doichienbinh.jpg



















                        ĐỜI CHIẾN BINH

 phucdiendandongtiengif.gif




























hinh1_1anh38.jpg

 
Ngày Đại tang 30-4 lại đén nổi buồn lại xâm chiếm tâm hồn,viết nên bá thơ ' ĐƯỜNG XƯA'  để riêng kính tặng các anh;
        -NGHIÊM NGUYỄN
        -TRẦN DUY HOÈ   
        -NGUYỄN VĂN VỶ
        -NHAN HỮU HẬU
        (K11/ĐT/LTVKTĐ)
 
' ĐƯỜNG XƯA' 
 
 
Ta ngồi nh́n bóng trăng đi
Xuyên qua mây trắng như ghi nồi ḷng
Trời Xuân mà tưởng như Đông
Niềm đau vận nước chất chồng mang theo
 
Đường xưa áo trận lưng đeo
Ba lô nặng chỉu, núi đèo vượt qua
Tay gh́ chặt súng xông pha
Chiến trường ngang dọc  khúc ca quân hành
 
Nhưng rồi thế nước mong manh
Ḍng sông chảy ngược tan tành quê hương
Trong ta c̣n lại đoạn trường
Mang niềm cay đắng tiếc thương một thời
 
Tay buông súng ,nước mắt rơi
Xác thân ngả quỵ, đất trời ngửa nghiêng
Rồi mang thân phận xích xiềng
Ch́m trong cơi chết đảo điên thế cờ
 
Houston-Texas    march 23-2009   
  Đồng Tiến Nguyễn văn Thọ
 

Quốc Hận 2008
Lại Viết Về Nỗi Bất Hạnh Của QLVNCH



Hồ Đinh


Như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) từng nói ‘ Đất nước c̣n th́ c̣n tất cả ‘.Bởi vậy sau ngày 1-5-1975, đồng bào Miền Nam đă mất hết mọi thứ kể cả quyền làm dân, khi chính phủ và quân lực VNCH không c̣n tồn tại, để gánh vác và bảo vệ họ như hồi Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 và trăm ngàn chiến cuộc, khắp mọi nẽo đường đất nước, cho tới ngay 30-4-1975 bị ră ngủ theo lệnh buông súng đầu hàng.

Tự ngàn xưa, quân đội Việt Nam luôn nổi tiếng kiêu hùng, nên đă đạt được nhiều chiến công hiển hách, trong suốt ḍng lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc, qua các cuộc b́nh Chiêm, phá Tống-Nguyện-Minh-Thanh, khiến các nước lân bang Lào, Miên và cả Xiêm La phải kinh hồn bạt vía.

Là con cháu của Tổ Tiên Hồng-Lac, chúng ta dù được sinh vào thế hệ nào chăng nửa, ra đời trong nước hay nơi hải ngoại, vẫn luôn ngưỡng mộ và hănh diện, về công đức vĩ đại của tiền nhân, trong đó miên viễn vẫn là quân đội bao đời.

Với ư nghĩa thiêng liêng và cao quư trên, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, được h́nh thành trong giai đoạn đất nước tạm chia (1955-1975), chống lại cuộc xâm lăng bằng quân sự, của khối cọng sản đệ tam quốc tế, do Việt Cộng Bắc Việt đảm nhận. ĐÂY LÀ MỘT CUỘC CHIẾN SINH-TỬ, của quân đội MIỀN NAM, chống lại cuộc xâm lăng của bộ đội MIỀN BẮC, để giữ lại phân nửa gấm vóc giang sơn của Tiền-Nhân, không lọt vào gông cùm nô lệ của giặc đỏ.

Cho nên, đây không phải là một cuộc chiến giữa CỌNG SẢN BẮC VIỆT VÀ NGƯỜI MỸ, như giới truyền thông phương Tây, thời đó và ngay cả bây giờ, đă bóp méo sự thật, mục đích đầu độc dư luận thế giới, làm giảm uy tín của QLVNCH. Có như thế, Cộng Sản và phe ta trốn quân dịch, mới vừa chửi Mỹ , vừa tô son vẽ mặt cho đạo quân tiền phong cong sản tại Đông Nam Á, tức Bắc Việt có một chính nghĩa lư tưởng, đánh đuổi Mỹ-Ngụy cứu nước.

Đây cũng chính là nổi thảm thê chất ngất của người Lính Miền Nam, trong hai mươi năm khói lửa. V́ định kiến, v́ buông xuôi, v́ thủ đoạn con buôn quốc tế, tất cả đă dồn ép QLVNCH vào chân tường, trong cuộc chiến đấu đơn độc, không hậu phương, không một chút t́nh quân-dân, cá-nước

Hai mươi năm chiến đấu, đời lính buồn ơi là buồn, trước mặt phải trực diện với một kẻ thù gian xảo độc ác, mất hết thiên lương nhân tính v́ đă bị chủ nghĩa nhồi sọ, cho nên chỉ biết có giết người để đạt mục đích được khắc sâu trong da thịt. C̣n sau lưng bị thọc bởi hậu phương vô t́nh bạc bẽo và cuối cùng trên đầu là đồng minh với đại bàng, luôn ŕnh rập để phản bội và bán đứng. Mới đây có Nguyễn Thuỳ và Vũ Ngọc Tiến, đă dùng bút vẽ lên bức tranh vân cẩu của cuộc chiến vừa qua, cho ta thấy chỉ có Bộ Đội Bắc Việt hay Việt Cộng, v́ thèm khát đàn bà, nên chỉ có chúng mới hăm hiếp phụ nử, chứ người lính VNCH đâu có lư do ǵ, để mà cuồng dẩm cả xác chết của nử cán bộ VC ?

