|
Trong những năm thuộc các thập niên 1920 và 1930, phong trào quốc tế cộng
sản đả tập trung tất cả các hoạt động vào việc tổ chức
các cuộc nổi loạn có vơ trang, và họ đả hoàn toàn thất bại. Họ đả tạm để qua một bên
h́nh thức bạo động này và đả lợi dụng thời cơ các cuộc chiến
tranh giải phóng chống lại chủ nghĩa Quốc-Xă và quân phiệt Nhựt-Bổn,
đả diển ra trong các năm của thập niên 1940. Sang đến các năm của
thập niên 1950 và 1960 lợi dụng các cuộc chiến tranh giải phóng các thuộc địa,
họ đả tổ chức các đơn vị quân đội thật sự, các thân binh
các toán du kích quân và dần dần lớn mạnh lên thành các đạo quân chính quy và từ
đó biến thành các đạo Hồng-quân. Các diễn biến ở Yougoslave, ở Trung-quốc,
ở Bắc-hàn, ở Việt-nam và ở Cambodge các h́nh thức của các hành động này
đả cho phép những đảng cộng-sản nắm lấy chính quyền. Tuy vậy,
ở Châu-Mỹ La-tinh các người du kích quân cộng-sản đả thất bại, v́
sự phản ứng mạnh mẻ của các lực lượng đặc biệt của
chính phủ do các người Bắc-mỹ huấn luyện và viện trợ, đả khiến
các tổ chức cộng-sản của các nước dùng lại các thủ đoạn ''
khủng bố '', mà họ đả xữ dụng như vụ đặc chất nổ
ở tại giáo đường lớbn ở thành phố Sofia thủ đô của nước
Bulgarie xăy ra vào năm 1924. Trên thực tế có việc phân chia việc khủng bố ra làm
hai loại : một là việc khủng bố thông thường và một là việc khủng
bố để chuẩn bị cho một cuộc nổi loạn cướp chính quyền
và cùng là một nhóm người hoạt động để đạt được cả
hai mục tiêu nói trên, dù đó là hai nhiệm vụ khác nhau. Danh từ được thông dụng
là phong trào giải phóng quốc gia được xử dụng đả phối hợp
các cuộc khủng bố, với các cuộc tấn công của các du kích quân được
vơ trang như lính chính quy, và điển h́nh là mặt trận giải phóng quốc-gia Algérie
và quân-đội giải-phóng Algérie. Trường hợp của nước Algérie, khiến
cho chúng ta phải chú ư và nằm trong môi trường của các người thuộc phe '' Algérie
thuộc Pháp '', với nhản quan của họ, họ đả nh́n thấy sự nổi
loạn của dân Algerie là một phong trào do các người cộng-sản ở Moscou đả
hoạch định và lèo lái ; nhận định của họ đả được
chứng minh bởi diển tiến là trong những năm 1956-1957, đả xăy ra các cuộc
khũng bố bằng cách đặt chất nổ ở nhiều nơi giữa trung tâm của
thành phố Alger và đảng cộng-sản Algérie đả cung cấp cho người lănh
đạo của Mặt trận giải phóng quốc gia viết tắt là FLN, tênlà Yacef Saadi,
những chuyên viên lổi lạc nhất về chất nổ.
Như vậy là đả
chứng minh việc phong trào quốc gia đả lệ thuộc vào chủ nghĩa cộng-sản.
