Việt Nam. Hai tay ta quị
xuống, mông ta nằm rạp xuống tuyệt vọng khi ta bị phạt cả trăm
lần hít đất nhảy xổm. Ta bị phạt chạy ṿng ṿng quanh sân đại đội,
vừa chạy vừa gào. Ta bị đánh thức trong đêm, hoảng hốt cuống cuồng,
nghe tứ phương rầm rập bước chân, nghe tiếng c̣i ré lên trong đêm đen
tối, để năm phút là phải sẵn sàng tŕnh diện. Để ba lô nón sắt, súng trường,
đạn dược được khám xét. Rồi sẽ có kẻ bị phạt dă chiến
v́ tội lỡ quên... Trong bóng tối, ta mang kiếng nh́n ta, nh́n bạn bè. Những bóng người
mờ mờ ẩn ẩn. Đêm đồi Tăng Nhơn Phú lành lạnh. Cái lạnh khiến
ta thèm được nhấp hớp cà phê và đốt thuốc. Nhưng ở đây cái lạnh
lại kèm theo cái lo. Lo cán bộ xét khám dây giày ta chưa buộc, cấp số đạn ta
mang không đủ, thẻ bài ta bỏ quên... Ta mới sợ những cơn mưa và cái nắng
nung người. Sẽ không c̣n là những hạt mưa tháng sáu của Nguyên Sa:
Tháng
sáu trời mưa, em có nghe mưa xuống Trời
không mưa em có lạy trời mưa ? Anh vẫn
xin mưa phong tỏa đường về Anh
vẫn cầu mưa mặc dầu mây ảm đạm
Bởi
v́ đôi giày ta cần phải bóng loáng như mặt gương. Ta mới hiểu thế
nào là lạnh, rét, là tầm nh́n hạn chế... Ôi cơn mưa Tăng Nhơn Phú, xoá mờ
băi bắn, run rẫy những hàng cây cao su như những con ngựa rũ bờm. Ta mới
biết thế nào là ḅ hỏa lực, ḅ sấp ḅ ngửa dưới trời mưa hay dưới
cái nắng cháy người. Thế nào giọt nước mưa hoà cả mồ hôi và bụi
đất của đồi của băi. Thế nào là ṇng súng, cơ bẩm được
giữ ǵn cho khỏi dính bụi dính nước. Thế nào là giọt nước che mờ
tṛng kính. Trường lính. Ta sợ gian truân nhưng ta lại phải tập tành cùng gian truân.
Hỡi em, người em Sài G̣n ta không biết, không quen, mà sao ta lại thầm th́: Xin em hăy
nghe dùm ta mưa nặng hay không. Xin em hăy mang dùm ta chiếc áo mưa màu tím hoa cà, và để
đầu trần mưa đọng dầm lóng lánh. Ta c̣n mấy tuần huấn nhục
nữa, rồi ta được khoá đàn anh gắn alpha. Rồi ta sẽ được
đi phép, sẽ xin phép được về thăm em...
Thời
gian giai đoạn Một, có lẽ là thời gian huấn nhục. Thấy đàn anh phải
chào tay. Thấy cán bộ phải chào tay. Chào bắt mỏi. Và những đêm khám xét hầu
như thường trực xăy ra. Và những lần hít đất nhảy xổm th́ như
hai món ăn chơi. Và những lần ta bị xài xể từ cán bộ, mà chỉ biết
cắn răng. Trời ơi, cái tôi của ta, cái tôi mà cha mẹ ta đă nưng niu chiều
chuộng, cái tôi mà khi ta nóng sốt, người thân của ta phải hốt hoảng cuống
cuồng, bây giờ như thế đó... Cái tôi giáo sư, kỹ sư, tiến sĩ, hay những
ông đồ...
Nói
về một ngôi trường là nói về những kỷ niệm. Kỷ niệm với bạn
bè, thầy cô. Kỷ niệm về những ngày tháng vô tư ngây dại hay hoang nghịch của
tuổi thiếu thời. Nhưng với một ngôi trường chiến tranh, kỷ niệm
chỉ là những mồ hôi gian khổ, những khối nặng mang trên ḿnh, th́ có ǵ để
mà nhắc nhở. Không phải vậy. Phải nhớ. Nhớ bởi v́, nó khởi đầu
cho một cái nh́n khác, suy nghĩ khác.