Cảm nhận đựợc thân phận nhược tiểu của đất nước và sự bất hạnh của dân tộc, nên người lính chấp nhận hy sinh đời trai, để làm tṛn bổn phận cùng trách nhiệm của một con người có tim óc, cho tới trưa ngày 30-4-1975, khi TT.Dương Văn Minh bắt buông súng đầu hàng.

Sau đó, cọng sản Hà Nội thẳng tay cướp bóc, chẳng những mọi chiến lợi phẩm của chính phủ VNCH từ công ốc, ngân khố, quân trang dụng, trong đó có mười sáu tấn vàng y, của quốc gia, được Nguyễn văn Hảo giữ lại để nạp dâng công cho Bắc Bộ Phủ. Tệ nhất là VC táng tận lương tâm, cướp luôn tài sản mồ hôi nước mắt của đồng bào, mà trong số này, có nhiều mẹ chiến sỉ, đă từng nuôi dấu cán binh bộ đội, ủng hộ vàng bạc lúa gạo cho chúng, trong suốt thời gian chiến tranh.

Ngoài việc cầy mồ người chết để trả thù bị thua VNCH trên chiến trường, VC c̣n hành hạ những phế binh, cô nhi tử sĩ bị kẹt trong nước, với đủ thủ đoạn học được từ KGB, mà mới nhất là chiến dịch ‘ đuổi tận, giết tuyệt ‘ các thành phần trên, đang sống tại các cḥi, dựng trong Nghĩa Địa Phước B́nh, Sài G̣n.

Th́ ra cách mạng bảy mươi năm, để giải phóng đất nước, mục đích cũng chỉ có thế thôi, nên từ đó theo thời gian, hằng ngàn huyền thoại về ‘ Người Bộ Đội Miền Bắc, Vượt Trường Sơn Vào Nam Đánh Mỹ Cứu Nước ‘, đă theo lớp son phấn đảng tham nhũng, tham tàn, tham địa vị, tan biến theo lớp sóng phế hưng của cuộc đổi đời mạt lộ.

Ba mươi ba năm tan hàng ră ngũ, quân-dân Miền Nam đă lần lượt đồng hành, qua hết chín tầng địa ngục trần gian nơi thiên đàng xă nghĩa. Nhưng người lính Miền Nam, sinh ra trong khói lửa, trưởng thành chốn chiến trường, nên thễ xác dù đă bị bầm giập tan nát, tinh thần cuả người lính vẫn nguyên vẹn và không ai có thể thay đổi hay ngăn cản lư tưởng của họ.

‘ dấu binh lửa nước non như cũ
kẽ hành nhân qua đó chạnh thương
phận trai già rủi chiến trường
chàng Siêu, tóc đă điểm sương mới về .’
(Chinh Phụ Ngâm Khúc )

+ NHỚ ƠN ANH : NGU7ỜI LÍNH BẤT HẠNH VNCH

Hai mươi năm chinh chiến, người Lính VNCH đă có 250.000 gục ngă trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh v́ một phần cơ thể đă gửi lại sa trường. Hiện nay Chính Phủ cũng như QLVNCH không c̣n nửa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, th́ lư tưởng và danh dự của Người Lính , càng được sáng tỏ, trong niềm hănh diện chung của quân-dân Miền Nam.

Lịch sử của một quốc gia là những ǵ trung thực , mà người dân của nước đó đă ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ , xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đă không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Đă vậy, Hoa Kỳ c̣n ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, v́ lư tưởng riêng của họ.

Thế chiến 2 kết thúc, Ṭa Án quốc tế Nuremburg, chỉ kết tội những Đầu Sỏ trong phe Trục, mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Đức-Ư-Nhật.. Năm 1920, Lănh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta, bị người Ư bắt và tử h́nh. Nhưng chính Tổng Tư Lệnh Ư tại Bắc Phi , là người đă ở lại pháp trường, để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya, vốn là kẻ thù của người Ư lúc đó.

Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lănh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đă oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp, tôn kính mặc niệm như chính các tướng lănh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đă tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đă được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lư và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc ngh́n thu, bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đă chết cho lư tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.

Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đă phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị cọng sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có cọng sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự diện của người lính Miền Nam. Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, t́m đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia, nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen B́nh Định Nông Thôn, Cán Bộ Xă Hội.. mới biết được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho cảnh ba đồng, ba cộc, của kiếp lính Miền Nam.

Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đă không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ c̣n bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng th́ cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lănh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về th́ bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.

Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cọng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cọng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một ḿnh một cơi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp méo lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió th́ phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đă đưa toàn bộ đảng cọng sản VN ch́m trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng.

Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, th́ đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đă biết được sự thật cùng ư nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra c̣n có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đ́nh người dân, qua cuộc đổi đời, cũng đă trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đă công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào ḿnh.

