|
Sau khi đă nắm được chính-quyền, Lénine mơ mộng sẽ mang '' ngọn
lửa '' cách mạng lan rộng khắp Âu-Châu, rồi luôn cả thế-giới. Giấc mộng
này đáp ứng với biểu ngữ ( slogan ) của Karl Marx trong bản tuyên ngôn của
cộng-sản đưa ra vào năm 1848 : '' Hởi tất cả các người vô-sản
của tất cả mọi nước, hảy cùng nhau họp lại ''. Về tổng-quát, đó là một điều tối
cần : cuộc cách mạng Bôn-sê-vít chỉ có thể đứng vững nắm chính-quyền
và có thể phát-triễn được với điều kiện là sẽ được
che đở, ủng hộ, giử vững vị-trí nắm chính-quyền và được
nâng đở cùng tiếp liên ( relayée ) bằng các cuộc cách mạng khác ở các nước
mở mang hơn. Trước tiên Lénine nghỉ rằng, nước Đức với giai
cấp vô-sản được tổ chức cùng với khả năng kỹ-thuật phong
phú . Các nhu cầu phối hợp của hoàn cảnh không bao lâu nửa sẽ biến thành một
kế-hoạch chính-trị thực thụ : Cuộc cách-mạng thế-giới. Trong hoàn cảnh
của thời điễm này, các việc đả xăy ra h́nh như chứng minh cho các suy tư
của nhà lănh đạo Bôn-sê-vít là đúng. Với việc tan rả của hai đế-quốc
Đức và Áo-Hung, gây ra do cuộc bại trận vào năm 1918 đả gây ra một cơn
chấn động ghê-gớm, gần như một cơn động đất lớn về
chính trị, và được tiếp nối bởi cơn lốc lớn ( tourbillon ) về
cách mạng. Trước khi các người Bôn-sê-vít có được một sáng kiến nào
khác ngoài ra các khẩu ngữ tuyên-truyền, cuộc cách mạng h́nh như bất giác xảy
ra trong cơn lốc do cuộc bại trận của Đức và Áo-Hung. Cuộc cách mạng
ở Âu-Châu Nước Đức là nước đầu tiên bị cơn chấn động
gây ra, trước khi xảy ra cuộc đầu hàng , đả có xảy ra cuộc nổi
loạn ( multinerie ) của toàn thể lực-lượng Hải-quân. Cuộc bại trận
của nước Đức được tiếp nối với việc thiết-lập
một nền cộng-ḥa do các người thuộc đảng xă-hội-dân-chủ lănh đạo.
Các vị lănh đạo này không thể ngăn cản được sức phản kháng dử
dội từ mọi phía ; khi th́ phát suất từ phía quân đội, khi th́ do các cơ-quan
công-an, khi th́ do các nhóm nghỉa dũng binh ( France-tireur ) thuộc các phái siêu quốc-gia, cùng với
các người thán phục chế độ độc tài Bôn-sê-vít. Tháng 12 năm 1918,
tại Berlin, hai vị Rosa Luxemburg et Karl Liebknecht đả cho phát hành chương-tŕnh của
nhóm Spartakus và vài ngày sau đó hai vị này đả rời hàng ngũ Đảng Xă-hội
Dân-chủ để thành lập Đảng Cộng-sản Đức. KDP cùng với sự
liên hợp với các tổ chức khác. Hai khuynh hướng khác nhau đả xảy ra trong
hàng ngủ của KDP, ngay từ đầu tháng Giêng năm 1919, khuynh hướng cực đoan
do Karl Liebknecht cầm đầu và khuynh hướng ôn ḥa do của Rosa Luxemburg . Huynh hướng
cực đoan muốn theo gương Lénine, từ chối việc thành lập một Quốc-hội
Lập-hiến, cả hai điều toan tính tạo một cuộc dấy loạn ở Berlin
nhưng theo lịnh của các nhà lănh đạo Xă-hội Dân-chủ, quân đội đả
dẹp tan cuộc dấy loạn này. Hai vị lănh đạo này liền bị bắt và đến
ngày 15 tháng Giêng năm 1919 th́ bị giết chết. Và ngày 13 tháng 4 năm 1919, vị lănh đạo
KDP ở vùng Bavière, đó là ông Eugen Leviné đả cầm đầu một cộng ḥa của
các ũy-viên v́ ông này đả ra lịnh quốc hữu-hóa các ngân hàng, và bắt đầu
thành lập một đạo Hồng-quân. Công-xă Munich ( commune de Munich ) đả bị quân
đội đánh tan vào ngày 30 tháng 4 năm 1919, ông Leviné bị bắt ngày 13 tháng 5, đả
bị đưa ra xử trước ṭa án quân-đội, bị kết án tử h́nh và bị
xử bắn vào ngày 5 tháng 6 năm 1919. Cơn thức đẩy cách mạng ( poussée révolutionnaire
) lừng danh hơn hết và là một gương mẫu chính là cuộc cách mạng đả
diễn ra ở Hung-Gia-Lợi. Nước này là thành phần của đế-quốc Áo-Hung
Gia Lợi ( Austro-Hongroise ) sau cuộc bại trận và bị tan rả vào tháng 11 năm 1918
đả không chấp nhận việc chia cắt phần đất của ḿnh do các nước
đồng minh quyết định, đó là việc cắt phần đất vùng Transylvanie,
đả thành lập và đó là nước duy nhất mà các nhà lănh tụ Bôn-sê-vít đả
xuất cảng được đường lối của họ. Khởi đàu từ
năm 1918, đảng Bôn-sê-vít đả quy tụ được tất cả các tổ
chức có cảm t́nh với họ, các người này không phải là người Nga, họ
được tổ chức thành một Liên Đoàn các người cộng-sản người
ngoại-quốc. Ở Moscou có một nhóm người Hung-Gia-Lợi, nhóm này gồm các cựu
tù binh chiến-tranh và đến tháng 10 năm 1918, nhóm người này gồm có 20 người
được gởi trở về Budapest. Ngày 4 tháng 11 năm 1918, đảng Cộng-sản
Hung-Gia-Lợi ( PCH ) được thành lập dưới sự lănh đạo của Béla
Kun. Là một tù binh chiến tranh, Béla Kun đả nhiệt thành tán thành và gia nhập cuộc
cách mạng bôn-sê-vít và đả trở thành vị chủ-tịch liên đoàn các người
cộng-sản ngoại quốc vào tháng 4 năm 1918. Ông trở về đất Hung vào tháng
11 năm 1918 cùng với 80 vị lănh tụ khác và được bầu lên làm chủ tịch
đảng. Cuối năm 1918 và đầu năm 1919, người ta ước lượng
được một số khoảng từ 250 đến 300 người '' quấy rối
'' và '' đặc phái '' đả được đưa vào đất Hung. Nhờ sự
viện trợ tài chánh của các người Sô-viết, các người cộng-sản Hung
đả có thể phát-triễn được các việc tuyên truyền và tăng cường
ảnh hưởng của họ. Tờ công báo của đảng xă-hội dân-chủ :
Tiếng nói của nhơn dân / NEPSZAVA, đả kịch liệt chống lại các người
bôn-sê-vít, đả bị tấn công vào ngày 18 tháng 2 năm 1919, do một số đông các người
thất nghiệp và các quân nhơn do các người cộng-sản động viên với
mưu đồ hoặc là chiếm lấy nhà in hoặc là phá bỏ nhà in này. Cơ quan công
an phải can thiệp và đả có 8 người chết cùng lối 100 người bị
thương tích. Cùng vào đêm đó Béla Kun và bộ tham mưu của ông đều bị
bắt. Ở tại khám đường trung ương, các nhơn viên công an đả đánh
đập các người bị bắt để trả thù cho bạn đồng sự
của họ đả bị giết chết trong lúc tấn công vào nhà in báo Nepszava. Chủ
tịch nước Hung, Michel Karolyi đả gởi vị bí thư của ông đến
vấn an t́nh trạng sứ khỏe của vị lănh đạo cộng-sản và nhờ
vậy vị này được hưởng một chế độ gần như tự
do, nhân dịp này vị lănh đạo này mới có dịp tiếp tục các hành động
của ḿnh và chẳng bao lâu, lật ngược lại được t́nh thế. Trong lúc
c̣n đang ở khám đường, vị lănh tụ này đả đạt được
một sự thành công đáng kể : đó là việc sát nhập đảng PCH vào đảng
Xă-hội Dân-chủ. Được tiếp diển theo đó là sự từ chức của
vị chủ-tịch Karolyi mở đường cho việc tuyên cáo thành lập cộng ḥa
các vị cố vấn, trả lại tự do cho các người cộng-sản bị bắt
và chấp nhận tổ chức theo khuôn mẫu các người bôn-sê-vít, thành lập một
hội đồng nhà nước cách mạng quy tụ các vị uỷ-viên nhơn dân. Cộng
ḥa này tồn tại được 133 ngày, từ ngày 21 tháng 3 đến 1 tháng 8 năm 1919. Vừa
vào cuộc họp đầu tiên, các ủy viên nhơn dân quyết định ngay việc
thành lập các ṭa án nhơn dân với các vị thẩm phán do nhơn dân lựa chọn. Được
liên lạc thường xuyên bằng điện tín với Budapest và khởi đàu vào ngày 22
tháng 3, Lénine đả có 218 bức điện văn được trao đổi, Béla Kun
đả chấp nhận và coi Lénine là vị lănh tụ của vô-sản thế-giới. Lénine
đả khuyên Béla Kun hảy xữ bắn các người xă-hội dân-chủ và các người
tiểu tư-sản. Trong lời kêu gọi của ông vào ngày 27 tháng 5 năm 1919 : '' Hởi
các công nhân người Hung, ông đả chứng minh việc dùng sách lược khủng bố,
cuộc chuyên chế này phải cần đến sự bạo động không nguôi, phải
được quyết đînh ngay để đập tan các sự đối kháng của
các người trục lợi, các người tư bản, các đại điền chủ
và các tên tai sai của họ. Kẻ nào không hiểu các việc này không phải là người
cách mạng. Chẳng bao lâu, Mathias Rakosi ủy viên phụ-trách thương măi và Eugen Varga ủy-viên
phụ trách các vấn đề kinh tế, cùng các người có trách-nhiệm ở các ṭa
án nhân dân đả '' bán đứng '' các người buôn bán, các người làm công và các vị
luật sư. Một tờ tuyên cáo, dán trên các vách tường đả tóm tắc tinh thần
vào thời đó : '' Trong một nhà nước của các người vô-sản chỉ có các
người nào có lao động mới có quyền sống c̣n ''. Việc lao động trở
nên bắt buộc, các xí nghiệp trên 20 công nhân, rồi đến lượt các xí nghiệp
có trên 10 công nhân, rồi đến các xí nghiệp có 10 công nhân đều lần lượt
bị quốc hữu hóa và truất quyền sở-hữu. Lực lượng quân đội
và công an đều bị giải tán và được thay thế bởi một lự lượng
quân đội mới gồm các người cách mạng t́nh nguyện là thành phần nồng
cốt và tin cẩn. Chẳng bao lâu một đội '' khủng bố '' của Hội đ̣ng
Cách mạng của chính phủ được tổ chức dưới tên : '' các người
của Lénine ''. Họ đả ám sát lối một chục người, trong số này có
một vị thiếu úy hải quân trẻ tuổi Ladisla Dobsa, một vị phó đệ
nhất Quốc-vụ-khanh, và người con của vị này là giám đốc cục hỏa
xa, ba vị sĩ-quan hiến binh. Các người của Lénine vâng lịnh của một cựu
thủy thủ József Czerny, người này đả động viên các người cộng-sản
tiến bộ nhứt, nhứt là các cựu tù nhơn chiến tranh đả tham gia vào cuộc
cách mạng bôn-sê-vít. Czerny đả liên minh với Szamuely, một vị lănh tụ cộng-sản
cấp tiến và là đối lập với Béla Kun v́ ông này đả đ̣i giải tán các
'' toán người của Lénine ''. Để phản ứng lại, Czerny đả quy tụ
các tay chân của y và bắt đầu tấn công vào ṭa nhà của các sô-viết v́ Béla Kun đang
làm việc tại đây với sự hổ trợ của József Haubrich, một đảng
viên xă-hội Dân-chủ đang kiêm nhiệm ủy viên phó nhơn dân phụ-trách quốc-pḥng.
Sau hết là một cuộc thương lượng và các người của Czerny chấp
nhận hội nhập vào cơ-quan Ủy viên nhơn dân phụ trách bộ nội vụ hay
là gia nhập vào quân đội, đó là trường hợp của đa số. Tybor
Szamuely cầm đàu một toán '' những người của Lénine '' gồm có 20 người
đả đi đến Szolnok, thành phố đàu tiên do Hồng-quân Hung-gia-lợi chiếm
đóng và đả ra tay hành quyết nhiều người thân hào bị buộc tội đả
hợp tác với các người Lỗ-ma-ni ( Roumains ) và đả coi các người này là
kẽ thù của nước Hung v́ vấn đề các lănh thổ thuộc vùng Transylvanie và
về chính trị v́ chế độ ở Roumanie đả chống lại chế độ
Bôn-sê-vít đang được thiết lập tại Hung. Một học sinh trung học
gốc người Do-Thái đả đến xin ân xá cho cha ḿnh, đả bị giết
chết v́ cậu học sinh này đả dại dột gọi Szamuely là con '' dă thú ''. Vị
chỉ huy Hồng-quân Hung đả cố gắng chận lại sự hăng xay cách mạng
của Szamuely v́ người này đi trên đoàn xe hỏa xa mà y đả trưng dụng
( réquisitionné ) để đi qua một vùng đất của nước Hung và ra lịnh
'' treo cổ các người nông dân nào đả chống lại việc '' tập thể hóa
'' ( collectivisation des terres ) các đất đai. Người phụ tá của Szamuely là Jósef
Kerekes đả bị cáo là đả tàn sát một trăm năm chục người, y thị
đả thú tội là đả xử bắn năm người và chính tay y thị đả
treo cổ 13 người khác. Con số chính xác các người bị tàn sát không bao giờ được
biết rỏ. Arthur Koestler nhà văn nổi danh với tác phẫm nổi danh giờ thứ
25 đả nhất định cho biết là có lối 500 người đả bị giết.
Tuy vậy ông đả ghi : '' Tôi không thể nghi ngờ là chủ-nghĩa cộng-sản ở
Hung-Gia-Lợi , với thời gian sẽ biến thành một nhà nước công-an và chuyên chế
và sẽ bắt buộc đi theo khuôn mẫu của nước Nga. Nhưng sự nhận
định này, với các điều hiểu biết vừa được trưng ra, đả
không làm giăm sự hăng xay chứa nhiều nguồn hy vọng nơi những ngày đàu
của cuộc cách mạng. Các vị sử gia đả xác nhận là các toán người
của Lénine đả là thủ phạm của việc giết 80 người trong số
129 người đả bị hành quyết, con số này đả được chính thức
kiễm kê, nhưng nếu đúng ra th́ phải có xảy ra lối vài trăm người nạn
nhơn đả được biết đến. Với cao trào chống đối gia
tăng và việc suy sụp của t́nh h́nh quân sự trước quân lực Roumanie, chính phủ
cách mạng phải dùng đến chính sách '' bài Do-thái ''. Một bản yết thị đả
tuyên cáo : '' Các người gốc Do-thái đả từ chối đi ra tiền tuyến,
hảy tiêu diệt các người này v́ họ đả từ chối hiến thân cho chính
sách thiêng liêng của chuyên chế vô-sản ''. Béla Kun ra lịnh bố ráp năm ngàn người
dân Balan gốc Do-thái khi các người này đến Hung để t́m lương thực
và các tiếp tế khác. Các tiền bạc của họ đều bị tịch thu và họ
bị trục xuất ra khỏi đất Hung. Các người cấp tiến của đảng
cộng-sản Hung PCH đả đ̣i đưa Szamuely lên lănh đạo các thường
vụ và đ̣i phải có một cuộc tàn sát đỏ như kiểu Saint-Barthélemy của
cuộc cách mạng 1789 của Pháp, coi là như cách duy nhất để làm ngưng lại
việc t́nh h́nh suy sụp nền Cộng-ḥa của các Ủy-ban. Czerny cố gắng tái tổ
chức lại các toán người của Lénine. Vào trung tuần tháng 7, một lời kêu gọi
được đăng trên báo Nepszava :'' Chúng tôi kêu gọi các thành viên, của toán khủng
bố này, đả giải ngũ, hăy đến tŕnh diện để được tái
tuyển mộ lại tại chổ làm việc của József Czerny ''. Ngày hôm sau, một bản
đính chính đả được đăng : '' Chúng tôi sẽ thông báo riêng cho mỗi cá
nhân, việc tái hoạt động của các người Lénine củ ''. Việc này không
thể dự trù được : các người này đả vi phạm và làm các việc xấu
xa quá nặng và đả làm thương tổn đến danh dự của các người
vô-sản và việc tái tuyển dụng họ để phục vụ cho nền cộng-ḥa
của Ủy ban, đả bị hũy bỏ ''. Những tuần lể cuối cùng của
Công-xă Budapest rất là hổn độn, Béla Kun phải lo đương đầu chống
lại một cuộc '' putsch '' để loại ông và h́nh như âm mưu này do Szamuely cầm
đầu. Ngày 1 tháng 8 năm 1919, Béla Kun rời Budapest dưới sự che chở của
phái đoàn quân sự của Italie ; vào mùa hè năm 1920 ông tị nạn ở Liên Bang Sô-viết
; vừa đến nơi ông đả được tuyển là ủy-viện chính trị
của Hồng-quân Sô-viết và trên mặt trận ở về phía Nam, ông đả nổi
danh v́ đả ra lịnh hành quyết các người sĩ-quan Bạch-quân thuộc quân đoàn
Wrangel, đả được kêu gọi là nếu họ đầu hàng và mạng sống
của họ sẽ được bảo đảm. Ngày 2 tháng 8 năm 1919, Szamuely toan vượt
biên để trốn qua nước Áo, y bị bắt và đả tự tử sau đó. Komintern
và trận nội chiến Trong lúc Béla Kun và các đồng chí của ông toan tính việc
thành lập một đệ nhị cộng ḥa của các sô-viết th́ Lénine đả có sáng
kiến để thành lập một tổ chức quốc-tế để đưa cuộc
cách mạng ra toàn thế giới. Đó là tổ chức được mang danh là Quốc-tế
Cộng-sản và với tên viết tắt là Komintern hay là Đệ Tam Quốc Tế đả
được thành lập vào tháng 3 năm 1919 và trên mọi b́nh diện đả trở thành
đîch thủ của Quốc-tế Thợ-thuyền đả được coi là Đệ-nhị
Quốc-tế được thành lập vào năm 1889. Tuy vậy, đại hội thành
lập tổ chức Komintern đả giải đáp các nhu cầu về tuyên truyền khẩn
cấp và toan tính để '' dụ được các phong trào đột khởi đang làm
rung chuyển Âu-châu, hơn là một khả năng thực tế về tổ chức. Sự
thật về sự thành lập tổ chức Komintern bắt nguồn từ đại hội
2, được tổ chức vào mùa hè năm 1920 với việc chấp thuận 21 điều
kiện gia nhập mà các người xă-hội phải chấp nhận phục tùng nếu
họ mong ước được thu phục và được hội nhập vào một
tổ chức '' siêu trung-ương tập trung '' đó sẽ là '' bộ tham mưu của
cuộc cách mạng thế giới và đảng Bôn-sê-vít, với các uy tín, các kinh nghiệm
và nắm quyền nhà nước ( riêng về tài chính, quân sự và ngoại giao ) đả
là thành phần '' nặng kư ''. Tổ chức Komintern, liền khi đó đả được
Lénine nghỉ ra và cơ quan niệm là một công cụ khuynh tả ( subversion ) quốc tế
giống như các ngành khác : Hồng-quân, Ngành Ngoại-giao, các cơ-quan Gián-điệp v.v..