Ta
đă từng cầm súng gác đêm tại lô cốt số 6. Đêm nay hết một năm. Lại
gác đêm giao thừa. Quê hương chừng rét lắm. Lất phất dưới làn mưa...Bây
giờ ta mới thấm thía được ư nghĩa của những câu thơ mà ta không nhớ
hết. Thời c̣n dân sự, ta chỉ biết thưởng ngoạn nó, nhưng không cảm
nhận nó. Bây giờ ta đang ở trong cuộc, ta cũng cầm súng canh gác, trời cũng
lất phất mưa. Quê hương chừng rét lắm. Tâm hồn ta bỗng nhiên lớn
hơn, bao la hơn. Ta bay bổng khắp quê hương. Ta như người phi công trong một
chuyến bay đêm, hănh diện nh́n quả đất. Bây giờ ta mới hiểu tại
sao người thơ lại dùng chữ lại, thay v́ chữ được. Được
mang ư nghĩa của niềm hănh diện. Lại có ư nghĩa là sự bắt buộc, là phải
tuân hành. Nhưng tuân hành không phải là không làm tṛn nhiệm vụ. Có lẽ quân đội chỉ
cần người tuân hành. Bởi thế kỷ luật là sức mạnh, người ta
luôn luôn nhắc nhở như thế.
Nhưng
tuân hành không phải để trở thành nô bộc. Người ta không thể lạm dụng
hai chữ kỷ luật để bắt kẻ thuộc cấp trở thành nô lệ, nô bộc.
Sau này tôi đă hiểu rơ hơn về cái lạm dụng này. Khi người sinh viên chúng tôi
được lệnh phải đánh giày thật bóng, xếp drap xếp mền thật kỷ,
dọn tủ quần áo thật ngăn nắp, có nghĩa là chúng tôi được học
bài học là một người sĩ quan, trước hết anh phải làm gương cho
kẻ khác. Anh phải dấn thân trước hết. Làm sao tôi có thể biết là ngoài thực
tế, có một vài đơn vị trưởng được xem như ông vua nhỏ. Ngay
cả một trung đội trưởng với cấp số trên dưới hai mươi
người, c̣n được cấp một người mang gạo, nấu ăn, chẳng
khác một người hầu không công, huống hồ đại đội trưởng,
tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng. Chẳng những cho các ông mà c̣n cho
vợ con các ông nữa. Thiên hạ sợ các ông, bởi v́ dưới trướng của
ông là súng ống, và binh sĩ, là đám cận vệ luôn luôn chứng tỏ trung thành tuyệt
đối. Làm sao tôi biết, những người hầu kia, đă từng bị cấp
chỉ huy bạt tai, đá đít v́ đă quên đánh giày, hay giặt quần giặt áo, giặt
tấc cho ông thầy hay để xe các ông bị dơ bẩn. Làm sao tôi có thể hiểu
khi trường lính huấn luyện tôi phải một ḿnh tự lực vuơn lên, đừng
bê tha cẩu thả, th́ ngoài đơn vị, tôi trở thành thầy chủ. Con người
khi sinh ra đều được b́nh đẳng. Không thể có tớ có thầy. Có phải
vậy không?
Chúng
tôi đă được huấn luyện để làm quen với cam khổ. Từ cam khổ
con người mới hiểu được cái cam khổ của người khác. Chúng tôi
đă được huấn luyện để hiểu thế nào là sức mạnh của
kỷ luật. Từ kỷ luật chúng tôi mới có thể làm kẻ lănh đạo chỉ
huy. Nhưng trên thực tế, kỷ luật là con dao hai lưỡi. Nó tạo nên độc
tài, độc tôn. Nó không cho kẻ dưới cấp được quyền nói lên tiếng
nói. Nó dùng lon cấp để ra lệnh, mà người thuộc cấp không cần biết
cái lệnh ấy hợp lư hay không hợp lư, đúng hoặc sai. Ta phải nhắm mắt.
Nhưng
người Thủ Đức không phải chỉ biết nhắm mắt trong mọi trường
hợp. Như trường hợp sau đây của một chuẩn úy khi anh yêu cầu đại
bàng tản thương người chết và người bị thương ra khỏi vùng
để rồi sau đó nhận được những lời của vị chỉ huy
mặt trận:
...Tôi
cầm tay Thảo. Cả tay chân anh mềm nhũn, hai mắt thâm đen và anh cũng không c̣n
thấy được nữa. Hơi thở thoi thóp, miệng lắp bắp:"Thái ơi,
Thái ơi ba chết!". Tôi lắc khẽ vai anh. "Thảo, Viện đây. Anh không sao đâu, trực
thăng sẽ đưa anh về quân y viện ngay. Cố gắng lên!". "Thái ơi, Thái ơi!
