lyhuonga.jpg



















 




























 

Người Khinh Binh Tiền Sát  

 

TRẦN NGÂN TIÊU 

Cứ vào dịp kỷ niệm ngày cựu chiến binh hay một sinh hoạt đăc biệt nào tôi thường đến hội quán của cựu chiến binh Mỹ nhất là của "Vietnam Veterans" để sinh hoạt chia sẻ với họ. Mỗi lần gặp mặt th́ có anh chàng Larry thế nào cũng chạy ra tay bắt mặt mừng "My old friend" khiến tôi có cảm tường hắn qúy ḿnh lắm.
Kỳ sinh hoạt này Larry cũng không quên đem triển lăm những bức tranh hắn thu thập được như mọi năm. Có điều hắn trưng bầy tranh cho người ta coi chứ không bán và đặc biệt có bức vẽ chân dung của một người lính trẻ đề: "Người Khinh Binh Tiền Sát" Larry luôn luôn trang trọng trưng một bông hoa hồng tươi trước mặt.
Lần đầu nh́n thấy bức chân dung này tôi ṭ ṃ hỏi, th́ Larry bảo:
- Đó là Tim, bạn tôi, một nhà sưu tầm tranh và cũng là một khinh binh tiền sát tuyệt hảo, nhưng anh ta đă không bao giờ trở về.
Ngồi bên nhau Larry bùi ngùi kể rằng: Khi tham chiến tại VN thật khó mà diễn tả cuộc chiến đó như thế nào cho người khác hiểu mà tôi chỉ có thể vắn tắt qua một câu như thế này: Nếu mà tai tôi c̣n nghe được tiếng súng nổ th́ tôi biết tôi c̣n sống thêm được một ngày nữa. Sự sống chết của những thanh niên trẻ chúng tôi tùy thuộc vào tṛ chơi của các chính trị gia nhưng chúng tôi coi tánh mạng chiến hữu qúy gía vô cùng.
Chúng tôi phải băng rừng vượt núi cả ngày có khi phải âm thầm trong những rừng già âm u chỉ có giữa trưa may ra mới thấy một chút ánh sáng. Mỗi lần trung đội tôi đi thám sát là phải rải thưa ít nhất năm thước một người. Nếu phải đi đội h́nh hàng ngang th́ tụi tôi phải băng những g̣ cao hay thung lũng lầy lội lún ngập giầy khiến sự di chuyển có lúc rất khó khăn.
Lần đó trung đội tôi kẹt trong rừng sâu, có hai chiến hữu bị thương rên la thê thảm nhưng kiếm được băi đáp để tải thương đâu phải dễ nên phải chích "morphine" cho họ để xoa dịu cơn đau hầu có thể giữ được sự im lặng. Khi kiếm được băi đáp mặc dù dưới hoả lực rất mạnh của VC chiếc trực thăng sau cùng cũng vội vàng đáp xuống và bay lên được nhưng bị một trái phóng lựu để lại băi đáp một đám khói đen nghịt. Chiếc trực thăng bay một quăng xa th́ đầu chúc xuống và bùm, nó rơi mạnh xuống và bùng cháy giữa rừng già. Không có tiếng kêu cứu chỉ có trung đội tôi chứng kiến nhưng bó tay.
Chúng tôi mỗi người luôn luôn lăm lăm ngón tay trong c̣ súng phải tự lần ṃ để định hướng đi ra phía đồng bằng theo ám hiệu của một khinh binh tiền sát đi trước. Thêm hai khinh binh trông chừng một phải, một trái và một phía sau tất cả phải căng mắt nh́n ngọn cây hai bên để khám phá các ổ bắn sẻ. Đi măi mà chưa nh́n thấy ruộng lúa nào cả để mà gọi trực thăng đến bốc tụi tôi. Khổ cái, có ruộng lúa tức là có người và có người th́ có VC trà trộn. Điều đó rất nguy hiểm nhưng c̣n hơn là bị vây kín trong rừng âm u.
Một lúc sau trước mặt tụi tôi hiện ra một ngọn đồi thấp cây cối thưa thớt, nghĩ rằng băi đáp ở đó tốt hơn là ở khu ruộng lúa cho nên toán ra lệnh cố gắng di chuyển về hướng đó. Sự di chuyển mau hay lâu tùy thuộc vào khinh binh tiền sát Tim.
