
|

|
|
Heroic Allies Những Đồng Minh Anh Hùng
|
Harry F. Noyes III, Ngô Kỷ
|
|
Nguyên
bản Anh ngữ "Heroic Allies" của Harry F. Noyes III được đăng
trong nguyệt san "Vietnam", phát hành vào tháng 8 năm 1993
Do Ngô Kỷ chuyển ngữ
để kính tặng và tri ân sự chiến đấu dũng cảm và tuyệt vời của
những Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
Họ dáng người th́
nhỏ nhắn, nói chuyện bằng những âm ngữ líu lo, thường chan nước
mắm vào thức ăn và hay cầm lấy tay nhau.
Chẳng ai ngạc nhiên lắm khi
thấy những quân nhân Mỹ gởi qua Đông Nam Á - phần lớn họ c̣n rất trẻ,
có một kiến thức nông cạn, được đào tạo trong một xă hội vị
kỷ và hiểu rất ít về những nền văn hóa khác - họ không cảm thông được
tâm trạng của các binh sĩ Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH).
Thật đau ḷng khi có nhiều
cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam lại đi cấu kết
với cái đám phản chiến cấp tiến, những tên trốn quân dịch và bọn
chính khách hoạt đầu xúm nhau bôi nhọ danh dự của một Quân Lực đă chẳng
c̣n có cơ hội để được tự bào chữa. Nhục mạ một quân đội
đă sa cơ trên chiến trường v́ bị Hoa Kỳ phản bội là một hành động
đê tiện và bất xứng của những người Hoa Kỳ.
Có thể một
số quư vị sẽ ngạc nhiên về lư luận của tôi. Làm sao tôi có thể biện
hộ cho quân lực VNCH được? Phải chăng tất cả binh sĩ VNCH đều
thuộc loại bất tài, xảo trá và hèn nhát? Không, không phải vậỵ Trong bài này tôi
sẽ vạch ra một số bằng chứng xác đáng để phản bác lại cái
luận điệu đê hèn đó và phân tích lư do tại sao cái luận điệu đó phát
sinh. Dĩ nhiên, quân đội VNCH không toàn hảo. Họ cũng có một số lănh đạo
tồi tệ, một số lính tráng hèn nhát, vài ba lần hoảng hốt bỏ chạy, xằng
bậy và hung bạo. Tuy nhiên, các điều này cũng đă từng xảy ra đối với
quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Đông Nam Á.
Trong một số lănh vực
như: tổ chức, tiếp vận, tham mưu và chỉ huy, quân đội VNCH thua kém quân
đội Hoa Kỳ thật. Nhưng họ làm ǵ khác hơn được khi đất nước
họ là đất nước đang phát triển, họ mới giành độc lập từ
tay chế độ thuộc địa và bất ngờ lao vào một trận chiến khốc
liệt, đối đầu với kẻ thù hung hăng được vũ trang hùng hậu
từ cả khối Cộng Sản? Thật ra, các khuyết điểm của quân đội
VNCH có cũng giống như các khuyết điểm mà quân đội Hoa Kỳ mắc phải
trong Trận Chiến Dành Độc Lập, dù rằng Hoa Kỳ vào thời cuối thế
kỷ 18 đó có nhiều lợi điểm hơn, như:
- Tầm vóc của Cuộc
Cách Mạng Dành Độc Lập hạn hẹp hơn và dễ điều khiển hơn.
- Khác với sự bị trị của Việt Nam, Hoa Kỳ qua kinh nghiệm bị
trị đă nuôi dưỡng tinh thần tự trị địa phương và tạo thuận
lợi cho quốc gia đào tạo nên những nhà lănh đạo ưu tú.
- Quân đội
Hoàng Gia Anh không bền bỉ như quân đội Bắc Việt.
- Có phải các binh
sĩ Hoa Kỳ giỏi giang hơn các chiến hữu đồng minh của họ đến
độ người Mỹ đối xử miền Nam Việt Nam với một thái độ
khinh rẻ như vậy.
Câu trả lời cho cả hai câu hỏi trên là: "Không!"
Bằng chứng cho câu trả lời đó thật rơ ràng. Ư đồ Tổng Công Kích
Tết Mậu Thân của Cộng quân là bẻ gẫy ư chí pḥ̣ng thủ của miền
Nam Việt Nam. Nhưng chúng đă thất bại, binh sĩ VNCH đă chống trả một
cách quyết liệt và hữu hiệu: không một đơn vị nào bị tan ră hay tháo chạỵ
Thậm chí cảnh sát cũng đă chiến đấu, họ dùng cả súng lục để
bắn lại bộ đội chính quy của Bắc Việt trong khi những người
bộ đội CS này th́ lại được vơ trang với vũ khí hạng nặng. Theo
báo cáo cho thấy là vào thời điểm đó, số người t́nh nguyện nhập ngũ
lên quá cao, đến nỗi chính phủ phải ngưng tuyển mộ lính trong một thời
gian.
Trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, các binh sĩ VNCH bị vây hăm tại
An Lộc đă anh dũng tử thủ chống trả lại lực lượng hùng hậu
của địch, cùng với những trận mưa pháo bất tận, và cuối cùng họ
đă đè bẹp được những trận tấn công liên tục của các chiến
xa địch quân. Sau đó, tôi được một cố vấn Mỹ kể lại chuyện
một tiểu đội bộ binh VNCH được lệnh phải phá hủy 3 chiếc
xe tăng của địch. Ông kể:
- Các binh sĩ của tiểu đội này phá
hủy được một chiếc xe tăng, rồi sau đó họ lại tự quyết
định bắt sống hai chiếc xe tăng kia. Họ rượt bộ và bắt được
thêm một chiếc nữa, c̣n chiếc kia th́ chạy thoát. Khi trở về pḥ̣ng tuyến,
họ bị khiển trách nặng nề.. v́ đă để chiếc xe tăng kia tẩu
thoát."
Tuy hành động của tiểu đội lính này không đúng với quân kỷ
lắm, nhưng cái hành động đó đă nói lên tinh thần chiến đấu cao độ
và sáng kiến tác chiến của rất nhiều binh sĩ VNCH. Chắc chắn sự kiện
trên không thể hổ trợ luận điệu cáo buộc họ hèn nhát được.
Một chứng cớ điển h́nh hơn, trong những giờ phút cuối cùng của
miền Nam Việt Nam năm 1975, khi mà nỗi tuyệt vọng bao trùm lên cả đất
nước họ, khi mà biết rơ rằng Hoa Kỳ sẽ không yểm trợ ǵ nữa (ngay
cả nhiên liệu và đạn dược); ấy thế mà một sư đoàn VNCH đă
anh dũng cầm cự chiến đấu với bốn sư đoàn quân Bắc Việt
trong suốt hai tuần lễ tại Xuân Lộc. Trên mọi b́nh diện, trận chiến
Xuân Lộc đó cũng hào hùng như bất cứ trận chiến nào trong quân sử Hoa Kỳ.
Các binh sĩ VNCH cuối cùng đă phải rút lui v́ không lực của họ không c̣n bom cluster
để yểm trợ cho lực lượng bộ binh đụng trận dưới
đất.
Có lần tôi được coi một phim tài liệu truyền h́nh nói về
một người phóng viên Úc đặc trách quay phim chiến trường. Khác với các
phóng viên Mỹ, ông ta dành nhiều th́ giờ theo sát binh sĩ VNCH. Ông ta công nhận tinh thần
chiến đấu anh dũng của họ, và để minh chứng điều đó, ông
đă cho tŕnh chiếu cả cuốn phim. Ông ta nhớ lại rằng, trong chuyến thăm
viếng một khu làng do địch quân kiểm soát, ông được nghe kể rằng
Cộng Sản sợ binh sĩ VNCH hơn là sợ binh sĩ Mỹ. Cái lư do chính là binh sĩ
Mỹ quá ồn ào, do đó địch quân luôn nghe trước được đường
tiến quân của họ. Làm sao có được điều so sánh này nếu trên thực
tế các binh sĩ VNCH không thuộc loại lính thiện chiến.
Tuy nhiên, cái chứng
cớ quan trọng nhất để chứng minh tinh thần chiến đấu cao độ
của binh sĩ VNCH nằm trong hai sự kiện thật đơn giản và rơ ràng sau đây,
dù rằng các sự kiện này thường bị làm ngơ hoặc giả vờ không biết
nhằm che đậy sự thất bại của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Sự
kiện thứ nhất: Chiến tranh đă bắt đầu từ 7 năm trước khi
quân đội tác chiến Hoa Kỳ bước chân vào Việt Nam, và trận chiến đó
vẫn tiếp tục kéo dài suốt 5 năm sau khi Hoa Kỳ rút quân. Phải có những người
đứng ra chiến đấu trong thời gian đó, và không ai khác hơn là các binh sĩ
VNCH.
Sự kiện thứ hai: Có độ 1/4 triệu binh sĩ VNCH hy sinh trong cuộc
chiến. Nếu đem so sánh tỷ lệ dân số hai nước, th́ con số này phải
tương đương với khoảng hai triệu người Mỹ chết (gấp
đôi tổng số thương vong của tất cả cuộc chiến Hoa Kỳ cộng
lại). Bạn không thể tổn thất lớn lao như vậy nếu bạn không thực
sự chiến đấu.
Thế th́ tại sao thanh danh quân đội VNCH lại bị
xúc phạm nặng nề như vậy ?
Dĩ nhiên quân đội VNCH cũng có một
số lần chiến đấu kém hiệu năng hoặc bị khủng hoảng, nhưng
các trường hợp này cũng từng xảy ra trong quân đội Hoa Kỳ. Tôi biết
một vị chỉ huy đơn vị pháo binh Hoa Kỳ đă có lần ra lệnh trực
xạ vào địch quân v́ lực lượng bộ binh Mỹ "bảo vệ" cho căn cứ
pháo binh đă hốt hoảng tháo chạy trước hỏa lực hùng hậu của địch.
Sự kiện trên không có nghĩa là toàn thể quân đội Hoa Kỳ hèn nhát, và đôi
lần thất bại của binh sĩ VNCH cũng không có nghĩa là toàn thể quân đội
VNCH hèn nhát. Dù vậy, người ta lại rất dễ tin như thế khi được
nghe kể lại từ chính miệng các cựu chiến binh Hoa Kỳ hoặc từ các chính
trị gia nhằm chạy tội cho chính phủ Hoa Kỳ về việc bỏ rơi miền
Nam Việt Nam trong cơn hấp hối.
Sự thật của vấn đề được
diễn tả khéo nhất qua mẩu đối thoại cách đây gần hai thế kỷ
khi một mệnh phụ Anh hỏi Quận Công Wellington rằng: "Có bao giờ quân Anh tháo chạy
trên chiến trường không?" Vị Thiết Quận Công này trả lời: "Thưa bà, tất
cả binh sĩ đều bỏ chạy trên chiến trường."
