|
|
 |
|


|

Vui xuân "Tháng Giêng ăn Tết ở nhà, "Tháng Hai cờ
bạc, "Tháng Ba hội hè, "Tháng Tư đong đậu nấu chè, "Ăn Tết Đoan
Ngọ trở về Tháng Năm, "Tháng Sáu buôn nhăn bán trăm, "Tháng Bẩy Ngày Rầm xá
tội vong nhân, "Tháng Tám chơi đèn kéo quân, "Trở về Tháng Chín chung chân buôn hồng, "Tháng
Mười buôn bấc bán bông, "Tháng Một Tháng Chạp nên công hoàn thành
|

|

Ông Đồ Vũ đ́nh Liên
Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy
ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc
ngợi khen tài " Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay."
Nhưng mỗi năm một vắng Người
thuê viết nay đâu ? Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong
nghiên sầu...
Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đường
không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay.
Năm nay đào lại nở Không thấy ông
đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ ?
|

|
Ư nghĩa Tết

Tết
do chữ Tiết mà ra, là "thời gian" đặc biệt đă được ấn định
trong năm. Theo Âm Lịch hay lịch ta, trong một năm có nhiều Tết, chẳng hạn
như Tết Nguyên Đán, Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu, Tết Trùng Cửu, Tết
Nguyên Đán hay Tết Cả. Tết quan trọng và lớn nhất trong năm của người
Việt Nam là Tết Nguyên Đán (Nguyên là bắt đầu hay đầu tiên, Đán là buổi
sớm mai) Nguyên Đán là ngày đầu tiên của một năm mới âm lịch, tức
là ngày một một tháng Giêng ta. V́ Tết Nguyên Đán là Tết lớn nhất trong năm,
cho nên người ta c̣n gọi là Tết Cả. Để khỏi nhầm lẫn với dương
lịch, Tết Nguyên Đán cũng c̣n được gọi là Tết Ta (trong khi mồng một
tháng Giêng dương lịch th́ gọi là Tết Tây)
Tết Nguyên
Đán
Tết Nguyên đán
(Tết Cả) là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt
Nam từ hàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới;
giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Tết
Nguyên đán Việt Nam từ buổi "khai thiên lập địa" đă tiềm tàng những
giá trị nhân văn thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên,
vũ trụ qua bốn mùa xuân-hạ-thu-đông và quan niêm "ơn trời mưa nắng phải
th́" chân chất của người nông dân cày cấy ở Việt Nam... Tết c̣n là dịp
để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri tâm tổ tiên, nguồn cội;
giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lư (ăn quả nhờ kẻ trồng cây) và t́nh
nghĩa xóm làng ...
Ông Táo hay thần
bếp là người mục kích sự làm ăn của mọi nhà. Theo tập tục hàng năm
ông Táo phải thu xếp lên trời vào ngày 23 tháng chạp để tâu bày mọi việc dưới
trần thế với Ngọc Hoàng. Bởi thế nên, trong ngày này, mọi gia đ́nh người
Việt Nam đều làm mâm cơm đạm bạc tiễn đưa "ông Táo ". Ngày ông Táo
về chầu trời được xem như ngày đầu tiên của Tết Nguyên đán.
Sau khi tiễn đưa ông Táo người ta bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, lau
chùi đồ cúng ông bà tổ tiên, treo tranh, câu đối, và cắm hoa ở những nơi
trang trọng để chuẩn bị đón tết.
Cùng với tranh (tranh
dân gian, câu đối), hoa quả là yếu tố tinh thần cao quư thanh khiết của người
Việt Nam trong những ngày đầu xuân. Miền Bắc có hoa Đào, miền Nam có hoa Mai,
hoa Đào, hoa Mai tượng trưng cho phước lộc đầu xuân của mọi gia
đ́nh người Việt Nam. Ngoài cành Đào, cành Mai, mấy ngỳa tết người
ta c̣n "chơi" thêm cây Quất chi chít trái vàng mọng, đặt ở pḥng khách như biểu
tượng cho sự sung măn, may mắn, hạnh phúc...
Tết trên bàn thờ
tổ tiên của mọi gia đ́nh, ngoài các thứ bánh trái đều không thể thiếu
mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả ở miền Bắc thường gồm có nải chuối
xanh, quả bưởi, quả cam (hoặc quít), hồng, quất. C̣n ở miền Nam, mâm
ngũ quả là dừa xiêm, măng cầu, đu đủ, xoài xanh, nhành sung hoặc một loại
trái cây khác. Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng cho ư niệm khát khao
của con người v́ sự đầy đủ, sung túc. Ngày Tết, dân tộc ta có nhiều
phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong như khai bút, khai canh, hái lộc,
chúc tết, du xuân, mừng thọ... Từ trẻ tới già ai ai cũng biết, sau đây
là một vài phong tục đáng được duy tŕ phát triển.
Tống cự
nghênh tân: Cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngơ, vứt bỏ những
thứ rác rưởi, cùng làng xóm dọn dẹp nhà thờ, lau giặt, cắt tóc, may sắm
quần áo mới, trang trí bàn thờ, lau chùi bàn ghế ấm chén và mọi thứ thức ăn
vật dụng. Con cháu trong nhà từ phút giao thừa trở đi được nhắc nhở
không được nghịch nghợm, căi cọ nhau, không nói tục chửi bậy... anh chị,
cha mẹ cũng không quở mắng, tra phạt con em, đối với ai cũng tay bắt
mặt mừng, vui vẻ niềm nở, chúc nhau những điều tốt lành.
Hái lộc, xông
nhà, chúc tết, mừng tuổi: Ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi
dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khoẻ, thành đạt hơn năm cũ. Nhiều
nhà tự đi hái lộc ở chốn đ́nh chùa, nơi tôn nghiêm về nhà, tự xông nhà
hay dặn trước người "nhẹ vía" mà ḿnh thích đến xông nhà. Nhiều người
không tin tục xông nhà nhưng cũng dè dặt, chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong
năm mới gia đ́nh người ta xảy ra chuyện ǵ không hay lại đổ tại
ḿnh "nặng vía". Chính v́ vậy, sáng mùng Một lại ít khách.
Sau giao thừa có
tục mừng tuổi chúc Tết. Trước hết con cháu mừng tuổi ông bà cha mẹ.
