phucdiendandongtiengif.gif

Tết Trong Tù

 

Người ta bảo rằng: Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Tôi ở tù gần mười năm, từ tháng 5,1975 đến tháng 2 năm 1985, tổng cộng ba ngh́n bốn trăm sáu mươi lăm ngày, nhân lên một ngh́n, vị chi là ba triệu bốn trăm năm, bỏ đi con số lẻ chẳng thèm tính, tức là sống lâu hơn cụ Bành tổ bên Tàu. Đó là nhờ “lượng khoan hồng nhân đạo của Đảng và nhà nước Việt nam Cộng sản anh hùng, đỉnh cao nhất của trí tuệ loài người, lương tâm nhân loại, vân vân và vân vân...” Cũng nhờ ân điển vời vợi đó, anh em chúng tôi được hưởng trọn bao nhiêu cái Tết Tù cô đơn, đói khát tưởng ở tận cùng vực sâu của nhân loại, con người dù cơ hàn đến đâu cũng không mường tượng nỗi.

 

Ba năm tù đầu tiên, khi c̣n ở trong bàn tay quản lư của bộ đội, khách quan mà nói th́ cũng tương đối khá. V́ bộ đội Bắc Việt cũng ch́ là con em của dân, phải chịu thi hành nghĩa vụ quân sự mà đi chiến đấu chết thay cho bọn đồ tể Hà nội. Tuy được giáo dục ḷng hận thù sâu sắc đối với anh em quân sĩ miền Nam, những cán binh cấp thấp vẫn tỏ ra chút ǵ phóng khoáng hơn. Nhất là sau thời gian tiếp xúc thấy anh em quân nhân miền Nam không giống như h́nh ảnh họ biết qua tuyên truyền của Hà nội; họ cư xử nhẹ nhàng hơn. Thực t́nh mà nói, th́ chính những người này cũng hiểu lầm về chính sách cải tạo của Đảng, họ cho rằng chúng tôi là những học viên, chỉ phải chịu qua một thời gian ngắn là trở về cùng với họ chung lưng đấu cật xây dựng Tổ quốc, b́nh đẵng với họ. Chỉ có bọn lớn cấp, nham hiểm, tàn độc luôn úp mở về số phận chúng tôi.

 

Tết đầu năm 1976, chúng tôi ở trại K2, Long Khánh, nơi trước đó là hậu cứ của một Trung đoàn thuộc Sư đoàn 18 BB. Một vụ nổ dữ dội xảy ra những ngày gần Tết phá huỷ gần sạch các dăy nhà, gây thương vong cho một số anh em chúng tôi và bọn lính cai tù. Chúng tôi được gia đ́nh thăm viếng lần đầu tiên sau 8 tháng xa cách. Những xúc động, bồi hồi, hứa hẹn... Chúng tôi c̣n u mê, tin tưởng ngày về không c̣n xa, khuyến khích vợ con làm đơn từ lo bảo lănh để mau được về đoàn tụ, dù phải chịu đi lập nghiệp vùng kinh tế mới. Sau này, mới biết những lá đơn do vợ con ḿnh lặn lội đi các nơi, hao tốn bao thời giờ, tiền bạc (Thuỡ đó Cộng sàn sắp xếp lại các đơn vị hành chánh, muốn chứng một lá đơn có khi phải vượt hàng trăm cây số, mất cả tuần lễ) được chúng xử dụng làm toilet paper. Ôi bao t́nh cảm, nỗi niềm hy vọng đặt vào tờ giấy mỏng manh đă bị bọn thú vật trắng trợn dày đạp lên. Ba năm đầu, gian khổ nhiều, có chết chóc, thương tật do phải làm những công tác lao động hiểm nghèo, nhưng về ăn uống, tương đối có khá. Ngày Tết, có dủ thịt cá, bánh trái, thuốc lá và nhất là có chút th́ giờ nhàn rỗi để cùng nhau tâm sự, ôn kể chuyện gia  đ́nh, trao đổi nhau ước vọng ngày xuân.

