|

Ngày Đại tang 30-4 lại đén nổi buồn lại xâm chiếm tâm hồn,viết
nên bá thơ ' ĐƯỜNG XƯA' để riêng kính tặng các anh;
-NGHIÊM NGUYỄN
-TRẦN DUY HOÈ
-NGUYỄN VĂN VỶ
-NHAN HỮU HẬU
(K11/ĐT/LTVKTĐ)
' ĐƯỜNG XƯA'
Ta ngồi nh́n bóng trăng đi
Xuyên qua mây trắng như ghi nồi ḷng
Trời Xuân mà tưởng như Đông
Niềm đau vận nước chất chồng mang theo
Đường xưa áo trận lưng đeo
Ba lô nặng chỉu, núi đèo vượt qua
Tay gh́ chặt súng xông pha
Chiến trường ngang dọc khúc ca quân hành
Nhưng rồi thế nước mong manh
Ḍng sông chảy ngược tan tành quê hương
Trong
ta c̣n lại đoạn trường
Mang niềm cay đắng tiếc thương một thời
Tay buông súng ,nước mắt rơi
Xác thân ngả quỵ, đất trời ngửa nghiêng
Rồi mang thân phận xích xiềng
Ch́m trong cơi chết đảo điên thế cờ
Houston-Texas march 23-2009
Đồng Tiến Nguyễn văn Thọ
Quốc Hận 2008 Lại Viết Về Nỗi
Bất Hạnh Của QLVNCH
|
Hồ Đinh
|
|
Như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) từng nói ‘ Đất nước
c̣n th́ c̣n tất cả ‘.Bởi vậy sau ngày 1-5-1975, đồng bào Miền Nam đă mất
hết mọi thứ kể cả quyền làm dân, khi chính phủ và quân lực VNCH không c̣n
tồn tại, để gánh vác và bảo vệ họ như hồi Tết Mậu Thân 1968,
Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 và trăm ngàn chiến cuộc, khắp mọi nẽo đường
đất nước, cho tới ngay 30-4-1975 bị ră ngủ theo lệnh buông súng đầu
hàng.
Tự ngàn xưa, quân đội Việt Nam luôn nổi tiếng kiêu hùng, nên đă
đạt được nhiều chiến công hiển hách, trong suốt ḍng lịch sử
dựng và giữ nước của dân tộc, qua các cuộc b́nh Chiêm, phá Tống-Nguyện-Minh-Thanh,
khiến các nước lân bang Lào, Miên và cả Xiêm La phải kinh hồn bạt vía.
Là
con cháu của Tổ Tiên Hồng-Lac, chúng ta dù được sinh vào thế hệ nào chăng
nửa, ra đời trong nước hay nơi hải ngoại, vẫn luôn ngưỡng mộ
và hănh diện, về công đức vĩ đại của tiền nhân, trong đó miên viễn
vẫn là quân đội bao đời.
Với ư nghĩa thiêng liêng và cao quư trên, Quân Lực
Việt Nam Cộng Ḥa, được h́nh thành trong giai đoạn đất nước tạm
chia (1955-1975), chống lại cuộc xâm lăng bằng quân sự, của khối cọng
sản đệ tam quốc tế, do Việt Cộng Bắc Việt đảm nhận.
ĐÂY LÀ MỘT CUỘC CHIẾN SINH-TỬ, của quân đội MIỀN NAM, chống lại
cuộc xâm lăng của bộ đội MIỀN BẮC, để giữ lại phân nửa
gấm vóc giang sơn của Tiền-Nhân, không lọt vào gông cùm nô lệ của giặc đỏ.
Cho
nên, đây không phải là một cuộc chiến giữa CỌNG SẢN BẮC VIỆT VÀ
NGƯỜI MỸ, như giới truyền thông phương Tây, thời đó và ngay cả
bây giờ, đă bóp méo sự thật, mục đích đầu độc dư luận thế
giới, làm giảm uy tín của QLVNCH. Có như thế, Cộng Sản và phe ta trốn quân
dịch, mới vừa chửi Mỹ , vừa tô son vẽ mặt cho đạo quân tiền
phong cong sản tại Đông Nam Á, tức Bắc Việt có một chính nghĩa lư tưởng,
đánh đuổi Mỹ-Ngụy cứu nước.