và học thuyết chính trị của tổ chức Komintern được bắt chước
y nguyên theo các tổ chức Bôn-sê-vít : Đây củng là thời điễm để thay thế
các vũ khí bị chỉ trích bằng các cuộc chỉ trích về vũ khí. Bản
tuyên ngôn của đại hội 2 đả được chấp nhận, hiên ngang thông
báo : '' Quốc-tế Cộng-sản đó là đảng Quốc-tế để dấy loạn
và của chuyên chính vô-sản ''. Để kết thúc, điều kiện thứ 3 ở trong
21 điều kiện đả quyết định :'' Gàn như toàn các nước ở
Âu-châu và ở Mỹ-châu, việc đău tranh giai cấp đả bước vào giai đoạn
nội chiến. Các người cộng-sản không thể tin cậy vào sự hợp pháp
của bọn trung lưu trưởng giả. Bổn phận của họ là phải tổ
chức ở khắp mọi nơi, song song với các cơ quan hợp pháp, một cơ quan
bí mật có thể, và quyết đînh khi thời gian thuận tiện sẽ thi hành và làm đủ
bổn phận đối với cuộc cách mạng thế giới. ( Cộng-sản Việt-Nam
đả thực hành điều này ). Định thức uyển khúc ( formules euphémisées ) :
Giai đoạn quyết định là cuộc dấy loạn cách mạng, và bổn phận
đối với cuộc cách mạng đó là bắt buộc lao ḿnh vào một cuộc nội
chiến hay là bắt buộc tạo ra một cuộc nội chiến. Một chính sách không
dành riêng cho các nước sống dưới chế độ độc tài mà chỉ áp dụng
cho các nước dân chủ, các nước cộng ḥa hay vương quốc lập hiến. Điều
kiện thứ 12 ghi rỏ ràng là nhiều sự cần thiết về các tổ chức dính
liền với nhau để chuẩn bị cho một cuộc nội chiến : Về thời
điểm hiện nay của cuộc nội chiến ác liệt đang xảy ra, đảng
cộng-sản chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ , nếu được tổ chức
tập trung về trung ương,với một '' kỷ luật thép '' tiếp cận với
kỹ luật quân đội được chấp thuận, và cơ quan trung ương
được tập trung nhiều quyền lực rộng rải và thi hành một quyền
uy không tranh luận và được hưởng một sự tín nhiệm nhất trí
của toàn thể các lănh tụ. Điều kiện thứ mười ba củng đả
dự định về các vị lănh đạo không nhất trí : Các đảng cộng-sản
phải thi hành các cuộc khai trừ định kỳ ở trong các tổ chức của
họ để loại bỏ các phần tử bị dính líu và các '' tiểu-tư-sản
''. Tháng 6 năm 1921, lúc đại hội 3 họp tại Moscou, với việc tham dự
của nhiều đảng cộng-sản của các nước, đả được
thành lập, các khuynh hướng đả trở nên rỏ rệt : Luận đề về
các chiến thuật đả chỉ rỏ : Đảng cộng-sản có bổn phận
giáo dục cho nhiều từng lớp của quảng đại quần chúng, bằng lời
nói và các việc làm, quan niệm là các cuộc xung đột hay tranh chấp về kinh tế
hay về chính trị, được sự trợ lực của nhiều trường hợp
thuận tiện, có thể trở thành một cuộc nội chiến và khi ấy bổn
phận của giai cấp vô-sản là nắm lấy quyền chính trị. Các luận đề
về các cách cấu tạo, các đường lối cùng các hành động của các đảng
cộng-sản phải được tổ chức bí mật, dù là ở trong ḷng của
đảng, các luận đề này đả nhấn mạnh về các việc chuẩn
bị rất cần thiết và các biện pháp rất cần là : '' không phải bất cứ
lúc nào vấn đề tổ chức một đạo Hồng quân củng có thể thực
hiện được ''. Từ lư thuyết đến thực hành, chỉ có một bước
đả đạt được ở nước Đức vào tháng 3 năm 1921, cơ
quan Komintern dự định thực hành một hành động cách mạng rộng rải,
dưới sự lănh đạo của Béla Kun, trong thời gian này đả được
bầu vào chức Chủ-tịch đoàn của tổ chức Komintern. Được phát
động vào thời điễm các người Bôn-sê-vít đang đàn áp công să Kronstadt, cuộc
'' khởi động tháng 3 '' một mưu toan nổi loạn thiệt thọ được
diển ra ở vùng Xaxe, đả thất bại dù nhiều phương tiện đả
được cung cấp và các cuộc bạo động dử dội như việc đặt
'' cốt ḿn '' phá hoại đoàn xe hỏa tốc hành đi từ Halle đến Leipzig. Cuộc
thất bại này đả đưa đến việc diển ra cuộc thanh trừng
đầu tiên ở trong hàng ngũ của tổ chức Komintern. Paul Levi, chủ-tịch đảng
cộng-sản Đức ( KPD ) và là một trong những người thành lập tổ chức
Komintern đả bị loại ra khỏi hàng ngũ v́ các lời chỉ trích của ông đả
nói về cuộc '' phiêu lưu này ''. Dù đả nằm dưới ảnh hưởng nặng
nề của khuôn mẫu sô-viết, các đảng cộng-sản trên nhản quan của
'' định chế '' chỉ là các phân chi quốc gia của Quốc-tế Cộng-sản,
các phân chi này đả dần dần đi đến việc không lệ thuộc ; việc
này đả diển ra trước việc không phục ṭng và được quyết đînhvào
tời điểm thẫm cấp sau cùng ( dernière instance ) cho đường lối chính trị
và tổ chức của Komintern. Khuynh hướng '' nổi loạn '' ở các nơi của
Grigori Zinoniev đả bị chính Lénine chỉ trích. Nhưng Zinoniev, trên căn bản đả
cho Paul Lévi đả có lư khi trao quyền lănh đạo KPD lại cho các người đối
nghịch của Lévi. Sức mạnh của tổ chức Komintern đả được
củng cố dịa vị của nó. Quân đội Pháp và Bỉ vào chiếm đóng vùng
kỹ-nghệ nặng Ruhr vào tháng Giêng năm 1923, để bắt buộc nước Đức
phải trả tiền bồi thường thiệt hại do chiến tranh gây ra ; theo với
tinh thần ḥa-ước Versailles ngày 23 tháng 6 năm 1919. Một kết quả cụ thể
do việc chiếm đóng của quân đội hai nước, đưa đến việc
thỏa hiệp của các người quốc gia và người cộng-sản Đức
để chống lại '' chủ nghĩa đế quốc của Pháp '', cùng đüa đến
việc đối kháng thụ động của dân Đức ở vùng bị chiếm đóng,
việc đối kháng thụ động này được chính phủ Đức ũng
hộ. T́nh h́nh kinh tế đang bất ổn, bổng mỗi ngày mỗi suy sụp thêm. Đồng
tiền của nước Đức đả trở nên vô dụng, một đồng Mỹ
kim đổi được 13 triệu đồng tiền Mark của Đức. Các cuộc
đ́nh công, biểu t́nh và dấy loạn tiếp tục diễn ra. Ngày 13 tháng 8 trong một
bầu không khí cách mạng, chíng phủ của Thủ-tướng Wilhelm Cuno bị bắt
buộc phải từ chức. Tại Moscou, các nhà lănh đạo Komintern suy tính là sẽ
xảy ra một cuộc cách mạng giống như cuộc cách mạng tháng 10 tại Nga.
Khi cuộc bất đồng ư kiến giửa các người lănh đạo này đả
được giải quyết, vậy ai sẽ là một trong những người sau đây
: Trotski, Zinoviev, hay là Staline, ai sẽ là người lănh đạo cuộc cách mạng thứ
hai này ?. Tổ chức Komintern khởi đầu một cuộc tổ chức vơ trang nghiêm
chỉnh để khởi loạn to, có tổ chức chu đáo. Nhiều phái viên như August
Gouralski, Mathias Rakosi được phái sang nước Đức và cùng đi theo với
họ là viên tướng Alexandre Skoblewski với bí danh Gorev, là một chuyên viên tổ chức
nội chiến. Họ dự định là dựa vào các chính phủ của thợ thuyền
( v́ nước Đức được tản quyền cho các vùng ) nơi các vùng gồm
các người xă-hội dân-chũ thiên tả và các người cộng-sản, các chính phủ
này đang trên đường thành lập để lấy cho được một số
nhiều vũ khí. Được phái đi về vùng Saxe, Rakosi dự định cho nổ
chiếc cầu hỏa xa nối liền vùng này cùng với nước Tiệp-Khắc, để
mong nước Tiệp-Khắc sẽ can thiệp vào và từ đó gây thêm được
sự hổn loạn. Tất cả các cuộc bạo động được dự
trù là sẽ phát khởi vào ngày kỷ niệm cách mạng tháng 10 của cuộc '' putsch'' Bôn-sê-vít.
Sự kích thích lan tràn ở Moscou, họ tin tưởng là cuộc khởi loạn sẽ thành
công và động viên Hồng-quân tập trung ở biên-giới Nga-Đức sẳn-sàng tiến
quân vào nước Đức để hổ trợ các người dấy loạn. Đến
trung tuần tháng 10, các người cộng-sản chịu gia nhập vào các chính phủ thuộc
vùng Saxe và Thuringe và nhận được lịnh phải tăng cường cho các lực
lượng quân dân vô-sản ( lối vài trăm người ) gồm có 25% là các đảng
viên cộng-sản. Nhưng qua ngày 13 tháng 10, chính phủ do Gustav Stresemann đả ban hành lịnh
'' khẩn trương '' cho vùng Saxe và đặt vùng này dưới quyền lănh đạo
trực tiếp của chính phủ trung ương, tước quyền của chính phủ
vùng, và kêu gọi sự hổ trợ của quân lực Đức- Reichswehr . Mặc dù sự
kiện này đả xăy ra, Moscou vẫn kêu gọi việc vơ trang cho các công nhơn và khi Heinrich
Brandler trở về Moscou đả ra lịnh tổng đ́nh công nhơn dịp có một
đại hội công nhơn được tổ chức ở Chemnitz vào ngày 21 tháng 10. Mưu
đồ này bị thất bại v́ các người thuộc đảng xă-hội cách mạng
phe khuynh hữu đả từ chối không nghe theo các người cộng-sản. Các người
cộng-sản đành lùi bước, nhưng v́ sự thông tin bị chậm trể, cuộc
bạo động đả xăy ra ở Hambourg : các toán chiến đấu người cộng-sản
( khoảng từ 200 đến 300 người ) đả tấn công vào các trụ sở
của cảnh sát. Cơn bất ngờ trải qua, các người nổi loạn đả
không đạt được mục tiêu của họ ; lực lượng cảnh-sát cùng
với sự hổ trợ của quân đội Đức-Reichswehr, đả phản công
lại và sau 33 giờ đồng hồ chiến đấu, cuộc nổi dậy đả
bị cô lập hoàn toàn, các người cộng-sản ở Hambourg đả bị '' bóp
tắt '' ( juguler ). Một cuộc cách mạng thứ hai mà Moscou đả đặt nhiều
hy-vọng đả không xăy ra. Và tổ chức M. Apparat được tồn tại cho đến
các năm 1930 và là một cơ cấu quan trọng của KPD và đượợc mô tả
rỏ ràng do người lănh đạo là Jan Valtin với tên thật là Richard Krebs. Sau nước
Đức, nước cộng ḥa Estonie là nơi đả diển ra cuộc toan tính nổi
loạn thứ hai. Và củng là lần thứ hai cộng-sản Nga đả gây sự chống
lại dân tộc nhỏ bé này. Ngày 27 tháng 10 năm 1917, một hội đồng các sô-viết
đả nắm lấy quyền ở Tallinn-Reval, họ đả giải tán quốc hội,
hủy bỏ các cuộc bầu cử thất lợi cho các người cộng-sản Estonie.
Trước áp lực của đoàn quân viễn chinh Đức, các người cộng-sản
tháo lui. Trước khi quân viễn chinh Đức chiếm đóng, người dân Estonie đả
tuyên cáo '' độc lập '' vào ngày 24 tháng 2 năm 1918. V́ bị bại trận vào ngày 11 tháng
11 năm 1918, quân đội viễn chinh Đức bị bắt buộc phải triệt
thoái ; các người cộng-sản trở lại nắm lấy sáng kiến : ngày 18 tháng
11, một chính phủ được thành lập ở Petrograd và hai sư đoàn Hồng-quân
xâm lăng nước Estonie. Mục tiêu của cuộc tấn công này đả được
giải-thích rỏ ràng trong nhựt báo : Severnaĩa Kommuna ( công xă miền Bắc ) : Chúng tôi
phải xây dựng một chiếc cầu để nối kiêbn nước Nga sô-viết
với nước Đức và Áo vô-sản... Cuộc thắng trận của chúng tôi sẽ
nối liền các lực lượng cách mạng, không ai ngăn cản nổi, từ
Tây-Âu với cách mạng Nga và nơi đó sẽ tạo lên một cuộc cách mạng xă-hội
toàn cầu. Tháng Giêng năm 1919, khi tiến quân c̣n cách thủ đô Estonie ba chục cây số
th́ Hồng-quân đả bị quân lực Estonie phản công và bị chận đừng lại.
Hồng-quân tái tấn công lại lần thứ hai nhưng rồi củng bị thất bại.
Ngày 2 tháng 2 năm 1920, do ḥa ước kư ở Tartu, các người cộng-sản Nga nh́n nhận
nền độc-lập của Estonie. Trong những vùng tiến quân xâm lăng, các người
Bôn-sê-vít đả thực hành các cuộc tàn sát : Trước khi rút lui ngày 14 tháng Giêng năm
1920 tại Tartu họ đả tàn sát 250 người và ở địa hạt Rakvere củng
đả có trên 1000 người đả bị giết chết. Khi quân lực Estonie giải
phóng được thị trấn Wesenberg vào ngày 17 tháng Giêng, họ đả phát giác
ra ba hố chôn tập thể với 86 tử thi. Ở thị trấn Dorpad, các người
con tin bị xữ bắn ngày 26 tháng 12 năm 1919, những người nạn nhơn đả
bị tra tấn, tay chân đều bị đánh gảy, có nhiều người đả
bị móc mắt. Ngày 14 tháng Giêng, trước khi rút lui, các người Bôn-sê-vít chỉ c̣n đủ
thời gian để hành quyết 20 người trong số này có vị tổng giám mục
Platon, những người này ở trong số 200 người mà họ c̣n bị bắt giam.
Họ đả bị dùng bá súng và búa ŕu đánh chết, có một số sĩ-quan đả
bị lấy đinh sắt đóng hai chiếc cầu vai ( épaulette ) vào thân thể, các người
bị giết này đả khó có thể nhận ra được dạng người ( difficilement
identifiable ). Tuy là đả kư ḥa ước các người Bôn-sê-vít Nga vẫn tiếp tục
t́m cách lôi kéo nước cộng ḥa bé nhỏ này vào vùng quỷ đạo ảnh hưởng
của họ. Tháng 4 năm 1924, đả diển ra một cuộc '' họp mật '' ở
Moscou, giửa Zinoviev và các người cộng-sản Estonie để bàn thảo cách thức
tạo nên một cuộc nổi loạn bằng vũ lực. Các người cộng-sản
đả thâu nhận được lối 1000 người tổ chức thành nhiều đại
đội với các cấu tạo căn bản và bắt đầu việc lũng đoạn
cùng làm khủng hoảng tinh thần của quân lực Estonie. Họ dự định tạo
một cuộc khởi loạn và một cuộc đ́nh công để ủng hộ cuộc
khởi loạn. Khi ấy đảng cộng-sản Estonie có khoảng 3000 đảng viên
và họ bị đàn áp dử dội. Qua ngày 1 tháng 12 năm 1924, họ toan tính cướp
chính quyền ở Tallin để tuyên cáo thành lập một Cộng-ḥa Xô-viết với
nhiệm vụ chính là xin gia nhập vào nước Nga Sô-viết, như vậy chứng minh
được việc đưa Hồng-quân vào lănh-thổ Estonie. Mưu toan này đả
thất bại cùng trong ngảy đó. Trong khi mưu toan này đang diển tiến, các vị
sĩ-quan đả đàu hàng các người nổi loạn hay là đả tỏ ra thái độ
không theo bên nào liền bị xử bắn v́ thái độ của họ : các người
đảo chính không chấp nhận thái độ này, chỉ có người chịu theo họ
th́ được an toàn mạng sống. Người chỉ huy cuộc đảo chánh này
là Jan Anvelt, đả tẩu thoát được sang Nga. Y là một cán bộ của tổ
chức Komintern trong nhiều năm và đả '' biến mất '' sau các cuộc '' thanh trừng
''. Sau nước Estonie, đến lượt nước Bulgarie. Năm 1923 tại nước
này đả xăy ra nhiều cuộc rối loạn trầm trọng. Lănh tụ đảng
Điền-địa là Alexandre Stamboliski đả liên minh với các người cộng-sản,
ông này đả bị ám sát vào tháng 3 năm 1923 và người thay thế ông ở ghế Thủ-tướng
là Alexandre Tsankov, ông đả được sự ủng hộ và hổ trợ của quân
đội và công an. Qua đến tháng 9, các người cộng-sản phát động một
cuộc nổi loạn kéo dài trong ṿng một tuần lễ và cuộc nổi loạn này đả
bị đàn áp dử dội. Bắt đầu từ tháng 4 năm 1924, họ đổi
chiến thuật và thi hành các hành động trực tiếp và tạo ra các cuộc ám sát.
Ngày 8 tháng 2 năm 1925, họ tấn công vào quận Godetch và gây ra 4 người chết. Ngày
11 tháng 2, tại thủ đô Sofia, dân biểu Nikolas Mileff, giám đốc nhựt báo Slovet và
là chủ tịch của nghiệp đoàn các kư giả, đả bị ám sát chết. Ngày
24 tháng 3 một bản tuyên cáo của đảng cộng-sản Bulgarie-BKP, đả báo trước
là chính phủ của Tsankov sẽ không tránh khỏi được việc bị lật đổ,
như vậy đả tiết lộ ra sự liên quan các hành động khủng bố với
các mục tiêu chính trị của những người cộng-sản. Đầu tháng 4, một
cuộc âm mưu ám sát vua Alexandre đệ nhất đả gần như thành công, và đến
ngày 15 tháng 4, tướng Kosta Georghieff một người thân cận của vua đả bị
ám sát chết. Rồi một loạt biến cố khác đả xăy ra trong các năm bạo
động về chính trị : Ngày 17 tháng 4, trong lúc cử hành tang lễ cho tướng Georghieff,
ở tại nhà thờ Septs-Saints tại thủ đô Sofia, một tiếng nổ lớn đả
xăy ra khiến cho các nóc chính của nhà thờ bị sụp đổ : người ta ghi nhận
được biết : có 14 vị tướng, 16 vị sĩ-quan cao cấp, 3 nghị viên
trong số 140 người chết. Theo lời tường thuật của Victor Serge th́ chính
phân chi quân sự của đảng cộng-sản Bulgarie đả tổ chức cuộc
phá hoại giết người này. Các người thủ phạm chính là Kosta Iankov và Ivan Minkov
. Họ đả bị giết chết v́ đả chống cự lại lúc bị bắt,
khi trên tay c̣n cầm vũ khí. Sau khi lănh chịu các cuộc thất bại tơi bời
ở Âu-châu, tổ chức Komintern dưới sự thúc đẩy của Staline đả
t́m ra một chiến trường mới, họ hướng các cố gắng của họ
về nước Trung-quốc. Nước này đang ở vào một t́nh trạng hổn
loạn, v́ xảy ra các cuộc nội chiến và các cuộc tranh chấp xă-hội ; với
đà tiến (élan ) của tinh thần quốc-gia, nước rộng bao la này h́nh như đả
'' chín mùi '' cho cuộc cách mạng '' chống lại đế quốc ''. Dấu hiệu của
thời đại : mùa Thu năm 1925 các người sinh-viên Trung-quốc đang theo học
tại Đại-học cộng-sản của các công nhơn Phương-Đông KUTV, được
thành lập vào tháng 4 năm 1921 được tập họp lại ở một viện
Đại-học Sun Yat Sen ( Tôn-Dật-Tiên ). Hồ-Chí-Minh từ Pháp sang là học viên đầu
tiên của KUTV. Dưới sự huấn luyện của các vị lănh tụ tổ chức
Komintern và các cơ-quan sô-viết, các người cộng-sản Trung-quốc, vào lúc này Mao-Trạch-Đông
chưa lănh đạo đảng cộng-sản Trung-quốc, các người sinh-viên cộng-sản
đả được khuyến khích liên minh chặc chẻ với đảng quốc-qia,
đảng Quốc-dân và vị lănh đạo của đảng này, là viên tướng trẻ
tuổi Tưởng-Giới-Thạch. Chiến thuật mà các người cộng-sản đả
chọn lựa là bao vây Quốc Dân Đảng để biến đảng này thành một
con ngựa của thành Troie khi cuộc cách mạng được phát động. Người
đặc phái của tổ chức Komintern tên Mikhaĩl Borodine đả đạt được
chức cố vấn bên cạnh Tưởng-Giới-Thạch. Năm 1925, phe tả khuynh
của Quốc-Dân-Đảng, phe này chủ trương hợp tác chặc chẻ với
Liên-bang Sô-viết, phe này đả nắm được quyền lănh đạo Quốc-Dân-Đảng.
Các người cộng-sản gia tăng các cuộc tuyên truyền của họ, khuyến
khích các cuộc sôi nổi về xă-hội để củng cố ảnh hưởng của
họ, và gần như đả chế ngự được Đại-hội 2 của
Quốc-Dân-Đảng. Nhưng chẳng bao lâu, một chướng ngại vật đả
hiện ra trước mặt họ : Tưởng-Giới-Thạch đả lo âu trước
sự bành trướng của ảnh hưởng cộng-sản. Ông đả kết luận
và kết luận đúng là các người cộng-sản muốn loại ông ra khỏi cơ
quan lănh đạo. Ra tay trước, ngày 12 tháng 3 năm 1926 ông tuyên bố thiết quân luật,
cho bắt giam các phần tử cộng-sản nằm trong ḷng Quốc-Dân-Đảng luôn cả
các vị cố vấn sô-viết, các người này được trả tự do vài ngày
sau đó và bất tín nhiệm người cầm đầu các người thiên tả nằm
trong đảng của ông, sau đó ông đưa ra một hiệp ước ( pacte ) gồm
có 8 điểm để hạn chế các đặc quyền và các hành động cộng-sản
trong ḷng đảng. Tưởng-Giới-Thạch đả trở thành vị lănh đạo,
không thể chối cải được của quân lực quốc-gia. Đứng trước
sự tương quan các lực lượng, Borodine đành phải chấp nhận. Ngày
7 tháng 7 năm 1926, được viện trợ của Liên-Bang Sô-viết một số vũ
khí quan trọng, Tưởng-Giới-Thạch liền phát động một cuộc Bắc
phạt, ra lịnh cho các đạo quân quốc-gia tiến công vào các vùng Bắc nước
Trung-quốc c̣n nằm dưới quyền các vị sứ quân. Ngày 29 tháng 5, ông tuyên bố
thiết quân luật ở Quảng-châu . Các vùng nông thôn thuộc các tỉnh Hồ-Bắc và
Hồ Nam, đả là các con mồi cho cuộc cách mạng điền địa và do t́nh
cách hiếu động ( dinamique ) đả đặt lại vấn đề liên minh giữa
các người cộng-sản và các ngươbi quốc-gia. Trong các thành phố lớn vào
thời đó có nhiều cơ xưởng quan trọng, các nghiệp đoàn đả kêu
gọi đ́nh công như thành phố Thượng-Hải, khi các lực lượng quân đội
tiến quân đến gần các thành phố này. Các người cộng-sản trong số
này có ông Chu Ân-Lai đả kêu gọi nổi loạn, hy vọng là quân lực quốc gia sẽ
tiến mau vào các thành phố. Nhưng không có việc ǵ xảy ra. Cuộc nổi loạn ngày
22, 24 tháng 2 năm 1927 đả thất bại và các người đ́nh công đả bị
viên tướng Li Baozhang đàn áp dử dội. Ngày 21 tháng 3, một cuộc tổng đ́nh
công lớn đả diển ra và một cuộc nổi loạn lớn đả lật
đổ chính quyền tại chổ. Một sư đoàn của Quốc quân với vị
tướng chỉ huy đả nhận định là cần phải can thiệp, đả
ra lịnh tiến quân vào Thượng-Hải và vị tướng này đả được
Tưởng-Giới-Thạch tiếp tay và quyết định nắm lại t́nh thế.
