|
|
VÀI GỈNG CẢM NGHĨ - CHƯƠNG 1 - 2
|
MẸ VIỆT NAM ƠI!
DÂN TA CÓ TỘI T̀NH G̀?
(VIETNAM, QU'AS TU FAIT DE TES FILS?)
Tác giả: Pierre Darcourt - Dịch giả: Dương Hiếu
Nghĩa
Tŕnh bày : Hy-Văn
http://nhd18.esmartweb.com/mevietnam/vaidongcamnghi.html
VÀI D̉NG CẢM NGHĨ
Đọc tác phẩm nguyên thủy cuốn sách "VIETNAM,
QU'AS TU FAIT DE TES FILS?" của PIERRE DARCOURT, nhân
chứng những ngày cuối cùng của Miền Nam Việt Nam bị bức tử. Là một kư giả, ông không phải
viết với khối óc, với mắt thấy tai nghe như những nhà báo ngoại quốc
khác, mà ông viết với hơi thở, mạch tim, nước mắt của một Miền
Nam Việt Nam bị bỏ quên!
Họ là ai? Ông bạn đồng minh Hoa Kỳ
và 12 nước đă kư vào Hiệp Định Ba Lê ngày 27 tháng giêng năm 1973, trong đó có
cả Liên Hiệp Quốc. Họ giả đui giả điếc trước một nửa
dân tộc ch́m trong máu và nước mắt, chết chóc, tù đày, đói khát triền miên gần
30 năm qua! Ai nhỏ cho một giọt nước mắt đây? Họ về hùa với
quân xâm lăng cướp nước cộng sản Bắc Việt, ngậm miệng bang
giao và có một chỗ ngồi tại Liên Hiệp Quốc.
Xin cám ơn ông Pierre Darcourt c̣n nghĩ đến
người dân Miền Nam chúng
tôi ! Quyển sách của ông chẳng những là cái tát tai lịch sử vào mặt lũ Việt
Cộng, mà c̣n là cái tát tai in dấu hằn lịch sử trên mặt 13 nước đă hạ
bút kư vào Hiệp Định Ba Lê mà bọn cộng sản Bắc Việt đă vứt vào thùng
rác ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Anh Dương hiếu Nghĩa có nhă ư chuyển
ngữ sang tiếng Việt, đó là điểm đáng khen. Vẫn biết dịch thuật
là chuyện khó, người Pháp thường bảo "Traduire c'est trahir" (Dịch tức là phản
lại), may thay anh Nghĩa đă không phản lại mà c̣n dịch một cách mạch lạc,
gọn ghẽ, từ rất chuẩn, ư rất trôi: "MẸ VIỆT NAM ƠI! DÂN TA CÓ TỘI T̀NH G̀?". Một tiếng than ngắn
mà đau?
Phải chăng tiếng than của Quân Cán Chính
Miền Nam bị đày đọa
bỏ xác tại các trại tù cộng sản? Hay tiếng than của các nữ thuyền nhân
bị bọn hải tặc hăm hiếp ngoài biển khơi? Tiếng than bất tận gần
30 năm qua và c̣n kéo dài đến bao giờ?
Bản tiếng Việt nầy là chứng tích
tội ác cộng sản cho những thế hệ trẻ ở quê nhà. Mong có một bản
tiếng Anh cho con cháu chúng ta ở hải ngoại, và gửi cho 13 nước đă từng
kư kết vào Hiệp Định với câu "Lương Tâm của quư quốc c̣n hay mất?"
Vài ḍng cảm nghĩ xin những ai chạy trước
ngày 30-4-75 nên đọc để nhỏ một giọt nước mắt thương cảm.
Và những ai đi sau cũng nên đọc để nhớ lại những h́nh ảnh đau
thương phai nḥa trong năm tháng, hăy nh́n lại vết thương c̣n rịn máu v́ mối
thù cộng sản c̣n đó, quên là có tội với những người đă nằm xuống
v́ hai chữ TỰ DO!
Houston, cuối Xuân 2004 DUY XUYÊN
|
 |
|
LỜI GIỚI THIỆU
CỦA NHÀ XUẤT BẢN ALBATROS
Sau 30 năm đấu tranh và chinh chiến, cuộc
chiến Việt Nam vừa chấm dứt: Cộng Sản Miền Bắc đă chiếm được
Miền Nam Việt Nam. Sau
Pháp, Hoa Kỳ cũng đă rút ra khỏi Miền Nam Việt
Nam. Những người sắt
máu thuộc Bộ Chánh trị của Hà Nội đă là kẻ chiến thắng. Pierre Darcourt
mở lại hồ sơ về chuyện mất Sài G̣n và Miền Nam
Việt Nam. Với quyển
sách nầy Anh thuật lại trận đánh cuối cùng mà anh đă sống ngày này sang ngày
khác trên trận địa, và tường thuật lại rất trung thực bầu không
khí của những mưu mô, những áp lực, những tṛ chánh trị muôn h́nh vạn trạng
đă được gây ra để gia tăng tốc độ sụp đổ của
Miền Nam.
Anh mô tả những nổi đau khổ
và những sự thiếu thốn của những người tỵ nạn t́m đường
chạy ra biển; sự kháng cự cuối cùng của đội quân thiện chiến của
Miền Nam Việt Nam
trước làn sóng xăm lăng của quân Bắc Việt ở Xuân Lộc... Trảng Bôm...
Biên Ḥa; sự ra đi của người Mỹ; sự xuất hiện của tướng
Dương văn Minh với vai tṛ phù du của ông; cảnh các "bộ đội" của Miền
Bắc tiến vào thủ đô Sài G̣n mà họ đổi tên lại là tthành phố Hồ chí
Minh; hoàn cảnh đau thương khổ sở của dân chúng; sự xét lại vấn đề
tự do của các tôn giáo; và tấn thảm kịch xót xa của những người công
giáo luôn gắn bó với niềm tin của họ; và những phản ứng sau cùng của
những người lính chiến không bao giờ muốn hạ súng xuống...
Qua tựa đề của quyển
sách "Mẹ Việt Nam ơi,
dân ta có tội t́nh ǵ?",Anh chỉ nêu lên một câu hỏi duy nhất nhưng rất là chính xác.
Ba triệu người đă chết
cho một chiến thắng quân sự, một chiến thắng không giải quyết được
ǵ cả mà nó lại c̣n đưa đến một thất bại về chánh trị lẫn
nhân tâm. Khởi xướng và lănh đạo một cuộc chiến 30 năm dài nói là để
thống nhất đất nước, mà cuối cùng chỉ thấy một đất nước
rách nát và tan thương hơn bao giờ hết !
Pierre Darcourt là một nhà báo, một
phóng viên có tầm vóc, là thông tín viên liên tiếp cho nhiều tờ báo Pháp và ngoại quốc
như l'Express, l'Aurore, Sud Ouest, Jiji Press v.v..
Năm nay Anh 49 tuổi (1975), chào đời
tại Sài G̣n, tốt nghiệp cao đẳng Luật Khoa và Lịch Sử ở trường
Đại Học Hà Nội. Với những tác phẩm nghiên cứu và phóng sự của ḿnh,
anh được xếp vào một trong những chuyên viên giỏi nhất hiện nay về
những vấn đề Á Châu. Anh là Tổng thơ kư của Viện Nga- Hoa.
Là một người từng chịu
trách nhiệm một toán vũ trang kháng chiến, hoạt động phía sau chiến tuyến
của Nhật, anh trở thành một Biệt Kích Dù từ năm 1945 đến 1954, trốn
khỏi một trại cải tạo Việt Minh, hai lần bị thương, Pierre Darcourt
là một trong những nhà báo rất hiếm đă được sống từ lúc khởi
đầu cho đến hồi kết cuộc của một cuộc chiến dài nhất
thế kỷ', qua tất cả các giai đoạn lịch sử của nó.
Nhà xuất bản Albatros 14, đường
l'Armorique - Paris 15 ème Điện thoại : 306.
20.27
THAY LỜI TỰA
Vào năm 1994, nhơn dịp sang South
Adelaide (Úc Châu), tôi mới có cơ hội lên tận thủ đô Canberra, để gặp lại
anh Lê văn Thành, người đă từng là Tùy Viên Quân Sự của Ṭa Đại Sứ
Việt Nam Cộng Ḥa tại Úc Châu trước 1975.
Anh Thành là người bạn đồng
khóa, cùng một Trung Đội, và cùng nằm chung một pḥng với tôi ở trường
Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt (tên cũ), khóa 5 Hoàng Diệu 1950-1951. Anh đă trao cho tôi quyển
"VietNam, Qu'as tu fait de tes fils" và
bảo tôi phải dịch cuốn sách nầy v́ theo nhận xét của anh th́ "nó hay quá, Sáu Nhỏ
ơi"!
Chỉ đơn giản có mấy
lời tâm t́nh của người bạn như thế thôi, mà tôi đă say mê đọc cuốn
sách này trong suốt hai tuần lễ và khi trở về đến Hoa Kỳ, tôi quyết định
phải dịch ngay nó sang tiếng Việt đúng như anh bạn Thành của tôi đă mong
muốn v́ quả thật cuốn sách nầy đă chẳng những "quá hay" mà nó c̣n "quá quư"
nữa. Quá hay, v́ tuy đă từng là sĩ quan tác chiến trong binh chủng Nhảy Dù
của quân Đội Liên Hiệp Pháp thời 1945-1954 ở Việt Nam, nhờ đó tác giả
có đầy đủ khả năng và kinh nghiệm trong nhiệm vụ phóng viên chiến
trường, nhưng không v́ thế mà mất đi tánh cách hoàn toàn khách quan trong vai một nhân
chứng lịch sử, rất sáng suốt và vô tư đối với tất cả mọi
diễn biến ngoại giao, chánh trị, và quân sự của cộng sản Bắc Việt
trong suốt chiều dài của cuộc chiến ở Việt Nam từ trước biến
cố 1945 cho đến ngày bộ đội cộng sản Miền Bắc tràn vào thủ
đô Sài G̣n trong chiến dịch Hồ chí Minh, hoàn tất kế hoạch xâm chiếm Miền
Nam Việt Nam bằng vơ lực ngày 30/4/1975, theo lệnh của các quan thầy Liên Xô và Trung
Cộng.
Quá hay, v́
trong từng chương, từng trang, từng mục, từng đoạn, từng hàng của
quyển sách, tác giả đă mô tả và tường thuật thật chính xác thật sống
động và thật đầy đủ tất cả những ǵ đă xảy ra trên từng
giai đoạn vận động ngoại giao, cũng như trên từng giai đoạn xâm
nhập vào Miền Nam và từng bước đường hành quân xâm lược của
bộ đội cộng sản Bắc Việt , theo đúng ư đồ và sách lược
của Cộng Sản Quốc Tế mà cộng sản Việt Nam chỉ là một đội
quân tiền phong tay sai của họ không hơn không kém.. Quá hay v́ tác giả đă phân tích
và đánh giá rất đứng đắn và thật vô tư giá trị và tinh thần của
Quân Cán Chính Miền Nam Việt Nam, trong nhiệm vụ ___________chống cộng, tự vệ
để cứu nước và giữ nước, nhất là đă theo dơi sát sao từng
ngày, từng giờ mọi diễn
biến trên chiến trường cũng như trên chính trường trong những ngày dầu
sôi lửa bỏng của tháng Tư năm 1975.
Quá hay, v́
tác giả đă tận mắt thấy được, sờ được, thông cảm
được, và nói lên được cho cả thế giới biết hoàn cảnh bi đát
và tâm trạng thống khổ của hàng triệu người dân lành vô tội đang trốn
chạy quân xâm lược, vô t́nh làm bia cho bộ đội chánh quy cộng sản đang
cố ư tàn sát họ không nương tay bằng đủ mọi loại vũ khí tối
tân của Liên Xô, Trung Cộng và khối cộng sản, bất chấp t́nh "đồng bào
ruột thịt" mà họ thường lớn tiếng rêu rao, thẳng tay tàn sát người
dân Miền Nam Việt Nam trên khắp mọi nẽo đường của đất nước,
từ Đại lộ Kinh Hoàng ở Quảng Trị Thừa Thiên cho đến Tỉnh Lộ
7 của tử thần từ Kontum, Pleiku (Cao nguyên) đến Qui Nhơn, Nha Trang,...
Rất quư, v́ đây là một tài liệu lịch sử rất chính xác và khách quan từ một kư
giả ngoại quốc, mà sau nầy cộng sản Việt Nam không thể bẻ cong lịch
sử được để ḥng chạy khỏi tội với dân tộc Việt Nam ,
v́ tài liệu nầy đă nói lên rơ ràng về sự kiện Cộng sản Bắc Việt
đă ngang nhiên xé bỏ "Hiệp Định Ba Lê 1973 Về Ngừng Bắn Và Lập Lại
Ḥa B́nh Ở Việt Nam" mà họ vừa kư kết chưa ráo mực, để b́nh tĩnh
xua quân đội chánh quy của họ công khai xâm chiếm Miền Nam Việt Nam theo lệnh
của Quốc Tế Đệ Tam Cộng Sản, để tàn sát dă man , không gớm tay đồng
bào "ruột thịt" của ḿnh.
Rất Quư , v́ quyển sách nầy là một chứng tích lịch sử đă hùng hồn minh xác thật
rơ ràng với thế giới (và nhất là đối với 13 quốc gia đă long trọng
đặt bút kư vào Hiệp Định Ba Lê 1973) rằng "Chính Cộng sản Bắc Việt
mới thật sự là kẻ xăm lăng. Và Miền Nam
Việt Nam chỉ là một
nạn nhân phải ở trong thế phải chiến đấu để tự vệ mà
thôi "
Do vậy, chúng tôi xin trân trọng giới
thiệu với đồng bào Việt Nam đang tỵ
nạn cộng sản ở hải ngoại : quyển "Mẹ Việt Nam Ơi! Dân Ta Có Tội T́nh Ǵ? được chúng tôi chuyển
ngữ từ quyển sách tiếng Pháp:"Việt Nam, Qu'as tu fait de tes fils" của tác giả Pierre
Darcourt, để chúng ta cùng nh́n rơ được bộ mặt thật gian manh, tàn ác, và trơ
trẻn của bọn cộng sản xâm lược Miền Bắc khi các mặt nạ của
họ mang sáo ngữ "giải phóng đất nước", "giải phóng dân tộc" hay "chống
Mỹ cứu nước" hoặc "giải phóng đồng bào "ruột thịt" của chúng
ta ở Miền Nam đang sống đói khổ dưới sự bốc lột tàn tệ
của Mỹ Ngụy" đều bị rơi xuống hết sau ngày 30 tháng Tư, năm
1975!
Dương hiếu Nghĩa
CHƯƠNG MỘT
MỘT NĂM SỬU THUẬN LỢI
Một
không khí yên lặng hết sức lạ lùng và kinh ngạc đang đè nặng trên cánh đồng
rừng nầy của Miền Nam Việt Nam.
Vào lúc 8 giờ sáng ngày thứ bảy
27 tháng giêng năm 1973, cuộc chiến dài nhất thế kỷ (từ hai mươi
tám năm nay) trên nguyên tắc coi như được chấm dứt.
Tôi đă chứng kiến cuộc chiến
nầy một buổi chiều tháng chạp năm 1946 trên những con đường âm u
của Hà Nội, những con đường đầy âm thanh vang dội của những
tiếng nổ, của những loạt súng đại liên và những tiếng reo ḥ của
những Tự Vệ Quân (dân quân của Vơ nguyên Giáp) đang tấn công vào các khu vực của
người Pháp.
Cũng có thể tôi đă nghe thấy
được cuộc chiến nầy chấm dứt ở một nơi nào đó cách Sài
G̣n khoảng 2 giờ lái xe, lúc tôi đang ẩn náu trong một lô cốt ở Đèo Chuối,
trên đường đi Dà Lạt. Tôi đă cùng uống chung một lon bia với một hạ
sĩ quan thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa c̣n rất trẻ, có thể anh nầy
chưa chào đời khi cuộc chiến bùng nổ.
Cái tiền đồn nơi tôi đang
có mặt bị bắn phá suốt đêm bằng hỏa tiễn và súng cối. Khẩu đại
liên nặng ngay trên lô cốt đă bắn suốt mấy giờ liền.. Mùi thuốc súng
nồng nặc đưa lên tận cổ họng đến tôi phải bị ho. Những
tiếng nổ đă làm cho tôi điếc cả tai. Đạn pháo binh yểm trợ rơi
xuống chung quanh đồn với những tiếng nổ ngắn và kinh hồn làm cho mặt
đất phải rung rinh. Đến sáng th́ tất cả tiếng súng mới im bặt Ngoài
trờI ánh nắng ửng hồng đang lên chậm chạp trong làn sương mù. Sương
ướt c̣n đọng trên các tàng cây to và băi cỏ. NgườI chết cuối cùng của
trận chiến cuối cùng nầy đang nằm oằn oại không c̣n nguyên vẹn trong
một hố bom, đó là thây của một đặc công Việt Cộng . Những người
Thượng mang gùi trên lưng, thân đen đúa gần như trần truồng trong mănh vải
thô sơ, đang đi xuống chợ.
Cuộc chiến ở Đông Dương
đă thực sự chấm dứt hay chưa ? Dù muốn đù không, trên trận tuyến
mà hai bên đang đối diện nhau th́ cuộc chiến dai dẳng coi như được
chấm dứt mà không giải quyết được ǵ cả, chỉ để lại cho
các chiến binh đang nằm giữ chiến tuyến của ḿnh một hương vị
chua chát của một trận chiến mà không có một chút lợi ích nào hết . Đây là
một cuộc chiến duy nhất trong lịch sử mà chưa từng thấy có một
chiến thắng
quyết định nào, dù rằng cả
hai bên của chiến tuyến bên nào cũng không ngớt lớn tiếng rêu rao là ḿnh đă
thắng trận.
Trọng lượng số bom đạn
được dùng trong cuộc tranh chấp nầy đă vượt hẳn trọng lượng
số bom đạn của tất cả các cuộc chiến tranh trước đây cộng
gộp lại. Cuộc chiến nầy cũng được hai bên áp dụng tất cả
các h́nh thức kỹ thuật tác chiến từ tân tiến đến cổ điển.
Và cuộc chiến nầy cũng là băi chiến trường điện tử đầu
tiên . Các hỏa tiển đầu tiên có đầu đạn được hướng
dẫn đă được xử dụng trong những điều kiện thật trong tác
chiến. Cho tới bây giờ người ta chưa từng thấy có một sự tập
trung nào quá nhiều ch́ến cụ có khả
năng hủy diệt trong một thế
đất nhỏ hẹp như thế, và ở đó đôi khi những vũ khí thô sơ
nhất lại làm cho những trang thiết bị tinh vi hơn phải thất bại.
Một bên th́ có những quả bom tinh
khôn (laser) tự động điều chỉnh, những hỏa tiễn với đầu
đạn biết t́m kiếm mục tiêu và những phi cơ vận tải khổng lồ....
C̣n bên kia th́ có từ những "bẫy cọp" bằng tre vót nhọn và những ḍng người
khuân vác đẩy xe thồ, những thùng quân vật dụng thả trôi theo ḍng nước
từ thượng nguồn và được vớt lên ở các lưới thép căng ở
hạ lưu cách đó cả 50 cây số ngàn .... đến những đoàn xe vận tải
nặng Molotova, những xe tăng lội nước, và những trạm "tên lửa" dấu
kín răi rác trong rừng bụi. Những cuộc tàn sát được b́nh tĩnh chọn lựa
trước và được lạnh lùng lên chương tŕnh trong máy điện toán... và những
vụ giết người bằng mă tấu kèm theo hành động cắt xẻo tay chân hết
sức ghê rợn ... nói chung.
Cuộc chiến nầy cũng có đủ
mọi h́nh thức kỹ thuật về mặt hạn chế tầm sát hại của vũ
khí, và những hạn chế nầy có thể c̣n gây ra nhiều mất mát về chiến cụ
và nhân mạng hơn nữa không chừng. Cuộc tranh chấp nầy được phát triển
ra vừa như một cuộc nội chiến vừa là một cuộc đối đầu
quốc tế, ở đó các siêu cường có chỗ để thí nghiệm các loại
vũ khí và chiến cụ tối tân nhất cũng như những chiến thuật chiến
lược tân tiến nhất của ḿnh.
Tuyên Truyền và Thông Tin đă giữ
một vai tṛ quyết định. Qua truyền h́nh, chiến sự đă đến được
khắp nơi trên thế giới; những h́nh ảnh đẫm máu và rất bi thảm của
cuộc chiến được chiếu đến tận những nơi yên tĩnh nhất
và được bảo vệ chặt chẽ nhất, đă làm rung động cả nước
Mỹ, chia rẽ dư luận Mỹ, gây sự chống đối trong giới báo chí, đă
gây ra nhiều cuộc biểu t́nh phản chiến, chống đối đến man rợ,
và gây ra một ư niệm xấu cho tất cả các nước văn minh nhất trên thế
giới.
Hoa Kỳ đă nhảy vào cuộc chiến
mà không có một lời tuyên chiến trước và đă tung ra một lực lượng
quân sự khá quan trọng . Đùng một cái, trong lúc các phi hành gia của họ đang tản
bộ trên cung trăng, họ mới khám phá ra là đă từ lâu họ bị rơi vào một
cái bẫy mă tấu và đang bị sa lầy, nên họ quyết định bằng mọi
giá phải cố gắng thoát ra khỏi vũng śnh mà không bị mất uy tín.
Vào năm 1969, trong đợt rút quân
đầu tiên, môt anh lính c̣n trẻ thuộc lực lượng Thủy Quân Lục Chiến
Mỹ đă mỉa mai cao giọng đề nghị một cách vô liêm sỉ : " Tại sao
chúng ta không tuyên bố một cách giản dị là chúng ta đă thắng trận rồi, và
nước Việt Nam đă hoàn toàn được b́nh định xong, nên chúng ta đi về
nhà !"
Việc đă xảy ra sau đó đă
cho thấy chú lính thủy nầy đă nói một câu gần như tiên tri, bởi v́ phần
chánh yếu đă được làm y như thế.
Cuộc chiến ở Đông Dương
là cuộc chiến đầu tiên mà các trực thăng đă có một vai tṛ quyết định
trong tác chiến. Vào một lúc nào đó người ta đă tung ra đến 5000 chiếc trực
thăng trên không phận Miền Nam Việt Nam, đưa lực lượng Bộ Binh Hoa
Kỳ lên hàng thứ ba của Không Lực thế giới, sau Không Lực Hoa Kỳ và Không Lực
Liên Xô.
Trong thời gian tám năm rưỡi
tham chiến của Hoa Kỳ, cộng sản Việt Nam
đă tung ra hai cuộc tấn công lớn mà họ tin tưởng đây là những trận
chiến có tính cách quyết định. Đó là cuộc "tổng công kích Tết Mậu Thân
(1968) và cuộc xăm lăng chớp nhoáng mùa xuân 1972.
Lực lượng Hoa Kỳ và QLVNCH
đă khởi xướng hai cuộc phản công: tấn công qua biên giới Cam Bốt và hành
quân qua lănh thổ Lào.
Từng được coi là người
đă chiến thắng trong trận chiến Điện biên Phủ, tướng Vơ nguyên Giáp
cũng chỉ gặt được sự thất bại hoàn toàn trong cả 3 lănh vực
mà ông ta cố gắng muốn thực hiện. Đó là : sự nổi dậy ở dân chúng
của các đô thị ở Miền Nam,
chiến tranh du kích, và chiến tranh quy ước. Nhưng vớI hành động vừa dấu
kín số tử thương, vừa rút nhanh đám tàn quân về để kín đào bổ
sung cho các đơn vị trong các khu rừng rậm trên đất Lào và trên dăy Trường
Sơn, ông ta đă khôn khéo làm cho địch quân tưởng rằng quân cộng sàn đă thắng
trận.
Cả Hoa Kỳ và VNCH chỉ thu lượm
có 50% chiến thắng: v́ bị giới hạn trong không gian và thời gian nên các cuộc hành
quân không được phép thọc sâu hay mở rộng đúng mức để khai thác tối
đa các thành quả chiến thắng được .
Về phía Hoa Kỳ, trong suốt chiều
dài của cuộc chiến người binh sĩ của họ chưa bao giờ được
thông báo đúng mức mọi sự kiện dù là nhỏ nhất, nhưng lại thường
được thông báo hết sức sai lạc về những lư do thật sự của
cuộc chiến.
Trái lại, về phía cộng sản,
chưa bao giờ cán binh của họ lại không được giải thích cặn kẻ
lư do của cuộc chiến hay được thông báo sai lạc về mọi diễn tiến
đă xảy ra.