Ông bà cũng chuẩn bị ít tiền để mừng tuổi con cháu trong nhà và con cháu hàng
xóm láng giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc tết thường là sức khoẻ, phát tài
phát lộc, những người năm cũ gặp rủi ro th́ động viên nhau "tai qua
nạn khỏi" hay "của đi thay người" nghĩa là trong cái hoạ cũng t́m thấy
cái phúc, hướng về sự tốt lành. Nhưng nh́n chung trong những ngày đầu năm,
người ta thường kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa.
Phong tục ta ngày
Tết việc biếu quà Tết, tỏ ân nghĩa t́nh cảm, học tṛ tết thầy giáo,
bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... quà biếu, quà
tết không đánh giá theo giá thị trường. Nhưng cũng đừng nên g̣ bó câu nệ
sẽ hạn chế t́nh cảm: không có quà ngại không đến...
Ở nước
ta, vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thất
tuần, bát tuần, cửu tuần... tính theo tuổi mụ. Ngày Tết ngày Xuân cũng là dịp
mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui.
Cũng vào dịp
đầu Xuân, người có chức tước khai ấn, học tṛ, sĩ phu khai bút, nhà
nông khai canh, người buôn bán mở hàng lấy ngày. Sĩ, Nông, Công, Thương "Tứ dân
bách nghệ" của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội
hành thông, làm ăn suôn sẻ. Sau ngày mùng Một, dù có mải vui tết cũng chọn ngày "Khai
nghề", "Làm lấy ngày". Nếu như mùng Một tốt th́ chiều mùng Một bắt đầu.
Riêng khai bút th́ giao thừa xong, chọn giờ Hoàng đạo không kể mùng Một là ngày tốt
hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm
th́ cũng tự làm cho gia đ́nh một sản phẩm, một dụng cụ ǵ đó. Người
buôn bán, v́ ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc
dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là
đi chơi xuân.
Cờ bạc:
Ngày xưa các gia đ́nh có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được
cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp tết, nhất là tối 28, 29; gia đ́nh
quây quần bên nồi bánh chưng th́ người bố cho phép vui chơi. Tam cúc, cờ gánh,
cờ nhảy, cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm... ai thích tṛ nào chơi tṛ ấy.
Đến lễ khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết th́ xé bộ
tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt luôn hoá vàng.
V́ sao có tục
kiêng hót rác đổ đi trong ba ngày Tết: Trong "Sưu thần kư" có chuyện người
lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo được thuỷ thần cho một con
hầu tên là Như Nguyên, đem về nhà được vài năm th́ giàu to. Một hôm, nhân
ngày mùng Một Tết, Âu Minh đánh nó, nó chui vào đống rác mà biến mất, từ đó
nhà Âu Minh lại nghèo đi. Kể từ đó kiêng không hốt rác ngày Tềt.
Chúc Tết và mừng
tuổi
Sáng sớm mồng một Tết hay ngày "Chính đán", mọi
sinh hoạt ngừng lại, các con cháu tụ họp ở nhà tộc trưởng để
lễ Tổ Tiên chúc tết ông bà, các bậc huynh trưởng và mừng tuổi lẫn nhau.
Theo tục lệ, cứ năm mới tới, kể cả người lớn lẫn trẻ
con, mỗi người tự nhiên tăng lên một tuổi. Bởi vậy ngày mồng một
Tết là ngày con cháu "chúc thọ" ông bà và các bậc cao niên; và các người lớn th́ "mừng
tuổi" các trẻ em một cách cụ thể bằng những đồng tiền mới
bỏ trong những "phong bao". Tục này ở miền Nam quen gọi là "ĺ x́". Tiền mừng
tuổi mà ḿnh nhận được trong ngày tết gọi là "Tiền mở hàng". Xưa
c̣n có lệ cho tiền phong bao với số tiền lẻ (chứ không phải là tiền
chẵn). Ngụ ư tiền này sẽ sinh sôi nảy nở thêm nhiều.
Về
chúc Tết, trong ba ngày Tết, những thân bằng quyến thuộc, hoặc những người
phải chịu ơn người khác thường phải đi chúc Tết và Mừng Tuổi
gia chủ; sau đó xin lễ ở bàn thờ Tổ Tiên của gia chủ. Tục này ngày nay
ít c̣n, v́ th́ giờ eo hẹp, đường xá xa xôi cho nên đă được thay thế
bằng những thiệp "Chúc Mừng Năm Mới" hay "Cung Chúc Tân Xuân"
(Xin đọc thêm các tiết
mục nói về tục lệ Xuân trong mỗi bài nhạc Xuân được
ghi bên cột trái).
|
Lạm bàn việc CSVN
áp dụng lịch cải cách mới nhân Tết Đinh Hợi 2007(nguồn : TIẾNG NÓI TỰ
DO DÂN CHỦ.) | |
BẮT
ĐẦU TẾT ĐINH HỢI 2007, CỘNG SẢN VN, ÁP DỤNG LỊCH CẢI CÁCH MỚI, VỚI
MỤC ĐÍCH G̀? MƯỜNG GIANG
Tết
Nguyên Đán là một trong những phong tục truyền thống lâu đời của DânTộc
Việt, đă có từ thời Họ Hồng Bàng dựng nước Văn Lang, vào năm
Nhâm Tuất (2879) trước Tây Lịch. Đây là một lễ hội độc đáo của
nước ta, được liên tục lưu truyền qua hằng ngh́n năm lịch sử,
bất kỳ ở giai đoạn nào, cũng được mọi người trân quư ǵn
giữ.
Tất cả các tập tục trong ba ngày Tết đều chứa đựng
những ư nghĩa thiêng liêng, đă được ghi chép lại trong ‘Việt Sử Đại
Toàn‘, như sự tích ‘Bánh Giày-Bánh Chưng‘, phát xuất từ thời Hùng Vương,
dành để cúng kiến tổ tiên, được bao đời noi theo, tới ngày nay vẫn
không có ǵ thay đổi. Tóm lại, vấn đề Người Việt bắt đầu
ăn Tết từ lúc nào, tới nay vẫn c̣n là huyền sử. Nhưng sự kiện nước
ta đă có một nền văn hiến riêng biệt, từ các Tổ Hùng Vương, trong
đó có nghề trồng lúa nước, đánh cá trên sông-biển, đă biết trời tṛn,
đất vuông để theo đó mà làm bánh cúng tế tổ tiên ông bà.. Tất cả đều
là những nề nếp sinh hoạt trong đời sống của người Việt, có
trước khi nước Nam Việt (Nhà Triệu), mất vào tay người Tàu,vào thời
Bắc Thuộc Lần Thứ Nhất.
