|
|

NGÔ TRÚC KHÁNH : NGƯỜI VỀ TỪ CƠI CHẾT TRÊN TỈNH LỘ 7 PHÚ BỔN - TUY H̉A NGÔ TRÚC KHÁNH,
Sep 03, 2008
Cali Today News - Ngô Trúc Khánh sinh tại Chợ Lầu, Ḥa
Đa, B́nh Thuận. Cựu học sinh Trung Học Phan Bội Châu, Phan Thiết 1958-1965. Trước
khi vào lính, là công chức Bộ Thông Tin-Chiêu Hồi (Sài G̣n). Tốt nghiệp Khóa 7/1968 tại
Trường Bộ Binh Thủ Đức.
- Từ 1969 tới 1971, Đại Đội Phó/ĐĐ 238
ĐPQ thuộc Chi Khu Ḥa Đa(B́nh Thuận).
- 1972 Biệt phái ngoại ngạch Cảnh Sát Quốc
Gia : Trung Uư Trưởng Cuộc Ḥa An và Lại An (Thiện Giáo-BT).
- 1973 Trưởng
Cuộc Cảnh Sát, Thị Xă Hậu Bổn (Phú Bổn) ố Sĩ quan Hành Chánh , Phụ Tá
Biện Lư Ṭa Ḥa Giải Pleiku.
- 1974 tới tháng 2/1975 : Phụ Tá Trưởng pḥng Hành
Quân/BCH/CSQG/Phú Bổn.
Ngày 10-3-1975 thủ phủ của cao nguyên Trung Phần là thành phố
Ban Mê Thuộc thất thủ. Pleiku tổng hành dinh của Bộ Tư Lệnh Quân Khu /Quân
Đoàn II Chiến Thuật coi như bị cô lập và vây hảm v́ hai quốc lộ chính 14 và
19 đă bị cộng sản Băc Việt cắt đứt và bịt kín nhiều đoạn.
Mặc dù ở đây có rất nhiều đơn vi chiến đấu thiện chiến
nhất là Biệt Động Quân nhưng giờ chót cũng được lệnh di tản
chiến thuật về duyên hải, nói là để bảo tồn lực lượng cố
thủ các tỉnh c̣n lại của quân đoàn.
Ngày 17-3-1975, bắt đầu cuộc
triệt thoái của Quân Đoàn II tại Pleiku, chặng đầu tới Phú Bổn t́nh h́nh tốt
đẹp, mọi liên lạc, từ đoàn xe về Nha Trang, qua hệ thống siêu tầng
số, liên tục và rơ ràng. Liên Đoàn 6 Công Binh và những Đơn Vị BĐQ mở đường,
nhiều Liên Đoàn BĐQ khác + Lử Đoàn 2 Thiết Giáp đoạn hậu. Cảnh tượng xô
bồ chưa từng có khi đoàn xe bắt đầu chuyển bánh . Nguyên do là hầu như
ai kể cả cây cột đèn ở đây cũng đều muốn chạy khỏi vùng
đất chết sắp xăy ra. V́ vậy nên mọi kế hoạch của cuộc hành quân
di tản gần như đảo lộn với sự có mặt của hàng vạn đồng
bào chạy loạn bằng đủ thứ phương tiện từ xe gắn máy, xe thồ,
xe ngựa, xe kéo tới xe ô tô các loại. Cứ thế dân theo lính nối đuôi nhau không làm
sao mà đếm nổi số lượng kéo dài hằng hằng cây số.
Hởi ôi
chiến tranh là chết chóc đau khổ thế nhưng cộng sản VN v́ chủ nghĩa
đế quốc và lợi lộc nên lúc nào cũng gây ra chiến tranh. Đồng bào vô tội
qua thời gian của cuộc chiến quá sợ cộng sản phi nhân bạo tàn nên biết
đi là chết nhưng vẫn cứ chạy theo QLVNCH để xa lánh quỷ dử Việt
Cộng. Những trang lịch sử cận đại của nước nhà ngày nay đă
ghi rơ ràng từng đoạn đường thảm tuyệt của người dân chiến
nạn từ Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 và tàn khốc dă man có một không
hai, đó là cuộc thảm sát của cộng sản Bắc Việt nhắm vào dân thường
trên liên tỉnh lộ 7. Đó là mồ chôn nhiền chục ngàn xác đồng bào và trẻ thơ
vô tội, xóa sổ cả một đoàn quân cùng chiến cụ của cao nguyên lừng danh,
từng làm cho giặc xiêu hồn bạt vía, kéo theo sự sụp đổ của đất
nước vào cuối tháng 4-1975.