Khinh binh tiền sát Tim cẩn thận ḍ từng bước nh́n xuống đất để khám phá cạm bẫy, nh́n lên ngọn cây để khám phá kẻ bắn sẻ và không được bỏ qua một vật bất thường nào v́ mỗi bước đi là mỗi nguy hiểm đón chào. Tim đă được ông già nó huấn luyện quan sát dấu vết từ nhỏ học được từ một người bạn mọi da đỏ như coi dấu chân, coi dấu vết trên mặt cỏ và cạm bẫy. Qua hai mươi bẩy cuộc tuần tiểu thám sát chỉ có một khinh binh tiền sát thứ hai mươi sáu bị rớt xuống hầm chông tre. Tim đă làm tiền sát cả chục lần không một chút sơ xẩy nên lần thứ hai mươi bẩy này Tim nói nó sẽ nhất định sẽ không vướng vào sơ xuất hay để đầu óc bị chi phối bởi chuyện ǵ khác. Nó quay mặt qua trái rồi qua phải, ngẩng lên cao rồi nh́n xuống đất để ư quan sát từ đọn cây gẫy đến đống cỏ khô hay một sợi cây leo v.v.
Lúc này trách nhiệm của khinh binh tiền sát quan trọng đến tính mạnh của cả trung đội v́ nhiệm vụ như là cái máy ḍ máy báo cho nên Tim phải chắc chắn là không người nào dẵm chân vào một cái bẫy nào hay bị bắn sẻ. Lát nữa đây Tim c̣n có trách nhiệm quan sát xem ngọn đồi đó có an toàn cho băi đáp cho hai trực thăng bốc trung đội về hay không. Tim sẽ là người cuối cùng lên trực thằng v́ nó c̣n phải quan sát xung quanh để phát hiện kịp thời bất cứ sự lay động di chuyển nào xung quanh băi đáp.
Đang đi bỗng Tim dơ nắm tay lên cao về phía sau, đó là dấu hiệu bảo ngừng lại. Mọi người lặng lẽ đứng lại không ai cần phải lên tiếng hỏi. Rồi Tim mở bàn tay vẫy xuống mặt đất, dấu hiệu ngồi xuống, mọi người lặng lẽ ngồi xuống trong thế sẵn sàng tác chiến. Các khinh binh đằng sau quay mặt lại coi chừng hai bên và phía sau.
Tiền sát Tim nheo cặp mắt quan sát nó không dùng ống nḥm v́ phản chiếu của ống kính sẽ là mục tiêu của bắn sẻ. Nó quay lại sau th́ thào với thiếu úy Trung Đội Trưởng: "Trên cái chạc ba nhánh ngọn cây chếch phía phải của hướng đi không biết đó là người hay con khỉ?" Để Thiếu úy TĐT có đủ dữ kiện nó đưa nhiều câu hỏi: Có khỉ ở rừng này không? Tôi có nên bắn cho nó một phát để xem động tĩnh không? Nếu đó qủa là tên bắn sẻ th́ sao?
Thiếu úy TĐT th́ thào trở lại:
- ĐM, mày nói cái ǵ tùm lum vậy?
Tim chỉ ngón tay cố th́ thầm nhỏ lại nhưng chậm và rơ:
- Bên phải bốn mươi lăm độ, trên ngọn cây rậm lá đó.
Ông Thiếu úy TĐT điều chỉnh ống nḥm núp sau cành lá chăm chú nh́n một phút rồi th́ thầm với Tim:
 - Tao không thấy ǵ khả nghi cả. Mày có chắc chắn mày nh́n thấy cái ǵ lạ không hay mày hoa mắt?
Tim nhau mặt:
- Chắc chắn tôi nh́n thấy vật khác thường. Tôi thấy nó động đậy. Ông có thấy khỉ ở rừng này bao giờ không, đó là điều tôi muốn hỏi.
Sau khi quan sát và ngồi xem động tĩnh chừng mười phút Thiếu úy TĐT nói: "H́nh như là con khỉ" rồi ra lệnh tiếp tục di chuyển.
Tim quên là ông Thiếu úy này mới được thuyên chuyển về thay thế TĐT trước đă đi phép dài hạn, ông chưa rành rẽ vùng này, nên nó tuân lệnh như thường lệ. Nó lắc đầu như không đồng ư, miệng lầm bầm như đang chửi thề ĐM rồi đứng thẳng người tiến tới chừng mười thước th́... cắc bùm Tim đổ xuống như cây chuối bị đốn và ông TĐT giờ đă biết rằng đó không phải là con khỉ trên ngọn cây đó. Nhưng Tim đă hy sinh để trung đội sống sót.
Kể tới đây, Larry hỏi tôi: "Anh có biết tại sao tôi có những bức tranh này không?" Hỏi nhưng không cần trả lời mà Larry kể tiếp rằng sau khi măn hạn ở Việt Nam về, Larry gặp lại bạn cũ thông báo qua lại và cuối cùng đưa đến chuyện sở hữu bức chân dung của Tim...