Họ đả thành công và Staline đả bị bao vây bởi những ám ảnh các chiều
hướng '' chống đế quốc '' của Tưởng-Giới-Thạch và nơi
quân đội quốc-gia của ông ; vào cuối tháng 3, ông đả ra lịnh chôn dấu
vũ khí và tiếp tục đường lối chung với Quốc-Dân-Đảng. Ngày 12
tháng 4 năm 1927, Tưởng-Giới-Thạch cho tái diển lại Quảng-Châu cục hành
quân mà ông đả thi hành ở Thượng-Hải : các người cộng-sản bị
truy bắt và bị bắn hạ. Nhưng Staline cần phải thay đổi chính sách
vào lúc thời điễm đang vào lúc đen tối ; để khỏi phải mất mặt
trước các lời chỉ trích của những người đối lập, ông đả
phái đi hai người thân cận, Vissarion Lominadze và Heinz Neumann để tái phát động
lại phong trào nổi loạn, sau khi đả dứt bỏ '' liên minh với Quốc Dân
Đảng ''. Mặc dầu bị thất bại do cuộc '' nổi loạn vào mùa gặt
mùa Thu '' do 2 phái viên nói trên chủ đạo, họ vẩn kiên tŕ để tạo được
cuộc nổi loạn ở Quảng-Châu để có thể, theo như nhận thức của
Souvarine là tạo cho vị thủ lănh một bản tin thắng trận, vào cùng lúc đại
hội thứ 15 của đảng Bôn-sê-vít được họp và Staline đả nhơn
dịp này khai trừ các người đối lập với ông. Thủ đoạn này (
manoeuvre ) đả cho thấy rỏ cường độ của việc coi rẻ mạng
sống của con người, mà nhiều người Bôn-sê-vít đả thực hành dù là
đối với các người cùng phe hay thân họ và đây củng là một việc mới
mẻ. Việc tạo dựng một cách vô ư thức Công-Xă Quản-Châu đả chứng
minh cùng một ư nghĩa và củng không khác ǵ các hành động khủng bố đả xảy
ra ở Bulgarie vài năm trước đó. Vài ngàn người nổi loạn đả
phải chiến đấu ṛng rả trong 48 giờ đồng hồ để đương
đầu lại một lực lượng đông hơn họ gấp 5 hay 6 lần, tính
về nhơn số. Công-xă ở Trung-quốc đả không được chuẩn bị
trước : từ số vũ khí không đủ và nằm vào một hoàn cảnh chính trị
bất lợi, các công nhơn người Quảng-Đông chỉ c̣n sống trong t́nh cảnh
chờ đợi. Trong buổi tối đêm 10 tháng Chạp năm 1927, các lực lượng
trung tín đả tiến chiếm vị trí tại các nơi tập họp đả được
dự định trước cho các vệ binh đỏ. Củng giống như những
ǵ đả xảy ra tại Hambourg, các người nổi loạn đả hưởng
được các lợi điễm của các sáng kiến nhưng các lợi điễm
này mất dần dần. Trong buổi sáng ngày 12 tháng Chạp, việc tuyên cáo thành lập một
'' cộng-ḥa sô-viết '' không gây được một tiếng vang nào ở trong dân chúng.
Trong buổi trưa, các lực lượng thuộc quân lực Quốc-Dân-Đảng bắt
đầu phản công. Sau hai ngày, lá cờ đỏ được treo trên mái nhà của cơ
quan công an được kéo xuống. Cuộc đàn áp đả diễn ra một cách man rợ
và đả có nhiều ngàn người bị giết. Tổ chức Komintern cần phải
đúc kết những bài học của những cuộc thử nghiệm này, nhưng khó có
thể cho họ bàn đến các vấn đề chính trị căn bản. Một lần
nửa, sự bạo động đả được chứng minh đối với
và chống tất cả bằng các danh từ đả được thuấn nhuần
trong một nền văn hóa nội chiến, cho các người cán bộ cộng-sản.
Được đọc trong : Vơ trang bạo động nơi câu dẩn nhập của
một lời kiểm thảo khủng khiếp với một lời kết thúc rỏ ràng
: '' Người ta đả không chú ư đến việc loại bỏ các người phản
cách mạng xuốt trong thời gian của Công xă Quản-châu, người ta chỉ giết
có lối 100 người, nằm ở trong tay các người nổi loạn. Tất cả
các người bị bắt giam chỉ bị hành quyết sau khi được một ủy
ban chống lại bọn phản động. Trong lúc đang giao tranh và giửa cuộc nổi
loạn, h́nh thức tố tụng đả quá chậm chạp và bài học này đả
được ghi nhớ ''. Sau cuộc thăm bại này, các người cộng-sản rút
lui ra khỏi các thành phố và tái tổ chức lại ở các vùng xa xôi của nông thôn và
khởi đầu vào năm 1931, tổ chức ở các vùng Hồ-Nam Giang-Tây các '' vùng giải
phóng '' được sự che chở của một đạo quân đỏ. Một tư
tưởng chế ngự các người cộng-sản Trung-quốc là : hảy c̣n quá sớm
cho cuộc cách mạng diễn ra, trước tiên là vấn đề quân sự, đề
cử ra việc tạo các cơ cấu chính trị bộ máy quân sự cho đến khi Mao-Trạch-Đông
đủ tóm tắc công thức lừng danh của ông : Quyền lực và mủi súng tạo
ra, các diển tiến về sau này đả chứng tỏ rằng đó là các tinh túy mà nhản
quan của cộng-sản dùng để nắm lấy quyền lực hay duy tŕ quyền lực
này. Nhưng với các thất bại liên tiếp ở Âu-Châu trong các năm đầu của
thập niên 1920, và cuộc thăm bại ở Trung-quốc đả không làm sờn ḷng các người
lănh đạo tổ chức Komintern để đeo đuổi đường hướng.
Tất cả cáác đảng cộng-sản, gồm cả các đảng hợp pháp ở
các nước dân chủ đưu có trong ḷng họ ( en son sein ) một bộ máy quân sự bí
mật, và có thể sẽ công khai ra mặt nếu trường hợp cho phép. Khuôn mẫu
của KDP ở Đức-quốc và được đặt dưới sự kiễm
soát chặt chẻ của các cố vấn quân sự sô-viết, đả tổ chức
một '' M. (militar ) Apparat '' có nhiệm vụ thủ tiêu các ngườbi lảnh tụ đối
lập ( dành riêng cho các người đối lập cực hữu ) và các tên '' mật thám
chỉ điểm '' ( mouchard ) len lỏi vào hàng ngủ của đảng cộng-sản.
Họ củng có nhiệm vụ huấn luyện và chỉ huy các toán bán quân sự, các đội
Rote Front ( mặt trận đỏ ) và họ có hàng ngàn đảng viên. Sự thật là trong
thời điễm của nền cộng-ḥa Weimar các cuộc bạo động về chính
trị được coi là đả diển ra toàn diện ; và nếu các người cộng-sản
đả chiến đấu chống lại các phần tử cực hữu và phong trào Quốc
xă đang chớm vươn lên, họ không ngần ngại ǵ mà không tấn công các cuộc
tập họp xuống đường của các người thuộc đảng xă-hội
mà họ đả gán cho danh từ : các người xă-hội phản bội và các người
xă-hội phát xít. Họ củng tấn công các nhơn viên cảnh sát, các cộng ḥa mà họ
coi là phản động và củng là phát-xít. Các diễn biến xảy ra sau năm 1933, đả
cho biết ai là kẻ '' phát-xít thứ thiệt '' đó là phong trào Quốc-xă và nếu họ
khôn ngoan hơn, họ cần phải liên-minh với các người thuộc đảng xă-hội
để chống giữ một nền dân chủ mà họ gọi là của các người
tư-sản trưởng giả. Nhưng các người cộng-sản đả từ
khước nền dân chủ này. Ở nước Pháp không khí chính trị trầm lặng
hơn, đảng cộng-sản Pháp PCF củng có tạo lập các toán vơ trang. Một ủy
viên thuộc bộ chính trị trung ưöng tên Albert Treint được giao phó nhiệm vụ
này. Trong thời chiến tranh ông đả mang chức Đại-úy của quân lực Pháp
và ông có nhiều khả năng về quân sự. Ngày 11 tháng Giêng năm 1924 nhơn dịp một
nhóm ngưới vô chính phủ ( anarchiste ) phản đối chống lại một cuộc
mít-ting của đảng cộng-sản Pháp tổ chức, Albert Treint đưa toán tổ
chức vơ trang xông vào diễn đàn để can thiệp, họ đả chỉa súng lục
và bắn vào các người chống đối : kết quả có 2 người chết và
có nhiều người bị thương ! V́ không có bằng chứng, không có một kẽ
sát nhơn nào bị truy tố. Hơn một năm về sau, một vụ tương tợ
lại xăy ra : Ngày thứ năm 23 tháng 4 năm 1925, vài ngày trước ngày bầu cử các
thị xă, các lực lượng giử trật tự của đảng cộng-sản
Pháp đả đến phá rối lúc tan cuộc họp bầu cử, của các toán thanh
niên ái quốc, một tổ chức của phe cực hữu, ở trong quận 18 Paris, đường
Damrémont. Vài người lănh đạo có vơ trang và không ngần ngại ǵ mà không dùng đến
súng. Ba người lănh đạo của các thanh niên ái-quốc bị bắt giữ và cảnh
sát đả đến khám xét các nơi cư ngụ của các nhà lănh đạo cộng-sản. Mặc
dầu gặp các khó khăn, đảng cộng-sản Pháp vẫn duy tŕ đường lối.
Năm 1926, đảng ũy nhiệm cho Jacques Duclos, một dân biểu cộng-sản vừa
được trúng cử và được hưởng quyền miễn truy tố nghị
trường, đứng ra thành lập các toán '' tự vệ chống phát-xít '' gồm các
cựu chiến binh của trận chiến 1914-1918 và các vệ-binh chống phát-xít gồm
các thanh niên cộng-sản ; các tổ chức bán quân sự này được tổ chức
theo khuôn mẫu của Rote Front của Đức và ngày 11 tháng 11 năm 1926 đả diển
hành và vận đồng phục. Song song Jacques Duclos tổ chức các cuộc tuyên truyền
chống lại chủ nghĩa quân sự và cho phát hành một nguyệt san tên '' người
chiến sĩ đỏ '', nguyệt san này huấn luyện về nghệ thuật nội
chiến, mô tả và nghiên cứu cách chiến đău trong thành phố, trên các đường
phố v.v.. Năm 1913 tồ chức Komintern cho phát hành với nhiều thứ tiếng khác
nhau, quyển sách : '' nổi loạn vơ trang '', dưới bút kư Neuberg nhưng thực sự
là một việc làm của tập thể các người lănh đạo sô-viết : Cuộc
nổi loạn ở Tallin do tướng Iossif Ounschlicht, phân tích và nghiên cứu, cuộc nổi
loạn ở Hambourg do Hans Kippenberger phụ trách, cuộc nổi loạn ở Quảng-châu
do tướng Vassili Blücher và Hồ Chí Minh và củng đả đề cập đến
việc các người nông dân nổi loạn khởi đầu từ năm 1920 ; quyển
sách này được tái xuất bản ở Pháp vào năm 1934. Và khi ở Pháp đả diển
ra '' khúc quẹo '' về chính trị vào năm 1934 với việc thành lập Mặt trận
b́nh dân ( Front populaire ) và v́ vậy vai tṛ căn bản của '' việc bạo động
'' trong thực hành chủ nghĩa căn bản, đả tạm thời được
xếp vào loại hai, nhưng không v́ vậy mà làm giảm bớt việc thi hành bạo động.
Tất cả các sự chứng minh của các hành động bạo động, việc
thi hành hàng ngày các sự thù ghét về giai cấp, việc lư thuyết hóa nội chiến và
các cuộc khủng bố đả gặp được môi trường thuận lợi
để '' nảy sinh '' với cuộc chiến tranh ở Espagne xảy ra vào năm 1936.
Tổ chức Komintern đả gởi qua đây rất nhiều cán bộ và các người
cán bộ này đả nổi tiếng trong các việc đàn áp của người cộng-sản. Tất
cả các việc tuyển lựa, huấn luyện và sửa soạn cho các người cán
bộ bản xứ để tổ chức các cuộc nổi loạn vỏ trang trong tương
lai đều được thực hiện với việc liên lạc chặc chẻ của
cơ quan mật vụ sô-viết hay nói đúng hơn với cơ quan mật tên GROu, tên viết
tắt của Glavsnoe Razvedatelnoe Oupravlenie, hay là Tổng Nha Trung Ương T́nh-Báo, đả
được thành lập dưới sự che chở của Strotski với sự giám sát
của pḥng Đệ Tứ của Hồng-Quân và trong các sách vở bằng tiếng Anh được
biên là GRU. Cơ quan này không bao giờ ngừng việc '' giáo dục '' là dù ở trong nhiều
trường hợp đả bắt buộc họ phải rút lui đại qui mô. Việc
đáng ngạc nhiên là các cán bộ trẻ tuổi được sự tin cậy của
đảng cộng-sản Pháp, vào đầu các năm của thập niên 1970 c̣n được
gởi sang Liên-bang Sô-viết, để thụ huấn các lớp dạy cách xữ dụng
các vũ khí thông thường ( tập bắn, tháo ráp và xữ dụng các loại vũ khí
) chế tạo các vũ khí thô sơ, các kỹ thuật phá hoại, các kỹ thuật truyền
tin ; do các toán thuộc lực lượng đặc biệt sô-viết tên Spetsnaz phụ trách,
các toán này được đặt dưới quyền xữ dụng của các cơ quan
mật vụ sô-viết. Ngược lại, cơ quan GROu có sẳn các người chuyên môn
về quân sự và sẳn sàng phái các người này sang phục vụ các đảng cộng-sản
anh em khi nào cần. Một thí dụ : Alfred Stern người gốc Áo-Hung đả được
biệt phái qua phục vụ '' M. Apparat '' thuộc đảng KPD để tổ chức
cuộc nổi loạn ở Hambourg vào năm 1923. Sau y được phái sang hoạt động
ở Trung-quốc và ở Mản-châu trước hki mang tên là '' tướng Kléber '' chỉ
huy Trung đoàn Quốc-tế đả nổi danh trong trận nội chiến xảy ra ở
Espagne. Các bộ máy quân sự bí mật này với các thành viên không phải là những '' thiếu
niên ngây thơ ở các giáo đường ''. Họ là những con người gần như
là các giới kẻ cướp ( bandit ) và các toán người này họp lại thường
trở thành các đảng ăn cướp. Một trong các việc điển h́nh đả
xảy ra vào cuối các năm thuộc thập niên 1920 : Các toán vệ binh đỏ, hay các
trung đội đỏ của đảng cộng-sản Trung-quốc. Họ đả
hoạt động ở thượng hải lúc ấy được coi là trung tâm khủng
bố của đảng. Dưới sự chỉ huy của Gu Shunzhang, một tên cựu
đạo tặc thuộc hội kín Thanh-đảng ( bande verte ), một băng đảng
mafia mạnh nhứt trong hai băng đảng đang lộng hành vào thời đó ở Thượng-hải-Shanghai,
các thuộc hạ của Gu đả đương đầu với các toán áo sơ mi màu
lam, một tổ chức thanh niên của Quốc dân đảng theo khuôn mẫu của phát-xít,
trong các trận đánh đáng nghi ngờ, khủng bố chống lại khủnh bố,
phục kích chống lại phục kích, các vụ ám sát cá nhơn chống lại ám sát cá nhơn.
Tất cả đều được hưởng sự giúp đở sự giúp đở
của ṭa Lănh sự Liên-bang Sô-viết ở Shanghai và ṭa Lănh-sự này củng có các người
chuyên môn về các vấn đề quân sự như tên Gorbatiouk cùng các tên khác để
thi hành các lệnh dơ dáy. Năm 1928, các thuộc hạ của Gu đả thủ tiêu
một đôi vợ chồng lănh tụ theo y đả trở cờ về phe công-an : trong
khi họ đang ngủ, đó là He Jia Xing và He Je Hua bằng cách bắn đầy người
họ trên chiếc giường ngủ. Để làm lấn áp tiếng nổ súng, họ
đả cho đót một tràng pháo ở ngoài đường. Và trong ḷng đảng, để
loại những người chống đối họ cũng đả dùng những phương
pháp tương tợ. Chỉ cần các lời tố cáo là cũng đủ để bị
giết chết ngay. Ngày 17 tháng Giêng năm 1931, quá giận v́ đả bị mưu mô của
Pavel Mif, đại diện tổ chức Komintern, cùng với các người lănh tụ c̣n
trung thành với Moscou, lănh tụ He Meng Xiong cùng với lối 20 đồng chí thuộc '' phân
bộ công nhơn '' đả hội họp ở nhà hàng Đông Phương ở Shanghai.
Họ vừa khởi đầu cuộc thảo luận th́ các công an viên cùng với các nhơn
viên của văn pḥng Trung-ương Điều tra của Quốc-dân đảng tên Diaocha
tonzhi ập vào, tay cầm vũ khí và bắt tất cả bọn. Các người quốc
gia đả được một tên vô danh báo cho biết nơi họp. Tháng 4 năm 1931,
Gu đào ngủ và trở về hàng ngũ của Thanh-đảng ( bande verte ) cùng với việc
y đầu hàng Quốc Dân đảng ( y đả gia nhập tổ chức so-mi-xanh ), một
ủy-ban đặc biệt do 5 người lănh tụ cộng-sản đả được
thành lập để nối tiếp các hoạt động ở Shanghai. Ủy ban này gồm
có Kang Sheng, Guang Huian, Pan Hannian, Chen Yun et Ke Qingshi. Đến năm 1934, tất cả các
cơ quan, của cộng-sản Trung-quốc trong thành phố Shanghai, đả bị phá vở
hoàn toàn. Hai lănh tụ các toán vơ trang là Ding Mocun và Li Shiqun đều bị lần lượt
lọt vào tay Quốc-Dân đảng. Họ chịu đầu hàng, và sau đó đến năm
1937, khi quân đội Nhật chiếm đóng thành phố này họ quay sang phục
vụ cho người Nhật. Cả hai đều chết thê thăm Ding Mocun bị xữ bắn
vào năm 1947 với tội '' phản quốc '' c̣n Li Shiqun bị viên sĩ quan Nhật mà y
phục vụ, đả thuốc độc giết y. C̣n về phần Kang Sheng từ năm
1949 đến năm y chết vào năm 1975 là viên chỉ huy cơ quan công an mật vụ
của chế độ Mao-Trạch-Đông và là một trong những tay đao phủ chính
chống lại nhơn dân Trung-quốc dưới chính quyền cộng-sản. Việc
thường xăy ra là các đảng viên của các đảng phái khác và các đảng viên của
đảng cộng-sản thường được các cơ quan sô-viết đặc
biệt chiếu cố để dùng vào các dịch vụ đặc biệt mà họ cần
thi hành. Đó là vụ Koutiepov đả diễn ra : Năm 1924, Đại Quân Công Nicolas,
người được coi là có thể kế vị Nga Hoàng đả gọi tướng
Alexandre Koutiepov đến Paris để chỉ huy ũy ban liên họp tổng quát quân sự
( ROVS ). Đến năm 1928 cơ quan Guépou quyết đînh làm tan vỡ ũy ban ROVS. Ngày 26
tháng Giêng tướng Koutiepov mất tích. Có nhiều tin đồn được đưa
ra và củng có nhiều tin do các người sô-viết tung ra. Hai cuộc điều tra độc
lập đả cho biết ai là kẻ chủ mưu của vụ bắt cóc : Cuộc điều
tra của người đảng viên cao niên thuộc đảng xă-hội Nga là Vladimir Bourtzev,
ông này đả trở nên lừng danh khi ông lột mặt nạ tên Evno Azev, một nhơn
viên của cơ quan Okhrana đả len lỏi vào cấp lănh đạo của tổ
chức tranh đău của các người xă-hội cách mạng và cuộc điều tra của
kư giả Jean Delage thuộc tờ báo Tiếng Vang của Paris ( l'Écho de Paris ). Delage đả
cho biết là tướng Koutiepov đả bị bắt cóc và đưa ra Houlgate, một
thành phố ở bờ biển Manche và chuyển xuống một chiếc tàu sô-viết tên
là Spartak và chiếc tàu này đả rời bến vào ngày 19 tháng 2. Từ đó không c̣n ai biết
viên tướng này ra sao ? Ngày 22 tháng 9 năm 1965 viên tướbng sô-viết Chimanov đả
thuật lại tất cả diển biến của việc này mà ông biết người
phụ trách, tờ báo Ngôi Sao Đỏ của Hồng-quân đả cho biết tên của
người chịu trách nhiệm : Serguei Pouzitski, ngoài việc tham dự việc bắt giam
tên ăn cướp Savinkov đả oai nghiêm chỉ huy việc bắt cóc tướng Koutiepov
và nhiều vị chỉ huy khác của Bạch quân. Tổ chức các người di cư
tị nạn cộng-sản đả bị các nhơn viên của cơ quan Guépou xâm nhập
: Từ năm 1929, cựu Bộ-trưởng chính phủ của Đề-đốc Koltchak
thuộc Bạch-quân, tên là Serguei Nicolavevitch Trétiakov đả bí mật gia nhập hàng ngũ
sô-viết và dưới bí số UJ/1 và tên mật mă là Ivanov. Nhờ những tin tức và các
chi tiết của Trétiakov đả thông báo cho viên chức liên lạc với y, người
này tên là Vetchinkine, Moscou đả nắm vững những cuộc di chuyển của tướng
Koutiepov. Một toán c̣m măng đô đả chận xe của viên tướng này ngay giữa
các đường phố dưới dạng là một cuộc kiễm soát của cảnh
sát. Một người Pháp tên là Honel, làm nghề sửa xe hơi ở Levallois-Perret đả
hóa trang bận sắc phục của cảnh sát lưu thông đả yêu cầu tướng
Koutiepov đi theo y. Một người Pháp khác đả dính líu vào vụ này tên là Maurice Honel,
em của tên nói trên, đả có liên lạc với mật vụ sô-viết. Tên Maurice Honel đả
trúng cử dân biểu cộng-sản vào năm 1936. Koutiepov đả từ chối quy thuận,
ông đả bị đâm chết bằng một lưởi dao găm và sác của ông được
chôn ngay ở dưới hầm xưởng sửa xe của tên Honel. Người thừa
kế củba Koutiepov làb tướng Miller, ông có người phụ tá là tướng Nikolai
Skobline, lại là một nhơn viên của bọn sô-viết. Với người vợ là
ca-sĩ Nadejda Plevitskaia, Skobline tổb chức ở Paris cuộc bắt cóc tướng Miller.
Ngày 22 tháng 9 năm 1937 Miller mất tích. Ngày 23 tháng 9 chiếc tàu sô-viết Maria Oulianovna rời
bến Le Havre. Đền lượt tướng Skobline củng biến mất, các sự
nghi ngờ đả trở nên chính sác. Tướng Miller thật sự đả hiện
diện trên tàu Maria Oulianovna mà chính phủ Pháp đă từ chối không chận xét. Được
đưa về Moscou và sau khi chịu cuộc hỏi cung, tướng Miller đả bị
giết chết. Tài liệu tham khảo : Lịch sử t́nh báo thế giới- Quyển
1 từ 1870-1939 / nhà xuất bản Laffont 1993 ; Các tội ác sô-viết trước ṭa đại
h́nh quận Sein 5-14 tháng 12 ; Vụ bắt cóc tướng Miller do tướng Skobline ; Vụ
án Plevitzkaia và lời biện hộ của luật sư Me Maurice Ribet : nhà in Ṭa án 1939.