Đây cũng chính là nổi thảm
thê chất ngất của người Lính Miền Nam, trong hai mươi năm khói lửa.
V́ định kiến, v́ buông xuôi, v́ thủ đoạn con buôn quốc tế, tất cả
đă dồn ép QLVNCH vào chân tường, trong cuộc chiến đấu đơn độc,
không hậu phương, không một chút t́nh quân-dân, cá-nước
Hai mươi năm
chiến đấu, đời lính buồn ơi là buồn, trước mặt phải trực
diện với một kẻ thù gian xảo độc ác, mất hết thiên lương nhân
tính v́ đă bị chủ nghĩa nhồi sọ, cho nên chỉ biết có giết người
để đạt mục đích được khắc sâu trong da thịt. C̣n sau lưng
bị thọc bởi hậu phương vô t́nh bạc bẽo và cuối cùng trên đầu
là đồng minh với đại bàng, luôn ŕnh rập để phản bội và bán đứng.
Mới đây có Nguyễn Thuỳ và Vũ Ngọc Tiến, đă dùng bút vẽ lên bức tranh
vân cẩu của cuộc chiến vừa qua, cho ta thấy chỉ có Bộ Đội Bắc
Việt hay Việt Cộng, v́ thèm khát đàn bà, nên chỉ có chúng mới hăm hiếp phụ
nử, chứ người lính VNCH đâu có lư do ǵ, để mà cuồng dẩm cả xác chết
của nử cán bộ VC ?
Cảm nhận đựợc thân phận nhược tiểu
của đất nước và sự bất hạnh của dân tộc, nên người lính
chấp nhận hy sinh đời trai, để làm tṛn bổn phận cùng trách nhiệm của
một con người có tim óc, cho tới trưa ngày 30-4-1975, khi TT.Dương Văn Minh bắt
buông súng đầu hàng.
Sau đó, cọng sản Hà Nội thẳng tay cướp bóc,
chẳng những mọi chiến lợi phẩm của chính phủ VNCH từ công ốc,
ngân khố, quân trang dụng, trong đó có mười sáu tấn vàng y, của quốc gia, được
Nguyễn văn Hảo giữ lại để nạp dâng công cho Bắc Bộ Phủ. Tệ
nhất là VC táng tận lương tâm, cướp luôn tài sản mồ hôi nước mắt
của đồng bào, mà trong số này, có nhiều mẹ chiến sỉ, đă từng nuôi
dấu cán binh bộ đội, ủng hộ vàng bạc lúa gạo cho chúng, trong suốt thời
gian chiến tranh.
Ngoài việc cầy mồ người chết để trả thù
bị thua VNCH trên chiến trường, VC c̣n hành hạ những phế binh, cô nhi tử sĩ
bị kẹt trong nước, với đủ thủ đoạn học được
từ KGB, mà mới nhất là chiến dịch ‘ đuổi tận, giết tuyệt
‘ các thành phần trên, đang sống tại các cḥi, dựng trong Nghĩa Địa Phước
B́nh, Sài G̣n.
Th́ ra cách mạng bảy mươi năm, để giải phóng đất
nước, mục đích cũng chỉ có thế thôi, nên từ đó theo thời gian, hằng
ngàn huyền thoại về ‘ Người Bộ Đội Miền Bắc, Vượt Trường
Sơn Vào Nam Đánh Mỹ Cứu Nước ‘, đă theo lớp son phấn đảng tham
nhũng, tham tàn, tham địa vị, tan biến theo lớp sóng phế hưng của cuộc
đổi đời mạt lộ.
Ba mươi ba năm tan hàng ră ngũ, quân-dân Miền
Nam đă lần lượt đồng hành, qua hết chín tầng địa ngục trần
gian nơi thiên đàng xă nghĩa. Nhưng người lính Miền Nam, sinh ra trong khói lửa,
trưởng thành chốn chiến trường, nên thễ xác dù đă bị bầm giập
tan nát, tinh thần cuả người lính vẫn nguyên vẹn và không ai có thể thay đổi
hay ngăn cản lư tưởng của họ.