Lúc 18 giờ 15 ‘ cùng ngày, đoàn xe tới Phú Bổn,
ban đêm lính Thượng nổi loạn, đốt nhà, cướp của, đồng lúc
VC pháo kích dồn dập vào Thị Xă Cheo Reo, khiến cho thành phố nhỏ bé của miền
núi, như đắm ch́m trong biển lửa và hổn loạn. V́ vậy mọi đơn
vị của Tiểu Khu, cũng tự động di tản theo Quân Đoàn. Pḥng Hành Chánh của
Cảnh Sát Phú Bổn lúc đó, gồm ba sĩ quan (1 Đại Úy + 2 Trung Úy ) với gia đ́nh
tôi (vợ + ba con nhỏ), tổng cộng 7 người, chất trên 1 xe Jeep. Riêng tôi đi
bằng chiếc xe Honda Dame, chạy trước dẫn đường về được
Chi Khu Phú Túc, sau hai ngày đêm may mắn, thoát khỏi đạn pháo của Cộng Sản
và các nút chặn của Thượng Cộng
Thượng Fulro, trên Tỉnh Lộ
7.
Lúc này, một số du kích VC đă dùng súng cối, pháo vào đoàn xe với mục
đích làm tŕ trệ cuộc di chuyển, chờ quân chính qui của Sư Đoàn 320, từ Ban
Me Thuột, kéo tới với nhiều đại bác 122 ly của SD23BB bỏ lại. Bấy
giờ , Tư lệnh QĐ2 là Tướng Phạm Văn Phú, đang bay trên C-47, ra lệnh cho
Tướng Trần văn Cẩm, điều động LĐ7BĐQ và Lữ Đoàn 2 Thiêt Giáp, phối
hợp bảo vệ đoàn xe. Các đơn vị trưởng có trách nhiệm trong cuộc
di tản trên, ngoài Tướng Phú (Tư Lệnh), Tướng Cẩm (Tư Lệnh Phó), c̣n
có Đại Tá Lư (TMT/QĐ2), Tướng Tất (CHT/BDQ/V2), Đại Tá Đồng (CHT/TG) và Các Liên Đoàn Trưởng
BĐQ. Rút sau cùng là LĐ4 và 25 BĐQ, v́ kẹt ở Thanh An (Pleiku).
Trong lúc mọi việc tưởng
đâu tốt đẹp, th́ xui xẻo lại tơi, khi Không Quân bỏ bom lầm, làm cháy 2
Thiết Vận Xa M113, khiến một số Binh sĩ TG và BDQ thương vong. Chết chóc,
khổ đau.. bắt đầu từ giây phút đó.
Hổn loạn bắt đầu
từ 15 giờ ngày 18-3-1975. Theo nhận xét chung của mọi người, nếu người
chỉ huy lúc đó là Cố Đại Tướng Đổ Cao Trí, tướng Trương Quang
Ân hay Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn. th́ họ sẽ nhảy ngay vào Mặt Trận,
để trực tiếp chỉ huy , nên chăc chắn sẽ không có cảnh ‘ mạnh
ai náy làm, coi mệnh lệnh của thượng cấp, kể cả chỉ thị của
TT Thiệu, Bộ TTM/QLVNCH như cỏ rác ‘.Nhưng tướng Phú đă không bao giờ
làm vậy thay v́ bay trực thăng xuống thẳng Phú Bổn, để trực tiếp
chỉ huy đoàn quân di tản, lúc đó như rắn không đầu v́ chẳng ai phục
ai, mà chỉ ngồi chờ tại Bộ Tư Lệnh QĐ2 ở Nha Trang, để chực
đón phái đoàn cao cấp từ Sài G̣n của Thủ tướng Khiêm tới ban lệnh
miệng. Trong khi đó tin tức dồn dập từ mặt trận báo về, Trung Đoàn 9/SĐ968
của Cộng Sản Bắc Việt + nhiều Tiểu đoàn Du kích Thượng Cộng,
đă lập xong một pḥng tuyến dài trên tỉnh lộ, để chờ chận đánh
đoàn xe, trong đó có rất nhiều đồng bào tháp tùng chạy loạn lánh nạn.