Ba chết!". Thảo cứ gọi tên đứa con trai mà anh cưng nhất của ḿnh, hơi
thở ṃn dần, và anh đă trút hơi thở sau cùng lúc 10 giờ 15 phút sáng ngày 01 tháng 3 năm
1970.
Thảo
chết, Trung sĩ Trai bị thương với 4 người lính khác. Tôi báo ngay về trung
tâm chỉ huy hành quân tại chi khu và yêu cầu phương tiện tản thương. Bạch
Hổ bảo đă báo tiểu khu và chờ. Mặt khác, lại ra lệnh:
-
Đai bàng chỉ định Victor (Viện) quyền Dzũng Chinh, điều động các đứa
con tiến chiếm các mục tiêu c̣n lại. Để một chấm (tiểu đội) ở
lại trông chừng số "kílô" (người chết), "whisky" (người bị thương).
Tôi
trả lời qua máy là, không đồng ư bỏ lại dọc đường Dzũng Chinh
và mấy đứa con bị thương bởi em út họ không chịu đi nếu như
việc tản thương không được thực hiện nhanh chóng. Bạch Hổ thông
báo với Đại Bàng. Ông Đại Bàng bay lên vùng, và liên lạc thẳng với tôi:
-
Đ.M, tôi ra lệnh cho Dzũng Chinh phải tiến quân. Đ.M cứ bỏ thằng "kilô" (người
chết), với đám whisky (người bị thương) lại đó sẽ có chuồn
chuồn đến bốc. Bây giờ đám diều hâu đă vỗ cánh lên vùng, tất cả
ưu tiên cho "Delta-Quebec" (đổ quân)... Đ.M chú thi hành hay không? Đ.M tôi đưa ra toà án
mặt trận bây giờ.
Tôi
nóng ran cả mặt. Một tư lệnh cuộc hành quân mà giải quyết sự việc
với những tính toán và ngôn ngữ như vậy khiến tôi bất b́nh, và chẳng hiểu
xuất phát từ đâu, tôi đă nói qua máy:
-
Đ.M đại bàng chớ đại bàng đừng ĐM tôi như vậy. Ông muốn ǵ tôi thách
ông đó. Bây giờ tôi nói dứt khoát với ông, tôi không đi cho đến khi nào có chuồn
chuồn đến bốc Dzũng Chinh và mấy đứa con của tôi...
Trên đây là một đọan trong hồi kư Điếu thuốc sau cùng của Lê Cần Thơ
được đi trong đặc san Thủ Đức. Chúng tôi xin được trích lại
để chứng minh về sĩ khí của kẻ sĩ cùng tinh thần đồng đội
của người lính VNCH nói chung cũng như người sĩ quan Thủ Đức nói riêng.
Tại sao viên chuẩn úy của chúng ta lại có thái độ ngang ngược như vậy.
Tại sao anh lại tỏ bày thái độ bất chấp như vậy. Bởi v́ anh không
thể bỏ rơi đại đội trưởng của anh và những người
lính của anh. Họ phải được cứu sống. Họ phải được
đền bù sau khi họ đă hy sinh tất cả. Có lẽ bản chất của viên trung
tá kia là người thô lỗ, nhưng không phải v́ thế mà quên đi cái t́nh chiến hữu,
đồng đội mà ông lẽ ra phải làm gương. Nếu như không có chiếc
trực thăng xa lạ nào đó bay qua, thương t́nh đáp xuống để cứu
độ th́ có lẽ một hai mạng người sẽ kết thúc v́ máu mất quá nhiều.
Rơ ràng ông ta đă dùng oai quyền và lạm dụng oai quyền. Nhưng ông đă lầm. Ông
không hiểu con tim của chúng tôi, những người sĩ quan trẻ tốt nghiệp từ
quân trường Thủ Đức.