‘ dấu binh lửa nước non
như cũ kẽ hành nhân qua đó chạnh thương phận trai già rủi chiến
trường chàng Siêu, tóc đă điểm sương mới về .’ (Chinh Phụ
Ngâm Khúc )
+ NHỚ ƠN ANH : NGU7ỜI LÍNH BẤT HẠNH VNCH
Hai mươi năm
chinh chiến, người Lính VNCH đă có 250.000 gục ngă trước đạn thù và nửa
triệu thương binh chịu đời bất hạnh v́ một phần cơ thể
đă gửi lại sa trường. Hiện nay Chính Phủ cũng như QLVNCH không c̣n nửa,
nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi
đời mạt kiếp, th́ lư tưởng và danh dự của Người Lính , càng được
sáng tỏ, trong niềm hănh diện chung của quân-dân Miền Nam.
Lịch sử của
một quốc gia là những ǵ trung thực , mà người dân của nước đó đă
ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc
nội chiến của Hoa Kỳ , xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ
của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận,
đă không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận.
Đă vậy, Hoa Kỳ c̣n ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa
nằm xuống trong cuộc chiến, v́ lư tưởng riêng của họ.
Thế chiến
2 kết thúc, Ṭa Án quốc tế Nuremburg, chỉ kết tội những Đầu Sỏ trong
phe Trục, mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Đức-Ư-Nhật..
Năm 1920, Lănh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta, bị người Ư bắt
và tử h́nh. Nhưng chính Tổng Tư Lệnh Ư tại Bắc Phi , là người đă ở
lại pháp trường, để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya,
vốn là kẻ thù của người Ư lúc đó.
Tại VN, khi thực dân Pháp đánh
chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các
tướng lănh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương,
Hoàng Diệu.. đă oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là
người Pháp, tôn kính mặc niệm như chính các tướng lănh của họ. Sau rốt
là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đă tham chiến tại VN, trong số này hơn
50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đă được quốc
dân Hoa Kỳ trả lại công lư và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực,
cũng như an giấc ngh́n thu, bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất
cả đă chết cho lư tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.
Người
lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đă phơi gan trải
mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng
bào, bị cọng sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại
gần hết cuộc chiến, ở đâu có cọng sản khủng bố cướp
bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự diện của người lính Miền Nam.
Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến
nạn, t́m đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng,
để trở về vùng quốc gia, nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến
hay người cán bộ áo đen B́nh Định Nông Thôn, Cán Bộ Xă Hội.. mới biết
được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa
dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người
VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa
khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc
muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót
cho cảnh ba đồng, ba cộc, của kiếp lính Miền Nam.
Trong nổi chịu
đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đă không bao giờ
được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để
yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại
họ c̣n bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật
vậy, khi cầm súng th́ cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng
minh và lănh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về th́ bị giặc trả
thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.
Tiếp
tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cọng sản,
là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cọng sản
Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một ḿnh một cơi, thao túng vẽ vời
huyền thoại, bóp méo lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN
đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng.
Nhưng rồi gieo gió th́ phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên,
đă đưa toàn bộ đảng cọng sản VN ch́m trong cái vũng bùn ô nhục, khi
bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi
tưởng.
Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết
có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng
cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều.
Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự,
th́ đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đă biết
được sự thật cùng ư nghĩa của cuộc chiến mà người Miền
Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút
cuối cùng. Ngoài ra c̣n có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu
phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đ́nh
người dân, qua cuộc đổi đời, cũng đă trở thành nạn nhân tận
tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có
nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đă công khai giúp và theo chúng,
đâm sau lưng đồng đội, đồng bào ḿnh.
+ NGƯỜI LÍNH VNCH BỊ
TRÍ THỨC THIÊN TẢ ĐÂM SAU LƯNG :
Trong lúc đất nước đang lâm nguy v́ giặc
xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng
lớp của xă hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ
lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để
lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước
lầm than, muôn người khốn khổ v́ chiến tranh do Hồ Chí Minh và cọng sản
mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, th́ tại hậu
phương Miền Nam có một số người tự nhận ḿnh là trí thức, giáo sư,
tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân th́, mập mạnh nhưng lại
t́m cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lư do để được
hoăn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu v́ sợ chết
mà trốn đi lính, th́ cũng c̣n có thể tha thứ nhưng những hạng người
này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước ḿnh, đang
trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn
toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lư tưởng đă thu lượm được,
qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên
đàng xă hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương,
thừa mứa vật chất, gái t́nh và thời gian để đâm thọt, phá hoại.