+ NGƯỜI LÍNH VNCH BỊ TRÍ THỨC THIÊN TẢ ĐÂM SAU LƯNG :

Trong lúc đất nước đang lâm nguy v́ giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xă hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ v́ chiến tranh do Hồ Chí Minh và cọng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, th́ tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận ḿnh là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân th́, mập mạnh nhưng lại t́m cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lư do để được hoăn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu v́ sợ chết mà trốn đi lính, th́ cũng c̣n có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước ḿnh, đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lư tưởng đă thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xă hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, gái t́nh và thời gian để đâm thọt, phá hoại.

Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lư tưởng,ai muốn gọi thế nào cũng đều có ư nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, th́ đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lănh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.

Chính bọn trí thức thiên tả này, đă lợi dụng tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, sáng tác nhạc nhụa bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tuyền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng kư sinh của chúng.

+ MỸ BÁN ĐỨNG VNCH CHO CỘNG SẢN :

Bắt đầu từ ngày 13-5-1968, Mỹ và Bắc Việt đă lén lút đi đêm với nhau tại Paris, để t́m cách đổi chác trên thân xác của VNCH. Nhưng kẻ cắp gặp bà già, nên dù hằng tuần có gặp nhau, Kissinger và Lê Đức Thọ vẫn không đạt được một thỏa thuận nào. Theo tiết lộ mới đây của Kissinger, trong hồi kư ‘ The Kissinger Transcripts ‘, trong đó đă ghi chép đầy đủ về mọi mánh lới, thủ thuật của Mỹ để ve văn Trung Cộng, chống lại Liên Xô vào tháng 1-1972. Cũng theo sách dẫn chứng trên, th́ Kissinger đă làm đủ mọi thủ đoạn, để đạt cho được mục đích. Trong cuộc, VNCH là con vật tế thần, mà cặp Nixon và Kissinger đă xử dụng, nên cuối cùng dẫn tới sự chấp nhận những điều kiện phi lư, mà Hoa Kỳ dùng bùa viện trợ, ép buộc VNCH phải kư kết trong bản hiệp định ngưng bắn năm 1973. Riêng đối với Bắc Việt, mặt thật cũng đâu có hănh diện ǵ hơn VNCH, trong cuơng vị làm đầy tớ Nga-Tàu. Bởi vậy, khi Liên Xô thấy Mỹ và Trung Cộng đă liên kết với nhau, chắc chắn Tàu Cộng sẽ theo Mỹ, bắt VC ngưng bắn có điều kiện. Bởi vậy, một mặt LX viện trợ tối đa cho Hà Nội, đồng thời ra lệnh cho VC mở hết mặt trận này tới chiến dịch khác, mà lần cuối cùng là ngày quốc hận 30-4-1975, đưa cả nước VN trong ba mươi ba năm đắm ch́m trong cảnh nghèo đói, lầm than, hận thù v́ vũng bùn ô uế của cái gọi là thiên đàng xă hội chủ nghĩa.

Người Mỹ đă kư kết hiệp định ngưng bắn Ba Lê, chỉ với mục đích rút quân và đem tù binh về nước, để Nixon đắc cử thêm một nhiệm kỳ tổng thống Mỹ và Kissinger tiếp tục giữ chức lớn trong chính quyền Hoa Kỳ. Ngoài mục đích trên, người Mỹ không cần đếm xỉa ǵ tới tương lai cũng như số phận của người Việt, nước Việt.

Sau này, khi VNCH đă sụp đổ, nhiều nhân vật quốc tế liên quan tới cuộc chiến VN, đều phê b́nh sự tắc trách của Hoa Kỳ, khi dựng lên cái quái thai hiệp định ngưng bắn, để bán đứng đồng minh của ḿnh. Chính TT. Nixon cũng đă xác nhận lỗi lầm của ḿnh trong tác phẩm ‘ No More VietNam’ rằng tôi đă thấy những vấn đề nan giải của hiệp định Ba Lê nhưng quan trọng nhất trong thỏa ứơc này là đă không bắt buộc Hà Nội rút hết bộ đội đă xâm nhập về Bắc. C̣n M. Gauvin , đại sứ Canada tại Hy Lap, nguyên chủ tịch uỷ hội kiểm soát quốc tế (CICCS) tại VN, đă tuyên bố ‘ VNCH bi sụp đổ hoàn toàn do quyết tâm bỏ rơi của Hoa Kỳ. Riêng cái hiệp định ngưng bắn kư kết tại Ba Lê năm 1973, đă không phản ảnh được ư muốn và nguyện vọng của người dân Miền Nam, là muốn sống ḥa b́nh và không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa cọng sản, nên ngay từ năm 1954, họ đă phải bỏ miền bắc để vào Nam, chạy trốn VC’. Nhưng phê b́nh một cách thẳng thắn, là Sir R.Thompson ‘ Sự sống c̣n của Nam VN, đă bị người Mỹ tước đoạt hay nói thẳng là bán đứng. Có làm như vậy, Hoa Kỳ mới tránh cho nước ḿnh bị khỏi bị sâu xé tan nát. Một điều nghịch lư khác là cọng sản Bắc Việt, bị bó buộc tới bàn hội nghị, không phải để cứu họ, mà là cứu nước Mỹ. Nên dĩ nhiên Mỹ phải đem đồng minh VNCH ra bán đứng, để đền ơn cứu mạng ‘.