 

Nhưng từ sau Tết 1978, khi bộ đội bàn giao quyền quản lư cho bọn chó vàng Công an th́ chúng tôi như bước sụp một bước dài xuống tận cùng mười tầng địa ngục. Đến đây, trang sử cuộc đời chúng tôi đă qua một bước ngoặc vĩ đại, an bài với bao cay đắng, tuyệt vọng. Ngày về sẽ là ảo ảnh, vợ con từ đây ngàn đời vĩnh biệt, tuổi thanh xuân hoa mộng từ đây bị chôn vùi nơi những vùng rừng thiêng, nước độc. Bọn cán bộ nói trắng ra: “Khi nào ḅ đực đẻ con th́ các anh được về”. Chế độ tù khắc nghiệt nhưng không làm chúng tôi đau đớn bằng suy nghĩ về gia đ́nh, vợ con bé ḅng, mẹ già gần đất xa trời từ nay chỉ c̣n trong hoài niệm. Ngoài cái khổ cực về thể xác, chúng tôi c̣n chịu cái đau đớn tủi nhục của sự đối xử không nhân tính của bọn thất học vô loài. Chúng tước đoạt của chúng tôi từ tư trang, thực phẩm cho đến nhân phẩm. Chúng đày đoạ chúng tôi tệ hơn đối với loài súc vật, giam đói bỏ khát, và đem chút khoai ḿ ra khuyến dụ ḷng chính trực, lương tâm của chúng tôi. Chúng tôi thắng, trong cuộc đấu tranh cam go này, khi sức chịu đựng đến tận cùng mà một con người xương thịt có thể chịu đựng nỗi. Biên giới của người anh hùng và kẻ hèn mạt là ở đây, được thử thách bằng miếng cơm thừa của bọn cai ngục.

 

Ngày đầu tiên được chuyển ra trại giam công an, mở màn là cuộc khám xét hành trang tận t́nh, chúng tịch thu tất cả, tất cả, chỉ trừ chiếc chiếu rách, vài bộ áo quần tù in chằng chịt dấu Cải tạo. Thuốc men, thực phẩm bị tịch thu ráo trọi, để rồi sau đó, chúng phát ngày hai bữa khoai ḿ độc ăn không đủ bén môi với một muỗng nước muối. Ăn như thế, mà hàng ngày mười tiếng đồng hồ phơi ḿnh ngoài nắng gắt hay những cơn mưa triền miên của miền Trung nghèo, khắc nghiệt, lao động cật lực với những chỉ tiêu phi lư mà bọn cán bộ đặt ra. Dĩ nhiên chúng tôi biết cách đối phó để khỏi đem sức tàn của ḿnh phục vụ kẻ thù, lúc th́ giả đau, lúc th́ đồng ḷng lăng công, phá hoại hoa màu, dụng cụ...Sau cơn đói kéo dài cho đến ngày gần Tết, bọn cán bộ, qua các tên tay sai nhà trưởng, thi đua trật tự, cho biết: “Tết đến, Rờ Nượng khoan hồng Rân đạo (lại khoan hồng nhân đạo!) và sự quan tâm của Nănh đạo, các anh sẽ được ăn Tết đầy đủ, trại cho mổ hai con ḅ, ba con Nợn, có bánh đa, một gói thuốc Ná xây Rựng, kẹo Nạc, Rưa cải...” nghe mà thèm chảy nước miếng. Chiều ba mươi, nhà bếp tấp nập, tiếng dao thớt cụp cụp nghe sao mà êm ái lạ, hương thơm bay ngào ngạt, ai nấy chuẩn bị chén bát để lănh phần. Ḱa hai anh trực ngày đang khiêng thức ăn về, tiếng xôn xao nổi lên, chúng tôi bắt bạn với nhau để cùng chia xẻ cái Tết tù hẩm hiu. Nhưng buồn sao và thất vọng sao, khi trong cái thau cỡ số mười chỉ lỏng bỏng những nước và nước, tận đáy thau có vài miếng da ḅ cắt như miếng mứt dừa. Thau thịt “nợn” th́ gồm những miếng xương, tí “ṇng”, tí huyết; thau “rưa cải” th́ ḷng tḥng nguyên cây cải dài từ ngọn cho đến cuống rễ.(V́ muốn đạt chỉ tiêu về cân lượng, bọn CS chỉ cho thu hoạch cây cải sau khi nó ra hoa, đem về ngâm nguyên cây trong hồ nước muối, sau khi nhúng vào một cái chăo gọi là rửa qua.) Quí bạn có khi nào nhai thử miếng vỏ xe đạp th́ sẽ h́nh dung chúng tôi đă ăn da ḅ như thế nào. Dưa cải th́ thật sự nó dai nhách như cái bao tải, nhai qua nhai lại cho có chút nước xong nhả ra như các bà cụ già nhai trầu. Chỉ có cục xương heo, gặm cho hết phần gân có dính tí mỡ, tí thịt, rồi cất đi, ngày ngày cho thêm muối, kho lui kho tới, và sau vài tuần cố gấng dùng mấy cái răng hàm đă khập khễnh, tiêu hoá luôn phần mà cả con cho đói cũng chê. Chắc quí vị sẽ hỏi: “thế bao nhiêu thịt đi đâu?”. Thưa, thịt ngon th́ giao cho nhà bếp tiểu táo của bọn chỉ huy trại, thịt vừa th́ đại táo của bọn cán bộ, thịt bạc nhạc th́ bọn trật tự thi đua, nhà bếp thiếm xực.

