NHUNG BAI HOC LICH
SU VE SU DOAN KET VA CHIA RE
Hồ
Bạch Thảo
Khó mà tin được
rằng có một thời nước Chiêm-Thành định sang cai trị nước ta! Nhưng
việc này đă thực sự xảy ra vào thế kỷ thứ 5. Bấy giờ nước
ta bị người Tàu đô hộ, riêng Chiêm-Thành lúc này c̣n mang tên cũ là Lâm-Ấp. Vua Lâm-Ấp,
Phạm Dương Mại, mấy lần mang quân cướp phá Cửu-Chân [Thanh-Hóa]; Thứ-sử
Giao Châu đánh không nổi, phải rút lui. Sau đó vua nước này sai sứ sang Tàu xin cai
trị đất Giao-Châu [lănh thổ nước ta thời đó], vua nhà Tống xuống
chiếu trả lời v́ đường xa nên không cho.
Bàn về sự
kiện này, Sử-thần Lê Văn Hưu phẫn nộ phê trong Đại-Việt sử kư như sau:
“... Lâm-Ấp
thừa lúc nước ta chưa có vua, bèn cướp phá Nhật-Nam, Cửu-Chân; lại xin
lănh cai trị nước ta. Có phải lúc đó ta không đủ sức chống nổi Lâm-Ấp
đâu? Chỉ v́ không có vua để thống suất mà thôi. Thời có lúc vận bĩ, vận
thái; thế có lúc co, lúc duỗi. Việc Lư Thái Tông chém đầu vua Chiêm Sạ Đẩu,
Lư Thánh Tông bắt sống Chế Củ và cầm tù 5 vạn tên giặc đến nay con cháu
họ vẫn c̣n làm nô lệ, đủ rửa những sỉ nhục trước kia vậy.”
[1]
Trang sử
về một thời tranh chấp với Chiêm-Thành đă được lật qua. Điều
muốn lưu ư tại đây, là lời phê của Sử-thần Lê Văn Hưu, tuy cay đắng
nhưng phản ảnh đúng sự thực. Một ngàn năm dưới ách đô hộ
là thời gian dài ta không có vua. “Không có vua,” theo ngôn ngữ ngày nay có nghĩa là thiếu
đoàn kết, không suy tôn được một lănh tụ. V́ không lănh tụ, không có sự
lănh đạo chung, nên không tập hợp được mọi tiềm năng của đất
nước để có thể chống cự ngoại xâm phương Bắc, cùng ra uy để
khỏi bị nước Chiêm-Thành nhỏ bé hà hiếp tại phương Nam.
Nói chung, việc
này thường xảy ra trong thời đại suy vi, ḷng người không có chỗ nương
dựa. T́nh trạng đó đưa đến người cùng một nước trở
nên chia rẽ, không ḥa hợp được với nhau, đả kích miệt thị lẫn
nhau, ai không cùng chí hướng th́ coi như là thù nghịch. Lại v́ không thành tâm hợp tác,
nên ră rời như đống cát vụn; cũng như có người nhận xét về người
ḿnh buổi mạt vận như sau: “Một người Việt th́ không thua ai, nhưng
hai người Việt gộp lại th́ chẳng bằng ai cả”. Có lập luận
phản bác, cho rằng chẳng may ta sinh vào thời suy đồi, nên không có lănh tụ giỏi
xuất hiện đấy thôi! Thực ra lănh tụ vốn ở trong dân mà ra, người
xưa nói rằng trong đám người mù không thể t́m ra kẻ sáng mắt như Ly Lâu
[2] , trong đám điếc không thể t́m được một nhạc sư có tài
biện biệt âm thanh cỡ Sư Khoáng [3] ; vậy trong lớp người có tŕnh độ dân trí thấp, lại không biết
đoàn kết với nhau, làm sao kiếm ra được một lănh tụ tài ba?
