|
Ngày 17 tháng 7 năm 1936, lực lượng quân đội Espagne trú đóng tại Maroc,
vào thời đó là thuộc địa của Espagne, dưới sự lảnh đạo
đồng là chỉ huy trưởng là tướng Franco đả nổi loạn chống
lại chính phủ Cộng Ḥa Espagne. Ngày hôm sau, cuộc nổi loạn lan tràn trên toàn chính quốc. Đến ngày 19 cuộc
nổi loạn đả bị thất bại ở tại nhiều thành phố như :
( Madrid,
Barcelone, Valence, Bilbao
), v́ tất cả ở các nơi đả xăy ra các cuộc tổng đ́nh công và việc
động viên nhiều lớp nhân dân. Cuộc nội chiến này đả '' thai nghén '' từ
nhiều tháng qua. Ngày 16 tháng 2 năm 1936, Mắt trận b́nh dân đả '' sát nút '' thắng
cuộc tổng tuyển cử với số 4 700 000 phiếu ( 267 ghế đại biểu
), thắng hữu phái chỉ có được 3 977 000 phiếu ( 132 ghế dân biểu ) và
các người trung tâm 499 000 phiếu. Đảng xă-hội được 89 ghế dân biểu
và đảng cộng ḥa thiên tả 84 ghế đại biểu, và đảng POUM ( đảng
công nhơn marxiste thống nhứt được thành lập do sự tập hợp của
khối công nhơn và nông dân của Joaquin Maurin và tả phái cộng-sản của Andreu Nin
) được 1 ghế dân biểu. Các lực lượng chính trị lớn của nước
Espagne gồm có các : Các người '' vô chính phủ '' ( anarchistes ) của Tổng Liên Đoàn
Lao Động ( viết tắt là CNT ) và Liên đoàn các người '' vô chính phủ '' ở
bán đảo Ibéria. Hai phe Tổng Liên Đoàn và Liên Đoàn họp lại có 1 577 547 đoàn
viên chống lại 1 444 474 đoàn viên thuộc đảng Xă-hội và Tổng Liên Hiệp
Lao Động, và đúng theo học thuyết ( doctrine ) của họ, đả không cử
người đại diện, nhưng nếu không có số thăm của các đoàn viên
và các người cảm t́nh viên các lực lượng chính trị kể trên ; đă hổ
trợ, th́ Mặt Trận B́nh Dân khó mà đắc cử. Mười sáu người trúng cử
của đảng cộng sản Espagne ( viết tắt là PCE ) đả là đại diện
nhiều hơn so với lực lượng '' đúng sự thật '' của họ : họ
tuyên bố là họ có 40 000 đoàn viên nhưng trên thực tế họ chỉ có lối 10
000 đoàn viên và các người này đả lèo lái các tổ chức '' vệ tinh '' để
có được con số trên một trăm ngàn người đả gia nhập vào các tổ
chức '' vệ tinh '' này. Một tả phái chia rẻ và '' hổn hợp phức tạp
'' ( composite ), một hữu phái có thế lực và một cực hữu phái quyết liệt
( tên là Phalange ), trong một khuôn cảnh sôi động của các đô thị và ở nông
thôn ( đ́nh công và tổng bải thị - Xâm chiếm đất đai ), một lực lượng
quân đội được hưởng nhiều đặc quyền, một chính phủ
yếu kém, các cuộc âm mưu khác nhau, các vụ bạo động chính trị mỗi lúc
mỗi gia tăng : tất cả các sự kiện này đả làm phát động một
cuộc nội chiến mà đả có nhiều người mơ ước. Cuộc nội
chiến này đả có '' tầm vóc '' ( dimension ) đặc biệt : trên b́nh diện của
Âu Châu, cuộc nội chiến này đả tượng trưng cho cuộc '' ngang sát nhau ''
( affrontement ) giữa các nước Phát Xít và các nước Dân Chủ. Với việc gia nhập
vào '' đău trường '' ( lice ) của Liên Bang Sô-Viết, các kết quả của hai cực
( effet de polarisation ) tả và hữu đả trở nên rơ ràng.
Lập trường chính của các người cộng sản
Trước
kia, tổ chức Komintern ít chú ư đến t́nh h́nh của Espagne và sau khi chế độ
quân chủ sụp đổ vào năm 1931, tổ chức Komintern đả bắt đầu
chú ư từ khi này và nhất là họ càng để tâm hơn với cuộc nổi dậy,
của các người công nhơn ở vùng Asturia vào năm 1934. Nhưng nhà nước Sô-Viết
cũng không thấy có lợi ích ǵ về sự công nhận lẫn nhau. Vào tháng 8 năm 1936,
giữa chính phủ cộng ḥa Espagne và Liên Bang Sô Viết. Sau khi cuộc nội chiến bùng
nổ và tránh việc làm lan rộng để có thể xăy ra cuộc can thiệp quốc tế,
Liên Bang Sô-Viết và hai nước Pháp-Anh đđả kư với nhau một thỏa ước
'' không can thiệp '' vào cuộc nội chiến. Ngày 27 tháng 8 năm 1936, đại sứ Sô-Viết
tên Marcel Israelevitch Rosenberg đến Espagne nhận nhiệm sở. Để được
có thêm nhiều ảnh hưởng, các người cộng-sản đả đề nghị
với đảng xă-hội việc '' hợp nhứt hai đảng '' . Nhưng chỉ
được ở cấp bực các tổ chức thanh niên là thành tựu được
việc hợp nhất với việc thành lập phong trào Thanh Niên Thống Nhất vào ngày
1 tháng 4 năm 1936 và thành tựu thứ hai là việc thành lập Đảng Xă Hội Thống
Nhất ở vùng Catalogne ngày 26 tháng 6 năm 1936. Trong chính phủ cộng ḥa được
ủy nhiệm, lănh đạo nước Espagne, vào tháng 9 năm 1936 do Thủ Tướng
Largo Caballero, đảng cộng-sản Espagne viết tắt là PCE chỉ được giao
có 2 bộ : Jesús Hernández giử bộ Học Chính ( Instruction publique ) tương đương
với bộ giáo-dục và Vincente Uribe giử Bộ Canh Nông. Nhưng các người đả
được '' Ảnh Hưởng '' ( influence ) rất mau. Nhờ các mối căm t́nh họ
đả được các Bộ-trưởng của chính phủ dành cho họ, là các ông
Alvarez de Vayo, Juan Negrin và đại sứ Sô-Viết là Rosenberg đả xử sự với
họ như là đệ nhất phó Thủ Tướng ; ông Rosenberg có được một
điều kiện rất lớn và thuận lợi đó là việc Liên Bang Sô Viết sẳn-sàng
cung cấp vũ khí cho các người cộng ḥa. Đây là một việc mà nước
này đả can thiệp trắng trợn vào nội bộ một nước khác. Việc
can thiệp của một Đảng. Nhà nước Sô-Viết đả nằm ở ngoài
ṿng các thường vụ và đả tạo lên một sự nổi bật đặc biệt,
v́ nó đả diễn ra vào một lúc '' then chốt '' ; thời điễm gần ngày 20 năm
sau các người Bôn-sê-vít cướp lấy chính quyền của Nga và nằm trong khuôn khổ
quốc tế đả là việc mở đường trong hai giai đoạn kế tiếp,
các năm 1934-1941 và các năm 1944-1945 để bành trướng ảnh hưởng của
Liên Bang Sô-Viết ở lục địa Âu-Châu : ở Trung và Đông Âu. Ở tại
Espagne việc phối hợp một phong trào xă-hội xâu rộng, đả nhắc lại
các t́nh thế giống như vậy đả xảy ra sau đệ nhất thế chiến
và với cuộc nội chiến và với cuộc nội chiến ở Nga đả đưa
đến việc can thiệp vào nội bộ Espagne, việc mà họ hằng hy vọng.
T́nh h́nh chính trị và xă-hội ở Espagne trong những năm 1936-1939 đả trở
thành một '' pḥng thí nghiệm '' ( laboratoire ) cho các người Sô-viết v́ họ đả
có nhiều kinh nghiệm và đả xữ dụng tại nước này một loạt các
phương tiện hành động ( panoplie ) về chính trị mà họ đả có sẳn
và thử nghiệm các kỹ-thuật mà họ sẽ tái xữ dụng vào lúc khởi đầu
đệ nhị thế chiến và toàn dụng khi chiến tranh chấm dứt. Họ có rất
nhiều mục tiêu, nhưng mục tiêu ưu tiên là làm sao cho đảng cộng-sản Espagne
( đả hoàn toàn bị các cơ quan của tổ chức Komintern và NKVD kiễm soát ) đoạt
được việc kiễm soát quyền lực của nhà nước hầu để
nền cộng ḥa này sẽ làm theo các '' ư muốn '' của Moscou. Muốn đạt được
mục này phải cần áp dụng các phương pháp sô-viết mà hàng đầu là sự
hiện diện của chế độ cảnh sát và việc thủ tiêu các lực lượng
không phải là cộng-sản. Lănh tụ cộng-sản Italie tên Palmiro Togliatti và là thành viên
lănh đạo tổ chức Komintern, được phái sang Espagne để hoạt động
và mang tên là Ercoli ( 1936 ), đả giải thích tính chất căn bản của cuộc nội
chiến và gọi là '' chiến tranh giải phóng quốc gia ''. Theo các lời giải thích của
Ercoli, cuộc cách mạng Espagne là cuộc cách mạng nhơn dân, quốc gia và chống phát
xít đả đặc cho các người cộng-sản nhiều nhiệm vụ mới
:'' Nhơn dân Espagne giải quyết các nhiệm vụ của cuộc cách mạng tư-sản
dân chủ với một đường lối mới''. Và mau chóng, Ercoli đả chỉ
mặt các kẽ thù của quan niệm về cách mạng ở Espagne : '' Các người lănh
đạo cộng ḥa cùng với các người lănh đạo đảng xă-hội là các
phần tử núp dưới chiêu bài của các nguyên tố vô chính phủ đả làm suy yếu
sự '' kết hợp '' và '' sự đồng tâm nhất trí '' của mật trận b́nh
dân bằng cách đề ra quá sớm các chương-tŕnh '' tập thể hóa cưỡng
bách ''.. .. Ercoli đả đưa ra một mục tiêu : thực hành '' bá quyền cộng
sản '' sẽ thành đạt được nhờ việc thành lập một '' mặt
trận duy nhất giữa hai đảng cộng-sản và đảng xă-hội hợp lại,
thành lập một tổ chức duy nhất các thanh niên lao động, tổ chức một
đảng duy nhất vo-sản ở vùng Catalogne, tên viêt tắt là PSUC và biến đổi
đảng cộng-sản thành một đảng lớn của toàn dân. Vào tháng 6 năm 1937,
cô Dolorès Ibarruri một nử đảng viên lừng danh với các lời kêu gọi kháng chiến
của cô. Cô đả đề nghị một mục tiêu mới : '' Thành lập một
nền cộng ḥa dân chủ và lập-hiến '' kiểu mới . Sau khi xảy ra việc
'' cướp lấy chính quyền bất hợp pháp '' ( promunciamiento ) của tướng
Franco, Staline đả tỏ ra thờ ơ với t́nh h́nh ở Espagne, việc này được
Jef Last đả cùng văn hào Pháp André Gide viếng Moscou trong mùa hè 1936 đả viết : ''
Chúng tôi rất bất măn v́ việc vắng và thiếu chú ư đến các t́nh h́nh xảy ra.