Khi rút quân, người Mỹ vẫn
đinh ninh rằng họ đă làm tṛn lời cam kết "trong danh dự". Họ đă phải
chi ra hơn hai trăm tỷ mỹ kim cho cuộc chiến và mất đi 58.000 người
tử trận (gồm cả khoảng 10.000 chết v́ tai nạn linh tinh, từ tai nạn
lưu thông đến bất cẩn trong việc xử dụng súng đạn)
Cộng sản Bắc Việt đă
tàn phá hết đất nước Việt Nam của họ, đâu đâu cũng thấy
nhà tan cửa nát, và họ đă mất đi trên 1 triệu người chết, mà không đạt
được mục tiêu mà họ đă đề ra. Những cán binh (Việt Cộng) mà
họ gài vào Miền Nam chỉ sống lẩn lút trong rừng thiêng nước độc
hay trong bưng biền śnh lầy, sống xa quần chúng.
Quân dân Miền Nam chiến đấu để bảo tồn sự toàn
vẹn lănh thổ của họ. Họ nh́n thấy đất nước của họ bị
phân chia, và Chánh Phủ của họ được thành lập qua các cuộc bầu cử
có sự kiểm soát từ bên ngoài. Họ giữ vững những thành phố hùng mạnh
và thịnh vượng, kiểm soát 85% dân chúng, nhưng họ có một tổng kết cũng
nặng lắm: 600.000 quân và dân chết trận, và 1 triệu ngườI tỵ nạn chánh
trị . Và thật sự không thấy giải quyết được ǵ hết.
Những ai trong chúng ta người nào
đă từng bị "dính líu" vào cuộc chiến nầy ngay từ đầu cho đến
khi tàn cuộc th́ sẽ giữ măi những ấn tượng sâu sắc về những h́nh
ảnh đau thưong khủng khiếp mà họ không bao giờ quên :
- H́nh ảnh lúc khui những mồ chôn
tập thể ở Hué, sau những cuộc tàn sát ghê rợn hồi Tết Mậu Thân (1968);
- Quang cảnh những đường sá hoang vắng dưới lằn lửa đạn;
- Những tù binh cộng sản nhớn nhác và đang bị đánh bom mặt mủi và đầu
óc như nổ tung ra..; - Những phi công Mỹ ngơ ngác tay đưa lên trời bị đưa
đi diễu hành quanh thành phố Hà Nội dưới ánh đèn chớp của các phóng viên
báo chí, mắt cụp xuống dưới những tiếng ḥ reo và những nắm tay giận
dữ của quần chúng ; - Những xác chết của Việt Cộng śnh lên to tướng
v́ bị liên thanh điện bắn hạ như những con mồi của thợ săn,
nhưng là con người; - Những cơn địa chấn tàn phá có tánh cách hủy diệt
của các pháo đài bay B.52, những cái nh́n sợ hăi, ngạc nhiên và không thể chịu nổi
của những trẻ mồ côi.... Những thị trấn xa xôi hẻo lánh như Pleime, Dak
To, Khe Sanh, AnLộc... từng bị bỏ quên trong những cánh rừng đèo heo hút gió nhất,
ở giữa những rừng tre hay vườn cao su bạt ngàn, nằm chơi vơi giữa
các ngọn đồi đất đỏ hoang vu... đột nhiên đă trở thành nổi
tiếng trong một đêm nào đó, và rồi giờ đây lại bị ch́m trong quên lăng
trong thời điểm mà tất cả h́nh như đang đến hồi kết thúc.
Đă có rất nhiều kỷ niệm
và luận cứ hiện ra trong trí tôi. Tôi thực sự đă sống với quá nhiều biến
cố, với khá nhiều trận chiến hay bị vây hăm, từng đi theo quá nhiều vơng
cáng trên mảnh đất đầy tang chế và đầy rẫy thây ma nầy. Có lẻ
tôi phải viết khoảng 20 quyển sách để giải thích những ǵ tôi đă chứng
kiến và đă t́m hiểu. Tôi có thể nói về người Nhật (tôi đă chiến đấu
chống Nhật), về các trận chiến ở Hà Nội, Lạng Sơn, hay ở Huế,
về những phụ nữ người Pháp bị hăm hiếp, bị nhục h́nh hay bị
chế dầu và thiêu sống trên vỉa hè của cư xá Jauréguiberry ..... Để làm ǵ ?
Tât cả đều đă thuộc về dĩ văng xa xôi quá rồi. Trong lúc đang có nhiều
người chết và nhiều tấn thảm kịch rất gần đây...
Tôi nghĩ đến 3 người
bạn của tôi, ba người chuyên viên quay phim: - Larry Burrows, một người Anh trầm
tĩnh đến lạnh lùng, thẳng tánh và gan ĺ, thích chạy như bay đến trước
các trái bom rồi nằm ngửa ra để được nh́n thấy nó rơi xuống
và chụp ảnh khi bom nổ. - Huer, một người Pháp không bao giờ biết mệt
mỏi là ǵ, b́nh tĩnh và bướng bỉnh, từng được giải thưởng
Capa. - Shimamoto, một người Nhật, mềm dẻo nhưng gân guốc, đa nghi và tự
hào như một vơ sĩ đạo.
Chiếc trực thăng chở họ
bị đâm vào núi, cháy ở vài trăm thước cách cánh quân mà tôi đang đi theo, trên
đất Lào. Không có một ai đến t́m được họ và xác họ được
chôn vùi trong chiếc quan tài bằng sắt bẹp dúm dưới cành lá sum sê của cánh rừng
bát ngát thích ăn thịt ngườI !.
Tôi nghĩ tới cuộc bắn giết
ở Mỹ Lai với những bức ảnh ghê rợn của nó : 40 phụ nữ và trẻ
em bị hành quyết, thân xác đầy vết đạn nằm ngổn ngang chết chung
với nhau. Hoa Kỳ đă cho thụ lư hồ sơ và truy tố ra ṭa án binh trung úy Calley, một
sĩ quan xấu xí tráng vồ và ngoan cố.
Nhưng có ai bị khởi tố về
một vụ tàn sát tập thể cả một làng người Thượng ở Dakson đâu
? Tôi đă đi xuyên qua làng nầy, một tiểu đoàn Việt Cộng đă tàn sát và tàn
phá cả một ngôi làng bởi v́ dân chúng trong làng nầy không ai chịu theo cộng sản,
chân tôi bước đi qua những đống tro tàn c̣n ấm , ngập đến tận
mắt cá , tro của các nhà tranh mà cộng sản đă đốt sạch bằng súng phun
lửa của họ. 250 thi hài của đồng bào Thượng nằm rải rác khắp
mọi nơi trên mặt đất, c̣n âm ỉ cháy nóng, trong đó có 103 trẻ em. Thật
là một cảnh tượng ghê rợn, tàn ác, không thể chịu nổi, cảnh các tử
thi śnh lên rồi bị nướng phồng lên dưới ánh nắng mặt trời, tương
tự như những con heo quay có đầu người .
Có những ai trong chúng ta lúc có mặt
ở quanh vĩ tuyến 17 vào mùa xuân năm 1972, mà có thể loại bỏ được
khỏi trí nhớ những h́nh ảnh của cơn ác mộng trên con lộ Quảng Trị
? Pháo binh của Cộng sản Bắc Việt đă tập trung hỏa lực vào hàng hàng
lớp lớp người dân tỵ nạn đang chạy loạn về Hué : những trái
đạn đă cày lên đám đông dân chúng kinh hoàng rất có phương pháp, đánh nát và
lật qua lật lại các sọ người và các thi thể đàn bà và trẻ con, như
các cục đất vậy. Đă có đến 20.000 người chết trên một khoảng
đường tráng nhựa chỉ dài có 40 cây số ngàn : Mặt đuờng không c̣n màu đen
của nhựa nữa mà được trét lên một lớp máu đỏ đă đen sạm
v́ máu đă khô lại.... (chú thích của người dịch: đó là đoạn Quốc Lộ
1 được mang tên là :Đại lộ kinh hoàng)
Từ Đèo Chuối, tôi đi lần
xuống một làng lớn ở Gia Kiệm. Ở đây dân tỵ nạn người Bắc
đang rong chơi ngoài đường. Trong một quán cà phê nhỏ, ngồi bên tô phở nóng,
những người thợ rừng đang vừa ăn vừa nghe xướng ngôn viên của
đài Tiếng Nói Hoa Kỳ ca tụng sự "ngừng bắn" với một niềm vui lây
của một b́nh luận gia trận đấu bóng chày. Tại Tân sơn Nhứt, các phi công
trực thăng và phi cơ săn giặc Phantoms trong bộ đồ bay kỵ lửa, vứt
cao các mũ lên trời, vui vẻ vỗ lưng nhau, chuyền tay nhau một chai cognac và cứ
thế uống cạn hết chai vừa cười vừa hét vang : "hết rồi, anh em
ơi ! chúng ta sẽ được về nhà rồi ".
Ngay tại Sài G̣n khi đồng hồ
vừa gơ 8 tiếng, tất cả moi hoạt động đều ngừng lại, lưu
thông dừng hẳn lại, mọi người đứng yên lặng trong khi các binh sĩ
đứng nghiêm, Miền Nam Việt Nam dành một phút mặc niệm cho một số lớn
chiến sĩ đă bỏ ḿnh trong chiến cuộc. Sau phút mặc niệm, các chuông nhà thờ
đổ liên hồi trên khắp thủ đô Miền Nam Việt Nam . Cùng một lúc đó có tiếng vọng xa xăm của
sự biểu lộ ồn ào nầy, các thành phố lớn của Hoa Kỳ cũng đă
sống trong những phát súng mừng ṛn ră, và theo một bản tin của thông tấn xă Tass
th́ Hà Nội mừng rở treo cờ trong một bầu không khí hoan lạc. Và Tổng Thống
Nixon trong một thông điệp gởi cho quốc dân đă mở đầu bằng những
chữ nói lên dư luận chung của tất cả mọi người có thiện chí : Một
kỷ nguyên ḥa b́nh mới đang bắt đầu cho nhân loại ".
Một người thợ rừng
bước đến gần chiếc máy truyền thanh, đặt trên một cái kệ, vừa
đưa tay vặn tắt chiếc máy vừa lầm bầm khó chịu : " Ông Nixon cứ
đến đây rồi hẳn nói !, Con đường từ Sài G̣n lên đây đă bị
cắt đứt gần ba chục cây số, và có trên mười xe vận tải đă bị
giật ḿn. "
Tôi phải chờ 48 tiếng đồng
hồ mới về đến được thủ đô Sài G̣n của Miền Nam Việt
Nam. Quốc lộ đă được
mở lại sau nhiều trận đánh nhau ác liệt, dọc theo đường c̣n rải
rác tử thi và xác xe cháy mà xe ủi đang dọn dẹp.
Ở Sài G̣n hàng trăm phụ nữ
trầm lặng và nghiêm trang tay bưng lễ vật như một đám rước đi
vào chùa Vĩnh Nghiêm đầy hoa và cờ xí ở ngay trung tâm thành phố. Trong nhà thờ Chánh
Ṭa tường gạch đỏ thẳm, hàng ngàn tín đồ công giáo chen chúc nhau quỳ dự
thánh lễ lớn.
Các Phật tử và tín đồ Công
giáo theo lời kêu gọi của các Sư và các Cha sở của ḿnh, đă tổ chức một
ngày cầu nguyện cho ḥa b́nh, mà theo bản văn của lời kêu gọi là một "nền
ḥa b́nh không phải của Nga Sô Viết, cũng không phải của Trung Cộng hay của
Hoa Kỳ mà là một nền ḥa b́nh của Việt Nam. một nền ḥa b́nh cho những người
tự do, công bằng và trong t́nh anh em, ḥa giải giữa dân tộc với nhau, vừa t́m lại
được trên đất nước của minh " Trước thềm năm mới
(âm lịch), một năm Sửu thuận lợi, đó là một lời chúc tốt đẹp
nhất.... Nhưng than ôi, những lời chúc tụng luôn luôn không bao giờ được
thỏa măn. Các trận đánh xảy ra gần như khắp mọI nơi. Tại Tây Ninh,
thánh địa của đạo Cao Đài, sau 30 giờ tấn kích,một trung đoàn quân
Bắc Việt đă rút lui để lại 300 xác chết ở vùng ngoại ô của thị
xă. Tại Sa Huỳnh, một hải cảng đánh cá nhỏ dưới chân dăy Trường
Sơn, có sự đụng độ ác liệt của hai sư đoàn Miền Nam Việt
Nam; tại Đồng bằng sông Cửu Long, ở ven Đồng Tháp Mười và ở
rừng U minh; trên Cao Nguyên Trung Phần, chung quanh đồn Ben Het của Biệt động
quân.
Ba trăm ba mươi bốn (334) trận
tấn công của cộng sản vào lănh thổ của Miền Nam Việt Nam được ghi nhận ngay trong 2 ngày sau khi Hiệp Định
Ngừng Bắn Paris ngày 27/1/ 1973 được chính thức công bố....
Nền ḥa b́nh ở Việt Nam vẫn chỉ c̣n là một ảo vọng!
CHƯƠNG HAI
HÀ NỘI ĐÁNH PHÁ UY TÍN CỦA SÀI
G̉N
- "Là một người Việt Nam
, tôi đă có biết qua cách xử sự của ông Henry Kissinger trước họ rồi ,
nên tôi nói chuyện đó cho cả người Do Thái và người Ai Cập biết là : "
Hăy coi chừng phương pháp của ông ta, nguy hiểm lắm, nó không giải quyết được
bài toán nào hết mà nó chỉ có né tránh vấn đề thôi".
Chúng ta đang ở vào tháng hai năm
1975 . Sự cảnh cáo nầy đáng được lưu ư lắm - v́ đó là lời nói
của ông Thiệu - một người không thiếu kinh nghiệm chút nào: năm 1972, ông đụng
nhẹ với một ông Kissinger đang nóng ḷng muốn chấm dứt cuợc chiến ở
Đông Dương. Nhận xét của ông Thiệu thấy có vẻ hơi nghiêm khắc, và
một phần v́ mối hận của một nguyên thủ quốc gia đang bị gài vào
quá nhiều khó khăn to lớn.
Nhưng sau hai năm thi hành ‘’Ngừng
Bắn’’ vẫn không c̣n một ảo tưởng nào nữa ! Trên lư thuyết, cuộc
chiến lẽ ra phải được chấm dứt sau khi Hiệp Định Paris tháng giêng năm 1973 được kỳ kết,
nhưng chiến cuộc không bao giờ chấm dứt. Nó vẫn được tiếp tục
và thường xuyên gây ra hằng trăm người chết mỗi ngày, và trong hai năm liền
như vậy phải có hơn 150.000 nạn nhân. Và chiến cuộc nầy không nghiêng phần
thắng lợi chút nào về phía các đồng minh của Hoa Kỳ. Ở Cam Bốt, Khờ
Me Đỏ chận sông Cửu Long, cắt đứt đường lưu thông không cho các
đoàn ghe tàu tiếp tế cho thủ đô Pnom Penh, đang bị bao vây và bị bắn hỏa
tiển vào hằng ngày. Thủ đô nây vẫn c̣n sống được là nhờ một
cây cầu Không Vận của Không Lực Hoa Kỳ.
Ở Miền Nam Việt Nam, lần
đầu tiên cán cân quân sự nghiêng về phía cộng sản.Một nhà ngoại giao Nam Hàn
làm việc tại Sài G̣n đă nói lên một cách tức giận: ‘’Nền ḥa b́nh
trong danh dự của ông Nixon hả ? - Nó chỉ là một sự gian lận dị thường
của thế kỷ mà thôi !’’
Thật vậy, đến ngày nay h́nh như
sau bốn năm và mười tháng thương thuyết hết sức vất vả và chán
chường, Hiệp Định Paris chỉ
là một sự mua bán hớ, hớ quá lớn mà thôi. Nhưng ai mới thật sự có trách
nhiệm về sự phá sản của Hiệp Định nầy ? Hoa thạnh Đốn
hay Hà Nội ?
Muốn đánh giá trách nhiệm của
Hoa Kỳ và của Bắc Việt, th́ phải trở lùi lại một ít về dĩ văng,
và trước hết phải thử t́m hiểu xem tại sao và bằng cách nào mà hai đối
thủ đó đi đến chỗ phải kư vào Hiệp Định Paris .
Vào cuối tháng ba năm 1972, Hà Nội
tung ra một cuộc tấn công dữ dội vào Miền Nam Việt Nam bằng các sư đoàn
thiện chiến của họ với sự yễm trợ của một lực lượng
pháo binh phi thường và 700 chiến xa với gần 3000 bộ đội xe tăng vừa
được huấn luyện xong 5 tháng thực tập ở trường Thiết Giáp Odessa
bên Liên Xô. Sau vài thất bại liên tiếp ở địa phương lúc bắt đầu
cuộc chạm trán, và mặc dầu có những sự tiên đoán bi quan nhất,
Quân lực Miền Nam vẫn không bị sụp đổ. Họ vẫn giữ
vững phần lănh thổ của họ một cách đáng khen. Khả năng tác chiến
của họ được củng cố rất vững mạnh.Trong ṿng 3 tháng (từ tháng
5 đến tháng 7) 84.000 tân binh đă hoàn tất thời gian thụ huấn và đă kịp
thời bổ sung đày đủ cho các đơn vị bị tổn thất. Sài G̣n thu
nhận quá nhiều tân binh t́nh nguyện cho các đơn vị tinh nhuệ - Hải Quân, Nhảy
Dù và Biệt Động Quân- đến đỗi Chánh Phủ phải cho ngưng phần
trưng binh. Hoa Kỳ đă cung cấp một hỏa lực yễm trợ rất hùng hậu.
Được gởi đến từ Hoa Kỳ để xung vào trận chiến có các đơn
vị chuyên viên Mỹ trang bị hỏa tiễn chống tăng TOWS và các trực thăng
vơ trang ‘’Cobra’’ sát thủ rất đáng sợ của chiến xa địch.
Không Lực Hoa Kỳ xử dụng các loại ‘’bom tinh khôn’’ được
hướng dẫn bằng ‘’laser’’ hoặc bằng một hệ thống
máy ảnh truyền h́nh được gắn thẳng vào đầu bom, nên đă đem lại
một sự can thiệp hết sức chính xác và thật hữu hiệu hơn bao giờ
hết.
Ngày 8 tháng 5, TT Nixon đă cho thả ḿn
phong tỏa tất cả các hải cảng Bắc Việt . Từ ngày 18 đến 29 tháng
12, Không Quân Chiến Lược Hoa Kỳ dội bom Hà Nội và Hải Pḥng . Đến ngày
thứ 9 của chiến dịch không tập ngắn ngủi nhưng rất dữ dội
nầy, tất cả hệ thống pḥng không Bắc Việt đều bị sụp đổ.
Tất cả các vị trí ‘’ra đa’’ đều bị triệt tiêu, các sự
liên lạc vô tuyến điện thoại hoàn toàn bị rối loạn. Mọi sự cố
gắng để bổ sung hay thay thế 1.200 hỏa tiển SAM được bắn đi
trong ṿng 8 ngày qua trên thực tế đều được coi như không thể thực
hiện được v́ số hỏa tiển dự trữ đă cạn mà các hải cảng
th́ đă bị khóa chặt. Đến đỗi trong hai ngày chót của cuộc không tập,
không có một B.52 nào bị bắn hạ. Và giả sử như cuộc không tập không được
chấm dứt ngày 29 tháng 12 th́ gần như có thể các pháo đài bay của Hoa Kỳ đă
san bằng Miền Bắc và có thể Bắc Việt bị hành tội thế nào cũng được
.
Một chi tiết rất có ư nghĩa:
Trong suốt thời gian Hoa Kỳ leo thang trừng phạt Hà NộI, về phía Mạc tư
Khoa không nghe thấy có một lời chỉ trích hay một tiếng phản đối nào
! Trên trận địa, sự tấn công của Bắc Việt bị bẻ găy. Trong 40 tỉnh
thị của Miền Nam không có một nơi nào bị cộng sản Bắc Việt chiếm
giữ được, trừ tỉnh Quảng Trị, mà các đơn vị nhảy dù của
Miền Nam đă tái chiếm lại sau 6 tuần lễ tác chiến đẫm máu.
Vào lúc mà TT Nixon cho ngưng cuộc không
tập ở Bắc Việt , không có một ai c̣n có thể nghi ngờ về thế thượng
phong của Hoa Kỳ trên bàn hội nghị. Nhưng trên thực tế, sự phản đối
của dư luận ở Hoa Kỳ càng ngày càng tăng, và áp lực của Quốc Hội
Hoa Kỳ đă buộc ông Nixon phải cho ngưng ngay hành động của Không quân chiến
lược, và v́ thế mà ông Nixon không khai thác được lợi thế của ông ta trên
bàn hội nghị. Do đó ông không thể có được một sự nhượng bộ
nào của phía Bắc Việt để có thể thực sự chấm dứt được
chiến cuộc. Đó là: Bắc Việt phải rút hết quân số các sư đoàn Bắc
Việt đă xâm nhập và đang trú đóng ở Miền Nam
.
Sự thực là hầu hết người
Mỹ bị ảnh hưởng v́ các chiến dịch có hệ thống của báo chí; dân
chúng Mỹ bị xúc động v́ các cuộc biểu t́nh liên tục của các phong trào phản
chiến đ̣i ḥa b́nh; Họ quá mệt mỏi v́ chiến cuộc kéo dài quá lâu mà không chấm
dứt: Họ lo âu v́ không thấy được viễn ảnh của ḥa b́nh, một nền
ḥa b́nh ‘’công bằng và lâu bền’’. Cho nên họ đều mong muốn Hoa
Kỳ nhanh chân rút ra khỏi ‘’vũng lầy Việt Nam’’,
đem các phi công tù binh ở Bắc Việt và tất cả binh sĩ Hoa Kỳ ‘’c̣n
lại ở Miền Nam’’
về nhà cho họ.
Hà Nội thấy rơ chuyện đó.
Không cần đi sâu vào vấn đề, chỉ với một lời ‘’hứa suông’’
là chấm dứt chiến tranh, và đoan chắc là các tù binh Mỹ sẽ được hồi
hương, là bảo đảm Chánh trị Bộ cộng sản Bắc Việt đă nhận
được mọi sự nhượng bộ tối đa của Kissenger rồi.
Việc kư kết Hiệp Định
Paris đă bảo đả_________09m cho Bắc
Việt một loạt lợi thế quan trọng. Thật vậy, Hà Nội đă đạt
được : (1) -một sự nghỉ ngơi tức thời, giúp cho Bắc Việt sửa
chửa mọi thiệt hại lớn lao mà Không Lực Hoa Kỳ đă gây ra cho toàn bộ
hệ thống giao thông và phân phối trong nội địa. (2) - mở lại được
các hải cảng, v́ tất cả các ngỏ vào đều đă bị gài ḿn từ 8 tháng
nay, và do cuộc phong tỏa của Hạm Đội 7 mà mọi tàu bè thuộc khối cộng
sản quốc tế đă bị ngăn cản không vào được hải phận Bắc
Việt (chú thích của tác giả: Hà Nội nhập cảng mỗi năm 1 triệu tấn
ngũ cốc từ các nước thuộc khối cộng sản quốc tế, không kể
thực phẩm khô cho cả quân đội nhan dân) (3) -tất cả các lực lượng
Hoa Kỳ đang ở Miền Nam Việt Nam phải rời khỏi nơi đây trong ṿng
sáu mươi (60) ngày và phải mang theo tất cả mọi chiến cụ. (4) Ngoài ra, Hà Nội
c̣n tự thấy ḿnh được nhận thêm một phần thưởng, nhờ ở
sự công nhận những ‘’lơm da beo’’ rất quư báu, những lănh địa
thực sự nằm trong lănh thổ Miền Nam nhưng không thuộc quyền kiểm soát
của Miền Nam Việt Nam , bao nhiêu lơm là bao nhiêu căn cứ xuất phát cho hành động
quân sự của các đơn vị Bắc Việt trong tương lai.
Trong khi đó, Chánh Phủ Sài G̣n (VNCH)
không được phép đ̣i hỏi một điều ǵ cả. Chánh Phủ nầy chỉ
c̣n biết có một việc phản kháng trong mỗi cơ hội về sự duy tŕ bất
hợp pháp của một ‘’lực lượng xâm lăng cộng sản 170.000 người
ở Miền Nam Việt Nam‘’
Hoa Kỳ, thỏa măn v́ cuối cùng
được nắm trong tay bản văn Hiệp Định về ḥa b́nh ‘’của
ḿnh’’, (nguyên văn của tác giả: ‘’son’’accord de paix), rất lấy
làm thích thú về sự khéo léo của ông Kissinger. Một bản Hiệp Định dù là xấu
vẫn c̣n hơn là không có một bản Hiệp Định nào ? (nhưng thật sự là
một bản dịch khong thiếu một dấu phẩy, từ bản văn tiếng Việt
mà tác giả là cộng sản Bắc Việt: chú thích của người dịch).