Nhưng trên chiến địa, đảng cộng-sản Algérie đả phải chịu
sự chi phối '' độc đoán '' của các vị chỉ huy của FLN. Ở các
nước khác FLN đả được sự hổ trợ '' không dấu diếm '' của
Moscou. V́ các lư do chính trị Moscou tránh không muốn có các cuộc xung đột với nước
Pháp, trừ các trường hợp đả xăy ra những vụ '' commando '' do các lực
lượng đặc biệt của Moscou nhúng tay vào. Các vụ cung cấp vũ khí cho FLN
là của Ai-cập dưới sự lănh đạo nơi Yougoslavie bởi Tito, và đại
diện cho các nước Đông-âu là nước Tchécolosvaquie đả cung cấp vũ khí
và huấn luyện các chiến sĩ FLN về cách thức '' hoạt động trong bóng tối
''. Phải chăng Moscou đả tiên liệu là trong tương lai, nước Algérie về
mặt chính trị sẽ gần hơn với Moscou, nhưng lập trường của FLN
có sự độc lập của họ. Việc này được thể hiện là các tổ
chức đặc biệt của Moscou , không hề đạt được các sự xâm
nhập vào cơ quan an-ninh quân đội ( viết tắt là SM - Sécurité Militaire ) của
Algérie, không như họ đả làm với cơ quan an ninh quân đội của Cuba viết
tắt là DGI. Các chế độ mới coi các cơ quan an ninh là cơ quan '' tâm linh '' quan trọng
hơn tất cả các cơ quan tâm linh khác. ( le saint des saints du nouveau régime ). Một ví
dụ khác về sự thận trọng của Moscou đói với các phong trào quốc gia khác,
mà các mục tiêu c̣n trong t́nh trạng mờ ảo : đó là trường hợp của nước
Irlande. Phần đặc hữu của tổ chức IRA ( quân đội cộng ḥa Irlande
) được thành lập ở Dublin trong cuộc nổi dậy bị thất bại vào
năm 1916, nhơn mùa Phục-sinh, chủ nghĩa cộng ḥa là một ư thức hệ có một
đặc tính riêng biệt của người Irlande, ta cần phải có một suy tư.
Không để qua một bên vấn đề xă hội, vấn đề này đả để
qua một bên vấn đề quốc gia sau năm 1921 việc thống nhất ḥn đảo
này, và đạt được việc đ̣i lại sáu quận thuộc quyền của
Vương quốc Anh, và hiện nay là trọng tâm của mọi hành động đấu
tranh. Đảng cộng-sản Ireland chỉ mới được thành lập vào năm
1933 và là nhóm thân sô viết hiện nay, đả dần dần tách ra đấu tranh cho chủ
nghĩa quốc gia mà lại thiên về đấu tranh giai cấp. Tổ chức IRA muốn
có được vỏ khí để chống lại người Anh. Trong khoảng thời
gian giữa hai cuộc thế chiến, tổ chức này đả mong đợi ở sự
hổ trợ vủ khí nơi URSS. Nhiều lần Moscou đả tránh khéo vấn đề
này : V́ trên vấn đề công pháp quốc tế, việc cung cấp vũ khí cho tổ chức
IRA quá độc lập này sẽ được coi như một cuộc gây hấn với
Anh-quốc và sẽ làm mất ḷng nước này. Dù đả xăy ra việc có hàng trăm thành
viên của tổ chức IRA đả t́nh nguyện tham gia chiến đău trong hàng ngủ
các trung đoàn quốc-tế, trong cuộc nội chiến ở Tây-ban-nha cũng không làm thay
đổi đường lối của các người sô-viết. Trong hai năm 1939-1940,
một chiến dịch đánh phá nước Anh bằng các cuộc '' đặt chất
nổ '' ở nhiều nơi đả diễn ra. Các sự hoạt động này do một
nhóm nhỏ người '' đău tranh quốc gia '' bí mật, nhưng những người
này lại theo đạo cải cách ( confession protestante ) v́ họ bị thuộc thành phần
ít bị nghi ngờ. Nhưng nhóm nhỏ các người đấu tranh quốc gia này đả
bị các người cộng-sản '' xâm nhập '' dưới sự lănh đạo của
tên Betty Sinclair. Ở toàn Âu-châu, nhiều toán người phá hoại, như nhóm do ông Ernst Wollweberg
chỉ huy đả sẳn sàng để đặt chất nổ trên các chiếc tàu chở