Nói đến
thù nghịch “khác t́nh, khác cảnh, cách mặt, cách ḷng” [4] ; trong hoàn cảnh chẳng đặng đừng, những người mang nặng
cốt cách Nho phong vẫn t́m được cách cư xử đẹp. Trường hợp
Hoàng Cao Khải và Đ́nh-Nguyên Phan Đ́nh Phùng là mẫu điển h́nh. Hai người cùng
quê (làng Đông-Thái, phủ Đức-Thọ, tỉnh Hà-tĩnh), đứng trong hai trận
tuyến đối nghịch; một người giữ chức Quận-công thời Pháp thuộc,
một người là lănh tụ phe Cần Vương. Trong thư từ trao đổi, câu
mở đầu Hoàng Cao Khải kính cẩn xưng học vị Đ́nh-nguyên của người
bạn cùng làng: “Đồng ấp Phan Đ́nh-nguyên đại nhân Túc-hạ”; Phan Đ́nh
Phùng cũng có lời phúc đáp không kém nhă nhặn: “Hoàng quí nhân Đài-Các-hạ”. Cho
dù không khoan nhượng trong cuộc tranh luận, nhưng họ vẫn tŕu mến nhắc
nhở đến t́nh cảm xưa: “Kẻ hèn này cùng Túc-hạ cách biệt hơn chục
năm trời, thế sự tang thương, đường đời nam bắc, xu hướng
mỗi người một khác, nhưng trong giấc mộng vẫn thường gặp gỡ
nhau; hồi ức ngày trước giao du với nhau, mối t́nh thắm thiết biết là
dường nào! (Bộc dữ Túc-hạ biệt thập dư niên hỹ, thế sự tang
thương, trần đồ nam bắc, xu hướng các dị, mộng hồn song giao,
hồi ức cựu du, t́nh hà như dă…). Cả hai không gọi nhau bằng thằng nọ,
con kia; cũng không miệt thị nhau là ngụy, là giặc! Dù hai người không được
gặp lại nhau; nhưng con cháu họ nếu có dịp hội ngộ, c̣n có thể nhận
là người làng, người nước; không đến nỗi tuyệt t́nh.
Bàn về
sự đoàn kết, có thể nói thời đại nhà Trần là một h́nh mô h́nh tiêu biểu.
Nhà Lư nhường ngôi chưa được bao lâu [1237], nội bộ nhà Trần có cuộc
khủng hoảng lớn, tưởng chừng có thể làm lung lay cả triều đại.
Bấy giờ Chiêu Thánh Hoàng-hậu [tức Lư Chiêu Hoàng], chánh cung của vua Trần Thái Tông,
không có con. Thái-sư Trần Thủ Độ bèn rắp mưu đem công-chúa Thuận Thiên
họ Lư (vợ của An-Sinh-vương Liễu, anh ruột nhà vua), lúc bấy giờ đang
có thai ba tháng, làm vợ vua Trần Thái Tông, để mong có con nối dơi. Việc làm loạn
luân này, khiến Liễu tức giận họp quân trên sông cái nổi loạn. Đến hai
tuần sau, Liễu tự lượng thế cô khó ḷng chống được, ngầm đi
thuyền độc mộc, giả làm người đánh cá đến chỗ vua xin hàng.
Lúc ấy vua
đang ở trong thuyền, anh em nh́n nhau khóc. Trần Thủ Độ nghe tin, đến thẳng
thuyền vua, rút gươm thét lớn:
Giết thằng
giặc Liễu.
Vua giấu
Liễu trong thuyền, vội vàng bảo Thủ Độ:
Phụng Càn
Vương (tước hiệu cũ của Liễu thời triều Lư) đến hàng đấy.
Rồi lấy
thân ḿnh che cho Liễu. Thủ Độ tức lắm, ném gươm xuống sông nói:
Ta chỉ là con
chó săn thôi, biết đâu anh em các ngươi thuận nghịch thế nào?
Vua nói giải
ḥa, rồi bảo Thủ Độ rút quân về. [5]
Theo luân lư xưa,
đạo phu phụ rất quan trọng, việc thay vợ đổi chồng thường
là nguyên nhân gây nên mối thù truyền kiếp. Rất may, vua Trần Thái Tông cương quyết
bảo vệ t́nh nghĩa anh em, lấy sự đoàn kết làm trọng, giúp cơ nghiệp
nhà Trần bước đầu xây nền móng vững chắc.