Chỉ cần
lướt qua quân sử cũng đủ để xác nhận điều này. Trong suốt
cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ, chúng ta đă thấy rất nhiều tấm gương
can đảm nhưng cũng không thiếu ǵ các hành động khiếp nhược. Trên mặt
trận, lúc đầu binh sĩ của hai phe Nam Bắc đều chiến đấu rất
dũng cảm, rồi pḥ̣ng tuyến vỡ, rồi bỏ chạy, rồi tái phối trí
và chiến đấu trở lại. Không có quân đội nào được xem là có ḷng hy
sinh anh hùng hơn họ, nhưng những binh sĩ tham dự trận nội chiến này cũng
không tránh khỏi những lúc thất điên bát đảo, và đó cũng là chuyện thường
t́nh trên chiến trường..
Tác giả S.L.Ạ Marshall đă tường thuật
chuyện một đại đội lính Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến đă
tháo chạy tán loạn trước tiếng la ré xung phong của một toán lính Nhật. Nhưng
đại đội lính Mỹ khác th́ lại tiếp tục chiến đấu, giết
sạch hết toán lính Nhật (độ 10 người), và khám phá ra rằng hầu hết
những tên lính Nhật này không vơ trang ǵ cả. Nếu chuyện trên xảy ra cho một đơn
vị quân đội VNCH, th́ chắc chắn những kẻ muốn bôi nhọ quân đội
này sẽ lợi dụng đó như là một "cơ hội bằng vàng" để mạ
lị rằng toàn thể quân lực VNCH là hèn nhát.
Tại sao vậy ? Tôi đă nêu ra câu
trả lời rồi. Tất cả tùy thuộc vào màu da và ngôn ngữ của các binh sĩ
liên hệ. Sự thật bỉ ổi là việc mạ lị quân đội VNCH lại xuất
phát từ tinh thần kỳ thị chủng tộc và bồng bột của nền văn
hóa Hoa Kỳ.
Tôi có thể làm chứng cho việc xuyên tạc đầy ác ư và phổ
quát này. Khi vừa đến Việt Nam vào tháng 6 năm 1969, tôi đă chứng kiến ngay sự
ngu ngơ và thái độ khinh bỉ của một số người Mỹ đối với
nhân dân và quân đội VNCH. Cái thái độ đó nằm trong mọi tập thể quân nhân
da trắng lẫn da đen, trong các giới dân sự cũng như kư giả Hoa Kỳ. Phong
trào thù ghét đất nước và nhân dân Việt Nam bị lan tràn như một thứ bệnh
dịch truyền nhiễm đáng ngạc nhiên.
Tôi quen một viên đại úy Hoa Kỳ
tốt nghiệp về môn điện ảnh từ một viện đại học danh
tiếng (một ngành chuyên môn được dùng để giúp nâng cao tŕnh độ nhận
thức quan sát). Khi viên đại úy này trở lại đơn vị sau một chuyến
công tác ngắn tại Thái Lan, anh ta ca ngợi đáo để dân tộc Thái Lan. Anh nói rằng:
"Dân Thái Lan cho con cái đi học khác hẳn với dân Việt Nam". Anh ta ngạc nhiên nhưng
lại không lộ vẻ hối hận khi tôi chỉ cho anh thấy một ngôi trường
Việt Nam sát nách doanh trại chúng tôi. Bất cứ ai có mắt cũng đều thấy
hàng trăm em học sinh mặc đồng phục quần xanh áo trắng qua lại mỗi
ngày, chỉ trừ anh chàng phim ảnh này không nh́n thấy các em mà thôi.
Thật là mỉa
mai khi người Việt Nam có tiếng hiếu học hơn người Mỹ, và miền
Nam Việt Nam đă nâng cao được mức biết đọc biết viết từ
20% lên 80% trong khi đất nước chiến tranh triền miên (và mặc dù Cộng Sản
chủ trương giết hại các giáo chức), thế mà lại bị anh chàng phim ảnh
này cho rằng Việt Nam không có trường học. V́ bị gởi đi chinh chiến xa
xôi và bị cách biệt gia đ́nh, nên anh Mỹ này nảy sinh ḷng oán ghét Việt Nam, và tạo
nên thành kiến rằng mọi người Việt Nam đều đáng khinh. Do đó, trong
đầu anh cứ ám ảnh là Việt Nam không có trường học, dần rồi cái tâm
lư bệnh hoạn đó đă làm hư đi cái khả năng nhận thức và đánh lừa
cả thị giác của anh.
Hăy tưởng tượng cái tâm trạng của một
tập thể lính Mỹ ít học, sống giữa một nền văn hóa xa lạ và thần
kinh lúc nào cũng bị căng thẳng ra sao ?! Có lẽ chúng ta không nên trách cứ những
người lính thiếu học này, lỗi là do nơi các cấp chỉ huy Hoa Kỳ đă
huấn luyện họ hiểu một cách mơ hồ về đất nước Việt
Nam cũng như về thực chất của cuộc chiến.
Tuy nhiên, đó không phải
là cái cớ để các cựu chiến binh Mỹ huênh hoang rằng họ hiểu những
cái mà họ đă thấy tại Việt Nam. Các cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến
tại Việt Nam cần được vinh danh về các đức tính can đảm, hy
sinh, ái quốc của họ. Nhưng can đảm và hy sinh không đồng nghĩa với
kiến thức. Đánh giặc tại Việt Nam không làm cho những người lính này trở
thành những chuyên viên thông thạo về đất nước hoặc cuộc chiến Việt
Nam, cũng như việc mang nặng đẻ đau không thể biến người đàn
bà trở thành một chuyên gia về thai nhi học được.
Giới truyền
thông Mỹ cũng chẳng khá ǵ hơn. Trong một phóng sự đầy thành kiến, tôi
nghe một phóng viên lên án Không Lực VNCH - dù đă được tân trang qua chương tŕnh
Việt Nam Hóa Chiến Tranh - thế mà lại "đẩy cho Không Quân Hoa Kỳ" thực hiện
những phi vụ nguy hiểm ngoài Bắc Việt. Trên thực tế Hoa Kỳ không muốn
Không Quân VNCH bay ra Bắc (chỉ trừ vài phi vụ oanh tạc ban đầu). Các nhà lănh đạo
Hoa Kỳ muốn kiểm soát kế hoạch oanh tạc để dùng nó như một lá bài
thương thuyết. V́ không muốn miền Nam Việt Nam có bất cứ quyền kiểm
soát nào trong chính sách oanh tạc, Hoa Kỳ đă trang bị cho Không Quân VNCH những vật dụng
không thích hợp cho các phi vụ ra Bắc. Miền Nam Việt Nam không được cung cấp
oanh tạc chiến đấu cơ, phi cơ tiếp liệu trên không, vũ khí hay các dụng
cụ điện tử cần thiết cho các phi vụ này. Đó là quyết định của
người Mỹ.
Câu hỏi đặt ra là có phải người phóng viên truyền
h́nh nêu trên dốt đặc về sự kiện đó hay giả vờ không biết nhằm
đi hạ nhục những đồng minh của Hoa Kỳ. Dựa vào các lời lẽ
lố bịch, chói tai và thanh âm của anh ta, tôi kết luận rằng anh ta chủ mưu
làm như vậỵ. Một thí dụ khác nói lên cái thành kiến của giới truyền thông,
đó là trận chiến vây hăm Khe Sanh. Nếu bạn đi hỏi một ngàn người
Mỹ từng nghe biết về trận đánh này rằng đơn vị nào chiến đấu
tại Khe Sanh, th́ có lẽ hầu hết đều trả lời là Thủy Quân Lục Chiến
Hoa Kỳ. Nhưng sẽ làm họ ngạc nhiên nếu có một người trong số ngàn
người đó nói rằng có một tiểu đoàn Biệt Động Quân VNCH đă cùng
chia sẻ nỗi gian lao với các đồng minh Thủy Quân Lực Chiến Hoa Kỳ trong
trận chiến ngặt nghèo đó. Có nhiều đơn vị VNCH khác cũng đă hổ
trợ chiến đấu bên ngoài ṿng đai căn cứ Khe Sanh.. Giới truyền thông Mỹ
không đếm xỉa đề cập đến các chiến hữu đồng minh của
Hoa Kỳ, mà họ chỉ để ư đến những điều bê bối thôi, bởi
vậy những binh sĩ VNCH chiến đấu cam khổ này đă bị trở thành những
chiến sĩ "vô h́nh" của Khe Sanh.
Tất cả thành kiến - trong quân đội
cũng như trong truyền thông - được thể hiện rơ ràng qua các bản tin chiến
sự về cuộc hành quân Hạ Lào năm 1972.
Trong cuốn phim tài liệu truyền
h́nh mười năm trước đây, có một đoạn phỏng vấn lính Mỹ
trong lúc chiến trường Hạ Lào đang tiếp diễn. Các lính Mỹ được
phỏng vấn này đang sống an toàn tại hậu cứ Nam Việt Nam. Họ "giải
thích" về sự chiến đấu của quân đội VNCH với những lời lẽ
khinh bỉ và kỳ thị. Thế mà sau đó người phóng viên này đă ca ngợi khen
mấy người lính G.I Mỹ đó am tường về t́nh h́nh chiến sự hơn
là các nhà tướng lănh Hoa Kỳ.
Trận Hạ Lào đă trở thành đề tài v́
nó có liên quan đến một tấm h́nh có cảnh người lính VNCH bám vào cái càng máy bay
trực thăng để trốn chạy khỏi chiến trường. Tấm h́nh này bị
bêu riếu khắp nước Mỹ ngày này qua tháng nọ như là một "bằng chứng"
về sự khiếp nhược của quân lực VNCH. Thực tế, đây là một tṛ
cổ điển nói lên mănh lực của sự xuyên tạc h́nh ảnh. Thật ra th́ sự
việc nó diễn tiến như sau : Binh sĩ VNCH bị tấn công bởi một lực
lượng Cộng quân hùng hậu. Quân đội Hoa Kỳ đă thất bại trong việc
yểm trợ như đă hứa v́ hỏa lực pḥng không của địch quá mạnh.
Những báo cáo cho biết là lính trên trực thăng đă đạp những thùng đạn
đại bác từ cao độ 5,000 feet xuống với hy vọng chúng sẽ rơi vào ṿng
đai của quân đội VNCH. Các trực thăng đó đă không thể nào bay thấp
hơn được.
