2.
Bốn câu thơ của Thôi Hộ nhuốm mầu sắc của
một huyền thoại, thật nên thơ và lăng mạn. Người đời sau đặt
tên cho bài thơ là “Đề đô thành Nam Trang”, tức “Đề (thơ) ở
trang viện phía Nam thành Đô”. Có người lại đặt là “Đề
tích sở kiến xứ”, tức “Đề nơi gặp gỡ năm trước”.
Nguyên
văn bài thơ như sau:
Khứ
niên kim nhật thử môn trung,
Nhân
diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân
diện bất tri hà xứ khứ,
Đào
hoa y cựu tiếu đông phong.
Dịch
nghĩa:
Năm
ngoái, hôm nay tại cổng này,
Mặt
người và hoa đào phản chiếu sắc hồng lẫn nhau.
(Bây
giờ) Mặt người không biết đă về chốn nào,
(Chỉ
c̣n) Hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ.
Cụ
Trần Trọng Kim đă chuyển dịch bài thơ bằng những vần lục bát:
Hôm nay,
năm ngoái, cửa cài,
Hoa
đào ánh với mặt người đỏ tươi.
Mặt
người chẳng biết đâu rồi,
Hoa
đào c̣n đó vẫn cười gió đông
Các
cụ Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản th́ dùng tứ tuyệt như nguyên tác
để dịch :
Năm
ngoái ngày này dưới cánh song,
Hoa đào
ánh má mặt ai hồng?
Mặt
ai nay biết t́m đâu thấy,
Chỉ
thấy hoa cười trước gió đông.
Bài
thơ của Thôi Hộ thật hay, dù rằng người đọc có thể hiểu câu
cuối theo những cách khác nhau. Có người bảo chữ “tiếu” trong câu này
thật đắc, khiến chàng Thôi có cảm tưởng như rừng đào đang mỉm
cười chế nhạo nỗi t́nh si của ḿnh. Có người cho rằng h́nh ảnh hoa
với gió trong câu thơ đă tô đậm thêm nỗi cô đơn của chàng. Hoa c̣n có gió
để cười, c̣n chàng th́ đang buồn bă v́ chẳng gặp được người
năm cũ.
Chúng
ta có thể không hiểu rơ ư của tác giả trong câu thơ cuối. Dù là ư nào đi nữa,
bài thơ cũng là một tuyệt tác.
Tuy nhiên,
có một chữ mà có lẽ đa số đă hiểu không đúng khi đọc bài thơ
được phiên âm theo tiếng Hán Việt. Đó là chữ “đông” trong câu cuối.
Chữ “đông” ở đây không phải là “mùa đông” (冬) mà chính là
“hướng đông” (東). Cổ nhân vẫn dùng chữ “đông phong”
để chỉ gió xuân v́ ở Trung Hoa và Việt Nam,
chỉ mùa xuân mới có gió từ hướng đông, tức từ biển, thổi đến.
Chữ “đông” trong bài thơ không thể là mùa đông v́ tiết Thanh Minh là tiết
thuộc mùa xuân, khoảng giữa tháng ba âm lịch: “Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ
là tảo mộ, hội là Đạp thanh” (Truyện Kiều). Thêm nữa, mùa đông th́
làm ǵ có hoa đào.
Cũng v́ vậy, hầu hết những bản in bài thơ chữ Hán
của Thôi Hộ người viết đă từng đọc đều ghi “đông
phong” (東 風) theo nghĩa gió hướng đông. Một số bản, ở cả
Trung Hoa lẫn Việt Nam, trong
đó có bản đăng trong tập Đường Thi của cụ Lệ Thần Trần
Trọng Kim, lại ghi “xuân phong” (春 風) theo nghĩa gió mùa xuân. Tuy nhiên, mặc
dù bản chữ Hán ghi “xuân phong” nhưng cụ Trần Trọng Kim vẫn dịch
là “Hoa đào c̣n đó vẫn cười gió đông” như đă nêu ở trên.
Đối
với nguyên tác bài thơ của Thôi Hộ, có lẽ “đông phong” hợp lư hơn
“xuân phong”. Lư do là cổ nhân thường gọi gió theo phương hướng chứ
không theo mùa màng. Theo cách thức này, bốn ngọn gió chính của bốn mùa là gió Đông vào
mùa xuân, gió Nam mùa hạ, gió Tây
mùa thu, và gió Bắc mùa đông. Những câu thơ nêu sau là những thí dụ điển h́nh:
“Đông
phong” bất dữ Chu Lang tiện,
Đồng
Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều.