Lịch sử Trung-Quốc
đời Đường có vị vua nổi tiếng tên là Lư Thế Dân, cùng chung miếu
hiệu “Thái Tông” với vua ta. V́ tranh ngôi, ông này đă đem quân mai phục ở cửa
Huyền Vũ, giết cả anh em ruột là Kiến Thành và Nguyên Cát. Liên hệ việc này,
với niềm tự hào dân tộc, vua Trần Dụ Tông làm bài thơ so sánh công nghiệp và
đạo đức vua ta với vua nhà Đường như sau:
Đường Việt
khai cơ lưỡng Thái Tông,
Bỉ xưng
Trinh Quán ngă Nguyên Phong.
Kiến Thành tru
tử An Sinh tại,
Miếu hiệu
tuy đồng đức bất đồng.
(Vua sáng nghiệp
nhà Đường bên Tàu và nhà Trần Việt-Nam đều có chung miếu hiệu là Thái Tông,
Về niên hiệu vua Tàu xưng là Trinh Quán, vua ta là Nguyên Phong.
Kiến Thành anh
vua Tàu bị giết, riêng An-Sinh-vương anh vua ta được tha.
Chứng tỏ hai
bên tuy đồng miếu hiệu, nhưng về đạo đức th́ hoàn toàn không giống
nhau.)
Đoàn kết không phải chỉ là câu nói ngoài cửa miệng để tuyên truyền,
cần có ḷng thành, bụng dạ phải rộng lượng, không cố chấp thành kiến.
Việc cử Hưng-Đạo-vương Trần Quốc Tuấn, con An Sinh Vương
Liễu, làm tổng Chỉ-huy quân đội là tấm gương can đảm, dám dùng người.
Hưng-Đạo-vương, người lập công đầu trong cuộc kháng chiến
chống quân Nguyên, cũng là nhân vật triệt để thực hiện t́nh đoàn kết.
Sử chép An-Sinh-vương Liễu vẫn ôm mối thù xưa, lúc sắp mất cầm tay
Trần Quốc Tuấn giối giăng rằng:
“Con mà không
v́ cha lấy thiên hạ, th́ cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”
Quốc Tuấn ghi điều đó trong ḷng, nhưng không cho là phải.
Lại có lần
Quốc Tuấn đem chuyện ấy vờ hỏi Hưng Nhượng-vương Quốc
Tảng. Quốc Tảng thưa:
Tống Thái Tổ vốn là một ông lăo làm ruộng,
đă thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ.
Quốc Tuấn rút
gươm kể tội:
Tên loạn
thần là đứa con bất hiếu mà ra.
Định
giết Quốc Tảng. Con trưởng Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới
khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Rồi ông dặn Hưng Vũ Vương:
- Sau khi ta chết,
đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng. [6]
Lúc này vua tôi,
quân dân một ḷng, nội bộ đoàn kết vững vàng, nên có thể đánh tan mọi
âm mưu chia rẽ của kẻ ngoại xâm, cầm đầu bởi vua Nguyên Thế Tổ
Hốt Tất Liệt. Đầu đuôi sự việc qua bối cảnh lịch sử
như sau:
Năm Chí nguyên
thứ 16 (1279) vua Nguyên Thế Tổ sai Sứ-thần Sài Xuân [có sách chép Sài Thung] đến
nước ta lần thứ ba để ép buộc vua Trần Nhân Tông sang chầu, vua lấy
cớ bị tật không đi được. Bị cật vấn nhiều lần, cuối
cùng nhà vua cho chú là Trần Di Ái đi thay. Cũng vào năm ấy, quân Mông-Cổ đánh úp quân
Tống tại Nhai-Sơn, thuộc tỉnh Quảng-Đông, Thừa-tướng Lục Tú
Phu phải cơng vua Tống nhảy xuống biển chết. Nhà Tống sụp đổ, thời
cuộc lúc này rất thuận tiện để vua Nguyên dấn mạnh vào con đường
xâm lược nước ta.