Lúc
1 giờ 15 sáng ngày 19-3-1975, Tướng Tất báo cáo từ dưới đất về Nha
Trang : Quận Phú Túc bị pháo nặng và tràn ngập nhưng LĐ7 BĐQ và Thiết Giáp đă tới
giải vây. Trận chiến thật ác liệt, cuối cùng LĐ7 BĐQ cũng đă tái chiếm
lại được quận, mặc dù chung quanh VC vẫn c̣n bám trụ, đóng chốt,
pháo kích pha nátÔ đoàn xe. Cùng lúc, hai Tiểu đoàn K9, K13 của VC Phú Yên, đă đóng chốt
từ Hiếu Xương lên tới quận Sơn Ḥa. Tuy đoạn đường này,
chỉ dài 25 cây số nhưng lại là đoạn đường máu lệ, chẳng khác
nào chốn quỷ môn quan, đă tàn sát không biết bao nhiêu mạng lính và dân, trong đoàn người
di tản phải vượt qua, trước khi tới được Tuy Ḥa.
Tại
Phú Túc, tôi và các bạn đi chung với vợ con trên chiếc xe Jeep, đă bị thất lạc,
trong chốn loạn quân, cho tơi ngày thứ 4 (21-3), mới gặp lại bên bờ này sông
Ba. Từ đó, mọi người chia tay v́ chiếc xe Jeep phải bỏ lại. Riêng gia
đ́nh tôi, c̣n phải chịu thêm 8 ngày nữa, trong địa ngục trần gian, để
vượt qua đoạn đường tử thần này, dưới đất có hàng
trăm ngàn quả ḿn gài sẳn, của cả VC và Đại Hàn từ bao năm trước.
C̣n trên đầu th́ đầy trời Rocket và bom lửa của Không Quân + hàng trăm chốt
của giặc, luôn nả đạn pháo vào đoàn người, bất kể quân, dân, người
lớn hay trẻ con, khi chạy ngang tầm súng.
Đoàn xe ứ đọng kéo dài và ngừng
hẳn v́ gịng sông Ba chắn ngang trước mặt. Đâu đâu cũng vang dậy tiếng
khóc của đồng bào di tản từ trẻ sơ sinh thiếu sửa cho tới những
nạn nhân đang quằn quại v́ bom đạn và sự cướp bóc diễn ra. Tội
nghiệp nhất là các đơn vị QLVNCH vừa phải mở đường, chiến
đấu và thêm trọng trách đùm bọc đồng bào đang cùng với lính trong cơn
chiến nạn.
Ai cướp của dân, ai giết dân để mà cướp của
th́ ngày lịchsử cũng đă ghi lại rơ ràng qua miệng đời của chính những
nhân chứng c̣n sống sót. Tuy vậy lịch sử cũng không thể nào bỏ sót công trạng
thật là vĩ đại của những người lính Công Binh Chiến Đấu của
QLVNCH. Không có họ can đăm đầu đội bom dạn, mệt nhọc hy sinh tánh mạng
, hiên ngang trầm ḿnh dưới gịng nước lủ sông Ba để hoàn thành cho được
một cây cầu nổi bằng vỹ sắt nối hai bờ sông, giúp đoàn xe tiếp
tục về Tuy Ḥa, tránh một cuộc thảm sát khi bộ đội Bắc Việt đang
trên đường truy đuổi sắp bắt kịp.
Hởi ôi đời là vậy
đó v́ ngày trước hay bây giờ vẫn c̣n một số người đâu có bao giờ
nghĩ tới sự hy sinh vô bờ bến của những người lính VNCH. Họ chiến
đấu v́ ai mà phải hy sinh xác thân nơi sa trường, lại phải chịu đói
khát cực khổ như đơn vị Công Binh đang thi hành nhiệm vụ tại Sông
Ba. Toán này lo đón nhận những chiếc vỷ được thả xuống từ trực
thăng trong khi toán khác tiếp ngay để ráp lại thành một chiếc cầu dă chiến.
Phía dưới nước chảy thật xiết, mặc kệ hai chiếc xe ủi vẫn
liên tục làm việc ủi đất và đá lấp kín một khoảng sông và thả vỷ
sắt trên đó.