Cha Tim là một người giầu có nhưng góa vợ và chỉ có đứa con trai duy nhất là Tim. Hai cha con đều có khuynh hướng chơi tranh nên thường du lịch khắp thế giới để mua những bức tranh qúy hoặc của những họa sĩ nổi tiếng để tồn trữ vào kho tàng nghệ thuật của ḿnh. Ông đă tàng trữ được những bức tranh vô gía của Picasso, Van Gogh, Monet hay những bức mà những nhà quyền qúy thường treo ở biệt thự của họ. Cha Tim rất thoả măn hănh và diện với cái nh́n và nhận xét sắc bén của Tim, đứa con trai đă nối gót ḿnh đạt được nhiều kinh nghiệm về tranh và ông đặt hết kỳ vọng vào Tim.
Nhưng mùa hè năm đó Tim phải nhập ngũ do lệnh động viên và sau thời gian thụ huấn căn bản quân sự Tim được gửi đi tham chiến tại chiến tranh Việt Nam. Tim phục vụ cùng đơn vị với tôi và hai đứa trở thành bạn thân. Với kinh nghiệm nhận xét sẵn có, Tim mau trở thành một khinh binh tiền sát rất tinh tế và sắc bén. Phản ứng cấp thời sắc bén của Tim đă cứu tôi và một vài đồng đội khác nhiều lần.
Nhưng mùa đông năm đó ở nhà cha Tim nhận được điện tín báo một tin buồn: đứa con mà ông yêu quư đă mất tích tại trận tiền. Ông nóng ruột đợi từng giờ từng ngày tin tức mới về Tim với nỗi lo sợ là ông sẽ không bao giờ có thể thấy con ông trở về nữa. Nhưng rồi cái ǵ đến sẽ đến, ông đă nhận được tin xác nhận con ông đă tử trận tại chiến trường. Tim đă bỏ ḿnh khi tham dự cuộc thám sát trong rừng sâu.
Mùa Giáng Sinh năm đó cha Tim với thân già cô đơn ôm nỗi đau buồn héo hắt như người quẩn trí. Ông nhớ lại mỗi Noel những năm trước dù lưu lạc nơi đâu Tim đều về xum họp với cha bên ḷ sưởi ấm áp... nhưng bây giờ không c̣n nữa và khi nh́n những bức tranh treo quanh nhà khiến ông càng nhớ nhung đau đớn. Buổi sáng ngày chúa giáng sinh có tiếng gơ cửa ông mệt mỏi ra mở th́ thấy một quân nhân ôm một gói giấy lớn đứng đó.
Người quân nhân đó tự giới thiệu ḿnh với cha Tim:
- Thưa bác. Cháu là bạn của Tim và cũng là người đă từng được Tim cứu nhiều lần. Cháu có thể vào nhà được không v́ cháu có điều thưa với bác.
Sau khi vào ngồi pḥng khách, người quân nhân ấy cho cha Tim biết rằng Tim đă kể cho anh ta biết tất cả công tŕnh sưu tầm tranh của Tim với cha rồi người quân nhân đó trao cho ông gói đồ nói: "Cháu cũng thích tranh lắm nên đă học vẽ. Hôm nay cháu đến tặng bác món quà này."
Cha Tim mở ra th́ đó là bức tranh truyền thần của con ông. Bức chân dung vẽ thật tỉ mỉ và sống động. Ông không ḱm hăm được xúc động nên khi ngắm bức chân dung nước mắt ông chảy tầm tă. Ông cám ơn người quân nhân và ngay lập tức ông tháo hết những bức tranh phía trên ḷ sưởi giữa nhà để chỗ khác và chỉ treo có bức chân dung con trai ông trên đó và ông nh́n như hồn ông bị thu hút vào đó.
Ít ngày sau đó ông được các bạn ông hỏi thăm ông và cho biết họ đều là những bạn đồng ngũ thọ ơn Tim v́ có Tim họ đă thoát hiểm nhiều lần.
Larry lắc đầu nói với tôi:
- Tôi phải thú thật với ông lần đó đáng lẽ tôi tới phiên làm khinh binh tiền sát, nhưng khu này rừng rậm khó khăn nên Tim đă t́nh nguyện thay thế để tôi ra coi chừng phía sau. Chẳng may lần này Tim bị bắn sẻ trúng ngay tim.
