|
|
Những Người Lính Cũ Monday, February 25, 2008 |
|
|
|
|
|
|
|
Trần Mộng Tú
Hai người phụ nữ chở nhau trên chiếc xe gắn
máy đi vào thành nội Huế, dưới cơn mưa đầu tháng 11. Nước ngập
ngang xe, người chở xe là một ma sơ trẻ, quay đầu lại nói với người
ngồi phía sau: - Cô à, ḿnh xuống dắt xe đi bộ, kẻo nước vô trong máy xe,
tắt máy bây giờ th́ khổ lắm. Cả hai xuống xe, trời tối, mưa trên đầu,
nước lụt ngang bắp chân, hai người đàn bà vừa đi vừa t́m số
nhà. Ma sơ, người địa phương, c̣n trẻ lắm, và tôi đến (hay về)
từ một nơi bên kia địa cầu. Ma sơ chắc đă quen với mưa lũ,
và đường phố nên đi nhanh hơn trong khi tôi vừa lạnh vừa ḍ dẫm trong
nước, bước hụt vào một cái ổ gà hay vấp vào vỉa hè, chao đi xuưt
ngă mấy lần. Cuối cùng chúng tôi cũng t́m được số nhà muốn t́m. Có người
đàn bà đang tát nước ra ngoài lối đi. Tôi hỏi bà: - Thưa có phải nhà của
ông Hồng không ạ? - Dạ phải, mời bà vào. Bà mở cổng, chúng tôi vào một
lối đi dài, bên phải là mặt chính của nhà, bên trái có năm ba bụi cây cao thấp,
trời tối quá không nh́n rơ những chiếc lá, bóng tối làm bụi cây trông như những
cái dù to màu đen. Bà chủ nhà như được báo trước sẽ có khách, mời khách
đi thẳng vào cuối nhà, chỉ tay lên chiếc gác lửng: - Em tôi ở trên đó, bà
cứ leo lên. Bà nói xong đi ra, tiếp tục cúi xuống tát nước từ trong nhà ra
ngoài đường. Ma sơ ở bên ngoài trông xe, tôi đứng tần ngần nh́n chiếc
cầu thang, rồi rụt rè leo lên những bực gỗ nhỏ. Một người đàn
ông đang ngồi trên đó đón tôi bằng khuôn mặt rạng rỡ: - Em có nhận được
phôn từ hai hôm nay ở Sài G̣n, nói là sẽ có người ở bên đó đến thăm
(Anh dùng chữ bên đó để chỉ người ở nước ngoài về). Tôi xin
lỗi đến trễ một hôm, tôi đă lỡ chuyến máy bay Sài G̣n-Huế hôm trước
v́ phi trường Phú Bài ngập nước, máy bay không hạ cánh được và chúng tôi
mới đến chiều nay. Sau khi lấy pḥng ở khách sạn tôi đă may mắn nhờ
ngay được một ma sơ c̣n trẻ, nhanh nhẹn t́m nhà hộ, nếu không th́ chắc
sáng mai mới tới được. Tôi ngồi xuống sàn gác đối diện với
anh, hai chân tôi vướng víu v́ dài quá và ống quần bị ướt sũng. Trước
mặt tôi là người đàn ông trung niên, khỏe mạnh, tươi tỉnh, cụt cả
hai chân sát đến thân, ngồi giữa những đồ dùng cá nhân của anh, tôi không nh́n
kỹ và nhớ anh có những ǵ chung quanh, h́nh như có mấy cuốn sổ lớn nhỏ,
cái b́nh thủy, b́nh trà, cái radio, quần áo, chăn gối và cái điện thoại cầm
tay. Thế giới của anh thu gọn trên gian gác khoảng ba thước vuông. Người
lính Thủy Quân Lục Chiến này, không may mắn bị thương tháng 1 năm 1975. V́ mất
cả hai chân nên anh không “được” đi cải tạo, v́ không được
đi cải tạo nên anh không vào được danh sách H.O. Tôi hỏi thăm gia cảnh,
được biết anh ở đây với gia đ́nh người chị, anh bị thương
khi c̣n trẻ quá chưa có cơ hội lập gia đ́nh. Anh cho tôi một danh sách của những
người bạn cùng hoàn cảnh như anh, so với danh sách tôi nhận được ở
Sài G̣n th́ có một vài tên khác nhau. Anh nói, phải cẩn thận v́ có thể họ không phải
là những người thương phế binh thật. Tôi nói, không sao cả miễn là những
người này cần được giúp đỡ. Tôi chia tay anh, hẹn trưa ngày mai sẽ
gặp mặt mọi người. Anh cầm điện thoại, mở sổ, liên lạc
ngay với các bạn, giọng anh dồn dập, gọi từng người: - Trưa mai,
1 giờ nghe, đến nhận quà, có người bên đó qua thăm. Tôi và ma sơ lội
nước về khách sạn. Tin tức khí tượng cho biết cơn lũ vẫn tiếp
tục dâng. Lũ năm nay là lũ ngâm, có nghĩa là hết cơn nọ, tiếp cơn kia,
nên nước không rút kịp, cứ giữ hoài một mực ở những nơi trũng
và ở sông Hương. Nước sông Hương đục ngầu v́ pha đất bùn.