Con
tim ấy tha thiết lắm. Nó đau cái đau của đồng đội. Nó hạnh phúc
cái hạnh phúc của đồng đội. Nó làm tiểu đội, trung đội trở
thành một mái nhà. Con tim ấy đă khiến một người chuẩn úy khác dám bắn
ḅ của tư lệnh vùng, bởi v́ anh thấy lính của anh gian khổ quá, đói rách quá:
Ngày
N cộng sáu quân lui về Nghĩa Hưng
áo quần đầy hương máu tóc râu đầy hương rừng
đang
đi, lệnh: đóng chốt lập ṿng đai
an toàn cho đại đội trừ bị
lùa ḅ cho tướng Toàn
ḅ
mập lông vàng thẩm rộn rịp tập xếp
hàng lính than thèm thịt quá nổi máu, ta bắn càn
lon
guigoz đầy dấm củi rừng bắt
lửa nhanh miệng nhai ḷng chảy máu tự rủa thầm gian manh
tướng
Toàn không kư phạt nhưng ta chẳng tha ta
một tuần không ăn thịt không làm thơ ngắm hoa
(Luân Hoán)
Nhớ
về một ngôi trường lính, là nhớ đến F301, một nơi mà tất cả
sinh viên chúng tôi không ai là không biết. Chúng tôi đă để lại ở đấy một
hay hai ngày để nghe mùi khai ngấy của nước tiểu, để nhận rơ bóng
tối nhiều hơn ánh sáng, để thấm thía hơn về kỷ luật quân đội.
Đấy là bài học, nhưng đấy cũng là những giờ phút mà lá thơ t́nh đă
được viết nên, hay nỗi nhớ nhung đă trổi dậy. Em Sài G̣n, so với
một buổi hai buổi bị nhốt trong 301, đâu có nghĩa lư ǵ khi được một
giờ một phút thấy em. Một lỗ rào nào đưa ta ra ngoài xa lộ, len giữa những
lùm cây đào lộn hột, để thay vội vàng bộ đồ dân sự, và đón xe
quá giang. Cũng biết lắm cái h́nh phạt. Cũng biết lắm cái hậu quả có thể
rớt ra trung sĩ. Nhưng Sài G̣n vẫn thôi miên ta như người con gái hương phấn
vẫy gọi cuối trời. Không thể đợi đến khi giai đoạn Một
chấm dứt. Không thể thui thủi một ḿnh vào ngày cuối tuần. Phải về Sài
G̣n. Phải uống ly chanh đường uống môi em ngọt hay nh́n con gái Sài G̣n trên vĩa
hè Lê Lợi Gia Long. Phải gặp lại bạn bè, ngồi xe honda, nghe gió đêm Sài G̣n luồn
giữa hai hàng lầu cao ngất. Phải như một cậu học tṛ trốn học ham
vui, dù biết thế nào ngày mai cũng bị phạt cấm túc. Bởi vậy, ta về.
Và h́nh như nhà trường đă biết được điều đó nhưng cố
t́nh làm ngơ. Bằng chứng từ khoá này tiếp đến khoá khác, những lỗ rào
quen thuộc kia vẫn chưa một lần được rào lại hay được tăng
cường canh gác. Để F301 tiếp tục sống măi trong tâm trí của mỗi người
chúng tôi sau này.
Có
lẽ nhà trường muốn thử chúng tôi về bài học tự thắng để chỉ
huy chăng. Nhưng ta không thể nào tự thắng được. Và chính cái ham vui ấy,
những giây phút căng thẳng ấy, hay một hai buổi bị nằm trong bóng tối
của căn pḥng gần cổng số Một với bề rộng bề ngang 10 thước,
chen chúc bạn ta ấy, mới là những giọt ngọc ngà kỷ niệm của một
đời người. Có ân hận ǵ không. Chắc chắn là không chút ǵ ân hận, khi h́nh phạt
mà ta chấp nhận là kết quả của t́nh ta đối với Sài G̣n. Phải không em,
Sài G̣n yêu dấu.
Để
rồi đồng lỏa với ta là những người tài xế xe lam, hay những anh
tài xế xe quân đội. Dù họ đă biết ta trốn trại. Làm sao ta có thể che
mắt họ, khi bên đường xa lộ có kẻ hớt tóc ngắn và da đen sậm
vẫy xe quá giang. Họ cũng như em, mang con tim Sài G̣n đến đồi Tăng
Nhơn Phú. Họ giúp ta thoát được trạm quân cảnh ở cửa ngơ vào thành phố.
Họ là cứu tinh cứu độ để ta không phải bị giải giao về lại
trường. Ôi, F301, nó đâu phải ghê rợn như sà lim, chuồng cọp, nhà đá để
ta phải nhắc nhở. Nó cũng chẳng mang cái ư nghĩa Nhất nhật tại tù thiên
thu tại ngoại. Nó chỉ là nơi ta tạm đặt lưng để quên đi băi bắn,
băi tập. Ta không cần tập họp cho mỗi lần đi ăn mà trái lại trưa
chiều, người sinh viên trực đại đội mang khẩu phần đến
cho ta. Nhưng ta vẫn phải bồi hồi để nhớ lại. Những khổ nhọc,
trầm luân của kiếp người rồi cũng mất, cũng tan biến nhưng những
áng mây đă hiện bên ngoài kia, chắc sẽ phải nhớ măi. Những áng mây không phải
kết đọng bởi thuốc nổ nồng nặc, nắng lửa và mồ hôi trên băi
tập, nhưng chúng đầy ấp t́nh em, t́nh Sài G̣n. Chúng đă đậu lại rồi
trôi dạt về đâu, sao ta cứ ngỡ chúng đang trôi xuôi về phía ấy. Rồi bỗng
oà vỡ niềm hạnh phúc, như trời Sài G̣n bỗng nhiên tối sầm lại và trận
mưa giông trút xuống như đùa cợt cùng thị dân. Và em tóc ướt và ta tóc ướt,
và môi cũng ướt, thịt da cũng ướt...