Và trong các cuộc hội kiến ở những lần nói chuyện riêng, chúng tôi đả
đề cập đến vấn đề này, tất cả đều thận trọng
'' tránh né '' để nói ra các quan niệm của ḿnh. Nhưng sau hai tháng với các việc
biến chuyễn đả thay đổi t́nh thế, Staline đả hiểu rỏ sẻ
thu đạt được tất cả các lợi điễm về hai mặt '' Ngoại-giao
và tuyên-truyền ''. Để thực hành đường lối '' không can thiệp '', Liên
Bang Sô Viết đả hội nhập vào các nước mà có thể cho ông cơ hội để
hành động một đường lối '' tự trị '' ( autonome ) rộng lớn
của nước Pháp đối với nước Anh. Song song, URSS đả bí mật cam
kết cung cấp vũ khí cho chính phủ cộng ḥa Espagne, giúp đở về quân sự
và dự định khai thác các khả năng có thể có của chính phủ Mặt trận
B́nh dân Pháp có thể đóng góp cho mưu toan của Staline, là hợp tác để tổ chức
các '' giúp đở vật chất '' cho các người cộng ḥa Espagne. Theo các chỉ thị
của Léon Blum chủ tịch đảng xă-hội Pháp kiêm Thủ Tướng, ông Gaston
Cusin phó trưởng pḥng Bộ Trưởng Tài Chính đả chính thức tiếp đón
các mật viên sô-viết , các người này đả đặt trủ sở tại Paris
và họ đả tổ chức việc chuyển vận các vũ khí và tuyển mộ
các chiến sĩ t́nh-nguyện sang chiến đău ở Espagne. Nếu Liên Bang Sô-Viết
tuyên bố là không tham dự vào t́nh thế ở Espagne , th́ tổ chức Komintern đả
huy động tận lực các phân bộ của tổ chức này ở khắp nơi trên
thế giới, để giúp cho các người cộng-ḥa Espagne ; và đả biến cuộc
chiến này thành một trục kéo để hổ trợ cho các cuộc tuyên truyền chống
phát-xít, và thuận lợi riêng cho phong trào cộng-sản. Ở Espagne, chiến thuật
của cộng-sản là chiếm đoạt được các ngôi vị, càng nhiều càng
tốt ; hầu để chuyển hướng '' chính-trị của chính-phủ cộng-ḥa
'' trong chiều hướng đảng. Nhà nước theo khuôn mà đường hướng
của đảng và nhà nước sô-viết hầu để khai-thác các lợi điểm
về t́nh trạng chiến tranh. Julian Gorkin, một nhà lănh đạo của đảng POUM,
đả là người đầu tiên ( việc này th́ không thể nghi-ngờ được
) đả nhận xét sự liên quan của chính-sách nơi các người sô-viết ở
Espagne với việc thành lập các nước Dân-chủ Nhơn dân ở Đông-Âu sau chiến
tranh, ông đả viết một sách-lược luận ( essai ) với tựa đề
: '' Espană, primer ensayo de democracia popular ( Nhà xuất bản Buenos Aires, 1961 ) ; Ông Gorkin đả
được chứng kiến việc thi hành một chính-sách đả được hoạch-định
từ trước và sử-gia người Espagne Antonio Elorza đả nhận xét là đường
lối chính trị của các người cộng-sản Espagne xuất phát từ quan niệm
nhất phiến ( monolithique ) không phải là đa nguyên ( pluraliste ) về các liên-quan chính-trị
trong ḷng của Mặt trận B́nh dân và vai tṛ của Đảng là việc biến đổi
tự nhiên liên minh này trở thành một bàn đạp để đoạt được
bá quyền. Antonio Elorza củng nhấn mạnh về một điễm bất di dịch
( invariant ) và sẽ trở thành chính sách cộng-sản : ép đặt bá quyền của đảng
PCE lên trên tất cả các người hay phần tử chống phát xít, '' không những chống
phát xít ở ngoài đảng mà củng đối với các cuộc chống đối ở
nội bộ ''. Ông lại thêm vào : '' V́ đó là kế hoạch và là một tiền đề
trực thẳng vào chiến lược để đoạt được chính quyền
ở trong các nước được gọi là '' Dân chủ Nhơn dân ''. Kế hoạch
này đả gần như thực hiện được vào tháng 9 năm 1937, Moscou toan tính
ra chỉ thị thực hành một cuộc tuyển cử : các danh sách '' duy nhất '' đả
được đưa ra và có thể cho phép đảng cộng-sản PCE đạt
được các lợi điểm về cuộc '' toàn dân đầu phiếu ''. Kế-
hoạch này đă do chính Staline hoạch định và chú ư theo dỏi để đưa đế
việc '' tức vị '' (avènement ) của một nền '' Cộng Ḥa Dân Chủ '' một
loại mới Ông đả dự định việc '' loại ra '' các vị bộ trưởng
thù nghịch cộng-sản. Nhưng mưu toan của ông đả không thành v́ gặp phải
sự chống đối của các đảng liên minh với đảng PCE và sự diễn
tiến đáng lo ngại về t́nh cảnh của chính-phủ cộng-ḥa sau cuộc phản
công thất bại của quân lực của họ ởTeruel vào ngày 15 tháng 12 năm 1937.
'' Các vị cố vấn '' và các nhơn viên
Khi Staline
đả nhận định được đất Espagne là nơi đả dành cho ông
nhiều '' hợp thời '' cho URSS và ông đả quyết định đây là thời cơ
hữu ích để can thiệp. Moscou liền biệt phái sang Espagne một số lớn các
cán bộ đủ loại và trực thuộc vào nhiều cơ quan khác nhau. Khởi đầu
là lối từ khoảng 700 đến 800 cố vấn quân sự thường trực và
theo nguồn tin sô-viết th́ tổng số các cố vấn và nhân viên, lên đến 2 044 người
; trong số này có các vị cố vấn quân sự về sau đả được thăng
lên đến chức Thống chế như các ông Koniev và Joukov, tùy viên quân sự vào thời
đó là tướng V.E Goriev phục vụ ở ṭa đại sứ quán URSS ở Madrid. Ủồng
thời Moscou củng huy động các đoàn viên thuộc tổ chức Komintern, các '' mật
viên '' được '' gởi đi chính thức và bán chính thức '' thuộc một loại
khác. Nhiều nhân viên đả cư ngụ thường trực như Vittorio Codovilla, người
Argentine đoàn viên tổ chức Komintern đả giữ một vai tṛ quan trọng trong đảng
cộng-sản PCE từ các năm đầu thuộc thập niên 1930 và đả dự vào
việc lănh đạo đảng này. Ernö Gerö c̣n có bí danh là '' Pedro '' là người Hung Ga Ri
và sau chiến tranh đả trở thành '' một trong các chủ nhơn '' của nước
Hung-Ga-Ri cộng-sản, Vittorio Vidali người Italia ( đả bị nghi ngờ là
vào năm 1929 đả tham gia vào việc ám sát sinh-viên cộng-sản Julio Antonio Mella người
Cuba ) Vittorio Vidali sau này đả là đệ nhứt ũy viên chính trị của trung đoàn
5 do cộng-sản tổ chức vào tháng 2 năm 1937. Minev-Stepanov người Bun-ga-ri đả
từng làm việc ở văn pḥng thường vụ của Staline từ các năm 1927 đến
1929 và Palmiro Togliatti người Ư đả được phái đến đây vào tháng
7 năm 1937 và là đại diện chính thức của tổ chức Komintern. Các đoàn
viên cốt cán khác của tổ chức này được biệt phái với nhiệm vụ
thanh tra như tên Jacques Duclos, cộng-sản Pháp sau chiến tranh và trong chính phủ Pháp đả
lên tới chức Phó chủ-tịch Quốc-hội Pháp. Song song, Moscou đả biệt
phái sang Espagne một '' hạn số '' lớn các thành viên cốt cán của đảng cộng-sản
Nga như : V.A Antonov-Ovseenko, người đả chỉ huy vào cuộc tấn công vào Lâu đài
Mùa Đông ở Petrograd vào tháng 10 năm 1917 và tên này đả đổ bộ lên Barcelone ngày
1 tháng 10 năm 1936. Tên Alexandre Orlov ( tên thật là L. Feldbine ), người chỉ huy cơ-quan
NKVD ở Espagne ; tên Arthur Stachevsky người Ba-Lan cựu sĩ quan của Hồng-Quân Nga
dưới lốt là tùy-viên thương măi, tướng Ian Berzine, chủ sự pḥng t́nh báo
Ḥng quân. Mikhaĩl Koltsov chủ nhiệm nhật báo Pravda và là người được coi
là phát ngôn cho Staline và có văn pḥng ở Bộ Chiến-tranh của chính-phủ Cộng-ḥa
Espagne. Leonid Eitingon, chỉ huy các lực-lượng an ninh nhà nước của cơ quan
NKVD và Pavel Soudoplatov là phụ tá của Eitingon, họ đều đi đến Barcelone ; từ
năm 1936 Eitigon được ũy-nhiệm các công tác khủng-bố, Soudoplatov măi đến
năm 1938 mới sang tới nơi. Tóm tắt là khi Staline quyết-định can thiệp
vào nội t́nh của Espagne, ông đả tập trung một bộ tham mưu có khả năng
hành động trong mọi lảnh vực đến vấn đề này. H́nh như là vào
đêm 14 tháng 9 năm 1936, chỉ huy trưởng của cơ quan NKVD là Iagoda đả triệu
tập tại trụ sở Loubianka ở Moscou, một cuộc họp để phối hợp
toàn thể các '' đầu nảo '' trong cuộc can thiệp của cộng-sản vào Espagne.
Họ có các nhiệm vụ : chiến đău chống lại các lực-lượng quân sự
của tướng Franco, được các cố vấn quân sự người Đức
và người Ư giúp đở triệt để, kiễm soát và canh chừng hoặc loại
trừ các đối thủ của đảng cộng-sản và của URSS ở trong ḷng
của đội ngủ cộng ḥa Espagne. Cuộc can thiệp của các người sô-viết
Nga phải được giử bí mật và được '' trá h́nh '' nếu có
thể làm được để đừng liên lụy đến chính phủ sô-viết.
Nếu tin theo lời của tướng Krivitsky, người chỉ huy phụ-trách các '' thường
vụ hải ngoại '' của cơ quan KNVD ở Tây Âu th́ trên khoảng 3 000 người
Sô-viết hiện diện trên lănh thổ Espagne, chỉ có 40 người là tham gia vào các cuộc
hành quân chiến đău, các người khác th́ lảnh các nhiệm vụ : cố vấn quân
sự, cố vấ chính trị hay làm các nghiệp vụ về t́nh báo. Khởi đầu
các người sô-viết dồn nổ lực vào vùng Catalogne. Từ đầu từ tháng
9 năm 1936, cơ-quan tổng ủy trật tự công-cộng coi về tất cả các
nghiệp vụ ngành công-an ở Catalogne đả bị các người cộng-sản xâm
nhập và các người này đả tổ chức trong ḷng của cơ-quan này do nghị
định của sở mật vụ Catalogne ( services secrets catalans, viết tắt là SSI ),
mang danh xưng là Grupo de Información do tên Mariano Gomez Emperador chỉ huy ; cơ sở chính thức
này đả có ngay 50 nhân viên làm việc, nhưng đây là một ăn-ten ( antenne ) trá h́nh của
cơ-quan NKVD. Song song, đảng Xă-hội thống nhất của vùng Catalogne, danh xưng
này đả được các người cộng-sản chọn cho đảng Xă-hội,
đảng này đả tổ chức một cơ sở mang tên Servicio Extranjero với văn
pḥng đặt ở pḥng số 340 của khách sạn Colon, nằm trên công-trường Plaza
de Catalunya được ủy-nhiệm kiễm soát các người cộng-sản ngoại-quốc
muốn đến chiến đău giúp chính-phủ cộng-ḥa Espagne và họ đả
di chuyễn qua Barcelone ; và cơ sở này đả bị cơ-quan NKVD hoàn toàn kiễm soát
và dùng cơ sở trá h́nh này để bao che các hành động của họ. Một thành
viên của hai tổ chức này ( SSI và Servicio Extranjero ) đả tiết lộ : '' viên chỉ
huy địa phương của cơ-quan NKVD được đặt dưới quyền
kiểm-soát của Orlov và Gerö '' Tên Alfredo Hertz một người cộng-sản Đức
( căn cước chính của tên này không ai biết được ) đả xâm nhập
vào cơ sở Cuerpo de Investigación y Vigilancia của chính phủ về các việc tổng quát
và kiểm soát sở cấp phát giấy thông hành ( service des passports ) có nhiệm vụ nhập
và xuất cảnh trên lảnh thổ Espagne. Hertz được quyền xữ dụng lực
lượng Vệ Binh Xung Phong ( Gardes d'Assaut ) là các toán quân tinh nhuệ của cơ-quan An-Ninh.