Ngày
nay ai cũng biết, cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa
dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo
lư tưởng,ai muốn gọi thế nào cũng đều có ư nghĩa riêng với người
trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, th́ đây là một cuộc chiến đấu
chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của
hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương
tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lănh đạo của đất nước.
Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa
để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi
bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng
với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng
trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.
Chính bọn trí thức thiên
tả này, đă lợi dụng tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách,
sáng tác nhạc nhụa bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm
sau lưng chiến sĩ tuyền tuyến, đang liều chết để bảo vệ
đồng bào, trong đó có cả sinh mạng kư sinh của chúng.
+ MỸ BÁN ĐỨNG VNCH
CHO CỘNG SẢN :
Bắt đầu từ ngày 13-5-1968, Mỹ và Bắc Việt đă
lén lút đi đêm với nhau tại Paris, để t́m cách đổi chác trên thân xác của
VNCH. Nhưng kẻ cắp gặp bà già, nên dù hằng tuần có gặp nhau, Kissinger và Lê Đức
Thọ vẫn không đạt được một thỏa thuận nào. Theo tiết lộ
mới đây của Kissinger, trong hồi kư ‘ The Kissinger Transcripts ‘, trong đó đă
ghi chép đầy đủ về mọi mánh lới, thủ thuật của Mỹ để
ve văn Trung Cộng, chống lại Liên Xô vào tháng 1-1972. Cũng theo sách dẫn chứng trên, th́
Kissinger đă làm đủ mọi thủ đoạn, để đạt cho được
mục đích. Trong cuộc, VNCH là con vật tế thần, mà cặp Nixon và Kissinger đă
xử dụng, nên cuối cùng dẫn tới sự chấp nhận những điều kiện
phi lư, mà Hoa Kỳ dùng bùa viện trợ, ép buộc VNCH phải kư kết trong bản hiệp
định ngưng bắn năm 1973. Riêng đối với Bắc Việt, mặt thật
cũng đâu có hănh diện ǵ hơn VNCH, trong cuơng vị làm đầy tớ Nga-Tàu. Bởi
vậy, khi Liên Xô thấy Mỹ và Trung Cộng đă liên kết với nhau, chắc chắn
Tàu Cộng sẽ theo Mỹ, bắt VC ngưng bắn có điều kiện. Bởi vậy,
một mặt LX viện trợ tối đa cho Hà Nội, đồng thời ra lệnh cho
VC mở hết mặt trận này tới chiến dịch khác, mà lần cuối cùng là ngày
quốc hận 30-4-1975, đưa cả nước VN trong ba mươi ba năm đắm
ch́m trong cảnh nghèo đói, lầm than, hận thù v́ vũng bùn ô uế của cái gọi là
thiên đàng xă hội chủ nghĩa.
Người Mỹ đă kư kết hiệp định
ngưng bắn Ba Lê, chỉ với mục đích rút quân và đem tù binh về nước,
để Nixon đắc cử thêm một nhiệm kỳ tổng thống Mỹ và Kissinger
tiếp tục giữ chức lớn trong chính quyền Hoa Kỳ. Ngoài mục đích trên,
người Mỹ không cần đếm xỉa ǵ tới tương lai cũng như số
phận của người Việt, nước Việt.
Sau này, khi VNCH đă sụp đổ,
nhiều nhân vật quốc tế liên quan tới cuộc chiến VN, đều phê b́nh sự
tắc trách của Hoa Kỳ, khi dựng lên cái quái thai hiệp định ngưng bắn,
để bán đứng đồng minh của ḿnh. Chính TT. Nixon cũng đă xác nhận lỗi
lầm của ḿnh trong tác phẩm ‘ No More VietNam’ rằng tôi đă thấy những
vấn đề nan giải của hiệp định Ba Lê nhưng quan trọng nhất trong
thỏa ứơc này là đă không bắt buộc Hà Nội rút hết bộ đội đă
xâm nhập về Bắc. C̣n M. Gauvin , đại sứ Canada tại Hy Lap, nguyên chủ tịch
uỷ hội kiểm soát quốc tế (CICCS) tại VN, đă tuyên bố ‘ VNCH bi sụp
đổ hoàn toàn do quyết tâm bỏ rơi của Hoa Kỳ. Riêng cái hiệp định
ngưng bắn kư kết tại Ba Lê năm 1973, đă không phản ảnh được ư
muốn và nguyện vọng của người dân Miền Nam, là muốn sống ḥa b́nh và
không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa cọng sản, nên ngay từ năm 1954, họ
đă phải bỏ miền bắc để vào Nam, chạy trốn VC’. Nhưng phê b́nh
một cách thẳng thắn, là Sir R.Thompson ‘ Sự sống c̣n của Nam VN, đă bị
người Mỹ tước đoạt hay nói thẳng là bán đứng. Có làm như vậy,
Hoa Kỳ mới tránh cho nước ḿnh bị khỏi bị sâu xé tan nát. Một điều
nghịch lư khác là cọng sản Bắc Việt, bị bó buộc tới bàn hội nghị,
không phải để cứu họ, mà là cứu nước Mỹ. Nên dĩ nhiên Mỹ phải
đem đồng minh VNCH ra bán đứng, để đền ơn cứu mạng ‘.