Có một cảnh tượng mà tới bây giờ chắc những
người có mặt bên bờ sông Ba sẽ không bao giờ quên được. Đó là chuyện
đàn ḅ gần 200 con của đồng bào quận Cũng Sơn được dẫn theo
với chủ tị nạn. Nhưng khi chúng vừa lội qua tới bờ bên kia th́ bị
đơn vị Việt Cộng đang chốt să súng đủ loại kể cả lựu
đạn giết không chừa một con. Tội nghiệp thịt xương của những
con vật vô tội văng tứ phía c̣n nước sông th́ nhuộm đỏ máu ḅ. Một
vài con may mắn dù bị thương vẫn cố lết lên bờ và lũi vào rừng núi
biệt dạng.
Cảnh tượng trên làm cho mọi người thêm khiếp đăm,
thêm vào đó là sự chen lấn leo bừa lên trực thăng gây nên cảnh chết tan xương
nát thịt khiến cho ai nh́n thấy cũng phải đau ḷng.
Suốt thời gian này,
ai cũng vậy chẳng riêng ǵ gia đ́nh tôi, đói th́ lượm đọt rau và củ
sắn dại trong rừng để an, c̣n khát th́ uống nước vũng bùn, lợn cợn
đầy máu, mỡ của xác người. Riêng đạn bom, ḿn bẩy th́ đành giao cho
số mệnh . Cuối cùng nhờ Trời Phật và Tổ Tiên hộ tŕ, Tôi cùng Vợ và
ba con nhỏ, sau 12 ngày đêm đói khát, lặn lội trong địa ngục bom đạn
máu lửa, cũng về được Tuy Ḥa ngày 25-3-1975 rồi Khánh Ḥa.
Tại Nha Trang,
Đài truyền h́nh liên tiếp tường thuật lại cuộc di tản của QĐ2 trên Liên
Tỉnh Lộ 7, mở đầu là Những Thiết Vận Xa M113 của Lử Đoàn 2 Thiết
Giáp, kế tới là h́nh ảnh của một sĩ quan trẻ tuổi, râu tóc dựng ngược,
mặt mày hốc hác, quần áo rách nát tả tơi, chỉ c̣n nguyên vẹn 1 đôi giầy
lính, tấm bản đồ hành quân và khảu P.38 ngắn ṇng. Dân chúng tại Nha Trang đă
túa ra hai bên đường, để đón mừng, tiếp tế cho đoàn người
về từ cỏi chết, mà người dẫn đầu, chính là Trung Úy Ngô Trúc Khánh, chỉ
có chiếc xe Honda Dame, đă mang được vợ và ba con về từ địa ngục
có thật.
Sau ngày CSQT cưởng chiếm được toàn Miền Nam VN, như hằng
triệu quân công cán cảnh của VNCH, Trung Uư Khánh lần lượt trải qua nhiều địa
ngục trần gian, từ Kà Tót, Tổng Trại 8 Sông Mao, Lương Sơn, Tà Dôn, Long Hoa
tới trại A.30 Tuy Ḥa, Tổng cộng hơn 7 năm tù khổ sai. Được tị nạn
chính trị tại Hoa Kỳ ngày 26-4-1992, qua diện HO 11, cùng vợ với 2 con. Cuối cùng
ngày 28-3-2006, sau 14 năm chờ đợi, đứa con trai lớn mới tới Mỹ để
đoàn tụ cả gia đ́nh. Đời trai kiếp lính thời loạn là vậy đó, bi thảm,
cùng tận.. thế nhưng tới nay có được mấy người cảm thông thương
tiếc ?
Tóm lại cuộc di tản của QD2 coi như hoàn toàn thất bại, không
phải v́ người lính không chịu chiến đấu hay không đủ vũ khí đạn
dược, để chống chọi với kẻ thù, mà do một hệ thống chỉ
huy tồi tệ, từ Bộ TTM/QLVNCH cho tới BTL/QĐ2, toàn những kẻ sợ chết,
ganh tị, vô kỷ luật, chỉ biết chia phe kết đảng, mới đưa đến
cái thảm họa mất nước vào tay đảng CSQT, đẩy dân lính vào con đường
chết. Cũng may trong đoàn di tản, c̣n có được những Liên Đoàn BĐQ thiện
chiến, Các đơn vị Thiết Giáp, Công Binh, những đơn vị Lôi Hổ, Biệt
Kích.. chịu hy sinh, nên mới đem được hơn 2000 xe đủ loại và mấy
chục ngàn người từ các tỉnh Cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Phú Bổn về được
Phú Yên.