Năm Chí nguyên
thứ 18, vua Nguyên gia phong Sài Xuân, tự Trang Khanh, làm An-Nam Tuyên Ủy Đô Nguyên-soái, Lư Chấn
Phó-soái, mang khoảng 1000 quân đem Trần Di Ái về nước. Chuyến đi của Sài
Xuân, có mang sẵn chiếu thư của Nguyên Thế Tổ, nội dung như một tối
hậu thư buộc vua ta phải chọn lựa một trong hai con đường: hoặc
chấp nhận Trần Di Ái, tức xóa bỏ mọi cơ chế hiện hữu để
ngoan ngoăn đầu hàng giặc; hoặc đuổi sứ-giả cùng tùy tùng, tức chấp
nhận chiến tranh tức khắc với con bài Trần Di Ái làm bù nh́n. Chiếu thư như
sau:
Chiếu thư
vào năm Chí Nguyên thứ mười tám
(Chí nguyên thập
bát niên chiếu)
Trước
kia khi An-nam Quốc-vương Trần Nhật Cảnh c̣n sống, đă từng đem điều
lệ của tổ tông ta đối với chư Man ra hiểu dụ, nhưng y không thi hành.
Đến lúc mất con không xin mệnh, tự lập lên làm vua. Sai sứ đến triệu,
từ chối không chịu sang chầu. Nay lại lấy cớ bị tật không chịu
sang, cố t́nh trái mệnh, chỉ cho chú là Trần Di Ái sang mà thôi. Ta định hưng binh
hỏi tội, nhưng nghĩ đến nước ngươi nội phụ triều cống
đă lâu rồi, chỉ do một ḿnh ngươi không biết điều, không nỡ để
cho dân chúng phải chết uổng. Nay ngươi lấy cớ tật không thể sang chầu,
th́ hăy lo thuốc thang trị bệnh đi! Ta lập chú ngươi làm An-Nam Quốc-vương
để cai trị dân chúng. Quan lại sĩ thứ trong nước hăy an cư lạc nghiệp,
đừng lo sợ. Nếu ngươi và dân chúng có mưu mô nào khác, đại binh vào sẽ
sát hại tính mạng lúc đó đừng oán, v́ tội các ngươi gây ra. Nay dụ các tông
tộc quan lại nước An-Nam. [7]
Triều đ́nh nhà Nguyên đánh giá chuyến đi này rất quan trọng và
chắc chắn thành công, nên lúc lâm hành sai các quan trong viện Hàn lâm làm thơ văn tống
tiễn. Viên Hàn lâm Học-sĩ Lư Khiêm, tự là Thụ Ích, làm bài tự như sau:
Hàn lâm học-sĩ
Lư Khiêm, tự Thụ Ích, tống thượng-thư Sài Trang Khanh tự
Năm Chí Nguyên
thứ 15 (1278) Quốc-vương nước An-Nam dâng biểu lấy cớ biên cảnh bị
quấy phá nên không rảnh để tự sang chầu; Tiên-vương mất, không thỉnh
mệnh mà tự lập. Triều đ́nh sai Sứ đi hỏi tội, nhưng chưa t́m
được người xứng chức. Nhân An-Phủ-sứ đất Kim-Xỉ là Sài
Trang Khanh từ Vân-Nam tới, được các quan Đại-thần tiến cử là người
có tài, Thiên-tử bèn cho vời đến. Cha anh Sài công đều là cựu thần, lời
lẽ ông ta rất khẳng khái, lại quen phong thổ phương Nam, nên được
Thiên-tử ban cho chức Lễ bộ Thượng-thư; lại ban cho bạc, cung tên, yên
ngựa để tỏ sự sủng ái lúc lâm hành.
Sài Trang Khanh
đến An-Nam tuyên cáo ư của Thiên-tử, chiêu dụ hai ba lần, nhưng Vương nước
này vẫn cố chấp chưa tỉnh ngộ, không chịu sang chầu. Trang Khanh về tâu,
Thiên-tử không nỡ dùng binh, lại bảo đi thêm lần nữa. Ba năm, ba lần lặn
lội đi về; rồi năm đó An-Nam cho Trần Di Ái, là em ruột Quốc-vương,
chú của Thế-tử [vua Trần Nhân Tông] sang chầu. Thiên-tử phán: “Thế-tử
chống, c̣n dân có tội t́nh ǵ! Hăy cho Di Ái lên thay để cai trị dân.” Bèn trao sách mệnh,
ban cho Trang Khanh làm Tuyên- ủy-sứ Đô Nguyên-soái, mang quân hộ tống Di Ái về nước.