Với hệ thống của hắn đặt '' nằm vùng '' trong cơ-quan tổng-ủy
trật tự công-cộng, Hertz đả nhận được tất cả các tin t́nh báo
về các đảng cộng-sản khác, các '' danh sách đen '' của các người chống
phát-xít, các lời tố cáo của các người cộng-sản hay chỉ-trích và lư lịch
của tất cả các cán bộ của các cơ sở trong mỗi đảng cộng-sản
và đả chuyển giao các hồ sơ này cho Bộ Nhà Nước ( Departamento de Estado ) do
tên cộng-sản Victorio Sala chỉ huy. Hertz đả tổ chức cơ sở của hắn
và đặt tên là Servicio Alfredo Hertz với sự bao che chính thức ( hợp pháp ) là một
cơ-sở công an chính-trị song song ; gồm có các người cộng-sản Espagne và cộng-sản
ngoại-quốc. Dưới sự chỉ huy của Hertz, cơ sở này có nhiệm
vụ là : Thiết lập tất cả các hồ sơ của các người ngoại quốc
cư ngụ tại vùng Catalogne trước và sau đó là tất cả các người cư
ngụ trên toàn lảnh thổ Espagne và '' danh sách đen '' các người làm trở ngại
cần phải loại trừ. Trong giai đoạn đầu từ tháng 9 đến tháng
12 năm 1936, việc sự ngược đải các người đối lập đả
xăy ra nhưng thiếu phương pháp. Ưu tiên được nhắm vào các người
xă-hội dân chủ, các người nghiệp đoàn vô chính phủ, các người trốt-kít,
các người cộng-sản bất đồng chủ-trương và họ đả tỏ
ra các đường lối chính trị rẻ tách nhau. Và dần dần cơ quan NKVD đả
thiết lập ra các chương tŕnh đàn áp đối với các lực lượng chính
trị chống lại nền cộng ḥa. Và đúng như dự tính, đả có nhiều
'' kẻ thù '' đả chỉ trích, và t́nh trạng khẩn trương đả đến
với các người cộng-sản phản đối đường lối để
đạt được bá quyền, đi theo đường lối và chính sách của URSS.
Lẽ dỉ nhiên là trong hoàn cảnh này, việc thanh toán các mối thù cá nhơn, hoặc là
trả thù sẽ đương nhiên diển hay xảy ra trong các cuộc đàn áp. Các phương
pháp của công-an và cảnh sát từ tŕnh độ sơ khai, đến tối tuyệt hảo
( sophistiqué ) đả được các nhơn viên xữ dụng, các người nhơn
viên này ẩn dưới 2 hoặc 3 lư-lịch khác nhau. Nhiệm vụ đầu tiên của
các viên công an đả được chính trị hóa tối đa là biến thể các guồng
máy hành chính của chế độ cộng-ḥa non nớt này, biến công-an và quân đội
thành ra các '' thuộc đîa '' nơi họ có thể nói nôm na là '' muốn làm ǵ th́ làm ''. Việc
chinh phục lần lượt các đîa vị then chốt, việc làm '' nồng cốt ''
của các cơ sở '' đả dựa trên sự kiệbn '' là URSS đả cung cấp
vũ khí cho các người cộng ḥa đang thiếu các trang bị quân sự và URSS củng
đ̣i hỏi lại sự bù đắp bằng '' sự nhiều hơn '' về chính trị.
( Sau cuộc thắng trận, tướng Franco hỏi đến số dự trử '' vàng
'' của ngân hàng quốc gia th́ hởi ơi, chính phủ cộng ḥa đả gởi '' số
vàng dự trử '' để bảo đảm số giấy bạc in ra là 600 tấn đả
được chở sang URSS. Việc này măi đến năm cuối của thập niên
1980 mới được công bố ) Trái lại với các hành động của Hitler và
Mussolini để giúp các người quốc gia, nước URSS đả bắt phải
trả tiền trước các số vũ khí được chuyễn giao với số vàng
của Ngân Hàng Quốc Gia Espagne và các nhơn của cơ quan NKVD đả hộ tống
sang đến tận Moscou ; mỗi một lần chuyển giao vũ khí là các người
cộng-sản Espagne PCE lại làm các cuộc tống tiền ( chantage ) thêm, để khai
thác các lợi ích về chính trị. Julian Gorkin đả đưa một gương mẫu
về việc '' xem lẩn nhau '' giửa chiến tranh và chính trị : đầu năm 1937,
thủ tướng của chính phủ cộng ḥa Espagne Largo Caballero được sự
ũng hộ của Tổng thống cộng-ḥa Manuel Azana, đả cho phép vị đại
sứ của Espagne ở Paris Luis Araquistain để thương lượng bí mật với
đại sứ Italie tại Londres, tên Dino Grandi và Hjalmar Schacht, cố vấn về tài chính
cho Hitler, dưới quyền giám hộ của Léon Blum ( Thủ-tướng Pháp ) và Anthony Eden
đại diện cho chính phủ Anh-quốc để t́m một thỏa hiệp chấm
dứt cuộc chiến nội bộ. Vị ngoại trưởng của chính phủ Espagne
tên Alvarez del Vayo, ông này có tư tưởng triết lư cộng-sản ( philocommuniste ), liền
thông báo việc thương lượng này cho các người cộng-sản PCE. Các người
lảnh đạo PCE đả thỏa thuận với các vị chịu trách nhiệm của
các cơ quan sô-viết là '' xa lánh '' Caballero '' và cấm không được làm việc thương
lượng cùng các giải pháp để chấm dứt cuộc nội chiến với căn
bản là việc triệt thoái các quân nhơn người Italie và Đức quốc đang
làm cố vấn cho quân lực nổi loạn của tướng Franco. '' Sau các việc
bị vu khống.. .. một viên đạn vào đầu ''
Bài của Victor Serge
Và đây là lời tuyên bố của Victor Serge,
một nhà văn Nga lai Bỉ đả được phóng thích từ URSS vào tháng 4 năm
1936, đả nói với Julian Gorkin khi hai người đả gặp nhau vào năm 1937 ;
đả báo trước cho người tranh đấu POUM về các hành động liên kết
tai hại về chính trị. Một chính sách đả gặp phải nhiều chướng
ngại : khối các người '' nghiệp đoàn vô chính phủ '' thuộc tổng liên đoàn
lao công CNT, đả thoát được sự ảnh hưởng của các người
cộng-sản Espagne PCE, và đảng POUM củng chống lại đường lối
cộng-sản. Đảng POUM là một nạn nhơn được chỉ định
với lư do là đảng này là lực lượng đối nghịch khác cùng với địa
vị '' ở ngoài lề '' trên bàn cờ chính trị. Đối với các người cộng-sản
cần phải khai thác các lợi điểm về chính trị hợp thời trong địa
h́nh chính trị vào thời điểm này. Ngoài các lẽ trên, đảng POUM đả bị
coi là dính líu với Trotski : trong năm 1935 các vị lănh đạo của POUM là Andreu Nin
và Julian Gorkin đả thực hành các cuộc vận động với chính quyền của
vùng Catalogne để cho Trotski, vừa bị truật xuất ra khỏi nước Pháp, có
thể định cư ở Barcelona. Trong khuôn khổ của việc săn đuổi các
người thân hoặc thuộc Trốt-kít đang diển ra ở URSS, việc xăy ra đương
nhiên là văn pḥng của tổ chức Komintern họp vào ngày 21 tháng 2 năm 1936, tức là
5 ngày sau khi Mặt trận B́nh-dân đả thắng cử trong cuộc tổng bầu cử.
Tổ chức Komintern đả ra mệnh lệnh cho đảng cộng-sản PCE phải
'' chiến đấu quyết liệt chống lại các môn phái trốt-kít phản cách mạng
''. Cộng thêm vào việc là trong mùa hè năm 1936, đảng POUM đả dám táo bạo lên
lời chống đối lại các vụ xữ án lớn đầu tiên ở Moscou để
bảo vệ các người nạn nhơn. Ngày 13 tháng Chạp năm 1936, các người
cộng-sản đả loại được Andreu Nin ra khỏi Hội-đồng Hành-pháp
của vùng Catalogne. Họ đả viện cớ là Andreu Nin đả phạm tội vu khống
nước URSS và các người cộng-sản đả dùng việc chuyễn giao vũ
khí để làm một cuộc tống tiền và đạt được kết quả
mà họ mong muốn. Ngày 16 tháng Chạp, báo Pravda đả phát động một chiến
dịch quốc tế chống lại những người chống đối đường
lối chính trị của sô-viết Nga : '' Ở tại vùng Catalogne, việc loại trừ
các người trốt-kít và các người thuộc các '' nghiệp đoàn vô chính phủ đả
bắt đầu ; việc loại trừ này chỉ ngừng với sự quyết tâm như
đả diễn ra ở URSS ''. Tất cả các người bất đồng hoặc
đi tách ra về đường hướng chính trị đều bị các người
cộng-sản coi là một cuộc phản bội, và luôn luôn bất cứ ở đâu, hay
bất cứ thời gian nào củng có một cuộc xữ lư liền hay là dời lại.
Các lời vu khống, và các lời nối dối đều đổ lên đàu các thành viên
của đảng POUM, các đơn vị chiến đấu của đảng này trong
cuộc nội chiến, đả bị tố cáo là đả chạy bỏ các vị trí
chiến đấu mà họ mà họ có nhiệm vụ chống giữ, trong lúc ấy các đơn
vị cộng-sản đả từ chối trợ chiến cho họ. Nhựt báo Humanité
của đảng cộng-sản Pháp đả tạo ra thành tích riêng biệt trong việc
này bằng cách cho đăng các bài của Mikhail Koltsov, một người bạn thân của
cặp Aragon-Triolet. Đề tài chính của cuộc vận động này đả được
tóm tắt là việc quyết liệt được nhắc đi nhắc lại nhiều
lần : Đảng POUM là đồng lỏa với Franco, họ đả phản bội
và làm lợi cho phát-xít. Các người cộng-sản đả cẩn thận lo trước
và đả cho người xâm nhập vào hàng ngũ của POUM, các nhơn viên này dùng để
thu thập các tin tức về t́nh báo và lập trước các danh sách đen, hầu để
dễ nhận diện lúc cần tới ; các người đấu tranh của POUM hầu
bắt giam họ. Một trường hợp được biết rỏ : đó là trường
hợp của Léon Narvich đả liên lạc với Andreu Nin, đả bị lộ và đả
bị một toán tự vệ POUM hành quyết, sau khi Andreu Nin đả biệt tích và các người
lănh đạo POUM bị bắt giam.