Nhớ
về một ngôi trường lính, dù chỉ là chín tháng, nhưng nỗi nhớ mang theo nỗi
ngậm ngùi. Bây giờ trường đă mất. Những con ngựa hôm nào bây giờ đă
lạc bầy tan tác hay đă rời bỏ đồng cỏ để về một cơi nào.
Cả một thời tuổi trẻ đă hy sinh và chấp nhận vào cổng trường
với niềm mong mỏi duy nhất là dâng hiến đời ḿnh cho đất nước,
quê hương bây giờ trở thành mây khói. Tự nh́n lại là ḿnh có làm trái với bổn
phận không, cái bổn phận khiêm nhường của một người lính, ḿnh thấy
ḷng an ổn lạ lùng.
Đêm di hành đầu tiên
Đêm
di hành đầu tiên của giai đoạn Một. Khi chiếc nón sắt đội nặng
trên đầu. Khi ba lô trên vai, và khẩu súng trường với những viên đạn mă
tử. Khi mắt mở, tai căng, và đêm như ḷng mực xạ. Ta đă trở thành
một người lính rồi ư. Ta có cảm giác ngây ngất của một kẻ vừa
trải qua một chuyện lạ lùng hoang tưởng. Quân đi, cả trăm, cả ngàn
người, mà sao như đoàn quân ma. Không có cả tiếng ho. Tiếng cười. Không
có cả một đốm lửa của điếu thuốc. Khi ra cổng trường,
bỗng dưng thấy như thể ra băi chiến. Nhà nhà vẫn c̣n để đèn. Xa xa,
xa lộ đèn xe sáng rực. Và trên cao là tháp nước quân trường với ánh đèn
chớp chớp. Ta bỗng thấy bước chân ta vững mạnh hơn. Bởi xung quanh
ta là bao bước chân khác. Ta là họ và họ là ta. Họ giữ ǵn ta và ta giữ ǵn họ.
Chúng tôi đă nương tựa nhau và bảo vệ cho nhau. Lần đầu tiên ta mới
cảm nhận cái căng thẳng của thần kinh, cái lo âu vô h́nh giữa một ḷng đêm
âm u sâu thẩm. Nhưng cũng đôi khi, chợt thấy ánh đèn của nhà ai c̣n thắp
sáng, ḷng lại tự nhiên một nỗi hănh kiêu thầm kín. Rồi đây, một ngày nào đó,
ta sẽ thật sự có mặt, và ta mong được giữ ǵn không những một ánh
đèn mà c̣n cả triệu triệu ánh đèn. Có lẽ lúc ấy, ta chưa chạm vào thực
tế. Tâm trí ta chỉ thêu dệt những cơn mơ đầy lăng mạng như:
Một
buổi quân dừng nơi xóm nhỏ Mẹ run
run mời một bát canh đầy Bát canh hẹ
cho ngọt ngào gạo đỏ Con chan vào từng
muỗng nhỏ mà say...
Phải,
không ai lại không có những cơn mơ tuyệt vời như thế. Giữa các bạn
ta, chắc cũng có những kẻ mơ ngày ra chiến trường, đánh đâu thắng
đó, uy dũng trong màu áo hoa dù hay chết th́ cũng da ngựa bọc thây.
C̣n
ta, ta mơ một bát canh hẹ đậm đà t́nh nghĩa. Khi ta cầm khẩu súng, ta nghĩ
là ta phải gánh một trách nhiệm thiêng liêng nhất là bảo vệ cho đồng bào ta,
dân tộc ta. Khi ta bước đi trong bóng tối, có nghĩa là dọn đường cho
ánh sáng. Và để đổi lại, đồng bào, hậu phương, sẽ hiểu
việc cầm súng của ta, sẽ như người mẹ mời bát canh hẹ để
ta chan vào từng muỗng canh nồng nàn giữa người dân và người lính. Ôi những
cơn mơ giúp ta đuổi kịp bạn bè, sát cánh với bạn bè, hoà nhập cùng gịng
thác của bạn bè. Nó giúp ta sức mạnh dù thân thể ta không đủ tiêu chuẩn của
một người lính. Mắt ta mang kính đă bắt đầu làm quen với bóng đêm.