Đại tá Robert Monelli, một sĩ quan Hoa Kỳ có mặt
trong mặt trận đó đă kể lại trên báo Armed Forces Journal số 19 tháng 4 năm 1972
như sau: "Một tiểu đoàn VNCH với 420 binh sĩ bi bao vây liên tiếp trong ba ngày bởi
một trung đoàn Cộng Sản độ 2,500 đến 3,000 tên. Quân đội Hoa Kỳ
không thể tiếp tế cho họ được. Họ phải chiến đấu cho
tới khi gần hết đạn, rồi mở đường máu bằng khí giới tịch
thu của địch. Họ đă mang theo tất cả binh sĩ bị thương và cả
một số xác chết. Không ảnh thám sát chụp được rơ ràng có 637 xác địch
rải rác chung quanh căn cứ.
Về phía quân đội VNCH, tiểu đoàn trên chỉ
c̣n lại có 253 binh sĩ sau khi đến được ṿng đai bạn. Chừng 17 người
trong số binh sĩ này bị khủng hoảng và đă bám vào càng trực thăng để
chạy trốn, số binh sĩ c̣n lại th́ không làm như vậỵ"
Bây giờ,
có thể một số người cho rằng hành động bám vào càng trực thăng đang
bay và dễ làm mồi cho hỏa lực pḥng không địch là một hành động gan dạ.
Hăy xếp đề tài đó qua một bên, tôi muốn đề cập đến việc
là tại sao chỉ có một trường hợp riêng lẻ như vậy - xáp lá cà mở
đường máu rút lui (được coi là một chiến thuật khó khăn nhất
trong binh thư) lại bị thổi phồng để đi lên án cả một quân lực,
cả một quốc gia, cả một dân tộc?
Câu trả lời là tại v́ kỳ
thị chủng tộc. Các người lính VNCH bám lủng lẳng vào trực thăng bị
coi là những tên ngoại quốc hợm hĩnh. Nhưng nếu là lính Mỹ, hay cả lính
Anh, th́ hành động này đă gây được ḷng trắc ẩn v́ được biện
minh rằng họ vừa trải qua một cuộc thử thách đầy cam go. Bằng cớ
cho lập luận này có thể thấy được qua cái phản ứng của người
Mỹ đối với cuộc rút lui của binh sĩ Hoàng Gia Anh trong những ngày đầu
của trận Đệ Nhị Thế Chiến. Từng có một số lần nhục
nhă đă xảy ra trong quân đội Hoàng Gia Anh tại Dunkirk và nhiều nơi khác. Tại
Dunkirk, một trung sĩ trên một chiếc tàu cấp cứu đă chĩa súng tiểu liên
vào các binh sĩ khủng hoảng để duy tŕ trật tự. Trên một con thuyền khác,
binh sĩ phải dùng báng súng đánh vào đầu một viên sĩ quan để ông ta khỏi
leo qua mép thuyền làm nước tràn vào. Tại Crete, một lữ đoàn Tân Tây Lan phải
lập ṿng đai an toàn quanh biển bằng dao găm để ngăn chặn binh sĩ Hoàng
Gia Anh tràn ngập lên thuyền. Cái h́nh ảnh quân đội Hoàng Gia Anh đơn thân độc
mă chống lại Hitler năm 1940 th́ ca ngợi là một biểu tượng đầy đủ
dữ kiện, c̣n những trường hợp riêng lẻ như các trường hợp kể
trên không được phép làm hoen ố cái bức tranh toàn cảnh dũng cảm và tận
tụy của những người lính chiến.
Thành thật mà nói th́ quân đội
VNCH đă chiến đấu một cách tầm thường trong những ngày cuối cùng
của cuộc chiến, ngoại trừ trận đánh hào hùng và tuyệt cú tại mặt
trận Xuân Lộc. Nói vậy chứ nó cũng có những nguyên do của nó. Và cũng có nhiều
yếu tố để ta tin rằng nếu nhận được sự yểm trợ
chân thành từ phía Hoa Kỳ, quân đội VNCH đă có thể tạo được những
trận thư hùng như kiểu Xuân Lộc, và không chừng ngay cả việc họ đă
cứu văn được đất nước.
Vấn đề đặt ra đây
một lần nữa không phải đề bàn đến cách ứng xử của miền
Nam Việt Nam, nhưng chính là đem so sánh cách ứng xử của họ với Hoa Kỳ
để xem liệu Hoa Kỳ ứng xử ra sao nếu Hoa Kỳ bị nằm trong một
hoàn cảnh, t́nh huống tương tự. Và thật sự - nếu binh sĩ Hoa Kỳ bị
bỏ rơi giống như Hoa Kỳ đă cắt viện trợ Miền Nam Việt Nam một
cách nặng nề trong năm 1974, nhiều tháng trước khi địch quân mở những
trận tổng công kích lần chót. Hậu quả là chỉ có rất ít nhiên liệu và đạn
dược cung cấp cho miền Nam Việt Nam. Phi cơ và quân xa của VNCH bị nằm
ụ v́ thiếu phụ tùng. Binh sĩ phải ra trận với máy truyền tin mà không có batteries,
và các toán cứu thương thiếu cả các loại thuốc thang căn bản. Pháo binh
th́ bị giới hạn bắn được ba trái đạn mỗi ngày trong ngày cuối
cùng của cuộc chiến. T́nh trạng bi đát đến nỗi tư lệnh quân đội
Bắc Việt xâm lăng miền Nam Việt Nam, tướng Văn Tiến Dũng cũng
thừa nhận rằng khả năng di động và hỏa lực của quân đội
VNCH đă sút giảm phân nửa. Bên cạnh những ảnh hưởng trực tiếp về
vật chất, chúng ta cũng phải để ư đến những tác hại tinh thần
đối với các binh sĩ VNCH. Lợi dụng t́nh thế bi thảm này, quân đội
Bắc Việt đă ào ạt tấn công với đầy đủ vũ khí tối tân,
chiến xa và đại bác di động.
Vâng, quân đội VNCH đă bại vong. Họ
đă vất bỏ các chiến cụ (phần lớn đă không c̣n dùng được v́ thiếu
phụ tùng) và một số đạn dược (số đạn mà họ đă dành dụm
tối đa cho đến khi nó trở thành quá muộn để bắn, bởi v́ họ
biết rằng sẽ không bao giờ nhận được tiếp tế nữa). Vậy
th́ lỗi của ai ? Của họ... .hay của Hoa Kỳ ?
Vâng, miền Nam Việt Nam
rút quân khỏi các tỉnh cao nguyên e có phần trễ và vụng về, đưa đến
sự khủng hoảng và sụp đổ. Nhưng làm sao chính phủ miền Nam Việt
Nam lại cam tâm bỏ rơi đồng bào họ sớm hơn trước được,
khi mà địch quân chưa tung ra một áp lực nào ? Đă có lúc miền Nam Việt Nam hy
vọng oanh tạc cơ B52 Hoa Kỳ sẽ trở lại giúp họ ngăn chặn làn sóng
tiến quân của Cộng Sản. Nhưng khi rơ ràng là việc này sẽ không xảy ra, binh
sĩ trở nên hoang mang là một điều dễ hiểu thôi. Tinh thần chiến đấu
suy sụp, nhiều binh sĩ bị bỏ ngũ - không phải họ hèn nhát hay không muốn
chiến đấu bảo vệ tổ quốc, nhưng bởi v́ họ không muốn chết
một cách vô ích trong khi gia đ́nh đang cần.
Liệu Hoa Kỳ đă có thể làm
ǵ khá hơn nếu ở trong t́nh trạng y hệt miền Nam Việt Nam thời 1975 ? Liệu
các đơn vị Hoa Kỳ có tiếp tục hăng say chiến đấu trong lúc quân xa
và hệ thống truyền tin th́ hư hỏng, y tế th́ què quặt, nhiên liệu và đạn
dược th́ thiếu thốn, không được máy bay yểm trợ - lại phải
đương đầu trước một địch quân hùng hậu hỏa lực, đầy
đủ tiếp liệu và tinh thần phấn khởi ? Tôi không tin như vậy.
Liệu
miền Nam Việt Nam có thể chiến thắng vào năm 1975 nếu chính phủ Hoa Kỳ
tiếp tục viện trợ cho họ một số lượng tương đương
với số tiếp liệu mà khối Cộng Sản đổ vào Bắc Việt ? Câu trả
lời không ai biết được. Nhưng chắc chắn một điều là họ
cũng có được cơ hội chiến đấu b́nh đẳng, thế mà Hoa Kỳ
đă phản bội tước đi cái cơ hội này của họ. Chắc chắn họ
đă có thể chiến đấu một cách hiệu quả hơn. Rồi dù có thua, họ
cũng thua một cách hào hùng trong một trận chiến để đời, và biết
đâu đă chẳng tạo được một cuộc kháng chiến thần thánh như
A Phú Hăn.
Ví dù miền Nam Việt Nam có bị đại bại hoàn toàn, cái yểm trợ
tận lực của Hoa Kỳ sẽ cho phép người Mỹ nhún vai và nói rằng họ
đă cố gắng hết sức. Nhưng, Hoa Kỳ đă không tận lực, mà trái lại
người Mỹ lại c̣n cố gắng che đậy sự thật bằng cách bôi nhọ
miền Nam Việt Nam và nhục mạ quân lực VNCH đă sai lầm.
Bây giờ đă
quá trễ để Hoa Kỳ chuộc lại tội ác tầy trời khi bỏ rơi nhân
dân miền Nam Việt Nam vào tay Cộng Sản. Nhưng nó chưa quá trễ để Hoa Kỳ
thú nhận lỗi lầm trong việc nhục mạ họ. Và cũng chưa quá trễ để
bắt đầu vinh danh các thành quả và ḷng dũng cảm của những binh sĩ VNCH
đă chiến đấu bảo vệ lư tưởng tự do.
Ngô Kỷ chuyển ngữ
HEROIC ALLIES
by Harry F. Noyes III
"Vietnam" - August 1993
They were small,
talked in sing-song squeaks, put a smelly fish sauce on their food, and often held hands with each other.
It is not
surprising that American troops sent to Southeast Asia -- mostly young, indifferently educated, and molded by a society with
too much self-esteem and too little understanding of other cultures -- found it hard to empathize with South Vietnam's soldiers.
Still, it is a pity that many veterans of the Vietnam War have joined radical agitators, draft dodgers and smoke-screen
politicians to besmirch the honor of an army that can no longer defend itself. To slander an army that died in battle because
America abandoned it is a contemptible deed, unworthy of American soldiers.
Perhaps some find my assertion incredible.
How can I possibly defend the armed forces of South Vietnam? Everybody "knows" they were incompetent, treacherous and cowardly,
isn't that so?
No, it is not. This article will outline some of the more compelling evidence against this scurrilous
mythology and also examine why such a mythology arose to begin with.
Of course, the South Vietnamese forces were imperfect.
They had their share of bad leaders, cowardly troops, and incidents of panic, blundering and brutality. So did the American
forces in Southeast Asia.
