1lyhuonga.jpg



















phucdiendandongtiengif.gif
(Bắm vào các đề mục trên đe đọc nhiều bài  khác)
 
 








































1lyhuonga.jpg

Phong tuc viet nam

 

Đạo hiếu là ǵ?
Hiếu theo quan niệm thời xưa khác thời nay như thế nào?

Các bạn biết chữ Hán thấy rơ: Chữ "Hiếu" là chữ viết tắt của hai chữ "Lăo" ở trên (lượt bớt phần dưới) và chữ "Tử" ở dưới. "Hiếu" tức là mối quan hệ cha trên, con dưới; suy rộng ra là đạo nghĩa của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.
Đọc bài "Đạo hiếu" của Nhất Thanh (Tr.331 cuốn "Đất lề quê thói"- NXB Đồng Tháp) cùng với một số bài nói về lễ Mừng lăo,Yến lăo, tôi rất nhất trí và không lặp lại, chỉ xin nói thêm vài lời.

Đạo hiếu xuyên suốt trong mọi phong tục của  nhân dân ta, không thể không nói đến chữ hiếu khi viết về phong tục cổ truyền của ta. Lễ tế, lễ tang, lễ cưới, kể cả sinh đẻ, xây nhà dựng cửa, hội hè đ́nh đám, việc nước, việc làng, thuần phong mỹ tục đă đành  mà trong số những phong tục đă lỗi thời, ngày nay bị xếp vào loại đồi  phong bại tục, ta cũng chắt lọc được một phần tinh hoa của đạo hiếu.

"Hiếu" là thiên kinh địa  nghĩa, là gốc của mọi đức tính. Ca dao tục ngữ đă nói nhiều, ngay trong bài học vỡ ḷng, trong "Luân lư giáo khoa thư" các em đă hiểu: "Công cha như núi Thái  Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"... Những chân lư đó, ai không chấp nhận, song quan niệm về chữ "Hiếu" ngày nay cũng có phần khác thời xưa.

Tôi không dám lên mặt dạy đời, chỉ xin thuật lại một buổi tranh luận trong nội bộ gia đ́nh tôi:
Trước hết tôi hỏi" "Hiếu" là ǵ? Cháu nhanh nhảu trả lời: "Hiếu" là  hiếu với dân, Bác Hồ khuyên" "Trung với nước, hiếu với dân". Đài báo cũng nhắc luôn: " Hiếu với chân, tức là cán bộ phải chăm lo cho dân, đừng ăn hôi lộ, đừng hách dịch với dân".
- "Việc hiếu" là ǵ?
- "Việc hiếu " là việc ... là việc... là việc cán bộ chăm lo cho nhân dân mà không ăn của đút, không... Đến đây cháu lúng túng. Thằng con út tôi trả lời thay:
- "Việc hiếu" là việc đưa đám  ma, v́ hôm trước, đưa đám ma xong, ông hàng xóm đứng lên cảm ơn thân bằng  cố hữu đă giúp gia đ́nh lo xong việc hiếu....

Đến đây, được chú em tôi phụ hoạ thêm:
- Cháu nói có lư đấy anh ạ! "Việc hiếu" là việc đối với người chết, cho  nên người ta thường nói "Hiếu", "Hỷ", tức là chỉ việc tang, việc cưới. Nhưng cháu ạ, việc hiếu phải ba năm chứ không phải đưa ma xong là xong đâu ! Đến  như tiến sĩ Lư Trần Quán, một người tận trung  tận hiếu  cuối triều Lê, trước khi chết c̣n viết đôi câu đối "Tam niên chi hiếu dĩ hoàn. Thập phần chi trung vị tận" (Chữ "Hiếu" 3 năm đă xong, chữ "Trung" mười phần chưa trọn).
- Hiếu đối với người chết, c̣n đối với người sống th́ sao? "Sự tử như sự sinh" kia mà?
- ồ, anh muốn biết con anh có hiếu hay không, xin anh hăy ráng chờ sau khi anh chết sẽ rơ. Ca dao có câu "Khi sống th́ chẳng cho ăn. Đến khi chết xuống làm văn tế ruồi". Thời xưa c̣n thế nữa là bây giờ. Nhưng anh cũng đừng lo ruồi ăn hết phần, v́ thanh niên ngày nay có biết đọc văn nữa đâu mà tế ruồi.

Đến đây lại chuyển sang mục tranh căi giữa tôi và chú em về quan niệm chữ "Hiếu" thời xưa vàc thời nay.
- Thời nay lớp trẻ chẳng biết "Chín chữ cù lao" là cái ǵ. Công ơn mang nặng đẻ đau, nuôi con khôn lớn tốn bao nhiêu tâm lực, đến nay chúng nó có lớn mà chẳng có khôn.
- Tôi phàn nàn - Đă thế c̣n hỗn láo, bướng bỉnh...
- Đó chẳng qua là cái món nợ đồng lần, ḿnh  nuôi con rồi nuôi cháu cũng thế. Lớp trẻ bây giờ nhiều  người nói ngược: "Sinh ra ta, nuôi ta lớn lên, đó là trách nhiệm của các ông bô bà bô". Có đứa c̣n trách bố mẹ: "Sao người ta ăn sung mặc sướng, được chiều chuộng. Bố ḿnh th́ "Khắt khe", "Ky bo' mà c̣n kể ơn huệ!" - Chú em tôi kể thêm.