Tháng
5 năm 1937 và việc thanh toán đảng POUM
Ngày 3 tháng 5 năm 1937, các đơn vị
của Vệ Binh Xung Phong do các người cộng-sản chỉ huy, đả tấn công
vào trung tâm các máy téléphone ở Barcelone do các người công nhơn của CNT và UGT kiễm soát.
Cuộc hành quân này do Rodriguez Salas chỉ huy. Y là đảng viên của PSUC và là chỉ huy trưởng
công an. Cuộc tấn công này đả được chuẩn bị với các cuộc tuyên
truyền và hành động ngược đải như đóng cửa đài phát thanh của
POUM, cùng đ́nh bản tờ báo của họ là La Batalla. Ngày 6 tháng 5, năm ngàn nhơn viên
cảnh sát do các người cộng-sản chỉ huy đả được di chuyễn
và đưa đến Barcelone. Cuộc chiến đấu đả xăy ra giữa các lực
lượng cộng-sản và không cộng-sản đả diễn ra dử dội, việc
này đưa đến kết quả là có 500 người chết và 1000 bị thương
! !. Nhơn cơ hội xảy ra t́nh thế hổn độn, các người làm tai xai cho
các người cộng-sản , đả nắm lấy mỗi cơ hội để thủ
tiêu các người đối lập lại đường lối chính trị của
đảng cộng-sản. Ông Camillo Berneri một người Italia và là triết gia vô chính
phủ đả bị ám sát cùng với người bạn của ông là Barbieri, thi thể
của họ với nhiều vết đạn đả được t́m thấy ngày hôm
sau. Camillo Berneri đả trả một giá về sự can đảm của ông về chính
trị, v́ ông đả viết trong tờ báo của ông : Cuộc chiến tranh giai cấp
: '' Ngày hôm nay chúng ta chiến đấu chống lại Burgos, ngày mai chúng ta sẽ phải
chiến đấu chống lại Moscou, để bảo vệ các sự tự do của
chúng ta ''. Alfredo Martinez, thơ kư của phong trào Thanh-niên Tự-do tuyệt đối vùng Catalogne
và người tranh đấu trốt-kít tên Hans Frend và cựu thư kư của Trotski tênErwin
Wolf, tất cả đều bị giết. Kurt Landau, người nước Áo và là người
cộng-sản hoạt động đả từng đấu tranh ở Đức quốc,
ở Áo quốc và ở Pháp trước khi đến Barcelone và tham gia vào đảng POUM.
Người này bị bắt giam vào ngày 23 tháng 9 và củng biệt tích trong các trường
hợp tương tự. Vợ của Kurt Landau tên Katia củng bị bắt giam đả
khai về các cuộc '' Thanh trừng '' : ở trong các trụ sở của đảng tại
: Pedrera, Paseo de Garcia ; ở trong các trại lính '' Carlos Marx '' và ''Vorocholov '', ở tại các
nơi này là các '' bẩy chuột '' và '' ổ để cắt cổ''. Ở tại Pédréra
các nhơn chứng đả thấy lần cuối cùng hai chiến hữu '' mất tích ''
( làm việc tại Radio Poum ). Người ta, các người cộng-sản PCE, đả
giải đưa các thanh niên trẻ tuổi thuộc phe phái vô chính phủ về các trại
lính, để tra tấn các người này một cách mà chúng ta không thể tưởng tượng
được. Đánh gảy hoặc chặt tay chân và sau cùng ám sát họ. T́nh cờ người
ta đả t́m lại được các tử thi. Và bà Katia đả viết trên một
bài báo của cơ quan nghiệp đoàn vô chính phủ Solidaredad Obrera : Trên các tữ thi mà t́nh
cờ người ta gặp được, người ta đả nhận thấy là trước
khi các người này chết, họ đả bị tra tấn một cách dă man, v́ trên các
tử thi này đả có các vết bầm tím và các vết thương tét da thịt, các vết
thương bầm tím ở trên bụng đả sưng phù lên. Có một tử thi đả
có cái đầu và cái cổ đả trở màu tím thẫm, chứng tỏ là người
này đả bị treo hai chân lên, đầu ngược xuống đất. Trên đầu
của cậu thanh niên chiến hữu xấu số này c̣n '' in hằn '' lên vết
đánh bằng bá súng. Nhiều người tranh đấu đả biến mất luôn,
người ta không bao giờ t́m lại được dấu vết của các người
tên sau đây : Guido Picelli, George Orwell, đả t́nh nguyện nhập ngũ đoàn chiến
sĩ POUM, và đoàn này đả sống những ngày bị tàn sát giống như cuộc
tàn sát Saint-Barthélemy ( xăy ra vào thời chiến tranh tôn giáo vào thế kỷ thứ 16 ở Pháp
), họ phải chạy trốn và ẩn nấp để được sống c̣n, và đả
tả lại cảnh sống trong bầu '' không khí săn bắt '' đả diễn
ra ở Barcelone. Trong một bản đính kèm '' những ǵ đả xăy ra trong những ngày
rối loạn váo tháng 5 tại Barcelone '', ở trong sách : Tôn kính cho vùng Barcelona - Các công an cộng-sản
đả '' kế hoạch hóa '' các vụ mưu sát, không riêng ǵ ở Barcelona. Tại Tortosa,
ngày 6 tháng 5 đả có 20 người chiến sĩ đấu tranh của CNT đả bị
các quân nhơn của chính quyền ở Valence bắt giam ở dưới ngục tối
của ṭa đô sảnh, họ bị các tên '' giết thuê '' lôi ra và bắn chết. Ngày hôm
sau, ở Tarragona 15 người đấu tranh thuộc phái '' tự do tuyệt đối
'' củng bị hạ sát không nương tay. Tất cả những ǵ người cộng-sản
không đạt được trên b́nh diện của các nơi xăy ra các cuộc chiến, họ
đả đạt được trên mặt chính trị. Thủ tướng của chính
phủ Largo Caballero đả từ chối các đề nghị '' như là những lời
trách mắng '', của các người cộng-sản đ̣i hỏi phải thi hành việc
giải tán đảng POUM, tên José Diaz tổng thư kư đảng cộng-sản PCE đả
tuyên bố vào tháng 5 : '' Đảng POUM phải được loại ra khỏi đời
sống chính trị của nước này ''. Sau khi đả xăy ra các cuộc '' ngang sát nhau
'' ở Barcelone, Caballero đả bắt buộc phải từ chức Thủ-tướng
chính phủ vào ngày 15 tháng 5 và được ông Juan Negrin, một người xă-hội ôn ḥa
được cử làm Thủ-tướng thay. Nhưng than ôi ! Ông này lại là người
'' tùy thuộc '' vào các người cộng-sản và tất cả các chường ngại
vật cản trở họ để đạt được mục tiêu đả được
tháo gở. Thủ tướng Negrin đả chấp nhận đường lối của
cộng-sản và ông đả bắt buộc phải viết cho tuần san tiếng Anh ''
Times '' do phóng viên chuyễn giao về ṭa soạn, đó là kư giả Herbert L. Matthews là đảng
viên POUM đả bị các phần tử '' quá dị ứng '' kiễm soát, để đối
lại tất cả những ǵ có ư nghỉa là chỉ đạo duy nhất và tối cao,
để tranh đấu dưới một kỹ luật chung ? ? !, Nhưng ông đả
chấp thuận cuộc khủng bố áp đặt lên đảng POUM. Ông Julian nhận thấy
sự thay đổi cấp tiến đả diễn ra và ghi lại như sau : '' Sau vài ngày
thành lập chính phủ Negrin, Orlov đả hành động và coi nước Espagne như là
một '' vệ tinh '' của Nga sô-viết. Y đả đến cơ-quan Tổng An-ninh
Quốc-gia và đả đ̣i hỏi vị chỉ huy là Đại-tá Ortega phải hành động
theo lịnh của y, và coi vị đại tá này là một sĩ-quan cấp dưới lệ
thuộc. Các lịnh bắt giam các thành viên của Ũy-ban Hành-pháp POUM đả được
tống đạt. Ngày 16 tháng 6 năm 1937, Negrin cấm đảng POUM hoạt động
v́ các người lănh đạo đả bị bắt giam. Quyết định chính thức
này đả cho phép các nhơn viên cộng-sản hành động dưới sự che chở
của sự hợp tác hoàn toàn phe phái. Cùng ngày này, vào lúc 1 giờ trưa Andreu Nin đả
bị các cảnh sát viên chận bắt ở ngoài phố. Các chiến hữu của ông đả
không bao giờ gặp lại ông, dù là sống hay chết. Các cảnh sát viên và công an viên từ
Madrid được phái đến Barcelone, v́ họ đáng tin cậy hơn các người
này đả hoàn toàn lệ thuộc vào các người cộng sản, họ đả xông
vào trụ sở của ban biên tập tờ báo La Batella và các trụ sở khác của đảng
POUM. Hai trăm người chiến sĩ đấu tranh đả bị bắt giam, trong
số này có các vị lănh tụ : Julian Gorkin, Jordi Arquer, Juan Andrade, Pedro Bonet, v.v.. Để chứng
minh cho việc mai hậu, việc thủ tiêu đảng POUM, các người cộng-sản
đả '' ngụy tạo '' ra đủ các loại giấy tờ để có bằng chứng
là POUM đả phản bội và tố cáo là họ đả hoạt động gián điệp
cho tướng Franco. Ngày 22 tháng 6 một ṭa án đặc biệt đả được
thiết lập, và một cuộc tuyên truyền đả được phát động
: cảnh sát và công an trong các cuộc lục soát các trụ sở của đảng POUM, đả
phát giác ra các tài liệu đả xác định việc các hoạt động gián điệp
do các người cộng-sản đề ra, Max Rieger một kư giả, đả theo lịnh
từ một cái được gọi dưới tên tập thể, đả thu thập
các tài liệu ngụy tạo hay giả tạo này để làm ra một cuốn sách với
tựa đề : '' Nghiệp vụ gián điệp ở Espagne, và cuốn sách này đả
được phát hành dưới nhiều thứ tiếng khác nhau. Düói sự chỉ huy
của Orlov và với sự che chở của Vidali, Ricardo Burillo và Gero, các tên giết thuê đả
bắt Andreu Nin đả tra tấn ông này, cuộc tra tấn này đả không đạt