Ngoài
vấn đề phủi tay tại Nam VN sau khi đă đem được tù binh và hài cốt
quân Mỹ về, quốc hội Hoa Kỳ c̣n bội ước, khi liên tục biểu quyết
các đạo luật ngăn cấm can thiệp bằng quân sự của Mỹ tại Nam
VN, cắt giảm dần quân viện, không chịu hoán đổi quân trang quân dụng, như
các thỏa ước đă kư kết . Sự bất công vô lư, đến đổi Tuỳ
Viên Quân Sự (DAO), tại Nam VN, đă phải viết ‘ Người Lính VNCH do đó, đă
phải chấp nhận sống với những nhu cầu, dưới mức b́nh thường,
làm cho tinh thần người chiến sĩ xuống thấp, v́ bị hạn chế các phương
tiên ngăn chống giặc ‘.Chỉ có Robert S McNamara, cựu bộ trưởng quốc
pḥng thời TT.John Kenedy, th́ vẫn ngoan cố để chạy tội, quên hết trách nhiệm
của ḿnh, trong tác phẩm ‘ In Retrospect : The Tragedy and Lessons Of VN ‘, bêu xấu và đổ
hết trách nhiệm làm mất nước cho QLVNCH.
Sự thật, khi viết về
Quân Lực VNCH, hầu hết các nhà quân sử trên thế giới cũng như các Sử Gia
hiện tại của VN như Nguyễn Khắc Ngữ, Chánh Đao, Phan Nhật Nam, Ttần Đại
Sỹ, Phạm Huấn, Nguyễn Đức Phương, Phạm Phong Dinh, Trần Gia Phụng,
Nguyễn Lư Tưởng, Vi Anh, Phạm Trần, Huy Phương.. kể cả Trung Tâm Ca Nhạc
Kich Hải Ngoại ASIA do các con chim đầu đàn Trúc Hồ, Nam Lộc, Việt Dũng
điều khiển, đều đứng chung trên quan điểm ca tụng tinh thần
hy sinh và trách nhiệm của người lính VNCH, đối với đất nước
và đồng bào.
Nhờ thiện chiến, có kỷ luật nghiêm minh, biết bổn
phận, nên trong suốt cuộc chiến hai mươi năm, dù lúc nào VNCH cũng bị Bắc
Việt tấn công lén như Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972.. nhưng Họ đă can trường
lật ngược hoàn cảnh, để chuyển thắng thành bại. Hầu hết lính
và các cấp chỉ huy ngoài chiến trường, đă quyết tử trong giờ thứ
25, tới khi được lệnh bắt buông súng của Dương Văn Minh, mới
chịu ră ngủ.
Mới đây có nhiều tác phẩm được công bố như
The Pategon Papers, Fires In The Lake của Frances Fitzgeral, The Best and The Brightest của Halberstam và nhất
là các hồi kư của Kissinger.. đều cho thấy từ khởi đầu cuộc chiền,
đến khi tàn cuộc, cho thấy người Mỹ luôn luôn là đạo diễn chính trong
thảm kịch VN. Trong lúc cọng sản Bắc Việt, được Tập Đoàn Cọng
Sản Quốc Tế cả Liên Hiệp Quốc, viện trợ quân sự thả dàn, th́ QLVNCH
bị Hoo Kỳ qua Viện Trợ, chèn ép bắt bó tay, nên phải chiến đấu trong
nghiệt ngă để sinh tồn.