Đối với những ông bố bà mẹ có những đứa con như vậy, quả thật là bất hạnh, song cũng phải khẳng định số người  đó rất ít,  vả lại khi đến tuổi trưởng thành, được tiếp thu sự giáo dục của gia đ́nh, nhà trường, xă hội và qua khảo nghiệm thực tế của cuộc đời, chúng sẽ thay đổi tính t́nh. Bố mẹ bao giờ cũng sẵn sàng tha thứ, nước mắt chảy xuôi là lẽ thường t́nh.

Bàn đến câu ca dao: "Cá không ăn muối cá ươn, con căi cha mẹ trăm đường con hư", rồi "Trứng khôn hơn vịt"... được dịp, con cả tôi xen vào:
- Con xin phép cha mẹ và chú, con căi cha mẹ không phải trăm phần trăm con hư cả. Nếu cha mẹ nghĩ sai làm sai, con can ngăn th́ đó có phải là bất hiếu đâu!

Ông chú gật gù tán thành:
- Cháu nói có lư. Câu "Con căi cha mẹ trăm phần con hư" chỉ đúng khi đứa con c̣n thơ ấu, chứ khi đă trưởng thành có nhiều cô cậu c̣n khôn hơn cha mẹ. "Con hơn là nhà có phúc" mà ! Thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật tiến vùn vụt, tư duy chính trị, kinh tế bây giờ cũng đổi mới mà  cánh già chúng ta thường hay thủ cựu, bảo thủ  cố chấp. Âu cũng là mâu thuẫn giữa hai thế hệ...

- Theo chú, câu tục ngữ "Có con tội sống, không có con tội chết" có đúng không?
- Đúng thời xưa nhưng không đúng  thời nay. Thời xưa có câu "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" (có 3 điều bất hiếu với cha mẹ, trong đó không có con là điều nặng nhất). Cha mẹ ông bà tuy đă qua đời nhưng không c̣n sống trong ta, nếu ta không có con th́ sau khi ta chết, ta cũng làm tiêu tan nốt gịng máu của bao đời tổ tiên, ông cha lưu lại. Nhưng c̣n tội sống th́ sao ? Có ít người cho rằng nuôi con chẳng qua chỉ mang thêm tội vạ. Đă vậy sao nhiều người ghét  con lại thương cháu. Có lẽ họ nghĩ rằng chon họ đă không nối được nghiệp cha ông th́ hy vọng cháu ḿnh sẽ nối.

Trong cuốn "Một ngh́n lẻ một đêm" một nhà thông thái đă trả lời đám đông: "Nỗi khổ nhất và dai dẳng nhất trên đời là có đứa con hư". Nhưng c̣n một mặt khác, mà là mặt tích cực và phổ biến "Con khôn nở mặt mẹ cha" "Một con một của", có ai từ. Gặp nhau người ta hỏi thăm nhau: "Mấy trai máy gái rồi ?", chứ có hỏi: "Mấy của rồi ?"đâu. C̣n như câu "Trẻ cậy cha, già cậy con" ngày nay liện c̣n đúng không ?

Nhân nhắc đến những gương hiếu kính thời xưa được nhà vua ban biển vàng như thời vua Lê Huyền Tông cách đây gần ba trăm năm (1663-1671), ban biển đỏ với  bốn chữ vàng "Hiếu hạnh khả phong" như thời vua Hàm Nghi cách đây hơn một trăm năm (1885-1888) chú em tôi thắc mắc có tính chất gợi ư: "Thời nay thiếu ǵ gương hiếu kinh sao từ trung ương đến địa phương chưa thấy có h́nh thức khen thưởng biểu dương ǵ ?. Trong quyển "Nhị thập tứ hiếu" có Lục Tích người quận Cửu Chân mới 6 tuổi đến nhà họ Viên ăn tiệc xong dấu quả quưt mang về cho mẹ Quận Cửu Chân là đất Thanh Hoá ngày nay. Lục Tích cũng được liệt trong số "Thảo hai mươi bốn, thơm ngh́n muôn thu", sao trong sử sách ta, không thấy nói đến.

Ông chú vừa dứt lời, cậu con trai thứ của tôi xen ngay :
- Tưởng ai nổi danh, chứ như Lục Tích giấy quưt về cho mẹ cũng đưa vào sử sách, th́ ở nước ta giấy mực đâu mà thống kê cho hết, ở một vùng cũng đến hàng ngày hàng vận người. Ngay như cháu đây, lúc nhỏ cùng đi ăn giỗ với chú ở nhà thờ họ, hẳn chí c̣n nhớ, lúc đó cháu mới bốn, năm tuổi, cháu c̣n nhớ chú xé sẵn cho cháu một tài lá chuối trước khi ăn cỗ, thế rồi phần gị, phần nêm, chả, xôi, hoa quả của cháu, cháu đều gói cả lại mang về phần mẹ, phần em, mặc dầu cháu rất thèm, cháu hơn hẳn Lục Tích chứ chú!

Nghe con nhắc lại chuyện cũ, vợ tôi nhoẻn miệng cười gật đầu tán thưởng. Tôi liếc thấy vợ tôi c̣n rơm rớm nước mắt v́ cảm động.