Cả thành phố Huế gầy g̣, run rẩy trong mưa lũ, tôi đi ngủ thấy ḿnh
bồng bềnh trong câu hát Quê hương em nghèo lắm ai ơi! Mùa Đông thiếu áo, Hè thời
thiếu ăn. Trời hành, Trời làm cơn lụt mỗi năm... Cả đêm trời
mưa, đến sáng đổ xuống một cơn mưa lớn, nước trôi phăng
phăng trên đường Đống Đa, trước cửa khách sạn. Tôi mặc áo dài, trùm
áo mưa, bối rối lội nước đi lễ ở nhà thờ Ḍng Thánh Tâm trên đường
Phan Đ́nh Phùng, đi trong nước và gió, tưởng như sắp bị cuốn xuống
con nước sông Hương đă dâng mấp mé mặt đường. Nhưng may quá, đến
trưa mưa tạnh, nước rút bớt ở một vài con phố. Tôi nhờ ma sơ
chở lại căn nhà hôm qua. Đến nơi tôi thấy ở gian trước, đă có năm
bảy người đàn ông đang ngồi chung quanh chiếc bàn nhỏ chờ tôi tới.
Mới thoáng nh́n tất cả mọi người, tôi biết ngay là họ phải có thân nhân
chở tới chứ không thể tự di chuyển được. Thấy tôi đến
họ bối rối không biết mời tôi ngồi đâu, tôi đề nghị ngồi cả
xuống sàn nhà cho rộng, tôi bỏ giày vào ngồi chung với họ. Ngồi trước
mặt họ, tôi thấy có điều ǵ không ổn, h́nh như đối với những
người đang quây quần nơi này, tôi là người dị tật. Tôi dư hai cái chân.
Tôi lúng túng không biết để hai cái chân thừa này vào đâu. Bảy người bạn
này, không ai có chân cả, có người lại mất thêm một cánh tay, có một người
mù. Chúng tôi nói chuyện với nhau. Tôi hỏi han từng người. Các anh cho biết, phần
đông bị thương ở Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), có người bị thương
ngay đầu năm 1975, lúc đó đang nằm ở Quân Y Viện bị đuổi ra đường.
Tôi ngập ngừng hỏi: - Làm sao mà các anh sống c̣n cho đến bây giờ, nhất
là trong thời gian những năm ngay sau ngày 30 tháng 4. Các anh cười (đặc biệt
lúc nào họ cũng có nụ cười trên miệng). - Khổ lắm chị ơi! Nhưng
chúng em nhất định sống, người th́ nương vào vợ con, người th́
nương vào cha mẹ, anh chị. Thế rồi chúng em cũng qua được hết.