Cảm giác khoan khoái mang đến do
sự kư kết ‘’Hiệp Định Ngừng Bắn’’ và sự trở về
như trong chiến thắng của các phi công tù binh, được hoan hô, được
choàng ṿng hoa và tặng quà. . ., lên cao đến độ nếu có ai đó liều lĩnh
nói lên một sự dè dặt tối thiểu nào, đều sẽ thấy mọi người
coi ḿnh như một ‘’thằng chống cộng điên khùng’’.
Thế nhưng chỉ cần nhắc
lại là ‘’Hiệp Định năm 1962 về vấn đề trung lập hóa
nước Lào’’, đối với Bắc Việt không có một lư do nào khác và
không có một kết quả thực dụng nào khác ngoài việc bảo đảm cho họ
được xử dụng đường ṃn Hồ chí Minh, mà nếu không có con đường
nầy th́ Bắc Việt không bao giờ xâm nhập hoàn toàn tự do được các quân
binh chủng của họ vào Miền Nam , để hỗ trợ cho các cuộc tấn công
của bộ đội chánh quy Bắc Việt vào Miền Nam Việt Nam .
Tại Sài G̣n bài toán về quân số
của việc ngừng bắn đă được đặt ra. ‘’ Ủy Ban Quốc
Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn’’ được thành lập cho nhiệm vụ
nầy có một quân số là 1.160 người thuộc 4 quốc gia : Hung gia Lợi, Ba Lan,
Gia nă Đại và Nam Dương. Với một quân số it ỏi như thế, trên một
lănh thổ rộng bao la với những khó khăn về địa thế mà Ủy Ban phải
quan sát, tất cả đều hạn chế tối đa khả năng điều tra
của Ủy Ban nầy rất nhiều .
Vào năm 1954, trong lúc các cuộc thương
thuyết dẫn đến sự kư kết Hiệp Định Genève, phái đoàn cộng sản
Việt Nam đă đ̣i hỏi phải giữ lại
các đơn vị ‘’du kích quân’’ được đóng quân ở Miền
Nam trong những nơi mà họ
gọi là ‘’khu giải phóng’’. Một cuộc nghiên cứu trong lúc đó do
các chuyên viên quân sự Pháp đă ước tính quân số của Ủy Hội Quốc Tế
cần thiết để kiểm soát các khu đó phải lên đến 70.000 (!) dĩ nhiên
c̣n nhỏ hơn vào năm 1973. Lúc bấy giờ đứng trước một sự khó
khăn quá phức tạp như thế, ông Mendès France
đă khôn khéo chọn giải pháp chia đôi nước Việt Nam . Và quân đội Pháp đă đưa (‘’tập
kết’’) hết ra Miền Bắc các cán bộ và những đơn vị cộng
sản đă hoạt động trong 9 năm ở Miền Nam.
Vào năm 1973, chẳng những các thành
viên quốc tế đă quá ít mà Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn c̣n phải
theo nguyên tắc ‘’đồng thuận’’ của cộng sản nữa. Do
đó, trên thực tế điều nầy đă làm cho Ủy Ban không làm được việc
ǵ cả. Những sáng kiến của hai phái đoàn Gia nă Đại và Nam Dương có thể
bị phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi ngăn cản bất cứ lúc nào. Không có một cuộc
điều tra nào được tiến hành riêng lẻ, do những thành viên của một
phái đoàn duy nhất nào đó đơn phương tiến hành.. Có một số thành viên
thuộc phái đoàn Gia nă Đại đă liều lĩnh đi vào khu vực cộng sản
sau một biến cố nào đó, đă bị bắt ngay lập tức, nhốt , và đối
xử như những tù binh thường trong nhiều ngày.
Từ đầu tháng 3, cộng sản
đă cho xâm nhập chiến cụ nặng và nhiều chục ngàn người vào các vùng thuộc
quyền kiểm soát của họ ở Miền Nam Việt Nam. Đây quả là một sự vi phạm trắng trợn
nếu không muốn nói là quá rơ ràng và công khai Hiệp Định Paris
về Ngừng Bắn 1973.
Ngày 15 tháng 3, TT Nixon trong một buổi
họp báo đă tuyên bố : ‘’chúng tôi đă nói cho Bắc Việt biết rằng
chúng tôi rất đỗi quan tâm về những cuộc xâm nhập quan trọng như vậy,
cũng như về các hành động vi phạm lệnh ngừng bắn mà Bắc Việt
đă kư kết. . Bắc Việt không nên xem thường loại quan tâm nầy của chúng
tôi .’’.
Một tháng sau đó, ông Nixon chuẩn
bị tái oanh tạc Miền Bắc nhưng ông cho ngưng ngay lệnh đó đúng vào cái ngày
mà John Dean ra làm chứng trước tiểu ban điều tra của Quốc Hội về
vụ việc Watergate. Tại Việt Nam, cộng sản với quyết tâm ngăn cản
mọi công tác kiển soát trong những vùng mà họ đang xâm nhập và chiếm giữ bất
hợp pháp, đă không ngần ngại bất chấp nguy hiểm đă tổ chức bắn
hạ các trực thăng của Ủy Ban Quốc Tế bay đúng tầm của hỏa
tiển với lư do là các trực thăng đó đă ‘’vi phạm vùng trờI’’
(danh từ của cộng sản ) của họ. (đáng kể nhất là những ngay 1,
7 và 9 tháng 4/73 và ngày 7/5/1973). Sau đó họ c̣n nă bách kích pháo và bán róc kết vào các thị trấn
nào (trong những vùng yếu điểm của họ) đă có hay có dự trù cho các toán Kiểm
Soát Ngừng Bán trú đóng, như Lao Bảo, Vị
Thanh, Đức Cơ, Xa Mát, Ben Hét,
Tri Tôn. Các Toán Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn đă phải rút đi (hai toán Hung
gia Lợi và Ba Lan bỏ đi trước nhất), trực thăng của Ủy Ban Quốc
Tế vẫn c̣n đậu tại băi đáp. Toán Gia nă Đại ngao ngán quá cũng phải
rút đi vô điều kiện. Và Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn coi như
vô hiệu, chẳng làm được ǵ !
Lúc bấy giờ Bắc Việt mới
áp dụng chánh sách chuyển dân vào ở đầy các khu vực vắng người vừa
rơi vào sự kiẻm soát của họ. Như vậy là Bắc Việt đă theo đúng
chiến thuật ‘’Đồn điền’’ hay là di dân ch́ếm đất
do những người Bắc đă áp dụng trong thế kỷ XV để xâm chiếm
và chế ngự nước Chàm. Chiến thuật nầy gồm có việc cho xâm nhập
vào đất địch từng nhóm dân-quân nhỏ để chiếm đất và làm quen
với vùng đó. Nếu người chủ đất có đ̣i tài sản của họ th́
người ch́ếm đất vừa đánh vừa kêu cứu với bộ đội
Bắc Việt. Nếu mọi việc êm xuôi hay các khó khăn được giải quyết
xong th́ một toán khác lại được đưa tới xa hơn chút nữa. Tất
cả các toán xâm chiếm đất đai nầy được nối kết với nhau
thành một cấu trúc tỏa rộng ra bắt rễ từ biên giới. Các toán chiếm đất
nầy tiến dần tới giống như các chân bám của ṿi con bạch tuộc khổng
lồ. Hà Nội núp sau b́nh phong chánh trị của cái gọi là Chánh Phủ Lâm Thời Cộng
Ḥa Miền Nam (GRP) đă áp dụng đúng phương pháp cũ của tổ tiên họ nhằm
xâm chiếm và với mục đích chuyển các vùng đất chiếm được của
Miền Nam, của Cam Bót và của Vương quốc Lào thành đất Bắc Kỳ (nguyên
văn của tác giả: Tonkin), cũng như các ‘’ lơm da beo’’ mà họ đă
giành được từ sau ngày ngừng bắn.
Hà Nội cứ tiếp tục bành
trướng các sào huyệt không ai nh́n nhận đó, để lúc nào cũng hợp thức
hóa được sự can thiệp của các đơn vị bộ đội Bắc Việt
v́ đó là những nơi cung cấp tin tức và yêm trợ tiếp vận rất cần
thiết cho sự tiến quân của họ trong tương lai.. Trên phuơng diện chánh
trị, đối với các quan sát viên không được thông báo trước , những
cộng đồng vừa mới được tạo dựng nầy sẽ giúp cho Bắc
Việt tŕnh diễn về số dân chúng đối lập ‘’thực sự’’
của chế độ Sài G̣n . Nếu có bầu cử th́ những cộng đồng nầy
sẽ bảo đảm biết bao nhiêu là phiếu đối lập. Được tập
trung dính liền với nhau và chặt chẽ bảo vệ dọc theo đường ṃn Hồ
chí Minh, những ‘’đồn điền‘’ nầy thật sự là một
vùng bàn đạp được cấm sâu vào giữa miền Nam Đông Dương để từ đó các cấu trúc
được mở rộng thêm ra.
Lần lần, nhờ các cuộc chuyển
dân và đóng các chốt quân sự, các đại đơn vị cộng sản mới trú
đóng được khắp các xóm làng. Đường sá và ruộng đồng được
mở rộng thêm ra. Nền hành chánh được thiết lập sau đó. Các cán binh của
Hà Nội ngụy trang thành dân chúng, được thúc đẩy lập gia đ́nh tại
chỗ với các thiếu nữ Miền Nam.
Trong hai tỉnh Quảng Ngăi và B́nh Định, cũng như ở Cam Bốt, th́ h́nh như
cộng sản thành công trong kế hoạch nầy. Trong những vùng ít dân cư th́ bộ đội
được tái hôn với những thiếu nữ người Bắc được chuyễn
vào Nam theo kế hoạch nầy
(khoảng 10.000). Đôi lúc th́ tự nguyện nhưng thường th́ bị ép buộc, (đặc
biệt là các nữ y tá, bác sĩ hay giáo viên) những cô gái nầy gốc người Miền
Nam nên chỉ thích lập gia đ́nh với cán binh người
Miền Nam hơn. Trên thực
tế, những cô gái Miền Bắc thường lập gia đ́nh với các chàng trai Miền
Bắc v́ những chàng trai nầy thuộc số đông, và đă có với
họ những mối tương quan về ngôn ngữ, phong tục tập quán, và ăn uống.
Một vài phần tử gọi là ‘’cách mạng’’ người Nam c̣n được ở trong những vùng
mới chiếm giữ đều đă quá tuổi 40. Một số người già từng
được xử dụng trong bí mật, thường là độc thân, được
giao cho trách nhiệm phụ và
họ không sống chung đụng với người Miền Bắc . Sự
chiếm hữu đất đai của Miền Nam
cũng được tiến hành bằng cách chuyển nguyên các làng từ Miền Bắc
vào. Những người Việt Nam định cư ở Lào và Cam Bốt từ nhiều
thế hệ trước đă bị dời vào Miền Nam hoặc bị tập trung vào
ở với những thương binh mà cộng sản Bắc Việt không thể di tản
được và những tù binh chiến tranh già yếu được Chánh Phủ Sài G̣n phóng
thích, để lập thành những vùng đông dân cư mới, có thể được nâng
lên thành ‘’quận lỵ’’. Kế hoạch di dân bắt buộc nầy, sự
thành công của hành động xâm chiếm ồ ạt và lặng lẽ nầy, đă liên
hệ trực tiếp đến sự vô hiệu hóa các cơ cấu kiểm soát ngừng
bắn. Điều náy giải thích rơ ràng cách thức mà Bắc Việt đă nhanh chóng và tàn
bạo xử dụng để làm cho những thành viên quá ṭ ṃ của Ủy Ban Quốc Tế
phải đứng xa ra khỏi vùng ảnh hưởng của họ. Để đương
đầu với chánh sách táo bạo và gây hấn nầy của Bắc Việt, để
bảo đảm thi hành Hiệp Định Paris, phản ứng của Hoa Kỳ xét ra cũng
không có ǵ lạ hết. Khi TT Nixon thử xin ngân khoản mới cho Cam Bốt, vào lúc Khờ
Me Đỏ được 2 sư đoàn Bắc Việt tăng cường đang gây nhiều
thiệt hại nặng nề cho phía Chánh Phủ th́ Quốc Hội đă trả lời bằng
cách bắt buộc Không Lực Hoa Kỳ phải chấm dứt oanh tạc vào các vị trí
cộng sản bắt đầu từ ngày 15 /8/1973.
Vào tháng 11/1973, cũng Quốc Hội nầy đă bỏ phiếu chấp thuận
Nghị Quyết về Quyền Lực Chiến Tranh, để ngăn cấm Tổng Thống
Hoa Kỳ từ nay nếu chưa có sự chấp thuận của Quốc Hội th́ không
được phép xử dụng quân lực Hoa Kỳ để pḥng thủ bất cứ
phần đất nào của Đông Dương .
Vào mùa hè năm 1974, Tổng Thống Nixon từ chức v́ vụ tai tiếng
của Watergate. Lúc đó các dân biểu và nghị sĩ Quốc Hội mới xem xét kỹ
các đơn xin viện trợ do Kissinger tŕnh lên. Họ thấy quá cao nên họ cắt bớt
viện trợ quân sự cho Việt Nam
chỉ c̣n lại phân nửa. Nhưng lúc nầy t́nh h́nh quân sự ở Miền Nam rất là trầm trọng. Tướng
Cao văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (QLVNCH) rất
lo ngại. Tướng Nguyễn khắc B́nh, Giám đốc Trung Ương T́nh Báo đă tŕnh
cho ông một bản phúc tŕnh dài về t́nh h́nh dàn quân của các đơn vị cộng sản
Bắc Việt ở Miền Nam
. Phúc tŕnh viết: ‘’Cuộc đe dọa về quân sự của địch đă
hết sức là trầm trọng. Trong khi Hoa Kỳ giảm đến một nửa ngân khoản
viện trợ quân sự cho Miền Nam Việt Nam, th́ Liên Xô đă tăng cường gắp
đôi phần chiến cụ của họ và phần viện trợ tài chánh cho Miền Bắc
(1 tỷ 700 triệu mỹ kim cho năm 1974). Bắc Việt đă tiếp tục cho xâm nhập
cán binh và chiến cụ từ Miền Bắc liên tục từ sau ngày ngừng bắn. Chúng
tôi ước tính lên đến 80.000 cán binh, 600 chiến xa, 500 khẩu pháo và 200 khẩu pḥng
không, tất cả đều vượt vĩ tuyến 17 không qua các cửa khẩu do Hiệp
Định Ngừng Bắn đă ấn định. Ngoài ra, trong số 30.000 tù binh vừa
dân sự vừa quân sự được chúng ta trao trả theo đúng các điều khoản
của Hiệp Định, th́ hai phần ba (2/3) được bổ sung vào các đại
đơn vị của Bắc Việt đồn trú trong Miền Nam. Số lượng chiến cụ và sự phân phối
cấp phát được tăng thêm gấp bội: các đơn vị đều có phóng
pháo xa 122 ly và hỏa tiển SA 7, 300 khẩu đại pháo 130 và 100 khẩu pháo 152 để
tăng cường cho các đơn vị pháo binh tầm xa, và những đơn vị chiến
xa T.54 . Quân số cộng sản bây giờ đă vượt quá mức quân số của họ
trước cuộc tấn công năm 1972; 310.000 người trong đó có 170.000 cán binh và 60.000
cán bộ chánh trị gốc Miền
Bắc. Bản đồ trận liệt của cộng sản được
tái tổ chức như sau : 17 sư đoàn bộ binh với quân số đầy đủ
đang đóng trong Nam (7 sư đoàn ở Vùng I từ vĩ tuyến 17 đến Đà Nẵng,
5 sư đoàn ở Vùng II, cao nguyên Trung phần, 3 sư đoàn ở Vùng III, giữa vùng Mỏ
Vẹt tới Sài G̣n ,, và 2 sư đoàn ở Vùng IV trong đồng bằng sông Cữu Long
và rừng U Minh. Trừ bị th́ có 40.000 cán binh Bắc Việt đóng ở Cam Bốt và 50.000
đóng ở Lào) Việc ngưng dội bom đă giúp cho Bắc Việt mở rộng và cải
thiện tất cả các đường giao thông cũ của họ từ phía Nam vĩ tuyến
17 , đặc biệt là tất cả các tuyến đường dẫn về phía Đông
của đường ṃn Hồ chí Minh.
Tất cả các tuyến đường và lộ tŕnh xâm nhập đêu được
củng cố để có thể xử dụng được suốt 4 mùa. Công tác củng
cố đă chẳng những đạt được bề dài mà cả khả năng
lưu lượng của tuyến đường vớị 1500 xe cam nhông mỗi tuần,
đă vượt mức cao nhất cho tới nay. Các đường liên lạc ngang cũng
chưa bao giờ được bỏ qua. Ống dẫn dầu đặt dọc theo đường
ṃn Hồ chí Minh được tăng lên gấp đôi và được kéo dài xuyên qua lănh
thổ phía Đông của Cam Bốt đến tận vùng ‘’Mỏ Vẹt’’,
chỉ c̣n cách Sài G̣n có 80 cây số ngàn.
Cuối cùng 12 phi trường đă được thiết lập ở phía
Nam vĩ tuyến 17, từ sau khi có lệnh ngừng bắn : 6 trong số đó có khả năng
nhận những phi cơ thường và phi trường Khe Sanh được hỏa tiển
SAM 2 và SAM 3 bảo vệ mạnh mẽ nhất, có thể nhận các phi cơ loại nặng
và các Mig 21. Các trực thăng vận tải lớn do Liên Xô chế tạo đă được
thấy lên xuống nhiều lần ở các phi trường nầy. Có nhiều chỉ dấu
chính xác cho thấy một cuộc tấn công quân sự quy mô có thể xảy ra bất cứ
lúc nào. Tất cả những sự chuẩn bị đều xem như đă hoàn tất.
Những kho dự trữ và các trạm tiếp vận lương thực đă được
đặt xong, các bệnh viện hậu phương đă được bố trí sẳn
sàng. Chiến trường cho mỗi sư đoàn cộng sản đă được tổ
chức rất cẩn thận. Các vị trí cho cá nhân, cho từng loại vũ khí, các hầm
trú ẩn, các trạm cứu cấp đă được đào và nghi trang rất cẩn thận,
các mốc tác xạ đă được đặt xong, cự ly xa gần và máy nhắm cũng
đă được tính toán xong. Về vấn đề nầy, chúng tôi xin nói thêm là các đường
tiến quân dẫn đến tất cả các thành phố ở miền Trung và miền Đông
của chúng ta có lợi thế cho các đơn vị tấn công Bắc Việt là nằm
trong vùng rừng rậm, và dựa vào vô số đường ṃn do máy ủi đất của
những người làm rừng của chúng ta dọn mở ra từ trước . Tất
cả các con đường nầy thường được dùng cho xe vận tải nặng
chyên chở gổ súc, là những con đường tiến quân rất thuận lợi cho
các chiến xa địch. Hệ thống các con đường ṃn chằng chịt nầy
đến một lúc nào đó sẽ giúp cho các chiến xa cộng sản thọc sâu nhiều
mũi dùi bất ngờ xuất hiện vào tận hầu hết các ṿng đai ngoại ô của
mọi thành phố.
Sự kiện Hoa Kỳ cắt viện trợ quân sự của chúng ta đă
đưa chúng ta vào một t́nh thế thua sút rơ rệt. Chúng ta cần phải tiết kiệm
đạn dược. Các quân xa và phi cơ của chúng ta chỉ nhận được có
50% cấp số xăng dầu so với lúc trước. Thiếu cả cơ phận thay
thế, gần 30% Không Lực chúng ta bị bắt buộc phải nằm ụ tại chỗ.
Bị bắt buộc phải giữ từng tấc đất mà không được
dẫm chân vào chiến tuyến ngừng bắn, binh sĩ của chúng ta phân tán quá mơng, trong
khi Bắc Việt là kẻ xâm lăng, lại được tự do tập trung lực lượng
bất cứ chỗ nào mà họ muốn mà không lo sợ ǵ về một cuộc tấn công
nào trên lănh thổ của họ. ‘’
Bắc Việt đe dọa Miền Nam
trên phương diện quân sự kèm theo áp lực về kinh tế lẫn chánh trị . Từ
sau khi kư xong Hiệp Định Ngừng Bắn, nhà cầm quyền Bắc Việt đă làm
đủ mọi cách để bẻ găy nền kinh tế và tinh thần của dân chúng Miền
Nam. Trước hết là họ
vận động nhằm làm nản ḷng đầu tư của ngoại quốc. Để
làm việc nầy, họ đă mở ra ‘’chiến dịch thảo luận’’
căn cứ trên 4 đề tài chính:
(1)- một nguyên tắc về pháp lư: Miền Bắc cuối cùng đă thắng
Miền Nam . Sự khẳng
định nầy cứ được lập đi lập lại hoài không mệt mỏi
trong hai mươi năm liền cuối cùng th́ đạt được ảnh hưởng.
(2) - một bằng chứng sai bét về pháp lư kèm theo một sự đe dọa: ‘’
Hiệp Định Paris về Ngừng Bắn đă công nhận cái gọi là Chánh Phủ Lâm
Thời Cộng Ḥa Miền Nam (GRP) như là Chánh Phủ hợp pháp duy nhất chính thức
của dân tộc Việt Nam, mọi Hiệp Ước kư kết với Chánh Phủ Sài G̣n
đều không có giá trị, và có thể c̣n bị xem là một ‘’xúc phạm’’
với nhân dân Việt Nam ‘’ (3) - duy tŕ thật sự mối đe dọa quân sự
và một không khí mất an ninh. An ninh và ổn định chánh trị luôn luôn là những yếu
tố tốt nhất để thúc đẩy sự đầu tư. Làm rối loạn
trật tự công cộng và an ninh nội địa, cho thấy lúc nào cũng có mối đe
dọa về một cuộc xâm lăng quân sự,. . . . tất cả đều ảnh hưởng
đến doanh nhân, hơn nữa Âu Châu sống trong thanh b́nh đă gần 30 năm rồi
. (4) - Sự đầu độc của báo chí Phương Tây theo luận điệu cộng
sản, hay có lợi cho luận điệu của Hà Nội lúc nào cũng tiên đoán hay thích
thú mô tả ‘’sự sụp đổ hiển nhiên và không thể tránh được‘’
của nền kinh tế Miền Nam Việt Nam
Lập luận cứ thế được mở rộng ra : kinh tế th́
không có giá trị, chánh trị th́ bắp bênh, pháp lư th́ bất b́nh thường và theo cái nh́n
lịch sử và trong tương lai th́ sẽ thất bại. Sự tuyên truyền thâm hiểm
nầy hướng về thế giới bên ngoài lại được mở rộng gấp
đôi ngay trong nước bằng một loạt hành động trực tiếp nhằm
gây xáo trộn và làm sụp đổ sự phát triển kinh tế của Miền Nam Việt
Nam .
Bắn phá và tấn công đồn bót. Dùng pháo binh bắn phá, phục kích các
đoàn xe . Từ một năn nay, trung b́nh hằng tháng, các vụ ám sát tăng từ 22 lên
48, các vụ bắt cóc từ 50 lên 120, các cuộc tấn công từ 200 tăng đến 320.
Cộng sản cũng t́m cách làm giảm giá trị đồng tiền của Miền Nam Việt
Nam , mức tiết kiệm của người dân bị rút xuống v́ sưu cao thuế nặng
của Việt Cộng và tiền chuộc nữa. (Thuế tài sản và thuế lợi tức
, thuế chuyên chở, tù binh muốn được thả cũng phải đóng tiền
: 100.000 cho một binh nh́.) Hà Nội nuôi các thành phần xâm nhập bằng cách cho lưu hành
tiền giả cùng với chánh sách mua bán phá giá. Cộng sản mua gom gạo ở các chợ
của Chánh Phủ VNCH với giá rất cao rồi đưa về tích trữ trong vùng của
họ, gây ra một sự thiêu hụt và lạm phát. Đến khi các hợp tác xă dưới
quyền kiểm soát của họ bán gạo ra, th́ họ bán với một giá rất thấp
so vơi giá b́nh thường. Có đôi khi số gạo của hợp tác xă là gạo của
cộng sản cướp giựt của dân chúng từ Cam Bốt.
Bây giờ th́ Chánh Phủ Miền Nam
đang trải qua một thời kỳ nguy kịch. Với ngân sách quân sự và kinh tế
của thời b́nh, Chánh Phủ phải đưởng đầu với những chi phí của
thời chiến. Và c̣n có gần 1 triệu dân tản cư lánh nạn đang chờ được
giúp đở từ năm 1972. Hành động giảm viện trợ bất thần từ
phía Hoa Kỳ đă kềm hảm tức khắc mọi khuếch
trương. Vật giá leo thang đến một nhịp độ tăng
nhanh không thể nói được. Từ tháng giêng năm 1973, đồng bạc bị phá
giá đến 8 lần. Không khí chánh trị và xă hội rất nặng nề. Một cuộc
khủng khoảng trầm trọng do các lănh tụ đối lập gây ra trong mấy tháng
nay đă làm lung lay Chánh Phủ trong lúc Chánh Phủ đang cố gắng lo đối đầu
với những chỉ trích từ mọi phía.