Cậu con thứ của tôi, bỗng quay lại phía chú, đột ngột hỏi:
- Vua ban bằng 'Hiếu hạnh" ǵ ǵ đó có đúng đối tượng không chú ? Hay lại nghe dưới  tâu báo lên, chỉ phong cho bọn lắm tiền, khéo nịnh, để được ăn khao cho to ? Chú ạ, ngày xưa các cụ ngốc lắm" "Đức Đại thánh họ Ngu vua Thuấn" th́ đúng là không khôn: hiếu với cha mẹ đă đành một nhẽ, chứ với mụ ǵ ghẻ cay nghiệt như kiểu mẹ con Cám, gặp phải cháu th́ ăn đám chứ đừng ḥng "Trăm cay đắng một niềm ngon ngọt". Đời nhà ai, có người chôn con nuôi mẹ như Hán Quách Cự mà cũng được "Thơm ngh́n muôn thu". Đáng lư ra triều đ́nh phải ngiêm trị tội giết người, hơn nữa lại là tội giết hại trẻ con.

Cuối cùng chú em tôi quay sang hỏi tôi:
- Theo ư anh, thế nào là "Có hiếu", thế nào là "Bất hiếu". Giữa hai đứa con, anh chọn đứa nào, một như cháu đây: Con nhà nghèo, mới 4, 5 tuổi đă biết giành phần ngon về biếu mẹ, một là đưa giàu sang, không đúng ngày giỗ cha cũng lấy cớ bịa ra ngày giỗ, cỗ bàn linh đ́nh để khoản đăi, cầu cạnh những kẻ cao sang, lmà ra vẻ người con chí hiếu, trong khi đó th́ hắt hủi người mẹ quê mùa, lam lũ nghèo hèn như trong chuyện "Báo hiếu cha" của Nguyễn Công Hoan. Thế nào, giữa "Lục Tích nhà ta" mặc dầu có lúc c̣n hỗn láo bướng bỉnh và nhân vật "Chủ hăng ô tô con cọp" của Nguyễn Công Hoan, anh chọn đứa nào?

Dường như để tránh dung dưỡng cho những điều không phải, chú em tôi quay lại, nhỏ nhẹ bảo cháu:
- Cháu ạ, cháu có thể tranh luận với cha mẹ nhưng phải lễ độ, từ tốn, phải biết lựa lời, chọn lúc, tuyệt đối không được có thái độ nóng nảy, cáu gắt, hỗn láo, nhất là khi có khách, khi ra đường, giữa  công chúng, hoặc trước mặt vợ con, đừng để ông bà trên bàn thờ quở mắng bố mẹ cháu rằng không biết dạy con; đừng để vợ con cháu, em út cháu khinh nhờn bố mẹ cháu, tất nhiên cũng  khinh nhờn cả cháu. Sau này cháu sẽ rơ: có nuôi con mới biết ḷng cha mẹ.
Từ năy đến giờ nhà tôi chỉ ngồi nghe, bây giờ mới lên tiếng: "Nghe cha con, chú cháu nhà ông nói th́ ai cũng  có lư "!
Xin mượn câu đó làm câu kết cho bài này

(Bài này được một người bạn chuyển đến bằng e-mail, không thấy có tên tác giả, xin quí vi ai biết xin mách giùm = E-mail về : nghiem36@att.net - thành thật cám ơn)

TRO VE DAU TRANG






1lyhuonga.jpg

NHUNG BAI HOC LICH SU VE SU DOAN KET VA CHIA RE

Hồ Bạch Thảo

 


Khó mà tin được rằng có một thời nước Chiêm-Thành định sang cai trị nước ta! Nhưng việc này đă thực sự xảy ra vào thế kỷ thứ 5. Bấy giờ nước ta bị người Tàu đô hộ, riêng Chiêm-Thành lúc này c̣n mang tên cũ là Lâm-Ấp. Vua Lâm-Ấp, Phạm Dương Mại, mấy lần mang quân cướp phá Cửu-Chân [Thanh-Hóa]; Thứ-sử Giao Châu đánh không nổi, phải rút lui. Sau đó vua nước này sai sứ sang Tàu xin cai trị đất Giao-Châu [lănh thổ nước ta thời đó], vua nhà Tống xuống chiếu trả lời v́ đường xa nên không cho.



Bàn về sự kiện này, Sử-thần Lê Văn Hưu phẫn nộ phê trong
Đại-Việt sử kư như sau:



“... Lâm-Ấp thừa lúc nước ta chưa có vua, bèn cướp phá Nhật-Nam, Cửu-Chân; lại xin lănh cai trị nước ta. Có phải lúc đó ta không đủ sức chống nổi Lâm-Ấp đâu? Chỉ v́ không có vua để thống suất mà thôi. Thời có lúc vận bĩ, vận thái; thế có lúc co, lúc duỗi. Việc Lư Thái Tông chém đầu vua Chiêm Sạ Đẩu, Lư Thánh Tông bắt sống Chế Củ và cầm tù 5 vạn tên giặc đến nay con cháu họ vẫn c̣n làm nô lệ, đủ rửa những sỉ nhục trước kia vậy.” [1]



Trang sử về một thời tranh chấp với Chiêm-Thành đă được lật qua. Điều muốn lưu ư tại đây, là lời phê của Sử-thần Lê Văn Hưu, tuy cay đắng nhưng phản ảnh đúng sự thực. Một ngàn năm dưới ách đô hộ là thời gian dài ta không có vua. “Không có vua,” theo ngôn ngữ ngày nay có nghĩa là thiếu đoàn kết, không suy tôn được một lănh tụ. V́ không lănh tụ, không có sự lănh đạo chung, nên không tập hợp được mọi tiềm năng của đất nước để có thể chống cự ngoại xâm phương Bắc, cùng ra uy để khỏi bị nước Chiêm-Thành nhỏ bé hà hiếp tại phương Nam.



