lyhuonga.jpg



















 
(Bắm các đề mục trên để vào đọc các bài khách)



























Tiêu đề: Lá vàng rơi Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


Xem lý lịch thành viênGửi tin nhắn
   

T̀M NƠI NÀO CHIẾC LÁ DIÊU BÔNG

Giáo Sư Hoàng Công Duyên

            Úc Châu.

 

“Em ôm ấp mối t́nh không dám ngỏ

Chưa gặp Diêu Bông chị đă theo chồng.

(Đặng Nguyệt Anh)

 

Đa số độc giả yêu mến văn chương đều biết Hoàng Cầm là một thi sĩ đa tài , đa t́nh, lăng mạn rất sớm. Theo dược tánh Đông Y, Hoàng Cầm cũng là tên một vị thuốc bắc rất đắng .Cái tên như là một thứ tiền định gán ghép cho thân phận, nên cuộc đời và nghiệp thơ của Hoàntg Cầm oan trái, hắt hiu, ch́m nổi.

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tăng Việt, sinh năm 1922, tại thôn Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh  Bắc Giang, đỗ tú tài Pháp năm 1940 tại Hà Nội, nhờ sự chắc chiu nuôi dưỡng của mẹ buôn nghề hàng xén. Cha dạy học, làm thầy lang, có lần bị Pháp bắt giam tù tại thị xă Phú Lạng Thương, v́ hoat động Việt Nam Quốc Dân Đảng. nhờ có khiếu bẩm sinh yêu thơ và thụ bẩm đặc biệt ḍng máu Quan Họ của mẹ được mệnh danh môt thời là bà  chúa Quan Họ Bắc Ninh. Hoàng Cầm lúc c̣n bé đă sớm có giọng hát và ngâm thơ hấp dẫn người nghe. Theo tập thơ “Về Kinh Bắc” viết xong năm 1940, một chiều thứ bảy đi học về, Hoàng Cầm thấy một cô gái láng giềng  đang cúi xuống mua ǵ trong bồ hàng xén của mẹ khi ngẩng đầu lên th́ cô ta là cả một thế giới lộng lẫy, mê say của Hoàng Cầm, làm cho chàng  phải ngẩn ngơ, choáng váng mặt mày ! Mặc dầu lúc đó chỉ là một  thằng bé nhí tám tuổi. Hoàng Cầm đă biết làm một bài thơ  t́nh lục bát , nắn nót để em gởi chị Vinh của em” và từ phút t́nh si sét đánh đó ( coup de foudre), chị đi đâu em đi đấy, măi măi “lẽo đẽo bụi hồng”, lúc nào cũng cách chị ba bước như h́nh với bóng.

           Khi vào vuờn ổi 

          Chị xoạc cành ngang, em gốc câyi

          Lúc đánh bài tam cúc :

          Chị gọi đôi cây, trầu cay má đỏ,

          Kết xe hồng đưa chị tới quê em

          Ghé coi bài, t́m hơi tóc ấm

 

T́nh yêu đơn phương lúc nào cũng nóng bỏng, réo gọi măi trong tim cậu bé si t́nh suốt mấy năm sau.

 

Một chiều mùa giáng sinh năm 1934, chi thoăn thoắt chạy ra cánh đồng làng Như Thiết đă gặt xong, c̣n trơ những rạ. Đương nhiên thằng em chạy theo sau ngay. Chị mặc váy “mốt” Đ́nh Bảng”, áo cánh lục mở gà, áo cánh sen xanh nhạt, ngoài chiếc “ghi lê” màu tím bó chẽn, thắt lưng hoa đào, quả thật kiêu sa, lộng lẫy như một nàng tiên ! Chị cuối xuống , loay hoay t́m…, t́m ǵ trong búi cỏ, lùm cây, từ bờ ruộng này sang bờ đê khác . Em trống ngực đánh thùm thụp, mê say theo dơi. Bóng hoàng hôn đă sẩm tím trên cánh đồng chiều.Chị vẫn t́m, t́m măi. Em đánh bạo hỏi : “ Chị Vinh ơi ! Chị t́m ǵ thế “? Chi đứng lên tươi cười, đôi mắt lúng liếng thật t́nh tứ nh́n Hoàng Cầm, như vừa triểu  cợt, vừa thách đố :” Ừ chị đi t́m cái lá…ấy đấy. Đưá nào t́m được cái lá….ấy, ta sẽ gọi là chồng !” chao ôi lúc ấy tim em đập mạnh như muốn vỡ toang lồng ngực, người nóng rưng rức giữa cánh đồng hiu hắc buốt lạnh.