Mọi việc đă bắt đầu từ tháng 5 1974, với một bản
cáo trạng chống tham nhũng của Cha Thanh, một linh mục thuộc ḍng Chúa Cứu
Thế, đại diện cho một giáo khu nghèo nhất vùng ngoại ô Sài G̣n . Bản cáo trạng
sau đó lại được sự ủng hộ của 301 tu sĩ công giáo, nhằm tố
cáo Chánh Phủ trong vấn đề buôn lậu và hối mại quyền thế của một
vài tướng lănh và tỉnh trưởng.
Vấn đề được đưa ra thảo luận ở Quốc
Hội. Cả ThượngViện và Hạ viện bàn căi rất sôi nổi và rất hứng
thú, nhưng cuối cùng th́ ng̣i nổ cũng được tháo gở một cách khéo léo và
vẫn có lợi cho Chánh Phủ, để lại cho thính giả của cuộc tranh luận
một ấn tượng về sự tự do phát biểu đúng mức.
Tuy nhiên không v́ thế mà có thể dập tắt được hành động
của những người chống đối. Nó được tái phát trở lại, dữ
dội hơn, tai tiếng hơn và có phương pháp hơn, và lần nầy th́ mủi dùi
chỉa ngay vào Tổng Thống Thiệu, gia đ́nh ông, và các cộng sự viên thân cận
nhất của ông.
Ngày 8 tháng 9, 1974, ‘’Phong Trào Chống Tham Nhũng, Cứu Quốc và Kiến
Tạo Ḥa B́nh’’ cho lưu hành một bản ‘’cáo trạng số 1’’,
cáo trạng đầu tiên của một loạt 3 cáo trạng, phơi bày thực sự ra
ánh sáng những sự lạm dụng công quỷ và những lợi tức bất hợp pháp.
Các tác giả của bản cáo trạng cho rằng sự tố cáo nầy dựa
trên những chứng tích không thể chối bỏ được gồm có 6 điểm:
(1) - Tậu quá nhiều bất động sản : mua một biệt thự của hăng Shell
cho con trai giá là 40 triệu đồng, mua cho vợ một cơ sở thươ___________ng
mại cũ của Công Ty Đất Đỏ, 90 triệu đồng, và một nhà ở
Thụy Sĩ. (2) - Lợi dụng chiếm đất: Tổng Thống Thiệu sẽ làm
chủ một miếng đất 3 mẫu ở Dalat , một miếng đất nữa
gần Giá Rai, trên Quốc lộ 1, và khai thác ở Long Khánh nhiều trăm mẫu nữa;
(3) -Dùng công quỷ giao cho công ty Hải Long tích trử phân bón , giám đốc công ty nầy là
ông Nguyễn xuân Huyến, anh em bạn rể của Tổng Thống Thiệu. (4) -Vấn
đề ‘’Bệnh viện V́ Dân’’ do bà Thiệu và ‘’Hội Phụ
Nữ Việt Nam Phục Vụ Xă hộI’’ đứng ra xây cất. Việc xây cất
bệnh viện nầy, có 100 pḥng miển phí cho người nghèo là nhờ vào tiền lời
của quỷ xổ số quốc gia và tiền bán số hàng do quan thuế tịch thu trong
4 năm qua. Bà Thiệu bị cáo buộc là đă ‘’chọn lựa bênh nhân’’
và ‘’điều khiển các bác sĩ’’ (5) - Buôn bán ma túy: dựa trên cuốn
sách của người Mỹ ‘’Những Chánh trị gia của bạch phiến
ở Đông Nam Á’’ mà tác giả là ông M.W. Mac Coy, bản cáo trạng chỉ đích
danh tướng Đặng văn Quang, cố vấn đặc biệt của Tổng Thống
Thiệu về an ninh pḥng thủ, người đích thân điều hành việc bán ma túy ra
nước ngoài với sự đồng lơa của những hệ
thống quốc tế dính với băng Tiều Châu của người Tàu
ở Chợ Lớn. (6) - Việc bán gạo ở miền Trung: Chánh Phủ tài trợ việc
chuyên chở gạo trong vùng nầy nhằm ổn định nhu cầu của dân chúng, và
cũng để giữ giá gạo ở đây không cao hơn giá gạo tại Sài G̣n. Việc
tài trợ nầy lên đến 40 triệu đồng mỗi tháng. Công chức của Chánh
Phủ mua gạo với giá thật thấp và bán ra cho bọn buôn lậu ở địa
phương để chia với họ tiền lời và tiền trợ cấp.. Người
khai thác việc chuyên chở nầy là ông Phạm Sanh, giám đốc ngân hàng Nam Việt, và người
chịu trách nhiệm phân phối gạo là bà Ngô thị Huyết, d́ của Tổng Thống
Thiệu.
Đài phát thanh Hà Nội và báo chí của Chánh Phủ Bắc Việt cũng như
sách báo thân cộng được Bắc Việt tài trợ ở Ba Lê và Âu Châu đă phổ
biến rất rộng răi bản ‘’cáo trạng số 1’’ nầy.
Ở Miền Nam Việt Nam
song song với hành động của đối lập, cán bộ cộng sản đă tiến
hành phổ biến tràn lan khắp nông thôn dưới h́nh thức truyền đơn hay các
tờ quảng cáo truyền tay.
Chiến dịch đánh phá uy tín nầy lúc đầu chỉ nhằm vào các
thành phố lớn, lần lần được lan rộng xuống các tỉnh, là một
đ̣n rất nặng đói với uy tín của Tổng Thống Thiệu vốn vẫn c̣n
được ḷng trong hàng ngũ quân nhân và nông dân .
Một số sự kiện được nêu lên trong bản cáo trạng cần
phải được làm sáng tỏ lại. Cần có một sự giải thích thật rơ
ràng và chính xác mà chỉ có đích thân Tổng Thống Thiệu mới cung cấp được
. Những sự kiện khác được nêu lên không được đày đủ hoặc
không đúng sự thât.
Thí dụ như việc bán gạo. Nhân vật chính chịu trách nhiệm là ông
Phạm Sanh, giám đốc ngân hàng. Ông đă bị trừng phạt, đă bị câu lưu
từ tháng bảy, tài sản bị tịch thu, các chương mục đều bị phong
tỏa, và đang chờ ngày ra Ṭa.
Vấn đề độc quyền phân bón cũng vậy. Chánh Phủ đă
có phản ứng kịp thời, bằng cách cho lịnh bán hết phân bón và tái phân phối
cho nông dân với ‘’giá chánh thức’’ . Phía đối lập cho rằng đây
là một quyết định đáng khen, nhưng đó chỉ là một nhát kiếm chém xuống
nước mà thôi. V́ những đại lư bán sỉ người Tàu có mặt khắp mọi
giai tần kinh tế trong nước đă thu xếp để mua lại số lớn phân
bón đă bán lại đó, đến lượt họ đem về trữ lại, bảo
đảm trước là họ sẽ có một số lời khả quan rồi, v́ thị
trường hối đoái ngoại tệ cứ tiếp tục đi lên.
Như thế th́ Tổng Thống Thiệu sẽ phản ứng ra sao đây
? Đối với sự cáo buộc của phe đối lập, trước hết ông
đă trả lời bằng một diễn văn dài trên hệ thống truyền h́nh về
t́nh h́nh chánh trị của đất nước và cuộc chiến đău cho sự tự
do, có đề cập đến những ‘’lời gièm pha’’ được
tung ra về cá nhân ông cho đó chỉ là một chuyện dàn dựng có ác ư "của cộng
sản , và của những kẻ hợp tác và đồng lỏa với họ’’
mà thôi.
Nhưng đối với những sự kiện quá nghiêm trọng như việc
buôn bán ma túy của tướng Quang, vị cố vấn của ông, và chuyện lương
lẹo về đất đai và lợi tức bất chính được gán
cho vợ ông, th́ ông lại không có nói một tiếng nào. Quân độI, dân chúng,
người dân ngoài phố đă chờ đợi ở ông một lời bác bỏ những
cáo buộc nầy. Do đó khi mà ông Thiệu tỏ ra quên hẳn và khinh thường không lư
tới những chuyện đó th́ ông không thuyết phục được ai hết. -‘’
Tay của ông đă không được sạch sẽ nữa rồi
!’’ đó là lời phê b́nh có chút miệt thị của một số sĩ quan trẻ
đau khổ và chán chường..
Vậy ông Thiệu có thể làm được ǵ để phục hồi
uy tín của ông đang bị lung lay trầm trọng? và tháo gở được những
cáo buộc của phe đối lập ? Một hành động giống lạ kỳ những
ǵ đă dẫn đến cuộc đảo chánh tháng 11 năm 1963, và cái chết của Tổng
Thống Diệm. Nguyên thủ quốc gia người công giáo nầy cũng là một người
chống cộng tích cực. Nhưng dù là một con người rất thanh liêm và yêu nước
trung thực, ông vẫn bị tấn công và đánh gục bằng một chiến dịch
gièm pha vu khống, được tổ chức hết sức nhịp nhàng, có sự hổ
trợ của một phe đối lập công giáo, tố cáo sự tham nhũng, lợi dụng
quyền thế của anh em ông, của cha mẹ ông và của những người thân cận
của ông. Được tiến hành âm thầm bên trong nhưng do bàn tay thiện nghệ của
người Mỹ, chiến dịch đó đă đưa nước Việt Nam vào hổn loạn và làm cho cuộc chiến
lại tái diễn.
Đến lượt người kế vị ông, Tổng Thống Thiệu,
lại bị cáo buộc lạm dụng quyền thế và không làm tṛn chức năng của
ḿnh. Vậy ông ta có bị đe dọa về một sự kết thúc tương tự hay
không ? Một vài nhà phân tách thường hay liên hệ các diễn biến song song như vậy
th́ họ sẳn sàng tin . Dù muốn dù không th́ t́nh h́nh ở Miền Nam đang sôi sục.
Sài G̣n với 4 triệu dân, thủ đô chánh trị ,hành chánh, kinh tế và quân
sự, là nơi thu gọn tất cả các bài toán của Miền Nam Việt Nam với những
mâu thuẫn, những mưu mô, sự phong phú và sự nghèo nàn của nó .
Một mặt, đây là một thành phố với những đường
phố rộng thênh thang, ngổn ngang đủ loại xe hơi và xe gắn máy, với những
công viên đẹp, với những công thự luôn được bảo tŕ rất cẩn
thận, với những chợ búa đầy ấp lương thực, với một hải
cảng tối tân có đầy đủ trang thiết bị , với một sân bay quốc
tế và với những đường liên lạc viễn thông tuyệt hảo.
Mặt khác, với một ṿng đai các lều tôle, lều cây, lều ván và
giấy bồi, ở đó chen chúc nhau những người tỵ nạn nghèo khổ, không
một việc làm, những binh sĩ đào ngũ và hằng ngàn người tàn tật.
Dính liền với thủ đô Sài G̣n là Chợ Lớn, một thành phố
của 800.000 người Tàu, những chú con trời đă mọc rễ trong nước từ
3 thế kỷ nay, được tổ chức để thu lợi, là chủ ngân hàng, là
trung gian mậu dịch, buôn bán đủ mọi loại kim khí, gỗ, gạo, tổ chức
chuyên chở đường bộ và đường thủy, chuyên đầu cơ tích trử,
cho vay, là nhà tài trợ cho các thú vui và các loại hàng lậu, cho tất cả những ǵ có thể
mua được và tất cả những ǵ có thể bán được .
Ở ngay chính giữa tập hợp Việt Hoa nầy, có Dinh Độc Lập
được binh sĩ Dù canh gát cẩn thận, có lưỡng viện Quốc Hội Thượng
Viện và Hạ Viện, Tối Cao Pháp Viện , đài truyền thanh truyền h́nh và .. . một
số bao chí phong phú.
Trung tâm điểm của tất cả là con đường Tự Do (Catinat
cũ), với các khách sạn đồ sộ của nó, với những tiệm buôn tráng lệ,
những tiệm nữ trang sáng chói, những quán rượu và pḥng trà để tất cả
những người chạy áp phe, các luật sư, những dân biểu, những người
đối lập, những danh kỹ, những mật báo viên và những nhân viên đặc
biệt.. . có nơi hội họp, tṛ chuyện, bàn mưu tính kế, mua bán đổi chác,
trao đổi tin tức hay phao đồn ‘’tin vịt’’ và những ‘’đường
dây tốt’’.. . .. đến độ có một dạng tin tức song hành, dựa
trên những chuyện ngồi lê đôi mách và những chuyện dèm pha có chủ ư, nhằm xuyên
tạc hay đi ngược lại với các thông cáo của chánh quyền thường được
gọi với một danh xưng không mấy tốt là ‘’ra đi ô Catinat’’.
Cái gọi là ‘’rađiô Catinat’’ nầy, thường mớm cho các bài báo của
hàng trăm kư giả suốt trong thời kỳ 8 năm Hoa Kỳ tham chiến ở đây,
đă phần nào xuống cấp, không c̣n thích hợp nữa từ ngày ra đi của các thông
tín viên ngoại quốc. Bây giờ cái rađi ô nầy lại sống trở lại những
giờ phút huy hoàng của nó. Phía đối lập, bất ngờ về sự táo bạo
và sự tự do trong phát biểu của ḿnh sau khi tung ra chiến dịch đánh phá Tổng
Thống Thiệu vừa rồi, đă chuyễn động, tự thấy phấn khởi
và tưởng ḿnh sắp đạt được chánh quyên bởi v́ họ đă tố
cáo được những yếu điểm và những sự lạm quyền của Tổng
Thống mà không bị một trừng phạt nào hết. Trong những cuộc họp mật
và những vận động ngoài hành lang, phe đối lập đă chọn lựa và đưa
lên những lư luận, liên kết với nhau, phân phối các chức vụ trong Chánh Phủ.
Các chỉ trích càng ngày càng nhiều . Báo chí phản ảnh ‘’tin tức chính xác’’
và thật khó mà phân tách được đó là giả hay thật : Tướng Nguyễn vĩnh
Nghi - cháu của Tổng Thống Thiệu - đang là Tư Lệnh Vùng IV (Đồng bằng
sông Cửu Long) là một người bất tài. Bà vợ của Thủ Tướng Chánh Phủ
đă mua một lâu đài lớn bên Pháp với giá một triệu quan. Một vài ông tướng
sẽ sẳn sàng giúp phe đối lập với binh sĩ của họ. Các cựu quan chức
của cơ quan t́nh báo trung ương Mỹ (CIA) đă từng dính vào cuộc đảo
chánh năm 1963, sẽ quay trở lại. Nhưng đề tài của cuộc nói chuyện
trọng đại là chuyện ‘’thất sủng’’ gần đây, mà theo đó
người sẽ rớt đài sẽ là ông Hoànng đức Nhă, Tổng Trưởng Thông
Tin và Chiêu Hồi, người em họ của Tổng Thống Thiệu, người được
mệnh danh là ‘’ông Tổng Thống nhỏ’’. Ba mươi hai tuổi, cao
1 thước 83, với một thể lực của một tay ‘’anh chị’’
(nguyên văn: play-boy), kỹ sư, tốt nghiệp cử nhân chánh trị học, ông Hoàng đức
Nhă là một người thật tiêu biểu cho đẳng cấp mới của giới
kỹ thuật trẻ Việt Nam.
Là một thể tháo gia, người năng nổ, làm việc không biết mệt, có phương
pháp và có đủ tài liệu, nói thật trôi chảy cả tiếng Pháp và tiếng Anh, ông
đă làm việc 5 năm như là thơ kư riêng cho Tổng Thống Thiệu trước khi
được đề nghị vào chức vụ Bộ Trưởng . Là một kẻ thù
cuồng nhiệt của cộng sản, ở cương vị mới ông đă cố gắng
vận dụng tất cả phương tiện kỹ thuật mà ông sẳn có để
bao che cho dân chúng và tách họ ra khỏi gọng kềm tuyên truyền của Việt Cộng.
Và ông ta đă thành công. Các địch thủ của ông trách ông đă ‘’bịt miệng’’
báo chí và ông đă vượt qua thực quyền của ông để can thiệp vào quá nhiều
lănh vực. Ông Nguyễn minh Đăng, một dân biểu trẻ người Bắc đă
dùng diễn đàn để tố cáo sự ‘’lạm dụng quyền hành’’
của ông, qua việc đặt người ‘’thân cận’’vào các trung tâm
tin tức được mở ra ở ngoại quốc, và xử dụng sai nguyên tắc
công quỷ. Ông Nhă đă lạnh lùng phản bác lại bằng cách nhấn mạnh rằng
tất cả những người mà ông ‘’che chở’’ đêu tốt nghiệp
đại học, có một tŕnh độ học vấn tuyệt hảo; Và bằng cách trưng
ra đây đủ chi tiết rất chính xác của sự chi thu ông đă chứng minh rằng
những chi phí của ông đă thấp hơn ngân khoản được ấn định.
Là một người quốc gia có tánh đa nghi, ông Nhă cũng là một
người cộng tác khó tính và không mấy thích nghi đối với người Mỹ.
Trong giai đoạn chót của cuộc thương thuyết tại Ba Lê, ông Nhă đă đương
đầu với ông Kissinger, và đă cùng Tổng Thống Thiệu thảo ra bản quyết
nghị nổi tiếng "Bốn Không". Sự giao dịch của ông với Ṭa Đại Sứ
Hoa Kỳ cũng giữ được khoảng cách . Các cố vấn Hoa Kỳ làm việc
tại Sài G̣n than phiền rằng từ sáu tháng nay ông từ chối không trả lời điện
thoại cho họ. Được các nhà báo Anh quốc hỏi về thái độ đối
xử ‘’quá cực đoan’’ của ông ông Nhă đă trả lời với một
giọng khó chịu: "Người Mỹ là đồng minh của chúng tôi, tôi rất thích xem
họ như những người anh em, nhưng tôi không muốn gọi họ bằng "Cha"
!(nguyên văn: Papa) Ông đă đệ đơn xin từ chức. Cùng lúc với 3 thành viên
khác của Chánh Phủ, cả ba đều thanh liêm, rất giỏi và được kính trọng.
Đó là các Tổng trưởng Tài Chánh, Kinh Tế, và Nông Nghiệp,
họ cũng đă xin từ chức. Trực diện với nhóm đối
lập càng ngày càng lớn mạnh đang tổ chức chống lại ông và bài xích nhóm kỹ
thuật gia trẻ đang cương quyêt tách ra khỏi hàng ngũ Bộ trưởng, Tổng
Thống Thiệu bắt đầu giữ sự im lặng. Bị chạm mạnh do các sự
tố cáo công khai của các đối thủ và "đào tị" của những phần tử
ưu tú trong Chánh Phủ , Tổng Thống Thiệu với gương mặt luôn luôn tươi
tỉnh, khó đoán được ư nghĩ và rất bí mật, ông không bao giờ hốt hoảng.
Là một chánh trị gia giỏi vận dụng, lanh trí, và đáng sợ, ông kiểm điểm
lại các lá bài của ông trước khi có phản ứng. "Ta c̣n một số con bài chủ"
ông vừa cười vừa tâm sự với những cộng sự viên thân cận. Ông lạnh
lùng kiểm lại các lá bài chủ của ông . Trước hết là vị trí của người
Hoa Kỳ . Mặc dầu ông Nixon đă ra đi, và sự chống báng của Quốc Hội
Mỹ, thái độ của Tổng Thống Ford vẫn c̣n nhiệt t́nh và tốt bụng.
Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài G̣n , ông Martin, đă tỏ ra là một bạn đồng
minh c̣n vững chắc và cương nghị, điều mà ông Bunker không có dù là ông ta đă
giúp ông lên ghế Tổng Thống . Về phía VNCH, hệ thống quân giai, được thiết
lập từ những quân nhân chuyên nghiệp, được lựa chọn cẩn thận,
đă nắm chặt quân đội trong tay. Không có một nguy cơ nào về một cuộc
đảo chánh. Phe đối lập được dựa phần lớn vào các linh mục
và các vị dân cử công giáo, nhưng ít được khối tín đồ đi theo v́ họ
không thích các tín hữu can dự vào vấn đề chánh trị. Do đó đối lập
không mạnh như họ vẫn tưởng. C̣n các phật tử (85% dân chúng) th́ họ rất
dè dặt và không tham gia vào các cuộc ‘’xuống đường’’. Sau khi đánh
giá kỹ lưỡng về những khả năng hành động của ḿnh, Tổng Thống
Thiệu mới đi đến quyết định ‘’hành động’’.
Ông bắt đầu nắm chặt quân đội lại, (v́ đó là cột trụ chống
đở chính của chế độ) , bằng cách tái phối trí lại hệ thống
chỉ huy và thanh lọc hàng ngũ sĩ quan. Ông vẫn giữ lại tướng Ngô quang
Trưỡng trong chức vụ Tư lệnh Vùng I Chiến Thuật (Huế và Vùng Phi Quân
sự ), người đă bẽ gảy cuộc tấn công của cộng sản năm
1972. Ông đề nghị tướng Phạm văn Phú giữ chức vụ Tư Lệnh
Vùng II (Vùng Cao Nguyên Trung Phần), ông nầy là người hùng Việt Nam trong trận Điện
biên Phủ. Ông chỉ định tướng Dư quốc Đống vào chức vụ
Tư Lệnh Vùng III (khu Tam Giác Sắt và Khu Mỏ Vịt) , một cựu Tư Lệnh Binh
Chủng Nhảy Dù, một tay chiến đấu gan ĺ và sừng sỏ của vùng rừng
núi. Ở Vùng IV Chiến Thuật th́ ông đă cho tướng Nguyễn khoa Nam thay thế tướng Nguyễn vĩnh Nghi, người
cháu của ông,. Tướng Nam
cũng thuộc binh chủng Nhảy Dù mà là kỷ thuật gia của chiến thuật trực
thăng vận. Ba trăm sáu mươi bảy (367) sĩ quan cấp tá xét thấy không đủ
khả năng hay tham nhũng được cho về hưu hay xoá tên trong danh sách cán bộ.
Sau phần quân đội là đến phần chánh trị và dư luận.
Dự luật giao toàn quyền hành động cho Tổng Thống Thiệu vừa được
thông qua và ban hành. Rất nhiều biện pháp được Quốc Hội thông qua, đă
mở đường cho các đảng phái chánh trị được hoạt động
trở lại. Sự kiểm duyệt đang đè nặng báo chí đă được tháo
bỏ. Một Chánh Phủ mới được h́nh thành. Nhưng sau khi các biện pháp mở
rộng vừa được ban hành th́ Tổng Thống Thiệu lại có thái độ
cứng rắn, mời phe đối lập hăy hành động trong tinh thần xây dựng
và trong khuôn khổ luật pháp quốc gia , qua Quốc Hội (Thượng Viện và Hạ
Viện) vào dịp bầu cử lập pháp sấp tới, qua các ṭa án (bằng đơn
tố cáo) và qua báo chí. Chiến dịch trong sạch hóa được tiếp tục, hàng
Bộ trưởng và các công chức cao cấp làm không tṛn nhiệm vụ sẽ bị điều
tra và nếu có đày đủ bằng cớ chứng minh đúng theo đơn tố cáo
th́ họ sẽ phải được truy tố và xét xử. Tất cả đều xong
hết, ông c̣n xác nhận là tất cả những cuộc biểu t́nh được xem như
hành động phá rối trật tự công cộng và sẽ bị trừng trị nghiêm khắc.
Nhiệm vụ của các linh mục không phải để tấn công cảnh sát ngoài đường
phố hay để lớn tiếng rao giảng bằng loa sự bất phục tùng, mà phải
chăm sóc cho giáo khu và các nhà thờ của họ. Tương lai chánh trị của nước
Việt Nam được bảo
đảm bằng máu ngoài chiến trường chớ không nên bàn căi trên hè phố. Bị
phản đối, v́ không có người cầm đầu thực sự, nên phe đối
lập thất bại không kéo dân chúng nổi dậy được . Những cuộc biểu
t́nh lớn dự trù và được thông báo trước không thực hiện được
. Linh mục Thanh đă ước muốn động viên tất cả dân chúng trong cuộc
chống phá lớn nhưng cho tới giờ nầy chỉ mới có được vai cuộc
quậy phá nhỏ. Cơn khủng khoảng coi như bị bóp nghẹt. Ngựi em ruột
của Thủ Tưóng, người cầm đầu cơ quan chống buôn lậu, vừa
bị bắt giam.