Vài năm mới đây, các anh em ở Saigon nhận được quà của các anh chị bên đó gửi
về trước, rồi đến chúng em ở Huế. Mỗi lần lễ Tết chúng
em có quà cũng có bữa tiệc nhậu nhẹt với nhau, vui lắm, nhưng vẫn phải
giữ ǵn, kín đáo. Anh cụt một tay, đưa mẫu tay cụt gần đến
khuỷu ra khoe với tôi. - Em không có hai chân, cụt một tay em vẫn làm thợ ḷ rèn được,
em cuốn dây thép ngay vào chỗ này, để cái phần thép dư ra trên cái đe, tay c̣n lại
em cầm búa đập cho dẹp ra. Cũng kiếm được hai chén cơm một ngày. Tôi
không nói được câu nào, nh́n xuống phần quắt queo của cái tay gẫy, tưởng
tượng ra sợi thép to bản quấn nghiến vào đó, ngậm ngùi, thán phục. Đang
nói chuyện th́ có một anh đi xe lăn đến, anh bị liệt từ lưng trở
xuống. Anh không xuống xe, anh ngồi yên trước cửa nhà. Cũng không thấy ai có
ư đỡ anh xuống đất ngồi. Anh nói ít, nét mặt buồn buồn, những người
bạn khác cho biết. Anh phải nhờ giúp đỡ hoàn toàn về lên, xuống xe, làm vệ
sinh, v́ anh không thể nào tự đứng lên trên hai chân được. Tụi em tuy cụt
cả hai chân, nhưng lê trên hai mông và khỏe hơn anh, nên tự túc vệ sinh cá nhân được. Tôi
ngồi ngắm họ, tám người đàn ông này, vào năm 1975 họ c̣n trẻ lắm
(Người lớn tuổi nhất sinh năm 1939, người trẻ nhất sinh 1954) họ
mất cả hai chân, có anh c̣n mất thêm một cánh tay, có anh vừa không chân vừa mù. Làm sao
mà họ sống c̣n được với cơn lốc hậu chiến! Ngay cả người
lính c̣n đủ mắt, mũi, chân tay đă điêu đứng lắm rồi! Vậy mà sau
bao nhiêu khổ nhục họ vẫn t́m đến nhau, dựa lưng vào nhau để tồn
tại. Đây là những câu thơ họ viết cho nhau đọc: Tháng Tư gẫy súng
hao gầy Ṿng tay khói thuốc tháng ngày hư hao (Hồng Trần)
Cũng đôi lần
đi qua đường cũ Núi rừng xưa loang lỗ chừ đă xanh cây Rừng
xanh lá c̣n đời tôi héo úa Cũng đôi lần đi qua thành phố cũ Vết chiến
tranh chừ đă tân trang Phố vươn ḿnh thay da đổi thịt Riêng đời
tôi cứ măi cơ hàn (Nguyễn Nghệ)
Tôi thương cảm và kính phục họ,
trong hoàn cảnh khốn cùng nhất, bằng cách nào đó, họ vẫn đứng vững
(không cần chân) và duy tŕ được tinh thần đồng đội, thái độ
bất khuất của những người lính. Tôi tặng mỗi người một
phong b́, một phần thuốc bổ. Khi tôi trao vào tay từng người món quà nhỏ đó
ḷng tôi thật rưng rưng, nước mắt ứa ra (mặc dù tôi cố cầm ḷng). Tôi
không biết ḿnh muốn nói lời ǵ để cảm ơn những người lính này? Họ
là dấu tích, là niềm tự cao của một thời ḥa b́nh bên này; hay là huy chương,
là tinh thần anh dũng của một thời chiến tranh bên kia. Người Việt Nam đứng ở hai bên vĩ tuyến 17,
xác định bên này, bên kia theo tiêu chuẩn nào? Tôi trao đổi địa chỉ với
những người bạn mới này, xin số phôn liên lạc và danh sách của những
anh em ở Quảng Trị. Khi ra về, tôi hứa sẽ không quên họ (?). Sáng hôm sau trời
vẫn c̣n mưa tầm tă, tôi liên lạc, hẹn gặp được với anh Sự ở
Quảng Trị và thuê xe đi La Vang, Quảng Trị. Trên đường từ Huế ra
La Vang nước sông dâng cao, có chỗ mấp mé mặt đường, có chỗ ngập
tràn tóe nước trên bánh xe chạy. Nhà cửa ruộng vườn hai bên ở thụt xuống
nên nước ngập cao cả thước, thỉnh thoảng có một chiếc thuyền
chở mấy đứa nhỏ từ trong nhà lên mặt đường, chúng ướt
như mấy con thỏ nhỏ vừa bị tuột lông, trông thương quá! Giữa vùng
nước bát ngát tôi đọc được trên một tấm bảng dài, sơn đỏ,
kẻ chữ vàng :“Việt Nam Dân Chủ Ấm No Quang Vinh Hạnh Phúc”. Tấm bảng
đứng ngơ ngáo như một kịch sĩ ra tŕnh diễn không đúng lúc. Trận
Mùa Hè Đỏ Lửa, ngôi giáo đường La Vang bị tàn phá nặng nề, tượng
Đức Mẹ thương tích đến xót xa. Tôi đứng trước tượng, bức
tượng nhợt nhạt trong mưa, những thương tích c̣n y nguyên, đôi mắt
Mẹ buồn bă cúi nh́n. Tôi biết Đức Mẹ đă hiểu ḷng tôi, tôi không cầu nguyện
ǵ riêng cho ḿnh cả, tôi đă dư đến hai cái chân, làm sao dám xin thêm một thứ ǵ nữa. Tôi
cũng ngạc nhiên là ḿnh không bị cảm lần này. Lại đi trong mưa, trong gió, ghé
vào Quảng Trị. Vùng đất Quảng Trị nơi người dân Việt có cuộc
sống hẩm hiu nhất, vừa nghèo, chó ăn đá gà ăn muối, vừa hứng chịu
những trận đánh khốc liệt. Nơi mỗi tấc đất đều thấm
máu người trong thời chiến tranh huynh đệ. Anh Sự hẹn tôi ở khúc đường,
cách cầu Thạch Hăn 200 thước, anh đứng trong mưa, trùm chiếc áo mưa đỏ
cho dễ nhận. Khi xe dừng lại anh cho biết đă hẹn những anh khác đang đến.