Ngay từ lâu đời, các nước trong
khu vực Đông Nam Á theo Tam Giáo (Phật-Nho-Lăo) như Cao Ly, Nhật Bản, chứ không riêng ǵ
Việt Nam.. đều chịu nhiều ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, qua việc
sử dụng Âm Lịch để theo dơi thời tiết dành cho nông nghiệp hay ghi chép những
ngày giỗ kỵ, hội lễ, quan trọng nhất trong đó có Tết Nguyên Đán. Ngoài ra các
nước c̣n xài thêm Dương Lịch, trong sinh hoạt hằng ngày, v́ lịch này đă
được tất cả các dân tộc trên thế giới công nhận, thống nhất
trên các văn kiện lưu hành. Ở Nam Hàn, Nhật Bản ngày nay, hầu như Tết nước
họ theo Dương Lịch. C̣n Tết theo Âm Lịch cổ truyền, chỉ c̣n lưu hành
ở vùng quê mà thôi.
Căn cứ vào các nguồn sử liệu c̣n lưu trữ như
Đại Nam Hội Điển Sử Lệ, cho biết nước ta từ lâu đời, đă
sử dụng Âm Lịch Á Đông, được người Tàu soạn thảo. Triều đ́nh
VN chỉ làm công việc duy nhất, là ban lệnh cho Ṭa Khâm Thiên Giám (cơ quan làm lịch),
hoặc để nguyên lịch Tàu hay căn cứ vào đó mà soạn lại, rồi phân phối
tới các tỉnh thành trong nưóc, thi hành. Nhờ tổ chức chặt chẽ như vậy,
nên Âm Lịch, không những là lịch chính thống của quốc gia, bắt buộc mọi
người phải thi hành, mà c̣n là nếp sống quen thuộc của xă hội. Bởi vậy,
gần như tất cả các ngày lễ lớn trong nước như Giỗ Tổ Hùng Vương,
Tết Nguyên Đán, Trung Thu, Kỹ niệm Đức Thánh Trần, Mừng ngày chiến thắng Đống
Đa của Đại Đế Quang Trung... đều căn cứ vào âm lịch.
Nhưng lịch
Tàu mà nước ta sử dụng, cũng có nhiều loại được lưu truyền
trong dân chúng. Ngoài thứ lịch chính thống do Triều đ́nh phân phối, c̣n có các loại
Tích Niên Thư (thứ lịch của các sứ thần mang về), xài riêng trong gia đ́nh.
Thời Dân Quốc, có nhiều loại lịch được soạn thảo tại Quảng
Đông-Thượng Hải, chỉ nhắm vào mục đích quảng cáo cho sự bói toán. Thời
kỳ nước ta bị Pháp đô hộ, lại có thứ lịch Âm-Dương Đối
Chiếu, được Pháp soạn theo tài liệu, trích dẫn từ cuốn Vạn Niên
Thư của Trung Hoa, ấn hành từ năm 1624 bên Tàu.
Đây là nguyên nhân chính, đă gây
ra sự chênh lệnh ngày tháng âm dương trên các cuốn lịch, được lưu hành,v́
các nhà sản xuất lịch không cần biết tới nội dung bên trong, mà chỉ cần
có lịch là in, để bán. T́nh trạng hổn mang này cứ kéo dài hết đời này
tới thời nọ, đă làm cho người dân xôn xao, bất nhất, trong khi sử dụng
Âm Lịch, vào những ngày Tết Nguyên Đán và những năm Nhuận.
Mới đây,
CSVN lại công bố : Năm tới, VN sẽ đón Tết Đinh Hợi (2007) vàongày 17-2-2007,
chênh lệch với Tết Tàu trước một ngày (18-2-2007). Vấn đề này cũng
đâu có ǵ lạ, v́ ngay từ ngày 8-8-1967, lúc Hồ Chí Minh c̣n sống, cũng đă ban hành
việc cải cách Âm lịch tại VN (Quyết định số 121/CP) của Đảng CSVN.
Sau đó vào thập niên 80 của thế kỷ XX, khi ba Đảng TC,VC và Miên Cộng.. cấu
xé lẫn nhau, VC cũng đă ra lệnh thay đổi Lịch và Ngày Tết Nguyên Đán.
Câu
hỏi mà người Việt cả nước, chứ không phải riêng ǵ đồng bào
VN Hải Ngoại thắc mắc, là tại sao đă biết có sự khác biệt khi làm Âm
Lịch, về phương diện địa dư của hai nước Việt-Hoa, lại
đă ban hành quyết định cải tổ Âm Lịch VN ngay từ năm 1967. Thế nhưng
tại sao Đảng chỉ nói suông cho có lệ, rồi vẫn cứ nhắm mắt bắt
cả nước xài lịch Tàu. Tới bây giờ, trong lúc Đảng đang bị đồng
bào, từ Nam tới Bắc, chung ḷng tố cáo Đảng độc tài, tham nhũng, bán nước
và làm tay sai cho Trung Cộng lẫn ngoại bang, mới tuyên bố cải cách Lịch ? Làm vậy,
chắc là, để gỡ rối tơ ḷng, lại vừa phân bua với mọi người
trong và ngoài nước, rằng là Đảng ta độc lập, sáng suốt, không hề bợ
Tàu đội Mỹ, là đỉnh cao trí tuệ loài người, có khoa học văn minh,
nên cũng biết tự soạn Lịch để cả nước xài. Câu chuyện chỉ
vậy thôi, con nít nh́n vào cũng thấy được, đâu có mắc mớ ǵ tới tập
thể của đồng bào ‘chống Cộng‘ tại hải ngoại, mà cứ
xiên xỏ, đâm thọt và đổ thừa?
Ba mươi mốt năm qua, sống
dưới cùm gông kềm kẹp của tập đoàn thực dân mới là Đảng CSVN, ngoại
trừ tầng lớp đang làm chủ nước, gồm chóp bu, công an, bộ đội,
tư bản đỏ cùng với một ít Việt gian, Việt kiều.. dư tiền,lắm
của, mới c̣n sức để mà rửng mỡ, lợi dụng ngày Tết thiêng liêng
của Dân tộc, để phung phí trác táng. Bởi v́ cả nước ngày nay, người
dân thật sự đă bước vào con đường cùng khổ mạt rệp, kiếm
tiền không đủ lo cho hai bữa ăn, th́ sức đâu mà nghĩ tới ăn Tết
theo lịch Tây hay Tàu, cho dù họ biết.