Viên tướng sẽ chết vào nửa đêm / nhà xuất bản Plon 1981. Nước Nga
của các con ma ; Các di dân Nga từ 1920-1950 nhà xuất bản Harmattan 1955. Chế độ
độc tài - Tội ác hóa các người chống đối - Đàn áp trong ḷng tổ chức
Komintern Theo lịnh của Moscou, tổ chức Komintern duy tŕ ở các đảng cộng-sản
một toán vơ trang và chuẩn bị tổ chức các cuộc nổi loạn để gây
ra nội chiến chống lại chính quyền đang tại chức, tổ chức này củng
đưa vào ḷng của tổ chức ḿnh các phương pháp công an và khủng bố đả
được thưc hành ở Moscou và ở Liên-bang Sô-viết. Nhơn cuộc Đại-hội
lần thứ 10 của Đảng cộng-sản sô-viết, được tổ chức
từ ngày 8 đến 16 tháng 3 năm 1921, trong lúc chính quyền sô-viết đang phải đương
đầu với cuộc nổi loạn ở Cronstadt, các văn bản về một chế
độ độc tài đả được thảo ra, ngay cả trong ḷng đảng.
Trong lúc chuẩn bị cho cuộc đại-hội, tám '' h́nh thức '' khác nhau đả
được đề nghị và đưa ra dể bàn thảo. Các cuộc tranh luận
này là những di tích chót của nền dân chủ và nền dân chủ đả không được
'' tự đặt '' trên đất Nga. Và một loại dân chủ chấp nối, vá víu
(ersatz ) cũng không c̣n tồn tại bao lâu. Ngày thứ hai của đại-hội, trong lúc
súc tiến các công việc, Lénine đả lên tiếng : '' Các đồng chí, chúng ta không cần
đối lập, v́ lúc này không phải là lúc. Các đồng chí có trách tôi củng chả được
việc ǵ v́ đó là do hoàn cảnh tạo ra. Hởi các đồng chí, từ nay trở đi
đừng nói đến đối lập nửa. Theo ư kiến của tôi, các đồng
chí ở đây hay là ra chiến đấu ở Cronstadt, tay cầm súng. Hội nghị phải
đi đến kết luận đả đến lức chấm dứt việc đối
lập, hảy hạ màn về việc này, chúng ta dả quá chán ngán về việc đối
lập. Lénine đả nhắm vào những người tuy là không tạo thành một nhóm, theo
nghỉa chính không có một bản báo cáo, đả tập họp dưới h́nh thức
được gọi là Công-nhơn chống-đối, các tên Alexandre Chliapnikov, Alexandra Kollontai,
Loutovinov và với h́nh thức Trung-ương Dân-chủ gồm có Timothée Sapronov, Gabriel Miasnikov. Ngày
16 tháng 3 khi Đại-hội đả gần như sắp bế mạc, có hai nghị-quyết
được đưa ra vào lúc chót : '' Nghị quyết thứ nhất nói về việc
' đồng nhất của đảng ' và nghị quyết thứ hai nói về các việc
' trật hướng của các phong trào nghiệp đoàn và tinh thần vô chính phủ ' nằm
trong ḷng đảng, nhắm vào nhóm Công-nhơn chống đối. Nghị quyết thứ
nhất đ̣i việc giải tán tức thời tất cả các nhóm được thành
lập đúng theo các h́nh thức riêng biệt, nếu từ chối sẽ bị đuổi
ra liền khỏi hàng ngủ của đảng. Một bản không được đưa
ra của nghị quyết này và được giử '' mật '' cho đến tháng 10 năm
1923 đả ũy quyền cho Ủy-ban Trung-ương được quyền tuyên án các
cuộc trừng phạt. Cơ quan công an của Feliks Dzerjinski lại có dịp để mở
rộng tầm truy xét : Tất cả các nhóm đối lập nằm trong ḷng đảng
sẽ bị luôn luôn theo dỏi, canh gác và nếu cần đuổi ra khỏi đảng.
Việc này đối với các người lănh đạo chơn chính là : '' cái chết trên
trường chính trị ''. Nhận thấy việc cấm tự do bàn cải, việc
này là mâu thuẩn với quy chế của đảng, dù vậy hai bản nghị quyết
này củng được đồng chấp thuận. Riêng về bản nghị quyết
thứ nhất Radek đả đưa ra một chứng minh có tính cách báo trước : ''
Tôi nhận định là nghị quyết này có thể dùng để chống lại chúng ta
và v́ vậy tôi chấp nhận. Trong lúc nguy hiễm Ũy ban Trung-ương đả quyết
định các biện pháp tối nghiêm nghị chống lại các đồng chí, tôi nhận
thấy là rất cần thiết. Dù là Ũy-ban Trung-ương có lầm lộn v́ đó c̣n
ít nguy hiễm hơn việc lừng chừng mà người ta nhận thấy trong lúc này.
Cuộc lựa chọn này đả được thực hiện dưới sự đe
dọa của hoàn cảnh và đả đáp ứng lại các khuynh hướng sâu rộng
của các người Bôn-sê-vít, từng đè nặng với tính cách quyết định về
tương lai của đảng cộng-sản Sô-viết và là kết quả quan trọng
đối với phân bộ của tổ chức Komintern. Đại hội 10, củng
quyết định việc tái tổ chức lại ủy ban kiễm soát với nhiệm
vụ được chỉ định : Canh chừng việc củng cố và quyền lực
ở trong đảng. Từ đó, ủy ban này thành lập và các hồ sơ cá nhơn của
các vị lănh tụ và các đảng viên để xữ dụng , đến khi cần dùng
làm tài liệu căn bản để truy tố các việc như : thái độ đối
với công an chính trị, có cảm t́nh hay gia nhập các nhóm chống đối v.v... Sau khi
đại hội 10 được bế mạc, các người có căm t́nh hoặc thuộc
nhóm khuynh hướng công-nhơn đối lập đả chịu nhiều việc bắt
nạt hay ngược đải. Về sau Alexandre Chliapnikov đả giải thích : cuộc
đău tranh sẽ không diển ra riêng trong lănh vực ư thức hệ mà c̣n phải dùng các phương
tiện khác như việc xa thải các người ra khỏi địa vị hay thuyên chuyển
từ địa hạt này qua địa hạt khác, cùng lắm là đuổi ra khỏi hăng.
Đến tháng 8, cuộc kiễm soát khởi đầu và kéo dài trong nhiều tháng. Một
phần tư các vị lănh tụ cộng-sản đả bị khai trừ. Từ việc
xử dụng đến việc thanh trừng '' tchistka '' , từ đây đả trở
nên một phần đời sống của đảng. Ông Aino Kuusienn đả biểu lộ
về chu kỳ của phương pháp này : bị cáo được gọi tên và được
mời lên diễn đàn, các thành viên của ủy ban thanh lọc và các người khác hiện
diện đặt các câu hỏi. Một vài người đả minh oan dể dàng nhưng
nhiều người khác đả phải chịu đựng lâu cuộc thử thách gay go
này. Nếu người nào có oán thù riêng với một người nào và đây là cơ hội
để giải quyết dứt khoát về diển tiến của việc này. Nhưng việc
xa thải ra khỏi đảng thuộc quyền quyết định của ủy ban kiễm
soát. Nếu bị cáo nh́n nhận là không phải là thủ phạm về các hành động
mà y bị cáo, thủ tục sẽ được xếp qua một bên và không có cuộc bầu.
Nếu trường hợp ngược lại, không có người nào can thiệp cho người
bị cáo, vị chủ-tịch chỉ hỏi có một câu : Kto protiv, không có một người
nào ngỏ ư chống lại, vụ này được coi như là nhất trí chấp nhận. Các
hậu quả của các quyết định tại đại hội 10, đả được
mau ghi nhận : tháng 2 năm 1922 lănh tụ Gabriel Miasnikov bị tạm ngưng một năm,
và coi như bị khai trừ ra khỏi đảng v́ đả bảo vệ việc tự
do báo chí, chống lại ư kiến của Lénine về việc này. Các người có khuynh hướng
thuộc nhóm công nhơn chống đối đả kháng nghị với tổ chức Komintern
( tuyên ngôn 22 ), liền đó Staline, Dzerjinski và Zinoviev đả đ̣i khai trừ Chliapnikov, Kollonyai
và Medvediev. Nhưng đại hội lần thứ 11 đả từ khước. Càng lúc
càng chịu sự lôi cuốn của quyền lực sô-viết, tổ chức Komintern đả
chẳng bao lâu bị cưởng bách chấp nhận chế độ nội bộ của
đảng Bôn-sê-vít. Một kết quả '' rất b́nh thường '' ( logique ) và không lấy
ǵ là ngạc nhiên. Năm 1923, Dzerjinski đả đ̣i hỏi một nghị quyết chính
thức của bộ chính trị-Politburo, để bắt buộc các đảng viên phải
tố cáo với cơ quan GPU mọi hành động chống đối. Đề nghị
của Dzerjinski là nguồn gốc tạo ra một loạt khủng hoảng ở trong ḷng
đảng Bôn-sê-vít : ngày 8 tháng 10, Trotski đả gởi một văn thư cho ũy ban
trung ương, và theo đó ngày 15 tháng 10 '' tuyên ngôn của 46 ''. Cuộc bàn thảo đả
diễn ra và quy tụ chung quanh '' đường lối mới '' của đảng cộng-sản
Nga và đưa đến việc kéo dài qua các bộ phận của Komintern. Đồng
thời vào cuối năm 1923, đời sống của các phân bộ Komintern được
đặt dưới khẩu hiệu '' Bôn-sê-vít '' hóa ; tất cả đồng điều
phải tái tổ chức lại các cơ cấu và lấy làm căn bản là nơi '' các
tổ '' ở xí nghiệp cùng tăng cường sự trung thuận với trung ương
tại Moscou. Xảy ra các việc nói nửa chừng của việc biến đổi đả
đưa đến kết quả là làm tăng thêm nhiều vai tṛ và quyền lực của
các thông điệp của quốc tế cộng-sản trên đề tài về tiến triển
của chính quyền ở Liên-bang Sô-viết. Ở Pháp, một vị lănh tụ của đảng
cộng-sản Pháp-PCF, là Boris Souvarine đả chống đối lại '' đường
lối mới '' và tố cáo các phương pháp hèn hạ m Troika ( Kamenev, Zinoviev và Staline ) đả
xữ dụng đối với người đối lập với họ là Trotski : Nhơn
dịp đại hội thứ 13, của đảng cộng-sản Sô-viết thống
nhất, Boris Souvarine đả được đ̣i đến để giải thích. Đó
là ngày 12 tháng 6 năm 1924, một buổi họp đả biến thành một cuộc tố
cáo trên khuôn mẫu một cuộc kiễm thảo bắt buộc. Một ũy ban được
triệu tập đặc biệt để xét về '' vụ Souverine '' và ũy ban này đả
tuyên cáo : tạm thời khai trừ Souvarine. Các phản ứng của ban lănh đạo của
đảng cộng-sản Pháp-PCF, đả chỉ định rỏ ràng và minh bạch về
t́nh trạng tinh thần từ nay trở đi, cần phải có trong những hàng ngũ của
Đảng Thế-giới : Ở trong đảng của chúng tôi, đảng cộng-sản
Pháp-PCF, đả không hoàn toàn khai trừ các căn bản xưa, củ của chủ nghĩa
xă-hội dân chủ, ảnh hưởng của các cá nhân c̣n giử một vai tṛ lớn. Nằm
trong các biện pháp mà các sự nhỏ nhen c̣n sót lại của tinh thần tiểu tư sản
với cái '' tôi '' cá nhơn sẽ bị phá bỏ để họp thành một '' đội
quân sắt '' vô danh của các người Bôn-sê-vít Pháp. Đảng cộng-sản Pháp phải
đập tan ở trong ḷng đảng và sẽ không nương tay đối với tất
cả các đảng viên từ chối không phục ṭng luật của đảng, để
đảng được xứng đáng là thành viên của Quốc-tế cộng-sản
và nếu đảng muốn noi gương các thành quả vẽ vang của đảng cộng-sản
Nga. Báo Humanité ngày 19 tháng 7 năm 1924, vị chủ nhiệm viết bài này đả không ngờ
là các nhận định của y đả trở thành quy luật và quy luật này đả
được dùng để làm '' kim chỉ nam '' cho đời sống của đảng
trong nhiều thập niên. Một thành viên nghiệp đoàn tên Pierre Monate đả đút kết
việc tiến triển này là : chế độ '' hạ sĩ quân đội '' ( caporalisation
). Củng vào mùa hè năm 1924, trong cuộc đại hội 5 của tổ chức Komintern,
vị lănh tụ Bôn-sê-vít Zinoviev đả đe dọa : '' Bẻ gảy sương '' các
người đối lập, đả làm nổi bật các tính nết về chính trị
đang xâm lấn vào phong trào cộng-sản. Đen tối cho Zinoviev : chính y đả bị
Staline '' bẻ gảy xương '', v́ sang đến năm 1925 đả cách chức chủ
tịch tổ chức Komintern của y. Boukharine được chỉ định thay thế
nhưng chả bao lâu y củng nếm mùi chua cay như Zinoviev. Ngày 11 tháng 7 năm 1928 trước
ngày khai mạc Đại-hội 6, của tổ chức Komintern ( từ 17 tháng 7 đến
1 tháng 9 năm 1928 ) lănh tụ Kamenev bí mật gặp Boukharine và đả lập một biên
bản về cuộc nói chuyện. Là '' nạn nhân của chế độ công an '' Boukharine
đả giải thích là đường giây điện thoại của ông đả bị
'' ŕnh nghe '' và ông bị cơ quan GPU theo dỏi ; hai lần ông đả tỏ ra rất lo
sợ và nói : Nó sẽ thắt cổ chúng ta. Chúng ta không muốn can thiệp, v́ bị coi là
ly khai và nó sẽ thắt cổ chúng ta. Nó đây là Staline. Người đầu tiên mà Staline
toan tính '' thắt cổ'' là Trotski. Cuộc đấu tranh của Staline chống lại ''
Trotski chủ nghĩa '' có một đặc điễm riêng biệt, đó là sự lan rộng
ra. Tất cả bắt đầu từ năm 1927. Nhưng trước dó vào tháng 10 năm
1927, dấu hiệu báo trước sự '' hung xấu '' để cảnh cáo, đả
được đưa ra trong một cuộc họp của đảng Bôn-sê-vít : hoặc
là khai trừ hay là đập bỏ hợp pháp các sự chống đối, hoặc là giải
pháp các phát súng đại bác trong đường phố giống như các người xă-hội
cách mạng thiên tả, đả xăy ra vào tháng 7 năm 1918 tại Moscou. Đây là một câu
mà Larine đả viết trên báo Pravada. Hành động chống đối thiên tả, đó
danh xưng chính thức, đả bị cô lập và càng ngày càng suy yếu, đả là nạn
nhơn của các cuộc khiêu khích của cơ quan GPU và cơ quan này đả '' mạo chế
'' ra một nhà in lậu do một vị cựu sĩ quan của tướng Bạch-quân Wrangel,
điều khiển. Vị cựu sĩ quan này là một nhơn viên của GPU trá h́nh. Các tài
liệu của nhóm chống đối đều do nhà in này in ra. Nhơn cuộc kỹ niệm
lần thứ 10 cách mạng tháng 10, nhóm đối lập đả quyết định biểu
t́nh với các biểu ngữ mang khẩu hiệu của họ. Một cuộc can thiệp
mạnh tay của công an đả ngân chận họ. Đến ngày 14 tháng 11, Trotski và Zinoviev
bị khi trừ ra khỏi đảng Bôn-sê-vít. Giai đoạn kế tiếp, từ tháng
Giêng năm 1928 đả xăy ra việc đưa đi quản thúc ở các vùng xa xôi những
vị lănh tụ Bôn-sê-vít được nhiều người biết đến. Christian Rakovski
cựu đại sứ sô-viết ở Pháp, đều bị đưa đi về Astrakhan
nằm trên sông Volga, sau đưa đi Barnaoul ở Sibérie. Victor Serge, năm 1933 bị gởi
đi Orenbourg ở Oural hoặc là di ra nước ngoài. C̣n về phần Trotski bị dùng sức
mạnh đưa đi Alma Ata ở Turkestan, cách Moscou bốn ngàn kí-lô-mét. Một năm
sau vào năm 1929, ông bị trục xuất qua nước Turquie, và nhờ vậy thoát khỏi
nhà tù, c̣n các người thân ông đều bị bắt giam. Càng ngày con số các người
bị bắt giam càng gia tăng, gồm có các người thuộc khuynh hướng Công-nhơn
Chống đối củ hay là các người thuộc Tăp trung ương dân chũ. Họ
đều bị bắt và đưa vào các nhà tù riêng biệt, với tên polit-isolators. Khởi
đầu từ lúc này, các người cộng-sản ngoại quốc là thành viên của
tổ chức Komintern, hay đang sinh sống ở Liên Bang sô-viết họ đả bị
bắt giam hay bị quản thúc cũng giống như các lănh tụ Nga ; trường hợp
của họ củng được hội nhập như các người dân Nga, nằm trong
biện pháp là tất cả các người cộng-sản ngoại quốc nếu ở lâu
ngày trên lănh thổ Sô-viết phải bắt buộc gia nhập vào đảng Bôn-sê-vít và phải
phục tùng kỹ luật của đảng. Đó là trường hợp của Ante Ciliga,
thành viên của bộ chính trị của đảng cộng-sản Nam-tư-PCY, được
phái đi Moscou vào năm 1926 như là đại điện của PCY tại tổ chức
Komintern. Ông đả có vài lần gặp gở các người đối lập tập họp
chung quanh Trotski và lần lần tách xa tổ chức Komintern v́ tại nơi đây các cuộc
bàn thảo thật sự đả bị bải bỏ và các người lănh đạo đả
không ngần ngại dùng các lối đe dọa đối với các người nói ngược
lại họ, điều mà Ciliga đả gọi là : '' phương pháp nô lệ, hèn hạ
'' của phong trào cộng-sản quốc tế. Tháng 2 năm 1929 nhơn kỳ tổng đại
hội, các người dân Yougoslave ở Moscou đả chấp thuận một nghị quyết
lên án chính sách của ban lănh đạo tổ chức Komintern. Một nhóm người bất
hợp pháp, theo các điều lệ của kỹ luật, sau đó đả được
các người đối lập tổ chức chống lại đường lối chính
thức đả liên lạc với các người sô-viết. Chẳng bao lâu, một ũy
ban đả điều tra ông Ciliga và khai trừ ông này ra khỏi tổ chức Komintern trong
ṿng một năm. Không v́ vậy mà Ciliga ngưng không thi hành các '' hành động bất hợp
pháp '' và đến cư ngụ ở thành phố Léningrad. Ngày 1 tháng 5 năm năm 1930, ông
đả đi Moscou để gặp các thành viên của nhóm người Nga và Yougoslaves v́
họ đồng phản đối việc thi hành kỹ nghệ hóa với đường
lối hiện nay đang thực hành và dự định thành lập một đảng mới.
Ngày 21 tháng 5 ông bị bắt giam, cùng với các bạn của của ông và được
đüa vào các polit-isolator ở Verkhné-Ouralks, chiếu theo điều luật 59. Trong ṿng 3 năm
liên tiếp, từ nhà tù này qua nhà tù khác, từ các đon thỉnh nguyện đến việc
tuyệt thực, Ciliga không ngừng đ̣i hỏi quyền được ra khỏi xứ
Nga. Khi được trả tự do, ông đả toan tính tự tử. Cơ quan GPU
đả toan tính ép buộc ông từ bỏ quốc tịch Italie của ông. Bị đày
đi Sibérie, sau cùng ông bị trục xuất ra khỏi lănh thổ Nga vào ngày 3 tháng 12 năm
1935, đây là một trường hợp đặc biệt hiếm có. Nhờ có các lời
tố cáo của Ciliga, người ta đả được biết rỏ về các
trại polit-isolators : '' Các đồng chí trao cho chúng tôi các tờ báo phát hành trong nhà tù. Biết
bao nhiêu là tư tưởng và mỗi bài báo đều được tự do viết. Biết
bao nhiêu say mê và t́nh ngay thật trong việc tŕnh bày các vấn đề không những trừu
tượng và lư thuyết mà luôn cả những ǵ liên quan đến các thời sự c̣n nóng
bỏng. Nhưng sự tự do của chúng tôi không chỉ giới hạn ở điễm
này. Trong lúc được đi thả bộ ở trong sân của nhà tù và lúc mà nhiều pḥng
được ra ngoài cùng lúc ; các người bị giam thường hay có thói quen tụ họp
ở một góc sân để có một buổi họp đàng hoàng có chủ tịch, thơ
kư và các người diển giả, thay phiên nhau tŕnh bày các ư kiến. Về đời sống
vật chất như sau đây : Các thức ăn theo thực đon thường lệ của
người '' moujik '' thường dân hay nông dân nghèo : buổi sáng bánh ḿ và cháo , buổi chiều
củng vậy, suốt cả năm. Ngoài ra bửa ăn trưa được ăn súp,
cá thuộc loại tồi, các thức ăn đóng hộp và thịt gần đến t́nh
trạng hư thối. Củng món súp đó nhưng không có cá và thịt được cho ăn
vào buổi cơm tối. Mỗi ngày được 700 gờ ram bánh ḿ, mỗi tháng được
một kí lô đường. Ngoài ra người ta phát cho chúng tôi các khẩu phần thuốc
điếu, thuốc lá hay là sa-von. Các thức ăn đều đều này, đả không
đầy đủ cho sức khỏe . Chúng tôi phải tranh đấu kịch liệt để
người ta không giảm bớt số lượng cho các phần ăn ít ỏi này : Phải
nói là biết bao nhiêu cuộc đấu tranh gian khổ để chúng tôi đạt được
một chút ít cải thiện của cábc thức ăn hàng ngày. Nhưng dù sao chế độ
mà chế độ mà chúng tôi được hưởng phải coi là '' ưu đải
'' nếu so-sánh với chế độ của các nhà tù cho các tội thường phạm
và các triệu người bị giam cầm trong các trại ở miền Bắc. Nhưng
các điều '' ưu đải '' này nó chỉ là tương đối. Ở Verkhné-Ouralsk
các người tị nạn đả ba lần tuyệt thực vào tháng 4 và mùa hè năm 1931
và tháng 12 năm 1933 để bảo vệ các quyền lợi của họ và để chống
lại việc '' tái thi hành '' các án giam. Như bị án ở tù 3 năm, khi măn hạn th́ bị
coi là như chưa thọ án, lại ở thêm 3 năm. Khởi từ năm 1934, gần như
ở mọi nơi chế độ các tù chính trị đều bị bải bỏ trừ
Verkhné-Ouraksk th́ chế độ này c̣n duy tŕ cho đến năm 1937. Cách thức giam giữ
mỗi ngày trở nên tồi tệ hơn như : '' Các phạm nhơn đả chết v́
bị đánh đập, các phạm nhơn khác bị xử bắn và có nhiều người
bị '' biệt giam '' vào hầm kín như trường hợp của Vladimir Smirnov đả
xảy ra vào năm 1933 tạiSouzdal. Việc tội ác hóa các phạm nhơn, loại thật
hay loại phỏng định, nằm ở trong ḷng đảng cộng-sản và chẳng
bao lâuđả lan tràn đến các lănh tụ cao cấp cộng-sản. Người lănh đạo
đảng cộng-sản Espagne, José Bullejos và nhiều đồng chí của ông đả
được triệu tập đến Moscou vào mùa Thu 1932, và đả bị chỉ trích,
cùng phê b́nh về đường lối, chính sách của đảng ông. V́ đả từ
chối các '' đường lối bắt buộc ( diktat ) của tổ chức Komintern,
họ dẳ bị khai trừ toàn khối vào ngày 1 tháng 11 năm 1932, và từ đó bị
quản thúc ở khách sạn LUX, nơi trú ngụ của các vị lănh tụ. Lănh tụ người
Pháp, ông Jacques Duclos cựu đại diện của tổ chức Komintern, ở Espagne đả
đến thông báo cho họ quyết định khai trừ họ, và cho họ biết là :
Tất cả các mưu toan nổi loạn sẽ bị trừng phạt theo các h́nh luật
sô-viết. Bullejos và các đồng chí của ông đả rời khỏi nước Nga sau
hai tháng thương lượng gay go để lấy lại được giấy thông
hành của họ. Năm 1932, củng kết thúc một vụ ' không thể tưởng
tượng '' được, đả liên quan đến đảng cộng-sản Pháp-PCF.