Tổng Thống Thiệu có thể tiếp tục lo cho cái mà ông gọi là "những
vấn đề của đất nước". Và trước hết là chuẩn bị cho
cuộc bầu cử Tổng Thống dự trù vào năm 1976. Ông không thay đổi quyêt định
: ông sẽ ra ứng cử . Bất chấp những phúc tŕnh bi quan dồn dập gởi tới
cho ông, Ông Thiệu vẫn tự tin là có khả năng thành công vượt qua khỏi trở
ngại của một nhiệm kỳ thứ ba. Mặc dầu có nhiều sự nguy hiểm
trước mặt ông, ông vẫn nhất quyết nghĩ rằng ông là "người hoa tiêu
có đủ điều kiện nhất để lèo lái con thuyền Việt Nam" Vào thàng hai
năm 1975, ông viết cho Tổng trưởng tài chánh rằng:‘’Viễn ảnh
kinh tế đă cho thấy phần bất lợi đă giảm, Bằng mọi giá ta phải
thu hút vốn đầu tư ngoại quốc. Tất cả nỗ lưc của ông phải
được dồn hết vào việc nầy. Không cần phải quảng cáo. Hồ sơ
của chúng ta đă tốt rồi. Thị trường của Miền Nam đă trên hẳn mức trung b́nh ở Á Châu. Với dân số
20 triệu , mà hết 9 triệu nhân công chúng ta đă hơn hẳn Úc Châu, Hong Kong, Mă lai Á, Tân
gia Ba và Đài Loan rồi. Giá thuê nhân công rẻ là một cái lợi thế rất quan trọng
cho các cuộc đầu tư ngoại quốc. Và một số lớn nhân công của chúng
ta lại có khả năng nói tiếng Pháp và tiếng Anh. Chúng ta có sẵn 100.000 thợ chuyên
môn, 10.000 thợ máy và nhân viên điều hành đă được huấn luyện để
coi sóc các dụng cụ máy móc có phần phức tạp hơn là tàu bè và trực thăng nữa.
Con số chuyên viên kỹ thuật có giá trị (từ tin học đến máy móc) cần thiết
cho kỹ nghệ sẽ rất cao khi cuộc giải ngũ có thể xảy ra. Trang thiết
bị cho ngân hàng khá nhiều và nhân viên cũng thành thạo. Đó là những luận cứ
mà từ đó ông phải triển khai ra thêm. Tôi đă viết thơ cho Tổng Thống Ford
để nói với Ông ta rằng một sự viện trợ đúng mức trong 3 năm
là quá đủ để bảo đảm nền độc lập của chúng tôi. Chỉ
3 năm thôi, không quá một ngày nào !’’ Vô ư thức ? Mộng du chánh trị hay lạc
quan của lănh đạo để kích thích các cộng sự viên
kém nhiệt thành ? Trên thực tế, sự táo bạo của Tổng Thống
Thiệu trong cách tính toán của ông và ḷng tin cứng rắn của ông đối với tương
lai của đất nước ông đều dựa vào một cuộc khám phá huyền diệu
ngoài khơi bờ biển Miền Nam Việt Nam : dầu lửa . Phải, đă có dầu
lửa ở ngoài khơi Vũng Tàu và đảo Poulo Pajang. 6 mũi khoan, mũi nào cũng trúng
đích ! Như vậy người dân Miền Nam Việt Nam
và Tổng Thống của họ có quyền mơ ước : Sáu giếng dầu mà khai thác
từ năm 1977 sẽ đem lại lợi tức là một tỷ mỹ kim! Nhưng c̣n
cần phải giữ vững được từ nay cho đến ngày đó. Vả lại
3 năm cũng không lâu lắm.
Nhưng ở đây th́ coi như dài vô tận ! Bởi v́ để chống
lại cơ may phồn thịnh phi thường của Miền Nam, Hà Nội chỉ có một mong cầu : chiến tranh. Ngày
6 tháng giếng năm 1975 : một hành động gọi là ‘’trừng trị’’
đă vang dội khắp nơi: lực lượng cộng sản Miền Bắc đă công
khai tiến chiếm tỉnh Phước Long giữa đồng trống, chỉ cách Sài G̣n
không hơn 65 cây số ngàn về hướng Đông Bắc. Sự thụ động của
Hoa Kỳ sau hành động vi phạm nghiêm trọng Hiệp Định Ba Lê về Ngừng
Bắn nầy đă được Hà Nội coi như một trắc nghiệm rất có
lợi cho một cuộc tấn công mới. Vào lúc đó sự từ khước của
Quốc Hội Hoa Kỳ về một ngân khoản 300 triệu mỹ kim viện trợ quân
sự cho Miền Nam do Tổng Thống Ford yêu cầu, được coi như một dấu
hiệu chắc chắn "Mỹ sẽ không tái can thiệp vào Miền Nam Việt Nam nữa"
vậy.
TIEP THEO CHUONG BA
BACK TO TOP | |

|
|
 |
 |
 |
|
|
 |
|
 |
 |
 |
|
|
MẸ VIỆT NAM ƠI... CHƯƠNG 3 - 5
Mẹ Việt Nam ơi ...Tiếp theo.
CHƯƠNG BA
CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH
Vào đầu
tháng giêng năm 1975, một phái đoàn quân sự Liên Xô do tướng V.A. Jukilov Tham mưu trưởng
quân đội Liên Xô cầm đầu, đến Hà Nội . Về bài toán Việt Nam Mạc
tư Khoa và Bắc Kinh luôn luôn có cái nh́n tương phản với nhau. Từ năm 1954, Liên
Xô đă
thúc đẩy Hà Nội mở cuộc tấn công quân sự quy mô và quyết
định để chiếm Miền Nam. Ngược lại Bắc
Kinh th́ lại khuyên Hà Nội chỉ nên tăng cường các khu vực đă giải phóng
và tiến hành một cuộc chiến tranh gậm nhắm lâu dài (trường kỳ kháng chiến).
Lần nầy th́ đề nghị của Liên Xô có phần thắng. Mạc tư Khoa v́ không
có ảnh hưởng ǵ ở Cam Bốt, nên mong muốn nắm trọn nước Việt
Nam , một chế độ thân hữu có thể giúp cho ḿnh có những căn cứ Hải
Quân và Không Quân ở Á Châu. Liên Xô đă khẳng định rằng thời cơ quốc tế
đang rất thuận lợi nên đă cung cấp cho Hà Nội rất nhiều phương
tiện có thể trang bị cho 55 trung đoàn chiến xa biệt lập, và hỏa tiễn,
pháo binh pḥng không, để tiến tới sự thành công. Các tàu hàng của Nga chở đầy
ắp đạn dược đă chen chúc nhau ở hải cảng Hải Pḥng. Sau khi phái
đoàn của tướng Jukilov rời khỏi Bắc Việt lại có một nhân vật
cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao Liên Xô đến Hà Nội . Đó là ông Nicolai Firyubin.
Cứ mỗi lần mà Mạc tư Khoa quyết định tiến hành một hoạt động
chánh trị quân sự ở một khu vực đặc biệt nóng bơng nào đó th́ y như
rằng họ phải gởi ông Firyubin đến đó.
Ngày 28 tháng hai, lại đến lượt tướng Yang Yung đẫn
đầu một phái đoàn quân sự Trung Quốc đáp xuồng Hà Nội cho một cuộc
‘’viếng thăm dài hạn’’ Bắc Việt . Một sư đoàn đặc
công Bắc Việt được thành lập ở Nam Kinh (miền Nam Trung Quốc) được
đưa về đóng ở Thượng Du Bắc Việt . Bắc Kinh đă thỏa thuận
cho ‘’một hành động giới hạn nhưng quyết định’’,
mà mục tiêu đầu tiên là phải cắt đôi Miền Nam Việt Nam ra làm hai đoạn. Như thế là kế hoạch của
Hà Nội sẽ nằm ở giữa sự khuyến cáo của Nga và của Tàu. Quân đội
cộng sản Miền Bắc trước tiên sẽ chiếm vùng Cao Nguyên Trung Phần, sau
đó sẽ cố gắng chiếm Hué và Đà Nẵng , nhưng họ sẽ chờ hết
mùa mưa mới tấn công Sài G̣n và Đồng bằng sông Cửu Long, tức là vào mùa thu
75. Lănh đạo Bắc Việt rất lạc quan: quân đội của họ đă sẵn
sàng hành động. Tờ báo Học Tập cơ quan chánh thức của đảng cộng
sản ở Bắc Việt đă phản ảnh đúng cái nh́n của đảng, cho thấy
Hà Nội hoàn toàn ư thức được điểm rất thảm hại của Miền
Nam khi Quốc Hội Hoa Kỳ quyết định từ việc cắt bớt đi đến
đ́nh hoăn luôn viện trợ quân sự và kinh tế cho Sài G̣n . Vài ngày trước khi họ
tung ra cuộc tổng tấn công có tên là ‘’chiến dịch Hồ chí Minh’’
đảng cộng sản rơ ràng đă rất thích thú ghi nhận là ‘’hỏa lực
và sự khả dụng của các chiến cụ lưu động thuộc lực lượng
Miền Nam đă giảm sút
hẳn’’. T́nh h́nh nầy cho thấy là dự trử đạn dược và bom đạn
của ‘’quân đội bù nh́n’’ đă không c̣n đầy đủ và họ
đang gặp nhiều khó khăn trầm trọng để tái lập các kho dự trử
săng dầu, để bảo tŕ và sửa chữa các loại chiến xa, tàu chiên và vũ
khí nặng mà họ thường dùng.’’
Ngày 10 tháng 3/75,
hồi 3 giờ sáng, các đơn vị cộng sản đă mở một mặt trận
mới trong vùng Cao Nguyên và tung ra một cuộc tấn công quy mô vào thành phố Ban mê Thuột
, tỉnh lỵ của Darlac, nằm cách Sài G̣n 250 cây số ngàn về hướng Bắc.
Từ Ba Lê, nơi tôi đang ở, rất khó mà đo được tầm rộng lớn
và diễn tiến của hành động nầy. Những tin tức đầu tiên từ
Sài G̣n ‘’xác nhận là những trận đánh ở các đường phố đă
bắt đầu trong đêm và vẫn c̣n đang tiếp tục’’ Theo phát ngôn viên
của quân đội Miền Nam th́ ‘’ lực lượng của Chánh Phủ và địa
phương quân đă cố gắng chống lại một lực lượng địch
quá đông có chiến xa, pháo binh pḥng không và một hỏa lực pháo thật hùng hậu bắn
yểm trợ.
Cuộc tấn
công vào tỉnh lỵ đă được pháo binh hạng nặng và hỏa tiển bắn
dọn đường trước thật dữ dội. Nhiều cuộc chạm súng đă
diễn ra chung quanh phi trường cách thành phố 7 cây số ngàn. Tất cả mọi liên
lạc vô tuyến với Bộ chỉ huy tiểu khu đặt ở gần phi trường
đều mất hết. ‘’. Cũng theo Sài G̣n th́ ṿng đai phía Nam của thành phố
đă bị địch chiếm , nơi đây có gần 15.000 dân sanh sống. Không quân và binh
sĩ của Chánh Phủ đă bắn hạ 8 chiến xa địch trong thành phố và ở
vùng ngoại ô.’’ Theo những tin tức đầu tiên nhận được th́ chánh
quyền Miền Nam ước tinh đây là một "cuộc tấn công quy mô nhất mà cộng
sản đă tung ra từ sau ngày kư Hiệp Định Ba Lê về Ngừng Bắn năm 1973",
và cho là t́nh h́nh "rất đỗi nghiêm trọng". Nhưng Hoa thạnh Đốn không có một
phản ứng nào hết.
Ngày thứ ba 12 tháng 3, một bản điện tín từ Hoa Kỳ xác nhận
rất đơn giản là ‘’Theo kết quả thăm ḍ của viện Gallup th́
có 78 % dân chúng Mỹ chống lại việc Quốc Hội tăng viện trợ cho Cam Bốt
và Việt Nam, chỉ có 12% là chấp thuận’’
Ngày thứ tư 13 tháng 3, cũng theo Sài G̣n th́ cuộc chiến ở Cao Nguyên
vẫn tiếp diễn. Kư giả Gerard Le Quang đă viết trong báo France soir như sau: ‘’
Trong khi các trận đánh ở Phnom Penh đang tiếp diễn, th́ MTGPMN (Việt Cộng)
chiếm một phần của thị xă Ban mê Thuột (160.000 dân), một thị trấn quan
trọng trên Cao Nguyên, sau khi chiếm quận lỵ Đức Lập. Tấn chiếm như
vậy là kháng chiến quân ở Miền Nam Việt Nam muốn ngăn chận một sự
can thiệp của quân đội Sài G̣n vào Cam Bốt để giải vây cho Phnom Penh. Kế
hoạch can thiệp nầy được sự không trợ từ Không Lực Hoa Kỳ
đă được đề nghị cho Tổng Thống Thiệu gần đây. Vị
nguyên thủ Miền Nam Việt Nam đă dự trù tiến tới một hành động như
vậy. Ông hy vọng là sẽ có hai đường lợi: trên phương diện tài chánh
ông sẽ được tăng cường một ngân khoản viện trợ từ phía
Hoa Kỳ , trên phương diện chánh trị sẽ tăng cường được vị
thế không chối căi của người ngyên thủ quốc gia. Sự tấn công của
‘’kháng chiến quân’’ đặt lại tất cả mọi vấn đề
, từ nay quân lực Miền Nam có rất ít khả năng để hành động ở
Cam Bốt. Ở đây người ta chỉ nói đến việc gởi 20.000 quân thuộc
nhóm Khmer Krom mà thôi (binh sĩ gốc Khmer được huấn luyện ở Miền Nam Việt
Nam được gọi là Khmer Krom) ‘’ Tôi tự hỏi từ đâu mà kư giả
nầy nắm bắt được tin tức theo đó quân đội Miền Nam Việt
Nam sẽ tấn công vào Phnom Penh ? và tại sao giống như những người khác, ông
ta nhất quyết cho là "kháng chiến quân" những anh ‘’bộ đội chánh quy"
thuộc một quân đội cơ giới chánh quy của Bắc Việt, được
trang bị chiến xa, súng Pḥng Không, hỏa tiễn và những khẩu pháo binh tầm xa hạng
nặng? Tờ báo Le Figaro c̣n nuôi dưỡng măi một chuyện hoang đường tương
tự: "14 thành phố, 13 quận lỵ và một tỉnh lỵ đă rơi vào tay của
‘’những người nổi loạn’’ từ khi Hiệp Định Paris được kư kết. Đó là chỉ do "lực
lượng cánh tả ở Miền Nam" đánh bật
từng chốt một do quân đội của Chánh Phủ Miền Nam kiểm soát"
Tại miền Trung, dù sao, cuộc tấn công của cộng sản cũng
có một tầm rộng lớn không thể ngờ được .Gần như đâu đâu
binh sĩ Miền Nam cũng
bỏ mất đất. Bốn tỉnh, ba tỉnh lỵ,
gần hết vùng Cao nguyên đă bị đổi chủ. Một tỉnh thứ
năm, tỉnh Quảng Trị, ở sát biên giới phía Bắc của Việt Nam đang di tản. Và nửa triệu dân chúng
đang chạy về hướng Nam
trên quốc lộ. Chỉ mới có mấy ngày, mũi dùi tấn công bất thần của
cộng sản đă gây ra một sự xáo trộn hết sức lạ thường về
những bản đồ quân sự và về vấn đề dân số từng được
chánh thức đăng bạ ở Miền Nam Việt Nam từ trên 20 năm qua.
Vậy chuyện ǵ đă xảy ra ở đó ? Đâu là những lư do sâu xa
và thực sự của sự sụp đổ th́nh ĺnh của quân lực Miền Nam Việt
Nam ? Cho tới giờ nầy
Chánh Phủ của ông Thiệu không có đưa ra một giải thích nào khác ngoài câu chuyện
‘’tái phối trí chiến thuật’’ lực lượng của ḿnh. Và để
cắt ngang mọi câu hỏi gây bối rối được nêu lên, phát ngôn viên Bộ Quốc
Pḥng đă xác định với báo chí rằng kể từ nay sẽ không có một b́nh luận
nào về diễn tiến của các cuộc hành quân trong tương lai. Sự rút bỏ 4 tỉnh
Kontum, Pleiku, Darlac và Quảng Đức nằm dựa lưng vào biên giới Lào và Cam Bốt,
đă để mất vào tay cộng sản 4 thành phố quan trọng có phi trường và
một hệ thống đường sá quá tốt, một lănh thổ có rừng cây rộng
lớn, có những vườn trồng trọt sung túc và những đồng ruộng ph́ nhiêu
trăi dài trên 250 cây số ngàn bề dài và 150 cây số bề ngang. Đây là một hành lang chiến
lược của Miền Nam Việt Nam
vừa rơi vào tay của kẻ thù cộng sản mà trên thực tế không có một cuộc
chạm súng nào . Dường như Bộ Chỉ Huy Sài G̣n đă quyết định phải
rút tối đa binh sĩ của ḿnh và dân chúng về vùng bờ biển giàu có hơn, trú đóng
ở những thị trấn dựa lưng vào biển, khi họ đứng trước
một sự đe dọa do sự tập trung quá lớn của lực lượng cộng
sản được trang bị quá hùng hậu về chiến xa, hỏa tiễn và pháo binh
hạng nặng, để lại cho cộng sản những khu vực tuy rộng lớn
nhưng ‘’trống rỗng’’, ở đó Miền Nam có thể xử dụng
mọi phương tiện hỏa lực của Không Quân mà không sợ đánh nhằm dân
chúng bạn lẫn lộn với các binh sĩ của ḿnh. Dân chúng trong những vùng bị đe
dọa không cần phải được kêu gọi hay khuyến khích mới bỏ đi.
Các nông dân và những kiều dân đă định cư ở Cao Nguyên từ năm 1960 hầu
hết thuộc thành phần di cư người công giáo, đă từng chạy khỏi Miền
Bắc ngay ngày hôm sau khi Hiệp ước Genève 1954 vừa được kư kết. Những
người từ Quảng Trị và Hué chạy vào đây th́ không bao giờ quên cuộc ‘’thanh
trừng đẫm máu’’ có chọn lọc của năm 1968 (Tết Mậu Thân), lúc
lực lượng cộng sản chiếm một phần của hai thành phố nầy.
Một cuộc thanh trừng đến 6000 vụ hành quyết với phương tiện
thô sơ trong ṿng chưa đầy một tháng. Tuy nhiên, sự rút đi bất thần của
tất cả mọi hiện diện quân sự trên nhiều tỉnh yết hầu đă làm
thương tổn nặng nề đến uy tín và tinh thần của cả dân chúng, Chánh
Phủ Sài G̣n và QLVNCH.
Đường ṃn Hồ chí Minh được Cộng Sản Hà Nội bảo
vệ toàn diện không một xâm nhập nào đến được từ hai cạnh sườn.
Do đó quân đội cộng sản kiểm soát toàn bộ phía Đông và phía Nam của Cam Bốt, tất cả dăy Trường Sơn và cái ‘’sân
thượng’’ ngay trung tâm của nước Việt Nam . Họ có thể đổ ập bất cứ lúc nào xuống
Dalat, một vùng trồng rau chính của Miền Nam , mỗi ngày cung cấp cho Sài G̣n 70 % rau
tươi. Trú đóng trên các cao điểm và được trang bị cơ giới hùng
mạnh, lực lượng cộng sản cũng có thể thọc một mủi dùi tấn
công xuống biển để cắt đứt Miền Nam làm hai đoạn, qua hành động
đó cụ thể hóa sự h́nh thành một ‘’nươc Việt Nam thứ ba’’.
Ngày 21 tháng 3, Đài
BBC, trước đây thường hay phát lại những thông cáo của đài Hà Nội
, đă loan tin về sự di tản của thành phố An Lộc, ở cách Sài G̣n 100 cây số
về hướng Bắc. Vào năm 1972, An Lộc là nơi mà 5.000 binh sĩ của Miền
Nam , trú ẩn trong sự hoàn toàn đổ nát của thành phố v́ 70.000 quả đạn
pháo đủ loại của cộng sản Bắc Việt , trong ba tháng dài đă chống
trả và đánh bật tất cả các cuộc xung phong liên tiếp của 3 sư đoàn
cộng sản Bắc Việt có sự yểm trợ trực tiếp của 2 trung đoàn
chiến xa T.54. Bản thân tôi, lợi dụng được các chuyến bay tản thương,
đă đáp xuống thành phố nầy và đă sống ở đó được vài giờ.
V́ hỏa lực địch rất dày đặc, các trực thăng chỉ có 30 giây ở
dưới đất - thời gian tối thiểu để những người trên trực
thăng nhảy xuống, và những người khiêng cán đưa thương binh lên - sau
đó là phải bay lên ngay. Cả thành phố chỉ c̣n là một đóng gạch vụn, ngổn
ngang xác chiến xa T.54 bị lực lượng pḥng thủ hạ bằng súng không giật,
và hằng ngàn xác bộ đội cộng sản śnh to lên trong những quân phục xanh tơi
tả. Nhà thờ đă bay mất nóc. Cả trăm thi hài chồng chất lên nhau, đă thối
rửa, giữa hàng ghế ngồi đă nát vụn và dưới chân bục thờ Chúa. Trước
đó hai tuần, một chiếc T.54 của cộng sản đă dùng đại bác bắn
trực xạ vào các tín đồ đang cầu nguyện ở đó, trước khi bị
pháo xa 105 ly của quân trú pḥng bắn hạ với máy nhắm ở cự ly số 0 . Có nhiều
binh sĩ Miền Nam bị thương.
Rất nhiều người không chợp mắt được trong ṿng 60 giờ. Nhưng
tất cả các đơn vị trú pḥng đều có một tinh thần sắt thép. Chúng
tôi đang ở vào tháng 6. Vài ngày sau đó, Tổng Thống Thiệu đáp xuống An Lộc.
Quân trú pḥng bước ra khỏi hầm trú ẩn để hoan hô và bế bổng ông lên trong
chiến thắng. Một đạo quân tiếp viện cuối cùng đă bẻ găy ṿng vây,
và thành phố An Lộc đă trở thành biểu tượng cho ḷng can đảm vô biên của
quân dân Miền Nam Việt Nam
. Các sự hư hại đổ nát đă được dẹp dọn và thành phố đă
sống trở lại. Và bây giờ không đầy 3 năm sau chiến công oanh liệt đó,
An Lộc di tản mà không có một trận đánh nào . Vả lại, cũng không có một
nơi nào có xảy ra trận đánh thật sự !
Ngày 24 tháng 3, Cộng
sản đă tiến tới được bờ biển. Nước Việt Nam coi như bị cắt làm đôi. Cố
đô Hué thất thủ ngày 26, vẫn không được pḥng thủ, Hué là nơi đă có
hằng ngàn người chết năm 1968. Hué là nơi mà những đơn vị ‘’beo
đen’’, đơn vị Dù và Biệt động Quân và sư đoàn Không kỵ nổi
tiếng của Hoa Kỳ đă lùng sục từng nhà trong chiến đău lúc đó. Cuộc
triệt thoái đă trở thành một cuộc tháo chạy, ‘’mạnh ai nấy chạy’’.
Sự sụp đổ nầy bao gồm hết cả miền Trung của Việt Nam , Đám
đông dân chúng tỵ nạn hốt hoảng chạy loạn, lớn dần lớn dần
như một con sông cuồn cuộn chảy, với quá nhiều h́nh ảnh đau thương
không chịu nổi. . . . cuộc chạy trốn cuống cuồng của cà một dân tộc
bị vứt ra đường, một cuộc chạy loạn dị thường, ḍng người
chạy loạn tràn ngập và kéo theo mọi thứ trên đường đi của nó, đă
phân tán và nhận ch́m các đơn vị đang có ư định chống trả và chiến
đău. Nhiều chị đàn bà la hét một cách kinh hoàng và vô vọng v́ không t́m được
con cái đi lạc, gần như trần truồng thiểu năo và ngơ ngác giữa khối
người chạy loạn. Nhiều cụ già ốm teo chỉ c̣n da bọc xương mệt
mỏi kéo lê thân xác khô cằn và bị cháy nắng, lả người v́ đường dài
trong nóng bụi, buông ḿnh té xuống mà không gượng dậy nổi, đang nằm yên chờ
giờ chết. Những h́nh ảnh đó cả thế giới đều mục kích ngay
trên màn ảnh truyền h́nh của họ. Phản ứng đầu tiên của họ rất
nhân đạo, rất tự nhiên , không kềm chế được . Họ run lên, sau đó
họ t́m cách xin về nuôi hàng ngàn trẻ mồ côi .Không có lúc nào họ nghĩ rằng muốn
bảo
đảm tương lai của những đứa trẻ đó th́ chỉ
có một cách hay nhất là phải t́m cách cứu lấy cha mẹ của chúng. Ở Sài G̣n,
tờ báo Chính Luận có đăng một bài phóng sự quá rụng rời do một đặc
phái viên từ Qui Nhơn gởi về : ‘’Không thể tưởng tượng nổi
những giờ phút cuối cùng của thành phố đang tự trút bỏ hết đời
sống của ḿnh. Dân chúng cướp giật thuyền máy do binh sĩ canh giữ. Sau lưng
họ vô số va li, thùng cây, rương ḥm, quần áo trộn lẫn với giẽ rách được
người ta vứt bỏ đầy trên băi cát với hàng chục, hàng chục tử thi
bé nhỏ gây nên một mùi hôi thúi không chịu được . Có nhiều bà mẹ vẫn c̣n
ôm cứng xác chết của con trong tay ḿnh. Trên những con đường dẫn tới
hải cảng, những bé trai bé gái lạc mất hết cha mẹ đă cố kéo lê thân khô
cằn đến tận băi biển để rồi nằm chết lịm trên cát v́ quá đói,
quá khát và quá mệt mỏi. Một cụ già mặc đồ đen ngồi dựa trên bến
thuyền, kể lại hành tŕnh chạy loạn từ Cao Nguyên: ‘’chúng tôi có trên hai
trăm ngàn người trên lộ 7 B, gồm bốn ngàn xe vận tải chở đầy
binh sĩ, hằng ngàn chiếc mô tô, xe ba bánh, xe cũ của người Tàu, xe đạp,
và những người đi bộ. Có khoảng trên 100.000 người đi bộ, gồng
gánh tất cả những ǵ mà họ có thể mang theo được, nào là gà nhét vào bị,
nào là heo cột nằm trong gánh, nào là chó với sợi dây giắt theo. . . những người
công giáo th́ mang theo tượng ảnh Đức Mẹ và tượng Đức Chúa Trời.