hàng của các nước Đức và luôn của Anh và Pháp. Và đồng thời Moscou củng
toan tính xữ dụng tổ chức IRA. Nếu phá hoại các tàu chiến của Vương-quốc
Anh, tổ chức IRA sẽ che dấu các chiến dịch của sô-viết chống lại
Anh-quốc, như vậy tuy là một việc nhưng lại có lợi cho cả IRA và người
sô-viết. Nhưng sau cùng việc này cũng thất bại. Moscou đả rút được
một bài học về sự '' nghi ngờ '' đối với người Irlande v́ các người
này sẳn sàng liên kết với tất cả các '' đồng minh '' nào có thể cung cấp
tất cả các nhu cầu '' trang bị '' ( vũ khí và tiền ) mà họ cần dùng, nhưng
với chính sách là từ chối quyết liệt phải trả lại một giá về chính
trị, là chịu '' qui thuận '' chiến lược của họ vào chiến lược
những người đả cung cấp các trang bị. Vào các năm đầu của các
năm 1970, tổ chức IRA cho phát khởi lại một ngành chuyên môn của họ, là các
cuộc '' đặt chất nổ '' chống lại người Anh sau khi xăy ra các cuộc
nổi loạn ở các '' ghetto '' ( khu ở riêng biệt ) của các người theo đạo
Gia-tô-giáo-catholique ở vùng Bắc Irlande. Trái lại là các tin đồn hoang đường,
các chất nổ dùng trong các cuộc '' đặt bom '' này không phải do người Nga cung
cấp gián tiếp hay trực tiếp. Trong các việc xăy ra, những người nâng đở
chính là những người dân Irlande di cư sang ở Bắc-mỹ và nằm trong cộng
đồng các người Irlande cư ngụ ở đây hơn là từ các nước Nga
hay Đông-âu. '' Bàn tay của Moscou '' không phải là '' ở khắp mọi nơi ''. Nhưng
dù sao bàn tay này cũng có một vai tṛ tích cực, trong việc hổ trợ dưới một
vài h́nh thức nào đó của các cuộc khủng bố ở Trung-đông. Xuất phát từ
các cuộc nhận định và phân tích về các tổ chức đấu tranh của các
người Palestine tượng trưng cho cuộc mưu đồ giải phóng quốc gia
giống như tổ chức FLN của Algérie, các người sô-viết đả sớm
chính thức nh́n nhận tổ chức OLP của Yasser Arafat và thành phần chính phủ của
tổ chức này là tổ chức này El Fatah. Nhưng cơ quan KGB vẫn có các sự chú ư với
một thành phần của tổ chức OLP, có mộbt khuynh hướng khác về khuynh hướng
quốc gia Palestine la FPLP ( mặt trận giải phóng miền Nam ), do bác sĩ Georges Habache,
ông này đả tự nhận ḿnh là thuộc về ư thức hệ mác-xít cấp tiến,
tổ chức này được cấu tạo một cách chặc chẻ, đả hoạt
động và tổ chức các cuộc đặc chất nổ cùng mưu sát hay các cuộc
phá hoại. Đả nh́n nhận là thủ phạm những việc cướp phi cơ chuyên
chở hành khách trên các đường bay quốc tế. Được phát động vào
tháng 7 năm 1968 và khởi đầu là việc '' đánh cướp '' chiếc máy bay Boeing
của hảng hàng không El Al của Do-thái, rồi đến tháng 12 năm 1968 với việc
đặc chất nổ ở phi cảng Athènes và cao điễm của các cuộc khũng
bố này là việc đáng cắp 3 chiếc phi cơ chở hành khách, và buộc 3 chiếc
này phải đáp xuống phi trường nhỏ ở Zarka, nằm ở trong bải xa-mạc
của Jordanie. Sau đó, v́ các bất đồng chính kiến, các lực lượng vơ trang
của tổ chức OLP đả xung đột với quân lực của Hoàng-gia Jordanie
và các lực lượng vơ trang OLP đả thua trận và phải lui quân ra Liban. Về ba
chiếc phi cơ bị đánh cướp và các hành khách bị giữ làm con tin, đó là chiếc
phi cơ Boeing của hảng hàng không Mỹ TWA, chiếc phi cơ DC8 của hảng hàng không
Thụy-sĩ Swssair và chiếc phi cơ Viscount CC 10 của hảng hàng không BOAC của Anh-quốc.