Ta mới cảm nhận cái tai hoạ vô h́nh. Bóng tối. Phải, ta đang ở giữa ḷng
bóng tối. Bóng tối đồng nghĩa với tai ách. Với kẻ thù. Bóng tối th́ nhiều
mà ánh sáng th́ ít. Chỉ trừ ánh đèn. Những ánh đèn le lói, nhưng b́nh an kỳ lạ.
Trời
ơi. Một ngày nào đó, chắc ta phải khóc mất khi được nếm bát canh hẹ
có thật thay v́ mơ tưởng. Nó c̣n đậm đà hơn cả bài hát nào mà ta đă
nghe: Anh về qua xóm nhỏ. Em chờ dưới bóng dừa. Nắng chiều hôn mái tóc. T́nh
quê hương đơn sơ. Bởi v́ gạo đỏ và bát canh hẹ chính là quê hương.
Bởi v́ mẹ đă quá già mà cảm thông cùng con cháu mẹ. Ta đang mơ. Xin đừng
để cho giấc mơ ta tan vỡ. Để ta c̣n được chắp cánh mà bay, đừng
cho ta phải rớt xuống cùng sự thật. Xin để cho ta cứ liên tưởng
đến bát canh hẹ cho ngọt ngào gạo đỏ của ta mà cố gắng theo kịp
anh em, theo kịp hàng ngũ...
Trời
ơi, ta làm sao biết được cái sự thật bên ngoài ngôi trường của chiến
tranh này. Cái sự thật phủ phàng khi ta giáp mặt vào ḷng bóng tối. Cái sự thật
khi những ngọn đèn kia là những tín hiệu giết người, báo động của
đám dân trong làng mỗi khi ta hành quân qua. Cái sự thật khi người dân bề ngoài dạ
bẩm, nhưng trong tim họ đầy cả bồ dao găm tai họa. Cái sự thật
về một gáo nước lạnh hay một th́a nước mắm xin của người
dân đă bị từ chối.
Trong
đêm di hành đầu tiên, hết đại đội này đến đại đội
khác rời khỏi tuyến xuất phát là vũ đ́nh trường để di chuyển
quanh ṿng đai của quân trường. Ta bây giờ là một phần tử trong một tập
thể. Chúng tôi nương nhờ, bảo vệ cho nhau. Từ đó, ta mới hiểu thế
nào là t́nh đồng đội, là sự san sẽ cùng nhau cái định mệnh chung, cái nghiệp
căn chung, những tai ương chung. Từ đó người ta càng yêu thương nhau
hơn, càng thông cảm cho nhau hơn.
Như
vậy, ta phải cám ơn Tăng Nhơn Phú đă làm thay đổi cái nh́n của ta trước
đây về cuộc chiến, về quân đội. Cám ơn bạn bè ta, những người
có người vợ mới cưới, những đứa con mới sanh, hay những người
kỹ sư, giáo sư, tiến sĩ, những trí thức, những nhà văn nhà thơ tên
tuổi lẫy lừng, những người mà lẽ ra, Thủ đức không phải là
nơi dụng vơ. Họ vẫn có mặt bên ta, quanh ta, vẫn cầm súng bước đi
trong đêm di hành.
Cuối
cùng vào nửa đêm cả ngàn người của khoá từ tất cả các đại đội
trở về tập họp tại vũ đ́nh trường. Đêm vang lên lời hô và lời
báo cáo. Người ta đă dạy ta biết thế nào là một đơn vị lên đường
và trở về b́nh an vô sự. Trung đội báo cáo lên đại đội. Đại đội
báo cáo lên tiểu đoàn. Và tiểu đoàn báo cáo lên liên đoàn. Ta bị nhận ch́m trong một
tập thể chỉ biết tuân phục. Khi nghe hô nghiêm là ta nghiêm, hô nghỉ là ta nghỉ,
hô bước là ta bước. Ôi những cái bóng nào của đêm xưa ấy c̣n để
lại dấu tích hay chỉ là hạt sỏi nào trên sân. C̣n đâu những âm vang của Thủ
đức. C̣n đâu những v́ sao kỷ niệm trên đồi gió Tăng Nhơn Phú. Vâng.