Với Cộng Đồng người Việt
tị nạn Hải Ngoại, t́nh trạng cũng đâu có khá ǵ đồng bào, đang sống
trong nước. Thật vậy, cuộc sống của người lưu vong, ly xứ,
tất cả đều lệ thuộc vào bản địa và trên hết là nồi gạo
nuôi sống mọi người. Ở đây, trừ một thiểu số đồng hương
sống nghề tự do, làm chủ hay không làm ǵ hết... mới có thời gian nghĩ tới
Tết Nhất và những chuyện khác. C̣n tuyệt đại đồng bào VN tị nạn
Cộng Sản, từ trẻ tới già, kể cả đàn bà con nít.. đầu tắt mặt
tối, đê kiếm sống, trả nợ ngườivà giúp đỡ thân nhân c̣n bị
kẹt trong Thiên Đàng Xă Nghĩa. Bởi vậy, đâu có ai dám nghĩ tới Ngày Tết cổ
truyền Dân Tộc, cho dù ai cũng ao ước tới Tết, để có dịp gần
gũi với Đồng Hương và Hoài Niệm về chốn quê xưa, c̣n mịt mù trong
nỗi hận hờn quốc nhục.
Điều hạnh phúc và may mắn đối với
họ, là những năm có Tết Nguyên Đán, đúng vào ngày Lễ địa phương hay
cuối tuần, được nghỉ việc, để ăn Tết. Sự thật năo
nùng của người ly xứ là vậy đó! Hơn nữa, CSVN từ bảy mươi
lăm năm qua, chỉ quen nới láo, nói suông và nói để ru ngủ tuyên truyền mấy
người nhẹ dạ, nên giờ đây đâu c̣n ai thèm nghe hay để ư tới những
câu chuyện dài, dai và dỏm của Đảng, trừ phi mấy kẻ không biết làm ǵ, nên
phải ngồi lê đôi mách, viết chọc cho người ta cười.
1- T̀M HIỂU
VỀ CÁC LOẠI LỊCH ĐANG LƯU HÀNH TRÊN THẾ GIỚI :
Xưa cũng như nay, tuy cách nhau hơn 6000 năm nhưng con người
đă biết căn cứ vào sự vận hành của Mặt Trời, Mặt Trăng và Trái
Đất để tính thời gian qua hai thứ lịch Dương (có ngày Nhuận) và Âm (có
tháng Nhuận). Lịch nguyên là một danh từ chuyên môn trong Lịch Pháp (Phương Pháp làm
Lịch), để chỉ khoảng thời gian lúc nửa đêm, được công nhận
là giờ 0, khởi đầu cho một ngày mới. Lịch nguyên c̣n được coi như
một cột mốc lịch sử, dùng tính thời gian dài, dựa theo truyền thuyết
tôn giáo của nhân loại,như Đạo Thiên Chúa th́ lấy Lịch Nguyên là ngày Giáng Sinh của
Đức JésusChrist, c̣n Phật Giáo có Lịch Nguyên là năm Đức Phật Thích Ca ra đời.
Tương tư, Hồi Giáo chọn Lịch Nguyên là năm Đức Giáo Chủ rời bỏ
thánh đàn tại La Mecque.
Cũng do ba đơn vị chính để làm Lịch là Mặt
Trời, Mặt Trăng và Trái Đất hoàn toàn độc lập, mà con người lại chỉ
mới phối hợp được có hai Đơn Vị là Mặt Trời và Mặt Trăng.
Đây cũng là nguyên nhân phát sinh ra hai loại Lịch Dương và Âm, hoàn toàn khác biệt.
Ngoài
ra trong mỗi Hệ Lịch, lại có nhiều loại Lịch được phát hành tuỳ
thuộc từng Dân tộc, như Hệ Dương Lịch có Lịch Cổ Ai Cập, Lịch
Julius, Lịch Gregorius.. Bên Hệ Âm Lịch cũng có nhiều thứ như Lịch Cổ
Trung Hoa, Lịch Babilon, Lịch Cổ La Mă, Lịch Do Thái..
Tóm lại từ trước
tới nay, các nhà Thiên Văn Học, đă căn cứ vào sự vận hành của Mặt
Trời, Mặt Trăng và Trái Đất trong Thái Dương Hệ, để phát minh ra hai thứ
Dương và Âm Lịch, theo căn bản của Lịch Pháp, gọi là Lịch Vận Hậu
Và Lịch Vận Khí.
+ Lịch Vận Hậu:
Căn
cứ vào Khoa Học Thiên Nhiên, biết được Địa Cầu hiện có đường
Bán Kính là 6370 km, quay một ṿng quanh Mặt Trời mất 365 ngày (một năm) và xung quanh
trục của nó là 24 giờ (một ngày-đêm).
Theo sự nghiên cứu của các nhà
khoa học, th́ sự chuyển động của Trái Đất, chẳng những được
coi như là Đơn Vị đo thời gian, mà c̣n có tác dụng thời khí, ảnh hưởng
đến nhịp điệu và sự sống của con người trên địa cầu.
Trong sự vận chuyển trên của Trái Đất, quay đủ năm ngày, thành một Hậu,
đủ ba Hậu là một Khí, bốn Khí thành một Lôvà cuối cùng quay đủ sáu Lô,
mới đúng một Năm.
Qua ảnh hưởng thời tiết, một năm lại
chia thành bốn mùa Xuân, Hạ, Thu,Đông. Để phân biệt các mùa, người làm Lịch lại
đặt ra Bốn Ngày đặc biệt, đánh dấu vị trí và thời điểm
đến và đi của bốn mùa. Do cách tính số chẳn của nhà làm Lịch, cho nên
hằng năm, bốn ngày đặc biệt trên, có thểsai lệch với năm trước
Một Ngày.
- Ngày Xuân Phân : 21-3 Đương Lịch. - Ngày Hạ Chí : 22-6 Dương
Lịch. - Ngày Thu Phân : 23 ố 9 Đương Lịch. - Ngày Đông Chí : 22-12 Dương Lịch..