 

Sau năm đó, hàng năm bọn Việt cộng cho phép gia đ́nh ra thăm định kỳ nữa năm một lần, và gửi  quà theo đường bưu điện hàng tháng v́ lư do được giải thích như sau: “Nhà Lước Lói chung, và Trại Lói riêng có nhiều khó khăn, không No cho các anh đầy đủ, v́ thế cho phép các anh được nhận quà để có sức khoẻ.” (mà Nao động cho chúng Ló). Thế là Tết đến, một số nhỏ các anh có gia đ́nh tương đối khá ăn Tết rất ra chi. Họ tụ tập với nhau từng nhóm năm, mười người hùn hạp làm đủ các thứ, mứt bánh, xào nấu từ mười ngày trước Tết, kéo dài cả mười ngày sau Tết. Chỉ tội nghiệp cho các anh mồ côi, nằm đắp chiếc chăn rách, ôm bụng đói nghe những tiếng nhai nuốt nhồm nhoàm, ngửi hương vị thơm tho của cá thịt mà tủi cho thân phận ḿnh. Chỉ những anh em nghèo dễ dàng chia sẻ với nhau. Thường, anh em chúng tôi ngồi tụm với nhau, kể ra vô số món ăn ngon do ḿnh tự sáng chế, ôi thôi dủ loại cao lương mỹ vị, chúng tôi gọi là ăn hàm thụ. Nhớ nhất là Phan công Danh, một nhạc sĩ, họa sĩ tài ba, chiều chiều làm bộ thơ thẩn gần chỗ hội trường, thấy vắng đôi mắt cú vọ của bọn trật tự, là nhanh như cắt, vặt lấy vặt để mớ cỏ kiễng trồng làm hàng rào. Đem về, ngâm với nước muối làm thành một thứ Salad độn cho đầy cái bụng lép. Những anh bạo hơn th́ làm bộ khai bệnh, trong lúc ngồi chờ xin thuốc, vọt ra vườn thuốc Nam hái trộm các loại rau do bọn y tá trồng vừa làm thuốc “dân tộc” vừa để cải thiện bữa ăn của họ.

 