C̣n cha Tim khi biết con ông được bạn bè qúy mến như vậy ông cũng cảm thấy hănh diện nhưng cũng không làm vơi đi nỗi thương xót của ông. Ông quyết định làm điều ǵ để con ông sống măi trong ḷng ông, sống măi trong ḷng người, nhất là những bạn của con ông. V́ vậy bức chân dung Tim trở thành bức họa ông qúy giá nhất trong kho tàng của ông và ông nói với những người quen biết rằng đây là món quà lớn nhất trong đời ông có.
Dần dần cha Tim càng ngày càng già yếu bệnh hoạn nên ông đă sửa soạn sẵn di chúc để người được ủy thác theo đó mà thi hành về tài sản và kho tàng nghệ thuật ḿnh. Ít tháng sau cha Tim qua đời và không có người thừa kế, người được ủy thác mở di chúc th́ được biết ư của ông là tất cả những bức tranh mà ông sưu tầm được sẽ được bán đấu gía vào đúng ngày Giáng Sinh sắp đến.
Ngày bán đấu giá tới có rất nhiều người chuyên sưu tầm tranh qúy đến tham dự và ai cũng hy vọng ḿnh sẽ sở hữu một số tranh qúy gía này. Người điều khiển đấu gía cho trưng ra một bức tranh vô danh của một hoạ sĩ mà những người sưu tầm tranh chưa bao giờ nghe đến tên v́ đó là bức chân dung của con trai ông già do bạn của Tim vẽ. Người điều khiển hỏi ai muốn trả giá trước nhưng trong pḥng im lặng không ai trả lời. Người điều khiển lại hỏi:
- Ai trả một trăm đồng?
Một hai phút trôi qua cũng không có ai trả lời rồi có tiếng xầm x́: "Bức tranh đó th́ mua làm ǵ? Chỉ là chân dung con ông ta." Rồi mọi người ồn lên:
- Bán bức khác đi. Không ai mua bức này cả.
Người điều khiển trả lời:
- Không được. Chúng tôi phải bán bức này trước. OK, Có ai muốn mua bức chân dung này?
Lúc đó tôi vội trả giá sơ khởi để bức tranh có cơ hội bán nên tôi nói to:
- Tôi trả một trăm đồng.
Người điều khiển hỏi:
- Có ai trả hơn không?
Sau khi hỏi ba lần không ai trả lời ông ta liền nện búa xuống bục hô to: "Bán". Cả pḥng ồn lên vui mừng có lẽ đă gạt đi được sự trở ngại nên có người nói: "Bây giờ chúng ta có thể đấu giá món ḿnh muốn". Người điều khiển đứng chờ tới khi mọi người im lặng ông ta mới tuyên bố:
- Thưa quư vị. Cuộc bán đấu giá hôm nay tới đây là chấm dứt.
Cả pḥng ồ lên một tiếng lớn v́ chuyện xẩy ra không ai tin được. Có người la lớn: "Ông có đùa không ông? Đă bán được món nào đâu mà chấm dứt". Rồi có tiếng khác có vẻ giận: "Chẳng lẽ chúng tôi đến đây chỉ để mua chân dung con của ông già hay sao? C̣n những bức tranh khác đáng giá bạc triệu kia đă bán đâu?" Có người với giọng giận dữ: "Chúng tôi bay từ xa tới đây không phải để chứng kiến một tṛ đùa. Yêu cầu có một sự giải thích thỏa đáng".
Một lần nữa chờ cho sự ồn ào lắng xuống, người điều khiển đấu gía mới b́nh thản nói:
- Thưa qúy vị, chuyện đó rất giản dị. Theo di chúc của ông già, người nào sở hữu bức chân dung con của ông ta th́ sẽ đương nhiên làm chủ tất cả bức tranh c̣n lại trong nhà ông ta...
Nghe Larry kể tới đây tôi cũng "ồ" lên ngạc nhiên và Larry ngậm ngùi nói:
- Lúc đó tôi mới hiểu đây là cử chỉ biểu lộ ḷng yêu thương đứa con duy nhất của ông. Ư ông muốn người nào săn sóc con ông sẽ hưởng trọn vẹn kho tàng này. Đó là lư do tôi có bức chân dung của bạn tôi và những bức tranh triển lăm hôm nay. Tôi triển lăm để tưởng nhớ đến Tim, người chiến hữu của tôi chứ tôi chưa bán bức nào cả.
Tôi hỏi Larry:
- Nếu mai đây anh già cả, thế hệ chúng ḿnh sẽ phải ra đi. Anh để lại những món này cho con cháu anh hay cũng làm di chúc đấu giá giống ông già của Tim?
Larry trầm ngâm vài giây nói:
- "Maybe".