Con đường th́ nhỏ hẹp chạy xuyên qua rừng giữa những bụi rậm
và tre dày đặc không chen chân qua được. Chúng tôi không có một thức ăn, và tuyệt
đối không có ǵ để uống. Chúng tôi đi suốt 3 ngày ba đêm như vậy. Một
bộ phận công binh đi trước đoàn xe để sửa đường và sửa
lại cầu hư v́ chiến cuộc trong những ngày qua. Khi gần tới sông Ba th́ từ
trong cánh rừng xuất hiện một toán lính cộng sản có người cầm cờ
đi đầu. người chỉ huy toán bộ đội ấy phát loa ra lệnh cho chúng
tôi phải ngừng lại và phải đi trở về. Nhưng làm sao được bây
giờ v́ có quá nhiều người ở phía sau cứ đùn chúng tôi đi tới. Tất
cả coi như bị dồn cứng lại thành một khối người không nhúc nhích
được nữa, rất khó ra lệnh c̣n hơn là đối với một đàn trâu
đang cúi gầm đầu xuống đất . Bấy giờ bọn cộng sản mới
bắn vào chúng tôi với tất cả các loại súng của họ đang có..Được
dấu kín trong rừng, các loại pháo nặng nhẹ, bách kích, súng không giật . . nă thẳng
vào chúng tôi dọc theo con lộ đang bị kẹt cứng. Tất cả đều nổ
đồng loạt. Một trái đạn pháo đă chém ngang con gái tôi và hai dứa con của
nó. Trên đoạn đường dài 3 cây số thây nằm la liệt, lẫn lộn kẻ
chết người bị thương. Hàng trăm xe đủ loại bị cháy, nổ
́ ầm như người ta ném đạn vào lửa vậy. Tôi ôm đứa cháu chín tuổi
trong ḷng, và cố gắng chạy bừa tới đâu hay tới đó. Đứa bé rên rỉ,
v́ nó bị một mảnh đạn pháo xuyên qua lưng từ bên nầy sang bên kia. Nó khóc thét
lên nhắc đi nhắc lại : ‘’ Ông ơi, ngực cháu bị thủng rồi đau
lắm’’. Ṛi đùng một cái, tôi không c̣n nghe nó nói ǵ nữa. Tôi nh́n lại nó th́ đôi
môi của nó đă đen hết rồi, và nó đă chết. Tôi tiếp tục bế nó để
sẽ chôn cất nó cho phải phép. Khi vào đến thành phố, tôi rửa mặt cho nó ở
một cái ṿi nước đầu tiên, tôi cuốn nó vào một cái bị vải mới mà
tôi mua với số tiền c̣n lại của tôi, và tôi chôn nó duới một gốc cây. Bây
giờ th́ tôi không c̣n ǵ nữa, người thân cũng không có để mà thuơng yêu và che
chở. Tôi sẽ không rời khỏi đây đâu ‘’
Tướng Weyand, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ được
Tổng Thống Ford gởi khẩn cấp đến Sài G̣n để đánh giá t́nh h́nh quân
sự tại đây. Phát ngôn viên của Nhà Trắng, ông M. Ron Nessen, đă xác nhận là "cựu
chỉ huy trưởng quân lực Hoa Kỳ ở Việt Nam"
cũng có nhiệm vụ trao cho Chánh Phủ Sài G̣n một công điện qua
đó Tổng Thống Ford muốn bảo đảm với Tổng Thống Thiệu là ông
ta đă quyết định nỗ lực tối đa để được Quốc
Hội "chấp thuận cho những ngân khoản cần thiết." Nhưng Quốc Hội
Hoa Kỳ không thấy và không nghe (nguyên văn của tác giả : đui và điếc) những
nỗi thống khổ của một dân tộc bạn đang bị một tai họa giáng
lên đầu và đang kêu cứu, và họ đă bỏ đi nghỉ hè cho đến ngày
7 tháng 4. Không thể nào tả nổi cảnh hỗn loạn trên các con lộ ở Miền
Nam Việt Nam được
.
Ngày 29 tháng 3/75
: Đà Nẵng, thành phố mà người Mỹ đă có trù tính trong ṿng 8 ngày sẽ di tản
hết dân chúng bằng một cầu Không vận khổng lồ trong lịch sử chiến
tranh, số phận đă coi như bị bỏ rơi. Sáu trái đạn hỏa tiển rơi
váo phi trường.. . . và cuộc di tản đương nhiên bị đ́nh hoăn. Đà Nẵng
là một thành phố với một hải cảng đầy ấp tàu thuyền, với
một bán đảo được pḥng thủ chặt chẽ, với một phi trường
chiến lược, với một hệ thống kho tàng đầy ấp lương thực,
đạn duợc và chiến cụ có thể kháng cự được trong nhiều tháng.
Thành phố bị mất đi không một tiếng súng, và sự ra đi của những
chiếc phi cơ và trực thăng cuối cùng đă tạo nên những cảnh tượng
hết sức kinh hoàng. Đám đông người tỵ nạn ùa lại tranh nhau cố leo
lên những chiếc phi cơ đă đầy ấp người. Một chiếc trực
thăng cất cánh lắc lư làm rơi rụng mấy chùm người đang cố bám
chặt vào hai gọng sắt dưới lườn, giống như những con sâu nhỏ
đeo vào một con bọ hung lớn, làm cho họ rơi lả chả từ trên không, rồi
rớt xuống đất bẹp nát từng đống nhỏ không c̣n h́nh dạng con người
, máu me be bét. Đán bà và trẻ con khóc lóc, gào thét, van xin, và cố gắng trèo lên một chiếc
khác cũng đă đầy cứng người rồi. Có những báng súng đập vào tay
và cánh tay của họ. Có một số đang cố bám vào lườn của môt chiếc
Boeing đang gầm rú để cố bốc lên khỏi đường bay. Khi đến
Sài G̣n người ta c̣n t́m thấy một tử thi bị xé nát của một người
nào đó đang bị cuốn chặt vào hệ thống bánh xe hạ cánh của chiếc
Boeing 707 nói trên.
Ba ngày sau khi Đà Nẵng thất thủ th́ lại đến lượt Nha
Trang ! Ở đây 300.000 người dân tị nạn c̣n sống sót từ vùng Cao Nguyên và từ
các tỉnh miền Trung chạy về đă bị gọng kềm của chiếc bẫy
sập cộng sản đóng kín họ lại. Cam Ranh, một vịnh đẹp nhất
vùng Á Châu cũng đang được di tản. Pháo binh Bắc Việt cứ tiếp tục
nă đạn vào các đoàn người di cư đang chạy trốn cộng sản hướng
về miền biển.
Lúc bấy giờ đang có một t́nh trạng mập mờ khó hiểu tại
Hoa Kỳ . Quốc Hội th́ vẫn c̣n đang đi nghỉ hè. . . . Tổng Thống Ford một
ít lâu sau đó cũng bắt chước họ và ông hiện đang thong dong chơi "gôn" tại
Palm Springs ở tiểu bang California. Phần ông Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller th́ ước
tính là "thật sự đă quá muộn" để muốn làm một việc ǵ đó cho Việt
Nam , kể cả sự giúp đỡ cho dân chúng đang chạy loạn, và ông c̣n nói thêm một
câu khích động hết sức vô liêm sĩ: "Tôi nghĩ rằng có một số lớn những
người nầy sẽ chết.. .. .. thật đáng buồn, thật quá bi thảm. Nhưng
chúng tôi c̣n phải tiếp tục sống , và tiếp tục đi tới chớ"’ Đại
sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam hiện c̣n đang ở Hoa thạnh Đốn đă lên án
người Mỹ đă "không đưa được một ngón tay lên" để binh vực
cho quốc gia ḿnh. Ông nói "tôi nghĩ rằng khắp nơi trên thế giới nầy, mọi
người đều có chung một kết luận rất bất lợi cho chúng ta . Có nghĩa
là thà làm một đồng minh của cộng sản c̣n hơn là bất hạnh được
làm đồng
minh của Hoa Kỳ " Tại Ba Lê, một đại diện của CPLTCHMN (GRP) lên tiếng
mạnh mẽ tố cáo cái mà họ gọi là chánh quyền Ford và tập đoàn Nguyễn văn
Thiệu đă "ép buộc dân chúng Miền Nam phải di tản’’ . Ông ta c̣n xác nhận
là hàng trăm ngàn người đă nghe lời tuyên truyền xảo trá và bị hăm dọa
dưới họng súng, đă bị bắt buộc phải ĺa bỏ hết nhà cửa và
nơi chôn nhao cắt rún của ḿnh để được chết đói và chết bệnh
trên đường di tản. Nhiều ngàn người khác v́ không chịu chạy trốn
đă phải bị hành quyết.. .!" Đó là một đại diện không sợ phải
nghiên cứu một sự nghịch lư, và hơn nữa cũng không nghĩ tới một sự
đính chánh về những sự kiện đă xảy ra. Cái Chánh Phủ cách mạng lâm thời
mà ông ta đang nhơn danh để tuyên bố đó, đă từng phủ nhận từ
mấy năm nay về tư cách đại diện cho nước Việt Nam của ông Tổng
Thống Thiệu, bỗng nhiên hôm nay đùng một cái, ông ta công nhận một thực quyền
phi thường của vị Tổng Thống nầy là làm cho người dân tin theo.. .. ..
.. một quyền lực tâm lư có khả năng di chuyển cả một khối lớn dân
chúng, bắt họ phải rời bỏ nhà cửa ruộng vườn để đi về
những thành phố cuối cùng dưới sự lănh đạo ‘’độc tài"
của ḿnh. Ở vào thời điểm nào và bằng cách nào mà binh sĩ của Tổng Thống
Thiệu đang bị tan ră không qua một cuộc chạm súng nào và đang cùng chạy trong
đám dân chúng, lại có thể dùng họng súng của họ để bắt buộc hàng
triệu người phải di tản, chạy về các sân bay hay các bến cảng đang
lần hồi bị đóng cửa trước mặt họ ? Hàng chục ngàn người
đă v́ quá sợ binh sĩ Bắc Việt mà phải chạy đi, đă chết v́ đói
khát hay v́ mệt lả, hoặc bị tàn sát một cách có phương pháp có tổ chức
mà thân nhân của họ đă từng là nạn nhân ở Quảng Trị và ở Hué trong năm
1968. Nhiều ngàn và nhiều ngàn người khác đă bị hành quyết, bằng những
quả đạn pháo đủ cở đủ loại của cộng sản trong những
tuần lễ sau cùng nầy, khi Bắc Việt muốn ngăn cản không cho họ chạy
đi.
Tại Sài G̣n , cuối cùng th́ chế độ của ông Thiệu dường
như được tính từng ngày. Người ta không thể tha thứ cho ông v́ sau khi Ban
mê Thuột bị thất thủ, ông đă cho lệnh rút tất cả quân đội từ
miền Trung và từ miền Cao Nguyên : vội vàng và cẩu thả, hành động rút quân
nầy đă dẫn tới một sự tháo chạy mà ngay như Bắc Việt cũng không
bao giờ tiên đoán được .
Bị đối lập tấn công từ nhiều tháng qua bây giờ th́ ông
lại bị Thượng Viện bỏ rơi, một Thượng Viện đă từng
cho ông một sự tín nhiệm hết sức rộng răi. Sau 8 tiếng đồng hồ
thảo luận, 41 trên 42 nghị sĩ hiện diện đă đứng lên chống "sự
bất lực của chế độ’’ và đ̣i hỏi phải thành lập khẩn
cấp một Chánh Phủ đoàn kết quốc gia gồm những nhân vật ‘’có
khả năng, liêm khiết và đại diện cho dân’’ . Chánh Phủ mới thành
lập nầy phải cộng tác chặt chẽ với Quốc Hội và các đoàn thể
quần chúng, nhanh chóng làm việc trong mục đích tái lập lại sự ‘’ổn
định quân sự, xă hội và chánh trị ‘’. Tướng Nguyễn cao Kỳ,
cựu Phó Tổng Thống và cựu Tư Lệnh Không Quân Miền Nam Việt Nam, đă về
hưu từ năm năm nay đă đứng ra thành lập một ‘’Ủy Ban Hành
Động để Cứu Quốc’’ và hô hào sự ra đi của Tổng Thống
Thiệu. Cảnh sát đă phá được hai âm mưu đảo chánh và đă bắt giữ
nhiều sĩ quan.
Nhiều điện tín sau cùng cho biết là đă có một sự hốt hoăng
trong thủ đô Miền Nam Việt Nam
. Tất cả những chuyến bay thường lệ rời Sài G̣n đă hết chỗ.
Các ngân hàng bị khách hàng bao vây để rút hết tiền ra. Chỉ trong ṿng có một ngày
giá chợ đen đồng mỹ kim đă tăng vọt từ 700 lên đến 1600 đồng.
Vào giờ phút mà Miền Nam Việt Nam đang lung lay và bị đe dọa sẽ bị sụp
đổ dưới sự tấn công dồn dập của các sư đoàn cộng sản
Bắc Việt mà h́nh như không có ǵ kềm hăm sức tiến của họ được,
có một trong nhiều câu hỏi đang làm bận tâm nhưng chưa thấy được
nêu lên : trong trường hợp quân Bắc Việt thắng, th́ những kiều dân Pháp và
quyền lợi của nước Pháp chúng tôi ở đây sẽ c̣n hay không ? 12.000 kiều
dân Pháp có một nhiệm vụ rất quan trọng trong đời sống của Miền
Nam Việt Nam . Quyền lợi
Pháp, được ước t́nh đến 1 tỷ 730 ngàn quan, được phân ra như
sau: - cơ sở kỹ nghệ (đầu tư và trữ kim) : 650 triệu quan Pháp - các vườn
cao su và xí nghiệp : 650 triệu quan - trà và cà phê: 10 ngàn mẫu, - doanh nghiệp: (đầu
tư và trữ kim) 100 triệu quan - xí nghiệp vận tải và nhà xe, vận tải đường
sông và đường biển: 150 triệu quan - ngân hàng , công ty địa ốc và bất
động sản : 180 triệu quan Các sự đầu tư nầy không những chỉ
là những đầu tư ngoại quốc duy nhất có phần bền vững mà nó c̣n chiếm
một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Miền Nam Việt Nam . Con số
mậu dịch lên gần đến 800 triệu quan Pháp và phần đóng góp vào ngân sách của
Miền Nam Việt Nam được
khoảng 23 %. Những sự đầu tư về kỹ nghệ của chúng tôi ít được
dân chúng bên Pháp biết đến, phần lớn gồm có kỹ nghệ khá tân tiến của
Miền Nam Việt Nam , gồm có các xí nghiệp mới nhất như: hăng Citroen, nơi đây
đă lấp ráp những xe thông dụng trong năm qua, đặc biệt là xe La Dalat; xưởng
sản xuất xi măng ở Hà Tiên; hảng Isostat (kỹ nghệ điện tử), các
hảng Elf- Erap và C.F.P. dự phần vào công tác t́m dầu khí ngoài khơi bờ biển Việt
Nam Hơn thế nữa, các công ty hàng không của chúng tôi (Air France đang cộng tác với
Air Việt Nam và U.T.A.), các công ty hàng hải (Messageries và Chargeurs Réunis) đang hoạt động
bán độc quyền trong công tác chuyển vận quốc tế từ Việt Nam đến
Nam Âu Châu và ngược lại. Những lợi thế mà Lập Pháp ở đây đă dành
cho đầu tư của chúng tôi , sự khéo tay của nhân công ở đây, vị trí địa
dư thuận lợi cho khả năng xuất cảng, mối giao hảo tốt với
nước Pháp và các nước bạn quanh đó (các nước nói tiếng Pháp) đă cống
hiến nhiều viễn ành và điều kiện làm việc rất đáng được
khuyến khích. Ảnh hưởng văn hóa Pháp vẫn c̣n rất quan trọng. Tất cả
thành phần lănh đạo ở Miền Nam Việt Nam
và hầu hết các cán bộ cao cấp đều nói tiếng Pháp. Những cơ sở văn
hóa Pháp rất nhiều . Một viện văn hóa Pháp ở Sài G̣n , ba trung tâm văn hóa ở
Dalat, Đà Nẵng và Nha Trang; sáu trường trung học (Yersin, Dalat, Blaise-Pascal, Đà Nẵng
trường Trung học Pháp ở Nha Trang, trung học Marie Curie); trung tâm giáo dục Saint Exupery,
trung tâm học vụ Colette ở Sài G̣n . Nước Pháp cũng giúp đỡ cho nhiều trường
sở Việt Nam dưới
danh nghĩa hợp tác văn hóa và kỹ thuật (trung tâm hướng dẫn học vụ,
đại học văn chương và sư phạm của Sài G̣n và Hué, đại học
Y và Dược của Sài G̣n, trung tâm kỹ thuật quốc gia Phú Thọ). Con số học
sinh và sinh viên ghi tên vào các trường sở nói trên lên đến 14.000, và nhân viên giảng
dạy người Pháp là 272 người . Thêm vào đó c̣n có những trường khác, trường
tư và trường đạo dạy toàn bằng tiếng Pháp : trường trung học
Taberd (Sài G̣n ),
trung học Fraternité (Chợ Lớn), Les Oiseaux (Dalat và Sài G̣n ), l’Alliance Francaise
(Sài G̣n) . Các giáo sĩ và các d́ phước có mặt khắp các bệnh viện, các trại
cùi, các trung tâm xă hội và đă tận tụy hy sinh phục vụ mà không có một sự
tính toán nào. Bệnh viện Grall, một trong những bệnh viện tối tân nhất của
vùng Đông Nam Á, trong đó tất cả nhân viên có trách nhiệm (bác sĩ, giải phẩu,
quang tuyến, dược sĩ và quản lư) đều là người Pháp, là một bệnh
viện có danh tiếng không thể chối căi được .
Tất cả các cơ sở đó, tất cả những nam nữ nhân viên
đă dính líu thật sâu đậm vào đất nước nầy, tất cả những
sự đóng góp về văn hóa và nhân đạo của nước Pháp. . . rồi đây
sẽ c̣n lại những ǵ trong trường hợp có một chiến thắng của cộng
sản ở đây ? Bây giờ th́ c̣n quá sớm để có thể ức đoán về tương
lai, nhưng dù sao cũng có thể thiết lập được một sự so sánh với
những ǵ đă xảy ra trong quá khứ ở Miền Bắc Việt Nam . Vào năm 1954, những quyền lợi của Pháp ở
nước Cộng Ḥa Dân Chủ Việt Nam
lên đến 100 tỷ đồng quan cũ. Đến giờ nầy giao dịch kinh tế
của chúng tôi với chế độ Hà Nội coi như không có ǵ cả. Các cơ sở
Pháp đều đă biến mất hết. Không có một cơ sở giáo dục nào ở
cấp đại học hay cơ sở y tế nào c̣n hoạt động ở đó. Con
số kiều bào người Pháp chúng tôi từ gần 6.000 vào năm 1954, bây giờ chỉ
c̣n có 21, trong số đó phải tính 16 nhân viên của ṭa Đại Sứ. Năm người
c̣n lại là nhà báo của AFP, của tờ Humanité và tờ l’Unita (hai tờ báo của
cộng sản Pháp và Ư). Tiếng Pháp là ngôn ngữ mà những người dưới 50 tuổi
không người nào biết .. Đối với những người khác th́ tiếng Pháp là
một sinh ngữ ngoại quốc đứng vào hàng thứ tư sau tiếng Nga, tiếng
Tàu và tiếng Anh. Từ sự hiện diện của chúng tôi khi xưa, giờ nầy trên
b́nh diện kinh tế, chỉ c̣n một hồ sơ tố tụng về nợ nần không
bao giờ giải quyết được và một khế ước bồi thường
cho những mỏ than cũ ở Miền Bắc của chúng tôi mà Bắc Việt đă cho
đ́nh chỉ thi hành từ năm 1963 . Lănh đạo của Hà Nội chỉ cần vài năm
là quá đủ để họ bôi xóa hết dấu vết ảnh hưởng của người
Pháp ở Miền Bắc Việt Nam
. Như vậy c̣ thể nào người ta đặt hết tin tưởng vào một hy vọng
là họ sẽ tơ ra bớt mẫn tiệp hơn nếu họ chiếm được Miền
Nam?
CHƯƠNG BỐN
TỔNG THỐNG THIỆU CỐ GẮNG GIỮ THẾ CHỦ ĐỘNG CHÁNH
TRỊ
Ngày Chúa Nhật 6 tháng 4
Chiếc phi cơ "Caravelle" của Hàng Không Việt Nam đă đổi đường bay từ Băng Cốc
về Sài G̣n . Nó không bay chéo dăy núi dài của Cam Bốt và những đồng ruộng ph́ nhiêu
của vùng Đồng bằng nữa, mà đi thẳng đến Utapao để từ đó
bay dọc theo duyên hải của Miền Nam Việt Nam, bay thật cẩn thận trên mặt
biển để tránh tầm đạn đạo của hỏa tiễn tầm nhiệt
SAM.7 của Bắc Việt . Và sau đó mới bay thẳng về hướng Bắc, rồi
tạt ngang qua khúc quanh co śnh lầy của con sông Sài G̣n để vào Tân sơn Nhất. Đường
bay đáp xuống hơi ngắn lại hẹp v́ hai bên có những bức tường thép
vuông vức dùng để chắn đạn của các ụ phi cơ vận tải C.47, các
trực thăng và những phi cơ chiến đău. Trong những dăy nhà của phi trường
bốn chiếc C.130 khổng lồ của Không Lực Hoàng Gia Úc đang đến để
chở 600 trẻ mồ côi. Có khoảng 100 em mặc toàn quần áo mới đang đứng
yên lặng dưới đất nh́n các phi cơ khổng lồ nầy đầy vẻ
sợ hăi. Chiếc xe buưt đưa chúng tôi ra thành phố chạy giữa đám đông xe gắn
máy, xe hơi, xe ba bánh. Thành phố mà cách đây vài ngày tất cả báo chí Tây Phương đều
mô tả như là một thành phố đang bị bao vây, hiện rất yên tĩnh lạ
kỳ. Gần như không có một tư ǵ thay đổi từ khi tôi đang c̣n ở đây
sáu tháng trước . Trên các đại lộ và trong các công viên đầy bóng mát của những
cây chuối và những cây cổ thụ xanh um, đă thấy toàn hoa phượng nở đỏ
rực.. Ở đường Catinat, những pḥng trà và pḥng lớn của khách sạn Continental
đầy ấp khách hàng.Tuy là nhằm ngày chúa nhật nhưng các thư viện, các quán rượu,
các kho hàng, các cửa hàng tạp hóa của người Ấn vẫn mở cửa. Trên đường
Charner cũ (Nguyễn Huệ) các gian hàng bán bông c̣n đầy ấp bông huệ và bông hường.