Gần ngày Tết, bọn cán bộ thường yêu cầu anh em làm cho chúng lồng đèn. Tôi vốn khéo tay, được đội nhờ ở nhà làm. Dùng bất cứ thứ ǵ kiếm được, v́ bọn cán cũng nghèo, không mua nỗi giấy màu, mực viết. Màu th́ dùng lá cây làm màu xanh, hoa mồng tơi làm màu tím, thuốc đỏ làm màu đỏ, kí ninh làm màu vàng. Giấy th́ lượm lặt đủ thứ dán lại. Tôi ở nhà, lợi dụng thời gian nghỉ ngơi, lén nấu nướng ăn uống, lâu lâu bày giấy, hồ ra kẻo tên cán nóng ruột ṃ vào xem. Ngày giao nộp, tên cán vui vẻ cho anh em nhổ khoai ḿ, nấu một nồi ăn “bồi dưỡng” tại nơi lao động, trong khi  nó vào trại để lấy lồng đèn. Tội nghiệp, khi tôi đưa cho nó cái đèn, vẻ thất vọng hiện lên rơ rệt, v́ cái lồng đèn méo mó, màu th́ nguệch  ngoạc, tối tăm. Nó vội trở ra, trút cơn giận dữ đạp đổ thùng khoai ḿ sắp chín. Thế là ba mươi anh em đành tiu nghỉu nh́n những củ ḿ H 34 lăn lóc giữa đất đá. Sau này một vài anh em trách tôi, nhưng biết làm sao.

 

Mỗi năm trôi qua, tâm hồn chai ĺ thêm một tí. V́ chẳng hy vọng ngày về, nên dại chó ǵ mà lo lắng, ưu tư. Cứ coi như vô vi, sáng chui ra, chiều chui vào cái chuồng chật ních nhốt hàng trăm người, đủ thứ bệnh truyền nhiễm. Ơn trời cho ai nấy sống, cũng ơn trời kêu ai nấy dạ. Có nghe tin đồn sẽ có đợt về ngày Tết, ḷng cũng trơ đi, không mảy may suy nghĩ đến. Cho đến ngày Tết 1985, nghe đến tên ḿnh, ngồi giữa hội trường, tôi cũng chẳng vui, chẳng thấy mừng, lạ thật!

 

Nguyễn Tuân, trong cuốn “Hà Nội Ta Đánh Mỹ Giỏi” kể lễ chi tiết về khẩu phần ăn ngày Tết của Hà Nội dành cho tù binh Hoa Kỳ. Với cái bánh chưng, vài miếng thịt, ông đă dành nguyên một phần mười cuốn sách để ca ngợi ḷng nhân đạo của bọn Cộng sản khi cho tù ăn uống như thế. Tội nghiệp cho cái xă hội bần cùng, miếng cơm không ra ǵ cũng trở thành một thứ ân sũng quư báu và được nêu ra như một hành vi cao cả!

 

Giờ đây, gần mười năm sau ngày ra tù, gần bốn năm trên miền đất dung thân, hưởng thụ dủ thứ ngon vật lạ, hưởng thụ đủ thứ tự do, làm người với đầy đủ ư nghĩa, tôi vẫn lấy làm lạ sao con người có thể phải chịu đựng phi lư sự đối xử tàn tệ, dă man. Càng thương hơn, thông cảm sâu sắc với những nỗi bất hạnh của bạn bè, chiến hữu và đồng bào c̣n kẹt ở nơi tận cùng địa ngục đó.

 

Đỗ Văn Phúc - 1995


dienhanh.jpg

Tù Trong Tù

 

Trong căn pḥng tối mịt mù này, tôi không c̣n ư thức rơ rệt về thời gian. Tôi chẳng nhớ đă bị đưa vào cùm nơi đây bao nhiêu ngày rồi. Dễ cũng đến hơn hai tháng chứ không ít đâu. Những người tù thay phiên nhau vào ra ở pḥng hai bên đă nhiều bận mà tôi th́ vẫn cứ trụ tŕ trên chiếc bệ xi măng lạnh cóng này; với hai cổ chân xích cứng vào thanh sắt 12 li bằng hai chiếc cùm xoắn oan nghiệt.

 

Mỗi ngày, tên cai tù cùng một tên trật tự vào đưa cơm một lần. Theo thông lệ là phần ăn trưa. Có lúc chúng đem vào khoảng 9 giờ sáng, khi nhà bếp vừa ra chăo bánh khoai ḿ đầu tiên. Có khi măi đến giờ lao động buổi chiều mới nghe tiếng dép lẹp kẹp của chúng. Hai mươi bốn tiếng đồng hồ chờ đợi, chỉ để nhận một khi th́ vài lát khoai ḿ luộc; khi th́ một góc chiếc bánh cũng bằng bột khoai ḿ chỉ nhỏ bằng phần tư bao thuốc lá. Chẳng phải v́ đói mà chúng tôi mong sớm đến bữa ăn đâu. Chẳng qua là muốn cho ngày tháng qua mau kẻo nằm măi trong xà lim cũng buồn chán và kiệt sức quá đổi.