Rồi một buổi chiều khác đi học từ thị xă Phú Lạng Thương vê muộn, nh́n chênh chếch bên kia đường, thấy ngôi nhà chị Vinh đóng kín cửa líp khác với thường lệ, Hoàng Cầm chạy vội vào nhà, chưa kịp hỏi th́ bà mẹ nghẹn ngào nói :”Nó đi lấy chồng rồi con ạ!”.Trái tim như bị một cơn địa chấn mạnh, Hoàng Cầm bật khóc, gục đầu vào mẹ, choáng váng xây xẩm mặt mày… Từ đó, t́nh yêu đầu đời không đến bến này đă làm héo hon trái tim Hoàng Cầm, khi rộn rực thê thiết, khi nhẹ nhàng “Nhớ thương lăng đăng như trầm hương bay”(Nguyên Thùy)” ám ảnh tội nghiệp cuộc đời Hoàng Cầm. Măi đến Thu 1959, trong một đêm đông lạnh buốt , Hoàng Cầm cứ trăn trở, thao thức, không chợp mắt ngủ được , th́ bổng nhiên có một giọng nữ đọc th́ thầm bên tai Hoàng Cầm bài thơ lá Diêu Bông mà Hoàng Cầm ghi lại như viết chánh tả :

          Váy Đ́nh Bảng buông chùng cửa vơng

          Chị thẩn thờ đi t́m

          Đồng chiều

          Cuống rạ.

          Chị bảo

          Đứa nào t́m được lá Diêu Bông

          Từ nay ta gọi là chồng.

          Hai ngày em t́m thấy lá

          Chi chau mày

          Đâu phải lá Diêu Bông

          Mùa đông sau em t́m thấy lá

          Chị lắc đầu

          Trông nắng vẫn bên sông

          Ngày cưới chị

          Em t́m thấy lá

          Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

          Chị ba con

          Em tim thấy lá

          Xoè tay phủ mặt chị không nh́n.

 

Bao nhiêu lần em thấy lá, chị chau mày, chị lắc đầu, chị mỉm cười, chị không nh́n, hết thẩy chị đều không chấp nhận là thật chiếc lá em cầm trên tay, “chưa gặp  Diêu Bông, chị đă theo chồng” (Đặng Nguyệt Ánh)”. Đi t́m Diêu Bông như dă tràng xe cát. Chiếc lá và người chi vương vấn măi, thấm đậm sâu vào tận tiềm thức, vô thức sốt cuộc đời.

          Từ thuở ấy

          Em cầm chiếc lá

          Đi đầu non cuối bể

          Gió quê vi vút gọi

          Diêu bông hời…

         …Ới Diêu Bông…!

Bài thơ lá Diêu Bông ra đời là như thế ấy , chứ kỳ thực Hoàng Cầm không thấy, không hiểu ,không biết lá Diêu Bông  là ǵ ở trên cơi đ̣i này ?! Phải chăng đó là bí-tích của ngôn ngữ thi ca.