Kết quả 70% chiến xa M48,41 bị hũy diệt, 100% Pháo binh tan hàng. Có hơn
mấy chục ngàn đồng bào, đa số là trẻ thơ, đàn bà bị thảm sát,
20.000 chiến sĩ thuộc QD2, gồm BĐQ, Lử Đoàn 2 Thiết Kỹ, Liên Đoàn 6 Công Binh Chiến
Đấu. Pháo Binh, Lực lương Thám Sát, Biệt Kích, Lôi Hổ.. tán mạng.. Đau đớn
như vậy, thế nhưng suốt 13 ngày đoàn quân di tản, cho tới lúc số sống
sót về được Tuy Ḥa, Nha Trang. Trong lúc đó, các tướng lănh Cao Văn Viên (TTMT),
Lê Nguyên Khang và Đồng văn Khuyên được coi là ba tướng lănh có quyền uy cao nhất
lúc đó, cũng không hề rời Sài G̣n, đi máy bay ra Tuy Ḥa hay Nha Trang.. thăm viếng,
ủy lạo các nạn nhân mới từ địa ngục về. Đó là sự thật của
lịch sử.
Trong nổi buôn ly xứ dường như trong tôi luôn ‘ C̣n Một
Chút Ǵ Để Nhớ ‘ như nhà thơ Vũ Hữu Định đă nhớ về Pleiku thời
binh lửa năm nào :
‘ phố núi cao phố núi đầy sương phố núi
cây xanh trới thấp thật buồn anh khách lạ đi lên đi xuống may mà có em
đời c̣n dễ thương .’
California
tháng 8-2008
NGÔ TRÚC KHÁNH
|
|
|
|
|
 |
 |
 |
 |
|
|

ÂN
OÁN GIỮA ĐỜI... "
Nguyên Châu
Xem truyện Tàu, khi đọc chuyện cái chết của Hàn Tín, nhiều ngựi
đă xúc động, thương tiếc... Càng thương tiếc Hàn Tín th́ lại càng oán
trách thái độ vong ân bội nghĩa của Bái Công, tức Hán Vương.
Trong đời sống hằng ngày, từ xưa đến nay, vấn đề
ân oán đă được đặt ra gần như thường xuyên và nghiêm trọng. Nghiêm
trọng là v́ sự kiện ân oán theo nhau một cách rất khó hiểu, khó suy đoán. Thật
vậy, ta thường thấy "Ân dẫn đến oán, người lấy ân trả oán,
người lấy oán trả ân, kẻ th́ vong ân, kẻ th́ từ chối ân huệ, và lắm
kẻ đi cầu xin ân huÈ" vân vân. Đây là những hiện tượng xă hội đă làm cho
nhiều người điên đầu, gây bao nhiêu lo âu và phiền năo... cho cuộc đờị
CÂU CHUYỆN HÀN TÍN.-
Hàn
Tín là người có tài, đă giúp Hán Vương làm nên sự nghiệp, nhưng kết quả
cuối cùng rất thảm khốc: Hán Vương đă cho người giết Hàn Tín và tru
di tam tộc! (giết cả ba họ)!
Sử kư Tư Mă Thiên, chương Hoài Âm Hầu liệt truyện viết về
Hàn Tín, thời hàn vi như sau: "Hoài Âm Hầu Hàn Tín là người ở huyện Hoài Âm, khi c̣n
hàn vi, nhà nghèo, tài năng đức hạnh không có ǵ để được cử làm quan,
lại không biết lo việc làm ăn buôn bán. Thường theo người ta ăn bám, nhiều
người chán ghét. Tín thường ăn bám ở nhà đ́nh trưởng, đ́nh Nam Xương,
làng Hạ Dương. Được mấy tháng, người vợ của đ́nh trưởng
lo phiền, bèn nấu cơm ngồi trên giường mà ăn. Đang lúc ăn th́ Tín đến,
họ không để Tín cùng ăn, Tín cũng biết ư họ, nổi giận tuyệt giao
ra đị
Tín câu cá ở dưới thành, trong số những người đàn bà đập
vải, có một bà thấy Tín đói, cho Tín ăn cơm suốt mấy mươi ngày, cho
đến khi đập vải xong Tín nói với bà:
-Thế nào tôi cũng đền ơn bà xứng đáng.