In some respects -- organization, logistics, staff work and leadership -- South Vietnam's
armed forces did lag behind U.S. forces. But how could one expect otherwise in a developing nation that had just emerged from
colonialism and was suddenly plunged into a war to the death against a powerful enemy supplied by the Communist bloc?
In
fact, many of the weaknesses exhibited by the South Vietnamese forces were identical to the ones displayed by the U.S. armed
forces during the American War of Independence, even though late 18th-century America had several advantages: the whole scale
of the Revolutionary War was smaller and easier to manage; America's colonial experience, unlike Vietnam's, had fostered local
self-government and permitted the country to develop some truly outstanding leaders; the British were less persistent than
the North Vietnamese; and the French allies did not abandon young America the way the U.S. government abandoned South Vietnam.
But in any case, organization, logistics, staff work and even leadership are not the qualities at issue in the slandering
of the South Vietnamese forces.
Two questions touch on the real issue. Were South Vietnamese fighting men so lacking
in character, courage, toughness and patriotism that Americans are justified in slandering them and assigning them all blame
for the defeat of freedom in Southeast Asia? Were U.S. soldiers so much better than their allies that Americans can afford
to treat the South Vietnamese with contempt? The answer to both questions, I submit, is a resounding "No!"
The objective
"big-picture" evidence is clear. The Tet Offensive of 1968 was supposed to crack South Vietnam's will to resist. Instead,
South Vietnamese forces fought ferociously and effectively: no unit collapsed or ran. Even the police fought, turning their
pistols against heavily armed enemy regulars. Afterward the number of South Vietnamese enlistments rose so high, according
to reports at the time, that the country's government suspended the draft call for a while.
In the 1972 Easter tide
Offensive, isolated South Vietnamese troops at An Loc held out against overwhelming enemy forces and artillery/rocket fire
for days, defeating repeated tank assaults. I later met a U.S. adviser who described how a South Vietnamese infantry squad
in his area was sent to destroy three enemy tanks. The members of the squad dutifully destroyed one tank, then decided to
capture the other two. As I remember, they got one, but the other made its escape, with the South Vietnamese chasing it down
a road on foot. The soldiers got chewed out upon returning... for letting one tank get away. The squad's performance may not
be the best demonstration of military discipline, but the incident demonstrates the high morale and initiative that many South
Vietnamese soldiers possessed. Certainly it does not support charges of cowardice.
As further evidence, consider South
Vietnam's final moments as an independent nation in 1975, when justifiable despair gripped the country because it became clear
that the United States would provide no help (not even fuel and ammunition). Yet one division-sized South Vietnamese unit
held off four North Vietnamese divisions for some two weeks in fierce fighting at Xuan Loc. By all accounts, that battle was
as heroic as anything in the annals of U.S. military history. The South Vietnamese finally had to withdraw when their air
force ran out of cluster bombs for supporting the ground troops.
Once I saw a television documentary about an Australian
cameraman who had covered the war. Unlike U.S. reporters, he spent much of his time with the South Vietnamese forces. He attested
to their fighting spirit and showed film footage to prove it. He also recalled visiting an enemy-controlled village and being
told that the Communists feared South Vietnamese troops more than Americans. The principal reason was that Americans were
noisy, so the enemy always heard them coming. But that would have been immaterial if the South Vietnamese had not also been
dangerous fighters.
However, the most important evidence of South Vietnamese soldiers' willingness to fight comes
from two simple, undeniable, "big-picture" facts -- facts that are often ignored or disguised to cover up American failure
in Vietnam.
Fact One: The war began some seven years before major American combat forces arrived and continued for
some five years after the U.S. began withdrawing. Somebody was doing the fighting, and that somebody was the South Vietnamese.
Fact Two: The South Vietnamese armed forces lost about a quarter-million dead. In proportion to population, that was
equivalent to some 2 million American dead (double the actual U.S. losses in all wars combined). You don't suffer that way
if you're not fighting.
How, then, did the South Vietnamese get their bad reputation?
Certainly there were
occasional displays of incompetence and panic by South Vietnamese forces. The same can be said of U.S. forces. I knew an American
artillery commander whose gunners once had to defend their firebase by firing canister point-bank into enemy ranks because
the U.S. infantry company "protecting" them had broken in the face of the enemy assault and was huddling, panic-stricken,
in the midst of the guns.
That incident does not mean the whole U.S. Army was cowardly, and occasional breakdowns
among America's allies did not mean all South Vietnamese soldiers were cowards. Yet one would think so, the way the story
gets told by some veterans -- and by the political apologists for a U.S. government that left South Vietnam in the lurch.
The truth of the matter was best stated nearly two centuries ago when a British woman asked the Duke of Wellington
if British soldiers were ever known to run in battle. "Madam," replied the Iron Duke, "All soldiers run in battle."
Even
a cursory study of military history confirms this. Civil War battles reveal a continuous ebb and flow of bravery and fear,
as Confederate and Union units alike first attacked bravely, then crumbled and fled under horrendous fire, before regrouping
and charging again. No armies ever laid more justified claim to sheer self-sacrificing heroism than those two, yet they were
subject to panic as a routine price for doing bloody business on the battlefield.
Author S.L.A. Marshall describes
how one American rifle company in World War II fled in panic from a screaming Japanese banzai charge: a second unit fought
on, quickly killing every Japanese soldier involved (about 10), and discovered that most of them were not even armed.
If
the same thing had happened to a South Vietnamese unit, it undoubtedly would have been cited repeatedly by self-appointed
pundits as incontrovertible proof of the cowardice of all South Vietnamese troops.
Why? We've already hinted at the
answer. It all depends on the color and native tongue of the troops involved. The ugly truth is that the South Vietnamese
forces' false reputation is rooted in American racism and cultural chauvinism.
I can personally attest to the pervading,
massive and truth-distorting reality of the phenomenon. When I arrived in Vietnam in June 1969, I immediately began to witness
continuous displays of ignorance and contempt by some Americans toward the Vietnamese people and their armed forces.
White
troops, black troops, and civilian Americans such as journalists -- all were equally afflicted. This passionate hatred of
Vietnam and its people had an astonishing power to become contagious.
I knew an American captain with a graduate degree
from a prestigious university in cinematography (presumably a specialty that improves visual perceptiveness) . He once returned
from temporary duty in Thailand singing the praises of the Thai.
"They send their kids to school," he said, contrasting
them with the South Vietnamese. He was surprised, but not repentant, when I pointed out that there was a Vietnamese school
right next door to our compound! Hundreds of little kids in bright blue-and-white school uniforms could be seen there daily
-- by anyone whose eyes were open. But this filmmaker apparently could not see them.
It is ironic that the Vietnamese
-- who by reputation honor learning more than Americans do and who raised South Vietnam's literacy rate from about 20 percent
to 80 percent even as war raged around them (and despite the enemy's habit of murdering teachers) -- were accused by the filmmaker
of having no schools.
Because he was fighting in a foreign country and was separated from his family, this American
had built up a hatred for Vietnam, and he wanted to believe the Vietnamese people were contemptible. Therefore, it was important
to him to believe that they had no schools; and his emotions literally interdicted his optic nerves.
Imagine the feelings
of the undereducated masses of American troops faced with a strange culture in a high-stress environment! Perhaps one cannot
blame the troops for their ignorance. Heaven knows the U.S. command made only the most perfunctory effort to educate them
about Vietnam and the nature of the war.
However, that is no excuse for veterans to pretend that they understand what
they saw in Vietnam. America's Vietnam veterans must be honored for their courage, sacrifice and loyalty to their country.
But courage and sacrifice are not the same as knowledge. Fighting in Vietnam didn't make soldiers into experts on the country
or the war, any more than having a baby makes a woman an expert on embryology.
What most U.S. soldiers did there taught
them little or nothing about South Vietnam's culture, society, politics, etc. Few Americans spoke more than a half-dozen words
of Vietnamese; even fewer read Vietnamese books and newspapers; and not many more read books about Vietnam in English.
Except
for advisers, few Americans worked with any Vietnamese other than (perhaps) the clerks, laundresses and waitresses employed
by U.S. forces.
Most important for our purpose, few U.S. troops ever observed South Vietnamese forces in combat. Even
the ones who did rarely considered the attitude differences that must have existed between soldiers like the Americans, who
only had to get through one year and knew their families were safe at home, and troops like the South Vietnamese, who had
to worry about their families' safety every day and who knew that only death or grievous wounds would release them from the
army. The Vietnamese naturally used a different measuring stick to determine what was important in fighting the war.
Journalists
were no better. Consider a biased TV report I heard in which a reporter denounced South Vietnam's air force because -- despite
Vietnamization -- it "let the Americans" fly the tough missions against North Vietnam.
In fact, it was the United
States that would not let the South Vietnamese fly into North Vietnam (except for a few missions in the early days of the
bombing). The American leaders wanted to control the bombing so that the United States could use it as a negotiating tool.
Not wanting the South Vietnamese to have any control over bombing policy, the U.S. forces deliberately gave them equipment
unsuited for missions up North. South Vietnam did not get the fighter-bombers, weapons, refueling aircraft or electronic-warfare
equipment necessary for such missions. It was an American decision.
The TV reporter in question either was ignorant
of that fact or chose to ignore it in order to do a hatchet job on the American allies. Considering his blatantly biased words
and tone of voice, I concluded that any ignorance he suffered from was deliberate.
Another example of media bias came
during the Khe Sanh siege. If you asked a thousand Americans which units fought at Khe Sanh, most of those who had heard of
the battle would probably know that U.S. Marines did. But it would be surprising if more than one out of the thousand knew
that a South Vietnamese Ranger battalion had shared the rigors of the siege with American Marines. Other South Vietnamese
units took part in supporting operations outside the besieged area. The U.S. media just did not consider the American allies
worthy of coverage unless they were doing something shameful, so these hard-fighting soldiers became quite literally the invisible
heroes of Khe Sanh.
All this -- soldier and media bias -- came together clearly during news reports of the 1972 incursion
into Laos.
Consider a TV documentary a decade ago. It included film of some American GIs being interviewed during
the Laotian fighting. These guys, themselves safely inside South Vietnam, were "explaining" the South Vietnamese army's struggle
in contemptuous, racist remarks. The reporter then suggested that these American GIs understood the situation better than
the American generals.
The incursion, of course, is the source of the infamous photo of a South Vietnamese soldier
escaping from Laos by clinging to a helicopter skid. This image was and is held up to Americans again and again as "proof"
of South Vietnamese unworthiness.