Đầu năm 1931, tổ chức Komintern đả gởi một đại diện đến
đảng PCF và nhiều huấn luyện viên, để tái nắm vững đảng này.
Tháng 7, người chỉ huy thiệt thọ của tổ chức Komintern là Dimitri Manouilski
đả bí mật đến Paris. Ông này đả tiết lộ với bộ chính trị
của đảng cộng sản Pháp là ở trong ḷng đảng có một nhóm người
đang hoạt động để phân chia đảng này. Trên thực tế đây chỉ
là một sự dàn cảnh, để gây ra một cuộc khũng hoảng trong đảng
này và bộ chính trị khi giải quyết được khũng hoảng này sẽ yếu
đi ; sự tự trị của đảng chỉ c̣n lại chút ít và sẽ trở nên
hoàn toàn lệ thuộc vào Moscou. Trong các đám người bị chỉ định là có ư
làm phân chia hàng ngủ là tên Pierre Celor, một vị lănh tụ chính từ năm 1928 đả
bị triệu tập đi Moscou dưới chiêu đề là sẽ được bổ
nhiệm làm đại diện cho đảng cộng-sản Pháp ở tổ chức Komintern.
Nhưng vừa đặt chân đến Moscou, ông đả bị đối đải như
là một tên '' khiêu khích ''( provocateur ). Bị đặt ra ngoài lề đảng, không có lương
tháng, Célor chỉ sống trong túbng thiếu và đói suốt mùa đông nhờ vào thẻ tiếp
tế của vợ ông, bà này làm việc ở tổ chức Komintern ở Moscou. Ngày 8 tháng
3 năm 1935, ông được đ̣i đến dự một cuộc họp trong số cử
tọa có mặt các nhơn viên NKVD và trong một cuộc hỏi cung dài 12 giờ đồng
hồ, họ đả cố gắng bắt ông '' thú nhận '' là một người của
công an Pháp đả xâm nhập vào hàng ngũ của đảng cộng-sản Pháp. Celor không
thúb nhận ǵ cả và sau nhiều cuộc áp lực và quấy nhiểu, ông đả trở
về nước Pháp ngày 8 tháng 10 năm 1932, và liền sau đó bị tố cáo là Flic, tiếng
lóng của Pháp chỉ vào các người cảnh sát công an. Bắt đầu từ năm 1932, theo khuôn mẫu của đảng Bô-sê-vít, phần
lớn các đảng cộng sản của các nước khác đả tổ chức các
phân đội, các cán bộ trực thuộc thẳng với phân đội cán bộ trung
ương của tổ chức Komintern ở Moscou ; các phân đội này có nhiệm vụ
thành lập các hồ sơ đầy đủ của các người lănh tụ đảng
cộng-sản của nước ḿnh gồm có các câu hỏi về thân thế và các lời
tự khai của các lănh tụ cùng với tất cả các chi tiết. Riêng về đảng
cộng-sản Pháp đả có trên 5000 hồ sơ được chuyển về Moscou trước
khi xăy ra chiến tranh thế giới lần thứ hai. Các câu hỏi về thân thế gồm
có trên 70 câu hỏi, được chia ra dưới 5 tiết mục : 1/- Nguồn gốc
và thân thế trong xă-hội ; 2/- Nhiệm vụ ở trong đảng ; 3/- Học vấn và
tŕnh độ trí thức ; 4/- Gia nhập vào đời sống xă-hội ; 5/- Tư pháp kư-lịch
và nếu có lịch tŕnh bị đàn áp. Tất cả các tài liệu này dùng trong việc
lựa chọn các người lănh tụ, cho tất cả các đảng cộng-sản ngoại
quốc, được tập trung tại tổ chức Komintern ở Moscou, và tất cả
các hồ sơ tài liệu này đều do các lănh tụ Bôn-sê-vít : Anton Krajevski, Tchernomordik hay
Gevork Alikhanov lần lượt là những người chỉ huy phân bộ nay quản lư và
phân bộ này lại liên lạc với phân bộ các nước ngoài của cơ quan NKVD đả
được chỉ định làm tổng thư kư của Ũy ban Hành-pháp tổ chức
Komintern với nhiệm vụ kiễm soát các cán bộ. Dưới bí danh là Mikhail Moskvine, y
đả thâu thập các tin tức và các lời tố cáo, quyết định các việc
thất sũng ( disgrace ) và là giai đoạn đầu tiên đưa đến việc thủ
tiêu trong tương lai. Nhiệm vụ của các cán bộ này là thành lập các '' danh sách đen
'' các người bị coi là kẻ thù của chủ nghĩa cộng-sản và là kẽ thù
của Liên-bang Sô-viết. Ngay từ lúc mới thành lập và liền sau đó, các phân bộ
của tổ chức Komintern và các phân bộ ngoại quốc trực thuộc phân bộ trung-ương,
đả được coi là các '' ḷ tuyển mộ ''các nhơn viên t́nh báo cung cấp các
tin tức cho Liên-bang Sô-viết. Trong vài trường hợp, các người lănh tụ t́nh
nguyện làm các việc bất hợp pháp này, lẽ dỉ nhiên là làm ngầm ( clandestin ) họ
không biết là thực tế họ đả làm việc cho các cơ quan t́nh báo của Hồng-quân
là GRU hay là pḥng 4, cơ quan chuyên về thâu thập các tin tức ở nước ngoài của
Tchka. GPU ( Inostrany Otdel, Ino ), NKVD vân vân. Các cơ quan này liên hệ chằng chịt với nhau,
và họ có một sự ganh đua rất mạnh, đưa đến việc cơ quan
này t́m cách tuyển mộ nhơn viên của cơ quan khác. Trong cuốn hồi kư, Elsa Poretski
đả đưa ra nhiều việc do sự cạnh tranh này gây ra :
Các danh sách đen
của đảng cộng-sản Pháp-PCF Khởi đầu từ năm 1932, đảng
cộng-sản Pháp đả cho thiết lập các nguồn tin mà họ thâu thập được,
vào một danh sách các cá nhơn, các người bị nghi ngờ hay có thể trở nên nguy
hiểm cho họ. V́ dưới mắt họ các hoạt động của các cá nhơn này
đă ngược lại với chủ trương của họ. Các danh sách này được
thành lập song song với việc tổ chức Komintern, nắm lấy các cán bộ của
bộ phận mới được thành lập, theo lịnh của tổ chức trung-ương
Komintern. Việt thiết lập danh sách các người lănh tụ đả đưa ra mặt
trái của việc này : danh sách các lănh tụ đả '' thất bại '' dưới h́nh
thức này hay h́nh thức khác. Từ năm 1932 đến tháng 6 năm 1939, đả cho ra
công bố bản danh sách '' Đen '' dưới các tựa đề khác nhau nhưng tương
tự : Danh sách đen các tên khiêu khích ( provocateur ) các tên phản bội, các tên điềm chỉ
đả bị đuổi ra khỏi các tổ chức cách mạng ở Pháp, hay là danh sách
đen các tên khiêu khích, ăn cắp, lường gạt, trốt-kít, phản bội đả
bị đuổi ra khỏi hàng ngũ tổ chức công nhơn Pháp. Để chứng minh
cho các danh sách đen này, tính đến khi xảy ra đệ nhị thế chiến, đả
có trên 1000 tên người được công bố. Đảng cộng-sản Pháp dùng một
lư lẻ đơn giản : Cuộc đấu tranh giai cấp tư sản trưởng
giả chống lại giai cấp các công-nhơn và các tổ chức cách mạng, xăy ra ở
trong nước ta, đả trở nên mỗi ngày mỗi gay cấn hơn. Các người
lănh tụ phải cung cấp cách tả tướng mạo : chiều cao, màu tóc và lông mày, vừng
trán, màu của mắt, mủi, miệng, cầm, h́nh khuôn mặt, màu da, các dấu hiệu riêng.
Danh sách số 10 năm 1938. Phải cho biết tất cả các chi tiết để hầu
làm dể dải việc t́m kiếm những người bị tố cáo, và các nơi họ
cư ngụ. Mỗi một người lănh tụ là một người phụ lực công
an họ chơi tṛ các nhơn viên Tchéka nhỏ. Vài người bị t́nh nghi lại đúng
là các tên xảo trá có hạng, c̣n những người khác là những người chống
đối đường lối của đảng, hoặc là công khai, hoặc là ngầm.
Trong những thập niên 1930 họ nhắm vào các lănh tụ đả đi theo Jacques Doriot
và vùng hoạt động củng là vùng Saint Denis ; rồi đến các người thuộc
nhóm trốt-kít. Riêng đối với các người cộng-sản Pháp, họ đả
dùng lại các lư lẽ của người đàn anh sô-viết : Các người trốt-kít
đả trở thành một đám người điên khùng và là những người phá hoại
không nguyên tắc, là những nhân viên để làm xao lăng, và là những sát nhơn theo lịnh
của các tổ chức gián điệp ngoại quốc ( mục lục 1 của các bản
danh sách đen từ số 1 đến số 8 ). Đệ nhị thế chiến xăy ra,
và lịnh cấm của chính quyền được ban ra do đảng cộng-sản Pháp,
v́ đảng này đả ủng hộ cuộc liên minh Đức-quốc-xă với Nga sô-viết.
Rồi đến cuộc chiếm đóng của quân đội Đức trên nước
Pháp đả đưa đến việc tăng cường các hành động cảnh
sát. Những người lănh tụ cộng-sản Pháp, v́ ḷng ái quốc không ũng hộ liên
minh Staline-Hitler đưu bị tố cáo, luôn cả các người tham gia vào cuộc kháng chiến
chống Đức như : Adrien Langumier, tham gia kháng chiến nhưng ông này núp dưới
b́nh phong là chủ nhiệm của nguyệt san Thời-Mới-Le temps nouveaux. Cộng-sản
không tố cáo nhà Bác-học Fréderic Joliot Curie về bài báo ông này viết ngày 15 tháng 2 năm 1941
có tính cách liên lụy ông. Ông René Nicod, cựu dân biểu của vùng Oyonnax, tuy ông cư xử
không có điều ǵ đáng phàn nàn đbối với các đồng chí của ông củng
bị tố cáo. Công an của đảng củng t́m đủ mọi cách để thủ
tiêu Jules Fourrier, lănh tụ và là dân biểu, ông đả là người bỏ thăm tín nhiệm
trao toàn quyền hành động cho Thống-chế Pétain và cuối năm 1940, đả tham
gia vào tổ chức kháng chiến chống lại Đức ; ông bị quân Đức đưa
đi đày ở trại Buchenwald sau đưa qua trại Mauthausen. Ngoài những người
này, có những người vào năm 1941, đả tham gia vào việc thành lập đảng
các công nhơn và các nông dân Pháp tập hợp chung quanh cựu Tổng thư-kư đảng cộng-sản
Pháp là Marcel Gitton, bị bắn chết vào tháng 9 năm 1941, do các lănh tụ cộng-sản
ra tay. Đảng cộng-sản tự ban ra quyền để tuyên án : '' phản bội
đảng và nước Pháp '', và khi họ hạ sát một nạn nhơn, họ gài trên
thi thể nạn nhơn một miếng giấy có ghi : '' Đả xứng đáng đền
tội ''. Củng có xăy ra trường hợp người lănh tụ đả bị nghi
ngờ phản bội, bị ám sát chết và sau chiến tranh đả được phục
hồi danh dự, đó là trường hợp của George Déziré. Trong việc truy lùng các
người Do-thái, đảng cộng-sản đả dùng nhiều h́nh thức kỳ lạ
để tố cáo các người Do-thái : '' C.. Renée tự Tania, tự Thérèse ở quận
14 là người Do-thái gốc bessarabie. Hay là B.. Do-thái gốc ngoại quốc dèm pha đảng
cộng-sản và Liên-bang Sô-viết. Cơ quan MOI phụ trách các nhơn công di dân một tổ
chức tập họp các người lănh tụ cộng-sản người ngoại quốc
đả dùng một ngôn ngử đặc biệt : R.. người Do-thái đả hoạt
động với một nhóm người Do-thái thù địch, và họ củng không hề
bỏ sự thù ghét các người lănh tụ trốt-kít : D.. Yvonne ở số 1, công trường
Gal. Beurêt-Paris 7è là Trốt-kít có liên lạc với tổ chức Poum, dèm pha Liên-bang Sô-viết.
Chuyện có thể xăy ra là khi cơ quan công an Pháp thời Vichy và cơ quan Gestapo của Đức-quốc-xă
khi truy bắt các người bị tố cáo, cũng có thể t́m thấy các danh sách các đồng
chí của ngưới bị bắt. Vậy số phận của các người bị tố
cáo sẽ ra sao ?. Năm 1945, đảng cộng-sản Pháp cho công bố một loạt
các danh sách đen, để đưa ra '' quản thúc của quốc gia ''theo ư nghĩa của
nó, các người đối thủ chính trị mà đả có vài người đả thoát
được các mưu toan ám sát. Định chế hóa việc lập ra các danh sách đen,
lẽ dỉ nhiên đưa trở lại việc tạo ra danh sách các người bị
cáo hiện hữu của cơ quan an-ninh sô-viết ( Tcheka-GPU-NKVD ) Đây là một hành động
chung cho toàn thể các người cộng-sản, được phát minh vào thời lúc vừa
xăy ra cuộc nội chiến ở Nga. Ở Ba-lan vào lúc chiến tranh vừa chấm dứt,
những loại danh sách đen đả có 48 hạng người cần phải canh chừng.
Chẳng
bao lâu sự hổn độn của các cơ quan đả được vượt qua
với một yếu tố quyết định, tổ chức Komintern củng như các
cơ quan đặc biệt đều phải chịu dưới quyền tối cao của
ban lănh đạo đảng cộng-sản sô-viết thống nhất và phải phúc tŕnh
các hành động trước mặt và chỉ lo cho Staline thôi. Năm 1932, Martemiam Rioutine
người đả lănh đạo và thi hành triệt để các cuộc đàn áp các người
chống đối, đến lượt ông trở nên chống đối Staline. Ông đả
thảo ra một bản định hướng và ông đả viết : Staline, ngày hôm nay
đả có ở trong vị trí tổ chức Komintern ngôi vị của một vị giáo
hoàng không thể sai lầm, Staline đả nắm trong tay, bằng một sự lệ thuốc
về vật chất trực tiếp hay bán trực tiếp ; tất cả các vị lănh đạo
của tổ chức Komintern ở Moscou hay ở tại chổ, và đó là lư lẽ quyết
định để xác nhận sự vô địch trong lănh vực lư thuyết. Vào các năm
cuối thập niên 1930, tổ chức Komintern đả lệ thuộc tài chính vào nhà nước
Liên-sô, và đả mất hết phương tiện để có thể độc lập.
Nhưng sự lệ thuộc về vật chất lại làm nặng thêm về sự lệ
thuộc chính trị và thêm vào đó là sự lệ thuộc về công an. Sức ép càng ngày
càng mạnh của các cơ quan công an, vào các người lănh tụ của tổ chức Komintern,
đả đưa đến kết quả là việc gây ra sự sợ hải và sự
nghi kị lẩn nhau. Đồng thời việc tố cáo đả làm băng hoại các
việc giao tế, sự nghi ngờ xâm nhập vào óc mọi người. Việc tố cáo
nó có hai loại : các việc tố cáo do tự ư chí và sự tố cáo do các cuộc tra tấn
thể xác, được tạo ra bằng các sự hành hạ tâm thần. Nhiều khi việc
tố cáo nó củng do sự sợ hải gây ra. Trường hợp của lănh tụ cộng
sản Pháp André Marty, là điển h́nh của cơn cuồng say nghi ngờ, ích kỷ, kêu ngạo
quá đáng, dể giận và cùng với ḷng nhiệt thành không bị kềm chế, để
tự tỏ ra là người cộng sản có được sự cẩn trọng. Trong
một bức thư '' tuyệt đối '' riêng mật gởi cho Tổng-thư-kư của
tổ chức Komintern, đề ngày 23 thánh 6 năm 1937, ông đả viết một bản
cáo trạng dài để tố cáo người đại diện cho Quốc-tế Cộng-sản
ở Pháp là Eugen Fried và ông tỏ ra rất là ngạc nhiên v́ sao cảnh sát Pháp chưa bắt
giam người này và điều này đối với ông là điều đáng nghi ngờ. Củng
nằm trong loại này, trích dẫn của nhiều bức thư gởi cho đồng chí
L.P. Béria, ũy viên kiêm nhiệm các thường vụ Bộ-Nội-Vụ của Liên-bang Sô-viết
do nử đồng chí người Bulgare Stella Blagoieva, một nhơn viên loại hạ cấp
phục vụ tại phân bộ các cán bộ của ũy ban hành pháp của tổ chức
Komintern : Cơ-quan hành pháp có được nhiều báo cáo tin tức do các đồng chí, lănh
tụ các đảng anh em gởi tới mà chúng tôi nhận xét rất cần thông báo cho đồng
chí để đồng chí phối kiễm, và thi hành các biện pháp cần thiết. Một
người thư-kư của Ủy-ban trung-ương đảng cộng-sản Hongrie, tên
Karakach, trong các cuộc đàm thoại đả tỏ ra thiếu tận tâm vào đảng
của Lénine và Staline. Các đồng chí đả đặt ra câu hỏi nghiêm trọng : tại
sao vào năm 1932, ṭa án Hongrie chỉ kết án đồng chí có 3 năm tù giam, trong lúc ấy
ở Hongrie trong thời gian mà chế độ vô-sản chuyên chế ; Karakach đả hành
quyết các người bị ṭa án cách mạng kết án tử h́nh. Các bài diển văn của
các đồng chí người Đức, Áo, Lettonie, Balan và các nước khác đả nói
lên các giới di cư về chính trị đả bị làm ô-uế. Cần phải quyết
tâm loại bỏ hạng người này. Arkadi Vaksberg đả xác định là trong các
văn khố lưu trử của tổ chức Komintern, đả có hàng chục và có thể
có đến hàng trăm bức thơ tố cáo, một hiện tượng đả chứng
tỏ sự suy thoái về tinh thần và đạo đùc của các thành viên và các cán bộ
của đảng cộng-sản sô-viết. Các tinh thần suy thoái đả được
nổi bật khi diễn ra các cuộc xữ án lớn, xữ các vị lănh tụ thuộc
'' giới lăo thành '' Bôn-sê-vít, những người đả đóng góp công sức, trí tuệ
vào việc xây dựng một chính quyền dựa vào sự nói dối tuyệt đối.