được một lời '' thú tội '', để chứng minh các lời buộc tội
đối với ông và làm hại đảng của ông ; và củng không ép buộc được
ông phải kư một văn kiện nào hay một lời khai nào. Từ đó họ chỉ
c̣n cób giải pháp là thủ tiêu ông và dùng sự '' mất tích '' của ông để làm mất
danh dự của ông, bằng cách phao tin là ông đả trốn sang hàng ngủ của tướng
Franco. Các cuộc ám sát và các cuộc tuyên truyền đi đôi với nhau. Về sau trong các
việc tra cứu các hồ sơ tồn trử ở văn khố tại Moscou, đả
cho phép xác nhận các điều mà các chiến hữu của Andreu Nin đả giă định
vào tháng 9 năm 1937 là đúng. Chỉ sau khi phát động các hành động đánh phá đảng
POUM, ngày 16 và 17 tháng 6, các người cộng-sản bắt đầu '' cuộc săn bắt
'' người có phương pháp, những tên '' phản bội trốt-kít '' cùng với các
người chống đối khác. Để điều hành các hành động của họ,
các người cộng-sản đả xữ dụng các hồ sơ về lư-lịch nơi
các cơ quan cảnh-sát và công an. Họ đả trở thành các tên '' tchékit '' của nước
Espagne. Họ đả tồ chức các khám đường bất hợp pháp và song song với
các nơi giam giữ của chính quyền mà dân chúng đả gọi là các '' ceka '' ( họ
dùng tiếng Nga là Tchéka, nhưng bỏ chử T và chử H đi nên c̣n lại là Céka ).Tên của
các nơi dùng làm '' céka '' được biết là : Céka trung ương của Barcelone ở
số 24, Avenida Puerta del Angel, với chi nhánh ở Hotel Colon nơi công trường Catalogne,
và một ở Tu-viện củ Atocha tại Madrid, Santa Ursula ở Valencia và Acalá de Henares. Đả
có nhiều tư thất bị trưng dụng làm nơi giam cầm, hỏi cung và hành quyết. Đầu
năm 1938 đả có 200 người bị giam cầm ở '' céka '' Santa Ursula, v́ bị tố
cáo là chống phát-xít và chống các người thân Staline. Vào thời điễm này, céka Santa
Ursula, đả được coi như trại Dachau của Espagne ( trại Dachau của
Hitler đả lừng danh là nơi giam cầm và thủ tiêu các người chống đối
chế độ Đức-quốc-xă và các người Do-thái ). Khi các người cộng-sản
quyết định thiết lập một '' céka '', chúng tôi đang lo quét dọn một nghĩa
trang nhỏ, đó là lời thuật lại của một nhân chứng. Các người ''tchékit
'' đả có một hành động ''yêu quái '' : họ để nghĩa trang này trong
t́nh trạng với các chiếc mă đả được mở nắp ra, để trông
thấy các bộ xương và các xác chết đang tan rữa ra. Củng tại các mă này,
hàng đêm họ nhốt các người bị bắt cứng đầu nhứt. Họ đả
dùng các cực h́nh '' cục súc '' nhất bằng cách : treo chân các người bị bắt
đầu ngược xuống đất, trong xuốt cả ngày. Các người khác bị
nhốt trong các chiếc tủ và họ chỉ đục vài cái lổ để cho người
bị nhốt có đủ khí trời để thở. C̣n có một h́nh thức tra tấn
khác c̣n '' cục súc '' hơn nữa : người ta bắt buộc các người tù nhơn
phải ngồi '' chồm hổm '' trong các cái thùng h́nh vuông trong nhiều ngày ; có người
bị bắt ngồi như vậy từ 8 đến 10 ngày mà không được cử
động. Để thực hành các công việc đồi bại này, các nhơn viên sô-viết
đả dùng các người thuộc thành phần các tên tù về tội ác, và h́nh như các
việc làm của họ được cô Pasionaria chấp thuận. Trong một cuộc biểu
t́nh và hội-thảo củ cộng-sản ở Valencia cô này đả tuyên bố : '' Tốt
hơn là lên án một trăm người vô tội, c̣n hơn tha bổng một người
thủ phạm ''. Xữ dụng các cuộc tra tấn là một phương pháp : tra tấn
bằng cách trói tay chân cho nằm vào một chiếc bồn tắm, rồi đổ đày
nước có savon, v́ nước này sẽ khiến nạn nhơn ụa mửa ra. Có nhiều
loại tra tấn khác '' thuần túy sô-viết '', đó là bắt không cho các nạn nhơn
ngủ và phải thức nhiều ngày liên tiếp. Nhốt nạn nhơn vào một cái tủ
chật hẹp tên là : '' celda armario '' mà nạn nhơn không thể đùng hay ngồi cùng là
cử động tay chơn và chỉ khó khăn để thở. Một ngọn đèn rất
sáng thắp xuốt ngày, đêm. Nhà văn Soljenitsyne đả tả chân loại '' xà lim này
'' trong các chương của Quần Đảo các Goulay, khi ông tả cảnh lúc ông vào trụ
sở Loubianka của cơ quan NKVD ở Moscou. Việc hành quyết '' đơn sơ ''
là việc xăy ra thường xuyên : '' Trung úy Astorga Vayo thuộc sở điều-tra về
quân sự và cơ quan NKVD đả t́m ra phương pháp để chế ngự các việc
'' đào tẩu '' : Các người tù nhơn được tập họ bằng cách thức
mỗi hàng có 5 người. Nếu để có một người '' đào tẩu '' bốn
người c̣n lại sẽ bị đưa ra xử bắn. Và y c̣n hăm dọa là sẽ
xữ bắn luôn cả các người của hàng đứng trước củng như
hàng đứng sau có người '' đào tẩu ''. Hành động này đả làm bất
măn các đồng đội của ông, nhưng Vayo, tuy là bị tước quyền chỉ
huy nhưng lại được thăng cấp và được giao cho chỉ huy một
trại tập trung chính ở vùng Catalogne, đó là trại Onells de Nagaya ở trong tỉnh Lérida. Con
số các người bị bắt giam, được ước lượng do nhiều
người :Katia Landau đưa ra con số 15000 tù nhơn bị bắt giam ở trong các
khám đường chính thức và bí mật, trong số này có 1000 người thuộc đảng
POUM. Yves Lévy sau các cuộc điều tra tại chổ đả đưa ra con số là
khoảng '' 10 000 người tù nhơn cách mạng, thường dân và quân nhân bị giam
cầm '' thuộc đảng POUM, tổ chức CNT và FAL. Đả có nhiều người
đả chết v́ bị hành hạ xấu như : Bob Smile phóng viên độc lập của
báo Labour Party ở bên cạnh đảng POUM, như trường hợp của Manuel Maurin
? em của Joaquin Maurin đả bị quân của tướng Franco bắt làm tù binh và nhờ
vậy đả được sống sót, Manuel Maurin ở khám đường kiểu mẫu
tại Bacelona. Cuối năm 1937, theo như Julian Gorkin tại khám đường Santa Clara
đả có 72 người bị tuyên án tử h́nh. Đảng POUM đả bị phá tan,
các người thuộc đảng xă hội đả bị loại ra hay đả bị
'' lung lạc '', c̣n lại các người vô chính phủ. Trong những tháng đầu các người
cộng-ḥa đả chống trả lại '' pronunciamiento '' của tướng Franco và dưới
ảnh hưởng của các người cộng ḥa tại vùng Aragon các đoàn thể nông
nghiệp đả tập họp lại. Vài tuần lễ sau tháng 5 năm 1937, các thành phố
và các làng xă đả bị các vệ binh xung phong chiếm đóng. Đại hội các đoàn
thể nông nghiệp dự đînh được dời lại một ngày khác và đến
ngày 11 tháng 8 một sắc lịnh được ban ra giải tán Hội đ̣ng vùng Aragon.
Chủ tịch của hội đồng Joaquin Ascaso bị tố cáo là đả ăn trộm
nữ trang, đả bị bắt giam và được thay thế bởi một viên toàn
quyền cai trị tên là José Ignacis Mantacon, một thành viên của tả phái cộng ḥa nhưng
thiệt ra là một '' tàu ngầm '' của cộng-sản. Đó là một cuộc tấn
công thẳng vào tổ chức CNT với dụng ư là phá hoại ngấm ngầm các căn
bản của ảnh hưởng tổ chức CNT. Sư đoàn 11, dưới sự
chỉ huy của tên cộng sản Enrique Lister đả làm nhiều cuộc đổ máu
ở Castilla như : hành quyết các người '' tự do tuyệt đối '', bạo
động chống lại các tập đoàn nông dân '' tập thể hóa ''. Sư đoàn 27
c̣n có tên là Karl-Marx của PSUC và sư đoàn 30 đả dùng vơ lực để giải tán
các tập đoàn nông dân. Hàng trăm người '' tự do tuyệt đối '' đả
bị bắt hoặc đả bị loại ra khỏi các hội đồng thành phố
và được thay thế bởi các người cộng-sản, trong lúc đó các vùng đất
đả canh tác tập thể được trả về và chia lại cho các người
chủ củ. Hành động này được phối hợp với việc loan tin một
cuộc tấn công đại quy mô vào thành phố Saragosse để có cách chứng minh việc
'' quét sạch '' các vùng hậu tuyến hầu để sửa soạn cuộc tấn công.
Mặc dầu đả xăy ra cuộc tàn sát cả trăm người nông dân nhưng những
người này cũng tái lập lại các tập đoàn của họ. Ở vùng Castilla,
tên tướng cộng-sản lừng danh El Campesino ( tên thật là Valentin Gonzles ) đả
chỉ huy các cuộc hành quân chống lại các người nông dân. Theo như các tin do ông César
M. Lorenzo đưa ra, các hành động của El Campesino đả vượt qua quá xa các
hành động của Lister. Lại diển ra các cuộc tàn sát hàng trăm người nông
dân, nhiều làng xă bị thiêu hũy, nhưng tổ chức CNT đả phản ứng lại
dử dội để chống lại các hành động gây hấn này và nhờ vậy đả
chấm dứt được các hành động của El Campesino.