In fact, it is a classic example of photography' s power to lie. What happened was
this: The South Vietnamese were struck by overwhelming Communist forces. The U.S.military failed to provide the support that
had been promised because enemy anti-aircraft fire was too strong. There were reports of U.S. helicopter crews kicking boxes
of howitzer ammunition out the doors from 5,000 feet up, hoping the stuff would land inside South Vietnamese perimeters. The
helicopters simply couldn't get any closer.
Given that context, consider the way Colonel Robert Molinelli, an American
officer who witnessed the action, described it in the Armed Forces Journal of April 19, 1971: "A South Vietnamese battalion
of 420 men was surrounded by an enemy regiment of 2,500-3,300 men for three days. The U.S. could not get supplies to the unit.
It fought till it ran low on ammunition, then battled its way out of the encirclement using captured enemy weapons and ammunition.
It carried all of its wounded and some of its dead with it. Reconnaissance photos showed 637 visible enemy dead around its
position.
The unit was down to 253 effectives when it reached another South Vietnamese perimeter. Some 17 of those
men did panic and rode helicopter skids to escape. The rest did not.
Now, some might consider dangling from a high-flying,
fast-moving helicopter for many miles, subject to anti-aircraft fire, to be a pretty gutsy move. But, aside from that, how
can such an isolated incident -- during a hard-fought withdrawal-while- in-contact (universally acknowledged to be just about
the toughest maneuver in the military inventory) -- be inflated into condemnation of an entire army, nation and population?
The answer is racism. The guys hanging from the helicopter skids were funny-looking foreigners. If they had been Americans,
or even British, the reaction undoubtedly would have been one of compassion for the ordeal they had been through..
Evidence
for this is found in how Americans responded to the British retreats early in World War II.
There were some disgraceful
displays among British forces at Dunkirk and elsewhere. At Dunkirk a sergeant in one evacuation boat had to aim a submachine
gun at his panicky charges to keep order on board. On another boat soldiers had to pummel an officer with their weapons to
keep him from climbing over the gunwale and swamping the boat. In Crete, a New Zealand brigade had to ring its assigned embarkation
beach with a cordon of bayonets to keep fear-stricken English troops from swarming over the boats.
Yet the image of
Britain's lonely stand against Hitler in 1940 is one of heroism. That's perfectly justified by the facts, and isolated incidents
like the ones described above should not detract from the overall picture of courage and devotion.
It is certainly
true that South Vietnamese forces gave an undistinguished performance in the final days, with the exception of the incredibly
heroic defense of Xuan Loc.
Yet there are reasons for that. And there are reasons to believe that, with more loyal
support from the Americans, the South Vietnamese could have turned in more Xuan Loc-style performances and perhaps even have
saved their country.
The real issue again is not just how the South Vietnamese performed, however; it is how their
performance compared with the way Americans might have performed under similar circumstances. .
And the truth is that
American troops -- if they were abandoned by the U.S. the way South Vietnamese were -- probably would perform no better than
the South Vietnamese did.
Remember: the United States had cut aid to South Vietnam drastically in 1974, months before
the final enemy offensive. As a result, only a little fuel and ammunition were being sent to South Vietnam. South Vietnamese
air and ground vehicles were immobilized by lack of spare parts. Troops went into battle without batteries for their radios,
and their medics lacked basic supplies. South Vietnamese rifles and artillery pieces were rationed to three rounds of ammunition
per day in the last months of the war.
The situation was so bad that even the North Vietnamese commander who conquered
South Vietnam, General Van Tien Dung, admitted his enemy's mobility and firepower had been cut in half.. Aside from the direct
physical effect, we must take into account the impact this impoverishment had on South Vietnamese soldiers' morale.
Into
this miserable state of affairs the North Vietnamese slashed, with a well-equipped, well-supplied tank-and-motorized- infantry
blitzkrieg..
Yes, the South Vietnamese folded. Yes, they abandoned some equipment (much of which would not work anyway
for lack of spare parts) and some ammunition (which they had hoarded until it was too late to shoot it or move it, because
they knew they would never get any more). So whose fault was that? Theirs... or America's?
Yes, South Vietnam's withdrawal
from the vulnerable northern provinces was belated and clumsy, leading to panic and collapse. But how could the South Vietnamese
government have abandoned its people any earlier, before the enemy literally forced it to?
For a while the South Vietnamese
hoped the American B-52s would return and help stem the Communist tide. When it became clear they would not, understandable
demoralization set in.
The fighting spirit of the forces was sapped, and many South Vietnamese soldiers deserted --
not because they were cowards or were not willing to fight for their country, but because they were unwilling to die for a
lost cause when their families desperately needed them.
Would Americans do any better under the conditions that faced
the South Vietnamese in 1975? Would U.S. units fight well with broken vehicles and communications, a crippled medical system,
inadequate fuel and ammunition, and little or no air support -- against a powerful, well-supplied and confident foe? I doubt
it.
Would the South Vietnamese have won in 1975 if the U.S. government had kept up its side of the bargain and continued
matching the aid poured into North Vietnamese by the Communists?
The answer is unknowable. Certainly they would have
had a fighting chance, something the U.S. betrayal denied them. Certainly they could have fought more effectively. Even if
defeated, they might have gone down heroically in a fight that could have formed the basis for a nation-building legend and
for continued resistance against Communism on the Afghan model.
Even if the South Vietnamese had been totally defeated,
wholehearted U.S. support would have enabled Americans to shrug and say they had done their best. However, the U.S. did not
do its best, and for Americans to try to disguise that fact by slandering the memory of South Vietnam and its army is wrong.
It is too late now for Americans to make good the terrible crime committed in abandoning the South Vietnamese people
to Communism. But it is not too late to acknowledge the error of American insults to their memory. It is not too late to begin
paying proper honor to their achievements and their heroic attempt to defend their liberty.
Nguồn : Nước Việt Online
|

|
|

|

|

|

|

|
|
Từ Chiến Trường Khe Sanh đến Chiến Dịch
Tết Mậu Thân
|
Phan Đức Minh
|
|
( Kính tặng
các chiến hữu, bè bạn cuả tôi cùng những cựu Sĩ Quan QLVNCH , đang định
cư nơi hải ngoại ).
1.- T́nh h́nh tổng quát : Vào cuối năm 1967, các mặt
trận khắp 4 Vùng Chiến Thuật tại Nam Việt Nam bùng nổ những trận đánh
dữ dội, chứng tỏ mức độ “ leo thang “ cuả chính sách quân sự
cuả Hoa Kỳ tại miền đất nước xa xôi này đă lên đến tột
đỉnh . Tuy nhiên, t́nh h́nh quân sự tại đây không có ǵ sáng suả, tốt đẹp
như sự mong muốn cuả Ngũ Giác Đài, Quốc Hội, cuả Chính Phủ cũng
như nhiều Tướng Lănh Hoa Kỳ, đă từng hưá hẹn, cam kết với nhân
dân, Quốc Hội và dư luận truyền thông Hoa Kỳ khi quân đội tác chiến được
ào ạt và liên tục đổ vào Việt Nam.
2.- Oanh tạc Miền Bắc Việt
Nam :
* Ngày 30 - 9 - 1967 : Phi cơ chiến đấu thuộc Hải Quân Hoa Kỳ oanh tạc
dữ dội Cưả Cấm, cách Đông Bắc Hải Pḥng 4 dậm, điểm tập
trung tầu bè vận chuyển đồ tiếp liệu, quân trang, vũ khí cho lực lượng
cộng sản, chính quy và chủ lực địa phương đang chiến đấu
tại Miền Nam. Đồng thời không quân Mỹ cũng đánh phá căn cứ không quân
cộng sản tại Kiến An, dành cho các phi cơ MIG viện trợ từ Liên Sô, các trại
binh cũng tại vùng này, và phá huỷ kho chưá nhiên liệu Phúc Lợi, gần thành phố
Vinh.
* Ngày 2 - 10 -1967 : Không quân Mỹ mở rộng mức độ đánh phá Miền
Bắc Việt Nam , nhắm vào các cầu, đường vận chuyển thực phẩm,
quân trang, vũ khí đưa từ Trung Quốc sang, nhắm vào vùng biên giới phiá Bắc.
Trong
lúc này, Thượng Nghị Sĩ John Sherman Cooper (Cộng Hoà ) thúc giục Chính Phủ Hoa Kỳ
phải t́m cách mở đường thương nghị với cộng sản ( để
t́m ra lối thoát v́ coi bộ không ăn được rồi ) với sự Ngưng oanh tạc
Miền Bắc Việt Nam một cách vô điều kiện. Ngược lại, Thượng
Nghị Sĩ Gale McGee (Dân Chủ) lại bênh vực đường lối chiến tranh mà
chính phủ Hoa Kỳ đang theo đuổi v́ đó không phải chỉ là vấn đề
an ninh cuả riêng khu vực Việt Nam mà c̣n cuả cả vùng Đông Nam Á Châu, không thể
lui đươ.c. Thượng Nghị Sĩ Thomas Kuchel ( Cộng Hoà ) lên tiếng cảnh
cáo “ Sự đơn phương ngưng oanh tạc Miền Bắc sẽ vô cùng nguy hiểm
v́ nó sẽ khuyến khích cộng sản Bắc Việt gia tăng vận chuyện phương
tiện chiến tranh đổ vào Miền Nam “ . Những bất đồng tương
tự như thế ngày càng thêm rơ rệt, sôi nổi trong Quốc Hội Hoa Kỳ.
*
Ngày 12 - 10 -1967 : Trong một cuộc họp báo, ngoại trưởng Dean Rusk đề nghị
: Quốc Hội nên t́m ra 1 giải pháp hoà b́nh tại Việt Nam, ngưng hay giới hạn
mức độ oanh tạc Miền Bắc , vận động Liên Hiệp Quốc để
đi đến một Hoà Hội Geneva mới ( ư nói Hoà Hội Geneva cũ là vụ người
Pháp…tháo chạy hồi 1954, chia đôi đất nước Việt Nam.) Hà Nội th́
đang tính chuyện sẽ đánh thắng và ăn lớn trong canh bạc này, khi biết rằng
Quốc Hội, Chính Phủ và nhân dân Hoa Kỳ không cách nào chịu nổi cuộc chiến
tranh… cù cưa, dai dẳng, tốn kém, mệt mỏi, nhất là không có chiến tuyến
rơ ràng đễ Hoa Kỳ sử dụng cái ưu thế hoả lực cuả ḿnh. Cộng
sản quốc tế, Hà Nội, Hồ Chí Minh và Tướng Vơ Nguyên Giáp muốn đánh thắng
cuộc chiến tranh này trên mặt trận chính yếu, không phải ở chiến trường
Việt Nam mà là ở ngay nước Mỹ, tại Quốc Hội, trên đường phố
và tại các trường Đại Học Hoa Kỳ, với sự tiếp tay cuả Đảng
cộng sản Mỹ, tuy là c̣ con, nhưng rất được việc trên mặt trận
chiến tranh tâm lư trên đất Mỹ, xuất phát từ các trường Đại Học,
rồi đánh lan ra các đường phố.