Nói chung, việc này thường xảy ra trong thời đại suy vi, ḷng người không có chỗ nương dựa. T́nh trạng đó đưa đến người cùng một nước trở nên chia rẽ, không ḥa hợp được với nhau, đả kích miệt thị lẫn nhau, ai không cùng chí hướng th́ coi như là thù nghịch. Lại v́ không thành tâm hợp tác, nên ră rời như đống cát vụn; cũng như có người nhận xét về người ḿnh buổi mạt vận như sau: “Một người Việt th́ không thua ai, nhưng hai người Việt gộp lại th́ chẳng bằng ai cả”. Có lập luận phản bác, cho rằng chẳng may ta sinh vào thời suy đồi, nên không có lănh tụ giỏi xuất hiện đấy thôi! Thực ra lănh tụ vốn ở trong dân mà ra, người xưa nói rằng trong đám người mù không thể t́m ra kẻ sáng mắt như Ly Lâu [2] , trong đám điếc không thể t́m được một nhạc sư có tài biện biệt âm thanh cỡ Sư Khoáng [3] ; vậy trong lớp người có tŕnh độ dân trí thấp, lại không biết đoàn kết với nhau, làm sao kiếm ra được một lănh tụ tài ba?



Nói đến thù nghịch “khác t́nh, khác cảnh, cách mặt, cách ḷng” [4] ; trong hoàn cảnh chẳng đặng đừng, những người mang nặng cốt cách Nho phong vẫn t́m được cách cư xử đẹp. Trường hợp Hoàng Cao Khải và Đ́nh-Nguyên Phan Đ́nh Phùng là mẫu điển h́nh. Hai người cùng quê (làng Đông-Thái, phủ Đức-Thọ, tỉnh Hà-tĩnh), đứng trong hai trận tuyến đối nghịch; một người giữ chức Quận-công thời Pháp thuộc, một người là lănh tụ phe Cần Vương. Trong thư từ trao đổi, câu mở đầu Hoàng Cao Khải kính cẩn xưng học vị Đ́nh-nguyên của người bạn cùng làng: “Đồng ấp Phan Đ́nh-nguyên đại nhân Túc-hạ”; Phan Đ́nh Phùng cũng có lời phúc đáp không kém nhă nhặn: “Hoàng quí nhân Đài-Các-hạ”. Cho dù không khoan nhượng trong cuộc tranh luận, nhưng họ vẫn tŕu mến nhắc nhở đến t́nh cảm xưa: “Kẻ hèn này cùng Túc-hạ cách biệt hơn chục năm trời, thế sự tang thương, đường đời nam bắc, xu hướng mỗi người một khác, nhưng trong giấc mộng vẫn thường gặp gỡ nhau; hồi ức ngày trước giao du với nhau, mối t́nh thắm thiết biết là dường nào! (Bộc dữ Túc-hạ biệt thập dư niên hỹ, thế sự tang thương, trần đồ nam bắc, xu hướng các dị, mộng hồn song giao, hồi ức cựu du, t́nh hà như dă…). Cả hai không gọi nhau bằng thằng nọ, con kia; cũng không miệt thị nhau là ngụy, là giặc! Dù hai người không được gặp lại nhau; nhưng con cháu họ nếu có dịp hội ngộ, c̣n có thể nhận là người làng, người nước; không đến nỗi tuyệt t́nh.

Bàn về sự đoàn kết, có thể nói thời đại nhà Trần là một h́nh mô h́nh tiêu biểu. Nhà Lư nhường ngôi chưa được bao lâu [1237], nội bộ nhà Trần có cuộc khủng hoảng lớn, tưởng chừng có thể làm lung lay cả triều đại. Bấy giờ Chiêu Thánh Hoàng-hậu [tức Lư Chiêu Hoàng], chánh cung của vua Trần Thái Tông, không có con. Thái-sư Trần Thủ Độ bèn rắp mưu đem công-chúa Thuận Thiên họ Lư (vợ của An-Sinh-vương Liễu, anh ruột nhà vua), lúc bấy giờ đang có thai ba tháng, làm vợ vua Trần Thái Tông, để mong có con nối dơi. Việc làm loạn luân này, khiến Liễu tức giận họp quân trên sông cái nổi loạn. Đến hai tuần sau, Liễu tự lượng thế cô khó ḷng chống được, ngầm đi thuyền độc mộc, giả làm người đánh cá đến chỗ vua xin hàng.



Lúc ấy vua đang ở trong thuyền, anh em nh́n nhau khóc. Trần Thủ Độ nghe tin, đến thẳng thuyền vua, rút gươm thét lớn:



Giết thằng giặc Liễu.