lyhuonga.jpg






Những ngày cuối cùng của Đại tá Sơn Thương

Anh là người Việt gốc Miên, Cựu Đại Tá Biệt Động Quân, và đă có mặt trên chiền trường miền Nam trong suốt cuộc đời binh nghiệp.

Cũng như các bạn đồng đội c̣n ở lại đơn vị cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh đă bắt buộc phải ngưng súng chiến đấu, rồi bị Cộng Sản lưu đầy ra miền thượng du Bắc Việt.

Anh đến với chúng tôi ở trại cải tạo Phú Sơn 4, tỉnh Bắc Thái vào cuối năm 1977, khi tất cả các cải tạo viên đều do Công An qủan trị. Chúng tôi thuộc đội 4, gồm trên 30 đội viên do anh Nguyễn Minh Đăng, cựu dân biểu quốc hội nhiệm kỳ 1 và 2. Công tác chính của đội 4 là xây dựng nhà cửạ

Anh Sơn Thương rất cao lớn, khoẻ mạnh, làm việc không biết mệt mỏi nên thường xuyên được b́nh bầu là đội viên xuất sắc. Anh làm nhiều nhưng nói rất ít, hiếm khi tṛ truyện với người khác. Ngay cả trong giờ kiểm thảo vào mỗi buổi tối, anh thường ngồi yên lặng từ đầu tới cuối, và nếu được yêu cầu phát biểu ư kiến th́ anh cũng chỉ vắn tắt vài câu vô thưởng vô phạt mà thôi.