Cơ quan NKVD ra tay
Vào năm 19873 ở Espagne, cơ quan NKVD đả
trở thành một loại cơ quan phụ thuộc cho bộ Nội vụ của chính phủ
cộng ḥa dưới tên là '' Grupo de Informatión ''. Các nhơn viên người cộng-sản
đả kiễm soát Tổng Nha An Ninh. Mùa Xuân 1937 và mùa Hè, các tổ chức Servicio Alfredo Hertz
đả hoạt động tối đa. Julian Gorkin đả gọi là '' một trong các
vị thầy giỏi '' về '' hỏi cung '' và '' hành quyết ''. Cùng làm việc với Hertz
có người tay chân của Ernö Gerö tên là Hubert Von Ranke, người này đả phục vụ
Gerö từ năm 1930 và có một lúc làm Ũy viên Chính trị của tiểu đoàn '' Thaelmann
'' thuộc trung đoàn quốc tế, nay y được ũy nhiệm kiễm soát các người
ngoại quốc nói tiếng Đức. H́nh như, nếu là đúng theo sự thật là chính
Von Ranke đả với chức vụ củ y bắt Erwin Wolf và sau đó đả thả
ra, nhưng rồi một thời gian sau đả '' tuyệt tích ''. Hai nhơn viên chính phủ
của Grupo de Información đả bắt giam bà Katia Landau ngày 11 tháng 9 năm 1937. Bà Katia
đả kể lại phương pháp '' bỉ ổi đê hèn '' mà Von Ranke đả xữ
dụng : '' Nó là một những nhân viên đê hèn củ cơ quan GPU, lúc đó nó mang tên là Mortiz
Bressler, và đả làm rất ít các cuộc tố cáo. Hắn và vợ hắn là Seppl Kapalanz
đả cho bắt một người bạn v́ đả nghi ngờ là người này đả
biết Kurt Landau đang ở đâu và đả nói : '' Nếu anh không cho đîa chỉ của
nó, lhông bao giờ anh ra khỏi khám đường. Nó là một kẽ thù của Mặt trận
B́nh dân và của Staline. Khi mà chúng tôi biết nó ở đâu, chúng tôi sẽ đi đến
đó để giết nó ''. Trong đêm 9 rạng ngày 10 tháng 4 năm 1937, một thanh niên
người Norwège mà không ai biết đến tên là Marc Rein đả tham gia vào các phong trào
cực tả của nước Norvège, anh đang cư ngụ ở trong một khách sạn
ở Barcelone bổng nhiên mất tích. Vài ngày sau các bạn hữu của anh được
biết là anh đả mất tích, liền báo động cho dư luận quần chúng. Marc
Rein là con trai của Rafaẽl Abramocitch, một người Nga di cư và là lănh tụ của
đệ nhị quốc-tế. Tư cách của nạn nhơn đả khiến cho gia
đ́nh của nạn nhơn và các người bạn kịch liệt t́m kiếm để
biết về số phận của nạn nhơn, đả gây ra một sự súc động
lớn ở hải ngoại và tạo ra các mối bối rối cho chính phủ cộng ḥa
Espagne. Chính phủ Espagne bắt buộc phải ủy nhiệm cho một nhơn viên của
chính phủ mở cuộc điều tra và được biết là tổ chức Servicio
Alfredo Hertz là thủ phạm của việc Marc Rein đả mất tích. Một cuộc tranh
chấp gay gắt đả xăy ra giửa cơ quan NKVD và chính phủ Espagne , đả đưa
đến việc là ngày 9 tháng 7 năm 1937, vị quốc-vụ-khanh của Bộ-trưởng
Bộ-Nội-vụ đả cho thực hành trước mặt các nhơn chứng một
cuộc '' đối chất '' của nhơn viên t́nh báo của chính phủ ( bí số
SSI 29 ) với hai tên đồng lỏa Hertz và Gomez Emperador. Ngày hôm sau, nhơn viên SSI 29 liền
bị tổ chức của Hertz bắt giam. Lúc ấy văn pḥng t́nh báo xữ dụng SSI
29 c̣n đủ '' uy lực '' để giải thoát cho nhơn viên của ḿnh. SSI 29 tên thật
là Laurencic, đả bị truy tầm ra do các nhơn viên của mật vụ Franco, bị
bắt và đưa ra trước ṭa án binh của Franco và bị xử tử với tội
danh là nhơn viên của cơ quan NKVD. Vụ Marc Rein đến nay chưa ai biết được
sự kết thúc nó ra sao, và củng không ai biết được số phận của nạn
nhơn. Nhưng đả đưa đến việc là vào cuối tháng 7 trở về sau
các hành động của Hertz đả không c̣n quá lộ liểu : Các tổ chức của
y đều bị giải tán, nhưng được tái tổ chức lại dưới
quyền của Victorio Sala. Bắt đầu từ 15 tháng 8, bộ trưởng Bộ Quốc-pḥng
thuộc đảng xă-hội tên Indalecio Prieto đả tổ chức Servicio de Investigación
Militar ( SIM ) với nhiệm vụ là quy tụ tất cả các tổ chức kiểm soát
chính trị và các tổ chức phản gián điệp. Trong một thời gian ngắn, tổ
chức SIM đả có 6000 nhân viên. Một số nhơn viên của Hertz, có tŕnh độ
đả gia nhập vào SIM. Và năm 1939, Prieto đả biểu lộ là tổ chức SIM,
trên nguyên tắc là để dùng vào các việc phản gián điệp đả được
tổ chức, v́ các lời '' thúc giục '' của các người sô-viết và chẳng bao
lâu dù là đả dùng các biện pháp ngăn ngừa, v́ ngay từ lúc đầu tổ chuúc
này đả do một người bạn thân tín của Prieto lănh đạo, các người
cộng-sản đả đoạt được tổ chức SIM và dùng nó để thực
hành các mục tiêu của họ. Dưới áp lực của các người sô-viết và các
người cộng-sản, đến ngày 5 tháng 4 năm 1938 Priéto bị loại ra khỏi
chính phủ. Julian Gorkin đả mô tả các hoạt động của SIM : '' Họ bắt
mọi người tùy theo các tính hay thay đổi của họ, bắt ngang bắt ngữa,
để tuân theo các kế hoạch đàn áp '' trả đủa '' về chính trị. Kẽ
nào bị bắt liền bị giam vào khám đường và người ta bắt đầu
nghiên cứu liền vụ xữ án mà không cần điều tra. Tổ chức SIM giữ
các hồ sơ, từ tháng này qua tháng khác nói là để điều tra bổ túc. Và tổ
chức SIM chính là sự khũng bố đối với các vị thẫm phán và các vị
luật sư cùng các ông dự thẫm khi họ biết rằng tù nhơn là kẻ vô tội. Rudolf
Frei, là một người cộng-sản Thụy-sĩ ( suisse ), trước kia anh là một
người thợ máy và anh đả theo các lớp học của trường Lénine Quốc
tế ở Moscou vào năm 1931-1932. Anh được ũy nhiệm lo việc đưa
các người t́nh nguyện đi từ Bâle ( Thụy-sĩ ) đi sang Espagne. Theo lời yêu
cầu của anh, anh đi sang Espagne vào cuối năm 1937, và phục vụ tại sở
kiễm soát của SIM, đặc biệt là để theo dỏi các người dân '' Thụy-sĩ
''. Vào mùa Xuân 1938, rất nhiều người tù nhơn chống phát-xít bị bắt giam ở
trong các khám đường do các người cộng-sản kiễm soát, đả bị
cưởng bách đưa ra các mặt trận, cùng với các người tù thuộc phe của
tướng Franco để làm các việc đào những giao thông hào, và các việc khác rất
là cực khổ mà không có lương thực, săn sóc y-tế kèm theo sự đe dọa
thường xuyên là sẽ bị bắn bỏ. Một trong những người sống
sót, đả vượt ngục được, anh tên là Karl Brauning, anh thuộc vào nhóm các
người cộng-sản Đức ly khai, đả biểu lộ với nhiều người
bạn thân vào tháng chạp năm 1939, trên sáu tháng sau khi anh trốn thoát : '' Những điều
mà chúng tôi đả sống từ tháng bảy rất là tàn ác và kinh khủng. Các h́nh ảnh
trong cuốn sách của Dostoĩevski : ngôi nhà của các người chết chỉ là các bản
sao lợt lạt. Thêm vào đó việc chịu đói triền miên đả đưa đến
việc mê sảng. Thân thể của tôi chỉ c̣n một nữa của ngày trước,
chỉ c̣n da bọc xương và lại đau ốm không c̣n sức lực. Vào đến
giai đoạn này, biên giới giữa người và con thú không c̣n nửa. Người ta
đả đạt được đến giai đoạn đầu của sự dă
man. - ! Các người phát-xít c̣n phải học hỏi thêm rất nhiều ở cái thằng
ăn cướp này và các người phát-xít c̣n có thể tự cho ḿnh xa-xí là đả c̣n
giữ lại một ít văn hóa. Có lẽ các người cộng-sản đả ghi trên
hồ-sơ của anh : '' cần phải tiêu diệt thể xác bằng các phương tiện
hợp pháp ''. Đó là việc người ta đả toan tính cho tận cùng.
Tái diễn lại tại Barcelone một '' Ṭa án ở Moscou ''
Mặc
dầu đả tái tổ chức lại các cơ cấu, cơ quan NKVD đả gặp
một vài chướng ngại vật, do các việc xâm nhập trá h́nh :Sau khi đả chịu
đựng các cuộc đàn áp dả man, đảng POUM đả nhận được
sự trợ giúp của các nhóm người cách mạng Espagne ; họ tổ chức thành một
hiệp hội bảo vệ các người cách mạng bị cầm tù ở Espagne trong các
khám đường của chính phủ cộng-ḥa. Các hành động quần chúng công khai diễn
ra để chống lại các hành động đen tối và đầy tội ác của
các người sô-viết. Đó là 3 phái đoàn đả đi đến tại chổ để
mở các cuộc điều tra. Phái đoàn thứ ba do John MacGovern thuộc đảng Lao-động
dộc-lập và giáo sư Felicien Challaye đă có thể viếng khám đường ở
Barcelone đó là cárcel modelo, nơi đây đả giam cầm 500 người chống phát-xít.
Phái đoàn đả ghi chép và thâu nhập được các lời khai về các sự ngược
đải mà các người tù nhơn này đả phải hứng chịu. MacGovern và Challaye
đả xin tha cho lối 12 người tù nhơn. Hai ông này củng đả cố gắng
để đi thăm nhà tù, nơi giam giử bí mật của cơ-quan NKVD tọa lạc
tại công-trường Junta. Dầu có được sự ủng hộ của bộ Tư-pháp
là Manuel de Irijo , hai vị này đả không vào được nhà tù này. MacGovern đả kết
luận rằng : '' Chiếc mặt nạ đả rớt xuống, chúng tôi đả vén
được bức màng lên và chỉ rỏ rằng quyền lực nằm tại chổ
nào. Các vị Bộ-trưởng muốn nhưng không làm được ''. Ngày 11 và 12 tháng
10, các thành viên của Ủ-ban Hành-pháp của đảng POUM gồm có : Gorkin, Andrade, Gironella,
Rovira, Arquer, Rebull, Bonet, Escuder đều bị đưa ra xử trước một ṭa án
đặc biệt trong một vụ tố tụng, đả bắt chước theo các
vụ xử án tại Moscou. Trên thực tế, phiên ṭa này làm vững chắc hơn các việc
mà người ta muốn phải tin, các cuộc tố cáo ở URSS chống lại các người
đối nghịch mà người ta gom lại, dưới chử tổng quát là các người
trốt-kít. Nhưng tất cả các người tranh đấu kể trên, đả phản
đối chống lại những lư lẻ dùng để buộc tội họ. Các danh nhơn
ngoại quốc gồm có : Andre Gide, Georges Duhamel, Roger Martin de Gard, François Mauriac và Paul Rivet, đả
gởi bằng điện tín một thông điệp cho Thủ-tướng Juan Negrin, đ̣i
hỏi là tất cả các người bị cáo phải được hưởng các sự
bảo đảm về pháp lư. Các lời tố cáo đả dựa trên các lời khai đả
bị cưởng đoạt, cuộc xữ án đả trở thành sự hổn độn
nơi các người tố cáo. Các báo chí cộng-sản đ̣i phải kết án tử h́nh,
nhưng không có án tử h́nh nào được tuyên ra. Các người tranh đấu của
đảng POUM đả bị kết án với 15 năm tù giam, trừ Jordi Arquer bị xữ
11 năm tù giam và David Rey. Bản án này được tuyên ra vào ngày 2 tháng 11, v́ tội đả
đăng tin '' vu khống '' trên báo La Batalla là chính phủ cộng-ḥa Espagne đả
chịu các lịnh của Moscou, và truy tố tất cả mọi người không chịu
theo lịnh của Moscou, và coi đây là một lời nhận tội. Vào tháng 3 năm 1939,
chính phủ cộng-ḥa đả thua trận chiến, các người có trách nhiệm của
SIM mưu toan giao các người bị kết án cho phe Franco để phe này xữ bắn
các người này, với toan tính là để cho các kẽ thù của chính phủ cộng-ḥa
làm xong cái việc '' dơ dáy '' này, mà các nhơn viên của NKVD đả không hoàn thành được.