Trời vẫn đổ mưa, không vào nhà anh Sự ở sâu trong ngơ được, tụ
tập ngay ở quán cà phê bên đường, quán này cũng lại vừa là một cái chợ
nhỏ, có người mặc chiếc áo mưa vàng, trên lưng in chữ CATP ghé vào. Anh Sự
hơi lộ vẻ lo lắng trên mặt, chữ đó có nghĩa Công An Thành Phố, nhưng
ông công an này chỉ ghé vào mua một trái mướp nhỏ trong khi đang công tác, rồi đi. Lần
lượt những chiếc xe ôm thả tám người vào quán. Tôi theo họ vào, họ không
mất hai chân như các anh ở Huế, nhưng mỗi người có một bàn chân gỗ
tḥ ra dưới ống quần nhầu nhĩ. Họ trông thảm hại, thiếu thốn
quá! Chắc lúc khô ráo đă thảm hại rồi, mưa ướt c̣n làm tăng thêm nỗi
nghèo khổ. Họ không được lạc quan như các anh ở Huế. Có anh mang theo cả
chứng minh thư có số quân của ngày tháng cũ. Tôi thấy đau ḷng quá. Tôi cũng chẳng
nói ǵ với họ được lâu, v́ c̣n phải quay lại Huế, trời th́ mưa, lạnh,
chỗ đứng trong quán chật hẹp, người ra vào mua bán, và h́nh như họ cũng
không dám tụ họp lâu. Trông họ bồn chồn quá! Tôi ghi tên họ xuống (chỉ lấy
tên, không lấy họ). Có hai thanh niên trẻ đi nhận quà cho cha ḿnh. Tôi có địa chỉ
và điện thoại của anh Sự rồi. Tôi hứa với ḷng là sẽ gọi một
vài người bạn rất thân ở ngoài nước giúp những người bạn trong
nước này có cái quần, cái áo ấm hơn trong những ngày mưa lụt, có miếng
thịt miếng cá to hơn trong ngày lễ Tết. Khi quay xe ra về, tôi nói anh tài xế
cho tôi ngừng lại ít phút ở cầu Thạch Hăn. Nơi đây Mùa Hè Đỏ Lửa đă
là mồ chôn của bao nhiêu người lính của cả hai miền Bắc Nam. Một tượng đài được
dựng ngay bên cầu Thạch Hăn có mô h́nh những giọt máu đỏ đang chảy xuống.
Tôi hy vọng khi treo những giọt máu này lên tượng đài, ai đó đă hiểu là
những giọt máu này không phân biệt Bắc Nam, và chắc chắn một điều, nước
ḍng sông Thạch Hăn đă ḥa máu, nước mắt của dân, quân cả hai miền. Anh tài
xế nói, vụ đánh Mùa Hè 1972, nơi đây không c̣n ǵ sót lại. Không nhà, không chó, không mèo,
không người, một vùng đất chết. Tôi nhớ đến câu thơ của Giuseppe
Ungarette (Thi Sĩ Ư 1888-1970) viết về một ngôi làng bị tàn phá trong chiến tranh. Những
bức tường bị cào nát, người thân chết hết. Không c̣n ǵ cả ngoài thánh
giá trong tim But in my heart/No cross is missing/ My heart is the most tortured village (Trái tim tôi là một ngôi làng
bị tra tấn nặng nhất). Tôi trở về Mỹ mang theo h́nh ảnh và địa
chỉ của những người lính cũ. Trái tim tôi có phải là một ngôi làng đang
được chúc phúc hay không? Trần Mộng Tú Huế-Quảng Trị, tháng 11/2007
|
|
|

|