|
Tết Trong Tù
Người ta bảo rằng: Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Tôi
ở tù gần mười năm, từ tháng 5,1975 đến tháng 2 năm 1985, tổng cộng
ba ngh́n bốn trăm sáu mươi lăm ngày, nhân lên một ngh́n, vị chi là ba triệu bốn
trăm năm, bỏ đi con số lẻ chẳng thèm tính, tức là sống lâu hơn cụ
Bành tổ bên Tàu. Đó là nhờ “lượng khoan hồng nhân đạo của Đảng và
nhà nước Việt nam Cộng sản anh hùng, đỉnh cao nhất của trí tuệ loài
người, lương tâm nhân loại, vân vân và vân vân...” Cũng nhờ ân điển
vời vợi đó, anh em chúng tôi được hưởng trọn bao nhiêu cái Tết Tù
cô đơn, đói khát tưởng ở tận cùng vực sâu của nhân loại, con người
dù cơ hàn đến đâu cũng không mường tượng nỗi.
Ba năm tù đầu tiên, khi c̣n ở trong bàn tay quản lư của bộ đội,
khách quan mà nói th́ cũng tương đối khá. V́ bộ đội Bắc Việt cũng
ch́ là con em của dân, phải chịu thi hành nghĩa vụ quân sự mà đi chiến đấu
chết thay cho bọn đồ tể Hà nội. Tuy được giáo dục ḷng hận
thù sâu sắc đối với anh em quân sĩ miền Nam, những cán binh cấp thấp vẫn
tỏ ra chút ǵ phóng khoáng hơn. Nhất là sau thời gian tiếp xúc thấy anh em quân nhân miền
Nam không giống như h́nh ảnh họ biết qua tuyên truyền của Hà nội; họ
cư xử nhẹ nhàng hơn. Thực t́nh mà nói, th́ chính những người này cũng hiểu
lầm về chính sách cải tạo của Đảng, họ cho rằng chúng tôi là những học
viên, chỉ phải chịu qua một thời gian ngắn là trở về cùng với họ
chung lưng đấu cật xây dựng Tổ quốc, b́nh đẵng với họ. Chỉ
có bọn lớn cấp, nham hiểm, tàn độc luôn úp mở về số phận chúng
tôi.
Tết đầu năm 1976, chúng tôi ở trại K2, Long Khánh, nơi trước đó
là hậu cứ của một Trung đoàn thuộc Sư đoàn 18 BB. Một vụ nổ
dữ dội xảy ra những ngày gần Tết phá huỷ gần sạch các dăy nhà, gây thương
vong cho một số anh em chúng tôi và bọn lính cai tù. Chúng tôi được gia đ́nh thăm
viếng lần đầu tiên sau 8 tháng xa cách. Những xúc động, bồi hồi, hứa
hẹn... Chúng tôi c̣n u mê, tin tưởng ngày về không c̣n xa, khuyến khích vợ con làm đơn
từ lo bảo lănh để mau được về đoàn tụ, dù phải chịu đi
lập nghiệp vùng kinh tế mới. Sau này, mới biết những lá đơn do vợ
con ḿnh lặn lội đi các nơi, hao tốn bao thời giờ, tiền bạc (Thuỡ
đó Cộng sàn sắp xếp lại các đơn vị hành chánh, muốn chứng một
lá đơn có khi phải vượt hàng trăm cây số, mất cả tuần lễ) được
chúng xử dụng làm toilet paper. Ôi bao t́nh cảm, nỗi niềm hy vọng đặt vào tờ
giấy mỏng manh đă bị bọn thú vật trắng trợn dày đạp lên. Ba năm
đầu, gian khổ nhiều, có chết chóc, thương tật do phải làm những công
tác lao động hiểm nghèo, nhưng về ăn uống, tương đối có khá. Ngày
Tết, có dủ thịt cá, bánh trái, thuốc lá và nhất là có chút th́ giờ nhàn rỗi để
cùng nhau tâm sự, ôn kể chuyện gia đ́nh, trao đổi nhau ước vọng ngày
xuân.
Nhưng từ sau Tết 1978, khi bộ đội bàn giao quyền quản lư cho bọn
chó vàng Công an th́ chúng tôi như bước sụp một bước dài xuống tận cùng
mười tầng địa ngục. Đến đây, trang sử cuộc đời chúng tôi
đă qua một bước ngoặc vĩ đại, an bài với bao cay đắng, tuyệt
vọng. Ngày về sẽ là ảo ảnh, vợ con từ đây ngàn đời vĩnh biệt,
tuổi thanh xuân hoa mộng từ đây bị chôn vùi nơi những vùng rừng thiêng, nước
độc. Bọn cán bộ nói trắng ra: “Khi nào ḅ đực đẻ con th́ các anh
được về”. Chế độ tù khắc nghiệt nhưng không làm chúng tôi đau
đớn bằng suy nghĩ về gia đ́nh, vợ con bé ḅng, mẹ già gần đất
xa trời từ nay chỉ c̣n trong hoài niệm. Ngoài cái khổ cực về thể xác, chúng
tôi c̣n chịu cái đau đớn tủi nhục của sự đối xử không nhân
tính của bọn thất học vô loài. Chúng tước đoạt của chúng tôi từ
tư trang, thực phẩm cho đến nhân phẩm. Chúng đày đoạ chúng tôi tệ
hơn đối với loài súc vật, giam đói bỏ khát, và đem chút khoai ḿ ra khuyến
dụ ḷng chính trực, lương tâm của chúng tôi. Chúng tôi thắng, trong cuộc đấu
tranh cam go này, khi sức chịu đựng đến tận cùng mà một con người
xương thịt có thể chịu đựng nỗi. Biên giới của người anh
hùng và kẻ hèn mạt là ở đây, được thử thách bằng miếng cơm thừa
của bọn cai ngục.