Hai mùa Xuân-Hạ, v́ Mặt Trời cách trái đất có 147.000.000 km, gần hơn các
mùa c̣n lại, nên Ngày Ngắn-Đêm Dài. Trái lại mùa Thu-Đông, Mặt Trời cách Địa Cầu
tới 152.000.000 km xa hơn, nên Ngày Ngắn-Đêm Dài. Trong khi làm Lịch,các nhà Khí Tượng Học
c̣n chia một năm thành 24 Tiết, mỗi Tiết gồm ba Hậu và mỗi Hậu lại
có những diễn biết khác biệt, do ảnh hưởng của địa dư, thời
tiết.. tới sinh hoạt của Động-Thực Vật tuỳ theo vùng.
Tất cả
các yếu tố trên, đều là căn bản của Lịch Vận Hậu.
+ Lịch
Vận Khí :
Theo cách tính của các nhà soạn
Lịch Vận Khí, căn bản lấy Thiên Can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh,
Tân, Nhâm, Quư, để làm Vận. Lại chọn Địa Chi gồm 12 con giáp Tư, Sửu, Dần,
Mẹo, Th́n, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.. để làm Khí.
Trong trời
đát có năm Vận : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, tương ứng với Thiên
Can :
- Giáp-Kỷ thuộc Vận Thổ. - Ất-Canh thuộc Vận Kim. - Bính-Tân
thuộc Vận Thủy. - Đinh-Nhâm thuộc Vận Mộc. - Mậu-Quư thuộc Vận
Hỏa.
Ngoài ra các năm thuộc Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm.. thuộc Dương tính,được
các nhà làm Lịch xếp vào Vận Thái Quá. Ngược lại các năm Ất, Đinh, Kỷ,
Tân, Quư.. được xếp vào Âm Tính, gọi là Vận Bất Cập.
Lịch Vận
Khí c̣n dựa vào 12 Chi (Giáp) gồm Tư, Sửu, Dần, Mẹo, Th́n, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu,
Tuất, Hợi.. để t́m Khí, qua sự phối hợp với Ngũ Hành:
- Thân-Dậu
hợp với Kim. - Dần-Mẹo với Mộc. - Hợi-Tư với Thủy. - Tỵ-Ngọ
với Hỏa. - Th́n-Tuất-Sửu-Mùi với Thổ.
Căn cứ những ghi chép
từ các tài liệu của Y Học Cổ Truyền, th́ cơ thể con người chịu
ảnh hưởng của Khí, theo từng mùa trong năm. Vận Khí bao gồm Chủ Khí, tức
là ảnh hưởng của bốn mùa theo Ngũ Hành như Xuân ứng với Mộc, Hạ
ứng với Hỏa, Thu ứng với Kim và Đông ứng với Thủy. Bốn tứ Hành
trên, sau khi vận chuyển, đều quy về Thổ, tức là Trái Đất. Chủ Khí c̣n
đại diện cho Ngũ Tạng, trong cơ thể con người là Thận, Can, Tâm, Tỳ,
Phế. C̣n Khách Khí th́ ảnh hưởng tới Lục Phủ, Lục Kinh gồm Thái Âm, Thiếu
Âm, Quyết Âm (Tam Âm) và Tam Dương là Thiếu Dương, Dương Minh và Thái Dương.
Khách Khí hoạt động mỗi năm mỗi khác và tùy theo vị trí đang hiện diện,
chẳng hạn như trên thượng tầng khí quyển là Tư Thiên, ở tầng khí
quyển và trong ḷng đất, là Tư Địa hay Tại Tuyền.
Thật sự Vận
và Khí chỉ là những khái niệm vô h́nh, vô sắc nhưng lại có tác dụng rất quan
trọng đối với đời sống nhân sinh trên địa cầu. Tóm lại năm
nào Vận và Khí cùng song hành vận chuyển, năm đó trời đất ít có thiên tai, con
người cũng không có nhiều bệnh tật. Trái lại những năm Vận và Khí
tác động qua lại trong lúc vận chuyển, sẽ gây ra tai biến dữ dội cho
trái đất và con người. Dựa vào nguyên lư này, các nhà Đông Y Học đă chẩn bệnh
và bốc thuốc cho con người rất hiệu quả và xác thực..
+ Lịch
Của Người Nhật :
Nhật Bản
là một trong những quốc gia Á Châu, chịu ảnh hưởng của nền văn minh
Trung Hoa, nên qua bao đời đă sử dụng Âm lịch như là truyền thống của
dân tộc. Có điều khác biệt, là Nhật tuy dựa vào Hệ Can Chi như ngườiTàu
để soạn Lịch nhưng với Lịch Pháp tuyệt diệu, đă giúp Họ xây
dựngđược Phép Đoán Số Tử B́nh, dựa vào môn Tử Vi, đă đạt được
nhiều thành tựu rất xác thực.
Căn bản của Phép Tính Tử B́nh của
người Nhật, phần lớn dựa vào nhiều đặc điểm của Môn Tử
Vi Học và Can Chi, qua các yếu tố Nam-Tháng, Ngày-Giờ, để tạo ra Bát Tự. Đây
chính là Lịch Nhật, được sử dụng để xét đoán công ăn, việc
làm và cuộc sống của con người. Lịch này cũng tuân thủ theo qui luật Âm-Dương,
Ngũ-Hành và 12 con vật tượng trưng của tuổi, để ước đoán
vận mệnh của người, theo quan niệm Đông Phương
Trong khi đó Tây
Phương cũng quan niệm về tính cách của con người, theo tuổi tác nhưng
thay v́ 12 con vật biểu tượng, lại được thay thế bằng 12 v́ Sao :
- Sao Aquarines (Tuổi Tư ố Con Chuột) - Sao Capricornus (Tuổi Sửu ố Con Trâu)
- Sao Sagittarines (Tuổi Dần ố Con Cọp) - Sao Scorpius ( Tuổi Mẹo ốCon Mèo)
- Sao Libra (Tuổi Th́n ố Con Rồng) - Sao Virgo (Tuổi Tỵ ố Con Rắn) -
Sao Leo (Tuổi Ngo- Con Ngựa) - Sao Cancer (Tuổi Mùi ố Con Dê) - Sao Germini (Tuổi Thân
ố Con Khỉ ) - Sao Taurus (Tuổi Dậu ố Con Gà ) - Sao Aries (Tuổi Tuất ố
Con Chó) - Sao Pices (Tuổi Hợi ố Con Heo)
Theo ghi nhận của Tạp Chí Pháp Elle,
th́ Đông (qua người Nhật) và Tây Phương, gần như có chung cách nh́n về con người,
căn cứ vào tuổi tác, qua 12 biểu tượng.