Theo Harry H Noyes, qua tác phẩm ‘ Herdic Allies’,
với tư cach là một sĩ quan cao cấp của Mỹ , đă chiến đấu nhiều
năm ngoài mặt trận, bên cạnh QLVNCH, nên đă có những nhận định rất
thẳng thắn, trái ngược với mồm mép mệng lưỡi bọn nhà báo và chính
trị con buôn Mỹ và tây phương. Theo tác giả trên, th́ thái độ bêu xấu hay bóp
méo sự thật, nhắm vào QLVNCH, chẳng qua chỉ là sự kỳ thị chủng tộc
thường thấy của bọn da trắng, lúc nào cũng tự xem ḿnh là văn minh, đứng
trên các dân tộc khác. Một điều quan trọng khác, là suốt cuộc chiến đẫm
máu tại Nam VN, đa số dân tây phương và Hoa Kỳ, đă bị điệp viên của
khối cọng sản, củng như KGB của Liên Xô, mua chuộc hay tuyên truyền. Do đó
lúc nào họ cũng có cảm t́nh với Bắc Việt, nên cứ bóp méo sự thật, để
khinh bỉ VNCH.
Bảo rằng QLVNCH không chịu chiến đấu, trốn trách nhiệm,
chỉ muốn khoán trắng cho quân đội Mỹ, kể cả sự oanh tạc Miền
Bắc, là một ngang ngược và phi lư. Để trả lời, nhiều người đă
hỏi ngược lại người Mỹ rằng ‘ vậy th́ từ năm 1955-1965
và cuối năm 1971-4/1975, khoảng thời gian đó, người Mỹ hoặc chưa tới
hay đă rời VN, vậy ai đă chiến đấu với bộ đội Bắc Việt
?’. C̣n về vấn đề oanh tạc Miền Bắc, từ đầu tới cuối
có khi nào Hoa Kỳ giao trách nhiệm cho Không Quân VNCH, cũng như chịu cung cấp cho họ
các loại phi cơ chiến đấu tối tân, để chiến đấu cho có hiệu
quả. Một bí mật khác, là người Mỹ dành độc quyền oanh tạc Miền
Bắc, để thi hành lệnh của Hoa Thịnh Đốn, là đem gần hết số
bom đổ xuống biển hay núi rừng không phải là mục tiêu quân sự cần tiêu
diệt. Bởi vậy làm sao dám giao nhiệm cho KQ.VNCH ?
C̣n trong thời gian Mỹ tham
chiến tại VN, mở các cuộc hành quân tiêu diệt cọng sản. Tất cả đều
là HÀNH QUÂN HỖN HỢP, giữa quân ĐồngMinh-Hoa Kỳ và VNCH, tiêu biểu như HQ Cedar Faces
tại Vùng Tam Giác Sắt (B́nh Dương-Hậu Nghĩa), đầu tháng 1-1967, tiếp theo
là HQ Toledo, mục đích càn quét Chiến Khu C và Cục R, do Lực Lượng hỗn hợp,
gồm Lữ Đoàn 173 Nhảy Dù-Hoa Kỳ cùng 2 Tiểu Đoàn 33-35/Biệt Động Quân/VNCH đảm
trách. Đặc biệt tại Điện Biên Phủ KHE SANH cuối năm 1967, vẫn có quân VNCH
tham dư, đó là TD37- BDQ, thuộc Liên Đoàn 1/BDQ của Quân Đoàn I.