Vụ cướp phá 3 chiếc phi cơ này xăy ra trước các cuộc xung đột giửa
các lực lượng vơ trang OLP và quân lực của hoàng-gia Jordanie. V́ lo ngại trước
việc xăy ra các cuộc khủng bố '' quá mức '' này, một cán bộ của tổ chức
OLP là Nayef Hawatmech, đả tách rời ra khỏi tổ chức này và lập ra một tổ
chức khác vào năm 1970-1971 đó là tổ chức FDPLP ( mặt trận dân chủ và nhơn
dân để giải phóng Palestine ) Với chủ đích là : vận động đại
khối dân chúng và quốc tế hóa vô sản, tổ chức này càng ngày càng đi theo đường
lối của các người cộng-sản chính thống ( communiste orthodoxe ), đả
từ bỏ đường lối '' khủng bố '' mà đả một thời họ
xữ dụng. Như vậy tổ chức FDPLP đả trở thành một đồng
minh củba các người cộng-sản Palestine. Nhưng ngoài mặt, sự nghịch lư
là cơ quan KGB đả gia tăng sự giúp đở cho tổ chức FPLP. Nhưng có những
chuyện củng xảy ra, là người khủng bố bao giờ củng có một người
khác hành động khủng bố hơn. Đó chính là bác sĩ Goerges Habache đả bị
'' quá độ '' hay nói nôm na hơn là '' bị qua mặt '' bởi người cộng tác
tin cẩn và là cánh tay mặt của bác sĩ tên là Waddi Haddah, một cựu nha sĩ tốt
nghiệp ở đại học đường của Mỹ ở Beyrouth, v́ Haddah là người
chỉ huy các cuộc tổ chức khủng bố mà chính bác sĩ Georges Habache lănh đạo. Nha
sĩ Haddah là một người có rất nhiều kinh nghiệm về tổ chức các cuộc
khủng bố. Theo các sự nhận định của ông Pierre Marion trưởng pḥng phản
gián nước ngoài, đó là cơ quan DGSE và củng là cơ quan đặc biệt của
Pháp. Haddah, là người sáng tạo ra chế độ khủng bố hiện đại
: chính Haddah đả sáng tạo ra các cấu tạo và củng chính ông đả huấn luyện
các người chỉ huy có trách nhiệm, và củng chính ông đả cải thiện các công
thức tuyển mộ và đào tạo và củng chính ông đả tinh luyện các chiến
thuật và các kỹ thuật. Cuối năm 1973 đầu năm 1974, ông đả tách rời
ra khỏi tổ chức FDLP để tổ chức các cấu tạo riêng của ông và đặt
tên là FDLP-COSE ( FDLP- ban chỉ huy các hành động ở các nơi ngoài tổ chức ), hoàn
toàn đăm nhiệm các vụ khủng bố quốc tế trong lúc tổ chức của Habache
cố gắng để hoạt động trong các lănh vực khác như : mưu toan tổ
chức các cuộc chiến đấu du kích với quân lực Israel và vận động
quần chúng trong khối dân Palestine c̣n sống ở trong các trại tị nạn người
Palestine. Các trại tị nạn này ở rải rác trong những vùng Jordanie, Liban, Egypte và vùng
Gaza. Tuy vậy, cơ quan KGB củng quyết định ủng hộ các tổ chức
kể trên, căn cứ trên văn thư không giấu sự thật đề ngày 23 tháng 4
năm 1974 dưới số 1071-1/05 gởi cho chũ tịnh Leonid Brejnev ( văn thư riêng
) : Ủy ban an ninh nhà nước đả từ năm 1968, có các sự liên lạc '' mật
'' với Waddi Haddah, thành viên của văn pḥng chính trị của tổ chức FPLB, đồng
thời củng là trưởng ban công tác các hành động ở các nước ngoài. Nhơn
cuộc hội kiến với vị chỉ huy của mạng lưới KGB ở Liban, Waddi
Haddad đả '' tín cẩn '' tŕnh bày chương tŕnh về các kế hoạch hoạt động
phá hoại, khuynh đảo và khũng bố cùng các điễm cốt yếu được
tŕnh bày theo đây. Và tiếp theo là một danh sách của các mục tiêu, các hoạt động
khũng bố và phá hoại trên lănh thổ của Israel, tấn công vào các doanh nghiệp liên
hợp về kim cương ở trên thế giới, ám sát các nhơn viên ngoại giao của
Israel, phá hoại các cơ xưởng và các giếng dầu Arabie Saoudite, phá hoại các chiếc
tàu chở dầu to lớn chạy ở vịnh Persia và luôn cả ở HongKong. Cơ quan
KGB đả chính thức xác nhận điều này. Ông Waddi Haddad đả yêu cầu
giúp đở tổ chức của ông để có được các loại vũ khí đặc
biệt, cần thiết cho các hoạt động khuynh đảo mà ông dự trù : '' Hợp
tác với chúng ta, ông yêu cầu chúng ta giúp đở ông, Waddi Haddad biết đích xác là chúng
ta bài xích trên nguyên tắc sự khũng bố và không đặt cho chúng ta các câu hỏi dính
líu về các hành động về các hành động của FPLP. Tự các liên lạc với
Waddi Haddad đả cho phép chúng ta dặt các biện pháp để kiễm soát các hoạt động
của các công tác mà FPLP ở nước ngoài, và đạt được những ảnh
hưởng có lợi cho chúng ta. Thực hiện cho quyền lợi chúng ta, nhờ vào các lực
lượng tổ chức này, các công tác tích sản, mà vẫn tôn trọng giữ được
hoàn cảnh cần yếu. Đây là một ví dụ quá tốt về việc xữ dụng
hai ngôn ngữ, và việc kết thúc được xuất phát từ nguồn gốc : Hảy
vứt bỏ đi cho con quỷ, những nguyên tắc khi mà ta đả đánh cho đîch
thủ các đ̣n đau, mà không bị ai bắt được hay là giản dị hơn :
Ném đá dấu tay ''. Văn thư này được chuyễn cho các lănh tụ sô-viết
cao cấp là : Souslov, Podgorny, Kossyguine và Gromyko và các tài liệu này được chuẩn y vào
ngày 26 tháng 4 năm 1974 ( các tài liệu này đả được đăng bằng tiếng
Pháp trên tờ báo Các Tin Tùc Từ Moscou, số 25 phát hành ngày 23 tháng 6 năm 1992 ). Người
học tṛ giỏi của Waddi Haddad là một thanh niên người Venézuelien tên là Ilitch Ramirez-Sanchez
được nhiều người biết đến dưới biệt hiệu là Carlos.