Bà ta giận nói: -
-Kẻ đại trượng phu không nuôi nổi thân ḿnh, tôi thương cậu
nên mời ăn, chứ có phải mong cậu báo đáp đâủ
Trong số những người hàng thịt ở Hoài Âm, có một người trẻ
tuổi trêu Tín, nói:
- Mày tuy cao lớn lại thích mang đao kiếm, nhưng trong ḷng
th́ nhát thôị
Đến khi Hạng Lương qua sông Hoài, Tín chống gươm đi
theo... Hạng Lương thua, Ti’n lại theo về với Hạng Vổ Hạng Vơ cho
làm chức Lang Trung chấp kích. Nhiều lần bày mưu cho Hạng Vơ nhưng Hạng Vơ không
dùng..." (Sử Kư Tư Mă Thiên)
ÂN THÂM, OÁN SÂU
Hàn
Tín đă trải qua một đoạn đời khá nhiều tủi nhục. Do đó, ḷng
tự ái đă bị tổn thương nặng nề, sự dồn nén của mặc cảm
tự ti (tự cảm thấy ḿnh thấp kém = complexe d'inferiorité/ inferiority) đă thúc đẩy
ông ta đến những hành động ngang bướng, có tính cách khiêu khích, và tự tôn (
bù trừ của tự ti). Những hành động này đă làm chạm tự ái của Hán
Vương. V́ tham vọng riêng, Hán Vương cố nén ḷng tự ái, vẫn sử dụng
và chiều chuộng Hàn Tín để nhờ y mà đạt mục đích ḿnh theo đuổị
Theo tâm lư thường t́nh, Hàn Tín đă bắt bí, làm khó, yêu sách Hán Vương để thỏa
măn tự ái và chứng tỏ là ḿnh không thua kém ai về tài năng... Hán Vương giận
lắm, nhưng v́ c̣n lợi dụng Ti’n, nên ngoài mặt, Hán Vương vẫn chiều
chuộng, nhưng trong ḷng th́ sự bội ân và trả đủa đă nảy mầm. Do
đó, khi có dịp trả đũa, Hán Vương đă "lấy oán trả ân."
Hàn Tín cầm quân đánh đâu thắng đô Khi đánh thắng nước Tề
(203 BC - năm thứ tư Nhà Hán), Hàn Tín gủi thư cho Hán Vương, nói :
-
Nước Tề là nước gian dối, hay gây biến, tráo tr̉ Biên giới phía Nam
của nước Sở, nếu không lập giả vương để giữ th́ không
thể b́nh định được. Xin cho làm giả vương. (Vua tạm thời)
Lúc đó Hán Vương đang nguy khốn ở thành Huỳnh Dương, đọc
thư Hàn Tín xong, nổi giận, mắng rằng:
- Ta đang nguy khốn ở đây, sớm chiều trông ngươi đến
giúp, thế mà ngươi lại muốn tự lập làm vương ?"
Trương Lương, Trần B́nh ghé vào tai Hán Vương, nói:
- Nhà Hán hiện đang bất lợi, không thể cấm không cho Tín làm vương.
Chi bằng nhân đấy mà lập, đối xử với ông ta cho tử tế, khiến
ông ta v́ bản thân ḿnh mà giỦ Nếu không sẽ sinh biến.
Hán Vương nhận ra lẽ, liền giả bộ :
-
"Đại trượng phu đă b́nh định được chư hầu tức là vua "thật"
rồi, chứ làm vua "giả" ǵ nữả"
Hán Vương bèn sai Trương Lương đi phong Hàn Tín làm Tề Vương,
rồi mượn quân của Tín đến đánh S̉ Lúc này mâu thuẫn và tị hiềm giữa
Hán Vương và Hàn Tín đă h́nh thành. Mặc dù Tín không nghe lời của một số mưu
sĩ xúi giục làm phản Hán Vương, nhưng vẫn bị Hán Vương nghi ngÓ Hán
Vương dùng mưu bắt trói Hàn Tín ở đầm Vân Mộng đem về Lạc Dương
(Kinh Đô), tha tội mưu phản, phong cho tước Hoài Âm Hầụ Hàn Tín rất lấy
làm tủi nhục, tức hận, bèn mưu với Trần Hy làm phản Hán Vương.