+ DƯƠNG LỊCH :
Tính theo sự chuyển vận của Mặt trời
trên quỹ đạo, từ lúc đi qua điểm Xuân Phân, cho tới khi gặp lại nó.
Một ṿng quay như vậy, phải mất tới 365 ngày, 5 giờ, 48 phút, 46 giây, tức
là 365,2422 ngày. Đây là công tŕnh nghiên cứu của Nhà Thiên Văn Học S.Newcomb.
Để xác
định được chiều dài mà mặt trời đă vận hành, con người
phải tốn hết nhiều ngàn năm mới đạt được kết quả
ngày nay. Buổi đầu người xưa căn cứ vào các hiện tượng thời
tiết, có liên quan tới mùa trong năm, lấy đó làm chu kỳ theo dơi. Nhờ vậy đă
phỏng đoán được một năm có từ 300-400 ngày. Tiếp theo người Babylon
sống cách nay chừng 5000 năm, đă xác định được một năm có 360
ngày, bằng cách đo bóng mặt trời vào lúc đứng bóng (giữa trưa). Cũng bằng
phương pháp này, người xưa đă t́m ra phép đo thời gian và t́m độ góc
với hệ số 60, xác định được ṿng tṛn có 360 độ,mỗi độ
có 60m/m, một phút có 60 giây..
Trong khi đó người Cổ Ai Cập, lúc trị thủy
trên ḍng sông Nil, đă căn cứ vào Cḥm Sao Thiên Lang (Sirius), xác định được một
năm có 365 ngày, chi sai số với kết quả ngày nay chừng 1 ngày trong 4 năm hay 1 tháng/120
năm mà thôi.. Tuy nhiên kết quả này vẫn không được Ṭa Thánh La Mă thời đó
công nhận, v́ cho rằng con số dư 0,25 ngày trong năm, là đi ngược lại định
luật của thiên nhiên. Nên phải tới 2000 năm sau, vào thời Hoàng Đế César, người
La Mă mới chấp nhận lấy đó làm đơn vị soạn Lịch. Từ đó
Ai Cập theo gót La Mă, xác nhận kết quả của chính ḿnh t́m ra.
Đến thế kỷ
XIII sau Tây lịch, con người gần như đo được độ dài vận
chuyển của Mặt Trời là 365,2425 ngày. Nhưng phải đợi tới thế kỷ
XVI, Đức Giáo Hoàng tại Ṭa Thánh La Mă là Gregorius XIII ban quyết định lấy đó làm
đơn vị căn bản để làm lịch, mà ngày nay chúng ta gọi là Dương
LịchGregorius, được cả thế giới công nhận.
Nhưng từ thời
Hoàng dế Cesar vào năm 45 trước Tây Lịch, con người cũng đă xác nhận
được một năm có 365 ngày, trong đó định rơ các tháng Giêng, 3, 5, 7, 8, 10 và 12
có 31 ngày. Các tháng 4, 6, 9 và 11 chỉ có 30 ngày, đặc biệt tháng hai chỉ có 28 ngày.
V́
có thặng dư mỗi năm là 5 giờ, 48 phút, 46 giây X 4 năm sẽ có được 1
ngày, nên theo Dương lịch, cứ 4 năm, lại có Tháng Hai Nhuận 29 ngày. Về sau các
nhà Thiên Văn Học tính lại, th́ thấy trong 4 năm, dù đă có dư 1 ngàyn hưng vẫn
thừa 5 phút 20 giây. Do trên, bắt đầu từ năm 1-1000 sau Tây lịch, qua một Thiên
Niên Kỷ, đă có một sai số là 7 ngày 20 giờ.
Để thanh toán số thời gian
thặng dư trên, vào ngày 15-10-1582, chính Đức Giáo Hoàng Gregorie XIII (1502-1585) đă ban lệnh
điều chỉnh ‘Ngày 4-10-1582 sẽ thành ngày 15-10-1582, để bù lại 11 ngày dư,
tính từ năm 325 sau Tây lịch. Cũng năm này, Hội đồng Hồng Y và Giám
Mục thuộc Ṭa Thánh La Mă, đă họp tại thành Nice, quyết định dùng Lịch
thời Hoàng Đế Cesar làm Dương Lịchv à Năm Chúa Jésus ra đời (năm 1 Sau Tây
Lịch) làm Lịch Nguyên. V́ lịch này phát xuất dưói Triều Đức Giáo Hoàng La Mă là Greorie
XIII, nên c̣n đuợc gọi Dương Lịch Gregorius, tức là Hệ Dương Lịch
mà nhân loại đang sử dụng. Cũng trong phiên họp này, Hội đồng đă quyết
định :
- Số 7 ngày 20 giờ thặng dư trong 1000 năm, dành cho Tháng Hai Nhuận
(29 ngày), với những năm có hai số cuối cùng, chia chẵn cho 4.
- Điều kiện
này sẽ không áp dụng cho những năm có hai số cuối cùng 00, chia chẵn cho 4 (tức
là không có tháng Hai Nhuận 29 ngày). Tuy nhiên nếu năm đó có hai số 00 hàng cuối, mà chia
chẵn cho 400, vẫn có tháng Hai Nhuận.
Dù được thông dụng nhưng Lich Gregorius
vẫn c̣n khuyết điểm chưa giải quyết được. Đó là vào năm 4000,
dù chia chẵn cho 400, vẫn không có Tháng Hai Nhuận (29 ngày). Riêng 1 phút 20 c̣n lại, dành tính vào
năm 8000.
Về Dương Lịch, cách soạn rất đơn giản như phương
pháp mà Cổ Ai Cập đă làm cách đây mấy ngàn năm. Đó là nguyên tắc : 1 năm có 12
tháng, 1 tháng 30 ngày, 5 ngày c̣n dư th́ tính vào tháng 12. Tới giai đoạn xác định được
1 năm có 365,25 ngày, th́ người làm Lịch lại xác định, cứ 4 năm có 1 ngày
Nhuận vào Tháng Hai (29 ngày).
Cuối cùng khi số ngày trong năm được công nhận
là 365,2425 ngày th́ việc soạn Dương Lịch mới thật sự rắc rối. Để
giải quyết, mọi người đều đồng ư là trong chu kỳ 400 năm, phải
có 97 năm Nhuận Tháng 2 (29 ngày), thayv́ 100 năm Nhuận như trước đó. Cũng
theo định luật mới này, đă có ba năm dư hai số cuối 00 nhưng không
chia chẵn cho 400 nên không có năm Nhuận Tháng Hai.