Các
vụ xữ án lớn ở Moscou
Các hiện tượng về các cuộc khũng
bố cùng các vụ xữ án đả nêu lên nhiều câu hỏi khác nhau. Và Boris Souvarine đả
ghi bút về các điều này : Nếu ta nói là các vụ xử án ở Moscou là một hiện
tượng riêng biệt của người Nga, th́ đây là một nhận định quá
đáng. Dưới sự ghi dấu có tính cách quốc gia, người ta có thể nhận
định dưới khía cạnh tổng quát nhiều điều khác nhau. '' Trước
tiên cần phải từ bỏ định khiến là các điều ǵ đả đến
cho người Nga sẽ không có thể sảy ra cho người Pháp. Nói về việc các lời
thú tội mà các người Nga đả bị cưỡng bách phải cung khai, nó cũng
sẽ đến vợi người Pháp mà ta tưởng là các người sẽ lưỡng
lự mà không chịu làm dù dưới sự tra tấn. Và đối với các đảng
viên cuồng tín của chủ nghĩa Bôn sê vít, việc tự nhiên là nó củng sẽ xảy
ra ở ngoài nước Nga hơn là ở trong nội địa nước Nga. Vào những
ngày đầu của cuộc cách mạng tháng mười, việc giải quyết mau lẹ
các việc khó khăn, người ta có thể dựa vào điều gọi là '' linh hồn
người slave ''. Nhưng sau đó, với các việc xảy ra ở nước Đức
và nước Ytalie ; các việc tái diển nó cũng đặc biệt giống như các
việc đả xăy ra ở nước Nga. Với các ''Thú tính'' của con người
, khi các cơn này đả nổi lên th́ dù là các người La-tinh, Đức hay Slave, nó cũng
sẽ săy ra các hiệu quả tương tự dù dưới các h́nh thức và đîa bàn khác
nhau . Ngoài ra, người ta củng nhận thấy ở Pháp và ở các nơi khác có nhiều
loại người khi biết được các việc tàn ác dữ tợn do Staline gây ra,
đả làm họ cảm thấy dễ chịu hơn. Bộ biên tập của nhựt
báo Humanité đả không chịu thua nhựt báo Pravda đả đ̣ng tỏ ra quy lụy và
hèn hạ, mà không thể nói là không biết đả bị nằm vào gọng kềm ( tenaille
) của chuyên chế toàn diện. Ông Kamarou, nghị viên của viện hàn lâm Nga, đứng
ở công trường đỏ của Moscou đả lên tiếng đ̣i hỏi là cần
phải có thêm nhiều '' thủ cấp '' nửa, ông này đả tự làm ''ố danh'' (déshonorer)
nhưng ông đả không từ chối làm việc này,v́ ông đả tự biết rằng
nếu không làm tức là phải chọn con đường ''tự tử'' (suiside). Văy
ta nghỉ sao với các nhơn vật như Romain Rolland, Langevin hay Malraux, những người
đả từng ngợi khen chế độ mà người ta gọi tên Sô-viết, nền
''văn hóa'' của nó cùng với nền ''công lư'' nếu họ không bị đe dọa bởi
''cái đói'' hay ''cái tra tấn''. Báo Figaro Littéraire (văn chương) ngày 1 tháng 7 năm 1937
Cuộc
đại khủng bố diẻn ra trong khuôn viên điện Kremlin Ngày 1 tháng 12 năm
1934, đả xăy ra vụ ám sát lănh tụ Kirov đả cho Staline có thể '' có cớ '' để
cho thi hành ở tổ chức Komintern cùng với đảng cộng sản Nga, một cuộc
đàn ap và khủng bố nghiêm trọng. Lîch sử của đảng cộng sản Nga thống
nhất và cùng với lịch sử của Komintern đả đ̣ng bước vào một
giai đoạn mới. Các cuộc khủng bố đả từng nhắm vào xă hội dân
chính, nay được hướng vào các người nắm quyền tuyệt đối
( sans partage ) của đảng cộng sản Sô viết thống nhất và người tổng
thư kư quá nhiều quyền lực. Các người nạn nhơn đầu tiên là các
người đối lập đang bị giam cầm. Khởi đàu vào cuối năm 1935,
các phạm nhơn đả mản án tù đều bị bắt giam ttrở lại.Nhiều
ngàn người bị kết tội là ''trốt kít'' đả bị bắt giam và bị
tập trung ở Vorkuta. Có khoảng 500 người lao động ở trong các hầm mỏ
, một ngàn người bị giam ở trại Oukhto-Petchora ;và tất cả có hơn nhiều
ngàn người bị giam cầm trong vùng Petchora. Ngày 26 tháng 10 năm 1936, một ngàn người
trong số này bị bắt đi đ́nh công và tuyệt thực, cuộc tuyệt thực
này kéo dài trong 132 ngày. Họ đ̣i hỏi được giam riêng biệt, không giam chung với
các phạm nhơn thường tội hay giam chung với các người phạm tội ác,
và được sống chung với gia đ́nh của họ. Sau bốn tuần lễ, phạm
nhơn đầu tiên qua đời. Ṛi các phạm nhơn khác lần lượt chết v́
cuộc đ́nh công này được kéo dài cho đến khi ban quản đóc chấp thuận
các yêu sách của họ. Vào mùa Thu năm sau, một ngàn hai trăm phạm nhơn ( trong số
này có hơn một nữa là các người trốt kít ) đả được tập
họp ở gần một ḷ gạch củ. Cuối tháng 3, ban quản đóc đüa ra danh
sách 25 phạm nhơn, mỗi người được lănh 1 kílô bánh ḿ và được
lịnh ra đi. Một lát sau, người ta nghe tiếng nổ của một loạt súng.
Giả thuyết bi quan đả được đưa ra và người ta thấy đội
lính giải các phạm nhơn trở về nơi tập họp. Sau hai ngày, lại một
cuộc kêu tên và tấn tuồng lại diển lại ; và liên tiếp như vậy cho đến
cuối tháng 5. Các người lính đả tưới xăng ( essence ) vào các thi thể để
đót cháy hầu không c̣n dấu vết nữa. Cơ quan NKVD cho phát thanh trên đài vô tuyến
điện tên các người bị xữ bắn v́ đả phạm vào các tội '' hoạt
động phản cách mạng, phá hoại, ăn cướp, từ chối lao động
và toan vượt ngục ''.Các người đàn bà củng không được chừa ra
: Vợ của một người lănh tụ đả bị hành quyết cũng phải
chịu chung một số phận và luôn các trẻ em trên 12 tuổi củng chịu chung cảnh
ngộ. Khoảng 200 phạm nhơn trốt kít ở trại Magadan được coi là
'' thủ đô'' của vùng Kolyma củng đả tuyệt thực để đ̣i được
hưỡng quy chế chính trị. Trong bản tuyên ngôn của họ, họ đả tố
cáo các tên ''đao phủ thũ - ăn cướp'' ''và chế độ phát xít'' của Staline
c̣n tệ hại hơn chế độ (fascisme) cùa Hitler. Ngày 11 tháng 10 năm1937, họ bị
tuyên án tử h́nh và 74 người trong số này đả bị xữ bắn vào các ngày 26-27
tháng 10 vàb ngày 4 tháng 11. Các vụ hành quyết tương tợ được tiếp diễn
trong năm 1937 và 1938. Ở trong các nước mà có sự hiện diện của những
người cộng sản chính thống họ đưu nhận được mệnh lệnh
bài trừ ảnh hưỡng của các thiểu số lănh tụ đả kết hợp
chung quanh Trotski. Một hành động mới đả diển ra từ khi khởi đàu
cuộc chiến ở Espagne, đó là một phương cách thũ xảo để
ghép lại (assuer) chủ nghỉa phát xít với chủ nghỉa quốc xă (nazisme) trong lúc đó
th́ Staline sữa soạn việc ''xích gần lại'' với Hitler. Chẳng bao lâu, cuộc
Đại Khủng Bố do Staline chủ trương đả khởi phát nhắm vào tổ
chức trung ương cũa Kominter. Năm 1965, ông Branko Lazitch đă toan tính nghiên cứu các
công việc đầu tiên là t́m hiểu về việc thủ tiêu các thành viên của tổ
chức này với tựa đề là : '' Sự tuẩn giáo (martirologie) khổ nhục cũa
tổ chức Komintern.'' Boris Souvarineđả b́nh phẫm và kết luận về bài nghiêm
cứu của Branko Lazitch cùng với bài viết tiếp theo của ông này, một nhận định
về các người hợp tác loại tầm thường với tổ chức Komintern
, chính là những nạn nhơn vô danh của cuộc đại thanh trừng. Việc ghi nhớ
vào kư ức không phải là một việc làm vô ích, khi người ta đề cập tới
chương đặc biệt lịch sữ của chũ nghỉa cộng sản sô-viết
: Phần lớn các người đả biến mất (disparaître) trong cuộc tàn sát của
tổ chức Komintern vào lần này chỉ là một phần nhỏ nhứt (partie infime) của
số tàn sát không thể đếm được đả săy ra cho hàng triệu người
lao động và nông dân siêng năng bị tàn sát một cách vô lư bởi một chính sách vô nghĩa
(rime) bạo tàn quái đản mang chiêu bài vô sản. Các cán bộ của tổ chức trung
ưöng cùng các người ở các phân bộ của các nước đưu bị guồng
máy đàn áp nó hút vào và nghiền nát cùng một lượt với các người thường
dân. Với cuộc đại thanh trừng của hai năm 1937-1938, không chỉ có những
người đối lập là các nạn nhơn của các cơ quan đàn áp mà có luôn cán
bộ của tổ chức Komintern và các tổ chức phụ thuộc : Thanh niên quốc
tế cộng sản KIM, Công đoàn (syndicale) ĐỎ quốc tế Profintern, Cùu tế (secours)
ĐỎ MOPR, Trưởng chủ thuyết Lénine quốc tế, Đại học các sắc
tộc thiểu số ở phương Tây KUMNZ v.v .. Người con gái của người
bạn già và đồng chí của Lénine tên Wanda-Pampuch Bronska, đă thuật lại, dưới
một bí danh (prendonyme), vào năm 1936 toàn thể đại học KUMNZ đả bị giải
tán, tất cả các nhơn viên đều bị bắt và gần như toàn thễ các học
viên cũng vậy. Sử gia Milhail Panteleico, khi tra xét về các căn bản từ mọi
phân bộ và tất cả những bộ phận của tổ chức Komintern đả
truy ra con số 133 nạn nhơn ở trong số 492 cán bộ (tỷ lệ 27%). Vào ngày 1 tháng
giêng đến ngày 17 tháng 9 năm 1937, ũy ban hành pháp gồm có Mikhail Moskvine ( c̣n có tên
khác là Meir Trilissier) Wilhelm Florin và Jan Anvelt rồi đến tháng 5 năm 1937 ũy ban đặc
biệt gồm có Georgi Dimitrov, M. Moskvine và Dimitri Manouilski đả ra lệnh xa thải 256 người.
Thông thường th́ cán bộ nào đả bị xa thải, tùy theo thời gian sớm muộn
ǵ cũng sẻ bi bắt giam cầm : Elena Walter, phục vụ tại văn pḥng của Dimitrov
bị xa thải vào ngày 16 tháng 10 năm 1938, sau hai ngày liền bị bắt giam. Jan Borowski (Ludwik
Komorowski) cán bộ thuộc ũy ban hành pháp Komintern bị xa thảy vào ngày 17 tháng 7 th́ bị
bắt giam vào ngày 7 tháng 10. Trong năm 1937 đả có 88 cán bộ của tổ chức Komintern
đả bị bắt giam và năm 1938 lại có thêm 18 cán bộ khác cũng chịu chung số
phận. Nhiều người khác đả bị bắt tại nơi họ đang làm việc
như Anton Krajewski (c̣n có tên khác là Wladyslaw Stein) đang phụ trách về báo chí và tuyên truyền,
bị nhốt vào khám ngày 26 tháng 5 năm 1937. Nhiều người cán bộ khác, sau khi đi
công tác ở các nước ngoài liền bị bắt khi trở về quốc nội. Tất
cả các nhiệm sỡ, từ văn pḥng thư kư đến các đại diện những
đảng cộng sản của các nước ngoài đưu bị dính líu đến các việc
bắt giam. Trong hai năm 1937-1938, 41 người cán bộ thuộc văn pḥng thư kư của
ủy ban hành pháp đả bị bắt giam. Trong ḷng của tổ chức liên lạc OMS,
đến năm 1936 đả có 34 người bị bắt giam. Chính bản thân Moskvine củng
bị bộ máy đàn áp ''đớp'' (happer) vào ngày 23 tháng 11 năm 1938 và bị kết án
tử h́nh vào ngày 1 tháng 2 năm 1940 và liền bị xữ bắn. Jan Anvelt đả chết
v́ bị tra tấn và cán bộ A. Munch-Petersen gốc người Đan mạch đả chết
ở trong nhà thương của một khám đường v́ bịnh lao phổi. Năm chục
người cán bộ trong số này có 9 phụ nữ đă bị xữ bắn ; Cô Lydia DuÙbi,
người gốc Thụy sĩ và là người chịu trách nhiệm một hệ thống
''bí mật'' ở Paris của tổ chức Komintern, đả bị triệu hồi về
Moscou vào đầu tháng 8 năm 1937. Vụa về đến nơi cô liền bị bắt
cùng với hai người hợp tác là Brichman và Wolf, bị buộc tội là đă tham dự
vào tổ chức '' trốt kít chống Sô viết'' và làm gián điệp cho nước Đức,
nước Pháp, nước Nhật bản và luôn cả .. .. nước Thụy sĩ. Cô đă
bị tập đoàn quân sự của ṭa án tối cao Liên bang sô-viết tuyên án tữ h́nh ngày
3 tháng 11 và vài ngày hôm sau th́ bị hành quyết ; việc có quốc tịch của nước
Thụy sĩ không thể che chở cho cô và gia đ́nh của cô th́ được thông báo một
cách tàn nhẫn về án này mà không có một lời giải thích nào cả. Stanislaw Skoulski (c̣n
có tên làMartens) bị bắt giam vào tháng tám và bị xữ bắn vào ngày 21 tháng 9 năm 1937.
Vợ của ông là L. Jankovski người gốc Ba lan bị kết án tám năm tù giam v́ có
tội là thành viên trong một gia đ́nh của một tên phản tổ quốc. Nguyên tắc
và trách nhiệm gia đ́nh đả được áp dụng cho người thường
dân cũng đả lan tràn qua các thành viên của bộ máy chính trị. Ossip Piatnitski (có tên
là Tarchis) đả là lănh tụ số 2 cho đến năm 1934 của tổ chức Komintern,
chỉ đứng sau Manouilski. Ông được ũy nhiệm trách vụ tổ chức
( lo riêng về các vụ tài chánh cho các đảng cộng sản của nước ngoài và
các liên lạc bí mật của Komintern toàn thế giới) và sau được bổ nhiệm
phụ trách phân bộ chính trị và hành chánh của ũy ban trung ương đảng cộng
sản thống nhất sô viết PCUS. Ngày 24 tháng 6 năm1937, ông đả lên tiếng tại
đại hội toàn đảng của ũy ban trung ưöng để phê b́nh về việc
các biện pháp đàn áp và việc ban các quyền đặc biệt cho vị chỉ huy của
cơ quan NKVD là Iejov. Staline đả trở nên giận giữ và đả bắt buộc
phải tạm ngưng cuộc họp và đả cho làm các áp lực tồi tệ nhứt
để Piatnitski hối cải. Nhưng việc không thành, ngày hôm sau họp trở lại
Iejov đả tố cáo Piatnitski, ngày xưa đả là nhơn viên công an của nhơn viên
Nga hoàng và ông này liền bị bắt vào ngày 7 tháng 7. Iejov đả cưỡng bách Boris Muller
(Melnikov) đả tố cáo chống lại Piatnitski, đến ngày 29 tháng 7 năm 1938 Muller
bị hành quyết. Tăp đoàn quân sự ṭa án tối cao của sô viết đả xữ
Piatnitski nhưng ôbng này đả không nhận ḿnh la thủ phạm làm giám điệp cho nước
nhật bản. Bị kết án tữ h́nh, ông này bị xữ bắn vào đêm - 2giờ rạng
ngày 30 tháng 7 năm 1938. Nhiều cán bộ thuộc tổ chức Komintern đả bị hành
quyết v́ bị tố cáo là thuộc vào tổ chức ''chống Komintern, dưới sự
chỉ huy của Piatnitski, Knorin (Wilhelm Hugo) và Béla Kun. C̣n có nhiều người khác được
coi là thuộc phe Trốt kít hay là phản cách mạng. Người cựu chỉ huy công xă
Hung gia lợi (Hongrie) là Béla Kun vào đầu năm 1937 đả chống lại Manouilski,
đả bị người này (có lẽ theo chỉ thị của Staline) và bị coi là các
lời phê b́nh của Béla Kun là nhắm thẳng vào Staline. Béla Kun đả phản đối
và để tỏ ḷng thành thật của ḿnh, ông ta đả phản công trở lại nhắm
vào Manouilski và Moskvine và theo ư của Béla Kun hai người này phải chịu trách nhiệm về
việc làm ''đại diện xấu'' cho tổ chức Komintern bên cạnh đảng cộng
sản thống nhất Sô-viết PCUS, và củng theo sự nhận định của ông,
đây là nguyên do của các việc đả đưa đến sự vô hiệu lực
của tổ chức Komintern. Hiện diện trong buổi họp này có các lănh tụ của
các đảng cộng sản nước ngoài : Palmiro Togliatti, Otto Kunsinen, Wilhelm Pieck, Klément
Gottwald, Arvo Tuominen, không một người nào lên tiếng bảo vệ. Sau cuộc họp,
Georgi Dimitrov đả xin chấp thuận một nghị quyết : vụ Béla Kun sẽ do
một uỹ ban đặc biệt cứu xét. Theo đường lối của ủy ban
đặc biệt, Béla Kun chỉ có quyền bị bắt giam lúc rời khỏi pḥng họp.
Ông này đả bị hành quyết ở dưới hầm nhà tù Loubianka vào lúc nào không ai biết. Theo
sự nhận xét của M. Panteleĩev, mục đích tối thượng của các cuộc
thanh trừng là tận diệt tất cả các cuộc chống đối lại chính sách
độc tài của Staline. Tất cả các người nào có thiện cảm với các người
Thợ thuyền chống đối, hay là những người nào c̣n có liên lạc với
các người lănh tụ ngày xưa gần với Trotskilà những cái mục tiêu đàu tiên
của các việc đàn áp. Các nhà lănh tụ người Đức đả từng thuộc
vào phân bộ do Heinzheumann ( đả bị thủ tiêu vào năm 1937 ) hay là những người
lảnh tụ thuộc nhóm dân chủ trung ưöng, tất cả cùng đều chịu chung
số phận là bị đàn áp. Vào thời đó, theo lời khai của chứng nhơn Jalov
Matousov, chỉ huy phó của phân bộ công an '' mật '' của GUGB-NKVD, mỗi một người
chỉ huy cao cấp của bộ mày điều khiển nhà nước đều có một
hồ sơ riêng, mà người này không được biết, trong hồ sơ này thâu thập
mọi tin tức và tài liệu để có thể dùng để ''chống lại'' y khi nào
cần đến. Các vị lănh tụ như Kliment Vorochilov, Andrei Vychinski, Lazare Kaganovitch, Mikhaĩl
Kalinine, Nikita Kroutchev, đồng đều có hồ sơ cá nhân. V́ vậy, việc có thể
có là các nhà lănh đạo của tổ chức Komintern đều bị đặt dưới
sự ngờ vực như các lảnh tụ có tên được kể ở phần trên. Chúng
tôi xin thêm vào là các vị lănh tụ cao cấp gốc không phải là người Nga, thuộc
tổ chức Komintern cũng tham dự đắc lực vào các cuộc đàn áp. Một trường
hợp điễn h́nh là lănh tụ người Italie là Palmiro Togliatti, một trong những
người thư kư của tổ chức này và sau khi Staline đả qua đời được
coi là người cởi mở và chống đối lại các hành động cùng phương
pháp khủng bố. Nhưng chính Togliatti đả đùng lên tố cáo Hermann Schubert, một
càn bộ của tổ chức Cứu giúp đỏ quốc tế và đả cản trở
người cán bộ này đùng lên giải thích các điều bị tố cáo, trong cuộc
họp. Bị bắt giam sau đó, Schubert đả bị xữ bắn. Hai vợ chồng
Petermann là người cộng sản đả tị nạn ở Nga sau khi Hitler nắm chính
quyền ở Đức vào năm 1933 đả bị Togliatti, tố cáo trong một buổi
họp là '' các nhơn viên của Hitler'', v́ hai vợ chồng này vẫn liên lạc thư từ
với gia đ́nh . Vài tuần lễ sau đó, họ đều bị bắt. Togliatti đả
hiện diện trong cuộc ''tế thần Béla Kun'' và đả kư tên vào bản nghị quyết
lên án tữ h́nh người này. Ông củng tham dự vào ''cuộc thủ tiêu'' đảng
cộng sản Ba lan vào năm 1938. Vào dịp này ông đả chấp thuận vụ xữ
án lần thứ ba ở Moscou và đả kết thúc : '' Hảy giết các tên gây ra chiến
tranh, hảy giết các tên gián điệp, và các tên phát-xít ! Hoan hô đảng của Lénine và
của Staline, là những người bảo vệ nhiệt t́nh cuộc cách mạng tháng 10,
bảo đảm thắng lợi cho cuộc cách mạng thế giới ! Hoan hô người
tiếp tục sự nghiệp của Feliks Dzerjinski, hoan hô Nicolas Iejov.''
Khủng bố trong ḷng đảng cộng-sản
Sau
khi đả ''thanh trừng'' xong các phần tử mà đả bị Staline nghi ngờ là chống
lại ông trong ũy ban trung ương của tổ chức Komintern, ông quay sang tiếp tục
''thanh trừng'' các phân bộ của ''Quốc tế cộng-sản''. Phân bộ đầu
tiên được ông chiếu cố đến là phân bộ của đảng cộng-sản
Đức. Cộng đồng người Đức sống trên đất Nga gồm có
: (ngoại trừ các người mang quốc tịch Nga) mà nguồn gốc là hậu
duệ của các người dân Đức, đă di cư sang vùng sông Volga, theo lời kêu gọi
của hoàng tử Catherine II vào thế kỹ thứ 18, các người của đảng
cộng sản Đức KDP, các người chống phát-xít tị nạn ở Ngavà các người
công dân của nền cộng ḥa Weimar họ đả t́nh nguyện sang Nga để xây dựng
''chủ nghĩa xă-hội''. Tất cả các đùc tính thuộc loại này đả không
có một hiệu năng nào có thể bảo vệ họ khi mà lhởi điễm của
các cuộc bắt giam đă diễn ra vào năm 1933. Tổng số là 2/3 các người Đức
chống Phát xít di cư sang Nga là nạn nhơn của các cuộc đàn áp. C̣n về số
phận của các người lănh tụ đảng cộng-sản Đức, sốphận
của ho đả được định đoạt trên các danh sách có tên là : ''Kaderlisten''
do các lănh tụ của họ là Wilhelm Pieck, Herbert Welner và Wilhelm Florin đồng chịu trách
nhiệm lập nên danh sách này dùng để khai trừ hay là hành quyết các đảng viên.
Danh sách đầu tiên đề ngày 3 tháng 9 năm 1936, và danh sách chót đề ngày 21 tháng 6
năm 1938. Sau chiến tranh đảng cộng sản ở Đông Đức đổi
tên là đảng xă hội thống nhất SDE, đả cho lập một ũy ban kiễm
soát về các bản danh sách của ''Kaderlisten''và đả thông báo có con số là 1.136 người.