Ngoài vấn đề phủi tay tại Nam VN sau khi đă đem được tù binh và hài cốt quân Mỹ về, quốc hội Hoa Kỳ c̣n bội ước, khi liên tục biểu quyết các đạo luật ngăn cấm can thiệp bằng quân sự của Mỹ tại Nam VN, cắt giảm dần quân viện, không chịu hoán đổi quân trang quân dụng, như các thỏa ước đă kư kết . Sự bất công vô lư, đến đổi Tuỳ Viên Quân Sự (DAO), tại Nam VN, đă phải viết ‘ Người Lính VNCH do đó, đă phải chấp nhận sống với những nhu cầu, dưới mức b́nh thường, làm cho tinh thần người chiến sĩ xuống thấp, v́ bị hạn chế các phương tiên ngăn chống giặc ‘.Chỉ có Robert S McNamara, cựu bộ trưởng quốc pḥng thời TT.John Kenedy, th́ vẫn ngoan cố để chạy tội, quên hết trách nhiệm của ḿnh, trong tác phẩm ‘ In Retrospect : The Tragedy and Lessons Of VN ‘, bêu xấu và đổ hết trách nhiệm làm mất nước cho QLVNCH.

Sự thật, khi viết về Quân Lực VNCH, hầu hết các nhà quân sử trên thế giới cũng như các Sử Gia hiện tại của VN như Nguyễn Khắc Ngữ, Chánh Đao, Phan Nhật Nam, Ttần Đại Sỹ, Phạm Huấn, Nguyễn Đức Phương, Phạm Phong Dinh, Trần Gia Phụng, Nguyễn Lư Tưởng, Vi Anh, Phạm Trần, Huy Phương.. kể cả Trung Tâm Ca Nhạc Kich Hải Ngoại ASIA do các con chim đầu đàn Trúc Hồ, Nam Lộc, Việt Dũng điều khiển, đều đứng chung trên quan điểm ca tụng tinh thần hy sinh và trách nhiệm của người lính VNCH, đối với đất nước và đồng bào.

Nhờ thiện chiến, có kỷ luật nghiêm minh, biết bổn phận, nên trong suốt cuộc chiến hai mươi năm, dù lúc nào VNCH cũng bị Bắc Việt tấn công lén như Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972.. nhưng Họ đă can trường lật ngược hoàn cảnh, để chuyển thắng thành bại. Hầu hết lính và các cấp chỉ huy ngoài chiến trường, đă quyết tử trong giờ thứ 25, tới khi được lệnh bắt buông súng của Dương Văn Minh, mới chịu ră ngủ.

Mới đây có nhiều tác phẩm được công bố như The Pategon Papers, Fires In The Lake của Frances Fitzgeral, The Best and The Brightest của Halberstam và nhất là các hồi kư của Kissinger.. đều cho thấy từ khởi đầu cuộc chiền, đến khi tàn cuộc, cho thấy người Mỹ luôn luôn là đạo diễn chính trong thảm kịch VN. Trong lúc cọng sản Bắc Việt, được Tập Đoàn Cọng Sản Quốc Tế cả Liên Hiệp Quốc, viện trợ quân sự thả dàn, th́ QLVNCH bị Hoo Kỳ qua Viện Trợ, chèn ép bắt bó tay, nên phải chiến đấu trong nghiệt ngă để sinh tồn.

Theo Harry H Noyes, qua tác phẩm ‘ Herdic Allies’, với tư cach là một sĩ quan cao cấp của Mỹ , đă chiến đấu nhiều năm ngoài mặt trận, bên cạnh QLVNCH, nên đă có những nhận định rất thẳng thắn, trái ngược với mồm mép mệng lưỡi bọn nhà báo và chính trị con buôn Mỹ và tây phương. Theo tác giả trên, th́ thái độ bêu xấu hay bóp méo sự thật, nhắm vào QLVNCH, chẳng qua chỉ là sự kỳ thị chủng tộc thường thấy của bọn da trắng, lúc nào cũng tự xem ḿnh là văn minh, đứng trên các dân tộc khác. Một điều quan trọng khác, là suốt cuộc chiến đẫm máu tại Nam VN, đa số dân tây phương và Hoa Kỳ, đă bị điệp viên của khối cọng sản, củng như KGB của Liên Xô, mua chuộc hay tuyên truyền. Do đó lúc nào họ cũng có cảm t́nh với Bắc Việt, nên cứ bóp méo sự thật, để khinh bỉ VNCH.

Bảo rằng QLVNCH không chịu chiến đấu, trốn trách nhiệm, chỉ muốn khoán trắng cho quân đội Mỹ, kể cả sự oanh tạc Miền Bắc, là một ngang ngược và phi lư. Để trả lời, nhiều người đă hỏi ngược lại người Mỹ rằng ‘ vậy th́ từ năm 1955-1965 và cuối năm 1971-4/1975, khoảng thời gian đó, người Mỹ hoặc chưa tới hay đă rời VN, vậy ai đă chiến đấu với bộ đội Bắc Việt ?’. C̣n về vấn đề oanh tạc Miền Bắc, từ đầu tới cuối có khi nào Hoa Kỳ giao trách nhiệm cho Không Quân VNCH, cũng như chịu cung cấp cho họ các loại phi cơ chiến đấu tối tân, để chiến đấu cho có hiệu quả. Một bí mật khác, là người Mỹ dành độc quyền oanh tạc Miền Bắc, để thi hành lệnh của Hoa Thịnh Đốn, là đem gần hết số bom đổ xuống biển hay núi rừng không phải là mục tiêu quân sự cần tiêu diệt. Bởi vậy làm sao dám giao nhiệm cho KQ.VNCH ?