Các rạp xi nê th́ treo bản ‘’hết vé’’. Trên sông Sài G̣n các xà lan đen chở
đầy hàng hóa đang bỏ neo giữa những chiếc tàu chiến của Hải Quân
súng cao xạ chỉ hết lên trời. Nhiều chiếc ghe chài đường biển đang
lướt trên sông vớI những cánh buồm lớn . . . Phía sau Kho bạc và chung quanh Chợ
Cũ, hàng quán vẫn tấp nập kẻ mua người bán. Chỉ riêng các xe xích-lô đă
vắng bóng, Có gần 6000 loại xe nầy, lúc nào cũng thấy chạy rong ngược
xuôi khắp thành phố t́m khách hay rước khách ở bến xe ba bánh. Cảnh sát đă quyết
định cấm không cho họ hoạt động nữa, v́ bọn đặc công Việt
Cộng đă giả dạng xích lô trà trộn và đột nhập vào thành phố một
đêm trước ngày tấn công Tết Mậu Thân , bảy năm trước . Sài G̣n có
vẻ lo âu ngay sau khi Đà Nẵng và Nha Trang bị thất thủ. Ṭa nhà của hăng Hàng Không
Việt Nam từng sống những
ngày vui vẻ nhộn nhịp, nay đă trở lại vắng vẽ im ĺm. Hảng hàng không
quốc gia nầy nay chỉ c̣n giữ có 2 chuyến bay trong nội địa đang bị
thu hẹp lại: một chuyến đi Phú Quốc, một ḥn đảo nằm ngoài khơi
trong Vịnh Thái Lan , và một chuyến đi Rạch Giá, một tỉnh nằm trên bờ
biển phía Tây Nam của Việt Nam .
Các tờ báo buổi chiều chạy hàng chữ đậm , trích đăng
cuộc họp báo được coi là đáng khích lệ của Tổng Thống Ford tại
San Diego. Tổng Thống Hoa Kỳ đă tuyên
bố rằng: - " Tôi là một người rất lạc quan . Bất kể những biến
cố bi thảm mà chúng tôi là nhân chứng, cũng vẫn c̣n một cơ may để Việt
Nam và Cam Bốt chống trả
lại sức ép của kẻ địch. Tôi không chờ đợi một sự sụp
đổ của Miền Nam Việt Nam và tôi sẽ làm tất cả để tránh việc đó.
Chúng tôi không để cho một chế độ cộng sản được hiện hữu
tại Sài G̣n , và ở Phnom Penh cũng vậy.
Hoa Kỳ vẫn là một đồng minh đáng tin cậy ."
Cuộc khủng khoảng chánh trị ở Sài G̣n bắt nguồn từ sự
kiện Cao Nguyên bị rơi vào tay cộng sản Bắc Việt, vừa bất ngờ được
sống trở lại rất ngoạn mục. Vài giờ sau khi ngăn chận được
một âm mưu đảo chánh, Tổng Thống Thiệu tuyên bố chỉ định ông
Chủ Tịch Hạ Viện Nguyễn bá Cẩn thay thế Thủ tướng Trần thiện
Khiêm.
Sau khi khám phá ra được âm mưu đảo chánh , đă có nhiều người
bị bắt giữ trong số đó có ông Nguyễn văn Ngân, cố vấn chánh trị
của Tổng Thống Thiệu và là một thành viên có uy tín thuộc đảng Dân Chủ
của chánh quyền . Ông Ngân là một cựu giáo chức, sau đó là sĩ quan Quân Cảnh,
và sau khi được giải ngũ đă quyết định chọn con đường
chánh trị và đă nhanh chóng vạch ra con đường cho ḿnh. Vào năm 1972, Tổng Thống
Thiệu đă chọn ông Ngân làm phụ tá đặc trách về công tác thành lập đảng
Dân Chủ mà ông hy vọng sẽ là đảng của chánh quyền để yểm trợ
cho ông, đồng thời ông Ngân cũng sẽ bảo đảm sự liên lạc chặt
chẻ giữa Tổng Thống Phủ và lưỡng viện Quốc Hội . Là một người
mưu mô và có nhiều tham vọng, ông Ngân tiến hành thành lập rất nhanh ở Quốc
Hội hai toán liên lạc rất trung thành với ông ta. Vào mùa xuân năm 1974, ông tưởng
rằng vị trí cá nhân của ông đă đủ vững chắc, có thể triệu tập
được một buổi họp của các vị dân cử "bạn" để nhờ
họ giúp tách rờI Tổng Thống Thiệu ra khỏi những "thủ hạ xấu" chung
quanh ông ta. Và một khi bảo đảm chắc chắn là ông Thiệu đă bị "cô lập"
như thế rồi th́ ông nầy sẽ trở thành con tin trong tay của những người
dân cử. Nhưng rất phiền là một trong những nghị sĩ lại có mang theo một
máy thu âm trong người , và cuốn băng ghi âm đó cuối cùng lại đến nằm
trên bàn làm việc của Tổng Thống Thiệu . Trong cuộc điều tra ngay sau đó,
cơ quan an ninh xác nhận là "những tài liệu tịch thâu được tại nhà của
ông Ngân cho thấy ông nầy dính líu đến một đường dây buôn lậu với
vùng Việt Cộng" Bị chỉ định cư trú trong vài tháng, sau đó ông Ngân được
phép rời khỏi nước đi sang Gia nả đại ở vớI người anh
của ông ta. Nhưng gần đây khi được phép trở lại Việt Nam , h́nh như
không bỏ được tham vọng, ông lại khư khư muốn nắm giữ những
vai tṛ hàng đầu, nên lần nầy ông lại hợp tác với cánh em út của tướng
Nguyễn cao Kỳ. Bị dính líu vào âm mưu nầy, 8 sĩ quan cao cấp bị theo dơi và
canh chừng, trong số đó có tướng Loan. Tướng Loan là cựu chỉ huy trưởng
cảnh sát, hồi Tết Mậu Thân đă bị báo chí Tây Phưong chụp ảnh, ngay khi
ông đang dùng súng lục bắn vào đầu một cấp chỉ huy Việt Cộng, sau
đó ít lâu ông bị thương v́ một viên đạn từ trực thăng và đă trở
nên một phế nhân không có việc làm. Nhưng mặc dù c̣ một chân bất khiển dụng,
vị cựu sĩ quan biệt động nầy, từng là một trong những phi công tài
giỏi nhất của Miền Nam Việt Nam , vẫn c̣n có khả năng phản ứng
rất nguy hiểm..
Nằm ngay giữa căn cứ Không Quân rộng lớn trong phạm vi phi trường
Tân sơn Nhất, biệt thự của tướng Nguyễn cao Kỳ vẫn c̣n là một
trung tâm sinh hoạt rất náo nhiệt và . . . rất được chú ư canh chừng. Vào mỗi
buỗI chiều cứ trước giờ giớ nghiêm là khách khứa tấp nập đến
chơi nhà tướng Kỳ. Có nhiều đại tá trẻ và một số phi công, quá tức
giận v́ các thất bại quân sự gần đây, đă tỏ ra sẵn sàng cho những
hành động điên rồ. Bà Mai, người vợ rất đẹp của tướng
Kỳ th́ lo thức ăn và nước uống. Khách khứa th́ bàn căi thâu đêm suốt sáng
về những ǵ cần phải làm. Tướng Kỳ là người nói nhiều nhất,
ông quát tháo, tức giận, cho Tổng Thống Thiệu là một vị tướng "hát bội",
ông xác nhận rằng ḿnh
đă h́nh thành "một kế hoạch phản công" để chận đứng
làn sóng cộng sản ông lên án Đại sứ Hoa Kỳ đă "tự ư chống lại mọi
sự thay đổi Chánh Phủ" . Không khí âm mưu nầy đă làm cho Tổng Thống Thiệu
phát cáu lên. Một số sát thủ đă được thuê để t́m cách thanh toán tướng
Kỳ. Họ đột nhập vào được căn cứ, nhưng đă bị toán
cận vệ của tướng Kỳ bắn hạ ngay ở cách biệt thự chừng
vài ba thước. Có lẽ người ta đang chờ xem những màn biến chuyển náo
nhiệt nầy. Bất chấp những sự đe dọa nặng nề đang đè nặng
lên bản thân ông, Tổng Thống Thiệu vẫn cố gắng giữ thế chủ động
chánh trị của ḿnh, đồng thời cố giữ không cho phần c̣n lại của
quân đội bị ră ngũ. Trong một buỗi nói chuyện trên vô tuyến truyền h́nh,
Tổng Thống Thiệu vừa xác nhận là Thủ tướng mới được chỉ
định đang lo thành lập một "Chánh Phủ chiến đău và đoàn kết" vớI
nhiệm vụ tái lập an ninh, ổn định hậu phương và cứu trợ dân
chúng tỵ nạn. Ông xác nhận là các chỉ huy quân sự nào "hèn nhát và có tinh thần chủ
bại" sẽ bị trừng trị. Ông dựa trên vị thế "hợp pháp và hiến định"
của một Tổng Thống được dân bầu trong sứ mạng bảo vệ
chế độ, và cực lực bác bỏ mọi luận điệu cho rằng ông đă
có "một thỏa hiệp kín với cộng sản" trong việc nhượng một phần
lănh thổ của quốc gia để đổi lấy một sự rút quân và bảo toàn
dân chúng đang chạy loạn. Cuối cùng ông nhấn mạnh là ông vẫn thi hành đứng
đắn Hiệp Định Balê, dù là Hiệp Định đang bị Bắc Việt chà
đạp, khi ông nói rằng ông phải dùng bạo lực để trả lời với
bạo lực, và ông không bao giờ thương lượng điều ǵ dưới sự
đe dọa của họng súng. Để kết luận, ông kêu gọi dân chúng hăy "trấn
tỉnh lại" và đ̣i hỏi quân đội phải "chuẩn bị’ để tái
chiếm lại những phần lănh thổ đă mất". Những ư định đó rất
đáng được khen ngợi. Chỉ c̣n có việc thi hành các quyết định đó
mà thôi. Không phải những hoạt động trong hành lang mà chính là những hành động
trên chiến trường mới xác nhận được lời nói của ông Thiệu có
giá trị hay không . Số phận của nước Việt Nam tựu trung vẫn phải được giải quyêt
bằng súng đạn!
CHƯƠNG NĂM
CÁC TƯỚNG LĂNH TỨC GIẬN V̀ THẤY M̀NH BỊ NHỤC
Thứ hai, 7 tháng 4
Đ ại tá
Khôi, sĩ quan phụ tá trưởng Pḥng Nh́ Quân Đoàn III tiếp tôi tại Bộ Tổng
Tham Mưu QLV NCH , một doanh trại rộng lớn nằm gần sân bay Tân sơn Nhất,
nơi có rất nhiều ăng ten và có Thiết Giáp canh gác. Lúc bấy giờ là 9 giờ sáng.
Đại tá Khôi, một cựu sĩ quan lực lượng đặc biệt,
được huấn luyện ở Okinawa, là một người cao lớn mảnh khảnh
mặt đầy vết thẹo v́ ông đă đạp phải ḿn năm 1970.
Trên tường của văn pḥng ông treo đầy bản đồ, được
cập nhật rất cẩn thận.
"Tôi tưởng
là Anh muốn biết những ǵ đă xảy ra ở Cao Nguyên và ở Hué phải không ?", ông
ta hỏi tôi.
- Thưa đại
tá, Tổng Thống Thiệu có nói về "những sai lầm trầm trọng về chỉ
huy". V́ tôi không có mặt tại chỗ, nên tôi muốn có vài chi tiết chính xác .
Đại tá Khôi xoa tay, nh́n tôi bằng cặp mắt thật sắc bén và t́m
ṭi, sau đó trả lời cho tôi với một nụ cười có đôi chút gượng
gạo:
- Chắc là tôi không thể trả lời hết các câu hỏi của Anh được
đâu, nhưng tôi sẽ cố gắng nói với Anh phần chính. Đồng ư không ?"
Tôi gật đầu chấp thuận ngay. Đại tá Khôi sau đó mới
bắt đầu nói:
‘’Trước hết chúng ta phải xác nhận một việc: cộng
sản đă có tấn công vào thị xă Ban mê Thuột 2 lần vào năm 1968 (Mậu Thân) và
năm 1972, và cả hai lần chúng đều thất bại. Nhưng lần
nầy quân lực của chúng tôi ở vào một vị thế rất yếu
kém và không c̣n được một sự Không Trợ mạnh mẽ của Không Lực Hoa
Kỳ đă từng giúp chúng tôi bẻ găy cuộc tấn công của cộng sản
hai lần trước . Chúng tôi biết là cộng sản Bắc Việt đă
tập trung các đơn vị và chiến cụ trong những vùng rừng rậm nằm giữa
biên giới Lào và Cam Bốt và các thành phố vùng Cao Nguyên. Nhưng v́
người Mỹ đă luôn luôn từ chối không cung cấp cho chúng tôi các oanh tạc cơ
hạng nặng để giúp chúng tôi đánh ngay vào tuyến xuất phát nằm ở các vùng
tập trung của địch, nên chúng tôi không thể dự đoán được cuộc
tấn công của họ.
-Ngày 10/3 hồi 4 giờ sáng, cộng sản đă mở màn trận đánh
bằng một trận mưa pháo đủ loại, từ 130 ly, đến bách kích pháo nặng
và hỏa tiễn, nă vào thành phố Ban mê Thuột . Pháo dọn đường nầy đă
kéo dài trong ba tiếng đồng hồ, và ngay sau đó là các chiến xa T.54 mở cuộc
xung phong vào thị trấn. Người của chúng tôi đă cực lực chống trả,
đặc biệt là ở mạn Nam của thành phố và chung quanh phi trường, nhưng
vào lúc trưa Không Lực của ta lại đánh nhằm ngay bộ chỉ huy của tiểu
khu, cứ điểm pḥng ngự cuối cùng, và sau đó tất cả mọi nỗ lực
để tái chiếm lại thị trấn đều thất bại.
Tổng Thống Thiệu đă muốn chống giữ Ban mê Thuột , v́ đây
là thủ đô của đồng bào Thượng, và mất Ban mê Thuột là tất cả
các bộ lạc trên vùng Cao Nguyên nầy sẽ mất hết tinh thần. Ngày 13 tháng 3, được
báo là thành phố nầy đă hoàn toàn bị cộng sản Bắc Việt kiểm soát, Tổng
Thống Thiệu đă đơn phương quyết định bỏ hết vùng Cao Nguyên,
thà là di tản hết dân chúng và quân đội trú pḥng đang bị đe dọa c̣n hơn
là tiếp tục chống giữ tới cùng, để có thêm nguy cơ tổn thất về
nhân mạng rất cao .
Từ nhiều tháng trước Bộ Tổng Tham Mưu chúng tôi có thỏa
thuận với các cố vấn Hoa Kỳ một kế hoạch theo đó chúng tôi dự trù
rút hết quân lực về các tỉnh miền duyên hải của miền Trung trong trường
hợp bị cộng sản Bắc Việt tổng tấn công mạnh. Cuộc lui binh nầy
- đă không thực hiện được v́ vừa quá tốn kém vừa c̣n phải chống
giữ lănh thổ trên phương diện chiến thuật - thật ra có 2 đường
lợi, là rút gọn lại tuyến pḥng ngự của chúng tôi và có thể tiếp vận
dễ dàng bằng đường biển.
Ngày 13 tháng 3, tướng Ngô quang Trường, tư lệnh Vùng I Chiến Thuật,
một vùng nằm giữa vĩ tuyến 17 và Đà Nẵng , bay về Sài G̣n để họp
với Tổng Thống Thiệu. Tổng Thống Thiệu đă cho lệnh tướng Trưởng
rút quân trú pḥng Quảng Trị và cũng đừng ngần ngại phải bỏ luôn Hué,
nếu thấy cần thiết để tổ chức một tuyến pḥng thủ vững
chắc ở Đà Nẵng , ở đó có thể lợi dụng được phi trường
lớn và các kho dự trữ lương thực và đạn dược quan trọng. Tướng
Trưởng đă tuyên bố thỏa thuận trên nguyên tắc, và nói thêm là ông sẽ dùng hết
khả năng để pḥng thủ Hué.
Ngày 14 tháng 3, Tổng Thống Thiệu đến căn cứ Hải Quân ở
Cam Ranh để có một buổi họp kín của Hội Đồng
Quân sự. Có 5 tướng lănh hiện diện trong buỗi họp : Tổng Thống Thiệu,
đại tướng Khiêm Thủ tướng Chánh Phủ , tướng Cao văn Viên Tổng
Tham mưu trưởng QLVNCH, tướng Đặng văn Quang cố vấn quân sự của
Tổng Thống và tướng Phú tư lệnh Vùng II Chiến Thuật.
Sau một cuộc bàn căi thật lâu, tất cả tướng lănh hiện diện
trong buổi họp nầy đều quyết định rút bỏ luôn hai thành phố nằm
về hướng Bắc của Vùng Cao Nguyên là Kontum và Pleiku. Kế hoạch được
soạn thảo nầy dự trù tập trung các đơn vị xuống vùng Duyên Hải và
từ đó sẽ mở một cuộc phản công lên Ban mê Thuột . Không có ấn định
chính xác giờ giấc để tiến hành cuộc di tản hai thành phố Kontum và Pleiku..
.. ..’’
Đại tá Khôi bất th́nh ĺnh ngưng nói, xoa hai bàn tay khô cằn của ông
ta, sau đó mới tiếp tục một cách trịnh trọng:
- Điểm sau cùng nầy mang một tính cách lịch sử quan trọng. Bốn
trong số năm vị tướng lănh hiện diện đều nghĩ rằng cuộc
triệt thoái phải được tiến hành tuần tự và sẽ được kết
thúc vào tuần lễ chót của tháng 3. Vị tướng lănh thứ năm là tướng
Phú, người chịu trách nhiệm về cuộc hành quân nầy, là một sĩ quan có một
dĩ văng quân sự hào hùng, tuy rằng ông đă đi lên từ hàng binh sĩ. Đă từng
lăn lóc trên chiến trường suốt 14 năm, ông là một tư lệnh sư đoàn
tài giỏi nhưng lại là một tư lệnh Quân Đoàn quá yếu. Đă từ lâu rồi
ông bị bệnh, ông lại không được chuẩn bị trước và không đủ
khả năng điều khiển một cuộc hành quân triệt thoái quy mô như vầy,
nghĩa là một trong những cuộc điều quân khó khăn nhất trong các phép dụng
binh trong lịch sử chiến tranh"
Tôi quan sát rất kỹ đại tá Khôi. Th́nh ĺnh tôi có cảm tưởng khó
chịu là h́nh như ông ta đang cho tôi một bài ‘’diễn văn’’ đă
được soạn sẳn từ trước . Tôi không muốn ngắt ngang ông ta. Tôi cần
phải nghe luận giải của ông đến cùng: cũng sấp sửa đến phần
kết luận rồi..Và đại tá Khôi nói tiếp :
- "Chiều tối ngày 14 tháng 3, về đến Pleiku hơi trễ, tướng
Phú không cần giải thích, đă cho lệnh Quân Đoàn tiến hành cuộc hành quân triệt
thoái ngay vào sáng sớm hôm sau.
Vào lúc rạng đông ngày 15 tháng 3, tất cả binh sĩ cùng dân chúng của
hai tỉnh Kontum và Pleiku đă vội vă rời khỏi hai thành phố nói trên, bỏ lại
tại chổ hàng chục triệu mỹ kim chiến cụ. Cả hai đoàn người
và xe qua quốc lộ 19 rồi mới vào con đường 7 B. Trên con đường 7 B
nầy vốn chỉ là một con đường ṃn được trải đá sơ sài,
tất cả các cầu đều bị giật sập, đi sâu vào một vùng rừng đầy
gai góc lùm bụi, cỏ cao ngất trời. Khi các xe vận tải nặng và các xe thiết
giáp đi qua rồi th́ các đường nước trở thành những vũng śnh lầy
lội, làm cho hàng ngàn xe khác đi sau bị mắc lầy, tự đâm vào nhau và ùn tắc
nghẽn lại hết. Trên đường rút đi, các đơn vị đi trước
và đi sau 200.000 dân tỵ nạn, bị rơi vào một trận phục kích kinh hồn của
sư đoàn 320 Bắc Việt . Hai chục ngàn dân (20.000) bị tàn sát, 500 xe đủ loại
bị phá hủy, tất cả biến cuộc triệt thoái nầy thành một cuộc tháo
chạy trong hỗn loạn. Và cũng từ đó mới gây ra nổi kinh hoàng khó tả trong
dân chúng...
- Và Hué th́ sao, thưa đại tá? Việc ǵ đă thật sự xảy ra
ở đó ?
- Tin tức thảm hại trên con lộ 7 B được lan truyền rất
nhanh. Tướng Trưởng lo sợ ḿnh sẽ bị hoàn toàn cô lập ở phía Bắc,
đă quyết định bỏ Hué. Nhưng Tổng Thống Thiệu vừa mới tuyên
bố trên vô tuyến truyền thanh ư định của ông sẽ cố thủ cố đô
của Việt Nam , đă cho lệnh tuớng Trưởng phải quay trở lại. Quân
lính lúc đó đă di chuyễn gần đến Đà Nẵng trong trật tự, đă phải
quay trở lại. Nhưng họ lại gặp trên 100.000 dân tỵ nạn đang chạy
loạn, xô đảy họ và ngăn cản họ làm cho họ không sao tiến lên được.
Sư đoàn 1 bộ binh, một sư đoàn ưu tú của QLV NCH do đó bị tan hàng và
biến mất trong đám đông hổn loạn quái ác nầy vốn đang bị cộng
sản Bắc Việt tàn sát bằng đủ mọi loại pháo. Hué đă hoàn toàn bị
địch chiếm. Và Đà Nẵng không c̣n có thể pḥng thủ ǵ nữa được
. Phần c̣n lại th́ tất cả các nhà báo đă có tường thuật hết rồi"
Đại tá Khôi đứng dậy và đi ṿng bàn viết của ông ta, điều
nầy có nghĩa là buỗi nói chuyện của chúng tôi đă chấm dứt. Tôi khẳng định
là những tin tức mà ông đă nói với tôi hôm nay chỉ đúng sự thật có một
phần nào thôi, nhưng chắc chắn không phải là tất cả sự thật. Cái lối
giải thích để làm giảm nhẹ đi phần nào trách nhiệm của Tổng Thống
Thiệu nó không đúng với tính t́nh của các nhân vật trong câu chuyện.. Tôi rất muốn
nói với đại tá Khôi như vậy, nhưng tôi cảm thấy ông ta không muốn đi
ra ngoài luận cứ "chánh thức" mà ông đă cung cấp cho tôi. Do đó tôi chỉ hỏi
ông ta :
"Xin đại tá chỉ giùm tôi có thể đi gặp tướng Phú ở
chỗ nào được ?
Gương mặt ông ta lạnh nhạt trở lại, và câu trả lời
cụt lủn của ông ta làm tôi hết sức ngạc nhiên:
- Tüớng Phú đă bị phạt giam, và không thể tiếp ai được
hết"’
Tôi từ giă đại tá Khôi. Nhưng trước khi rời khỏi Bộ
Tổng Tham Mưu, tôi nhờ vị sĩ quan báo chí xin giùm tôi một cái hẹn để đi
gặp thiếu tướng Nguyễn khoa Nam, Tư Lệnh Vùng Đồng Bằng sông Cửu
Long. Sau vài lần điện thoại, và gọi vô tuyến, tướng Nam đă đồng ư gặp tôi sau 3 giờ chiều, nhơn
lúc ông ghé lại Mỹ Tho.
* * *
Cuộc nói chuyện của tôi với đại tá Khôi làm tôi đau đầu.
H́nh ảnh mà ông ta đă tả cho tôi về một tướng Phú già nua, suy nhược, không
c̣n đủ sáng suốt và khả năng để phối hợp một cuộc điều
quân, thực t́nh không đứng vững. Thật vậy, tôi chỉ không gặp tướng
Phú có sáu tháng, nhưng tôi biết ông ta cách đây 23 năm, từ khi ông ra trường sĩ
quan Thủ Đức. Tôi vẫn biết ông ta chỉ c̣n có một lá phổi. Nhưng dù là
nhỏ con ốm yế___________u nhưng với 49 tuổi đầu, ông là một người
dày dạn phong sương. Ông rất cứng rắn đôi với binh sĩ của ḿnh và
cũng cứng rắn đối với bản thân, dẽo dai, mưu lược và giỏi
về chiến thuật, nên trước hết ông là một sĩ quan của thế công.
Ở Điện biên Phủ, nơi mà ông được thăng cấp đại
úy tại mặt trận, ông đă tạo được lịch sử của ông rồi.
Ngày 30 tháng 3 năm 1954, lúc Việt Cộng đánh một trận chiến đẫm máu ở
5 ngọn đồi, trong lúc xáp lá cà, bọn bộ đội đă gọi hỏi nhau ơi
ới : "Thằng Phú đâu rồi ? Phải bắt thằng Phú nghe, bắt sống nó nghe !"
Ông ta không rơi vào tṛng của quân Bắc Việt và liên tiếp mở hết cuộc phản
công nầy đến trận phản công khác. Phương pháp chỉ huy của ông Phú rất
khắt khe. Với một người có hành động vi phạm kỷ luật mà ông đă
ban hành, ông cho cột chân tay người đó vào hàng rào kẽm gai. Mặc dầu luôn luôn bị
pháo kích hết sức nặng nề, hệ thống pḥng ngự đầy hố tác chiến
trên đồi Elian 1 của ông đă giúp ông cầm cự suốt nhiều tuần lễ,
đảy lui tất cả cả các đợt xung phong của địch. Bốn ngày trước
khi cứ điểm bị thất thủ, ông c̣n oanh liệt cho nổ 3 lô cốt có trang bị
súng không giật 57 ly, đă kịp thời phát hiện, chận đứng và tấn công một
tiểu đoàn Việt Cộng trên sườn đồi, buộc chúng phải rút lui với
sự yểm trợ hữu hiệu của pháo binh Pháp do ông đích thân đứng ngay trên
địa thế trống trải để điều chỉnh tác xạ thật chính xác.