Vua giấu Liễu trong thuyền, vội vàng bảo Thủ Độ:



Phụng Càn Vương (tước hiệu cũ của Liễu thời triều Lư) đến hàng đấy.



Rồi lấy thân ḿnh che cho Liễu. Thủ Độ tức lắm, ném gươm xuống sông nói:


Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các ngươi thuận nghịch thế nào?


Vua nói giải ḥa, rồi bảo Thủ Độ rút quân về. [5]



Theo luân lư xưa, đạo phu phụ rất quan trọng, việc thay vợ đổi chồng thường là nguyên nhân gây nên mối thù truyền kiếp. Rất may, vua Trần Thái Tông cương quyết bảo vệ t́nh nghĩa anh em, lấy sự đoàn kết làm trọng, giúp cơ nghiệp nhà Trần bước đầu xây nền móng vững chắc.

Lịch sử Trung-Quốc đời Đường có vị vua nổi tiếng tên là Lư Thế Dân, cùng chung miếu hiệu “Thái Tông” với vua ta. V́ tranh ngôi, ông này đă đem quân mai phục ở cửa Huyền Vũ, giết cả anh em ruột là Kiến Thành và Nguyên Cát. Liên hệ việc này, với niềm tự hào dân tộc, vua Trần Dụ Tông làm bài thơ so sánh công nghiệp và đạo đức vua ta với vua nhà Đường như sau:

Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông,


Bỉ xưng Trinh Quán ngă Nguyên Phong.


Kiến Thành tru tử An Sinh tại,


Miếu hiệu tuy đồng đức bất đồng.



(Vua sáng nghiệp nhà Đường bên Tàu và nhà Trần Việt-Nam đều có chung miếu hiệu là Thái Tông,
Về niên hiệu vua Tàu xưng là Trinh Quán, vua ta là Nguyên Phong.


Kiến Thành anh vua Tàu bị giết, riêng An-Sinh-vương anh vua ta được tha.
Chứng tỏ hai bên tuy đồng miếu hiệu, nhưng về đạo đức th́ hoàn toàn không giống nhau.)

Đoàn kết không phải chỉ là câu nói ngoài cửa miệng để tuyên truyền, cần có ḷng thành, bụng dạ phải rộng lượng, không cố chấp thành kiến. Việc cử Hưng-Đạo-vương Trần Quốc Tuấn, con An Sinh Vương Liễu, làm tổng Chỉ-huy quân đội là tấm gương can đảm, dám dùng người. Hưng-Đạo-vương, người lập công đầu trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, cũng là nhân vật triệt để thực hiện t́nh đoàn kết. Sử chép An-Sinh-vương Liễu vẫn ôm mối thù xưa, lúc sắp mất cầm tay Trần Quốc Tuấn giối giăng rằng:



“Con mà không v́ cha lấy thiên hạ, th́ cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”

Quốc Tuấn ghi điều đó trong ḷng, nhưng không cho là phải.



Lại có lần Quốc Tuấn đem chuyện ấy vờ hỏi Hưng Nhượng-vương Quốc Tảng. Quốc Tảng thưa:

Tống Thái Tổ vốn là một ông lăo làm ruộng, đă thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ.

Quốc Tuấn rút gươm kể tội:



Tên loạn thần là đứa con bất hiếu mà ra.



Định giết Quốc Tảng. Con trưởng Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Rồi ông dặn Hưng Vũ Vương:



- Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng. [6]



Lúc này vua tôi, quân dân một ḷng, nội bộ đoàn kết vững vàng, nên có thể đánh tan mọi âm mưu chia rẽ của kẻ ngoại xâm, cầm đầu bởi vua Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt. Đầu đuôi sự việc qua bối cảnh lịch sử như sau:



Năm Chí nguyên thứ 16 (1279) vua Nguyên Thế Tổ sai Sứ-thần Sài Xuân [có sách chép Sài Thung] đến nước ta lần thứ ba để ép buộc vua Trần Nhân Tông sang chầu, vua lấy cớ bị tật không đi được. Bị cật vấn nhiều lần, cuối cùng nhà vua cho chú là Trần Di Ái đi thay. Cũng vào năm ấy, quân Mông-Cổ đánh úp quân Tống tại Nhai-Sơn, thuộc tỉnh Quảng-Đông, Thừa-tướng Lục Tú Phu phải cơng vua Tống nhảy xuống biển chết. Nhà Tống sụp đổ, thời cuộc lúc này rất thuận tiện để vua Nguyên dấn mạnh vào con đường xâm lược nước ta.



Năm Chí nguyên thứ 18, vua Nguyên gia phong Sài Xuân, tự Trang Khanh, làm An-Nam Tuyên Ủy Đô Nguyên-soái, Lư Chấn Phó-soái, mang khoảng 1000 quân đem Trần Di Ái về nước. Chuyến đi của Sài Xuân, có mang sẵn chiếu thư của Nguyên Thế Tổ, nội dung như một tối hậu thư buộc vua ta phải chọn lựa một trong hai con đường: hoặc chấp nhận Trần Di Ái, tức xóa bỏ mọi cơ chế hiện hữu để ngoan ngoăn đầu hàng giặc; hoặc đuổi sứ-giả cùng tùy tùng, tức chấp nhận chiến tranh tức khắc với con bài Trần Di Ái làm bù nh́n. Chiếu thư như sau:



Chiếu thư vào năm Chí Nguyên thứ mười tám


(Chí nguyên thập bát niên chiếu)



Trước kia khi An-nam Quốc-vương Trần Nhật Cảnh c̣n sống, đă từng đem điều lệ của tổ tông ta đối với chư Man ra hiểu dụ, nhưng y không thi hành. Đến lúc mất con không xin mệnh, tự lập lên làm vua. Sai sứ đến triệu, từ chối không chịu sang chầu. Nay lại lấy cớ bị tật không chịu sang, cố t́nh trái mệnh, chỉ cho chú là Trần Di Ái sang mà thôi. Ta định hưng binh hỏi tội, nhưng nghĩ đến nước ngươi nội phụ triều cống đă lâu rồi, chỉ do một ḿnh ngươi không biết điều, không nỡ để cho dân chúng phải chết uổng. Nay ngươi lấy cớ tật không thể sang chầu, th́ hăy lo thuốc thang trị bệnh đi! Ta lập chú ngươi làm An-Nam Quốc-vương để cai trị dân chúng. Quan lại sĩ thứ trong nước hăy an cư lạc nghiệp, đừng lo sợ. Nếu ngươi và dân chúng có mưu mô nào khác, đại binh vào sẽ sát hại tính mạng lúc đó đừng oán, v́ tội các ngươi gây ra. Nay dụ các tông tộc quan lại nước An-Nam. [7]

Triều đ́nh nhà Nguyên đánh giá chuyến đi này rất quan trọng và chắc chắn thành công, nên lúc lâm hành sai các quan trong viện Hàn lâm làm thơ văn tống tiễn. Viên Hàn lâm Học-sĩ Lư Khiêm, tự là Thụ Ích, làm bài tự như sau:



Hàn lâm học-sĩ Lư Khiêm, tự Thụ Ích, tống thượng-thư Sài Trang Khanh tự



Năm Chí Nguyên thứ 15 (1278) Quốc-vương nước An-Nam dâng biểu lấy cớ biên cảnh bị quấy phá nên không rảnh để tự sang chầu; Tiên-vương mất, không thỉnh mệnh mà tự lập. Triều đ́nh sai Sứ đi hỏi tội, nhưng chưa t́m được người xứng chức. Nhân An-Phủ-sứ đất Kim-Xỉ là Sài Trang Khanh từ Vân-Nam tới, được các quan Đại-thần tiến cử là người có tài, Thiên-tử bèn cho vời đến. Cha anh Sài công đều là cựu thần, lời lẽ ông ta rất khẳng khái, lại quen phong thổ phương Nam, nên được Thiên-tử ban cho chức Lễ bộ Thượng-thư; lại ban cho bạc, cung tên, yên ngựa để tỏ sự sủng ái lúc lâm hành.



Sài Trang Khanh đến An-Nam tuyên cáo ư của Thiên-tử, chiêu dụ hai ba lần, nhưng Vương nước này vẫn cố chấp chưa tỉnh ngộ, không chịu sang chầu. Trang Khanh về tâu, Thiên-tử không nỡ dùng binh, lại bảo đi thêm lần nữa. Ba năm, ba lần lặn lội đi về; rồi năm đó An-Nam cho Trần Di Ái, là em ruột Quốc-vương, chú của Thế-tử [vua Trần Nhân Tông] sang chầu. Thiên-tử phán: “Thế-tử chống, c̣n dân có tội t́nh ǵ! Hăy cho Di Ái lên thay để cai trị dân.” Bèn trao sách mệnh, ban cho Trang Khanh làm Tuyên- ủy-sứ Đô Nguyên-soái, mang quân hộ tống Di Ái về nước. Lúc sắp khởi hành, các quan trong viện Hàn lâm đều làm thơ tống tiễn. Kẻ hèn này lạm dự chức Hàn lâm, phàm các biểu chương chiếu dụ đều được nghe qua, bèn đem sự việc kể ra làm lời tống tặng. Từ xưa đến nay không những khó có được người tài, mà biết t́m ra người tài cũng không dễ! Nay Chúa thượng biết Trang Khanh là tay cương nghị hùng biện, có thể gánh trọng trách chốn xa xôi, đi sứ bốn phương không nhục mệnh vua, nên gửi ra ngài cửa khổn [8] , giao việc nơi tuyệt vực [9] , phàm việc quân sự đều được toàn quyền chuyên chế. Lại được quí ông Lư Văn Chấn giữ chức phó, Lư Phi Nhị làm Tham-mưu, sự chọn lựa nhân tài thực kỹ lưỡng. Chuyến đi của Trang Khanh sẽ không phụ công tuyển chọn của Thiên-tử, không thẹn với lời khen lao kỳ vọng của quí quan, thu phục An-Nam là do chuyến đi này! Tôi mấy ngày đợi Sài công tại cửa kinh đô để chúc mừng rằng: “Từ nay trong lịch sử không phải chỉ riêng các Sứ-thần Chung Quân [10] , Lục Giả được tiếng khen mà thôi! Tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 18. [11]