Về sự kiện S.Newcomb t́m ra
được 1 năm có 365,2422 ngày, nếu đem đối chiếu với Duơng Lịch
hiện tại, th́ cứ 3500 năm mới chênh lệch 1 ngày, nên chưa thấy ai lên tiếng
cải cách.
Dương Lịch, ngoài Lịch Gregorius thông dụng, các nhà khoa học c̣n
sử dụng thêm Dương Lịch Julius, do Joseph Scaliger (1540-1609), là một khoa họcgia
Pháp gốc Ư, sống đồng thời với Đức Giáo Hoàng La Mă Gregorius, đề xướng.
Sở dĩ Lịch mang tên Julius, v́ tác giả muốn nhắc tên cha ḿnh là Julius Caesar Scaliger
(1484-1588).
Đặc điểm của hệ Dương Lịch này là chỉ có Ngày, mà
không có năm-tháng, được liên tục ghi lại Ngày bắt đầu từ 1-1-4713
Trước Tây Lịch, tới thời điểm muốn t́m. Tác giả đă chọn giờ
GMT (Greewich) làm cột mốc để tính ngày, tức là muốn t́m ngày theo Julius, bắt buộc
phải đổi ra ngày giờ GMT, rồi mới căn cứ vào hai bảng đối chiếu
có sẵn, để tính ra.

Vừa
qua Đảng VC có công bố Thông tư số 61/2006 với nội dung cho biết Ngày Mùng Một
Tết Đinh Hợi (2007) tại VN, sẽ tương ứng với Ngày 17-2-2007 Dương
Lịch, trước Trung Cộng một ngày. Thật ra đây cũng không phải lần
đầu tiên có lệnh thay đổi Lịch của Chế độ XHCH/VN mà nó đă xảy
ra nhiều lần, c̣n có cả Quyết Định số 121/CP được ban hành ngày 8-8-1967
của Hội Đồng Chính Phủ nước VNDCCH do Hồ Chí Minh kư.
Nhưng rồi
đâu lại vào đó. Tóm lại khi t́nh h́nh có triệu chứng sứt mẻ hay gây cán, hoặc
hai đảng bôi mặt đấm đá, th́ lại có hiện tượng thay Lịch, để
biểu dương chính trị, lập trường.. như từng xảy ra nhiều lần
trong quá khứ.
Việc ban hành sự Cải Cách Lịch tại VN, dù ở thời nào,
chế độ ǵ, cũng đều là hành động chính đáng được ngưỡng
mộ và cổ vơ, nếu nhà cầm quyền thực tâm coi vấn đề trên như là một
quốc sách cần thiết. Hơn nữa VN xưa nay, đă có rất nhiều nhà Khoa Học,
th́ công tác trên đâu có ǵ khó khăn. Xưa nay nước nào cũng vậy, làm Lịch đều
phải tuân theo ba điều kiện bó buộc là Yếu Tố Thiên Nhiên, Thời Gian và Lịch
Pháp. VN hiện nay đang sử dụng hai Hệ Lịch song hành : Dương Lịch Gregorius
và Âm Lịch dựa theo Lịch Cổ Trung Hoa.
Căn cứ vào sách Lịch Thế Kỷ
XX (1901-2000), nói về cơ sở và phương pháp làm lịch của VN, do Hà Nội ấn
hành năm 1983. Theo đó, người Việt khi làmLịch, cũng căn cứ vào sự
vận chuyển của Mặt Trăng quanh Trái Đất. Nhưng quan trọng nhất trong sự
chênh lệch ngày giờ, giữa Âm Lịch VN và Trung Hoa, đó là cách tính thời gian, căn
cứ theo MÚI GIỜ KINH TUYẾN 105 ĐÔNG, tương ứng với Múi giờ 7 GMT. được
các nhà Thiên Văn Học VN công nhận, dựa theo cơ sở khoa học.
Trong khi đó,
người Tàu khi làm Âm Lịch, đă chọn Kinh Tuyến 120 Đông, tương ứng với
Múi giờ 8 GMT. Đó là sự khác biệt địa lư giữa hai nước, không thể bỏ
qua được khi làm Lịch. Để biện minh về việc Nhà Nước đă có cơ
sở khoa học, chứng minh được sự chênh lệch Ngày-Tháng, giữa Âm Lịch
VNvà Tàu, nhưng tại sao vẫn cứ duy tŕ không chịu thay đổi ? Điều này lại
được Đảng giải thích là v́ cả hai thứ Âm Lịch của VN và Tàu đều
đúng hết. Sau đó đổ lỗi cho đồng bào trong nước, chỉ chuộng
xài lịch lậu từ TC, Hồng Kông, Đài Loan.. tuôn vào, nên đă không xài lịch nội địa
v́ nói làlàm sai.
Có một điều mà ai cũng biết, là soạn Âm Lịch rất khó
khăn và phức tạp gấp nhiều lần so với Dương Lịch. Trong khi làm lịch
Tây, người ta không cần phải điều chỉnh hay tính toán thêm ǵ hết, nếu
khoảng thời gian làm Lịch chưa vượt qua chu kỳ 8000 năm. Trong khi đó soạn
Âm Lịch, người làm phải :
- Tính toán Chi của Năm Lịch - Phải soạn
Lịch từng năm, 10 năm hay 100 năm, mới chính xác.
Đó là lư do trên thị trường
xuất hiện các sách Lịch Bách Niên của ngườiTàu hay các bộ Lịch Thế kỷ
XX, XXI do VN biên soạn.
Nguyên tắc làm Âm Lịch, dù thuộc Hệ nào th́ tuyệt đối
cũng phải theo các qui luật được ghi chép trong Lịch Pháp đă có sẵn từ
ngàn xưa, tức là sự tuần hoàn của Mặt Trăng và Mặt Trời, qua các hiện
tượng trăng tṛn, trăng khuyết, đêm không trăng, hay Nhật Thực-Nguyệt
Thực, nh́n thấy từ trái đất.