3.- Phong trào phản chiến :
* Ngày
16 - 21 tháng 10 - 1967 : Những cuộc biểu t́nh cuả thanh niên, sinh viên bùng nổ trên các đường
phố, và lan mạnh đi khắp nước Mỹ, chống lại chính sách quân dịch
cuả chính phủ, đem lính đi đánh nhau ở Việt Nam xa xôi. Hàng trăm người
đứng đầu, chủ mưu đă bị bắt. Điều này càng làm cho vấn
đề chống chiến tranh Việt Nam thêm lớn ma.nh. Cái tổ cuả nó là từ trường
Đại Học Kent University, do một Giáo Sư, cán bộ cộng sản Mỹ lănh đa.o.
Người ta biết chuyện này là khi Giáo Sư đó từ trần th́ chính Tổng Bí Thư
Đảng cộng sản Mỹ đă đọc điếu văn, ca ngợi công cuộc
lănh đạo sinh viên đấu tranh chống chiến tranh Việt Nam một cách can truờng
và thành công vĩ đạị
* Ngày 19 - 10 - 1967 : Thấy t́nh h́nh nội bộ nước
Mỹ đă rơi đúng vào kế hoạch mong đợi cuả ḿnh, cộng sản Hà Nội
thẳng thừng bác bỏ ư muốn thương thuyết chấm dứt chiến tranh, được
Tổng Thống Mỹ, Lyndon B. Johson , đề cập đến trong bài diễn văn đọc
trước đó ít ngày tại San Antonio .
* Ngày 22 - 10 -1967 : Dân biểu Morris K Udall, trong
một bài diễn văn đă chính thức lên tiếng xác nhận rằng Hoa Kỳ đang
đi trên con đường lầm lẫn và nguy hiểm tại Việt Nam. Hoa Kỳ nên chấm
dứt sự leo thang chiến tranh và lo chuyện đem những thanh niên Mỹ trở về,
và giao trả cuộc chiến tranh đó cho những người Việt Nam (…the United
States is on a mistaken and dangerous road in Vietnam and should stop escalation and start bringing American boys home and
start turning this war back to the Vietnamesẹ)
* Ngày 24 - 25 tháng 10 - 1967 : Sinh viên biểu t́nh chống
Dow Chemical Company, hăng chế tạo bom Napalm để đem đi sử dụng tại chiến
trường Việt Nam.
* Ngày 29 - 10 - 1967 : Thấy t́nh h́nh thuận lợi, cộng sản
tung quân cấp Trung Đoàn ( Regiment ) mở một cuộc tấn công thử sức, đánh
thẳng vào căn cứ đóng quân cuả lực lượng đặc biệt Mỹ tại
Lộc Ninh, nằm gần khu vực lănh thổ an toàn hay cưả ngơ đi vào chiến khu
cuả Việt Cộng, nhằm tạo thế mạnh cho những cuộc thương thảo,
hoà đàm có thể diễn ra trong tương lai không xa. Mỹ tăng cường 1 Trung Đoàn
cỡ 1,400 quân từ Sư Đoàn I Bộ Binh Mỹ. Quân hai bên đánh nhau xáp lá cà, chiếm
giữ từng căn nhà, từng khu phố cuả thị trấn Lộc Ninh. Cuối cùng
Việt Cộng chịu không nổi, đành rút quân khỏi Lộc Ninh với khoảng 2 Tiểu
Đoàn bị tiêu diê.t. Số khá đông phơi xác tại trận dưới sức mạnh
cuả hỏa lực yểm trợ của không quân.
* Ngày 2 - 11 -1967 : Tổng Thống
Johnson triệu tập 1 cuộc họp mật, gồm những nhân vật lănh đạo có
uy tín hàng đầu cuả quốc gia để yêu cầu các vị này t́m giúp một phương
cách “ Làm thế nào để đoàn kết quốc gia “ ( President Johnson holds a secret
meeting with some of the nation’s most prestigious leaders… Johnson asks them for advice on “ How to unite
the country ?”. Nếu không, quân đội đang chiến đấu tại các mặt trận
mà ở hậu phương, ngay trên đất nước Hoa Kỳ, thanh niên, sinh viên cùng nhiều
tầng lớp dân chúng khác lại cứ liên tục biểu t́nh chống lại công việc
chiến đấu, hao tổn sinh mạng và tiền bạc đó th́ không thể nào chấp
nhận được.
Nhiều thành viên cuả chính phủ Mỹ cũng như giới
chính trị đă phải tính tới điều mà cộng sản Hà Nội mong muốn : Mỹ
phải công nhận cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam , con cờ cuả cộng sản
Hà Nội tại Miền Nam, có quyền tham dự b́nh đẳng trong một cuộc Hội
Nghị Hoà Đàm trong tương lai để giải quyết vấn đề chiến
tranh tại Nam Việt Nam.
4.- Cộng sản tạo thế mạnh để chuẩn
bị hoà dàm sẽ được đưa ra từ phiá đối phương :
*
Từ ngày 3 đến 22 -11 - 1967 : Nhằm mục đích đẩy Hoa Kỳ và Nam Việt
Nam phải ngồi vào bàn hội nghị có thể là ở Geneva Thụy Sĩ, hay Paris cuả
Pháp, để giải quyết cuộc chiến tại Nam Việt Nam theo ư muốn cuả
Hà Nội, giống như Hà Nội đă đẩy người Pháp phải ngồi vào bàn
Hội Nghị hoà đàm hồi 1954 tại Geneva, chia đôi đất nước Việt
Nam, cộng sản Hà Nội tung 4 Trung Đoàn ( Regiments ) khoảng 6,000 quân đánh thẳng
vào 1 căn cứ quan trọng cuả Hoa Kỳ, căn cứ quân sự Dakto ở cao nguyên
Trung Phần Việt Nam, cách Sài G̣n 280 dậm về hướng Bắc. Trước đây,
cộng sản rất kỵ việc tấn công các căn cứ quân sự cuả Mỹ,
một quân đội nhà giầu, mà hoả lực pḥng thủ cũng như hoả lực
yểm trợ cuả không quân và pháo binh rất là ghê gớm, kinh khủng. Căn cứ này
do gần 1,000 quân Mỹ trú đóng cho nên cộng sản dùng chiến thuật “ biển
người “, lấy 6 đánh 1 , để mong dứt điểm chớp nhoáng. Chúng
không ngờ Mỹ có thể tăng viện mau chóng, ồ ạt với một lực lượng
4,000 quân thuộc Sư Đoàn 4 Bộ Binh, và tăng viện thêm bằng Lữ Đoàn 173 không
Kỵ. Cuộc chiến ác liệt và đẫm máu xẩy ra giưă đôi bên. Cộng sản
phải bỏ pḥng tuyến cuối cùng ở sườn đồi 875, truớc sức phản
công cuả Lữ Đoàn 173 Không Kỵ, với sự yểm trợ dữ dội và quyết
liệt cuả không quân. Dữ dội và quyết liệt đến nỗi chính ngay 30 quân
nhân Mỹ cũng bị chiến đấu oanh tạc cơ cuả Mỹ tiêu diệt luôn
cùng một lúc với quân cộng sản. Lữ Đoàn này đă chịu hy sinh 158 quân nhân cho
cuộc phá vỡ tuyến pḥng thủ cuối cùng cuả cộng sản tại ngọn đồi
này.Phần cộng sản, đă “nướng” trọn 1 Trung Đoàn , trên 1 ngàn quân,
cho trận đánh mang nhiều tham vọng liều lĩnh, điên cuồng.
* Ngày 6 và
7 - 11 - 1967 : Không quân Mỹ đánh tới tấp xuống các căn cứ quân sự, tiếp
liệu cuả cộng sản ngay chung quanh Hà Nội và lên tận biên giới phiá Bắc, ngăn
chặn các con đường tiếp tế dường bộ từ Trung Quốc sang Việt
Nam. Hoa Kỳ cũng biết rằng sẽ phải vào bàn Hội Nghị tính chuyện hoà đàm
nên khai thác tối đa ưu thế về hoả lực cuả không quân để tạo
thế mạnh, trong khi đó, cộng sản tính chuyện phải đánh thắng một
trận thật lớn nhắm vào căn cứ cuả quân đội Hoa Kỳ dù biết
rằng hoả lực pḥng thủ cuả quân đội “ nhà giầu cỡ nhất thế
giới “ nó như thế nào. Đó là chưa nói đến hoả lực yểm trợ
cuả những giàn pháo binh khủng khiếp cuả Mỹ, cuả pháo đài bay B-52 rải
bom kín mặt đất, cuả các phản lực phóng pháo cơ cuả Mỹ sẵn sàng
nhào tới xịt hoả tiễn mù trời, xối đại liên như tưới nước,
thả bom săng đặc phủ lên đầu quân cộng sản…
* Ngày 11 -11
-1967 : Cộng sản Hà Nội chơi trội bằng một đ̣n Chiến tranh tâm lư là lựa
chọn, và cho thả 3 tù binh Mỹ , đă được hoàn toàn tẩy năo, sẵn sàng về
nước tham gia chống chiến tranh Việt Nam, trong 1 buổi lễ long trọng, đầy
tính cách tuyên truyền, tổ chức không phải tại Hà Nội, mà lại ở thủ
đô Pnompenh cuả nước láng giềng Cambodia. Việt Cộng tuyên bố cho cả thế
giới biết là 3 tù binh Mỹ này được phóng thích, trở về với gia đ́nh
để đáp ứng lại tinh thần đấu tranh cuả nhân dân Hoa Kỳ chống
lại cuộc chiến ở Việt Nam, và cũng để bầy tỏ tinh thần ủng
hộ cuộc đấu tranh can cường cuả những người bạn da đen
tại Hoa Kỳ ( The Vietcong say the men were released in response to opposition to the war in the United States
and also to express support for the “ courageous struggle “ of the Blacks in the United States… ).