Những năm 1980, hai vai đă gánh nặng tuồi đời, Hoàng Cầm vẫn c̣n nhớ chị với tấm ḷng tha thiết của đứa em như mười hai tuổi dạo nọ. Nhiều đêm chị hiện ra trong giấc mơ, giơ tay vẫy gọi , mê mẫn Hoàng cầm :

          Ước sao chị lim dim hát

          Tay gió đàn

          Lơi

         Yếm trắng tinh

         Ví chăng em cứ bơ vơ nhớ

         Nắng lợn cồn mây

         Lá hiện h́nh

         (Ước Nguiyện. HC.19/84)

Năm 1991, một thiếu phụ Sài G̣n, tên Đặng Nguyệt Anh “lụy “ thơ Hoàng Cầm, mở quán đạt tên Lá Diêu Bông, tỏ t́nh mời Hoàng Cầm từ miền Bắc vào Sài G̣n để bày tỏ niềm thương cảm :

          Quán nghèo em gọi Diêu Bông

          Cũng là như có như không vậy mà…

          Hoàng Cầm anh ở nơi xa

          Em nhớ anh Quưnh bắc qua nhịp cầu

          Gặp anh bày tỏ trước sau

          Diêu Bông hư thực biết đâu mà t́m ?

Quán Diêu Bông ở trên đường Hồng Thập Tự, mé sau Dinh Độc Lập, Sài G̣n. Mấy vần thơ nhận được như liều thuốc bổ tăng sức cho Hoàng Cầm vốn đă sẳn ốm yếu do vừa mới đau dậy, nhà thơ vội vă lên đường từ Hà Nội vào Sài G̣n theo tiếng gọi lá Diêu Bông. Hai bên đă hội ngộ,, đối thoại, trao đổi những vần thơ hết sức xúc động trong mấy buổi họp mặt các bạn yêu thơ nhạc Sài G̣n (nhạc sĩ Trịnh Tiến, Trịnh Công Sơn, nhà thơ Bùi Chí Vinh, Phạm Thiên Thư…) Hoàng Cầm làm bài thơ “giọt mưa phương Nam” đọc tặng Nguyệt Anh :

          “…Mưa đi về anh

          Mưa thành nước mắt

          Rung rinh ôm sao…

          Giọt mưa phương Nam

          Lệ nhoà qua mi.

Nhịp thơ khi đọc, như trận mưa rào t́nh cảm đổ xuống. Tiếng vỗ tay của thính giả không ngớt khi Đặng Nguyệt Anh đối ứng một bài thơ khác cũng lấy đầu đề “Giọt mưa phương Nam” đối tặng Hoàng Cầm :

          “…Nghe chiếc lá rơi trên đường thanh vắng

          Sông Đuống ơi ! Sông gợn nao ḷng

          Trời mưa phương Nam mây hồng nắng ấm

          Biết t́m noi nào chiếc lá Diêu Bông

          ….Em người phương Nam chưa lần ra Kinh Bắc

         Khắc khoải trong ḷng khi đọc lá Diêu Bông

         Diêu Bông hời hỡi Diêu Bông !

         (Đặng Nguyệt Anh, 1991)

Sau nửa tháng có mặt tại Sài G̣n ra mắt các bạn yêu thơ và cùng với nữ sĩ Nguyệt Anh đối tặng nhau nhiều bài thơ giá trị về mặt nghệ thuật, Hoàng Cầm phải ra đi cùng với những  trắc trở như trong quá khứ mà định mệnh đắng cay đă dành cho ông. Đ́ều thật lạ lùng khó luận giải là khuôn mặt nữ sĩ giống in người chị như hai giọt nước, và cũng mang tên la Nguyệt Anh trùng tên với Tịnh  Nguyệt Anh nương bút hiệu của Tuyết Khanh vợ cũ của Hoàng Cầm và là mẹ của Kiều Loan) hiện tu thiền ở Mỹ, đă làm những bài thơ đượm màu đạo vị :

           Từ Âu qua  Mỹ Chẳng nề

           Giấc hương quan gởi mộng về Việt Nam

           Bóng chiều mờ mịt sương lam

           Vườn hồng rạng rỡ thiền am độ đời

           (Tịnh Nguyệt Anh)

Hoàng Cầm nói, “Ôi thôi, nếu có sự trùng lập cái tên Nguyệt Anh trong câu chuyện th́ ngẫm cho cùng, nó cũng là một thứ dịnh mệnh, cái duyên số tạo hóa dành cho cuộc đời ḿnh này mất rồi” (Bút kư”Vài chuyện làng văn Hà Nội” của Lư Kiệt Luân. Nhóm Ngàn Lan xuất bản tại San Jose, Hoa kỳ 1994).