(Đỗ
Mục, Xích Bích Hoài Cổ)
Gió đông
ví không thuận tiện cho Chu Du,
Th́ đài
Đồng Tước đă khóa hai nàng Kiều trong mùa xuân muộn.
Ngũ
nguyệt “nam phong” hưng,
Tư
quân há Ba Lăng.
Bát nguyệt
“tây phong” khởi,
Tưởng
quân phát Dương Tử.
(Lư Bạch,
Trường Can Hành)
Tháng năm
khi gió nam thổi,
Thiếp
nghĩ chàng đang đi xuống huyện Ba Lăng.
Tháng tám
khi gió tây thổi,
Thiếp
nghĩ chàng đang từ sông Dương Tử ra đi.
Thiên lư
hoàng hôn bạch nhật huân,
“Bắc
phong” xuy nhạn tuyết phân phân.
(Cao Thích,
Biệt Đổng Đài)
Ngh́n dặm
hoàng hôn, ánh chiều tắt bóng,
Gió bắc thổi, đàn
nhạn bay trong trời tuyết rơi
Ở
nước ta, gió đông c̣n gọi là gió chướng, gió nam là gió nồm, gió tây là gió lào, và
gió bắc là gió bấc.
Khi viết
Đoạn Trường Tân Thanh, cụ Nguyễn Du đă mượn điển tích Thôi Hộ
để tả cảnh chàng Kim Trọng, sau khi hộ tang chú từ Liêu Dương trở
về, sang vườn Thúy t́m Kiều th́ mới hay nàng đă phải bán ḿnh để chuộc
cha:
Trước
sau nào thấy bóng nguời,
Hoa đào năm ngoái c̣n cười
gió đông.
Một
điểm nữa đáng lưu ư là cổ nhân thường dùng chữ “đông quân”,
tức thần phương đông hay thần mặt trời, với nghĩa “chúa xuân”
như hai câu sau của cụ Nguyễn Du:
Đào
hoa mạc trượng Đông quân ư
Bàng hữu
phong di tính tối toan.
Hoa đào
chớ cậy chàng xuân quư
D́ gió hay ghen ở rất gần.
(Đông
A dịch)
Nhân
bàn về “đông phong” và hoa đào, người viết chợt nhớ là trong ngôn
ngữ của Trung Hoa và ViệtNam, ta cũng không nói "đông đào" với nghĩa "đào
mùa đông", mà với nghĩa "đào hướng đông". Về thuật phong thủy, tức
khoa địa lư, ngày trước các cụ tin rằng không nên trồng đào ở hướng
đông và liễu ở hướng tây. Vườn mà có đào và liễu trồng ở hai
hướng này th́ đàn bà con gái trong nhà sẽ trở nên đa t́nh, lăng mạn, và dễ hư
hỏng. V́ vậy, chữ “đông đào” thường được dùng chung với
tây liễu" để chỉ những cô gái có nếp sống phóng túng trong t́nh cảm. Ca dao
ḿnh có câu:
Nghĩ
xa thôi lại nghĩ gần,
Làm thân
con nhện mấy lần vương tơ.
Biết
đâu trong đục mà nhờ,
Hoa thơm
hết tiết nương nhờ vào ai?
Khi vin
cành trúc, lúc dựa cành mai,
Đông
đào tây liễu biết ai bạn cùng
Đào và Thiền
Tuy hoa có nét đẹp thanh
tao và đời sống ngắn ngủi, nhưng đào lại là loại cây chịu được
sự khắc nghiệt của thời tiết. V́ vậy, hoa đào đă được
nhiều thiền sư Việt Nam, Trung Hoa, cũng như Nhật Bản sử dụng như
những công án về Thiền. Không những thế, có những thiền sư đă nhờ
hoa đào mà ngộ đạo. Trong những thiền sư này, vị được đề
cập nhiều nhất có lẽ là thiền sư Linh Vân, người tỉnh Phúc Kiến,
sống vào đời nhà Đường trong thế kỷ thứ 9. Thuở ấy, khi đang
tu ở núi Đại Quy, bỗng một hôm thiền sư thấy hoa đào nở mà ngộ
đạo. Từ đó, người chốn thiền lâm thường ví von ngài là “Linh
Vân kiến đào hoa ngộ đạo”.
Sau khi ngộ,
ngài đă làm bài kệ sau đây:
Tam thập niên lai tầm
kiếm khách, \
Kỷ hồi lạc
diệp hựu trừu chi.