C̣n trong thời gian Mỹ tham chiến tại VN, mở các cuộc hành quân tiêu diệt cọng sản. Tất cả đều là HÀNH QUÂN HỖN HỢP, giữa quân ĐồngMinh-Hoa Kỳ và VNCH, tiêu biểu như HQ Cedar Faces tại Vùng Tam Giác Sắt (B́nh Dương-Hậu Nghĩa), đầu tháng 1-1967, tiếp theo là HQ Toledo, mục đích càn quét Chiến Khu C và Cục R, do Lực Lượng hỗn hợp, gồm Lữ Đoàn 173 Nhảy Dù-Hoa Kỳ cùng 2 Tiểu Đoàn 33-35/Biệt Động Quân/VNCH đảm trách. Đặc biệt tại Điện Biên Phủ KHE SANH cuối năm 1967, vẫn có quân VNCH tham dư, đó là TD37- BDQ, thuộc Liên Đoàn 1/BDQ của Quân Đoàn I.

Sau cuộc chiến, để chạy tội bán đứng đồng minh, cũng như phản bội Tổ Quốc và đồng bào ḿnh, Hoa Kỳ và bọn khoa bảng-trí thức thân cộng Miền Nam, những người muôn năm trong ḍng sử Việt, được bia đời phong cho danh hiệu là ‘ TRI’ THỨC CHỒN LÙI’, c̣n các lănh tụ cọng sản như Stalin, Mao Trạch Đông, kể cả Hồ Chí Minh, coi rẻ hơn CỤC PHÂN NGƯỜI v́ suốt kiếp chẳng làm được một điều ǵ tốt hay ích lợi, để giúp cho đất nước và đồng bào. Bọn trí thức này ôm chân níu áo Người Việt tị nạn khắp các nẻo đường hải ngoại, trong lúc vẫn sống cao sang quyền thế như lúc c̣n trà trộn trong các Đại Học, Chùa-Nhà Thờ, Ṭa Báo,sân khấu, pḥng trà.. và trên các trang sách-thơ cuối tuần, vẫn chứng nào tật nấy, không hề thay đổi lương tâm một chút ǵ, dù phong trần đă nếm, vinh nhục bề bề và trên hết là vẩn bám vào Người Việt Tị Nạn Cộng Sản để mà ra báo, làm báo và sinh tồn, dù rằng chúng đă nói là ĐĂ ĐI HẾT BIỂN NAY PHẢI VỀ NGUỒN nhưng lại không dám bán nhà, bán chùa, bỏ sở và cuộc sống thừa mứa tại Mỹ, để về sống với Việt Cộng, đạo pháp để hưởng Vinh Hoa Phú Quư, Tự Do Dân Chủ, tự do tôn giáo, tự do quyên tiền cúng dường của khách thập phương.. trong Xă Nghĩa Thiên Đàng, như chúng hằng ca tụng.

Chính người Mỹ và bọn trí thức-khoa bảng thân cộng này, trước sau vẫn đổ trách nhiệm làm sụp đổ Miền Nam cho các cấp lănh đạo của VNCH. Riêng sự bảo rằng VNCH không có lănh đạo xứng đáng, ngang cơ để đối đầu với cáo già Hồ Chí Minh của Bắc Việt, sau khi TT Ngô Đ́nh Diệm bị hạ sát vào ngày 1-11-1963, là điều suy nghĩ quá đáng và đâu có khác ǵ việc Mỹ nói QLVNCH không chiến đấu, mà chỉ giao hết cho quân đội Hoa Kỳ.

Nhưng mai mĩa nhất vẫn là lời xác nhận của Kissinger , khi cho bạch hóa các tài liệu cũ liên quan tới chiến cuộc Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975 ) ‘ Mỹ đă chơi với Trung Cộng từ năm 1972, vậy th́ bán Miền Nam VNCH cho Cộng Sản Quốc Tế Bắc Việt, qua Hiệp Định Paris 1973, cũng đâu có ǵ lạ ? ‘

Sự thật, QLVNCH từ 1960-1975, đă có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn vơ vẹn toàn. Họ được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Đông Nam Á thời đó như Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Trường Bộ Binh Thủ Đức, Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát.. cũng như Trường Đại Học Quân Sự.

Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối t́nh xưa :

‘..xin v́ chàng, xếp bào cỡi giáp
xin v́ chàng giũ lớp phong sương
v́ chàng tay chuốc chén vàng
v́ chàng điểm phấn đeo hương năo nùng.. ’ ’
( Chinh Phụ Ngâm - Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm)

Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, v́ suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận th́ chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.

Thử hỏi trong cơi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Trong lúc đă có không biết bao nhiêu người hiện nay, đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Trong số này có rất nhiều người đang dấn thân lo chuyện non nước. Không biết trong tâm tư của họ, có một giây phút nào, do lương tâm xao động, khiến họ chợt nghĩ tới những người xưa đă VỊ QUỐC VONG THÂN ? Cũng may hầu hết người Miền Nam, xưa nay vẫn biết ơn người lính năm nào, nhất là sau ba mươi năm qua, đă biết hết cảnh đổi đời oan nghiệt.

Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già c̣n sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, đă và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.

‘..tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đă phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô.. ’ ’

Xóm Cồn
Mùa Quốc Hận Tháng 4-2008
HỒ ĐINH

lyhuonga.jpg






flag.jpg

 
Người t́nh không chân dung & Những Người không chết
Casị : Nguyễn Hồng Nhung & Thiên Kim
(Xin Bấm dấu >>Play>>)

project.jpg

Đôi mắt người chiến sĩ VNCH

Thời điểm 30/4  là cái mốc thời gian mà có lẽ hầu hết những thuyền nhân tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam đều lắng tâm tư ḿnh để hồi tưởng lại quăng đời tỵ nạn gian truân và những nguyên nhân nào đưa đến sự chọn lựa đổi đời này. Một sự chọn lựa can đảm dẫu biết rằng ḿnh phải trả một cái giá rất đắt là cái chết của chính ḿnh để đổi lấy hai chữ Tự Do. Một sự chọn lựa chưa từng xảy ra trong 4000 năm lịch sử Việt Nam mà trong đó gần 3 triệu người dân Việt vượt biên đi t́m tự do và gần một triệu người bỏ thây ngoài trùng dương. Cho dù đặt chân đến được bến bờ tự do vào những thời điểm khác nhau, nhưng hầu hết những ai mang thông hành tỵ nạn chính trị cũng mặc nhiên coi ngày quốc hận 30/4/1975 là Ngày Tỵ Nạn CSVN, là nguyên đưa đến sự quyết định ra đi đổi đời của ḿnh.

Dù không vượt biên, đối với tôi 30/4/1975 là ngày mở đầu cuộc đời tỵ nạn CSVN của tôi nơi xứ người. Cũng v́ thế  ngày nào không c̣n bóng dáng CSVN nay biến thái thành tư bản đỏ th́ ngày đó trong tâm hồn tôi mới rũ sạch màu áo tỵ nạn. Tôi muốn nhấn mạnh sáu chữ Tỵ nạn CSVN chứ không phải là tỵ nạn kinh tế mà nhà cầm quyền CSVN cố t́nh xuyên tạc để bôi nhọ chính nghiă của chúng ta. Trong ngày tưởng niệm 33 năm quốc hận 30/4/1975 năm nay, tôi muốn trải ḷng ḿnh viết về một người chiến sĩ vô danh trong quân lực Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH). Tôi muốn ghi lại trên trang giấy này ánh mắt anh, đối với tôi là biểu tượng cho sự âm thầm hy sinh cao cả của tập thể chiến binh VNCH để bảo vệ từng tấc đất, từng giây phút sống an lành cho người dân miền Nam. Ánh mắt nhiệm mầu đă thay đổi cuộc đời của một người con gái từ sống vô tư vị kỷ quay sang con đường đấu tranh khá xa lạ đối với phái nữ. 

Người ta bảo ánh mắt là cửa sổ tâm hồn cũng không sai. Chỉ cần nh́n ánh mắt của một người là ta có thể đoán được một phần nào cá tính, ḷng dạ tốt xấu và tâm trạng của người đó. Trong đời tôi đă gặp đủ loại ánh  mắt, nhưng tôi có đâu ngờ được rằng ánh  mắt mà tôi gặp nơi bờ sông Bến Hải đă để trong tôi một tác động tâm lư mănh liệt làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời tôi sau đó. Sinh trưởng ở miền bắc và di cư vào Saigon, tôi có cơ may có được một cuộc sống sung túc, ngày cắp sách đến trường, nh́n cuộc đời với đôi mắt màu hồng của tuổi dậy th́. H́nh ảnh chiến tranh mà thời đó tôi cảm nhận được là những ngọn đèn hoả châu và những tiếng đại bác đêm đêm vọng về. V́ khi chưa nh́n thấy quan tài đổ lệ nên chiến tranh không ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi. Thế nhưng cuộc đời tôi đă rẽ sang một khúc quanh mới khi gặp đôi mắt nọ.