Nói về thơ Hoàng Cầm là vấn đề khá dài ḍng , khó nói vơi hết được trong mất trang của Đặc San. Điều phải nói đến là thơ ông dấy động, lên đường, kháng chiến rất sớm. “ Nhiều người tham gia kháng chiến, đến nay, vẫn c̣n nhớ măi cái cảm giác hừng hừng say sưa  những đêm đọc thơ Hoàng Cầm trrong các chiến khu thâm thẩm giữa núi rừng Việt Bắc” (Văn học Việt Nam dưới chế độ CS, Nguyễn Hưng Quốc, Văn Nghệ xuất bản,CA – Hoa kỳ 1991). Ông là trưởng đoàn văn công quân đội khu Việt Bắc. Bài thơ ca tụng chiến thắng sông Lô đánh Pháp được ngựi dân yêu mến trong thời gian trai trẽ cả nước lên đường.

          Sông Lô chảy xuống sông Hồng

          Sông Hồng trôi xuống biển Đông xa vời

          Biển Đông dội sóng vang trời

          Nhắc đi bốn bể những lời sông Lô…

            (Trường ca sông Lô)

Một người có tâm hồn nghệ sĩ phóng khoáng, luôn theo tiếng gọi của mộng mơ, của hồn thơ, không thể ngồi chung chiếu với Cộng sản được. Hoàng Cầm được gọi là con “ngựa chiến” trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Ông viết những bài thơ bút chiến vói cán bộ Cộng sản và cùng với người bạn tâm đắc là Trần Dần quyết liệt đ̣i văn nghệ phải được độc lập với chính trị. Hoàng Cầm có hai câu thơ tiêu biểu nhất được coi như là tuyên ngôn của phong trào :

          Dù sợi tóc c̣n cứa vào nhân phẩm

          Tôi c̣n thét to dù khan tiếng khàn hơi.

           (Sách đă dẫn - Nguyện Hưng Quốc)

Ông là kiện tướng kich thơ một thời. Đặc biệt ông viết bài thơ “Em bé lên sáu tuổi”trong thời ky cải cách ruộng đất để tố cáo sự man rợ độc ác tận cùng của Cộng Sản…Ông  bị bẻ bút bao vây kinh tế, phải bán rượu lậu bên vĩa hè để mưu sống.

Năm 1980. ông bị bắt giam tù ba năm về tội muốn chuyển tập thơ “Về Kinh Bắc” sang Canada in cho được nhanh chóng ra đời. Công an đến nhà tịch thu tất cả sách vở, bản nháp thơ chưa phổ biến. Tiếp đến là vợ tên Lê Hoàng Yến và con gái cũng đều nghệ sĩ”bị chết tức tưỏi cách nhau không xa ngày, cái chết rất mờ ám không được điều tra nguyên nhân” Ông mất vợ, mất con mất sách, mất thời gian ba năm trong nhà đá. Nhưng có một cái tồn tại lớn nhất đối với ông  là THƠ. Thơ ông đă đi vào ḷng người và củng như người bạn thơ  nào đó, ông cũng đă nhiều lần vịn vào thơ mà đứng dậy.

Trở lại bài thơ LÁ DIÊU BÔNG, bài thơ chứa nhiều ẩn dụ, nên có thể  được hiểu dưới nhiều góc cạnh khác nhau tùy theo tầm mắt nhận định của mỗi người yêu thơ. Người chị trong Lá Diêu Bông có thể hiểu là lư tưởng mà Hoàng Cầm đeo đuổi suốt cuộc đời, đi đầu non cuối bể, theo tiếng gọi vi vút của hồn quê và chứa chan niềm tim tưởng một ngày mai sáng tươi rực rỡ, tự do – thanh b́nh – no ấm sẽ trở lại thực sự trên đất Mẹ dấu yêu.