Nhờ được sự mai mắn, các người sống sót của Ủy-ban Hành-pháp
đảng POUM đả vượt thoát được. Trong hàng ngũ của trung đoàn quốc-tế
Tiếng vang ở trên toàn
thế giới, của cuộc chiến đấu nơi những người cộng ḥa
đả khiến một số người t́nh nguyện, và tự nhiên quyết định
đi sang Espagne để chiến đấu chống lại các người quốc-gia, và
đả gia nhập vào các đoàn quân tự vệ hay các đoàn quân do các tổ chức. Họ
đả thâu nhận được cảm t́nh của các người t́nh nguyện. Việc
thành lập các trung đoàn quốc tế là do sáng kiến của Moscou và đả trở
thành một đạo quân của cộng-sản, dù tại đây họ đả khộng
tập họp được tất cả những người cộng-sản. Nhưng
phải phân biệt được các người chiến sĩ đả ra đi tuyền
tuyến và các người thuộc về bộ máy tại hậu phương, không đi
chiến đấu. V́ lịch sử của các trung đoàn không thể chỉ tóm tắc ở
các trận '' giao phong anh hùng '' của các chiến sĩ nơi các trung đoàn. Vào mùa Thu-Đông
năm 1936 các trung đoàn này đả bành trướng mau lẹ, với quân số của
hàng chục ngàn người từ khắp nơi trên thế giới đổ về. Với
các người cộng-sản họ chỉ chấp nhận việc gia nhập của các
người này, sau khi thi hành các sự kiễm soát. Họ muốn tránh các sự xâm nhập
của các điệp viên hàng hai của tướng Franco, quốc-xă hay những cái khác. Và
mau chóng, các người cộng-sản kiễm soát tất cả các người t́nh nguyện
về tŕnh độ '' giáo điều chính thống '' của họ, trong khi ấy th́ cuộc
đại khũng bố đang diễn ra ở Moscou và trên toàn nước Nga. Dịch vụ
nơi những cán bộ của các đảng cộng-sản của các nước được
ũy nhiệm để điều khiển cuộc đấu tranh chống lại
những kẽ khiêu-khích, nghĩa là t́m ra các người cộng-sản ly khai, các người
bị phê b́nh và vô kỹ luật. Họ c̣n có bổn phận tuyễn mộ các người
cộng-sản t́nh nguyện ở ngoại-quốc : Cơ quan công-an Thụy-sĩ ở Zirich
đả bắt được trong người của tên cộng-sản người Đức
tên là Alfred Adolf, dấu một danh sách tố cáo với các người sô-viết ở Espagne,
danh sách các người t́nh nguyện mà người ta không muốn có. Trong một tài liệu
mà ủy ban hành pháp của tổ chứ Komintern đề ra từ mùa Thu 1937, đả ra
lịnh phải trừ bỏ ra khỏi các trung đoàn các phần tử về chính trị
thuộc về loại đáng nghi ngờ và kiễm soát việc tuyển lựa các người
t́nh nguyện ; hầu tránh việc xâm nhập vào đội ngủ của các trung đoàn các
nhơn viên t́nh báo, các gián điệp phát-xít và các người trốt-kít. Đó là v́ sao hồ
sơ cá nhơn của mỗi người t́nh nguyện lại nằm trong các hồ sơ
lưu trử của tổ chức Komintern ở Moscou hiện có hàng vài chục ngàn hồ
sơ. Đến nước Espagne vào tháng 6 năm 1936, đảng viên cộng-sản Pháp
André Marty được coi là đại diện của tổ chức Komintern ở bên cạnh
chính phủ cộng-ḥa. Ông là thành viên của văn pḥng chính trị của đảng cộng-sản
Pháp-PCF, và là thơ kư của tổ chức Komintern và củng giử vai tṛ chủ nhơn ông
chính thức của căn cứ Albacete, tại nơi đây đả tổ chức thành
lập các trung đoàn quốc tế. Song song với các trung đoàn, các người cộng-sản
đả thành lập liên đội 5 dưới sự chỉ huy của Enrique Lister, người
này đả ở URSS vào năm 1932 để thụ huấn tại viện đại học
quân sự Frounzé. Lẽ dỉ nhiên là cơ quan SIM củng hiện diện ở Albacete. Tính
rộng lớn của các cuộc thủ tiêu, các người t́nh nguyện thuộc các trung
đoàn cho đến ngày nay c̣n là đầu đề của các cuộc tranh luận. Có vài
người đả chối cải các trách nhiệm của Marty, dù đả có các chứng
cớ hiển nhiên đè trên các hành động của Marty, và các chứng cớ khác để
minh giải các trọng trách của Marty. El Campesino đả giải thích : '' Không c̣n nghi ngờ
ǵ Marty đả phải trừ bỏ các phần tử nguy hiễm. Ông này đả ra lịnh
hành quyết vài người, việc này không chối cải được, nhưng đó
là các người đả phản bội, đào ngũ hay đả ám sát một người
khác ''. Một nhơn chứng Gustave Regler đả từng làm ũy viên phó của trung đoàn
12 đả xác nhận các phương pháp này : Trong cuộc giao tranh gần Escurial, hai chiến
sĩ của trung đoàn ( 2 người này khi trước thuộc phe vô chính phủ ) đả
thối chí, Régler đả ra lịnh bắt giam 2 người này và đề nghị gởi
2 người này vào viện nghĩ dưởng sức. Ông Régler đả báo cáo cho Marty và
ông này đả quyết định gởi 2 người chiến sỉ đi Alcalá de Henares.
Chỉ măi lâu về sau này, Régler mới được biết là Alcalá de Henares không phải
là một viện nghỉ dưởng sức, mà là nơi trú quân của một phân đội
chiến sĩ người Nga chuyên việc hành quyết ; Trong các văn khố t́m được
ở Moscou, người ta đả t́m thấy một bản viết tay, với chử kư
của Marty, để giải thích cho ũy ban trung ương đảng cộng-sản
PCE : tôi đả lấy làm tiếc việc người ta đả gởi trở về
Valencia các tên gián điệp và các tên phát-xít, mà đáng lẽ người ta phải gởi
họ về Valencia để thủ tiêu. Các anh củng hiểu rằng các trung đoàn quốc
tế không thể làm được việc này ở tại đây , ở Albacete ''. Người
ta củng hiểu là việc hành quyết các tên gián điệp hay là phát-xít không phải là một
chuyện dể làm ; ngay ở trung tâm một căn cứ quân sự và người ta củng
không hiểu là Marty muốn chỉ định đến một người nào ; nhưng
trong các trường hợp, Marty đả không muốn làm cái việc '' bẩn thiểu ''
này và muốn để ở một nơi khác, một người khác thay thế làm các việc
này, nhưng sẽ không v́ vậy làm giăm bớt các trách nhiệm về tinh thần và luân lư của
Marty. Một cuốn phim sản xuất vào tháng 11 năm 1937, đả diển tả lại
cảnh một cuộc hành quyết của Erich Frommelt, chiến sĩ của tiểu đoàn
'' Thaelmann '', thuộc về trung đoàn 12 đả bị tuyên án tử h́nh vào hồi 23 giờ
15 và bị hành quyết vào ngày hôm sau vào lúc 16 giờ 45. Nhưng chính thức, Frommelt đả
tử trận trong trận đánh ở Téruel. Một việc giấu diếm như vậy
khiến người ta phải đặt câu hỏi về loại các người đào
ngũ. Chiến sĩ trung đoàn tên Roger Codou người Pháp, đả có dịp tham khảo
các hồ sơ ở trong nhà tù của các chiến sĩ các trung đoàn, đả nhận
thấy xăy ra nhiều vụ chết đuối và theo sự suy tư của Codou đả
che dấu các vụ hành quyết đơn giản. Hai khám đường được
dành riêng cho các chiến sĩ của những trung đoàn : Một ở trong ở khu Harta ở
Barcelone với 165 người bị giam vào năm 1937 và một ở Castellon de la Plana. Rất
khó mà biết được con số của các chiến sĩ trong các trung đoàn đả
bị thủ tiêu. Julian Gorkin đả tố cáo Anfré Marty là người chịu trách nhiệm
và chỉ riêng y mà thôi về việc thủ tiêu lối 500 người v́ tội vô kỹ luật
hay là bị nghi ngờ là lợi dụng thời cơ. Từ Glasgow thuộc nước
Anh, Robert Martin đả nhận thấy ở Albacete thường xăy ra các cuộc bắt
giam. Chính Martin cũng bị bắt giam với 70 chiến sĩ, trong số này có nhiều người
bị thương tích. Việc giam cầm ở đây đả diển ra rất là khốn
khổ, đả khiến các người bị giam cầm đả tuyệt thực để
phản đối. Mặc dầu đả có tin là họ sẽ được trả lại
tự do, các người được phân ra thành các nhóm nhỏ và đưa đi Barcelone.
Robert Martin và các người bạn tù được đưa về Hôtel Falcon, trụ sở
củ của đảng POUM đả được biến đổi thành nhà tù, và sau
được đưa sang Calle Corsiga, nơi đây họ đả được chụp
h́nh và lấy dấu tay. Một phép lạ đả giúp Georges Martin vượt ngục được
và anh đả chạy trốn sang nước Pháp, và từ đó trở về sau anh không
được biết ǵ cả về số phận các người '' Bạn tù '' của
anh. Anh Max Reventlow đả thuật lại là trong lúc lui quân liên tục, các toán quân cộng-ḥa
đả đem theo lối 600 người tù, khi pḥng tuyến án ngữ của họ đả
bị quân của tướng Franco xuyên thủng ở nhiều nơi. Các toán quân cộng
ḥa lui quân về hướng biển Méditerranée, các toán quân của trung đoàn quốc tế
củng rút về vùng Catalogne. Về đến nơi sau này số 600 người tù đả
bị giam ở Horta và Castellón, hai nhà tù dưới sự quản đốc của Copic người
Croate, và khi số người này vừa đến nơi đả bị xữ bắn hết
16 người. Ở trong các nhà tù, các ủy ban đả tuyên án tử h́nh mà không có công lư hay
một can thiệp nào : Sau khi xăy ra cuộc vượt ngục của 50 người tù, các
ủy ban này đả ra lịnh xữ bắn 50 người tù khác. Việc tra tấn các
tù nhơn xăy ra thường xuyên ; trung úy người Đức Hans Rudolph đả bị
tra tấn liên tục trong sáu ngày : tay và chân đều bị gảy, các móng tay đều bị
nhổ hết và đả bị hành quyết ngày 14 tháng 6 năm 1938 với 6 người
tù khác bằng cách bị bắn đằng sau đầu một viên đạn. Về sau
tên Copic bị đüa ra xữ trước ṭa án, v́ bị tố cáo là làm gián điệp, hắn
được em của hắn là đại tá Vladimir Copic, của de Luigi Longo Marty can thiệp
nên được tha bổng. V́ đả giết một tên lính SS của quân lực Đức,
anh Hans Beimler một vị dân biểu Đức người cộng-sản đả bị
giam vào trại Dachau và anh đả vượt thoát khỏi trại giam này và đi sang Espagne
để tham gia cuộc nội chiến ở đây và tham dự vào việc tổ chức
tiểu đoàn '' Thaelmann ''. Anh đả tử trận ở Palacete ngày 1 tháng 12 năm 1936.
Gustav Regler đả quả quyết là Beimler đả bị chết bởi một viên đạn
của quân Franco. Người bạn gái của anh Antonia Stern đả nói ngược lại
: Beimler đả phê b́nh và chỉ trích các vụ xử án lớn ở Moscou do Staline đả
ra lịnh và thêm nửa là anh đả liên lạc lại được với các người
đảng viên cộng-sản KPD là Ruth Fisher, hai người này đang hoạt động
với một nhóm người chống đối ở Paris. Cô Antonia Stern đả bị
'' tước đoạt '' tất cả các tài liệu riêng và giấy tờ của cô và bị
trục xuất ra khỏi nước Espagne. Căn cứ trên bản phúc tŕnh của Servicio
Secreto Intelligente, một ban đặc biệt của công an vùng Catalogne, ban này có các người
'' điềm chỉ ''riêng trong hàng ngủ cộng-sản, ông Pierre Broué trong quyển sách viết
chung với Julian Gorkin thiên về ư nghỉ đó là một cuôbc ám sát. Các trung đoàn quốc
tế đả quy tụ một số đông chiến sĩ nam và nử trong hàng ngũ của
họ. Các người chiến sĩ này với lư tưởng liên kết với nhau và quảng
đại và họ đả sẳn sàng để tự hy sinh tính mạng của họ.