Tự tùng nhất kiến
đào hoa hậu,
Trực chí như kim cánh
bất nghi.
Kiếm
khách bao năm măi đợi chờ,
Từng
mùa lá đổ vẫn trăng mơ.
Một
phen chợt thấy hoa đào nở,
Nghi sạch tiêu tan, sáng chẳng
ngờ.
(Trí Không
dịch)
Chùa
Pháp Bảo ở Hội An, Quảng Nam
hiện treo một một bức tranh diễn tả cảnh ngộ đạo của thiền
sư Linh Vân. Trên bức tranh có khắc nguyên văn bài thơ chữ Hán nêu trên.
Thiền
sư Linh Vân thấy hoa đào nở mà ngộ đạo. Đến hơn hai thế kỷ
sau, thiền sư Thủ Tuân (1079-1134), lại thấy hoa đào rơi mà chứng ngộ.
Hẳn là khi trông thấy hoa rơi, ngài nhận thức rơ rệt được quy luật
“sinh, trụ, dị, diệt” của vũ trụ và kiếp người. Sau đó,
thiền sư có viết bài kệ kể lại chuyện ngộ đạo của ḿnh:
Chung nhật
khán thiên bất cử đầu,
Đào
hoa lạn mạn thủy đài mâu.
Nhiêu quân
tiện hữu già thiên vơng,
Thấu
đắc lao quan tức tiện hưu.
Ngày trọn
nh́n trời chẳng ngẩng đầu,
Ngước
trông lả tả cánh hoa đào.
Che trời
quanh bạn đều giăng lưới,
Chẳng
vượt lao quan chẳng chịu nào.
(Nguyễn
Khuê dịch)
Bài
thơ của Thủ Tuân mang ư nghĩa thật thâm sâu. Câu đầu có vẻ nghịch lư v́
làm sao có thể nh́n Trời mà không ngẩng đầu. Tuy nhiên, chữ Trời ở đây
phải hiểu là Đạo. Trong biết bao năm dài, thiền sư đă học hỏi
và suy ngẫm về Đạo. Có lẽ những cánh hoa đào rơi chỉ là cái duyên giúp
ngài chứng ngộ.
Trong
câu thứ ba, thiền sư có ư nói con người chúng ta bị che phủ bởi tấm lưới
vô minh của thất t́nh lục dục. Câu cuối cho thấy ngài quyết tâm phá lưới
vô minh hầu có thể vượt qua được lao quan (thiền môn có ba cửa ải
phải vượt qua là bản tham quan, trùng quan và lao quan).
Một
th́ền sư nổi tiếng của Việt Nam là sư tổ phái Trúc Lâm, tức vua Trần
Nhân Tông, vị vua lừng lẫy trong lịch sử với hai lần đại thắng
quân Nguyên. Năm 1293, ngài nhường ngôi cho con, lên làm thái thượng hoàng. Sáu năm sau, ngài
lên núi Yên Tử tu. Khi ngộ đạo, ngài đă đi nhiều nơi để truyền
bá Thiền tông.
Một lần nọ, có vị tăng hỏi ngài:
- Thế
nào là gia phong Phật quá khứ ?
Ngài
trả lời:
- Vườn rừng vắng vẻ ai chăm sóc,
-
Lư trắng đào hồng hoa tự nhiên.
Vị
tăng hỏi tiếp:
- Thế
nào là gia phong Phật hiện tại ?
Ngài
đáp:
- Gia phong sóng bạc mê yến sớm,
-
Tiên uyển đào hồng say gió xuân.
Lại
hỏi:
- Ngài Linh
Vân khi xem hoa đào ngộ th́ thế nào ?
Ngài
bảo ngay:
- Tự nở tự tàn theo thời tiết,
-
Đông quân bị hỏi cũng khôn lời. Rơ ràng là qua những
câu trả lời nêu trên, có lẽ hoa đào đă chiếm một vị trí quan trọng trong
cuộc đời ngài.
***
Với
những người yêu hoa đào, có lẽ một trong những cảnh đẹp nhất
nhưng cũng năo nề nhất là h́nh ảnh những cánh hoa rơi đầy mặt đất
hoặc trôi theo ḍng nước chẩy. Nh́n những xác hoa ấy, người yêu hoa không khỏi
chạnh ḷng khi cảm nhận bản chất phù du của kiếp hoa và cả kiếp người,
như những câu thơ sau trong bài Mạn Hứng Thứ IX của Đỗ Mục:
Trường
đoạn giang xuân dục tận đầu,
Trượng
lê từ bộ lập phương châu.