 

Tôi vào ra xà lim như người ta  đi chợ. Ở cái trại Xuân Phước này, một chút vi phạm cũng đủ là cớ để bọn cai tù đọc bản án cùm 7 ngày, 15 ngày như chơi. Chỉ cần tên ăng ten nào đó hót bậy một câu với cán bộ quản giáo , là thấy trước mắt hàng tháng dài trong nhà đá lạnh lẽo. Phân trại E chứa khoảng gần 700 tù nhân cải tạo. Đa số là thành phần quân nhân; có khoảng 15 phần trăm là các anh bị bắt sau 1975 do các hoạt động chống đối. Một số thuộc nhóm Vinh Sơn, một số thuộc lực lương Fulro bị bắt từ các tỉnh Tây Nguyên đưa về. Xung quanh phân trại E là các phân trại chứa tù h́nh sự có án từ 15, 20 năm đến chung thân, tử h́nh. Đi sâu vào phía núi khoảng 10 cây số là phân trại B, giam giữ các quân cán chính mà theo Cộng sản là thành phần nguy hiểm nhất. Tôi đă ở phân trại E gần 5 năm, sau 3 năm chuyển ṿng ṿng từ các trại ở Long Khánh, Biên Hoà ra Hàm Tân. Cứ mỗi lần chuyển trại là thấy bị đẩy xuống thêm một tầng của địa ngục; là thấy ngày về một xa xôi, và đi dần đến tuyệt vọng. Coi như chôn chặt cuộc dời trong cái thung lũng khỉ ho c̣ gáy này thôi. Ba năm sau cùng, tôi cũng đươc ưu ái cho vào phân trại B để nếm cho đủ mùi khổ nhục trần gian trước khi lănh tờ giấy ra trại trở về với gia đ́nh sau đúng 10 năm tṛn làm kiếp tù.

 

Mấy ngày trước đây, tên cán bộ an ninh vào mở cùm dẫn tôi ra làm việc. Làm việc có nghĩa là bị hỏi cung trong một không khí vừa hăm doạ vừa vuốt ve. Khi thanh sắt vừa được kéo ra, tôi nhanh chóng tháo cùm để cho hai chân vội vă hưởng ngay cái giây phút nhẹ nhàng hiếm có. Chiếc cùm do chính tên cán bộ lựa chọn sao cho siết cứng vào cổ chân, đă làm rách da ở phía nhượng chân tôi. Chỉ nửa giờ sau khi bị cùm là có ngay cảm giác đau đớn tột độ. Hai ḷng bàn chân úp sát vào vách không cho phép tù nhân ngồi thẳng dậy. Chỉ có hai vị thế. Một là nằm dài ra, hai là gượng nhổm lên một chút. Sức nặng của hai chân t́ lên thanh sắt nhỏ 10 li, dần dần như một khối đá nặng làm tăng lên sự đau đớn. Cơn đau này kéo dài ít lắm vài tuần lễ trước khi cơn đói và lạnh làm cho tù nhân gầy guộc nhanh chóng để cảm nhận sự lỏng lẻo của chiếc cùm.

 

Bị đưa ra hỏi cung cũng là một điều may mắn. Không cần biết những ǵ đang chờ đợi trong căn pḥng u ám kia, sau khuôn mặt gian xảo, độc ác của những tên cán bộ an ninh trại. Chỉ cần cho đôi chân được thoải mái vài giờ đồng hồ. Được ra ngoài nh́n thấy ánh sáng mặt trời, hít thở chút không khí trong lành, và nh́n thấy được sinh hoạt của anh em là vui lắm rồi. Nhất là một dịp để vục mặt xuống uống cho đă thèm từ bất cứ nguồn nước nào. Có khi là vũng nước đọng nơi góc tường, có khi là từ chăo nước rửa cạnh nhà bếp. Cũng có khi may mắn, ngắt đươc cọng rau sam, rau dệu ven đường. Đến rau trai dai nhách cũng không chừa.