______________________________

 SÁCH THAM KHẢO :

1-Về Kinh Bắc, Thơ Hoàng Cầm,NXB Văn Học Hà Nội 1994

2-Men đá vàng, Truyện và thơ Hoàng Cầm,NXB Trẽ, Quận 1. Sàigon 1989

3-Hợp Lưu số 6,1992(Hoàng Cầm Ca, Phạm Duy, tr105-118)\

4-Thi Ca Việt Nam hiện đại(Quyển I, Trần Tuấn Kiệt,NXB Đại Nam,Hoa Kỳ)

5-Văn học Việt Nam,dưới chế độ Công Sản(Nguyễn Hưng Quốc, NXB Văn Nghê.CA 1991.)

6-Trăm  hoa đua nở trên đất Bắc(Hoàng Văn Chi,NXB Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hoá, Sài g̣n 1959)

7-Vài chuyện Làng Văn Hà Nội (Bút kư Văn học của Lư Kiệt Luân, NXB Nhóm Ngàn Lau, San Jose, CA 1984) ./.

Trở về đâu trang

 

lyhuonga.jpg






Mỗi chúng ta dần đánh mất bản thân như thế nào ?


Triết học - tư tưởng - tôn giáo

Học làm người

Khi một đứa trẻ đánh mất của quư ǵ đó, sở dĩ người ta phải căn vặn hỏi han xem quá tŕnh đánh mất diễn ra như thế nào, bởi nghĩ rằng qua đó, giúp cho nó biết giữ ǵn của cải và từ nay trở đi không đánh mất nữa.

Bảy bước dẫn tới tha hóa

1. Sự kiếm sống hằng ngày là một khái niệm lâu nay chúng ta hay lẩn tránh, và nó chỉ tồn tại như một giá trị ẩn, không được mang ra tính toán công khai. Nhưng phải thừa nhận nó vẫn là nhu cầu có thực, hàng ngày gây sức ép với mọi người. Có nhiều việc ta biết là trái đạo lư song vẫn phải làm, chẳng qua chỉ là nhằm kiếm thêm tiền bạc, để cùng với đồng lương c̣m cơi, duy tŕ sự sống của bản thân và gia đ́nh.

2. Các thói xấu lấn lướt ta mỗi ngày một ít. Thời gian đầu ta thường vừa làm vừa tự nhủ: chỉ chấp nhận đầu hàng lần này nữa thôi, sau sẽ không bao giờ tái diễn! Nhưng càng về sau, sự dằn vặt càng thưa thớt đi. Đời sống hàng ngày mang lại bao nhiêu căng thẳng mệt mỏi, khiến cho mỗi người chỉ có cách trượt theo thói quen và tránh nhất là gây thêm cho ḿnh những phiền phức.

3. Có một điều thường viện ra để an ủi, ấy là khi thử đưa mắt quan sát thấy không phải chỉ có riêng ḿnh làm bậy, mà chung quanh, cả những người có uy danh hơn, có trách nhiệm hơn, cũng đâu có giữ được lư tưởng “Hơi đâu gái góa lo việc triều đ́nh” - đây là lư lẽ của nhưng cái đinh ốc bé nhỏ.

4. Khái quát hơn, quả thật có nhiều việc thấy trái với lương tâm ta vẫn cứ làm, v́ xem ra chung quanh ḿnh, mọi người đều hành động như vậy. Mà thói quen trông trước trông sau mà sống lại đă ăn vào ta rất nặng. Ta sợ trở thành đơn độc, lại càng sợ mang tiếng chơi trội, dám khác mọi người (!)