Anh lại có tật nóng bất ngờ, khi gặp một truyện bất như ư, dù chẳng có ǵ quan trọng anh vẫn dơ cả hai tay đấm ngực và đ̣i tự tử chết cho rồi.

C̣n một việc có thể làm cho anh tủi thân là anh không hề nhận được quà gia đ́nh.

Theo thường lệ th́ cứ ba tháng một lần, mỗi cải tạo viên được lănh một gói quà không quá 3 kư.

Đối với người tù ở xa nhà, lại bị đói ăn từ ngày này sang ngày khác th́ một gói quà tiếp tế của thân nhân là một an ủi vô cùng. Quư giá cả vật chất lẫn tinh thần.

Một hôm nắng gắt, anh Sơn Thương và cùng tôi ra đầu nhà ăn trưa cho bớt nóng nực. Hôm đó tôi mới nhận được một lọ muối mè nên mời anh dùng một chút lấy thảo, và trong tinh thần đồng đội tương thân, tôi đă hỏi tại sao anh không được tiếp tế như mọi người, anh thở dài buồn bă, một lát sau mới cho biết là vợ anh đă mất tích. Gia đ́nh anh chỉ c̣n một mẹ già và một con trai vị thành niên bây giờ không biết lấy ǵ để sinh sống, rồi anh ngồi thẫn thờ không nói tiếp. Tôi cũng không tiện hỏi thêm nữa.

Đến giữa mùa hè 1978, vật liệu xây dựng chở về dồn dập nên đội 4 chúng tôi phải tăng thêm giờ làm việc theo đúng tiêu chuẩn "Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm". Tuy nhiên, tất cả đội đều hồ hởi phấn khởi v́ 2 lư do:

-Trong đêm hè nóng bức, được ra khỏi pḥng giam ngột ngạt để hưởng không khí thoáng mát ngoài trời là cơ hội may mắn hiếm có.

-Đi lao động buổi tối th́ mỗi đội viên được bồi dưỡng 1/2 kư khoai ḿ nên đỡ bị đói.

Giữa lúc mọi người lên tinh thần th́ anh Sơn Thương gặp truyện không may.

Một buổi sáng anh Sơn Thương và tôi được phân công chuyên chở vật liệu, nhưng khi chúng tôi đang di chuyển th́ lại phải làm công việc khác.

Lúc ấy, trên băi đất trống bên đường, mấy cán bộ công an đang h́ hục lăn một cuộn giây cáp to lớn lên xe tải. Thấy chúng tôi đi ngang, họ liền bắt vào phụ lực. Cuộn giây rất nặng nên mọi người phải cố hết sức mới nâng được nên cao, nhưng càng lên cao th́ sức nặng càng tăng và những người cao lớn như anh Sơn Thương th́ phải chống đỡ nhiều nhất. Thấp bé như tôi th́ chỉ làm thợ vịn.

Bất ngờ anh Sơn Thương kêu lên một tiếng đau đớn rồi không đứng vững được nữa. Bọn cán bộ phải để cho tôi dắt anh về bệnh xá khám nghiệm và kết qủa là anh bị trật khớp xương sống.

Kể từ hôm đó, an Sơn Thương phải nghỉ lao động nhưng vẫn được chia một phần khoai ḿ bồi dưỡng như thường lệ.

Mấy ngày sau bệnh t́nh của anh không thuyên giảm và đă gây ra nhiều phiền phức cho cả đội.

Anh cần phải được nâng đỡ d́u dắt khi đi lại.

Anh cũng không thể tự lo liệu vệ sinh cá nhân cho nên có những đêm khuya, anh làm cho nhiều người mất ngủ.

Sua cùng cán bộ quản giáo của đội 4 quyết địng chuyển anh qua đội bệnh nhân ở nhà số 1 để có người trông nom săn sóc.