Vào năm 1937 con số các người bị bắt giam lên đến 619 người và tiếp
tục cho đến năm 1941 thêm 21 người. Người ta không biết số hơn
phân nửa số phận của củ các người bị tù đài này ( trong số 666 người
bị án ). : có lẽ họ đả chết trong lúc bị đưa đi đày hay đả
chết ở các trại giam cưởng bách lao động. Được biết rỏ
là đả có 82 người bị hành quyết, 197 người đả chết v́ bị
tra tấn hoặc là ở trong các khám đường và 132 người đả bị giao
trả lại cho công an của nước Đức vào thời bấy giờ là cơ
quan Gestapo. C̣n lại 150 người khác đả bị kết án tù rất là nặng, và họ
đả sóng sót, sau khi đả ỏ số năm bi kết án và họ được rời
đất Nga. Một trong các lư do buộc tội các người này là họ đả thất
bại trong các hành động chống lại cuộc thắng bầu cữ để cho
Hitler lên nắm chính quyền và để chủ nghỉa Quốc Xă đả thành công trên
đất Đức. Giai đoạn thê thăm và tệ haị nhất đả xảy ra khi
mà Staline đả tỏ ra thái độ '' vô liêm sĩ'' thái quá ; đó là việc ông chuyễn
giao cho Hitler các người chống Phát xít. Từ đầu năm 1937, các người cầm
quyền sô viết đả quyết định trục xuất các người dân Đức
này ra khỏi đất Nga. Ngày 16 tháng 2, mười người được biết tên
sau đây : Emil Larisch một chuyên viên sinh sống tại Nga từ năm 1921, Arthur Thils kỹ
sư sang Nga vào năm 1931, Kurt Nixdorf giáo sư đại học phục vụ ở học
viện Mars-Engel và Wilhelm Pfeiffer người cộng sản. Họ bị bắt từ năm
1936 với tội trạng là làm gián điệp và có các hoạt động ''thân phát xít'', và
đại sứ của Đức quốc là Von Schulenburg đả can thiệp cho họ
với bộ ngoại giao sô viết, thời đó do Maxime Litvinov lănh đạo. Lúc giải
giao cho công an Đức, Pfeiffer đả mưu toan tự tữ sau khi xin được
trục xuất sang nước Anh bị thất bại v́ y biết chắc chắn rằng
nếu về đến Đức th́ y sẽ bị giết. Sau 18 tháng bị giam cầm,
họ bị giải lao qua biên giới Nga-Balan và từ đó không có ai biết rơ được
số phận của họ ra sao. Trong lúc di chuyễn xuyên qua nước Balan để đến
nước Đức, khi đi qua Varsovie, Arthur thils đả may mắn chạy thoát vào ṭa
đại sứ Anh quốc để xin tị nạn chính trị. Các người khác đả
không có được sự may mắn này. Otts Walther làm nghề in trên thạch bản và cư
ngụ ở Léningrad từ năm 1908, khi bị đưa về đến Berlin ngày 4 tháng
3 năm 1937, và tạm trú ở một trung tâm tiếp cư, ông này đả nhảy lầu
qua cửa sổ để tự tữ. Cuối tháng 5 năm 1937, đại sứ Von Schulenburg
đả chuyễn giao cho nhà cầm quyền sô viết, hai danh sách người Đức
bị bắt giam và mong là họ sẽ bị trục xuất ra khỏi nước Nga. Trong
số các tên nơi hai danh sách này có tên nhiều người chống Phát xít và Kurt Nixdorf. Các
cuộc thương lượng được diễn ra dưới một thể thức
mới : các người so viết chấp thuận việc trục xuất các người
Đưc theo lời yêu cầu của ṭa đại sứ Đức ( một số là 37
người đă bị trục xuất rồi). Trong 2 tháng, tháng 11 và tháng 12 năm 1937 một
số là 148 người Đức đả bị trục xuất ; và trong năm 1938 có thêm
445 người bị trục xuất. Bị giải giao đến biên giới các nước
Balan và Lettonie, có khi từ Finland những người bị trục xuất này - trong số
này có các người Áo thuộc Schutzbünder - họ liền bị các người đại
diện cho nước Đức kiễm soát họ. Trong trường hợp của Paul Meisel,
người cộng sản Áo bị trục xuất, y bị giải đến biên giới
nước Áo vào tháng 5 năm 1938 và giao cho cơ quan Gestapo. Là người Áo, y bị đüa
vào trại Auschwitz và biệt tích luôn từ đó .
Việc ' thông đ̣ng cực tốt
'' giữa nước Đức quốc xă và nước Nga sô viết đả báo trước
về bản thỏa ước Sô-viết - Quốc xảđược kư kết vào mùa
thu năm 1939 và đả nói lên thực chất của việc hội tụ nơi các chế
độ độc tài ( nhận sét của Lorge Semprun.) Sau khi thỏa ước được
kư kết, việc trục xuất các người dân Đức đả diễn ra trong các
điều kiện thê thăm hơn. Sau khi đả đánh bại nước Balan do Hitler và
Staline, hai cường quốc này đả có một biên giới chung và có thể đưa
các người bị trục xuất từ các khám đường sọ-viết qua thẳng
các khám đường Đức quốc xă. Từ năm 1939 đến năm 1941 đả
có từ 200 đến 300 người cộng sản Đức đả được
giải giao cho cơ quan Gestapo, để cho người đồng minh mới ( sô viết
) được dịp chứng tỏ thiện chí của ḿnh. Ngày 27 tháng 11 năm 1939, một
thỏa ước mới được hai bên kư kết. Từ tháng 11 năm 1939 đến
tháng 5 năm 1941 khoảng 350 người đả bị trục xuất trong số này có
85 người Áo. Trong số người này có Franz Koristchoner, một trong những người
sáng lập ra đảng cộng sản Áo, và sau đả là cán bộ của tổ chức
quốc tế công đoàn đỏ ; sau khi bị đüa đi đày ở miền cực
Bắc, ông bị giải giao cho cơ quan Gestapo, được giải về Vienna, ông bị
tra tấn và hành quyết ở Auschwitz ngày 7 tháng 6 năm 1941. Các nhà cầm quyền sô viết
'' bất chấp '' việc các người bị trục xuất là gốc Do thái ( họ
thi hành chính sách : tao muốn giết nhưng sợ mang tiếng ác, giải giao cho bọn Quốc
xă, sớm muộn ǵ nó cũng giết chết như thế sẽ tạo thêm sự căm
thù với bọ Đức quốc xă). Nhạc trưỡng và sáng tác nhạc Hans Walter David,
người Do thái và đảng viên KDP đả bị giải giao cho cơ quan Gestapo và bị
giết trong pḥng hơi ngạc vào tháng 6 năm 1942 tại trại Madjanek ; cùng nhiều trường
hợp khác : Nhà vật lư học Alexandre Weissberg đả sốngsót và đả viết hồi
kư. Người vợ của Heinz Neumann, người đả bị khai trừ ra khỏi
ban lănh đạo của KDP và đả di cư qua Nga, tên là Magarete Buber-Neumann đả là
chứng nhơn và đả tố cáo việc thông đ̣ng giữa So viết và Đức
quốc xă. Sau khi bị đüa đi lưu đày ở Karaganda thuộc vùng Sibérie, bà cùng các
người vô phước khác đả bị giải giao cho cơ quan Gestapo vào tháng 2 năm
1940. Cuộc '' trao đổi '' này đả khiến bà bị giam ở trại giam Ravenbruck.
Bà Neumann đả thuật lại trong quyễn hồi kư của bà như sau :
Chuyện
xăy ra trên cầu Brest-Litovsk Ngày 31 tháng 12 năm 1939, người ta đả gọi chúng tôi
thức dậy vào lúc 6 giờ sáng, sau khi bận quần áo và cạo râu, chúng tôi ngồi chờ
đợi một vài giờ trong một căn pḥng. Cùng với chúng tôi có một người
Hung gia lợi gốc Do thái, ngựi này tên Bloch, y đả trốn qua Đức sau cuộc
thất bại của công xă 1919. Nhờ dùng giấy tờ giả mạo, y đả sinh
sống ở Đức với giấy tờ giả mạo này và tiếp tục hoạt
động cho đảng. Về sau y cũng di cư sang Nga, và vẫn dùng giấy tờ giă
mạo. Y đả bị bắt và mặc dầu đả phản đối liên tục,
y vẩn bị giải giao cho cơ quan Gestapo. Trong đêm 31 tháng 12 qua sáng 1 tháng giêng năm
1940, đoàn xe lửa vẫn tiếp tục chạy, chuyến tàu này đả đưa trở
về đất Đức 70 người chiến bại. Đi xuyên qua nước Ba lan
bị tàn phá v́ chiến tranh, chúng tôi tiếp tục đi về thành phố Brest-Litovsk. Trên
chiếc cầu tên Bug chúng tôi đợi các nhân viên của chế độ độc tài
của Âu-châu, đó là cơ quan Gestapo. Alexandre Weissberg trong chuyến di chuyễn này đă
đào thoát được. Ông này đă liền gia nhập vào đội ngũ kháng chiến
người Balan và cùng chiến đău với các người này. Sau khi chiến tranh chấm
dứt, ông đă vượt thoát qua nước Suède, Thụy điễn và sau ông qua nước
Anh. Trong quyễn hồi kư của ông và của bà Neumann với tựa đề : Tôi tố
cáo, nhà xuất bản Fasquella 1953, Ông viết '' Có ba người đả từ chối
đi qua cầu : một thầy giáo người Đức mà tôi quên mất tên, một ngưới
thợ tên Bloch người Hung gia lợi, và một người Do thái. Họ đả bị
dùng sức mạnh lôi qua cầu. Các người lính SS đả nổi cơn phẩn nộ
và họ trúc lên đàu người Do thái. Chúng tôi được chuyễn lên một đoàn
xe lửa khác và đưa về Lublin ...., tại đây cơ quan Gestapo tiếp quản chúng
tôi và chúng tôi biết thêm rằng khi cơ quan NKVD giao chúng tôi cho những người lính SS
quốc xă, họ cũng giao luôn tất cả hồ sơ cá nhân của chúng tôi. V́ vậy
trong hồ sơ với tên thiệt của tôi, c̣n có ghi tôi là vợ của lănh tụ cộng
sản Neumann và chồng tôi là người bị nhũng người Đức quốc xă
khinh ghét nhất . Bà Magarete Buber-Neumann đả là nhơn chứng và lời tố cáo trên.
Bà đả khai trước ṭa án , nhơn vụ xữ án của Lettres françaises chống lại
(kiện) Kravchenko, phiên xữ thứ 14. Bản ghi chép tốc kư đăng trên báo La Jeune Parque
1949 - Bà Magarete Buber-Neumann bị cơ quan NKVD bắt đưa đi đày ở Sibérie vào năm
1937. Sau bà bị giải giao cho các người quốc xă Đức và bị đưa đi
giam ở trại tập trung Ravensbruck. Bà sống sót và được giải thoát vào năm
1945. Cùng một lượt với các người cộng sản Đức, các người
lănh đạo của đảng cộg sản Palestine, trong số này có một số người
đả di cư trước khi xảy ra chiến tranh, cũng bị bộ máy khủng
bố ''đớp'' (happer) luôn. Joseph Berger ( 1904-1978) cựu thơ kư của đảng cộng
sảnPalestine (tên viết tắt PCP) từ năm 1929 đến năm 1931 , đả bị
bắt giam ngày 27 tháng 2 năm 1935 và chỉ được trả tự do sau đại hội
lần thứ 20 của đảng cộng sản Sô viết vào năm 1956. Nhiều người
lănh tụ cộng sản khác đả bị hành quyết vào nhiều ngày khác nhau hay đả
biến mất trong các trại cưởng bách lao động. Ông Wolf Averbuch đả được
làm giám đóc xưởng chế tạo máy kéo ở Rostsv trên sông Don, đả bị bắt
giam vào năm 1936 và bị hành quyết vào năm 1941. Chính sách tiêu diệt có phương pháp
các đảng viên của PCP hay là các nhóm '' xă hội - Do thái '', những người này đả
di cư sang Nga, chính sách này có liên lạc với chính sách sô-viết đối với thiểu
số dân gốc Do-thái với việc thành lập vùng tự trị ở Birobidjan với các
người chịu trách nhiệm đả bị tố cáo buộc tội '' kẽ thù của
nhơn dân''. Sau ông này, các nhà lănh đạo của vùng tự trị này củng bị khiển
trách (réprimé). Samuel Augurskij (1884-1947) đả bị tố cáo là đả thuộc vào nhóm ''
judéo-phát xít''. Tất cả thành viên của phân bộ Do thái của đảng cộng sản
Nga (tên Jewsekija) đều bị giải tán. Mục đích là phá bỏ các cơ cấu Do-thái
trong lúc nhà nước sô-viết đang t́m sự giúp đở của tất cả các người
Do-thái sinh sống ngoài đất Nga. Một trong những nhóm chịu sự khủng bố
khốc hại và nặng nề hơn mọi nhóm khác là nhóm các người cộng sản
Balan. Trong các bản thống kê về các cuộc đàn áp, họ đứng vào hàng thứ
hai sau các người Nga. V́ ở một hoàn cảnh đặc biệt, đảng cộng
sản Balan đả bị tuyên bố '' giải tán '' chính thức sau một cuộc biểu
quyết '' mau chóng '' của (tổ chức Komintern), uỹ ban hành chánh trung ưöng ngày 16 tháng
8 năm 1938. Staline đả luôn luôn nghi ngờ đảng cộng sản Balan (tên viết
tắt KPP) là đả liên tục có nhiều khuynh hướng sai lạc và trật đường
lối. Có nhiều người lănh đạo của đảng này đả là các người
thân cận của Staline vào trước năm 1917 và đả sống lẫn lút ở nước
Nga, không được một sự bảo vệ pháp lư nào cả. Năm 1923, KPP đả
ngă theo phía Trotski. Trước khi Lénine qua đời, ban lănh đạo đả chấp thuận
một nghị quyết thuận lợi cho phái công nhơn chống đối. Và sau đó
đả theo khuynh hướng của người Lục Xâm Bảo (Luxembourgisime) và đả
bị phê b́nh. Nhơn kỳ đại hội 5 của tổ chức Komintern, Staline đả
xa thải ban lănh đạo lịch sữ của KPP - là Adolf Warski, Maximilian Walecki và Wera Kostrewa-Kochtchva
- bước đàu tiên để nắm lấy quyền kiễm soát của tổ chức
Komintern. Về sau KPP bị tố cáo là cái ổ của tổ chức Trốt-kít. Việc
tóm tắt ngán ngủi này đả có thể giải thích riêng cho việc thanh trừng cấp
tiến đối với nhiều vị lănh tụ của đảng này mà phần lớn
là gốc Do Thái. Và củng có vụ : Tổ chức quân sự Ba lan (tên viết tắt là POW)
vào năm 1933. (xin xem phần đóng góp của Andrzej Pacj Paczkowski) Và củng xin ghi nhớ yếu
tố sau đây : chính sách của tổ chức Kominternlà bắt buộc phân bộ cộng
sản Balan là phải làm suy yếu chính quyền quốc gia Balan để có lợi cho liên
bang Sô viết và nước Đức. Có giả thuyết (hypo thèse) theo đó việc giải
tán KPP đả do yếu tố của nhucầu để sửa soạn việc kư kết
thỏa ước Đức quốc xă vàNga Sô viết, giả thuyết này đáng được
chú ư. Đường lối hành sự của Staline đáng được chú ư, với các
lịnh và các chỉ thị của Komintern đả lần lượt ra lịnh cho các lănh
tụ cộng sản Ba lan, các người này ít lâu sau đó sẽ là các nạn nhơn của
các cuộc thanh trừng do Staline chủ xướng, lịnh triệu hồi họ trở
về moscou và v́ vậy gần như không có được một người nào thoát khỏi
bị thanh trừng. Trong số người bị bắt giam chỉ có Wladyslaw Gomulka. Tháng
2 năm 1938 tờ báo Thơ tín quốc tế (Correspondance internationale) suất bản mỗi
tuần 2 số, dưới bút hiệu của J. Swiecicki đả viết bài tố cáo toàn
thể các đảng viên đảng KPP. Trong cuộc thanh trừng khởi đầu từ
tháng 6 năm 1937, người tổng thư kư tên Julian Lenski đả được triệuhồi
sang moscou và biến mất từ đó. Mười hai người của ũy ban chấp
hành trung ương cùng nhiều người lănh tụ thuộc loại hai và hàng trăm đảng
viên bị thu tiêu. Việc thanh trừng lan tràn qua các đảng viên đang chiến đău
ở trong đội ngủ của Trung đ̣an quốc tế (Brigade nationale) đang xung kích
ở mật trận nội chiến Espagne : các chánh trị viên trung đ̣an Dombrowski, Kazimerz,
Cichowski, và Gustav Reicher liền bị bắt khi trở về moscou. Măi đến năm 1942,
v́ nhu cầu chính trị để có tiếng nói chống lại ảnh hưởng của
chính phủ Balan hợp pháp tị nạn tại Londre, khi ấy Staline mới cho lịnh tái
thành lập lạiđảng cộng sản Balan dưới tên là ĐảngCông Nhơn Balan
(Parti ouvrier Blonais) viết tắt là PPR và đảng này về sau là nồng cốt cho chính
phủ Balan sau chiến tranh. Đảng cộng sản Yougoslave cũng đả chịu
quá nhiều đau khổ do các cuộc khũng bố của Staline ra lịnh. Năm 1921 đảng
cộngsản này đả chính thức bị cấm hoạt động, các đảng
viên thọat đàu di tản sang Vienna vào các năm từ 1921 đến 1936, rồi sang Paris
từ năm 1936 đến 1939. Nhưng một số đông đảng viên đả chạy
qua moscou vào năm 1925 và nơi đây được coi là trung tâm. Họ là các học viên trường
đại học của các dân thiểusố cộng sản, của trường Quốc
tế chính sách Lénine, và của trường Đại học cộng sản Serdlov.Đến
năm 1929, vị vua Yougoslave la Alexandre thiết lập chế độ độc tài, lại
thêm một lớp mới dân Yougoslave chạy qua sô-viết, tăng cường thêm số người
Yougoslave đả sống tại đây. Trong các năm của thập niên 1930, tại liên
bang sô-viết đả có từ 200 đến 300 người dân Yougoslave sinh sống và là
các cán bộ của cơ quan Komintern, hay trong các tổ chức quốc tế khác và rieng cho
tổ chức thanh niên cộng sản Quốc tế. Lẽ dĩ nhiên các tổ chức này
đưu do đảng cộng sản sô-viết thống nhứt lănh đạo. Các người
cộng sản Yougoslave viết tắt là PCY. Trong nhiều trường hợp đả phải
có sự can thiệp của tổ chức Komintern vào các cuộc tranh giành, các cuộc can thiệp
đả thường xuyên diễn ra và nhiều khi có tính cách cưỡng bức. Vào giữa
năm 1925 đả diễn ra một cuộc liễm soát - khai trừ ( tên gọi là Tchistka
) ở trong tổ chức KUMMZ, các học viên của trường Đại học này có
khuynh hướng thiên về phía các người thuộc nhóm Công giáo chống đối. Opposition
Ouvrière, chống lại viện trưởng làb Maria J. Fzoukina. Vài người học viên đả
bị đuổi ra khỏi trường và bị khiển trách, có bố người trong
số này đả bị bắt giam ( Ante , Ciliga, Dedic, và Eberling đả bị bắt và
đưa đi đày tại Sibérie ). Đến năm 1932, lại xăy ra một cuộc thanh
trừng trong đảng PCY và 16 người lănh tụ khác đả bị khai trừ. Sau
khi Kirov bị ám sát, việc kiễm soát các người dân thuộc nước ngoài trên b́nh
diện chính trị đả được tăng cường vào mùa Thu năm 1936. Các người
lănh tụ của PCY đều phải chịu sự kiễm thật ( vérification ) trước
khi họ chịu sự khủng bố. Khác với số phận các người công nhơn
vô danh, số phận của các người di dân thuộc diện chính trị đả cho
biết rỏ : 8 người thư kư của ũy ban trung ương PCY, và 15 thành viên của
ũy ban trung ương củng 21 người thư kư thuộc các phân bộ địa phương
đả bị bắt và cùng mất tích tất cả. Một trong những người thư
kư tên Sima Marksvitch, đang phục vụ tại Viện Hàn Lâm Khoa Học, người này bị
bắt buộc phải di cư sang Nga sô viết, đả bị bắt vào thábg 7 năm 1939,
đả bị kết án 10 năm tù giam không có quyền lien lạc với bất cứ một
ai và y đả chết trong tù. Các người khác sau khi bị bắt đả bị hành
quyết liền như trường hợp của hai anh em Vujovic, Radimir là thành viên của
ũy ban trung ương PCY và Gregor thành viên của ũy ban trung ương quốc tế ;
các em của họ là Voja cựu thành viên trách nhiệm của thanh niên quốc tế cộng
sản đả liên đới với Troski vào năm 1927 đả biệt tích và làm cho các
em củay củng bị bắt giam.Milan gorkic, thơ kư của ũy ban trung ương đảng
PCY từ năm 1932 đến năm 1937 đả bị buộc tội '' tổ chức
một toán người chống lại sô viết trong ḷng quốc tế cộngsản và
đả lănh đạo một nhóm người khủng bố ở trong ḷng của tổ
chức Komintern '', tổ chức khủng bố này do ông Knorin và Piatnitski chỉ huy. Vào giữa
năm 1960, PCY đả phục hồi danh dự cho cả hơn hàng trăm người
nạn nhơn nhưng không có làm một cuộc điều tra nào. Lẽ dỉ nhiên là các cuộc
điều tra này, nếu có sẽ đặc ra vấn dề gián tiếp cho '' các người
đả là nạn nhơn của các cuộc đàn áp dùng để nhắm vào các người
thân Nga sô viết '' xăy ra tại Yougoslavie sau cuộc ly khai giữa Yougoslavie và Liên bang sô
viết vào năm 1948. Nhưng lại đưa ra ánh sáng vấn đề '' nhứt nhối
'' là việc Tito (Josip Broz) lên làm chũ tịch đảng vào năm 1938 đả diễn
ra sau một cuộc thanh trừng đẫm máu. Truyện xăy ra khi Tito chống lại Staline
, đả không làm bớt được trách nhiệm của Tito trong các cuộc thanh trừng
diển ra vào các năm 1930, diễ ra trong đảng PCY. Cuộc săn bắt các người
trốt kít Sau khi đả tàn sát các người cộng sản sống trên đất Nga
sô-viết, Staline khởi cuộc tấn công các người '' cộng sản '' ly khai sống
ở các nước ngoài. Và đây chỉ là dịp để cơ quan NKVD phô trương
quyền lực của họ trên khắp thế giới. Trường hợp điễn
h́nh và ngoạn mục là của Ignaz Reiss, tên thật là Nathan Poretski. Reiss là một người
Do thái trẻ tuổi làm cách mạng từ lúc chiến tranh 1914-1918 c̣n đang diễn ra, như
ở Trung Âu đả từng xăy ra, tổ chức Komintern đả tuyễn mộ các người