Haddad và Carlos đả cộng tác với các người sống sót của một toán người
khủng bố gốc người Á-châu, đó là đạo quân đỏ của Nhật
( viết tắt là ARJ ), mà cuộc hành tŕnh đáng cho ta học hỏi. Được tổ
chức vào các năm cuối của thập niên 1960, vào thời điễm của sinh viên
cấp tiến không nhượng bộ của Nhật, và cũng vào lúc cao điễm của
phong trào theo chủ nghĩa của Mao-Trạch-Đông. Tồ chức ARJ liền liên lạc
với các nhơn viên của ban công tác Bắc-Hàn ( được biết là cộng đồng
người Hàn-quốc sinh sống ở nước Nhật rất là đông, lối 4 000
000 người ). Các nhơn viên công tác Bắc-Hàn đả huấn luyện và cung cấp vũ-khí
cho các cán bộ của tổ chức ARJ, nhưng đả không ngăn cản được
các cuộc trả thù đẫm máu giửa các phe giáo điều và đi trật chính sách,
đả xăy ra vào các năm đàu của thập niên 1970. Kết quả là một sự chia
rẽ : một nhóm người ARJ liền quay qua phục vụ cho Bắc-Hàn. Các người
tị nạn này, ngày hôm nay ở tại B́nh-Nhưởng ( Pyongyang ) đả trở thành
các nhà doanh thương và là các người trung gian với phương Tây. Một phần
khác của các người ARJ liền lựa chọn việc '' quốc tế hóa '' các hoạt
động của họ. Họ liền đi theo Waddi Haddad. Đó là ba người của
tổ chức ARJ đả hành động cho tổ chức FPLP, đả phóng tay trong cuộc
tàn sát ở phi cảng Lod-Tel-Aviv / Israel diễn ra vào tháng 5 năm 1972 và giết chết 28 người. Tổ
chức FPLP-COSE đả cộng sự chặt chẻ với ông chủ nhà băng Thụy-sĩ,
ông này là người của tổ chức Quốc-xă Thụy-sĩ tên là François Genoud, như
kư giả Pierre Péan tiết lộ trên tờ tuần báo Expresse là '' con người quá khích ''.
Theo như lời thú nhận của Genoud, th́ đả không gây ra một cuộc trở ngại
nào cho cơ quan KGB mà ngược lại, củng đả không tạo ra một trở ngại
nào cho các việc phát triển '' các hoạt động ngoạn mục '' của Calos : Trước
là làm công cho tổ chức FPLP-COSE, sau th́ làm lợi cho các cuộc tuyên truyền của cộng-sản.