Lúc sắp khởi hành, các quan trong viện Hàn lâm đều làm thơ tống tiễn. Kẻ
hèn này lạm dự chức Hàn lâm, phàm các biểu chương chiếu dụ đều được
nghe qua, bèn đem sự việc kể ra làm lời tống tặng. Từ xưa đến
nay không những khó có được người tài, mà biết t́m ra người tài cũng
không dễ! Nay Chúa thượng biết Trang Khanh là tay cương nghị hùng biện, có thể
gánh trọng trách chốn xa xôi, đi sứ bốn phương không nhục mệnh vua, nên
gửi ra ngài cửa khổn [8] , giao việc nơi tuyệt vực [9] , phàm việc quân sự đều được toàn quyền chuyên chế. Lại
được quí ông Lư Văn Chấn giữ chức phó, Lư Phi Nhị làm Tham-mưu, sự
chọn lựa nhân tài thực kỹ lưỡng. Chuyến đi của Trang Khanh sẽ không
phụ công tuyển chọn của Thiên-tử, không thẹn với lời khen lao kỳ vọng
của quí quan, thu phục An-Nam là do chuyến đi này! Tôi mấy ngày đợi Sài công tại
cửa kinh đô để chúc mừng rằng: “Từ nay trong lịch sử không phải
chỉ riêng các Sứ-thần Chung Quân [10] , Lục Giả được tiếng khen mà thôi! Tháng 11 năm Chí Nguyên thứ
18. [11]
Sự việc
xảy ra trái với lời tiên đoán của Hàn-lâm Lư Khiêm. Sau chuyến đi này, tên tuổi
Sài Xuân bị chôn vùi hoàn toàn, không c̣n được nhắc thêm trong lịch sử Trung-Quốc.
Lực lượng đặc mệnh của Sài Xuân đến trại Vĩnh-B́nh tại
biên giới (chỗ tiếp giáp tỉnh Quảng-Tây, Trung-Quốc và tỉnh Lạng-Sơn
nước ta), dù đă cho người đi trước thông báo, vẫn không được
tiếp đón như thường lệ. Sài Xuân cảm thấy lo sợ, nên viết thư
cho triều đ́nh ta, để mong giảm sự bớt căng thẳng, có thể đe
dọa đến tính mạng y lúc này:
“Bản
ty nhận Thánh chỉ đến nước ngươi với nhiệm vụ phủ dụ
biên cảnh, an ủi nhân dân, t́nh nghĩa như người trong một nhà, không có điều
ǵ khác. Số quân mang theo chỉ là lính phục dịch, không phải để chinh phạt
chiến đấu. Sợ nước ngươi không hiểu được ơn Thiên-tử,
không rơ tại sao đến nên sinh ra kinh sợ, đưa đến chỗ lo lắng nghi
ngờ. Bởi vậy khi đến Tĩnh-Giang [12] sai Lê Trung Tán đi trước hiểu dụ về mỹ ư khoan tuất của
triều đ́nh, lại nhắc chuẩn bị ngựa, quân lương, dân phu chiếu lệ
nghênh đón tại biên giới.