 

Tuy có các vườn rau bát ngát xung quanh trại do anh em tù ngày đêm chăm bón, nhưng suốt năm dài, hoạ hoằn lắm chỉ được ăn vài ba bửa có rau tươi. Mà lại là các ngọn rau đă già dai như giẻ rách. Thứ nào non mềm th́ thu hoạch đưa ra nhà bếp cán bộ hết rồi. Anh em tù phải tự cải thiện lấy bằng các loại rau rừng hay lẹ tay chôm nhẹ từ các luống rau. Đa phần là chẳng rửa ráy ǵ, cho nhanh vào miệng nuốt vội kẻo bị cán bộ bắt gặp là mang hoạ vào thân. Người bên ngoài đă thế, th́ người trong xà lim càng thảm hại hơn. Chất rau, chất ngọt, chất thịt là những thứ chỉ có trong giấc mơ của người tù. Ngay cả nước uống, tù nằm xà lim cũng chỉ được cấp cho vừa đủ nhấp thấm môi. Mỗi ngày chừng một phần tư lon nước, đong ra được ba bốn muỗng canh thôi.

 

V́ thế, cứ được mở cùm ra ngoài là vui rồi. Đối phó ra sao ta sẽ liệu tính. Phải t́m cách để kéo dài thời gian hỏi cung; phải t́m cớ để được ra thêm, dù phải căng thẳng chuẩn bị để khỏi bị sơ hở, sa bẫy bọn an ninh mà hại cho bạn bè hay chính bản thân ḿnh.

 

Chút kinh nghiệm mà anh em chúng tôi truyền nhau là cứ chối, chối phăng tất cả, ngay dù có bị chúng nó nắm được đầu dây mối nhợ. V́ có nhận tội, th́ cũng bị cùm tiếp tục để cho chúng khai thác dài dài để mong truy ra thêm nhiều vấn đề khác. Mà có chối th́ cũng bị giam thêm cho đến khi nào chúng thấy không thể khai thác ǵ được. Khi thân xác sắp kiệt quệ, nghĩa là khi tên cán bộ đánh giá cái thân tàn ma dại kia không cho ra th́ sớm muộn cũng bị tử thần lôi đi. Đó là lúc chúng vêu mồm khoe khoang cái nhân đạo của đảng, của cách mạng cho ra khỏi cùm để học tập, lao động cho sớm tiến bộ. Chẳng phải chúng coi trọng cái sinh mạng khốn khổ của người tù đâu. Nhưng có những cái chết mà chúng thấy  không cần thiết bằng để cho sống lây lất mà lao động làm tôi mọi cho chúng cũng như một thứ lợi khí tuyên truyền để làm ổn định trật tự trong trại giam.

 

Lần nào ra làm việc th́ tên cán bộ cũng cho ngườI đem vào một bát cơm trắng, có chú thịt từ nhà bếp cán bộ. Đặc biệt là có vài điều thuốc thơm. Có anh em tù nhân khẳng khái không thèm nếm bát cơm ngon lành đó. Có anh cho rằng ăn th́ ăn, mà cứng đầu th́ cứ cứng đầu. Tội ǵ không ăn để cho cơ thể có chút sinh lực mà chịu đựng. Tôi đă ra làm việc tổng cộng ba lần trong thời gian bị cùm ba tháng vào dịp Giáng sinh năm 1979 v́ tộI chống đối. Ngày đầu tiên vào cùm, chúng lột sạch trên người chỉ chừa bộ áo quần tù bằng vải mỏng màu xám tro. Không chăn, không chiếu, không cả chiếc mù xoa, đôi dép. Trong cơn lạnh mùa đông của núi rừng, ngày đêm co ro run cầm cập. Cố nhắm mắt cho qua ngày đêm dài dằng dặc cũng không xong. Tấm lưng chịu lạnh riết rồi cơ quan bài tiết cũng bị hư luôn, không tự kiểm soát được việc tiểu tiện. Tự dưng thấy ướt mông là biết ḿnh đái; thấy chất nhờn chảy ra trong quần là biết ḿnh đă xuất tinh. Lần đầu, tên cán bộ Hiến gọi tôi ra khoảng mười lăm ngày sau khi vào xà lim, tôi đă đem chuyện Hồ Chí Minh cởi áo lạnh cho tù binh Pháp mà thuyết phục y; so sánh giữa kẻ thù ngoại chủng và người “trại viên cải tạo” đồng màu da để mong y có chút nhân tố nào c̣n sót lại trong thâm tâm. Đêm đó, khi trở về nhà cùm, tôi được tên trật tự quẳng vào cho chiếc chiếu. Đó là giây phút hạnh phúc tuyệt vời nhất. Hoá ra hạnh phúc của con người thật đơn giản và mang tính tương đối. Những ai sống sang giàu, nhung lụa có bao giờ tưởng tượng được một muỗng cơm, một bát nước, một tấm chiếu rách là cả một thiên đường của những người cùng khổ.