Năm 116 BC, Lữ Hậu (vợ Hán Vương) lập mưu lừa Tín vào cung,
bố trí vơ sĩ, bất ngờ bắt Hàn Tín, chém chết trong khuôn viên cung Trường Lạc.
Cái chết của Hàn Tín là kê’t quả của "Ân càng thâm th́ oán càng sâụ" Làm ơn cho
người, giúp người, rồi tự cao tự đại cho ḿnh là hơn người...
đó là nguyên nhân đưa đến sự vong ân. Người "chịu ơn" thường
cảm thấy tự ái ḿnh bị tổn thương, "thọ ân" tức là đă mặc nhiên
nhận ḿnh thấp kém hơn người ban ân, người làm ơn. Tâm trạng "mang ơn"
thường rất nặng nề, cho nên, rất nhiều người cố t́m cách "trả
ơn ngay" như để thoát một cái nợ về tinh thần.
ĐỘNG LỰC ĐƯA
ĐẾN VONG ÂN
La Roche Foucauld (Liancourt) đă nói một câu rất sâu sắc thấm thía "Vội vàng
trả ơn là tỏ ra bội bạc." Trả ơn cho xong! Là v́ không muốn mang ơn người
ta lâu ngày... Nhưng, trong cuộc đời "sống-cùng và sớng-với" người khác,
có nhiều thứ ơn, rất khó đền đáp! Có những ân huệ muốn trả
cũng không thể nào trả nổi được. Do đó, mà có kẻ đă lấy oán đền
ơn, xem như ḿnh chưa từng chịu ơn ai! Sự vong ân, bội nghĩa bắt nguồn
từ ḷng tự ái, từ mặc cảm tự tôn, cho rằng tự ḿnh có thể thực
hiện những điều ước muốn, không cần đến một ai giúp đỡ,
nhất là "thi ân" cho ḿnh để ḿnh nên danh phận.
"Nên ra tay kiếm tay cờ
Chẳng nên th́ chớ, chẳng nhờ cậy ai!"
Thế
nhưng trong đời, có nhiều người t́m cơ hội để "thi ân" để
có dịp hănh diện với tinh thần Mạnh Thường Quân (-) của ḿnh trước
mọi ngườị Tận đáy ḷng, người đời thường quí người
chịu ơn của ḿnh hơn là người đă ban ơn cho ḿnh. Tâm lư này cũng là thường
t́nh thôị
Chữ ÂN trong Hán tự viết theo lối hội ư gồm chữ "tù" (h́nh vẽ
một người bị vây giữa bốn bức tường) và chữ "tâm." Chữ "tù"
đứng trên chữ "tâm" làm cho việc "mang ơn" trở nên nặng ne^`... Tùy theo căn
bản đạo đức, người mang ơn sẽ có nhiều phản ứng khác nhau:
biết ơn, đền ơn, "kết cỏ ngậm vành" hay quên ơn, oán ghét người
thi ân, "dĩ oán báo ân"... V́ sự tế nhị và phức tạp này mà người xưa đă
thường khuyên rằng:
"Thi
ân mạc niệm
Thọ ân mạc vong"
( Làm ơn th́ đừng nhO Nhận ơn th́ chớ quên!)
THI ÂN & BÁO ÂN
Hầu như đa số người đời khi thi ân đều do sự thúc đẩy
t́nh cảm, của ḷng nhân ái, của cái mà Mạnh Tử gọi là "Trắc ẩn chi tâm," một
hành động giúp đỡ đồng loại bộc phát từ trong ḷng, không bao hàm ư mong
cầu sự báo đáp nào cắ Câu mà bà phiếu mẫu "mắng" Hàn Tín là một biểu
lộ cụ the^?. Do đó, người làm ơn nhằm mục đích làm cho người
ta biết ơn ḿnh, th́ thực chất đây không phải là ơn, mà chỉ là một loại
cho vay, một tạm ứng mà thôị Loại người "thi ân" này sẽ khoe khoang, kể
lễ về hành vi nhân ái, nhân đạo của ḿnh như là những thành tích xă hội... để
thêm "credit" cho bản ngă ḿnh! Người làm ơn đích thực không cần
báo đáp, hay trả ơn. Làm ơn không cầu báo, nếu "thi ân rồi quên đi" không bao
giờ nhắc lại, không kể lại cho người thứ ba nghe biết, th́ chắc
rất ít khi xảy ra sự kiện "làm ơn mắc oán". Trong Kinh Luận Bảo Vương
Tam Muội, trích dẫn bởi Mười Điều Tâm Niệm, điều thứ 8 ghi rằng:
"Thi ân đừng cầu đền đáp, v́ cầu đền đáp là thi ân có mưu đo^`.