Ngày đầu tiên được chuyển ra trại giam công an, mở màn là cuộc khám
xét hành trang tận t́nh, chúng tịch thu tất cả, tất cả, chỉ trừ chiếc
chiếu rách, vài bộ áo quần tù in chằng chịt dấu Cải tạo. Thuốc men,
thực phẩm bị tịch thu ráo trọi, để rồi sau đó, chúng phát ngày hai bữa
khoai ḿ độc ăn không đủ bén môi với một muỗng nước muối. Ăn
như thế, mà hàng ngày mười tiếng đồng hồ phơi ḿnh ngoài nắng gắt
hay những cơn mưa triền miên của miền Trung nghèo, khắc nghiệt, lao động
cật lực với những chỉ tiêu phi lư mà bọn cán bộ đặt ra. Dĩ nhiên
chúng tôi biết cách đối phó để khỏi đem sức tàn của ḿnh phục vụ
kẻ thù, lúc th́ giả đau, lúc th́ đồng ḷng lăng công, phá hoại hoa màu, dụng cụ...Sau
cơn đói kéo dài cho đến ngày gần Tết, bọn cán bộ, qua các tên tay sai nhà trưởng,
thi đua trật tự, cho biết: “Tết đến, Rờ Nượng khoan hồng
Rân đạo (lại khoan hồng nhân đạo!) và sự quan tâm của Nănh đạo, các
anh sẽ được ăn Tết đầy đủ, trại cho mổ hai con ḅ, ba con
Nợn, có bánh đa, một gói thuốc Ná xây Rựng, kẹo Nạc, Rưa cải...”
nghe mà thèm chảy nước miếng. Chiều ba mươi, nhà bếp tấp nập, tiếng
dao thớt cụp cụp nghe sao mà êm ái lạ, hương thơm bay ngào ngạt, ai nấy
chuẩn bị chén bát để lănh phần. Ḱa hai anh trực ngày đang khiêng thức ăn
về, tiếng xôn xao nổi lên, chúng tôi bắt bạn với nhau để cùng chia xẻ
cái Tết tù hẩm hiu. Nhưng buồn sao và thất vọng sao, khi trong cái thau cỡ số
mười chỉ lỏng bỏng những nước và nước, tận đáy thau có
vài miếng da ḅ cắt như miếng mứt dừa. Thau thịt “nợn” th́ gồm
những miếng xương, tí “ṇng”, tí huyết; thau “rưa cải” th́
ḷng tḥng nguyên cây cải dài từ ngọn cho đến cuống rễ.(V́ muốn đạt
chỉ tiêu về cân lượng, bọn CS chỉ cho thu hoạch cây cải sau khi nó ra hoa,
đem về ngâm nguyên cây trong hồ nước muối, sau khi nhúng vào một cái chăo gọi
là rửa qua.) Quí bạn có khi nào nhai thử miếng vỏ xe đạp th́ sẽ h́nh dung chúng
tôi đă ăn da ḅ như thế nào. Dưa cải th́ thật sự nó dai nhách như cái bao
tải, nhai qua nhai lại cho có chút nước xong nhả ra như các bà cụ già nhai trầu.
Chỉ có cục xương heo, gặm cho hết phần gân có dính tí mỡ, tí thịt, rồi
cất đi, ngày ngày cho thêm muối, kho lui kho tới, và sau vài tuần cố gấng dùng mấy
cái răng hàm đă khập khễnh, tiêu hoá luôn phần mà cả con cho đói cũng chê. Chắc
quí vị sẽ hỏi: “thế bao nhiêu thịt đi đâu?”. Thưa, thịt ngon
th́ giao cho nhà bếp tiểu táo của bọn chỉ huy trại, thịt vừa th́ đại
táo của bọn cán bộ, thịt bạc nhạc th́ bọn trật tự thi đua, nhà
bếp thiếm xực.