Sau cuộc chiến,
để chạy tội bán đứng đồng minh, cũng như phản bội Tổ
Quốc và đồng bào ḿnh, Hoa Kỳ và bọn khoa bảng-trí thức thân cộng Miền
Nam, những người muôn năm trong ḍng sử Việt, được bia đời phong
cho danh hiệu là ‘ TRI’ THỨC CHỒN LÙI’, c̣n các lănh tụ cọng sản như
Stalin, Mao Trạch Đông, kể cả Hồ Chí Minh, coi rẻ hơn CỤC PHÂN NGƯỜI v́
suốt kiếp chẳng làm được một điều ǵ tốt hay ích lợi, để
giúp cho đất nước và đồng bào. Bọn trí thức này ôm chân níu áo Người
Việt tị nạn khắp các nẻo đường hải ngoại, trong lúc vẫn sống
cao sang quyền thế như lúc c̣n trà trộn trong các Đại Học, Chùa-Nhà Thờ, Ṭa Báo,sân
khấu, pḥng trà.. và trên các trang sách-thơ cuối tuần, vẫn chứng nào tật nấy,
không hề thay đổi lương tâm một chút ǵ, dù phong trần đă nếm, vinh nhục
bề bề và trên hết là vẩn bám vào Người Việt Tị Nạn Cộng Sản
để mà ra báo, làm báo và sinh tồn, dù rằng chúng đă nói là ĐĂ ĐI HẾT BIỂN NAY PHẢI
VỀ NGUỒN nhưng lại không dám bán nhà, bán chùa, bỏ sở và cuộc sống thừa
mứa tại Mỹ, để về sống với Việt Cộng, đạo pháp để
hưởng Vinh Hoa Phú Quư, Tự Do Dân Chủ, tự do tôn giáo, tự do quyên tiền cúng dường
của khách thập phương.. trong Xă Nghĩa Thiên Đàng, như chúng hằng ca tụng.
Chính
người Mỹ và bọn trí thức-khoa bảng thân cộng này, trước sau vẫn
đổ trách nhiệm làm sụp đổ Miền Nam cho các cấp lănh đạo của
VNCH. Riêng sự bảo rằng VNCH không có lănh đạo xứng đáng, ngang cơ để
đối đầu với cáo già Hồ Chí Minh của Bắc Việt, sau khi TT Ngô Đ́nh Diệm
bị hạ sát vào ngày 1-11-1963, là điều suy nghĩ quá đáng và đâu có khác ǵ việc
Mỹ nói QLVNCH không chiến đấu, mà chỉ giao hết cho quân đội Hoa Kỳ.
Nhưng
mai mĩa nhất vẫn là lời xác nhận của Kissinger , khi cho bạch hóa các tài liệu
cũ liên quan tới chiến cuộc Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975 ) ‘ Mỹ
đă chơi với Trung Cộng từ năm 1972, vậy th́ bán Miền Nam VNCH cho Cộng
Sản Quốc Tế Bắc Việt, qua Hiệp Định Paris 1973, cũng đâu có ǵ lạ
? ‘
Sự thật, QLVNCH từ 1960-1975, đă có rất nhiều cấp chỉ huy
tài ba lẫn đạo đức, văn vơ vẹn toàn. Họ được đào tạo
từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Đông Nam Á thời đó như Trường
Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Trường Bộ Binh Thủ Đức, Trường Đại
Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học
Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát.. cũng như Trường Đại Học Quân Sự.
Ngày
xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật
hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối t́nh xưa
:
‘..xin v́ chàng, xếp bào cỡi giáp xin v́ chàng giũ lớp phong sương v́
chàng tay chuốc chén vàng v́ chàng điểm phấn đeo hương năo nùng.. ’ ’ (
Chinh Phụ Ngâm - Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm)
Ngày nay người chiến
sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, v́ suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt
trận th́ chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại
bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.
Thử
hỏi trong cơi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Trong lúc đă
có không biết bao nhiêu người hiện nay, đang sống thản nhiên khắp các nẻo
đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn
sống nhờ sự bảo bọc của lính. Trong số này có rất nhiều người
đang dấn thân lo chuyện non nước. Không biết trong tâm tư của họ, có một
giây phút nào, do lương tâm xao động, khiến họ chợt nghĩ tới những
người xưa đă VỊ QUỐC VONG THÂN ? Cũng may hầu hết người Miền
Nam, xưa nay vẫn biết ơn người lính năm nào, nhất là sau ba mươi năm
qua, đă biết hết cảnh đổi đời oan nghiệt.
Xưa NGƯỜI
LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những
người lính già c̣n sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm
nào, đă và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC
QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện
nay đang hưởng tại quê người.
‘..tội nghiệp, đời trai
chưa thỏa chí sa trường dung ruổi đă phơi thây đoàn quân hùng liệt
nay về đất hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy chiều chiều đứng
ngóng ngàn mây nổi mà khóc quê hương khuất bến bờ nhớ lúc hát rừng nơi
chiến địa mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô.. ’ ’
Xóm Cồn Mùa
Quốc Hận Tháng 4-2008 HỒ ĐINH
|

|