Sự việc xảy ra trái với lời tiên đoán của Hàn-lâm Lư Khiêm. Sau chuyến đi này, tên tuổi Sài Xuân bị chôn vùi hoàn toàn, không c̣n được nhắc thêm trong lịch sử Trung-Quốc. Lực lượng đặc mệnh của Sài Xuân đến trại Vĩnh-B́nh tại biên giới (chỗ tiếp giáp tỉnh Quảng-Tây, Trung-Quốc và tỉnh Lạng-Sơn nước ta), dù đă cho người đi trước thông báo, vẫn không được tiếp đón như thường lệ. Sài Xuân cảm thấy lo sợ, nên viết thư cho triều đ́nh ta, để mong giảm sự bớt căng thẳng, có thể đe dọa đến tính mạng y lúc này:



“Bản ty nhận Thánh chỉ đến nước ngươi với nhiệm vụ phủ dụ biên cảnh, an ủi nhân dân, t́nh nghĩa như người trong một nhà, không có điều ǵ khác. Số quân mang theo chỉ là lính phục dịch, không phải để chinh phạt chiến đấu. Sợ nước ngươi không hiểu được ơn Thiên-tử, không rơ tại sao đến nên sinh ra kinh sợ, đưa đến chỗ lo lắng nghi ngờ. Bởi vậy khi đến Tĩnh-Giang [12] sai Lê Trung Tán đi trước hiểu dụ về mỹ ư khoan tuất của triều đ́nh, lại nhắc chuẩn bị ngựa, quân lương, dân phu chiếu lệ nghênh đón tại biên giới.



Ngày 16 tháng 3 bản ty xuống ngưa đợi tại Vĩnh-B́nh đến ngày 20 thấy Lê Văn Túy mang thư tới, muốn hoăn để thương nghị. Như vậy là không biết ngày hẹn đến nghênh đón, hoặc trong ḷng c̣n nghi kỵ chưa có được chút ḷng thành. Nếu vậy lời kẻ phụng sứ trước kia là giả dối cả hay sao? Nếu cho đó là có ḷng thành, th́ làm sao xảy ra việc ngày hôm nay! Đến như việc có ích hoặc vô ích cho Thế-tử và trăm họ th́ sau khi ban chiếu chỉ sẽ rơ. Lúc này ngoài việc ước thúc quân lính không quấy nhiễu dân chúng, c̣n sai viên Kinh-lịch cùng Lệnh-sử Vương Lương cưỡi ngựa đi trước kiểm soát số ngựa, quân lương, dân phu, hẹn trong 6 ngày phải có đầy đủ tại Vĩnh-B́nh; nếu c̣n trái hẹn nữa th́ sẽ quay xe trở về để Thiên triều có cách đối xử khác. Riêng nghĩ rằng quí quốc đă qui phụ hơn mười năm nay rồi, nay chống đối lại, điều hại sẽ đến theo, chẳng lẽ không xét tới sao?” [13]

Căn cứ vào nội dung lá thư th́ đoàn quân hộ tống Trần Di Ái về nước phải đợi tại Vĩnh-B́nh 4 ngày, rồi lại thấy bên ta mang thư tới xin hoăn để thương nghị. Cũng tại nơi này Trần Di Ái biến mất. Theo lời vua Trần Nhân Tông kể cho viên Sứ-thần Thượng-thư Trương Lập Đạo
[14] th́ vua Nguyên kết tội bên ta giết Trần Di Ái, vua ta phủ nhận và bảo rằng: “Quốc-thúc do cha cô [15] sai sang chầu Thiên-tử, Thiên-tử phong Quốc-thúc tước vương, Quốc-thúc sợ hăi không biết đi đâu, chớ không phải do nước cô giết”. Riêng
Đại Việt sử kư toàn thư chép vào tháng 6 năm Nhâm Ngọ (1282) trị tội Trần Ải tức Trần Di Ái làm khao giáp binh Thiên-Trường. An-Nam chí lược của Lê Trắc chép “Đưa Di Ái tới Vĩnh B́nh, người An-Nam không tiếp nhận. Di Ái sợ, chạy trốn về… Thế-tử truất Di Ái làm thường dân”. Cần nhấn mạnh thêm lúc sự kiện này xảy ra, Lê Trắc c̣n ở trong nước nên biết rơ nội vụ, xác nhận Di Ái c̣n sống; trong khi đó, Nguyên sử chép là Di Ái bị giết chết.



Qua những sử liệu nêu trên, đủ để suy luận một cách có hệ thống rằng thời gian bắt đoàn quân hộ tống chờ đơi tại Vĩnh-B́nh là thời gian quan trọng, ta cố t́nh tŕ hoăn để lập mưu. Bằng thủ đoạn khéo léo cho người móc nối trực tiếp, hoặc gián tiếp qua các viên hầu cận, ta đă kéo được Trần Di Ái ra khỏi bàn tay Sài Xuân. Công việc này thành công cũng là nhờ Trần Di Ái thừa hưởng tinh thần đoàn kết của vua cha Trần Thái Tông, nên sẵn sàng hợp tác. Rốt cuộc Di Ái làm khao giáp binh Thiên-Trường, được bảo vệ, nên không c̣n bị giặc lợi dụng thêm nữa. Tất cả kế hoạch chia rẽ của Nguyên Thế-tổ, rầm rộ cho viện Hàn lâm ca tụng tại triều đ́nh, đă bị thất bại từ trong trứng nước.