Ngày 16 tháng 3
bản ty xuống ngưa đợi tại Vĩnh-B́nh đến ngày 20 thấy Lê Văn Túy
mang thư tới, muốn hoăn để thương nghị. Như vậy là không biết
ngày hẹn đến nghênh đón, hoặc trong ḷng c̣n nghi kỵ chưa có được chút
ḷng thành. Nếu vậy lời kẻ phụng sứ trước kia là giả dối cả
hay sao? Nếu cho đó là có ḷng thành, th́ làm sao xảy ra việc ngày hôm nay! Đến như
việc có ích hoặc vô ích cho Thế-tử và trăm họ th́ sau khi ban chiếu chỉ sẽ
rơ. Lúc này ngoài việc ước thúc quân lính không quấy nhiễu dân chúng, c̣n sai viên Kinh-lịch
cùng Lệnh-sử Vương Lương cưỡi ngựa đi trước kiểm soát
số ngựa, quân lương, dân phu, hẹn trong 6 ngày phải có đầy đủ tại
Vĩnh-B́nh; nếu c̣n trái hẹn nữa th́ sẽ quay xe trở về để Thiên triều
có cách đối xử khác. Riêng nghĩ rằng quí quốc đă qui phụ hơn mười
năm nay rồi, nay chống đối lại, điều hại sẽ đến theo,
chẳng lẽ không xét tới sao?” [13]
Căn cứ vào nội dung lá thư th́ đoàn quân hộ tống Trần Di
Ái về nước phải đợi tại Vĩnh-B́nh 4 ngày, rồi lại thấy bên
ta mang thư tới xin hoăn để thương nghị. Cũng tại nơi này Trần
Di Ái biến mất. Theo lời vua Trần Nhân Tông kể cho viên Sứ-thần Thượng-thư
Trương Lập Đạo [14] th́ vua Nguyên kết tội bên ta giết Trần Di Ái, vua ta phủ nhận và bảo
rằng: “Quốc-thúc do cha cô [15] sai sang chầu Thiên-tử, Thiên-tử phong Quốc-thúc tước vương, Quốc-thúc
sợ hăi không biết đi đâu, chớ không phải do nước cô giết”. Riêng
Đại Việt sử kư toàn thư chép vào tháng 6 năm
Nhâm Ngọ (1282) trị tội Trần Ải tức Trần Di Ái làm khao giáp binh Thiên-Trường.
An-Nam chí lược của Lê Trắc chép “Đưa Di Ái tới Vĩnh B́nh,
người An-Nam không tiếp nhận. Di Ái sợ, chạy trốn về… Thế-tử
truất Di Ái làm thường dân”. Cần nhấn mạnh thêm lúc sự kiện này xảy
ra, Lê Trắc c̣n ở trong nước nên biết rơ nội vụ, xác nhận Di Ái c̣n sống;
trong khi đó, Nguyên sử chép là Di Ái bị giết chết.
Qua những
sử liệu nêu trên, đủ để suy luận một cách có hệ thống rằng
thời gian bắt đoàn quân hộ tống chờ đơi tại Vĩnh-B́nh là thời
gian quan trọng, ta cố t́nh tŕ hoăn để lập mưu. Bằng thủ đoạn khéo
léo cho người móc nối trực tiếp, hoặc gián tiếp qua các viên hầu cận,
ta đă kéo được Trần Di Ái ra khỏi bàn tay Sài Xuân. Công việc này thành công cũng
là nhờ Trần Di Ái thừa hưởng tinh thần đoàn kết của vua cha Trần
Thái Tông, nên sẵn sàng hợp tác. Rốt cuộc Di Ái làm khao giáp binh Thiên-Trường, được
bảo vệ, nên không c̣n bị giặc lợi dụng thêm nữa. Tất cả kế hoạch
chia rẽ của Nguyên Thế-tổ, rầm rộ cho viện Hàn lâm ca tụng tại triều
đ́nh, đă bị thất bại từ trong trứng nước.
Nhà Trần làm hết
sức ḿnh để tŕ hoăn chiến tranh, nhưng đế quốc Nguyên Mông vẫn không từ
bỏ tham vọng xâm lăng. Tháng 12 năm Giáp thân [1284] vua Nguyên sai bọn Thoát Hoan mang đại
quân sang đánh. Quân dân ta biểu dương tinh thần đoàn kết quyết chiến, qua
các hội nghị lịch sử Diên-Hồng và B́nh-Than; để rồi lâm trận, hai lần
anh dũng đánh tan quân giặc. Qua trang sử có giá trị như là một hồi kư, Lê Trắc,
tác giả An-Nam chí lược, người theo
giặc, bản thân trực tiếp tham dự cuộc chiến này, chép một cách sống
động việc đoàn quân Thoát Hoan bị đánh khắp nơi lúc chuẩn bị rút lui
trong cuộc xâm lăng lần thứ hai [1288]:
Ngày mồng 2 tháng
2, Thế-tử (vua Trần Nhân Tông) cho anh là Hưng Ninh-vương Trần Tung mấy lần
đến xin giảng ḥa, đêm lại cho quân cảm tử đến cướp trại.
Vương (Thoát Hoan) sai Vạn-Hộ-hầu Giải Chấn đến đốt thành, các
quan tả hữu ngăn lại. Thần nỗ Tổng-quản Giả Nhược Ngu thưa:
Quân chỉ có thể rút lui, không thể giữ được.