Trong một chuyến du lịch trở về thăm quê hương (1973) cùng với phái đoàn Tổng Hội Sinh Viên Paris do ông Hoàng Đức Nhă tổ chức, các sinh viên du học được đưa đi thăm Huế, Quảng Trị, đại lộ kinh hoàng, những điạ danh bị tàn phá bởi chiến tranh và bờ sông Bến Hải để sinh hoạt cùng với các anh chiến binh VNCH. Nơi ḍng sông Bến Hải, nh́n qua bên kia sông là lá cờ đỏ sao vàng. Ngước nh́n lên cḥi canh bên này là lá đại kỳ vàng ba sọc đỏ phất phới bay và h́nh ảnh người chiến binh VNCH trong quân phục tác chiến, tay cầm khẩu súng im lặng mắt hướng về phiá bên kia sông. Khuôn mặt xạm màu nắng chiến chinh và ánh mắt khắc khổ chịu đựng gió sương nhưng cương quyết, sẵn sàng quyết tử để bảo vệ màu cờ vàng ba sọc đỏ, đă làm ḷng tôi trùng xuống một niềm xúc động lớn pha lẫn xấu hổ. Xấu hổ v́ thấy rằng ḿnh đă sống qúa vị kỷ chưa làm được ǵ hữu ích cho quê hương dân tộc. Xúc động v́ giờ đây qua ánh mắt người chiến binh đó tôi mới thực sự hiểu được rằng trong khi tôi và người dân miền Nam được sống yên lành với gia đ́nh th́ ở ngoài tiền tuyến lại có hàng trăm ngàn chiến binh VNCH âm thầm chấp nhận đốt cháy tương lai, tuổi thanh xuân, lẫn hạnh phúc đời ḿnh bên ánh đèn hỏa châu lửa đạn. Người chiến binh VNCH không phải chỉ mất tuổi thanh xuân không thôi. Đă có  hàng trăm ngàn chiến binh trở về sau cuộc chiến 'với đôi nạng gỗ', để lại nơi chiến trường một phần máu và thân thể của đời ḿnh. Trở về với cuộc đời dang dở tàn phế tương lai! Và cũng đă có biết bao nhiêu anh hùng liệt sĩ vô danh  bỏ thây nơi chiến trường để lại gia tài cho vợ con một tấm thẻ bài và những vành khăn tang trắng làm đổ nát đời người cô phụ và gia đ́nh họ. Tôi đă ngộ những mất mát to lớn đó khi đi trên Đại Lộ Kinh Hoàng mà cái tên tự nó cũng đủ nói lên trận chiến khốc liệt đă xảy ra tại nơi đây. Dẫu chiến trường đă được dọn sạch từ lâu, nhưng quang cảnh hoang tàn và thê lương cũng đủ làm tôi rùng ḿnh v́ tôi vẫn c̣n cảm nhận được một luồng âm khí của các vong linh h́nh như chưa siêu thoát nên vẫn c̣n lảng vảng ở đâu đây. Khi đôi chân ḿnh đi trên mặt đất thấm máu và nước mắt của dân tộc tôi mới thấu hiểu hai chữ tự do vô cùng qúy báu như thế nào. Lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho khát vọng tự do được ǵn giữ bởi máu và nước mắt của dân tôi giờ thiêng liêng biết ngần nào!  Cũng v́ thế khi ngước nh́n lá đại kỳ phất phới bay nơi ḍng sông bến Hải tôi đă nghẹn ngào thầm cám ơn đôi mắt kia và tập thể chiến binh VNCH đă âm thầm hy sinh cho người dân miền Nam trong đó có tôi được thở hít không khí tự do cho đến ngày 30/4/1975. Một món nợ tinh thần mà tôi phải trả ṣng phẳng cho các anh, cho gia đ́nh tử sĩ và cho quê hương dân tộc. Trước khi ra đi tôi đă quay lại nh́n lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới bay trên bờ sông Bến Hải lần cuối và thầm nhắn gửi với đôi mắt vô danh kia rằng tôi hứa cùng anh và các đồng đội của anh nguyện bảo vệ chính nghiă của lá cờ vàng ba sọc đỏ đă được ǵn giữ bởi máu và nước mắt của những tấm ḷng yêu nước. Đôi mắt vô danh kia tôi không c̣n nh́n thấy nhưng vẫn in hằn trong đầu tôi.

35 năm trời đă trôi qua kể từ ngày giă từ lá đại kỳ nơi ḍng dông Bến Hải, tôi không biết đôi mắt kia giờ ở nơi đâu? Anh c̣n sống hay đă mất? Nếu đă mất th́ anh mất ở nơi đâu? Bỏ thây ngoài biển khơi hay ở nơi lao tù rừng thiêng nước độc?  Nếu c̣n sống th́ giờ này anh ở nơi đâu? Trại cải tạo hay ở một vùng trời tỵ nạn xa xăm nào đó? Hay nếu c̣n ở Việt Nam, chế độ tàn bạo có c̣n đối xử bất công bạc ác với người chiến binh VNCH như anh hay không? Những câu hỏi trên luôn trở lại với tôi mỗi khi ngày quốc hận 30/4/ trở về. Những câu hỏi luôn làm nhức nhối trái tim tôi mỗi khi nghĩ đến anh, nghĩ đến các thương binh VNCH và lá đại kỳ nơi ḍng dông Bến Hải.

Hôm nay trong ngày tưởng niệm 33 năm Quốc Hận, tôi muốn viết những ḍng tâm tư này gửi đến anh. Nếu anh c̣n sống nơi xứ người, tôi xin được chia sẻ chung với anh nỗi đau của một người chiến binh già khi phải nh́n h́nh lá cờ vàng ba sọc đỏ bị bôi bác vẽ trong một cái chậu rửa chân. Một hành động vô ơn bạc nghiă của những kẻ ngày xưa đă từng ăn cơm quốc gia nay đâm sau lưng chiến sĩ VNCH. Tôi cũng xin được chia sẻ chung với anh sự nổi giận khi thấy những con buôn chính trị  cho phổ biến năm chương tŕnh lịch sử của C�= �ng sản Hà Dương Dực bôi nhọ chính nghiă quân cán chính VNCH. Nếu anh đă qua đời và đang an giấc nơi Nghiă trang Quân đội, tôi cũng xin được san sẻ chung với anh nỗi u uẩn của một người chết không thể thét lên được khi phải chứng kiến cảnh những kẻ thời cơ qụy lụy xin xỏ bạo quyền cái đặc ân được trùng tu nghiă trang quân đội đă bị CSVN biến thành nghiă trang dân sự B́nh An, là một h́nh thức xóa sổ cái chết v́ lư tưởng của anh lẫn thành tích lịch sử đấu tranh hào hùng của quân lực VNCH. Những kẻ thời cơ chính trị đó tất phải thừa hiểu rằng bất cứ một người chiến binh VNCH nào khi đă cầm súng ra trận tức là họ không sợ chết banh thây ngoài chiến tuyến th́ không có lư do ǵ họ phải nhờ ai van xin kẻ thù trùng tu mộ phần dùm cho họ. Hành động  xin /cho đó nào có khác chi cầm dao đâm sau lưng vong linh chiến sĩ VNCH.