Lúc ấy nhà số 1 có 3 đội:

-Đội 1 canh nông. Đội trưởng là anh Vũ Thành An một nhạc sỹ trẻ tuổi rất nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975.

-Đội nhà bếp. Đội trưởng là anh Lớn ( tôi không nhớ rơ họ) cựu dân biểu quốc hội

-Đội bệnh nhân. Đội trưởng là anh Hồ Quang Nguyên, cựu bác sỹ Giám Đốc bệnh viện Chợ Quán Saigon.

Ở trại cải tạo Phú Sơn 4, các nhà giam đều kế cận nhau, nhưng sự giao tiếp giữa nhà này nhà khác bị nghiêm cấm.

V́ vậy khi anh Sơn Thương đă được chuyển sang nhà số 1 th́ không c̣n liên hệ ǵ tới đội 4 nữa.

Tuy nhiên sau khi qua đội bệnh nhân được vài ngày, anh Sơn Thương gửi lên Ban giám thị khiếu nại đă bị cắt phần khoai ḿ bồi dưỡng, nhưng ban giám thị không cứu xét mà lại chuyển về cho đội 4 giải quyết.

Ngay sau đó vấn đề đă được đội 4 thảo luận và nhất trí rằng anh Sơn Thương không c̣n là đội viên của đội 4 th́ đương nhiên không có tránh nhiệm và quyền lợi ǵ ở đội 4 nữa .

Đơn khiếu nại đă bị bác bỏ nhưng đă làm cho anh Sơn Thương mất đi nhiều thiện cảm với các đồng đội cũ.

Khoảng 1/2 tháng sau, anh khỏi bệnh và được trả lại đội 4 vào một buổi trưa, khi mọi người đă ra ngoài hiên chờ điểm danh đi lao động.

Đáng buồn cho anh là tất cả đồng đội đều thờ ơ lănh đạm, trông thấy anh trở về mà không một lời đón chào, thăm hỏi. Có lẽ anh cảm thấy bẽ bàng nên lẳng lặng cất đồ đạc rồi ra ngồi riêng biệt một góc sân.

Đêm hôm ấy khi cả đội hội họp để kiểm điểm công tác, anh đội trưởng Nguyễn Minh Đăng lớn tiếng nhắc lại cho anh Sơn Thương biết rằng chỉ có những đội viên đội 4 phải đi lao động vào buổi tối mới được cung cấp khoai ḿ bồi dưỡng. V́ vậy đơn khiếu nại không có lư do chính đáng mà c̣n có thể gây ngộ nhận không tốt cho các bạn đồng đội .

Dường như anh đội trưởng không giữ được b́nh tĩnh khi phát biẻu ư kiến nên cử chỉ và lời nói của anh có vẻ gay gắt, trong khi đó, tất cả mọi người đều yên lặng, coi như mặc nhiên nhất trí với anh đội trưởng. Sư kiện này chắc chắn đă làm cho anh Sơn Thương tủi thân v́ lẻ loi cô độc. Anh không một lời biện minh cũng không c̣n thói quen giơ hai tay đấm ngực đ̣i tự tử chết mà chỉ cúi đầu thở dài buồn bă.

Sáng hôm sau, khi đội 4 đang thi hành công tác th́ anh Sơn Thương kêu choáng váng, chóng mặt và phải ngồi nghỉ. Được một lúc, đột nhiên chân tay anh co giật liên tiếp, và bấy giờ anh mới tiết lộ là đă uống hết một lọ thuốc sốt rét để tự sát v́ anh không muốn sống thêm nữa. Tất cả mọi người hiện diện đều hoảng sợ, và dù chưa có lệnh của cán bộ bảo vệ, anh vẫn được đưa ngay về bệnh xá để cấp cứu .

Đến gần trưa khi đội 4 bắt đầu thu dọn công trường th́ được tin anh đă tắt thở. Tính ra kể từ khi anh Sơn Thương trở về đội 4 cho tới luc anh qua đời chỉ có một thời gian ngắn ngủi chưa đầy 24 giờ.