Sau năm đó, hàng năm bọn Việt cộng cho phép gia đ́nh ra thăm định
kỳ nữa năm một lần, và gửi quà theo đường bưu điện
hàng tháng v́ lư do được giải thích như sau: “Nhà Lước Lói chung, và Trại
Lói riêng có nhiều khó khăn, không No cho các anh đầy đủ, v́ thế cho phép các anh được
nhận quà để có sức khoẻ.” (mà Nao động cho chúng Ló). Thế là Tết
đến, một số nhỏ các anh có gia đ́nh tương đối khá ăn Tết
rất ra chi. Họ tụ tập với nhau từng nhóm năm, mười người hùn
hạp làm đủ các thứ, mứt bánh, xào nấu từ mười ngày trước Tết,
kéo dài cả mười ngày sau Tết. Chỉ tội nghiệp cho các anh mồ côi, nằm
đắp chiếc chăn rách, ôm bụng đói nghe những tiếng nhai nuốt nhồm
nhoàm, ngửi hương vị thơm tho của cá thịt mà tủi cho thân phận ḿnh. Chỉ
những anh em nghèo dễ dàng chia sẻ với nhau. Thường, anh em chúng tôi ngồi tụm
với nhau, kể ra vô số món ăn ngon do ḿnh tự sáng chế, ôi thôi dủ loại cao
lương mỹ vị, chúng tôi gọi là ăn hàm thụ. Nhớ nhất là Phan công Danh, một
nhạc sĩ, họa sĩ tài ba, chiều chiều làm bộ thơ thẩn gần chỗ
hội trường, thấy vắng đôi mắt cú vọ của bọn trật tự,
là nhanh như cắt, vặt lấy vặt để mớ cỏ kiễng trồng làm hàng
rào. Đem về, ngâm với nước muối làm thành một thứ Salad độn cho đầy
cái bụng lép. Những anh bạo hơn th́ làm bộ khai bệnh, trong lúc ngồi chờ xin
thuốc, vọt ra vườn thuốc Nam hái trộm các loại rau do bọn y tá trồng
vừa làm thuốc “dân tộc” vừa để cải thiện bữa ăn của
họ.
Gần ngày Tết, bọn cán bộ thường yêu cầu anh em làm cho chúng lồng đèn.
Tôi vốn khéo tay, được đội nhờ ở nhà làm. Dùng bất cứ thứ ǵ
kiếm được, v́ bọn cán cũng nghèo, không mua nỗi giấy màu, mực viết.
Màu th́ dùng lá cây làm màu xanh, hoa mồng tơi làm màu tím, thuốc đỏ làm màu đỏ, kí
ninh làm màu vàng. Giấy th́ lượm lặt đủ thứ dán lại. Tôi ở nhà, lợi
dụng thời gian nghỉ ngơi, lén nấu nướng ăn uống, lâu lâu bày giấy,
hồ ra kẻo tên cán nóng ruột ṃ vào xem. Ngày giao nộp, tên cán vui vẻ cho anh em nhổ khoai
ḿ, nấu một nồi ăn “bồi dưỡng” tại nơi lao động,
trong khi nó vào trại để lấy lồng đèn. Tội nghiệp, khi tôi đưa
cho nó cái đèn, vẻ thất vọng hiện lên rơ rệt, v́ cái lồng đèn méo mó, màu th́
nguệch ngoạc, tối tăm. Nó vội trở ra, trút cơn giận dữ đạp
đổ thùng khoai ḿ sắp chín. Thế là ba mươi anh em đành tiu nghỉu nh́n những
củ ḿ H 34 lăn lóc giữa đất đá. Sau này một vài anh em trách tôi, nhưng biết
làm sao.
Mỗi năm trôi qua, tâm hồn chai ĺ thêm một tí. V́ chẳng hy vọng ngày về, nên
dại chó ǵ mà lo lắng, ưu tư. Cứ coi như vô vi, sáng chui ra, chiều chui vào cái chuồng
chật ních nhốt hàng trăm người, đủ thứ bệnh truyền nhiễm. Ơn
trời cho ai nấy sống, cũng ơn trời kêu ai nấy dạ. Có nghe tin đồn
sẽ có đợt về ngày Tết, ḷng cũng trơ đi, không mảy may suy nghĩ đến.
Cho đến ngày Tết 1985, nghe đến tên ḿnh, ngồi giữa hội trường, tôi
cũng chẳng vui, chẳng thấy mừng, lạ thật!
Nguyễn Tuân, trong cuốn “Hà Nội Ta Đánh Mỹ Giỏi” kể lễ chi tiết
về khẩu phần ăn ngày Tết của Hà Nội dành cho tù binh Hoa Kỳ. Với cái
bánh chưng, vài miếng thịt, ông đă dành nguyên một phần mười cuốn sách
để ca ngợi ḷng nhân đạo của bọn Cộng sản khi cho tù ăn uống
như thế. Tội nghiệp cho cái xă hội bần cùng, miếng cơm không ra ǵ cũng
trở thành một thứ ân sũng quư báu và được nêu ra như một hành vi cao cả!
Giờ đây, gần mười năm sau ngày ra tù, gần bốn năm trên miền
đất dung thân, hưởng thụ dủ thứ ngon vật lạ, hưởng thụ
đủ thứ tự do, làm người với đầy đủ ư nghĩa, tôi vẫn
lấy làm lạ sao con người có thể phải chịu đựng phi lư sự đối
xử tàn tệ, dă man. Càng thương hơn, thông cảm sâu sắc với những nỗi
bất hạnh của bạn bè, chiến hữu và đồng bào c̣n kẹt ở nơi tận
cùng địa ngục đó.
Đỗ Văn Phúc - 1995

|