Carlos : các việc liên quan với 15 sở công tác mật vụ
của các nước Đông-Âu và các nước Á-Rập
Bị sở '' mật vụ
Pháp '' dàn xếp với cơ quan '' mật vụ Soudan '' bắt và giao cho Pháp, việc này xăy
ra ở thủ đô Khartoum-Soudan, và sau đây là lời cung khai của Carlos với ông Thẫm
phán Bruguière : Vào năm 1969, tôi tên là Ilitch Ramirez, con của một luật sư người
Vénézuela và là người ngưởng mộ Lénine ( ông đả liên tiếp đặt tên
các con trai của ông với các tên Vladimir, Ilitch và Oulianov ), lần thứ nhất đả
gặp một nhơn viên của FPLP, tên là Rifaat Aboul Aoum ở tại Moscou. Tại nơi đây
Carlos là một sinh viên theo học môn chủ nghĩa mát-xít và Léninisme cùng với các môn vật
lư và hóa học. Ở tại đây Carlos đả buồn v́ các hoạt động của
các đảng cộng-sản châu Mỹ-La tinh đả hoạt động quá yếu ớt,
Carlos muốn hoạt động tích cực hơn và quyết liệt hơn. Carlos đả
được toại nguyện sau một cuộc đi du lịch ở nước Jordanie
và nơi đây Carlos đả gặp các tay chỉ huy của tổ chức FPLP khi y vừa
đặt chân đến đây. Sau một thời gian thụ huấn Carlos đả có thể
khởi đầu hoạt động vào đầu năm 1971, được đi lại
dể dàng ở các nước Đông-Âu và URSS cùng với các nước Tây Âu nhờ vào sự
lịch thiệp của y là con cái của một gia đ́nh trung lưu để thi hành các
cuộc xâm nhập mưu sát đẫm máu và ngoạn mục. Ngày 27 tháng 6 năm 1975, Carlos
lúc bị xét hỏi tại nơi trú ngụ ở Paris, trong lúc các nhơn viên công lực ''
bất cẩn '' và không đề pḥng, đả ra tay bắn chết hai công an viên Pháp thuộc
sở kiễm soát lănh thổ, viết tắt là DST và bắn bị thương nặng một
viên công-an khác. Đến tháng Chạp năm 1975, Carlos cầm đàu một toán cảm tử
tấn công vào trụ sở OPEP ở thành phố Vienna thủ đô nước Áo. OPEP là tên
viết tắt của tổ chức của các nước xuất cảng dầu hỏa.
Kết toán : Ba người chết và bắt làm con tin tất cả các đại diện
của các nước tham dự cuộc hội thảo tại đây. Carlos và đồng
lỏa đ̣i hỏi một số tiền rất lớn lối gần cả chục triệu
đô la và một chiếc phi cơ cho các người con tin và toán căm tử của y đi
qua nước Algérie. Tại đây với các người của toán căm tử, họ thả
các người con tin rồi đi qua nước Libya. Các người của toán căm tử
này là các người Đức thuộc tổ cách mạng do tên Johannes Weinrich chỉ huy. Sau
cuộc hành động ngoạn mục này, Carlos từ Lybia đả đi qua Yémen, rồi
đi Irak và Yougoslavie. Và nhất là Đông-Đức, các cơ sở của cơ quan mật
vụ Đông-Đức là STASI ( đây là tên viết tắt của Staatsi tức là an ninh của
nhà nước ) đả chú ư đặc biệt đến con người quá khích này, có
khả năng thực hiện các việc táo bạo. Và đả coi như là thâu nhận Carlos
với tên mật mă là Séparat. Vào cuối năm 1980, một hồ sơ tối mật đả
được đệ tŕnh lên cho tướng Erich Mielke là chỉ huy trưởng của
cơ quan Stasi. Hồ sơ này có tên rất là đơn giản : '' Kế hoạch về các
cách thức của cơ quan Stasi về việc đối xữ và kiễm soát các hành động
của nhóm Carlos ''. Trong một cuốn sách nghiên cứu và phân tích của Bernard Violet '' Weinrich
và Kopp, một người là cộng sự đắc lực đồng thời là bạn
chăn gối của Carlos, và một người là cánh tay mặt của Carlos, hai người
này vừa mới bị mật vụ Pháp bắt ở Pháp sau 26 năm lẩn trốn. Cả
hai người này đều không phải là nhơn viên của mật vụ Stasi và củng
không được lỉnh một đồng lương nào của cơ quan này. Họ chỉ
là một sợi giậy liên lạc giữa cơ quan Stasi và nhóm người của Carlos.