*
Ngày 14 -11 -1967 : Chỉ 3 ngày sau đó, 1 cuộc biểu t́nh chống chiến tranh Việt Nam,
được đa,ø nổ bùng ra tại New York, 1 thành phố lớn, đông người,
có nhiều cơ quan tai mắt cuả thế giới. Cuộc xô xát dữ dội đă xẩy
ra giưă cảnh sát và đám đông biểu t́nh. Thế là ngọn lưả chống chiến
tranh lại càng bùng lên mạnh hơn bao giờ. Quân đội c̣n tinh thần nào mà chiến
đấu cho ai nưă đây? Hậu phương to lớn đă như vậy th́ chỉ
c̣n có nước tính bài… bỏ cuộc là “ thuận ḷng dân nhất “. Có điều
là bỏ cuộc cách nào cho được mắt với thiên hạ một chút cho ! Cộng
sản quốc tế cũng như Hà Nội biết rơ cái tẩy này cho nên nó phải để
Hà Nội đánh thắng 1 trận thật lớn, dù với giá nào, để bắt đối
phương phải ngồi vào bàn Hội Nghị hoà đàm ở Geneva hay Paris cũng được,
miễn là cộng sản Hà Nội đứng trên thế mạnh và Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam , con bài của Hà Nội tại Miền Nam, phải có quyền ngồi vào bàn
Hội Nghị để bàn thảo và quyết định về vấn đề chính trị
và quân sự cuả Nam Việt Nam, dù cho các Ông Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ,
2 nhân vật lănh đạo hàng đầu cuả chính quyền Việt Nam Cộng Hoà lúc đó
từng lên tiếng phủ nhận vai tṛ cuả Mặt Trận này bất kể dưới
h́nh thức nào.
* Ngày 29 - 11 -1967 : Trước sự bế tắc cuả cuộc chiến,
trước sức phản chiến mạnh mẽ cuả dân chúng Mỹ, nhất là thanh niên,
sinh viên, Ông Robert S. McNamara, Bộ trưởng Quốc Pḥng Mỹ hết c̣n lạc quan, tin
tưởng ở sự chiến thắng cộng sản tại Nam Việt Nam như khi mới
đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào chiến trường này hơn 2 năm về trước,
đành xin từ chức, lui về hậu trường cuả t́nh h́nh chính trị rối
beng, để làm chức vụ “ President of the World Bank “.
* Từ ngày 1 đến
7 - 12 - 1967 : Cảnh sát Việt Nam Cộng Hoà theo dơi và bắt được Nguyễn Văn
Huân , một cán bộ cao cấp, đại diện cuả Việt Cộng, từ vùng chiến
khu vào, được CIA xếp đặt cho gặp Đại Sứ Mỹ Bunker để
tính chuyện làm 1 cuộc “ đi đêm - Furtive agreement “ cho vấn đề Nam Việt
Nam, giưă Mỹ và cộng sản. Chính giới Nam Việt Nam lên tiếng chỉ trích dữ
dội Hoa Kỳ âm mưu phản bội người bạn đồng minh để đi
đêm riêng lẻ và trực tiếp với cộng sản.
5.- Lựa chọn một
Điện Biên Phủ thứ 2 :
* Từ 20 - 1 đến 14 -4 / 1968 : Bộ Chính trị,
cơ quan cao nhất cuả Cộng Sản Hà Nội cùng Quân Ủy Trung Ương quyết
định chọn chiến trường Khe Sanh, 14 dặm về phiá Nam vĩ tuyến 17 và
6 dăïm cách biên giới Lào để làm một Điện Biên Phủ thứ 2, một đ̣n
dứt điểm, nhằm đánh xụp luôn tinh thần nhân dân Mỹ và đánh bại quân
đội Mỹ tại chiến trường Việt Nam như chúng đă từng đánh
bại quân đội Pháp tại chiến trường Đông Dương 14 năm về
trước. Căn cứ Khe Sanh này đă được Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ
trấn giữ cả năm trước đó, nhằm kiểm soát các trục chuyển quân
và vận chuyển quân nhu, vũ khí từ Bắc Việt ṿng qua biên giới Lào rồi vào Nam
Việt Nam. Trận đánh được mở đầu và thăm ḍ vào ngày 20 tháng 1 - 1968
bằng một lực lượng xung kích cuả cộng sản, theo đường hầm
đào từ xa, th́nh ĺnh tấn công tiêu diệt 1 Tiểu Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến
Mỹ đóng vị trí tiền đồn nằm về phiá Tây-Bắc cuả căn cứ
này. Thấy có thể đánh lớn được, ngay ngày hôm sau, Quân Ủy Trung Ương
cộng sản cho quân chính quy Bắc Việt tràn ngập khu vực này trong khi pháo binh tầm
xa ( cuả Liên Sô ) xối đạn như mưa băo khu vực chung quanh, đánh trúng vào kho
chưá 1,500 tấn chất nổ cuả quân Mỹ tại đây. Cộng sản áp dụng
“ chiến thuật mưa băo pháo binh - Tactic of Storm-beating Artillery ) y như hồi đánh
Điện Biên Phủ năm 1954, làm tê liệt các giàn pháo binh cuả Pháp, khiến Đại
tá Pirotti, Chỉ Huy trưởng Pháo Binh cuả Pháp tại Điện Biên Phủ phải tháo
chốt lựu đạn mà tự sát v́ thấy ḿnh bất lực, và pháo binh cuả ḿnh bị
tiêu diệt một cách tang thương. T́nh trạng mưa băo pháo binh này cuả quân cộng
sản quả có làm cho lực lượng Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ trấn giữ
căn cứ Khe sanh đành nằm yên cứng ngắc dưới giao thông hào và các ụ pḥng
thủ xây bằng bao cát ( An incessant barrage of storm-beating artillery keeps Khe Sanh’s Marines defenders
pinned down in their trenches and bunkers ). V́ căn cứ Khe Sanh lúc này cần được tiếp
tế bằng đường không vận ( giống như Điện Biên Phủ ngày trước
) cho nên Trung Tướng Robert Cushman, Tư Lệnh chiến trường, không dám sử dụng
lực lượng tác chiến cơ hữu cuả căn cứ để mong đánh lui
các cuộc tấn công dữ dội cuả quân cộng sản đang tràn vào từ mọi
phiá, mà chỉ pḥng thủ để giữ trận địa, đồng thời yêu cầu
không quân và pháo binh can thiệp ồ ạt trong suốt thời gian căn cứ bị bao vây
( … calling for massive artillery and air strikes, during the siege…). Người Pháp ở chiến
trường Điện Biên Phủ 14 năm về trước, không có được sức
mạnh yểm trợ dữ dội này cho nên đành bó tay chịu chết cả Tướng
lẫn quân. Người Mỹ là “ Quân đội tân tiến, nhà giầu “ cho nên hơn
hẳn người Pháp ở điểm này. Cộng sản Hà Nội tuy biết có sức
không yểm ( Power of Air Protection ) , nhưng không thể ngờ rằng quân đội Mỹ
lại có thể vượt quá xa người Pháp trên thế trận núi rừng hiểm hóc
như thế này. Máy bay Mỹ ném xuống khu vực giao tranh mỗi ngày 5,000 trái bom mà sức
công phá tương đương bằng 5 trái bom nguyên tử đă ném xuống Hiroshima hồi
tháng 8 năm 1945, đánh gục sức chiến đấu cuả quân đội Nhật Bản
“ bách chiến bách thắng “, để rồi sau trái bom thứ hai, đánh xuống
Nagasaki th́ quân đội Nhật Bản đành buông súng đầu hàng vô điều kiện
(… ỤS. planes dropping 5,000 bombs daily, explode the equivalent of five Hiroshima-sized atomic bombs in the area…)
Khác hẳn với chiến trường Điện Biện Biên Phủ ngày trước:
Quân cộng sản hoàn toàn vây chặt Điện Biên Phủ, quân Pháp không thể giải vây
bằng lục quân, trong khi sức can thiệp yếu ớt cuả không quân Pháp bị hoả
lực pḥng không cuả cộng sản trên các ngọn đồi chung quanh hoàn toàn chế ngự,
làm cho tê liệt, vô hiệu . Ở chiến trường Khe Sanh này, mọi sự đều
khác xa. Chiến dịch Pegasus, giải vây căn cứ Khe Sanh cuả Mỹ mở màn từ
đầu tháng 4- 1968 bằng Đệ Nhất Sư Đoàn Không Kỵ cuả Mỹ ( The
Ist U.S. Air Cavalry Division ) cùng với 1 Tiểu Đoàn cuả Quân Đội Việt Nam Cộng
Hoà ( An ARVN Battalion )- chắc là thông thạo trận địa hơn- từ ngoài tiến vào
trận đánh bằng ngả Đông Nam, trong khi Sư Đoàn I Thủy Quân Lục Chiến
Mỹ tiến đánh về phiá Tây, tái lập lưu thông vận chuyển trên quốc lộ
số 9. Cuộc giải vây hoàn toàn thành công, và quân cộng sản hoàn toàn thất bại trong
âm mưu “ Đánh thắng 1 trận Điện Biên Phủ thứ 2 “ khi các cánh quân
giải vây tiếp xúc được với nhau, đánh từ ngoài vào, và Thuỷ Quân Lục
Chiến Mỹ bảo vệ căn cứ từ trong đánh ra, cộng với hoả lực
yểm trợ kinh khủng cuả không quân.
Chính nhật báo Nhân Dân ( cơ quan ngôn luận
chính thức cuả cộng sản Hà Nội ) đă từng thúc đẩy Hà Nội nên coi
chiến dịch tiến đánh Khe Sanh như một cơ hội lập lại chiến
tích vẻ vang oanh liệt tại Điện Biên Phủ ngày trước để bắt
người Mỹ phải chịu chung số phận với người Pháp ( Various statements
in Nhan Dan, the North Vietnamese Communist Party newspaper, suggest that Hanoi sees Khe Sanh battle as an opportunity to
re-enact its famous victory at Dien Bien Phu…).
Sau ít ngày đụng trận tại chiến
trường Khe Sanh, cộng sản Hà Nội sớm nhận thức ra rằng thời thế
đă đổi khác ngày xưa rất nhiều cho nên sẽ không thể nào biến Khe Sanh thành
một Điện Biên Phủ thứ 2 được :
* Ngày xưa, hồi năm 1954,
địch thủ cuả cộng sản Hà Nội tại chiến trường chính yếu
là Pháp, mà quân đội và hoả lực không thể nào so với quân dội tân tiến, nhà
giầu như Mỹ được.
* Lúc này, cuộc chiến đấu chống cộng
sản cuả Quân Đội và nhân dân Miền Nam Việt Nam c̣n là một vấn đề
khó khăn cho cộng sản trên nhiều mặt trận, nhiều lănh vực liên kết với
nhau. Hà Nội không thể chiến thắng toàn diện chỉ bằng một trận đánh
như Điện Biên Phủ 14 năm về trước.
* Muốn chiến thắng
toàn diện trên chiến truờng Nam Việt Nam, cộng sản Hà Nội bắt buộc phải
nghĩ đến một trận đánh đại quy mô, đồng loạt trên khắp
các mặt trận quân sự tại Nam Việt Nam, và điều quan trọng chính yếu là
“ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam “ , con cờ cuả Hà Nội,
phải huy động, lôi cuốn được dân chúng Miền Nam tham gia vào một cuộc
“ Tổng nổi dậy - General Uprising “ để tiêu diệt quân đội và lật
đổ chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa, tạo thế mạnh tuyệt đối hầu
có thể giàn xếp toàn bộ vấn đề Nam Việt Nam ,theo sách lược cuả
cộng sản Hà Nội cũng như cộng sản quốc tế ,với Hoa Kỳ là đối
thủ đă mệt mỏi, rối loạn ở hậu phương, đang t́m đường
rút chân ra khỏi cái “ Vũng lầy Việt Nam “.