5. Người ta ai mà chẳng vừa sống vừa để xem cách sống của ḿnh được đánh giá ra sao, ḷng tốt của ḿnh được đền đáp ra sao. Đến lúc thấy bao nhiêu cố gắng của ḿnh cũng vô ích, những người tốt như ḿnh thường thua thiệt, c̣n những kẻ xấu cứ được đủ thứ và lại leo cao măi lên - th́ đành ngán ngẩm buông xuôi (Sau khi phát hiện điều này, một số sẽ giăy giụa cốt vớt lại ít quyền lợi mà họ cho rằng họ đáng được hưởng. Từ ấy trở đi, họ dám sống rất tàn bạo).

6. Chắc chắn trong ta không bao giờ chết hẳn con người lư tưởng, con người tha thiết với sự nghiệp chung. Giả sử được xă hội dang tay d́u đỡ, th́ sau những lầm lỡ ban đầu, th́ cũng dễ tu tỉnh trở lại. Nhưng mọi chuyện quá ́ ạch. Có vẻ như điều mà xă hội mong đợi hơn cả ở các thành viên chỉ là những câu chung chung. Nảy sinh t́nh trạng phân thân, sống một đằng, nói một nẻo, và bởi lẽ, trước mặt bàn dân thiên hạ, giữa thanh thiên bạch nhật, ta vẫn luôn mồm nói điều tốt, nên càng yên tâm xoay xỏa kiếm chác trong bóng tối.

7. Đến lúc nào đó, ta chợt nhận ra rằng “quen mất nết đi rồi”, có lẽ sẽ không bao giờ hoàn lương được. Sự lo sợ có tới (lo sợ chứ không phải hối hận) và để giải ḥa, ta xoay sang cầu cúng, xin xỏ, hối lộ thánh thần. Mê tín chính là mắt xích cuối cùng của sự tự làm hỏng, nhờ có mê tín, các khâu hoạt động khác có thể diễn ra một cách êm đẹp. Đại khái giống như một thứ bảo hiểm!

Quá tŕnh tha hóa, quá tŕnh tự đánh mất ḿnh ở chúng ta có chỗ khác. Ai cũng chỉ sống một lần trên đời, cài ǵ mất đi vĩnh viễn không lấy lại được nữa. Vậy cần ǵ phải mang bản thân ra mà tra khảo cho thêm rách việc?! Có thể có một số người đă nghĩ thế và họ có lư của họ.

Ít ra chúng ta cũng nên ṣng phẳng với nhau. Sự đánh giá chính xác về bản thân nên được xem như một phần di sản của một lớp người đă trưởng thành để lại cho các lớp kế tiếp. Và nếu như nhờ thế một phần, mà những người sau ta sáng suốt hơn, không c̣n đánh mất ḿnh, tức là ta đă trở nên hữu ích.

Nhiều lúc ngồi một ḿnh tỉnh táo, đối diện với lương tâm, hẳn nhiều người phải công nhận là quanh ḿnh số người hiền lành thánh thiện ngày một ít, số khôn ranh kiếm chác ngày một nhiều thêm.

Và tự ta nữa, nghiêm khắc mà nói, ta cũng đang sống không được như ta mong muốn. Ở đây không nói tới những tội lỗi đă thành danh mục quản lư của pháp luật, mà chỉ nói tới những thói xấu nho nhỏ, những thói xấu vẫn bị coi bỏ qua: xoay xỏa vụ lợi. Làm dở báo cáo hay. Qua loa vô trách nhiệm... Khéo léo tô vẽ ḿnh trước cấp trên. Hùa theo đám đông, nói cho đám đông vừa ḷng chứ không dám nói sự thật...

Có phải là không ít th́ nhiều, hàng ngày chúng ta đă để cho những thói xấu đó lộng hành? So với con người lư tưởng mà ta muốn noi theo, khi bước vào đời, th́ thật ra ta đang xa dần, thậm chí có những phẩm chất tốt mà ta có từ lúc c̣n trẻ và cứ tưởng giữ được măi, bây giờ đă bị đánh mất....

 

Trở về đầu trang

 

lyhuonga.jpg