Các vị sĩ quan của cơ quan Stasi là các vị Đại-tá Hary Dahl, Hörst Franz, Günter Jackel
và Helmut Voigt thường hay liên lạc với hai người thân tín của Carlos và Carlos củng
biết việc này. Carlos củng có liên lạc chặc chẻ với các cơ quan mật
vụ của nước Roumanie v́ vậy y đả làm '' quấy rầy '' cơ quan an ninh
nhà nước Hongrie v́ Carlos có khuynh hướng dùng thủ đô Budapest làm hậu cứ. Nhóm
người của Carlos đả đổi tên là : '' Tổ chức vơ trang đấu tranh
để giải phóng các người Arabe ( tức là lực lượng vơ trang ), liên tiếp
thực hiện các cuộc mưu hại gây tử vong. Đại tá Voigt của cơ quan
Stasi đả chỉ đích danh là tổ chức '' Séparat '' là thủ phạm vụ đặt
chất nổ tại trụ sở của '' Nhà Pháp Quốc '' nằm vùng phía Tây ở Berlin,
việc này xăy ra vào ngày 25 tháng 8 năm 1983 và đả có 2 người chết. Theo lời
của đại-tá Voigt th́ nhóm người của Séparat đả có một phần trách
nhiệm lớn v́ đả liên lạc với một nhóm người khủng bố khác
dính líu với khối Đông-Âu và đặc căn cứ ở Beyrouth, đó là tổ chức
ASALA ( quân đội bí mật để giải phóng xứ Arménie ). Việc làm hơi ngạc
nhiên là cơ quan Stasi đả có nhiều hành động khoan dung, đối với các hành
động của các nhóm mà cơ quan Stasi không hề xữ dụng để thi hành các mục
tiêu của cơ quan Stasi. Nếu chất vấn về tâm lư th́ khó mà chứng tỏ về
trường hợp của Erich Mielke, ông từng là chỉ huy của nhóm tranh đấu vơ
trang của đảng cộng-sản Đức KPD trước chiến tranh, và bị buộc
tội đả giết hai người công an, cùng có các tư cách hay hành động tương
tự như Carlos và các thuộc viên của nhóm '' toán người Baader ''. V́ các đường
lối và quyết định của cơ quan Stasi đều do cấp chỉ huy cao hơn
định đoạt. Không thể nghi ngờ được là phải đi t́m kiếm
xa hơn các hội tụ có tính cách khách quan hơn về sự kiên hệ của các nhóm khũng
bố quốc tế và cơ quan Stasi. Ông Mielke và các nhà lănh đạo Đông-Đức
đả thường cho chúng ta biết về sự trắc ẩn có tính cách '' lăng mạng
của cách mạng ''. V́ vậy, dây không phải là một sự ngẩu nhiên khi nhóm Carlos đả
có các cuộc giao thiệp liên tục với lối 15 cơ quan '' mật vụ '' của các
nước Đông-Âu và Á-Rập.
Việc khoan dung của các nước cộng-sản
đói với các nhóm người quá khích thuộc về lănh vực ở Trung-Á không dành riêng
cho nhóm Carlos. V́ phản đói và thù nghịch với tổ chức OLP và Yasser Arafat, lănh tụ
Abou Nidal và tổ chức El Fatah- Hội đồng cách mạng đả khởi đầu
phục vụ cho các người Irak, sau lại quay sang phục vụ các người Syrie.
Họ củng hưởng được các sự khoan dung nhưng kém hơn v́ rất khó
kiễm soát được họ. Vị chỉ huy của El Fatah tuy là lâm bệnh củng
đả được giải phẩu ở sau bức màng sắt. Một vụ trực
tiếp liên can đến các nước Đông-Âu vào cuộc khủng bố quốc-tế
hiện đại, là việc điều khiển tổ chức Rote Armee Fraktion, viết tắt
là RAF mà báo chí ở Tây-Đức gọi là '' toán người của Baader ''. Xuất phát từ
các cuộc bác bỏ của phong trào sinh-viên, tổ chức nhỏ này với khoảng 50 thành
viên hoạt động tích cực ở trong một cao trào của hơn một ngàn người
đả phóng tay phát động, vào các năm của thập niên 1970, các cuộc khủng
bố có tính cách biểu diễn để chống lại các quyền lợi của Mỹ-quốc.