Dù quá mệt, quá căng thẳng, nhưng thế nào ta cũng phải ghi lại những cảm
xúc kỳ diệu mà ta đă gặp trong đêm này.
Nguyệt san Bộ Binh Thủ Đức
Những
trang giấy nào hôm qua c̣n mờ nhạt bởi mồ hôi, bụi, và mưa Tăng Nhơn Phú.
Có ai kể là sau khi khóa chúng tôi măn, khoá đàn em nhận trách nhiệm săn sóc nguyệt san
Bộ Binh, đă xem mục Nhật Kư Quân Trường là mục thường xuyên phải
có. Cảm động lắm khi họ theo ta, tiếp tục viết lại những suy nghĩ,
tâm tư trên từng chặng đường gian khổ. Họ theo ta, cũng như ta đă
theo khóa đàn anh tiếp tục một truyền thống có sẵn. Chính truyền thống
đă mang lại niềm vinh dự. Bởi vậy mới có những người từ muôn
phương trở lại để gặp lại bạn bè cùng khoá mà kể lại bao nhiêu
điều, bao nhiêu chuyện dưới mái trường. Cái truyền thống của Thủ
đức cũng giống như các trường đào tạo quân đội khác, cũng
đàn anh gắn alpha cho đàn em. Cũng cuối năm là hành quân cuối khoá, cũng trốn
trại về phố và cũng bị nhốt vào trại kỷ luật... Nhưng có lẽ
ở trên đồi Tăng Nhơn Phú này, có một truyền thống mà chắc là không có trường
nào có. Cái truyền thống miễn đi băi vào ngày thứ tư kể từ sau khoá 24 của
chúng tôi, dành đặc biệt cho những người sinh viên sĩ quan biên tập viên của
tờ nguyệt san Bộ Binh Thủ Đức.
Gắng
nhớ. Gắng trở lại một khoảng thời gian nào cách đây hơn ba mươi
năm. Trí năo đă hao ṃn, sao ḷng ta vẫn c̣n bồi hồi tha thiết. Những người
muôn năm cũ. Chợt một Phạm văn B́nh loé lên, người thấp, da đen ngâm.
Anh là thầy giáo. Một Trịnh Kim Đồng hợp cùng Lưu Trung Khảo, hai cây bút chủ
lực về biên khảo. Trịnh Kim Đồng th́ đă chết. Chết trên đỉnh đồi
Mười thuộc tỉnh B́nh Định. Anh cùng Sư đoàn 22 BB với ta. Anh bị quả
đạn trái sáng rơi trúng vào đầu. C̣n ai nữa. C̣n Nguyên Sa, Cao Thoại Châu, Luân Hoán,
Phạm Hoàng, Phan Thảo Trang. C̣n có Trịnh Cung lo phần h́nh thức. C̣n có cả ư Yên, người
sĩ quan huấn luyện... Đó là những tên tuổi rất quen thuộc. Và chúng tôi đă góp
lại, cấy mạ, ươm phân bón, để nguyệt san Bộ Binh trở thành một
tạp chí có tầm cở.
Chúng
tôi đă biến mồ hôi thành chữ nghĩa. Và chữ nghĩa đă được chuyển
tới không những cho chúng tôi mà c̣n cho những người thân nhân của chúng tôi. Chính tờ
báo đă làm chỗ đứng của Thủ Đức càng lên cao. Có lẽ nhà trường đă
nghe được tiếng vang. Bằng chứng là nhà trường cho phép chúng tôi được
miễn đi băi vào ngày thứ Tư để lên họp tại Khối Chiến Tranh Chính
Trị hay để có th́ giờ hơn dành cho việc sáng tác.
Bây
giờ giữa trời đất mênh mông này, làm sao t́m lại những tờ tạp chí cũ.
Làm sao có được những bài Nhật kư quân trường của một thời để
bỏ vào trong tập sách này gọi là một hoài niệm yêu dấu. Làm sao để ta có thể
đập lại nhịp tim của một thời khi ta đi dây tử thần, vượt
sông, leo núi, gắn alpha hay đứng gác trung nghĩa đài. Vàng bạc châu bấu nào có thể
đổi lại những trang sách xưa. Những trang sách đầy mồ hôi và gian khổ,
nhưng cũng đầy lửa của niềm tin và lửa của da thịt em. Những
trang sách mang theo bè bạn đă một thời hiện diện bên ta, viết dùm ta, làm thơ
dùm ta, chuyên chở nỗi ḷng dùm ta.