Cũng trong ngày tưởng niệm 33 năm quốc hận 30/4 năm nay, tôi xin xác quyết một lần nữa lời thầm hứa với anh nơi bờ sông Bến Hải năm nào giờ đây vẫn c̣n nguyên vẹn: dù bất cứ ở nơi nào trên thế giới nếu có những ai bôi nhọ lá cờ vàng ba sọc đỏ hay chính nghiă của quân lực VNCH th́ tôi  cũng sẽ một ḷng cùng  với đồng bào ở nơi đó quyết tâm lên tiếng phản đối những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma CS. Đối với những vị anh hùng liệt sĩ vô danh bị CSVN đối xử khác biệt nơi nghĩa trang quân đội, dẫu các anh đă nằm xuống nhưng chúng tôi và thế hệ mai sau vẫn tiếp nối con đường các anh đi, bởi v́ cuộc chiến này chưa phân thắng bại. Sẽ có một ngày màu cờ vàng ba sọc đỏ sẽ phất phới bay trở lại trên bầu trời các anh an nghỉ và cái tên Nghiă trang Quân Đội sẽ được phục hồi trả lại cho vong linh anh hùng liệt sĩ VNCH. Tôi và đồng bào miền Nam không hề quên ơn các anh, những chiến binh oai hùng của quân lực VNCH đă một thời đổ máu trên Trường Sa Hoàng Sa, trên khắp nẻo đường Việt Nam để giữ từng tấc đất của tổ tiên không bị rơi vào tay CSVN bán nước buôn dân nay biến thái thành tư bản đỏ.

Quốc hận 30/4/2008

Nguồn : http://www.nuocviet.org/

 

 
VINH DANH NHỮNG V̀ SAO
 
Tháng Tư về khơi mối hận thiên thu
Mây tang phủ lên bầu trời Quốc Tổ
Nhớ bao anh hùng thơm danh muôn thuở
NAM, PHÚ, VỸ, HƯNG, HAI, CẨN...tên Người !

Trước cọc bắn vẫn đanh thép ư lời:
“Muốn nh́n sông núi trước giờ gục chết !”
Lẫm liệt oai phong một trang hào kiệt
Cọp ba đầu rằn HỒ NGỌC CẨN lưu danh !

Tướng Biệt Động Quân liêm khiết, đa năng
Huấn luyện, tham mưu, chiến trận bao năm
Tên TRẦN VĂN HAI sử vàng ghi đậm
Vận nước suy tàn - tiết tháo hy sinh !

Xin nghiêng ḿnh chào NGUYỄN KHOA NAM hùng anh
Hổ Tướng miền Tây theo thành tự sát
Loạt đạn nổ vang thay lời thề “Sát Đát !”
Rừng núi chuyển rung bạt vía giặc thù !

B́nh Long, An Lộc - song Lê anh hùng
Gương tử thủ nêu cao, nức ḷng quân sĩ
NGUYÊN VỸ, VĂN HƯNG lừng danh thế kỷ
Bia khắc danh đề - thanh sử muôn thu !

Tiếc thương PHẠM VĂN PHÚ Kontum, Pleiku
Vị danh tướng của bao thời trận mạc
Khí hùng anh nào để lọt vào tay giặc ?
Kết liễu đời ḿnh - độc dược quyên sinh !

Hồn thiêng sông núi tiếp dẫn hương linh
Quư danh tướng và bao anh hùng dân tộc
Tháng Tư đại tang triệu hồn bật khóc
Thắp nén hương ḷng tưởng niệm anh linh !

PHẠM HOÀI VIỆT



THÁNG TƯ THƯƠNG TIẾC

-Kính dâng qúy hương linh tử sĩ QLVNCH.

Vị quốc vong thân chiến hữu ơi !
Uy danh khí tiết măi muôn đời
B́nh Long một thuở bay hồn giặc
An Lộc ngh́n thu rạng giống ṇi
Sông núi vẹn t́nh không nhạt lảng
Nước non tạc dạ chẳng hề vơi
Tháng Tư Quốc Hận mài gươm báu
Tưởng niệm anh linh kính mấy lời ./.

Phạm Hoài Việt



LƯU VONG VỌNG QUỐC

Cô đơn lê bước khoảng đường dài
Vọng tưởng quê nhà lệ thấm cay
Hải ngoại trông vời t́nh cố quốc
Non sông mỏi đợi bậc anh tài
Lời ru nhớ nước nghe nao dạ
Tiếng hạc kêu sương thúc sánh vai
Khẻ hỏi ai người thương đất Tổ ?
Giang san hưng phục há co tay ./.

Phạm Hoài Việt

lyhuonga.jpg




























info@ourcompany.com