Nhà Trần làm hết sức ḿnh để tŕ hoăn chiến tranh, nhưng đế quốc Nguyên Mông vẫn không từ bỏ tham vọng xâm lăng. Tháng 12 năm Giáp thân [1284] vua Nguyên sai bọn Thoát Hoan mang đại quân sang đánh. Quân dân ta biểu dương tinh thần đoàn kết quyết chiến, qua các hội nghị lịch sử Diên-Hồng và B́nh-Than; để rồi lâm trận, hai lần anh dũng đánh tan quân giặc. Qua trang sử có giá trị như là một hồi kư, Lê Trắc, tác giả
An-Nam chí lược, người theo giặc, bản thân trực tiếp tham dự cuộc chiến này, chép một cách sống động việc đoàn quân Thoát Hoan bị đánh khắp nơi lúc chuẩn bị rút lui trong cuộc xâm lăng lần thứ hai [1288]:


Ngày mồng 2 tháng 2, Thế-tử (vua Trần Nhân Tông) cho anh là Hưng Ninh-vương Trần Tung mấy lần đến xin giảng ḥa, đêm lại cho quân cảm tử đến cướp trại. Vương (Thoát Hoan) sai Vạn-Hộ-hầu Giải Chấn đến đốt thành, các quan tả hữu ngăn lại. Thần nỗ Tổng-quản Giả Nhược Ngu thưa:

Quân chỉ có thể rút lui, không thể giữ được.


Vương nói:

 

Đất nóng, khí ẩm thấp, lương thực cạn, quân sĩ mệt mỏi.


Rồi ra lệnh rút lui. Viên tướng hiệu về đường thủy thưa rằng:


Chiến hạm chở lương hai lần đều bị đánh tan, chi bằng phá thuyền đi đường bộ là thượng sách.

Vương sắp nghe lời, nhưng bị tả hữu cản lại.


Ngày mồng 3 tháng 3 các viên Hữu-thừa Trịnh Bằng Phi, Thiêm-tỉnh Đạt Mộc dùng kỵ binh yểm hộ đoàn thuyền đến chợ Đông-Hồ, bị ngăn bằng chướng ngại vật nên phải quay trở lại. Cầu cống lại bị phá sập, địch đợi quân ta đến đánh. Hữu-thừa Trịnh Bằng Phi bắt một lăo già chỉ đường, đang đêm rút lui hướng khác. Đại quân đến ải Nội-Bàng, địch lại đánh tâp hậu... [16]


Đoạn sử trích dẫn ở trên như đoạn phim quay trực tiếp về cảnh quân dân ta đoàn kết chiến đấu trên mọi mặt trận. Rồi khi ḥa b́nh lập lại, điều đặc biệt đáng chép thêm về nỗ lực đoàn kết thời nhà Trần là khi bắt được một ḥm biểu đựng hồ sơ của những người xin hàng giặc, Thượng-hoàng [vua Trần Thánh Tông] bắt đốt đi, để yên tâm những người phản trắc. [17]



© 2005 talawas


[1]Đại-Việt sử kư toàn thư, bản dịch, Viện Khoa học Xă hội Việt-Nam, Hà-Nội: 1998, tập 1, trang 174.
[2]Ly Lâu: Nhân vật truyền thuyết thời Hoàng Đế, mắt rất sáng; có thể thấy được hạt bụi ngoài trăm bộ.
[3]Sư Khoáng: Nhạc sư thời Chiến Quốc, có tài biện biệt âm thanh để biết điềm lành, điềm dữ.
[4]Câu văn lấy trong thư của Hoàng Cao Khải gửi Đ́nh-nguyên Phan Đ́nh Phùng.
[5]
Đại Việt sử kư toàn thư, tập 2, trang 16.
[6]
Đại Việt sử kư toàn thư, tập 2, trang 80.
[7]Hồ Bạch Thảo,
Những nét đặc trưng về lịch sử Việt Nam, trang 95. Dịch từ An-Nam chí lược của Lê Trắc.
[8]Cửa khổn: Cửa thành, ư chỉ nơi biên thùy.
[9]Tuyệt vực: Nơi xa xôi.
[10]Chung Quân và Lục Giả đều là sứ nhà Hán từng đến nước ta; Lục Giả đi sứ dưới thời Hán Cao Tổ, Hán Văn-đế; Chung Quân thời Hán Vũ-đế. Chung Quân giữ chức Bác-sĩ năm 18 tuổi. Vũ-đế ngạc nhiên về văn tài, thăng đến chức Gián nghị Đại-phu. Lúc ra đi Chung Quân huyênh hoang sẽ mang giây trói Vương nước Việt về, nhưng cuối cùng bị Thừa-tướng Lữ Gia giết năm hai mươi tuổi. V́ y thông minh như thần đồng nên người đời mệnh danh là Chung đồng.
[11]
Những nét đặc trưng về lịch sử Việt-Nam, trang 95.
[12]Nhà Nguyên lập Tĩnh-Giang lộ Tổng-quản tại tỉnh Quảng-Tây.
[13]
Những nét đặc trưng về lịch sử Việt-Nam, trang 93.
[14]
Những nét đặc trưng về lịch sử Việt-Nam, trang363.
[15]Cô: Vua chúa thời xưa thường tự xưng là cô, hay quả nhân.
[16]
Những nét đặc trưng về lịch sử Việt-Nam, trang155.
[17]
Đại Việt sử kư toàn thư, tập 2, trang 65.

 

tro ve dau trang