Điều quan trọng nhất, mà các nhà cải
cách Lịch tại VN đă làm, đó là xác định lại Độ Dài, qua Chu Kỳ chuyển
vận của Mặt Trăng trong 1 tháng, ngay trên đất VN, chứ không phải sống
ở Mỹ, Nga, Pháp hay Tàu, rồi dựa vào lịch của các nước này, để mà
làm Âm lịch. Cũng v́ sự vận hành của ba đơn vị Năm, Tháng, Ngày là Mặt
Trời, Mặt Trăng và Trái Đất đều tự do. (Mặt trời đứng yên một
chỗ, Mặt Trăng quay quanh trái đất và Trái đát quay theo trục của ḿnh.). Bởi
vậy vào năm 1995, tuy có Nhật thực tại VN, nhưng phải tới tận Núi Tà Dôn
ở Phan Thiết, mới quan sát được hiện tượng Nhật thực toàn phần.
Theo các nhà Thiên Văn Học, th́ nhờ các hiện tượng Nhật thực và Nguyệt
thực, trong một chu kỳ giao thoa nhất định, nên mới tính được độ
dài một tháng của Mặt Trăng, khi chuyển động trên quỹ đạo ṿng quanh
trái đất. Đó chính là kết quả nghiên cứu của người Babylon, với hiện
tương Nhật Nguyệt thực, qua một chu kỳ 6585 ngày, trong 223 chu kỳ một
tháng quay của Mặt Trăng. Kết quả này lần nửa Nhà Thiên Văn Học Hy Lạp
là Hipparchusvào năm 125 trước Tây Lịch, đă lập lại nhưng chỉ chênh lệch
với lần trước có 1 giây. Sau cùng E.W.Brown đo được độ dài của
chu kỳ mặt trăng quanh trái đất là 29,530888 ngày/1 tháng hay 29 ngày, 12 giờ 44 phút 0,28/100
giây, được công nhận là độ dài chuyển vận trung b́nh của Mặt Trăng
trong tháng, quanh Trái đất. Sự chênh lệch với thực tế gần 13 giờ, được
giải thích do sự trục trặc của Trái đất, do hiện tượng nhiễu
loạn của các tia khúc xạ ánh sáng.
Để tính tṛn 1 năm, tức là 12 chu kỳ quay
của Mặt Trăng, theo độ dài biểu kiến 29,530588 ngày/1 tháng. Tính tṛn một năm
Âm Lịch có 354,36706 ngày, nhưng người làm lịch chỉ sử dụng nguyên số
354. Nên số lẽ thặng dư, được dành cho thời gian Nhuận :
- 3 năm
có 1 ngày Nhuận (355 ngày), trong khi đó Âm lịch Hồi Giáo có tới 11 ngày Nhuận trong chu
kỳ 30 năm.
Ngoài ra để cân bằng số ngày trong năm theo Dương Lịch
(365 ngày) và Âm Lịch (355 ngày), chỉ số chênh lệch 10 ngày/1 năm, được tính
thêm tháng Nhuận, qua chu kỳ 3 năm ( 10x3 = 30 ngày/1 tháng). Như vậy năm Nhuận của
Âm lịch có 13 tháng với 384-385 ngày. Trong khi đó để tính tháng đủ, thiếu, năm
nào có tháng Nhuận, lại là một bài học phức tạp của các nhà làm Lịch xưa
nay. Với người Trung Hoa, khi soạn Âm Lịch Á Đông, đă định sẵn một
Chương, trong đó ghi lại chu kỳ 19 năm với 7 lần có tháng Nhuận, trong các
năm 3,6,9,11,14, 17 và 19.
Tóm lại theo nhận xét của các nhà khoa học, thiên văn,
toán học, th́ Âm Lịch thật sự chỉ là kết quả của một bài toán, mà người
làm lịch, phải giải quyết làm sao, cho phù hợp với Dương Lịch, chỉ
vậy thôi. Một nhận xét khác là Âm Lịch không thể dùng để dự báo thời
tiết cho lănh vực nông nghiệp, mà người dân quê nước ta hay Tàu ngày nay vẫn
c̣n tiếp tục, chẳng qua chỉ là theo tập quán truyền thống. Cho nên để
đền bù những sai sót, tổ tiên ta phải dầy công nghiên cứu biên soạn thêm các
bộ Lịch Can-Chi-Tiết-Khí, tới nay vẫn c̣n được thông dụng tại các
nước Đông Nam Châu Á, trong đó VN.
Là người Việt, dù sống ở đâu,
chắc là ai cũng đều mang chung tâm trạng làm đẹp hay hănh diện về những
thành quả của dân tộc ḿnh. Đó chính là nếp sống đặc biệt của người
Việt đang lưu vong ở Hải Ngoại. Mặc dù tuyệt đại đồng
bào đều căm thù Đảng CSVN v́ hầu như ai cũng ít nhiều là nạn nhân của
một chế độ tham tàn hại dân, bán nước. Nhưng đối với đồng
bào trong nước, th́ người Việt tị nạn luôn xem họ là đồng bào, đồng
chủng, không bao giờ phân biệt Lương-Giáo, Nam-Bắc-Trung Kinh hay Thượng. Sự
phân biệt để đối xử nếu có, là tư cách và thực trạng của đối
tượng. Bởi vậy bao chục năm qua, đă có Hội Đoàn của Người Việt
Quốc Gia chống chế độ CSVN tham tàn, đă tận t́nh giúp đở người
trong nước, qua thiên tai, bệnh tật, kể cả những nghĩa vụ tinh thần
như cực lực phản đối, thỉnh cầu hay thân hành tới tận nơi,
để cứu nạn những phụ nữ VN bị VC bán cho ngoại quốc, qua h́nh thức
cô dâu.
Người Việt Quốc Gia chống Cộng ở Hải Ngoại xưa nay,
chỉ chống lại sự tuyên truyền của Đảng VC, chứ không chống những
việc làm tốt đẹp, có ư nghĩa, mang tới hănh diện cho đất nước..
chẳng hạn như việc Cải Cách Âm Lịch VN, để phù hợp với sự
tiến hóa của Khoa Học, giúp cho xă hội thuận tiện thêm trong đời sống
hằng ngày.
Ai cũng thích cây nhà lá vườn, ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục
ao nhà đă quen. Nên nói v́ chống Cộng mà chống luôn Lịch cải cách của VN, là nói
bậy. Và dù cho có kẻ chống, th́ chắc là cũng bọn con buôn, muốn quảng cáo bán
Lịch khi mùa Tết sắp tới.
Chuyện dài Lịch, xét cho cùng cũng chỉ thế
thôi.
Xóm Cồn Tháng 8-2006 MƯỜNG GIANG
 |
|
|
|
|
|
 |