Bây
giờ đă hơn ba mươi năm từ ngày rời Thủ Đức, ta đang khốn
khổ hành hạ trí năo để nhớ về một thời. Muốn nổi khùng chạy
đông chạy tây, t́m hoài trong trí nhớ già nua một vài câu thơ của Cao Thoại Châu được
anh sáng tác trong trường lính nhưng đành bất lực. Nhà thơ vẫn c̣n sống
ở trong nước, nhưng những bài thơ một thời đă mất trước
anh như tất cả những người viết văn làm thơ của miền Nam trước
1975.
May
mà trái tim cứ kêu gọi thúc dục. Ta đang viết lại đây, tim nhé. Ta đang
viết lại đây, hỡi Thủ Đức, hỡi các bạn bè ta, và hỡi những người
đă yêu mến văn ta nhé. Viết mà rưng rưng. Ta đă đánh mất cây viết Canon,
cái phần thưởng sinh viên sĩ quan báo chí xuất sắc của khoá dành cho ta rồi.
Và bây giờ những ngón tay tê buốt của tuổi già đă báo cái cơ nguy sắp bỏ
bút rồi. Hở, ta sẽ sống ra sao, hở?
(Trích
Thủ Đức Gọi Ta Về, mới xuất bản)
Đêm alpha
Cuối
cùng giai đoạn Một cũng đă kết thúc. Nó đánh dấu một khúc quanh rất
quan trọng trong đời sống sinh viên sĩ quan chúng tôi. Có nghĩa là từ đây chúng
tôi bắt đầu mang trên mũ, trên vai, hay cổ áo, huy hiệu (, mà chúng tôi vẫn thường
quen gọi là con cá vàng. Có nghĩa là từ đây chúng tôi có quyền đi phép cuối tuần
về Sài G̣n. Và cũng bắt đầu từ đây, chúng tôi thật sự trở thành đàn
anh.
Đêm
alpha. Tôi đang thấy lại tôi, giữa cả một vũ đ́nh trường đầy
ngập người, và đầy ngập ánh điện như thể một đêm hội
lớn. Chúng tôi đă mặc bộ đồ vàng đi phép, mang giây biểu chương vàng,
và mang nón két. Trên ngực áo có bảng tên. Chúng tôi đă sẵn sàng cặp lon vàng. Chúng tôi một
chân qú xuống, để chờ khoá đàn anh đến gắn cấp bậc.
Đêm
alpha. Nó là một truyền thống. Nó là sự liên hệ giữa đàn anh và đàn em, giữa
người sắp sửa giă từ và những người ở lại. Nó cũng là điểm
mốc cho người được đi chuyên môn và người ở lại làm lính lội
bộ. Nó vang động cả trời đêm Tăng Nhơn Phú với lời hô đứng
dậy qú xuống như chuyển rung cả một vũ đ́nh trường. Người
đàn anh sẽ gắn alpha cho ta. Và anh sẽ đập vào vai ta để bày tỏ lời
chúc mừng trong khi ta chào tay anh không dám động đậy. Rồi anh sẽ từ giă ta,
anh đi đâu:
hăy
nắm chặt giây cương này, luân hoán ra khỏi
nơi này sẽ gặp nghĩa trang (T́nh khúc cuối
cùng ở K.B.C 4100, thơ Luân Hoán)
Ta
đă quên anh, và anh cũng không bao giờ nhớ ta. Nếu có chỉ là cái bóng. Bóng đổ
xuống sân vũ đ́nh trường dưới những ngọn đèn nhiều nến.
Ta lại bắt đầu thay anh, và cái bóng ta đă lấp vào bóng anh. Ta cũng nhường
lại cho đàn em những ǵ mà đàn anh ta đă nhường cho ta. Rồi ta lại
ra đi. Đi đâu. Ra khỏi nơi này sẽ gặp nghĩa trang. Nghĩa trang quân đội.
Với Tiếc thương của Nguyễn Thanh Thu. Với Viên đạn cho người
yêu dấu của Luân Hoán. Với một Mậu Thân đại tang cho khóa 24 của ta và khóa
25 đàn em.
Đêm
alpha, ta đang náo nức chờ ngày cuối tuần để về thăm Sài G̣n. Một
đoạn đường chiến binh đă qua. Thêm một đoạn đường nữa
bắt đầu. Bây giờ mới chính là những bài học vỡ ḷng cho một trung đội
trưởng bộ binh. Hỡi em yêu dấu.
(Trần
Hoài Thư)
|
 |
|
|
|
| |
 |
 |

|
|
|
 |
 |
 |
|
|
|
|