Điên
cuồng liễu nhứ tùy phong khứ,
Khinh bạc đào hoa trục thủy lưu.
Đau
ḷng v́ xuân trên sông đă sắp hết,
Chống
gậy đi dạo, đứng trên băi sông hoa cỏ thơm.
Bông liễu
bay điên cuồng theo gió,
Hoa đào trôi man mác theo ḍng
nước.
Ở
nước ta, cụ Nguyễn Du cũng ngắm hoa đào mà cảm thán cho thân phận bằng
những vần thơ mang âm hưởng khá yếm thế trong bài Hành Lạc Từ II như
sau:
Sơn
thượng hữu đào hoa,
Xước
ước như hồng ỷ.
Thanh thần
lộng xuân nghiên,
Nhật
mộ trước nê trĩ.
Hảo
hoa vô bách nhật,
Nhân thọ
vô bách tuế.
Thế
sự đa suy di,
Phù sinh
hành lạc sự.
Tịch
thương hữu kỹ kiều như hoa,
Hồ
trung hữu tửu như kim ba.
Thuư quản
ngọc tiêu hoăn cánh cấp.
Đắc
cao ca xứ hảo cao ca.
.........................................
Cổ
kim hiền ngu nhất khâu thổ,
Sinh tử
quan đầu mạc năng độ.
Khuyến
quân ẩm tửu thả vi hoan,
Tây song
nhật lạc thiên tương mộ. Trên núi có hoa đào,
Tươi
đẹp như lụa đỏ.
Sớm
mai giỡn mầøu xuân
Chiều
tối lăn bùn nhọ.
Hoa đẹp
không trăm ngày,
Người
sống không trăm tuổi.
Việc
đời thay đổi luôn,
Kiếp
người vui có hội
Trên tiệc
có gái đẹp như hoa,
Trong hũ
có rượu như vàng pha.
Tiếng
quản tiếng tiêu khoan lại nhặt,
Được
lúc hát ca cứ hát ca.
............................................
Hiền ngu xưa nay một nấm mồ,
Con đường
sống chết ai tránh khỏi.
Khuyên anh
uống rượu rồi vui chơi,
Bóng xế
hiên tây trời sắp tối.
(Nguyễn
Thạch Giang dịch)
Những
câu thơ của cụ Nguyễn Du thật hay (thơ cụ bao giờ lại chả hay),
nhưng “khuyên anh uống rượu rồi vui chơi” e không phải là lời khuyên
tốt đẹp dành cho mọi người. Trong cơi nhân sinh, mấy ai được như
cụ, thích th́ cứ đối ẩm với gái đẹp, cứ hát, cứ ca. Tối về
chong đèn làm thơ, dệt những vần như hoa như gấm để làm đẹp
thêm tấm ḷng bao thế hệ. Chúng ta không có tài như cụ, nghe lời cụ khuyên trong
Hành Lạc Từ th́ chắc chắn sẽ nhận lấy kết cục cay đắng trăm
đường đấy.
Đồng
ư là “Con đường sống chết ai tránh khỏi” nhưng hoa phải sống
sao cho đẹp đời hoa, người sống sao cho đẹp kiếp người,
dù đời sống chỉ vọn vẹn dăm ngày, nửa tháng, hay cả đến trăm
năm. Trước cái bao la của vũ trụ và vô hạn của thời gian, dăm ba ngày
hay trăm năm cũng chẳng có ǵ khác biệt. Điều quan trọng là sống sao cho
xứng đáng.
Như
những cánh hoa đào trong bài thơ Haiku, một lối thơ cô đọng nhưng hàm súc,
của nhà thơ Nhật Bản Cho ra:
Gió và mưa
Giữa
những cơn cuồng dại
Những cánh hoa đầu
mùa Đến mùa xuân, hoa đào nở. Gió và mưa không cản ngăn được điều
này. Hoa tuy mong manh nhưng cũng vô cùng mănh liệt, tuy đẹp dịu dàng nhưng cũng
thật dũng cảm. Hoa vượt qua mọi thử thách sương hàn nắng gió để
cống hiến vẻ đẹp cho đời. Chúng ta cũng phải như thế!
Và
đến khi chúng ta phải ra đi, th́ ra đi thanh thản và an nhiên tự tại.
An
nhiên tự tại v́ ḿnh đă sống một đời đáng sống, một cuộc đời
đẹp như kiếp
hoa đào.
Nguyễn
Ngọc Bảo