Đêm hôm ấy, đội 4 dành hết thời gian của buổi hội họp thường lệ để thảo luận về thảm họa vừa xảy ra. Nhiều ư kiến được tŕnh bầy nhưng tựu chung chỉ là những lời tiếc rẻ, nhớ thương, hoặc vài câu nhận xét vô thưởng vô phạt.

Tuy nhiên trong chỗ riêng tư, chúng tôi cho rằng anh Sơn Thương đă ấp ủ trong ḷng quá nhiều căm hờn, tủi nhục mà không chịu t́m cách giải tỏa nên càng ngày càng thêm chán đời, cho tới lúc không c̣n chịu đựng được nữa th́ chỉ cần một nguyên nhân cỏn con có thể đột xuất thành tai họa khủng khiếp.

V́ vậy mấy lời phê b́nh tuy gay gắt nhưng không có ǵ sai trái vẫn biến thành mồi lửa oan nghiệt châm ng̣i vào thùng thuốc nổ.

Sau khi anh Sơn Thương mất đi được ít lâu trại cải tạo Phú Sơn 4 bị giải thể v́ t́nh h́nh bất an do cuộc xâm lăng của Công sản Trung Quốc, các trại viên được chuyển qua nhiều trại cải tạo khác ở cách xa biên giới Hoa Việt, do đó câu truyện anh Sơn Thương tự sát đă được phổ biến rộng răi đi nhiều nơi, dần dà chuyển vào Nam nhờ những cải tạo viên được phóng thích về với gia đ́nh, sau cùng sang tới cả nước ngoài theo lớp ngưới ĺa bỏ quê hương đi t́m tự do.

Khi c̣n ở Việt Nam cũng như khi định cư tại Úc, tôi được nghe nhiều người kể lại truyện anh Sơn Thương, nhưng mỗi người nói một khác, thậm chí c̣n có người tin rằng anh đội trưởng Vũ Thành An đă nhẫn tâm cắt bỏ phần khoai ḿ bồi dưỡng khiến cho an Sơn Thương uất ức mà tự tử.

Tôi cho rằng những sai lầm này không phải là do ác ư xuyên tạc mà chỉ v́ nhiều nguyên nhân bất khả kháng.

Như đă tŕnh bầy ở trên, trại cải tạo Phú Sơn nghiêm cấm mọi sự giao tiếp giữa nhà này với nhà khác cũng như giữa đội này với đội khác, nên chỉ có mấy đội viên của đội 4 mới biết rơ anh Sơn Thương qua đời trong trường hợp nào.

Các đội khác th́ chỉ nghe phong thanh qua mấy lời truyền khẩu vắn tắt, thầm kín trong một vài dịp họp mặt đông đủ ở hội trường tham dự học tập hoặc xem biểu diễn văn nghệ.

V́ chỉ biết rất sơ lược những ǵ đă xẩy ra nên người nào cũng cố t́m hiểu nguyên nhân thảm họa này theo cảm nghĩ chủ quan của ḿnh, và trong hoàn cảnh cơ cực về cả thể xác lẫn tinh thần th́ tất cả suy tư phán đoán đbều không thể tránh khỏi bi quan thiên lệch.

Cũng v́ thế, các câu truyện kể lại thường không giống nhau nhưng cũng có nhiều sai lầm tai hại nên đă gây ra những sự nghi ngờ oan uổng và những lời chê trách bất công.

Hôm nay theo yêu cầu của một thân hữu đă từng bị vạ gió tai bay, tôi cố gắng ghi lại trung thực tất những điều mắt thấy tai nghe trong những ngày cuối cùng của Đại Tá Sơn Thương ở trại cải tạo Phú Sơn 4, và ước mong rằng sẽ xóa bỏ được những sự ngộ nhận rất đáng tiếc như đă xảy ra.

Sydney tháng 10 năm 2001
Nguyễn Đ́nh B́nh

Nguồn : HUNG VIET


lyhuonga.jpg