Sau năm 1977 và việc bắt cóc và ám sát ông Hans Martin Scheleyer chủ tịch của nghiệp
đoàn các người chủ nhơn và giám đóc các xí nghiệp thương măi và công kỹ
nghệ ở Đức-quốc, song đến việc tự sát của các người chỉ
huy nhóm '' toán người của Baader '' tên là Ulrike Meinholf và Andreas Baader, các thành viên của toán
người này đả sang ẩn náu ở Đông-Đức và nhận sự lệ thuộc
càng ngày càng gia tăng của cơ quan Stasi và dưới con mắt của tất cả mọi
người họ đả trở thành lực lượng vơ trang của cơ quan này. Sau
ngày bức tường ngăn hai thành phố Berlin bị sụp đổ, đưa đến
sự thống nhất của nước Đức, các người c̣n sống sót của
'' toán người của Baader '' sinh sống ở Đông-Đức đều bị bắt
giam. Việc vận dụng cùng xữ dụng các tổ chức du kích và các tổ chức
khũng bố không phải là một việc dể dàng. Phải cần có các sự khéo léo
và một chính sách về chính trị rất nhạy bén. Có lẽ v́ lư do này vào các năm 1969-1970,
cơ quan KGB do cá nhơn của một nhân vật xuất sắc là Oleg Maximovitch Netchiporenko
đả cộng tác với các người Bắc-Hàn và tổ chức một phong trào do ông
lănh đạo, Movimiento de Ación Revolucionaria viết tắt là MAR, đả bị công an Mexico
phá tan vào năm 1971. Với mục tiêu nhất định, đây là một cuộc vận
động khéo léo để tránh các cuộc đ̣i hỏi quá đáng, vô kỹ luật và các
sáng kiến ngẩu nhiên của các nhóm có khuynh hướng theo chủ nghĩa của Castro
hay Mao-Trạch-Đông. Một vài nhóm đả thoát khỏi ảnh hưởng của các
người được coi như '' đở đầu hướng dẫn họ '',
như nhóm FRAP ( mặt trận cách mạng Ái-quốc chống phát-xít ) người xứ Espagne
một thời đả ve văn các người cộng-sản Trung-quốc, sau đến các
người Albanie để có được vơ khí. Nhưng các cuộc vận động
của nhóm này không đi đến đâu, họ bèn tách ra và thành lập một tổ chức
mang tên GRAPO ( nhóm kháng chiến chống phát-xít của ngày 1 tháng 10 ) C̣n về tổ chức
du kích của Abimael Guzman ở nước Pérou và lấy tên là '' các con đường nhỏ
soi sáng '', họ tự nhận là xuất phát từ nguồn gốc của chủ nghĩa
Mao-Trạch-Đông nguyên thủy và cứng rắn, tứ là chiến tranh nhơn dân lâu dài,
nhưng trái lại họ đả chuyên chú chủ tâm ghê tởm sâu rộng đói với
Đặng-Tiểu-B́nh và các người lănh đạo mới của Bắc-kinh. Tháng Chạp
năm 1983, họ đả mưu toan tấn công vào ṭa nhà của đại sứ Trung-quốc
ở Lima thủ đô của nước Pérou. Ở vào một vài trường hợp hiếm
hoi, v́ các sự rủi ro quá lớn trong thời điểm hiện đại, các nước
cộng-sản đả thực hành thẳng do các cơ quan mật vụ của họ,
các cuộc tấn công khủng bố. Đó là trường hợp xăy ra vào tháng 11 năm 1987,
do hai công tác viên Bắc-Hàn gồm có một cán bộ nhiều kinh nghiệm tên Kim Seung Il và một
nử công tác viên trẻ tuổi tên Kim Hyoun Hê đả được huấn luyện trong
ṿng 3 năm ở đại học quân sự Kem Sung. Họ đả lấy vé phi cơ và
đi trên một chuyến phi cơ của Korean Air của Nam Hàn bay đi Bangkok. Đến
trạm hàng không Abou Dhabi họ đả xuống và ở lại đây, trước khi họ
xuống phi cơ, họ đả dể lại một máy thu thanh Transistor có gài chất nổ.
Chiếc phi cơ này đả nổ tung trên trời khi c̣n bay trên vùng biển vịnh Bengale. Kết
quả : 115 người đả chết. Bị truy tầm ra tung tích và bị bắt, công
tác viên Kim Seung Il đả tự sát bằng cách nuốt thuốc độc, c̣n nử công
tác viên Kim Young Hê th́ sau khi bị bắt đả cung khai tất cả các chi tiết của
cuộc khủng bố này. Nử công tác viên này củng đả viết một quyển
sách nhưng hảy c̣n quá sớm để biết rỏ đâu là sự thật, đâu là
sự mờ ám. Tựa của cuốn sách này là : '' ở trong hố của các con cọp ''
( Dans la fosse aux tigres ) do nhà xuất bản Presses de la Cité xuất bản vào năm 1994. Ở
mọi trường hợp, sự thật đả được coi là hiển nhiên : Bắc
Hàn là nước cộng-sản duy nhất, vào năm 1997 đả thực thi có phương
pháp các cuộc khủng bố do Nhà Nước chủ trương.
Back to TOP
|