" Đức Phật đă dạy bằng một h́nh tượng rất cụ thể: "COI THI
ÂN NHƯ ĐÔI DÉP BỎ " nghĩa là xem việc giúp đỡ kẻ khác theo cách "Thi ân mạc niệm."
Đừng bao giờ nhớ là ḿnh đă có làm ơn cho aị
Kinh Phật c̣n có câu: "Người bố thí hàm ân người được bố
thi'." Vậy th́ vấn đề ân nghĩa và báo đền không c̣n ǵ quan trọng nữạ
Thế nhưng, về mặt đạo ly’, làm ơn là một hành vi thuộc t́nh cảm,
dù người làm ơn không nghĩ đến chuyện được biết ơn, không
mong được đền ơn, nhưng người nhận ơn vẫn thường
không quên ơn. Đó là nguyên ủy của ngày Thanksgiving tại Bắc My~. Thật vậy, khi người
da đỏ bản xứ giúp đỡ cho di dân Anh đang đói lạnh, bệnh và chết
trong mùa đông khắc nghiệt vào năm 1620, họ không có một ư hướng lợi lộc
nào cả! Hành vi này khởi từ ḷng nhân mà thôị Lễ Tạ Ơn đầu tiên mà di
dân Anh cử hành ở Plymouth vào mùa thu năm
1621, đă kéo dài nhiều ngày chung vui giữa di dân và người da đỏ bản xU Thanksgiving
là ngày vừa tạ ơn Trời, vừa tạ ơn Ngườị
HÀNH VI CAO ĐẸP
Nhớ ơn là một hành vi cao đẹp. Người Việt Nam cũng thường nhắc nhở ḷng biết ơn:
- "Ơn ai một chút chớ quên" –
-
"Miếng khi đói bằng gói khi no
- Của tuy tơ tóc nghĩa so ngh́n vàng,"
Nhiều khi, người Việt biết ơn một cách bao quát như: "Uống
nước, nhớ nguồn," "ăn quả nhớ kẻ trồng cây," "ăn khoai nhớ
kẻ cho dây mà trồng"... "Ăn cây nào rào cây ấy"...Tâm tư và t́nh cảm này của người
Việt cũng tương tự với tinh thần của Lễ Tạ Ơn Hoa Ky`.
ÂN NGHĨA TRONG TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VIỆT NAM
Đối với văn hóa Việt, ḷng biết ơn được xem như là một
tiêu chuẩn đạo ly'. "Ơn ai một chút chớ quên" chính là "Thọ ân mạc vong" đây
là lời khuyên xuất phát từ quan niệm "không ai có thể tự hào là không cần đến
người khác" khi c̣n sống ở đờị Sully Prud'homme, một nhà văn Pháp cũng
đă chia sẻ tư tưởng này trong một bài thơ với câu kết "Nul ne peut se vanter
de se passer des hommes." Nói cách khác, sống ở đời mọi người đều chịu
ơn nhaụ Theo J.M. Massieu th́ "Biết ơn là trí nhớ của con tim." Người Việt
truyền thống rất tôn trọng t́nh cảm biết ơn. Ca dao tục ngữ có rất
nhiều câu nhắc nhở: "Một ngày nên nghĩa, chuyến đ̣ nên quen" hoặc "Một
chữ nên thầy" và xa hơn nữa "nhất dạ bá ân" (Chỉ một đêm có đến
trăm ân huệ). Có lẽ, tâm trạng muốn quên ơn bắt nguồn từ chỗ người
"thi ân có ư mưu đo^`." Ngoài ra, có một loại ơn mà ít người muốn quên, nghĩa
là luôn luôn nhắc nhở, có khi tự hứa là sống để dạ, chết mang theo nữa:
đó là ơn ḷng, ơn tri ngo^.. Ơn người hiểu được tâm sự và chí hướng
của ḿnh, Ơn người cứu ḿnh thoát khỏi cảnh cô đơn... "Ăn cây nào rào
cây ấy" và "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" là đặc trưng của dân tộc
Việt từ ngàn xưạ
NGUYÊN CHÂU
|
|
|
 |
 |
 |
|
|
|
|