Chính do những nhận thức
kể trên mà Cộng Sản Hà Nội, với sự chi viện tối đa cuả Liên Sô
và Trung Quốc, cùng toàn thể khối cộng sản quốc tế đă phải gấp
rút chuẩn bị và đi một nước cờ liều lĩnh, táo bạo, không ai có thể
nghi ngờ một cách đúng mức được. Đó là : dùng chiến trường Khe
Sanh để thu hút mọi sự chú ư, tập trung lực lượng đốùi phó cuả
đối phương về vùng này, đồng thời mở vài cuộc tấn công nhằm
vào Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà ở Cao Nguyên Trung Phần, cũng như ở vùng
đồng bằng Sông Cửu Long để rồi chuẩn bị tung ra một chiến
dịch đại quy mô, phối hợp quân chính quy Bắc Việt với quân chủ lực
Miền cuả Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cùng các đơn vị đặc
công nội thành tại các thành phố, thị trấn cuả các Thành và Tỉnh Uỷ cộng
sản, lợi dụng cuộc hưu chiến vào giờ phút thiêng liêng cuả đêm Giao Thưà
Tết Mậu Thân ( 1968 ) để bất ngờ mở cuộc tổng tấn công đều
khắp vào 7 thành thị lớn nhất cuả Nam Việt Nam, và đánh chiếm 30 Tỉnh
Lỵ cuả Nam Việt Nam từ vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long cho đến tận
vùng phi quân sự ở vĩ tuyến 17. Trong lúc đó, cộng sản dùng pháo binh Liên Sô và hoả
tiễn Trung Cộng bắn phá các căn cứ quân sự Mỹ cũng như Việt Nam Cộng
Hoà, gây hoang mang tinh thần dân chúng cả nước, để cố tạo nên một cuộc
“ Tổng nổi dậy “ cuả dân chúng Nam Việt Nam, mà cộng sản đánh giá
là đă chán ghét chính quyền, căm thù… Mỹ ngụy đến mức cao độ,
qua các cuộc biểu t́nh từ Huế đến Sài G̣n, đấu tranh chống Diê.m-Nhu năm
1963, chống Nguyễn Khánh năm 1964, chống Thiê.u-Kỳ-Có năm 1966 vv… Cộng sản
Hà Nội đă lầm lẫn lớn để cho rằng dân chúng chống lại chính quyền
đương thời ở Nam Việt Nam , trong bầu không khí có ít nhiều tinh thần tự
do, dân chủ, có nghiă là dân chúng Nam Việt Nam ưa thích, nghiêng theo cộng sản. Cộng sản
đă lầm to ! Một số dân chúng chống chính quyền Nam Việt Nam là quyền và ư muốn
cuả họ, nhưng hoàn toàn không phải v́ họ ưa thích, muốn đi theo cộng sản.
Cộng sản tấn công ngay vào Thủ Đô Sài G̣n, chiếm giữ nhiều cứ điểm
quan trọng, nhằm lật đổ chính quyền từ Trung ương, dùng đài phát thanh,
truyền h́nh để huy động dân chúng Tổng nổi dậy lập chính quyền nhân
dân . Tiểu đội cảm tử quân cộng sản, gồm 19 tên, liều mạng đánh
thẳng vào Toà Đại Sứ Mỹ, cơ quan đầu năo cuả Mỹ tại Việt
Nam, chiếm giữ 1 khu vực cuả Toà Đại Sứ trong suốt 6 tiếng đồng
hồ, cho tới khi quân nhẩy dù Mỹ được trực thăng vận đổ
quân xuống ngay nóc nhà Toà Đại Sứ , quân cộng sản mới bị tiêu diệt hay
bị đánh bật ra ngoài. Cuối cùng, quân cộng sản đă bị liên quân Viê.t-Mỹ
cũng như các lực lượng cảnh sát đánh bại ở Sài G̣n , sau 1 tuần lễ
đánh nhau, giành từng khu phố, từng căn nhà, giống như trong phim ảnh Âu-Mỹ.
Tại các thành phố, thị trấn khác, cộng sản đều bị Quân Đội
Việt Nam Cộng Hoà đánh bại, phải tháo chạy, để lại nhiều xác chết,
trong đó có nhiều quân chính quy Bắc Việt, được trang bị tối tân bằng
tiểu liên xung kích AK cuả Liên Sô, Tiệp Khắc và Trung Cô.ng. Riêng thành phố Huế, cộng
sản dựa lưng vào hậu phương to lớn là phiá bên kia vĩ tuyến 17, với
những Sư Đoàn thiện chiến và danh tiếng , đă chiếm giữ được
lâu nhất, gần 1 tháng trời, với ư định chiếm giữ vùng đất làm bàn
đạp tiến sâu xuống miền Nam. Chúng bắt giữ nhiều quân nhân, nhân viên chính
quyền, đảng phái chống cộng, bắt đầu thiết lập chính quyền
nhân dân, tính chuyện lâu dài. Khi cộng sản bị đánh bại ở khắp các nơi,
từ Đà Nẵng trở vào đến tận đồng bằng sông Cửu Long th́ ở
Huế cộng sản cũng bị mất tinh thần, chống giữ không nổi sức
tấn công giải phóng Huế cuả Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà tại đây,
dưới sự chỉ huy cuả Danh Tướng Ngô Quang Trưởng, được tăng
cường thêm bằng lực lượng Tổng trừ bị : Nhẩy Dù, Thủy Quân
Lục Chiến, từ trong Nam đă rảnh tay, kéo ra. Cuối cùng, cộng sản đành
phải tháo chạy khỏi thành phố Huế với những cứ điểm cố thủ,
có những tên lính cộng sản bị xích chân vào những cỗ đại liên, bích kích pháo,
để phải đánh đến chết, không được rút lui, bỏ chạỵ
Phải
bỏ chạy khỏi Huế, cộng sản cùng bọn tay sai nằm vùng, chống chính quyền
ngày trước, bỏ vào bưng, nay trở về trả thù, điên cuồng thù hâ.n. Chúng
đă để lại những h́nh anh ghê rợn cuả cuộc tàn sát ghê tởm, kinh hoàng
cuả cộng sản trong cuộc đánh chiếm Thành Phố Huế trong chiến dịch
Tết Mậu Thân- 1968.
* * *
Bài viết này chỉ muốn nói lên: Sự liên hệ
giưă Chiến Trường Khe Sanh và Chiến Dịch Tết Mậu Thân.
* Ở chiến
trường Khe Sanh, cộng sản Hà Nội đă ước tính sai lầm khả năng
pḥng thủ cùng hỏa lực yểm trợ cuả quân đội Mỹ cho nên chúng đă
hoàn toàn thất bại trong việc tạo nên một chiến thắng Điện Biên Phủ
thứ 2. Cộng sản đành tranh thủ t́nh h́nh, dùng Chiến trường Khe Sanh để
làm một Kế nghi Binh (Diversionary Strategem ) đánh lưà liên quân Viê.t-Mỹ tập trung sức
mạnh vào vùng này để rồi chúng tung ra một chiến dịch quyết định,
đại quy mô ḥng dứt điểm là Chiến Dịch Tết Mậu Thân.
* Trong chiến
dịch Tết Mậu Thân , cộng sản lại ước tính sai lầm tinh thần chiến
đấu anh dũng, kiên cường cuả Quân Đội và Cảnh Sát Việt Nam Cộng
Ḥa, tinh thần chống Cộng cuả dân chúng Miền Nam cho nên chúng đă thất bại
nặng nề về quân sự trong ư đồ tạo nên một cuộc Vơ Trang Tổng Nổi
Dậy (Armed General Uprising ) cuả dân chúng cùng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam,
ḥng đập tan Quân Đội và chính quyền Việt Nam Cộng Hoà vào ngay thời điểm
đó.
Phải đợi thêm 8 năm sau, tức là tới năm 1975, với t́nh h́nh thuận
lợi hơn, với sự yểm trợ hết ḿnh cuả cộng sản quốc tế,
quân đội Mỹ không kèn không trống ra đi theo Hiệp định Paris 1973, Việt
Nam Cộng Hoà bị cắt hoàn toàn viện trợ quân sự và kinh tế, cộng thêm những
âm mưu quốc tế trong Ván bài Việt Nam cộng sản Hà Nội mới thực hiện
được những ǵ mà chúng mong ước có thể đạt được ngay từ
khi chúng tung ra những trận đánh táo bạo tại Chiến Trường Khe Sanh cũng
như bất chấp thoả hiệp ngưng bắn, liều lĩnh, điên cuồng tung
ra Chiến dịch Tổng Công Kích Tết Mậu Thân ( 1968 ) trên toàn lănh thổ Việt Nam Cộng
Hoà. Tuy nhiên, ta phải công nhận 1 điều : Chiến dịch Tết Mậu Thân ( 1968 ),
cộng sản Hà Nội đă thất bại nặng nề quân sự trước tinh thần
chiến đấu anh dũng kiên cường của quân dân miền Nam Việt Nam tại
chiến trường này, nhưng trái lại, tại đất nước Hoa Kỳ, từ
Quốc Hội, chính phủ cho đến các giới chính trị cũng như đối
với đông đảo dân chúng Mỹ, th́ cộng sản Hà Nội đă thực sự chiến
thắng, đă làm tan ră hoàn toàn ư chí... chiến thắng, hay bảo vệ cái Tiền Đồn
chống Cộng tại Nam Việt Nam như lúc bắt đầu đổ đại quân
tác chiến ( combattant forces ) vào mảnh đất xa xôi, nhỏ bé này hồi năm 1965 tại
...đầu cầu Chu Lai, Đà Nẵng để tính đến chuyện bắt buộc
phải ra đi.. dù là ra đi không có chút nào vinh quang hay danh dư.....
San Diego, California
Phan Đức Minh
Tài liệu tham khảo :
* The World Almanac of The Vietnam War
.- John S. Brownman ( General Editor ).- Bison Books Corp.- New York - 1985.
* Vietnam : The History & The Tactics
.- Ashley Brown & Adrian Gilbert .- Orbis Publishing Limited . - London - 1982.
* Vietnam Order of Battle .- Shelby
L. Stanton .- Galahad Books .- New York - 1986.
* Battles of Vietnam War .- Patrick Jennings .- Exeter Books .- New
York - 1985.
|

|
|

|

|