Một lần nửa, Staline và các tổ chức của ông đả khai thác vô liêm sĩ tấm
ḷng cao cả của các người chiến sĩ này và sau cùng đả bỏ rơi các chiến
sĩ của trung đoàn quốc tế mặc cho số phận buồn thăm của họ
và luôn cả nước Espagne : Staline bắt đàu cuộc chuẩn bị để '' lại
gần '' Hitler.
Cuộc đi đày xứ
xa và cái chết ở '' tổ quốc vô sản ''
Sau cuộc bại trận của
chính phủ cộng-ḥa Espagne, Togliatti đả tổ chức ở Paris vào tháng 3 năm 1939
một ủy ban để tuyển lựa các người dân Espagne được phép đi
sang di trú ở tổ quốc các người vô sản. Và sau đây El Campesino đả mô tả
ở trong các điều kiện nói về chuyến đi của ông qua lănh thổ URSS. Ngày
14 tháng 5 năm 1939, từ bến Havre ông đả lên tàu Sibéria cùng với 350 gồm có các thành
viên của văn pḥng chính trị và của ủy ban trung ương của đảng cộng-sản
PCE, các vị dân biểu cộng-sản, các vị chỉ huy trung đoàn 5 và lối 30 vị
chỉ huy của các trung đoàn quốc tế. El Campesino đả dự kiến việc
tái tổ chức lại ủy ban trung ương đảng cộng sản PCE dưới
sự che chở của các nhơn viên của cơ quan NKVD. Tân ủy ban này có nhiệm vụ
kiễm soát số người là 3 961 người tị nạn dân Espagne và được
chia ra là 18 nhóm, được phân chia đi đînh cư ở nhiều thành phố khác nhau.
Trong lúc sống ở xứ lạ, ủy ban này có nhiệm vụ '' gián điệp kiểm
soát '' và tố cáo các đ̣ng bào, các đ̣ng chí của ḿnh như trường hợp viên cựu
thơ kư đảng PCE ở Jaén đả tố cáo để bắt giam nửa số các
người dân Espagne di cư sang sinh sống ở tỉnh Kharkov, hay là tên Cortina đả
tố cáo để đưa đi lưu đày ở Sibéria nhiều phế nhơn. El Campesino
bị đuổi ra khỏi viện đại học quân sự Frounzé v́ bị tố cáo
là có khuynh hướng '' trốt-kít '' và đả phải đi làm công nhơn sở xe điện
dưới đất ở Moscou. Về sau ông bị đày đi Ouzbékistan, rồi sau đưa
sang Sibérie cho đến năm 1948 ông đả trốn thoát được qua Iran. Ngày 19
tháng 3 năm 1942, trong lúc vợ và con gái của ông đi vắng, ông José Diaz tổng thư kư
đảng cộng-sản PCE, đả nhảy từ từng lầu thứ 4 qua cửa
sổ để tự tử và đả chết. Ông El Campesino cùng các bạn của ông đều
tin chắc đây là một cuộc ám sát. Trong thời gian trước khi qua đời, Diaz
đả viết một quyển sách nói về các kinh nghiệm đấu tranh của cá nhơn
ông, và ông tỏ vẽ đả bị lợi dụng và cũng đả gởi nhiều
bức thư cho các nhà cầm quyền Tiflis, để phản đối cách h́nh phạt
và đối xữ tệ với các trẻ em người Espagne ở trong các trại thiếu
nhi ở vùng này. Trong thời gian xăy ra nội chiến hàng ngàn thiếu nhi Espagne đả
được đưa sang URSS. Các em này tuổi từ 5 cho đến 12 tuổi. Khi chế
độ cộng-ḥa đả thua trận chiến, th́ ở bên URSS nếp sống vật
chất của các em liền thay đổi. Đến năm 1939, các vị giáo viên người
Espagne cùng với các em, đả bị tố cáo là có tư tưởng '' trốt-kít '' và
60 % các vị giáo viên này đả bị bắt giam tại nhà giam Lioubanka ở Moscou. C̣n các
vị giáo viên khác th́ bị đưa đi lao động ở các công xưỡng, El Campesino
đả tiết lộ sự kiện này. Một nử giáo viên đả bị tra tấn
suốt 20 tháng liền và sau th́ bị xữ bắn. Số phận của các thiếu nhi trở
nên khốn khổ và các giáo viên người Nga sô-viết thay thế các người Espagne.
Ở Kalouga, v́ không tôn trọng kỹ luật, các trẻ em dưới sự kiễm soát toàn
quyền của tên Juan Modesto, một vị tướng đả phục vụ ở trung
đoàn 5, và của tên Lister. Vào năm 1941, theo sự tiết lộ của Jésus Hernandez, 50%
các trẻ em đả mắc bệnh ho lao, và 750 trẻ em ( tức là lối 15% ) đả
chết trong lúc di tản v́ quân đội Đức-quốc-xă xâm lăng đả tiến
tới quá gần. Các trẻ em đả được đưa về vùng Oural và vùng trung
Sibérie ở Kokand. Cắc trẻ em này đả họp thành đoàn để đi ăn cắp,
c̣n các em gái th́ làm măi dâm. Có nhiều em đả tự sát. Củng do sự tiết lộ của
Jésus Hernandez, trong số 5000 thiếu nhi th́ 2000 đả chết. Đến năm 1947, kỹ
niệm 10 năm các thiếu nhi này đến đất Nga. Một cuộc lễ đả
được tổ chức ở rạp hát Stanilavski ở Moscou và có 2000 thiếu nhi Espagne
tham dự ; sau đó 534 em được đưa trả về Espagne vào tháng 9 năm 1956.
Cuối cùng chỉ c̣n 1500 em được trả về Espagne. Nhiều người Espagne
khác đả nếm mùi '' sinh sống và chết '' ở trên đất URSS. Đó là các người
lính hải quân và không quân người Espagne, không phải là cộng-sản được
gởi sang URSS, để thụ huấn kỹ thuật. Ông El Campesino đả được
biết rơ về số phận của 218 người phi công trẻ tuổi được
gởi đi huấn luyện vào năm 1938 ; theo một khóa học dài từ 6 đến 7
tháng ở Kirovabad. Cuối năm 1939, viên đại tá người Espagne tên Martinez Carton thành
viên của văn pḥng chính trị của đảng cộng-sản PCE và củng là nhơn
viên của cơ quan NKVD đả họp các sinh viên phi công lại và bắt buộc họ
phải lựa chọn : Ở lại đất URSS hay là đi ra nước ngoài. Những
người nào lựa chọn đi ra nước ngoài liền bị gởi đi lao động
trong các cơ xưởng. Đến ngày 1 tháng 9 năm 1939 tất cả các người này
đều bị bắt giam và một cuộc tố tụng được bắt đầu
cho họ. Có nhiều người đả bị tra tấn, có nhiều người khác đả
bị hành quyết, phần lớn đều bị kêu án từ 10 đến 15 năm và giam
ở các trại lao động. Một nhóm người được gởi đi Petchoraliev,
chả c̣n có người nào sống sót. Và kết cuộc trong số 128 người phi công
này chỉ c̣n có 6 người sống sót. Vào năm 1947, chỉ có vài người Espagne đi
tị nạn ở URSS đả thoát khỏi ra nước này. Những người c̣n ở
lại được yêu cầu là phải kư giấy xin ở lại URSS. Vào tháng 4 năm
1948, José Ester ( tù bị đi đày v́ chính trị, số tù là 64533 ở Mauthausen ) và José Domenech
( tù chính trị bị đưa đi đày ở Neuengamme số tù 40202 ) đả tổ
chức một cuộc họp báo ở Paris, nhơn danh liên đoàn các người Espagne bị
lưu đày, và các người bị quản thúc về chính trị Fédéración Espagnola de Déportados
e Internados Politicos ) hầu để phổ biến công khai các tin tức về số phận
của các người Espagne bị giam ở trại số 99 Kanraganda nằm ở tây-bắc
vùng hồ Balkach thuộc Kazakhstan. Họ đả phổ biến một danh sách gồm có
tên của 59 người bị đüa đi lưu đày, trong số này có tên của 24 người
phi công và 33 người lính hải quân. Trong một bản tuyên ngôn ra ngày 1 tháng 3 năm 1948,
hai người tù chính trị này đả tuyên bố lư do của cuộc vận động
này : '' Đây là bổn phận khẩn thiết của chúng tôi, cho tất cả các ai đả
phải chịu nạn đói và lạnh giá băng cùng với sự sầu nảo, tiêu điều
dưới sự thống trị tra khảo của cơ quan Gestapo và của các tên lính SS.
Và đây cũng chính là chức vụ của mọi người công dân, khi mà các câu tự
do và nhân quyền của con người đả được các đạo luật ghi
thành văn, phải đ̣i hỏi và bắt buộc, v́ t́nh liên đới, phải giải
phóng các người này v́ họ đang bị sự '' chết chóc '' đang đe dọa họ
nặng nề. Sau đệ nhị thế chiến, các người cộng-sản và các
tổ chức đặc biệt của họ vẫn tiếp tục việc thủ tiêu
các người đối lập : Ông Joan Farré Gasso cựu lănh tụ của đảng POUM
ở Lézida, đả tham gia kháng chiến ở Pháp chống lại Đức-quốc-xă.
Ông bị chế độ Vichy bắt giam ở Moissac và sau khi được trả tự
do, ông muốn trở về một làng nhỏ nằm ở vùng Catalogne thuộc Pháp để
thăm vợ ông. Trên đường đi Montauban ông đả bị các người kháng
chiến cộng-sản Espagne chận bắt và đả đơn giản hạ sát ông.
Việc ám sát này đả làm kéo dài cuộc nội chiến Espagne, và có thêm một hành động
tai hại : Xữ dụng đến phương tiện ám sát và thủ tiêu, mà nạn nhơn
là là hàng ngàn người chiến sĩ chống phát-xít, những người quyết liệt
và can đăm. Trường hợp của nước Espagne đả chứng minh việc không
thể có là tách rời các tổ chức tội ác, công an và của các người cộng-sản,
mà mục tiêu của họ là đạt được những ǵ họ muốn về chính
trị. Phải nh́n nhận sự thật là trong thời gian giửa hai cuộc thế chiến,
bạo động vẫn thường xăy ra ở Espagne, và trận nội chiến đả
cho phép các vụ bạo động '' tự do diển ra '', và lại c̣n được cộng
thêm với sự hổ trợ của các người sô-viết. Họ đả đem thêm
vào sức mạnh toàn bộ của một đảng-nhà nước đả thoát thai và
trưởng thành bằng chiến tranh và bạo động, để đạt được
các mục tiêu đả được quyết định về quyền lợi của
URSS được che dấu dưới h́nh thức ''chống phát xít''. Việc rỏ
ràng là Staline cùng với các người thân tín của ông đả mưu tính và với mục
đích thiết thực là kiễm soát được nền cộng-ḥa Espagne. Để đạt
được mưu toan này, việc thủ tiêu các người chống đối tả
khuynh, các người thuộc đảng : đảng xă-hội, nghiệp đoàn vô chính phũ,
đảng POUM và thiên trốt-kít, củng là việc không kém quan trọng như là việc đánh
bại hay chiến thắng tướng Franco.
Back to TOP
|