Vương nói:
Đất nóng, khí
ẩm thấp, lương thực cạn, quân sĩ mệt mỏi.
Rồi ra lệnh
rút lui. Viên tướng hiệu về đường thủy thưa rằng:
Chiến hạm
chở lương hai lần đều bị đánh tan, chi bằng phá thuyền đi đường
bộ là thượng sách.
Vương sắp nghe lời, nhưng bị tả hữu
cản lại.
Ngày mồng 3 tháng
3 các viên Hữu-thừa Trịnh Bằng Phi, Thiêm-tỉnh Đạt Mộc dùng kỵ binh yểm
hộ đoàn thuyền đến chợ Đông-Hồ, bị ngăn bằng chướng
ngại vật nên phải quay trở lại. Cầu cống lại bị phá sập, địch
đợi quân ta đến đánh. Hữu-thừa Trịnh Bằng Phi bắt một lăo già
chỉ đường, đang đêm rút lui hướng khác. Đại quân đến ải
Nội-Bàng, địch lại đánh tâp hậu... [16]
Đoạn sử
trích dẫn ở trên như đoạn phim quay trực tiếp về cảnh quân dân ta đoàn
kết chiến đấu trên mọi mặt trận. Rồi khi ḥa b́nh lập lại, điều
đặc biệt đáng chép thêm về nỗ lực đoàn kết thời nhà Trần là
khi bắt được một ḥm biểu đựng hồ sơ của những người
xin hàng giặc, Thượng-hoàng [vua Trần Thánh Tông] bắt đốt đi, để yên
tâm những người phản trắc. [17]
© 2005 talawas
[1]Đại-Việt sử kư toàn thư, bản
dịch, Viện Khoa học Xă hội Việt-Nam, Hà-Nội: 1998, tập 1, trang 174.
[2]Ly Lâu: Nhân vật truyền thuyết thời Hoàng Đế, mắt rất sáng; có
thể thấy được hạt bụi ngoài trăm bộ.
[3]Sư Khoáng: Nhạc sư thời Chiến Quốc, có tài biện biệt âm thanh để
biết điềm lành, điềm dữ.
[4]Câu văn lấy trong thư của Hoàng Cao Khải gửi Đ́nh-nguyên Phan Đ́nh
Phùng.
[5]Đại Việt sử kư toàn thư, tập
2, trang 16.
[6]Đại Việt sử kư toàn thư, tập
2, trang 80.
[7]Hồ Bạch Thảo, Những nét đặc
trưng về lịch sử Việt Nam, trang 95. Dịch từ An-Nam
chí lược của Lê Trắc.
[8]Cửa khổn: Cửa thành, ư chỉ nơi biên thùy.
[9]Tuyệt vực: Nơi xa xôi.
[10]Chung Quân và Lục Giả đều là sứ nhà Hán từng đến nước
ta; Lục Giả đi sứ dưới thời Hán Cao Tổ, Hán Văn-đế; Chung Quân
thời Hán Vũ-đế. Chung Quân giữ chức Bác-sĩ năm 18 tuổi. Vũ-đế
ngạc nhiên về văn tài, thăng đến chức Gián nghị Đại-phu. Lúc ra đi
Chung Quân huyênh hoang sẽ mang giây trói Vương nước Việt về, nhưng cuối
cùng bị Thừa-tướng Lữ Gia giết năm hai mươi tuổi. V́ y thông minh
như thần đồng nên người đời mệnh danh là Chung đồng.
[11]Những nét đặc trưng về lịch sử Việt-Nam, trang 95.
[12]Nhà Nguyên lập Tĩnh-Giang lộ Tổng-quản tại tỉnh Quảng-Tây.
[13]Những nét đặc trưng về lịch sử Việt-Nam, trang 93.
[14]Những nét đặc trưng về lịch sử Việt-Nam, trang363.
[15]Cô: Vua chúa thời xưa thường tự xưng là cô, hay quả nhân.
[16] Những nét đặc trưng về lịch sử Việt-Nam, trang155.
[17]Đại Việt sử kư toàn thư, tập 2, trang
65.
tro ve dau trang