 

Nhờ tấm chiếu đó, tôi yên thân được thêm một thời gian để chịu đựng cơn đói và khát. Hai lần ra làm việc sau này cũng chẳng bên nào thắng lợi. Tôi chẳng đ̣i hỏi được thêm ǵ, cũng chẳng nhường một bước nào. V́ quả t́nh th́ có ǵ mà khai với báo ngoài việc tôi đă hành động chống đối và chịu sự trừng phạt đến mức này.  Việc anh em bên ngoài âm thầm tổ chức sinh hoạt Giáng Sinh, viết khẩu hiệu dán đầy pḥng giam, tôi biết rơ các bạn tôi ai hô, ai ứng. Chẳng Phạm Đức Nh́, Nguyễn Tú Cường, th́ Hoàng Ngọc Thủy, Phạm Văn Hải, Huỳnh Bá Vạn chứ c̣n ai vào đây. Nhưng tôi nằm trong cùm th́ tại sao mà hỏi tôi? Mà nếu tôi ở ngoài th́ có bắn chết, anh em tôi cũng chẳng khai nhau ra. Ai xui bị tó th́ rán chịu một ḿnh. Tụi Quang què, Cao hữu Vốn, Dương Đức Mai th́ bị coi như chó ghẻ; ai chơi với chúng mà chúng biết đầu dây mối nhợ. Tiếc là những năm sau cùng, Ngô Quang Ly phản thùng. Từ nhân vật tranh đấu rất anh dũng đă trở cờ làm ăng ten khi bị đưa vào phân trại B. Có lẽ thờI gian tù lâu qua làm cho anh ta mỏi ṃn, tưởng có thể lập công mà về sớm.

 

Hôm Chủ nhật vừa qua, trời Austin tự nhiên trở tính. Đang nắng cả tuần, nóng như lửa đốt, lại đổi bộ mặt âm u. Mưa lai rai suốt ngày; có lúc rất nặng hạt. Buổi Picnic kỷ niệm ngày Quân lực 19 tháng Sáu được chuẩn bị chu đáo đàng phải hủy bỏ. Cả mấy chục cân thịt ướp sẵn làm BBQ đành được đưa về nhà. Anh em tụ tập chừng ba chục hơn. Thôi th́ ta picnic trong nhà vậy. Sẵn bia, sẵn thịt, vui miệng kể chuyện tù. Nơi đâu cũng đầy rẫy đau thương, khổ ải. Từ Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, vào Gia Trung, Xuân Phước. Xương thịt của bao bạn bè để lại. Tuổi thanh xuân chôn vùi trong cay đắng, nhục nhằn. Sao ta lại chẳng nhắc lại ngày tháng lao tù để ấp ủ chút lửa căm thù đối vớ một bọn người lang sói. Ai không có căm thù với Cộng sản th́ dùng ngọn đuốc Nhân Quyền, xin chớ cho rằng những người cựu tù nhân sao cứ đem chuyện tù ra mà kể lể. Nó không phải là tấm huy chương mà coi là vinh giá, nhưng là vết hằn để đời mà chiêm nghiệm và cảm thông với những đồng bào anh em ta c̣n đang nằm trong nanh vuốt giặc.

 

Đỗ Văn Phúc

dienhanh.jpg