Ông đă sống sót được sau 18 tháng bị bắt giam trong một trại tẩy
năo cộng sản ở Thượng Du Bắc Việt , mà không hề chấp nhận phải
kư một bản "thú tội" hay một tờ truyền đơn nào. Và các sinh viên ở Sài
G̣n đă tranh đấu với phái đoàn Bắc Việt đang ở khách sạn Majestic
lúc bấy giờ để đ̣i Bắc Việt phải trả tự do cho ông. Từ khi
ông được trở về Nam
, ông Phú đă tham gia tích cực vào cuộc chiến. Nhất là ở Lào, năm 1971, lúc ông là
tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh ông đă giúp cho một đoàn xe thiết giáp của
Miền Nam thoát được một sự thảm bại trông thấy, trên đường
rút lui ở quốc lộ 9. Để cứu đoàn thiết giáp nầy đang bị 2 sư
đoàn Bắc Việt tấn công từ hai bên sườn, tướng Phú đă không ngần
ngại đi xuyên qua rừng t́m địch để cuối cùng bẻ găy được
gọng kềm của địch sau 3 ngày tác chiến vất vả có đôi lúc phải đánh
xáp lá cà với địch. Vào tháng 5 năm 1972, trong trận tấn công quy mô của Bắc
Việt vào Hué, tướng Phú đă cùng đại tá Dickinson đưa tôi đi thanh sát bằng
trực thăng ngay trên vùng Việt Cộng. Khi phải cố gắng đáp xuống một
mỏm núi đang bị Bắc Việt bao vây, chiếc trực thăng của chúng tôi bị
trúng một viên đạn trực xạ của súng 75 không giật, bay mất nửa mảng
phía trước và găy mất một chân càng .
Như có một phép lạ, chiếc trực thăng lại bay lên được
và tướng Phú đă bắt phi công phải lượn lại trên vị trí bạn một
ṿng khi ông nói rằng "tôi muốn cho cả Việt Cộng và binh sĩ của tôi biết rằng
tôi hăy c̣n sống ."
Tôi nghĩ lại tất cả các chuyện nầy và tôi không bao giở tin rằng
tướng Phú tự nhiên lại mất b́nh tĩnh đến độ phải cho lệnh
triệt thoái một cách vội vă vô trật tự như vậy để cuối cùng phải
đi đến một thảm trạng như thế. Phải chăng v́ tôi biết về
ông ta quá nhiều , hay v́ ông ta là bạn của tôi ? hay phải chăng v́ t́nh đồng đội
lâu đời quá khắn khít giữa người cùng binh chủng Nhảy Dù của hai chúng
tôi đă làm lạc hướng nhận định của tôi ? Tôi không tin như vậy. Tôi
khẳng định như vậy khi một lát nữa đây tôi sẽ thảo luận với
tướng Nam , ông nầy cũng
là một người bạn lâu đời của tôi trong cùng một binh chủng.
Quốc lộ 4 nối liền đoạn từ Sài G̣n đến Mỹ Tho
là một con đường rất tốt. Một cây cầu dài 550 thước chạy ngang
sông Vàm Cỏ Đông, , một ḍng sông đầy bùn lờ lững chảy, mang theo nhiều
mảng cỏ.. . . mặt nước chỉ cách sàn cầu có 20 thước. Các xe vận
tải quân sự chở đầy đạn pháo binh và binh sĩ đang vẫy tay cười
đùa và dùng hai ngón tay ra dấu chữ V (chiến thắng) với tôi . Họ nhấn kèn báo
cho các xe đ̣ chở dân chúng phải nhường đường cho binh sĩ đi qua. Chúng
tôi đang đi vào phần đồng bằng có ruộng lúa, ruộng mía và vườn dừa,
môt phần đất mầu mở nhất của vùng Đông Nam Á. Nh́n mút tầm mắt là
các ruộng lúa màu vàng c̣ bay thẳng cánh, với những con đê và lác đác có vài con trâu đen
bất động. Làng mạc nằm trong các lũy tre xanh, có nhà dân lớp lá, có các bờ
chuối , bờ dừa.. Binh sĩ đi dọc theo các bờ ruộng, súng tự động
cầm tay.. Có mấy chiếc trực thăng bay lượn trên bầu trời. Trẻ em
vui đùa bên các khẩu pháo binh 105 ly đặt dọc theo quốc lộ, tác xạ không ngừng.
C̣n một số cầu nữa, có chiến xa tăng cường canh gác, hoặc
có tháp canh với các đài quan sát cao, các nhà dân sau các rào bông bụp hay xuơng rồng trước
khi đến chợ Tân An, rồi Tân Hiệp, cuối cùng th́ đến Mỹ Tho. Thành phố
ngổn ngang đầy xe thiết giáp xe cứu thương, và các đoàn xe đạn dược.
Nhưng ở đây th́ các chiến cụ dù là bất đắc dĩ dự
phần trang trí cho tỉnh lỵ, cũng không gây cảm giác ǵ hay làm khó cho một ai hết.
Dân chúng ồn ào và tấp nập, chuyện tṛ, mua bán, chuyên chở rất tự nhiên, gây một
cảm tưởng như không thấy biết ǵ đến tất cả những thảm
trạng vừa xảy ra ở miền Trung vậy. Thật ra dân chúng cũng không cần phải
biết làm ǵ, miền Trung ở quá xa và không phải là vùng Đồng Bằng. Mỹ Tho là
căn cứ địa của sư đoàn 7 bộ binh với quân số được
tuyển mộ và thành lập tại chỗ. Sư đoàn có được trang bị thiết
vận xa, thuộc ḷng hết các ngỏ ngách của từng xă ấp, từ các con đường
ṃn đến các cây cầu khỉ, các sông rạch và các nhánh sông chảy cùng khắp phần
đất mầu mỡ và các rừng dừa nước trong vùng .
Thiếu tướng Nam mừng rỡ nắm chặt lấy tay tôi lắc
thật mạnh và tiếp tôi trong văn pḥng của vị tỉnh trưởng, Người
quân nhân Nhảy Dù nầy năm nay 48 tuổI, nước da đen sạm, với gương
mặt luôn luôn cảm hóa mọi người , ông đă qua các trường đào tạo ‘’mũ
đỏ’’ của người Pháp và được người Mỹ huấn luyện
về chiến thuật trực thăng vận. Ông là người quân nhân duy nhất thuộc
một gia đ́nh quí tộc danh tiếng ở Hué, gồm toàn các cụ đồ nho và quan
lại của triều đ́nh. Ở con người ông, nổi bật nhất là tướng
người vặm vở,
vai u thịt bấp, cầm vuông rơ nét của một con người thượng
vơ. Đến giờ nầy ông vẫn sống độc thân không hối tiếc (điều
nầy bảo đảm cho tính thanh liêm trong sạch của ông ở một đất nước
mà các bà thường mượn uy quyền và địa vị của các ông chồng để
làm ra tiền), và ông chỉ thấy vui vẻ thoải mái khi được sống giữa
hàng binh sĩ và các đơn vị tác chiến của ông. Người bạn thân nhất
của ông là đại tá Ninh (một ‘’mũ đỏ’’ khác được
đào tạo ở trường Nhảy Dù Pau, Pháp) một sĩ quan mảnh khảnh với
bộ râu mép ngạo mạn, người đă cùng ông với đạo quân tiếp viện
của ḿnh đă bẻ găy ṿng vây An Lộc, một trận Verdun của Miền Nam Việt
Nam .
- Sao ? thiếu tướng Nam vừa cười lớn lên vừa nói với
tôi, Anh muốn xuống đây kiếm tôi, chỉ v́ các tay trên Tổng Tham Mưu không chịu
nói sự thật với anh chớ ǵ ? (1)
- Anh Nam ơi, tôi chỉ xuống đây để được biết tin
tức thôi .
- Được rồi, Chúng ta hăy nói chuyện về Vùng IV của tôi. Đường
sá luôn luôn được mở sạch sẽ để cho lưu thông được an toàn,
và Việt Cộng không phải lả chủ ở đây. Các đơn vị Bảo An và
Dân Vệ của tôi giữ chặt lănh thổ, điều nầy cho phép tôi điều động
hoàn toàn 3 sư đoàn chánh quy của tôi trong các cuộc đụng độ mạnh với
các đại đơn vị cộng sản Bắc Việt đang muốn xâm nhập vào
đây từ phía Cam Bốt. Hôm qua, chúng tôi có ‘’sơi’’ một trung đoàn
thuộc sư đoàn 4 bộ binh Bắc Việt ở Phú Sơn. Hôm nay họ bị dồn
về phía trước các hăng đường ở Đức Ḥa rồi. Chúng tôi đă tịch
thu hơn một trăm vũ khí nặng, súng không giật, súng phóng hỏa tiễn, bách kích
pháo và cả một số súng liên thanh pḥng không .
- Sau thảm trạng ở miền Trung, thật sự quân lực VNCH c̣n bao
nhiêu lực lượng khả dụng ?
- C̣n được 7 sư đoàn với quân số đầy đủ: 6
sư đoàn bộ binh , 1 sư đoàn Dù, cộng thêm 2 lữ đoàn thiết giáp và nhiều
liên đoàn Biệt Động quân. Hai lữ đoàn Thủy Quân Lực Chiến và 2 sư
đoàn khác (sư đoàn 2 và sư đoàn 4) đang được bổ sung quân số và
tái thành lập với những đơn vị vừa từ miền Trung rút về.
Sài G̣n được pḥng thủ rất chặt chẽ với 2 nút chận
thật mạnh. Nút chận thứ nhất là ṿng đai pḥng ngự phía Bắc của thủ
đô do sư đoàn 25 bộ binh của tướng Lư ṭng Bá, một kỵ binh lực lưởng
và đầy đủ kinh nghiệm.Trung tâm điểm của tuyến pḥng ngự nầy
dựa trên thị xă Bến Cát, một vị trí chủ, được xây dựng chung quanh
môt ngọn đồi được bố trí các loại súng và có hầm trú ẩn bê tông cốt
sắt.
Nút chặn thứ hai là tuyến pḥng thủ mặt Bắc, tiêp giáp nhau chung
quanh thành phố Xuân Lộc, do sư đoàn 18 bộ binh trấn giữ, một sư đoàn
ưu tú mà tư lệnh là tướng Lê minh Đảo, hùng hục và vui vẻ như một
thiêu úy. Tôi nghĩ là Bắc Việt cũng khó mà đánh bật được 2 pḥng tuyến
nầy.
- Dù sao cũng vẫn c̣n một nguy cơ, ông Nam ơi. Bọn Việt Cộng không có thói quen đánh trực
diện vào các cứ điểm mạnh. Họ dùng toàn bộ pháo binh nă vào cứ điểm
mạnh nhằm
cầm chân các đơn vị của ta để họ lợi dụng vùng
rừng bụi tiến đánh bọc hai bên sườn của ḿnh. Nên nhớ là Xuân Lộc
và Bến Cát đều có các vuờn cao su và rừng cây bao quanh.
- Chắc v́ thế mà chúng không dám đến đánh ở địa thế
gần như trống trải ở Đồng Bằng. Có lẽ bọn chúng sẽ cố
gắng cô lập Sài G̣n hơn, cắt đứt thủ đô với vùng vựa lúa và giàu
nhân lực v́ nguy cơ lớn nhất phải đến ngay từ Sài G̣n. Tôi muốn nói đến
các chuyện lộn xộn và tham vọng chánh trị ở Sài G̣n. Các nghị sĩ băt đầu
rục rịch, các tướng lănh không có quân cũng đang có âm mưu ǵ đó, và Tổng
Thống Thiệu càng ngày càng bị cô lập. Chánh quyền có thể bất thần sụp
đổ và rơi vào tay của những kẻ vô trách nhiệm, sẵn sàng hấp tấp
mở cửa rước bộ đội Bắc Việt vào Sài G̣n .
- Anh giải thích thế nào về sự sụp đổ đă xảy ra ở
miền Trung ?
Tướng Nam chống tay lên thành ghế ông đang ngồi, và bực tức
cằn nhằn:
-‘’ Có rất nhiều lư do. Mà đầu tiên và trước hết là
do ông Thiệu.
- Ở Tổng Tham Mưu đại tá Khôi nói với tôi người chịu
trách nhiệm là thiếu tướng Phú.
- Không phải. Anh đă biết tướng Phú c̣n hơn tôi nữa mà. Ông là
một cấp chỉ huy có khả năng, bám trận địa như một con rận bám
sát tóc vậy.
Không, ông không phải loại người chuồn đi, bỏ lại cả
một thành phố và toàn bộ chiến cụ nguyên vẹn như vậy.
Trước khi đổ vấy trách nhiệm cho cấp chỉ huy và cho lỗi
lầm chánh trị , có vài điểm kỹ thuật cần được làm sáng tỏ :
cuộc tổng tấn công của cộng sản vào Vùng Cao Nguyên đă được chờ
đợi từ nhiều tuần lễ rồi. Nhưng v́ thiếu tin tức chính xác về
những cuộc điều quân hay di chuyển của các đơn vị cộng sản
Bắc Việt xuyên qua rừng rậm, tướng Phú nghĩ cũng đúng là nỗ lực
chính của cộng sản phải nhắm vào Kontum hay Pleiku, nằm ngay ở phía Bắc, và
ông ta đă tập trung phần lớn lực lượng vào hai thành phố nầy. Xui cho
ông, Bắc Việt lại tấn công vào Ban mê Thuột, nơi mà quân trú pḥng chỉ có một
trung đoàn và vài liên đoàn Biệt Động Quân mà phải đương đầu với
cả 3 sư đoàn cộng sản ! Sau đó cộng sản cắt hết các con dường
giao thông chính trên Cao Nguyên. Phản ứng đầu tiên của tướng Phú là phản công.
Ông ta cho trực thăng vận 300 binh sĩ Dù và một liên đoàn Biệt Động Quân
đổ xuống chiếm lại hai phi trường ở Ban mê Thuột, và sau đó đă
cố gắng vào được thành phố và tảo thanh thị trấn. Trong một vài
giờ, Ban mê Thuột đă biết được một không khí thật sư vui mừng,
một cái ǵ mường tượng như lúc thủ đô Ba lê được giải phóng.
Dân chúng vẫy cờ hoan hô các binh sĩ của Chánh Phủ. Các chủ vườn cao su đem
rượu cỏ nhác ra uống mừng chiến thắng. Nhưng sau đó, đùng một
cái, theo lệnh từ Sài G̣n chuyển lên, lực lượng Miền Nam được lệnh phải rời khỏi thành phố.
Hai sư đoàn Bắc Việt khép kín họ lại và đă tiêu diệt họ.
C̣n ở Pleiku và Kontum: c̣n 2 trung đoàn thuộc sư đoàn 23 bộ binh . Pleiku
là một căn cứ Không Quân quan trọng của một sư đoàn Không Quân, không thiếu
một thứ ǵ từ lương thực đến đạn dược.
Tướng Phú đă quyết định đánh và kháng cự. Ông ta đă xác
định với các sĩ quan của ông như vậy. Tuy nhiên ngày 14 tháng 3, Tổng Thống
gọi ông về Cam Ranh và cho lệnh ông phải lui quân. Bây giờ
chúng tôi biết được là cuộc bàn căi rất là sôi động đầy sóng gió.
Tướng Phú đă từ chối không thi hành lệnh. Ông ta đă nói thẳng với Tổng
Thống Thiệu : ‘’Tôi đă đánh giặc 23 năm rồi, và tôi chưa bao giờ
biết lui quân. Hăy t́m một người khác để chỉ huy cuộc ‘’chạy
trốn ‘’ nầy.’’ Nói xong ông vứt khẩu súng lục của ông lên bàn
và ra khỏi pḥng họp, đóng sầm cửa lại. Và sau đó ông bay về Nha Trang, khai
bệnh vào nằm bệnh viện. Chuyện đâu có khó khăn ǵ với ông ta đâu, v́ anh
cũng biết là ông ta luôn luôn bị khó chịu với hai lá phổi của ông.
- Đại tá Khôi lại xác định với tôi là tướng Phú đă bay
về Pleiku và đă cho lệnh triệt thoái vài giờ sau đó.
- Đó là luận thuyết chánh thức. Bộ Tổng Tham Mưu quả quyết
là khi về đến Pleiku, tướng Phú đă nói với tư lệnh phó của ông ‘’
tôi cho ông hay một bí mật lớn, là chúng ta sẽ phải sớm di tản hết các vị
trí của chúng ta ‘’. Vị tư lệnh phó nầy lập tức báo tin cho các sĩ
quan, và cuộc triệt thoái được thi hành ngay lúc đó. Tôi đă gặp tướng
Phú ở Sài G̣n ngày hôm kia, ông ta đă xác nhận với tôi là ông ta đă không bao giờ ra lệnh
triệt thoái.
Dù sao th́ giải pháp tốt đẹp duy nhất là nên giao cho tướng Phú
một nhiệm vụ hy sinh bằng cách cho lệnh ông phải tử thủ tại chỗ
để bảo vệ Pleiku, nhằm mục đích mua thời gian và để cho dân chúng
và các liên đoàn Biệt Động Quân rút đi trong ṿng trật tự, như thế th́ mới
tránh được cái dịch hốt hoảng đă đàu độc cả nước .
- Như vậy th́ ai là người ra lệnh triệt thoái ?
- Chính là ông Thiệu. Sau khi tướng Phú đă từ chối không thi hành lệnh,
Tổng Thống Thiệu đă báo động cho đại tá Tất, tư lệnh phó của
ông Phú, một sĩ quan Biệt Động Quân v à giao cho ông nầy chức vụ Tư Lệnh
Vùng.
Được Tổng Thống liên lạc thẳng, Tất đă sốt sắng
thi hành lệnh, và cho bắt đầu ngay cuộc hành quân triệt thoái, mà không cho tiến
hành phá hủy một kho tàng nào. Anh ta đă để lại nguyên vẹn sáu tháng lương
thực, một nửa các khẩu pháo và nặng nhất là để nguyên lại 40 chiếc
phi cơ và trực thăng c̣n tốt. Tổng Thống Thiệu đă phạm một lỗi
về xét đoán nhân sự không thể nói được khi ông giao quyền chỉ huy cho đại
tá Tất. Tôi biết anh nầy quá nhiều , ông ta là một sĩ quan can đảm, một
sĩ quan chuyên về tác chiến lưu động, đột kích hay phá hoại. Nhưng
anh ta không được đào tạo hay huấn luyện một tư ǵ để có thể
hướng dẫn một cuộc hành quân loại triệt thoái rất tế nhị và quan
trọng nầy.
Tổng Thống Thiệu cũng phải gánh hoàn toàn trách nhiệm trong việc
bỏ thành phố Hué và Vùng I Chiến Thuật. Tướng Trưởng có 3 sư đoàn
ưu tú để lo pḥng thủ Vùng nầy, sư đoàn 1 bộ binh, sư đoàn Thủy
Quân Lục Chiến, và sư đoàn Dù. Nhưng ngày 20 tháng 3, Tổng Thống Thiệu v́ sợ
bị đảo chánh, nên đă cho rút sư đoàn Dù đưa ngay về Sài G̣n làm cho tướng
Trưởng đứng trước một lổ hổng quá rộng trong hệ thống
pḥng thủ của ông. V́ chỉ với 2 sư đoàn mà ông phải tái phối trí cho một
tuyến pḥng thủ dài 150 cây
số ngàn.. Do đó mà ông phải quyết định thu gọn lực lượng
về tuyến pḥng thủ Đà Nẵng , lực lượng quân sư ưu tiên lui về
trước.
Trong lúc các đơn vị đang trên đường di chuyển, Tổng
Thống Thiệu lại cho lệnh phải trở lui lại Hué, nhưng cộng sản Bắc
Việt đă chận đường trở lại Hué ở khoảng Đèo Hải Vân. Trước
hết Sư đoàn 1 đă đánh một trận khốc liệt để tái chiếm đéo
Hải Vân và tái lập lưu thông trở lai. Nhưng vô phước là làn sóng dân chúng chạy
loạn như nước vỡ bờ đă phá tan hàng ngũ của sư đoàn 1. Có rất
nhiều binh sĩ quá lo âu cho số phận của gia đ́nh ḿnh, nên đă bỏ hàng ngũ,
c̣n một số binh sĩ khác th́ đào ngũ hẳn. Vị tư lệnh sư đoàn 1
ở Đà Nẵng đă cố gắng nắm lại sư đoàn của ḿnh nhưng đă
bị một anh phản loạn đánh gục.
Thiếu tướng Nam
đứng dậy, vươn vai và đi vài bước trong pḥng. Sau một vài phút yên lặng,
ông lại ngồi xuống và tiếp tục :
- Tổng Thống Thiệu bị ám ảnh v́ sự bỏ rơi hèn hạ
của người Mỹ. Tôi tin chắc là ông ta muốn bi thảm hóa t́nh h́nh bất thần
như vậy, hy vọng là Tổng Thống Ford sẽ vượt qua được một
mức độ khó khăn nào đó để đi đến quyết định phải
gởi các oanh tạc cơ hạng nặng qua giúp V NCH . Nhưng sự việc sau đó đă
cho thấy là ông tính toán sai. Và chúng ta đă mất mát quá nhiều trong vấn đề đó.
Biện pháp hữu hiệu nhất để thuyết phục Quốc Hội và Nhà Trắng,
là chúng ta phải chiến đấu tại chỗ cho đến viên đạn cuối cùng.
Chính bọn cộng sản Bắc Việt cũng không tin là chúng sẽ chiến thắng dễ
dàng như vậy. Bằng chứng hùng hồn nhất là cả 4 sư đoàn trừ bị
chiến lược của Miền Bắc chỉ mới vượt qua vĩ tuyến 17
trong tuần lễ vừa qua.
Tướng Nam
nắm chặt lấy cánh tay tôi và nói thêm:
Chúng tôi đă theo Tổng Thống Thiệu mười năm nay rồi. Nhưng
bây giờ th́ ông ta đă làm chúng tôi mất cả niềm tin rồi. Ông sống chui rút trong
Dinh Độc Lập và lấy quyết định một ḿnh không chịu tham khảo với
ai hết. Ông ta chỉ nghe có một ḿnh tướng Quang, cố vấn quân sự của ông
ta, một con heo mập lúc nào cũng nịnh hót ông ta và không nói trái lời ông ta bao giờ .
Tôi không tin là ông ta sẽ c̣n khả năng vượt qua được các biến cố.
Các tướng lănh đă nổi giận rồi và quân đội đă xấu hổ quá rồi.
-Bây giờ anh
định làm ǵ? Lật đổ ông ta chăng?
- Dù ǵ cũng không phải tôi đâu. Tôi chỉ là một
quân nhân. Nghề nghiệp của tôi là tác chiến và tôi tiếp tục tác chiến. Đối
với tôi chánh trị là cái ǵ dơ bẩn, tôi không muốn phải lội vào đó.
* * *
Trên đường về Sài G̣n, tôi dừng chân giây lát
cách Tân An 2 cây số. Một đoàn xe chở đầy binh sĩ Miền Nam đang trở
về sau cuộc hành quân . Một ông đại tá to con mập mạp đang bị một
nhóm nhà báo và nhiếp ảnh Việt Nam bao vây. Tôi bước đến gần. Trong một
cái hố, có khoản 20 bộ đội cộng sản
vừa bị bắt ban sáng đang ngồi đó, đầu mặt gục xuống. Tay họ
bị trói ra sau lưng, đi chân đất, ở cổ họ có đeo thẻ lư lịch.
Tất cả đều đến đây từ Bắc Việt . Không một người
nào được trên 17 tuổi. Trên một cái cáng, bụng quấn đầy quần áo đầy
máu, là một sĩ quan Bắc Việt, mắt đă đờ rồi, chắc không sống
được bao lâu nữa .Ông đại tá đang nói cho các nhà báo nghe một vài tin chi tiêt.
Lúc tôi đến Sài G̣n là những ngọn đèn nê ông
đầu tiên đang bắt đầu cháy, và thành phố lập ḷe ánh sáng xa trông như một
tủ kính của một cửa hàng nào đó...
Ghi chú: (1) nguyên văn của tác giả bằng tiếng
Pháp: ‘’tu, và moi’’ (mầy, tao). Tiếng xưng hô rất thân mật khi hai người
bạn gặp nhau tay bắt mặt mừng, gọi mầy xưng tao rất là tự nhiên.
TIEP THEO CHUONG 6 |
 |
|
|
|
| |
 |
 |

|
|
|
|
 |
|