cách mạng trẻ tuổi. Là một người '' khuấy rối '' chuyên nghiệp ( agitateur
professionnel ) Reis phục vụ trong các hệ thống bí mật quốc tế và đả
hoàn thành '' tốt các nhiệm vụ mà y được giao phó và y đả được
tặng huy chương Cờ Đỏ vào năm 1928 ''. Sau năm 1935, y được cơ
quan NKVD chiếu cố v́ cơ quan này được bổ nhiệm kiễm soát tất cả
các bí mật ở các nước ngoài cùng với nhiệm vụ về gián điệp ở
nước Đức. Cuộc xữ án đàu tiên ở Moscou đả làm ''đảo lộn
'' tinh thần của Reiss và y quyết định cắt đứt liên hệ cảm t́nh
với Staline. Hiểu rỏ nội bộ cùng đường lối xử sự và các
mánh khóe của cộng sản, Reiss đả chuẩn bị chu đáo cuộc ''đào tẩu''
của y và ngày 17 tháng 7 năm 1937, y cho công khai công bố bức thư của y gởi cho ũy
ban đảng cộng sản Nga thống nhất. Trong bức thư y đả giải thích
và nêu danh đích danh Staline và chủ nghĩa Stalinis mà y gọi là '' lợi dụng một cách
tồi tệ các cơ hội chũ nghĩa , mà nơi đó các cơ hội chủ nghĩa
này không có mộ nguyên tắc hành sự ; chỉ biết làm đổ máu, thực hiện các
lời nói láo, và với các việc này sẽ đầu độc toàn thế giới, sẽ
đưa đến việc tiêu diệt các phong trào công nhơn ''. Reiss củng đ̣ng thời
cho biết là ysẽ gia nhập vào hàng ngũ của Léon Trotski. Như vậy là Reiss đả
không ngờ là y tự kư vào lịnh tử h́nh đối với y. Cơ quan NKVD, lập tức
huy động mạng lưới bí mật của cơ quan này tại Pháp và đả t́m
ra chổ Reiss đang ở tại Thụysĩ và gài bẩy để hạ sát Reiss. Tại
Lausanne buổi tối ngày 4 tháng 9 nam 1937, hai đảng viên người Pháp đả bắn
chết Reiss, trong lúc đó một nữ nhơn viên NKVD toan tính ám sát vợ và đứa con
trai của Reiss bằng cách đem biếu họ một hộp sô-cô-la (chocolat) có tẫm thuốc
độc. Mặc dầu với các việc điều tra ''cần mẫn'' của cơ
quan công an Pháp và Thụy sĩ đều không t́m ra được hai tên sát nhân và người
nữ nhơn viên hầu có thể truy tố họ được. Trtoski đả tố
cáo Jacques Duclos lúc ấy là một trong các người thơ kư của đảng cộng sản
Pháp (PCF) và yêu cầu người thư kư riêng của ḿnh là Jan van Heijenoort gởi một bức
điện thư cho thủ tướng Pháp : '' Chantemps, chủ tịch hội đ̣ng bộ
trưởng, trong vụ ám st Ignaz Reiss, / Ăn trộm các văn khố của tôi và các tội
ác tương tự, tôi xin phép nhấn mạnh phải hỏi cung, hay ít nửa là như nhân
chứng Jacques Duclos, phó chủ tịch của pḥng các dân biểu và là nhơn viên kỳ cựu
của cơ quan Guépou''. Bùc điện văn này không đạt được một cách
quả nào và Jacques Duclos là phó chủ tịch pḥng các dân biểu từ năm 1936. Vụ ám
sát Reiss lẽ dỉ nhiên là ngoạn mục và năm trong một kế hoạch rộng lớn
để thu tiêu các người Trốt kít. V́ vậy không lấy ǵ làm ngạc nhiên về
việc tàn sát các người thuộc phe trốt kít ở Nga cũng như việc tàn sát các
người khác. Việc làm ngạc nhiên mọi người là dù ở các nước ngoài,
các cơ quan đặcbiệt của NKVD ở các nước ngoài đả '' sốt cuồng
lên '' (avec hargne) để thủ tiêu các người đối lập, hay là các người
theo phe trốt kít được thành lập tại các nước này. Căn bản của
công tác này là việc kiên nhẩn để xâm nhập (infiltration) vào các nhóm trốt kít này. Tháng
7 năm 1937, vị lănh tụ chịu trách nhiệm của văn pḥng '' đối lập
trốt kít quốc tế '' tên là Rudolf Klément đả mất tích. Ngày 28 tháng 8 người
ta khám phá ra một tử thi cục đầu và tay chân, nổi lên trên sông Sein gần Paris,
và người ta đả nhận diện được là Klement. Người con trai của
Trotski, tên là Leon Sedov, đả chết ở Paris sau khi chịu một cuộc giải phẩu
; các điểu kiện về cái chết này có nhiều điều đáng nghi ngờ và thơn
nhân của kẻ quá cố đả nghĩ đây là một vụ ám sát do các cơ quan đặcbiệt
của Nga sô viết đả tổ chức khéo léo. Trái lại trong cuốn hồi kư của
Pavel Soudsplatov đả ghi là không hề có việc này. Nhưng việc được xác nhận
là Léon Sedov đả bị đặt dưới sự theo dỏi chặt chẻ (surveillance)
của cơ quan NKVD. Một người thân cận của Sedov, tên là Mark Zborowski, là một
nhơn viên của cơ quan NKVD được phái xâm nhập vào số các người thân
cận Sedov. Ngược lại, Soudoplatov đả nh́n nhận là vào tháng 3 năm 1939, chính
Béria và Staline đả ra lịnh ám sát , củng chính Staline cùng với Soudoplatov lo phụ trách
việc này. Staline đả nói với y : '' Phải thanh toán y nội trong năm nay trước
khi chiến tranh xảy ra, việc chiến tranh xảy ra là một việc không thể tránh
được và c̣n thêm : ( đồng chí sẽ tùy thuộc vào Béria và không người
nào khác, vậy đồng chí chịu hoàn toàn trách nhiệm về nhiệm vụ này ). Một
cuộc lùng bắt tàn nhẩn đả diễn ra và đưa đến Mexico, là nơi người
lănh tụ của phong trào của Đệ Tứ Quốc Tế đang cư ngụ, sau khi
người này đả bôn tẩu qua các nơi như Paris, Bruxelle và Mỹ quốc. Với
sự đ̣ng lỏa của đảng cộng sản Mexico, các nhơn viên của Soudsplatov
sữa soạn và thi hành một cuộc mưu sát đàu tiên vào ngày 24 tháng 5 mà Trotski đả
thoát được cuộc mưu sát này và coi như là một phép lạ ( micracle ). Với
sự '' xâm nhập '' vào giới thân cận của Trotski, tên Ramon Mercader, một tên giả
của người nhơn viên của Soudsplatov để t́m cách trừ bỏ Trotski. Mercader
đả lần lần gây được ḷng tin của một người nữ lănh tụ
trốt kít và đả đến gần được '' ông Già ''. V́ ít nghi ngờ, Trostki
đả chấp nhận cho tên này gặp theo lời yêu cầu của hắn v́ hắn muốn
xin ư kiến của Trotski về một bài viết của hắn để bào chửa cho
Strotski, một người cách mạng. Trong lúc
Trostki đang ngồi bên bàn giấychú ư đọc bài viết của Mercader th́ tên này đến
đứng bên cạnh Trotski và dùng một cái búa nhọn bằng sắt đặp vào đầu
Trotski. Bị vết thương quá nặng, Trotski rú lên một tiếng lớn. Vợ của
Trotski và các người hộ viên liền chạy ùa vào, c̣n tên Mercader th́ đùng im, hắn đả
thành công việc mưu sát. Ngày hôm sau Trotski qua đời.
Louis Aragon - năm 1931 Tiên triệu cho thời hoa anh đào. Tôi ca tụng cơ quan
Guépou đả thành h́nh, ở Pháp vào thời điễm này. Tôi ca tụng cơ quan Guépou,
cần thiết cho nước Pháp. Tôi ca tụng cho cơ quan ở mọi nơi, và không
có tại mọi nơi. Tôi ca tụng cho cơ quan để chuẩn bị cho kết thúc
một xă hội. Hảy xin cơ quan Guépou để bảo vệ cho các người bị
phản bội. Và để bảo vệ cho các người luôn luôn đả bị phản
bội. Hảy xin một cơ quan Guépou, anh mà người ta đè nén và người ta giết. Hảy
xin một cơ quan Guépou, anh cần có một cơ quan Guépou. Hoan hô cơ quan Guépou h́nh ảnh
của biện chứng pháp của sự anh hùng. Và người ta có thể chống lại
h́nh ảnh của các người phi công ngu độn. Do các thằng ngu độn là các
anh hùng khi chúng không c̣n, cái mơm của chúng xuống đất. Hoan hô cơ quan Guépou, h́nh ảnh
vĩ đại của biện chứng pháp. Hoan hô cơ quan Guépou chống lại ''trời''
Chiappe và bài quốc ca Marseillaise. Hoan hô cơ quan Guépou chống lại giáo hoàng và các con rận. Hoan
hô cơ quan Guépou chống lại sự nhẫn nhục của các ngân hàng. Hoan hô cơ quan
chống lại các cuộc thao luyện ở hướng Đông. Hoan hô cơ quan Guépou chống
lại gia đ́nh. Hoan hô cơ quan Guépou chống lại chủ nghĩa xả hội loại
của Caballero Boncour và Mac Donald Zoergibel. Hoan hô cơ quan Guépou chống lại tất cả
kẽ thù của giới vô sản. Hoan hô cơ quan Guépou. Do Jean Malaquais sao lục. Tên Louis
Aragon người yêu nước nhà nghề. Phụ trương của nghuyệt san Các khối
quần chúng. Tháng 2 năm 1947.
Việc xâm nhập giữa các đảng cộng
sản và các chi bộ thuộc tổ chức Komintern, do cơ quan NKVD chủ động đả
bị Trotski tố cáo và ông đả nhận thức là tổ chức Komintern đả bị
cơ quan Guépou và NKVD chi phối. Trong văn thư đề ngày 27 tháng 5 năm 1940 gởi
cho ông tổng biện lư của nước Merxico, ba ngày sau khi mưu sát hụt Trotski, và ông
là nạn nhơn ; ông đả viết : '' Cơ quan Guépou đả có các truyền thống
và các phương pháp đả được tạo dựng ở ngoài lảnh thổ của
Liên bang so viết. Cơ quan Guépou cần sự che chở hợp pháp hay bán hợp pháp
để tuyển mộ các nhơn viên ; cơ quan này đả t́m được môi trường
thuận tiện và sự che chở nơi cái gọi là '' các đảng cộng sản ''.
Trong bản văn cuối cùng, củng nói về các câu chuyện ở một cuộc mưu
sát xăy ra ngày 24 tháng 5, ông đả trở về các chi tiết của hành động này mà
ông ''suưt '' là nạn nhân. Đối với ông, ông vẩn dùng danh hiệu GPU được
chấp nhận năm 1922 khi ông c̣n làm chỉ huy trưởng cơ quan này đó là '' bộ
phận chính quyền lực của Staline '' và đó củng là '' công cụ dùng để khủng
bố thống trị độc tài '' ở URSS với một tinh thần toi đ̣i và vô liêm
sĩ, tinh thần này đả lan tràn trên toàn tổ chức Komintern và đả đàu độc
phong trào các người công nhơn đến tận xương tủy. Ông đả nhấn
mạnh rất dài ḍng về chiều hướng đặc biệt này đả quyết
định nhiều đến các tầng lớp của các đảng cộng sản. Về
phương diện tổ chức, cơ quan GPU và tổ chức Komintern không giống
nhau, nhưng họ có sự liên kết không thể nào làm rời nhau ra. Họ dả bị
bắt buộc phải lệ thuộc vào nhau, không phải tổ chức Komintern ra lịnh
cho GPU mà trái lại cơ quan GPU đả chế ngự hoàn toàn tổ chức Komintern Việc
phân tích này đả dựa vào nhiều nguyên tố hay khái luận là do các thành quả của
hai chiến cuộc mà Srotski đả từng sống qua : Thứ nhất, khi c̣n là một
trong những người lănh đạo một nhà nước sô-viết đang thành h́nh và
thứ hai, khi trở thành một người bị phóng trục ( proscrit ) bị săn đuổi
qua mọi nước bởi các nhơn viên của cơ quan NKVD, tên các người này ai cũng
đều biết chắc chắn. Vào thời gian này đó là những người chỉ
huy các '' đặc vụ '' tổ chức này được Nikolai Iejov thành lập vào tháng
12 năm 1936 : Serguei Spiegeglass ( y đả thất bại ) Pavel Soudoplatov ( chết vào năm1996
) và Naoum Eitingon ( chết vào năm 1918 ) các người này đả thành công nhờ vào các đồng
lơa. Về việc ám sát Trotski xảy ra ngày 20 tháng 8 năm 1940, tất cả các chi tiết
đả được các cuộc điều tra cho biết hết và do các cuộc điều
tra tại chổ, về sau Julian Gorkin đả tiếp tục cứu sét lại các hồ
sơ của các cuộc điều tra đả được thực hành. Hơn nửa
người ta đả biết được ai là người chủ chốt (commanditaire)
trong vụ này, các nguồn tin đả được công nhận bởi Soudoplato'' tên sát
nhân là Jaime Raimon Mercader, con của Caridad Mercader một người cộng sản phái nữ
đả từ lâu làm việc cho tổ chức ''đặc vụ '', và cô này đả trở
thành người t́nh của Naoum Eitignon. Tên sát nhân Mercader đội lốt dưới tên Jacques
Mornard để t́m cách đến gần Trotski. Tên Jacques Mornard là tên của một người
có thiệt, người này ở Belgique và đả từ trần vào năm 1967. Jacques
Mornard đả gia nhập trung đoàn quốctế và đả chiến đău bên Espagne.
Có thể là giấy thông hành của Mornard đả bị '' đặc vụ '' so viet mượn
tạm, Mercader c̣n dùng một tên khác là Jacson, người Canada đả chết khi chiến
đău tại Espagne củng trong trung đoàn quốc tế và giấy thông hành của y củng
để cho Mercader xữ dụng. Ramon Mercader đả chết vào năm 1978 ở La Havane,
Fidel Castro đả mời y đến làm việc ở đây với tư cách là cố vấn
cho các việc thuộc về bộ nội vụ. Mercader đả được thưởng
huân chương cao quư nhất của liên bang so viết và đả được đem
chôn ở Moscou trong ṿng kín đáo. Staline sau khi đả trừ bỏ được đối
thủ cuối cùng về chính trị, nhưng không phải v́ vậy mà các cuộc truy lùng các
phần tử trốt-kít chấm dứt. Gương mẫu của cộng sản Pháp đả
biểu lộ tâm tính trong những phản ứng mà các người lănh tụ cộng sản
Pháp đả hấp thụ được để đối phó với các người
lănh tụ của các nhóm nhỏ người Trốt-kít.Trong khi nước Pháp bị quân Đức
chiếm đóng, có nhiều người trốt-kít Pháp đả bị tố cáo cho công an
Pháp hay là cơ quan Gestapo bắt giam họ, việc này là việc có thể xăy ra. Ở trong
các khám đường của Pháp và ở trong các trại tập trung thời Vichy, các người
Trốt-kít đều bị biệt giam riêng biệt. Tại Nontron thuộc vùng Dordogne, Gérard
Bloch đả chịu sự ngược đải bằng cách biệt đải (ostracimes)
trong tổng số các người cộng sản Pháp cùng bị giam do sự mưu đồ
của Michel Bloch (con của nhà văn Jean Richard Bloch. Sau đó, Gérard Bloch đả được
dời qua khám đường ở Eysses, có một thầy giáo phe khán chiến người
công giáo bị bắt giam chung đả báo trước cho Gérard Bloch Nằm trong bối cảnh
hận thù mù quán này, vụ mất tích của bốn người trốt-kít trong số này
có Pietro Tresso, sáng lập viên đảng cộng sản Italie xảy ra trong khu rừng kháng
chiến (maquis) FTP ''wodli'' thuộc vùng Haute Loire đả nói lên tất cả ư nghỉa. Họ
cùng vượt ngục Puy en Velay ngày 1 tháng 2 năm 1943 cùng với các người bạn cộng
sản , năm người đău tranh trốt-kít đả được sự
bao quản ( pris en charge) của các người kháng chiến ( maquis) cộng sản. Một
trong 5 người này, v́ sự t́nh cờ đả được tách rời ra khỏi nhóm
trốt-kít. Tên người này là Albert Demazière và là người mai mắn được sống
sót : Tresso, Pierre Salini, Jean Reboul, Abraham Sadek đưu đả bị các người FTP hành quyết
vào tháng 10, sau một vụ giả dạng (simulacre) ṭa xữ đáng chú ư. Các người nhơn
chứng và các người diễn viên c̣n sống sót đả thuật lại là 4 người
đău tranh này đả bị buột tội là '' toan tính bỏ thuốc độc vào nước
uống '', một lối tố cáo của thời trung cổ '' moyen âge '' và đưa trở
lại nguồn gốc Do-thái của Trotski. (Con của Trotski tên là Sergueĩ c̣n ở lại
nước Nga cũng bị tố cáo giống như 4 người đău tranh trốt-kít
), và hơn nửa cũng có thêm một người tù của các người kháng chiến
gốc Do-thái tên là Abraham Sadeck. Như vậy, phong trào cộng sản đả chứng tọ
họ đả không tránh khỏi việc bài Do-thái một cách vụng về. Trước
khi họ bị ám sát, bốn người đău tranh trốt-kít đả được
chụp h́nh , có lẽ để cho các tổ chức cao cấp của đảng cộng
sản Pháp nhận diện và họ bị bắt buộc phải viết bản mô tả
tiểu sữ của họ cùng các hoạt động đău tranh. Trong các trại tập
trung, ( camp de concentration ) ở Đức, những người cộng-sản t́m cách tiêu diệt
các đối thủ chính trị ở gần họ bằng cách lợi dụng các địa
vị mà họ đả đạt được trong hệ thống các nất thang quản
trị ( échelle de gestion ) của các trại giam. Ông Marcel Beaufrère người có trách nhiệm
tại vùng Bretagne của đảng thợ thuyền quốc tế bị bắt giam vào tháng
10 năm 1943 và đưa đi quatrại Buchenwald vào tháng giêng năm 1944, đả bị nghi
ng̣ là người của phe trốt-kít bởi một người cộng sản làm xếp
của các liên trại (interblocs) Mười ngày sau, một người bạn báo cho anh biết
là tổ cộng sản của trại 39, nơi anh đang ở đả lên án tử h́nh
anh và muốn đưa anh qua trại của các người sẽ được làm vật
thử nghiệm về y khoa , nơi đây họ sẽ chích vào người anh các vi trùng của
bệnh chí rận (typhus). Ông Marcel Beaufrère vào giờ chót đả được các người
đău tranh người Đức cứu sống ? Họ chỉ cần xữ dụng phương
pháp tập trung của người Đức để trừ bỏ (débarrasser) các đối
thủ chính trị, dù là các người này củng là những nạn nhơn của cơ
quan Gestapo hay bọn SS , bằng cách gởi các người này đi vào các toán '' lao động
nguy hiễm nhứt ''(commando). Hai người Marcel Hic và Roland Filatre, cả hai đều bị
đưa đi trại Buchenwald và đả bị chuyển qua trại ' khũng khiếp
Dora', với sự ưng thuận của các cán bộ KPD, các cán bộ này đang làm các việc
hành chánh ở trong trại. Marcel Hic đả chết tại trại này. Tài liệu của
Rodslphe Prager viết trong bài : Các người trốt-kít ở trại Buchenwald in trên nguyệt
san '' phê b́nh cộng sản '' số 25 tháng 11 năm 1978. C̣n về phần Roland Filatre sống
sót và được giải phóng đả trở về đời sống dân sự sau chiến
tranh ; nhưng ông vẫn bị theo dỏi và năm 1948 đả thoát được một
cuộc mưu sát tại nơi ông làm việc. Nhiều vụ thủ tiêu các người
đău tranh trốt-kít khác đả diễn ra sau khi nước Pháp được giải
phóng. Là một người công nhơn trẻ tuổi thuộc nhóm ''đău tranh giai cấp''
ở vùng Paris, Mathieu Bucholz đả ''biệt tích'' ngày 11 tháng 9 năm 1947, tờ báo của
nhóm ông đả nêu lên thủ phạm của cuộc ''biệt tích'' này là các người cộng
sản thân Staline. Ở Hy Lạp (Grece) phong trào trốt-kít không có thể nói là không đáng
kể. Một người thư kư của đảng cộng sản Hy lạp viết tắt
là KKE tên Pandelis Pouliopoulis, đả bị các người lính Italie xữ bắn. Ông này đả
gia nhập đảng cộng sản trước khi xăy ra chiến tranh. Khi xăy ra chiến
tranh, các người trốt-kít với tư cách cá nhơn, họ dả gia nhập vào hàng
ngũ của ''mật trận giải phóng quốc gia'' (EAM) thành lập vào năm 1941 bởi
các người cộng sản. Tướng Aris Velouchiotis chỉ huy quân đội nhơn
dân giải phóng quốc gia (ELAS) đả ra lịnh xữ bắn lối 20 người lănh
đạo trốt-kít.Sau ngày giải phóng việc bắt cóc các người đău tranh trốt-kít
vẫn được tiếp diễn. Thườn thường họ bị tra tấn để
phải khai báo và cho địa chỉ của các đồng chí của họ. Năm 1946, trong
bản phúc tŕnh cho uỹ ban trung ương đảng cộng sản Vassilis Bartzistas đả
nêu lên con số 600 người trốt-kít đả bị tồ chức OPLA ( tổ chức
bảo vệ các cuộc đău tranh b́nh dân) hạ sát. Trong con số 600 người này có thể
gồm có người vô chính phủ (anarchistes) hay là các người xă hội ly khai ( các người
Archéomarxistes, các người đău tranh được tổ chức ngoái ṿng lệ thuộc
của đảng cộng sản Hy lạp và được thành lập từ năm 1924
, các người này cũng bị lùng bắt và ám sát. Các người cộng sản của
nước Albanie cũng không bị bỏ sót. Sau khi đả được thống nhất
vào năm 1941, các nhóm tả huynh đả tụ tập chung quanhAnastaste Loula, các nguồn bất
đồng chính kiến đả diễn ra giữa các người trốt-kít với các
người chính thống ( Enver Hoxha, Memet Chehu ) được sự cố vấn của
các người cộng sản Yougoslaves. Trong năm 1943, Loula, đả bị hành quyết
đơn giản. Sau nhiều cuộc toan tính mưu sát, Sadik Premtag, và các người lănh đạo
trốt-kít khác được sự ủng hộ của dân chúng đả trốn thoát qua
nước Pháp ; tháng 5 năm 1951, ông là nạn nhơn của một cuộc mưu sát khác
do Djemal Chami tự ra tay, y là một cựu chiến binh của trung đoàn quốc tế và
là người của sứ quán Albanie tại Pháp. Bên Trung-Quốc, một phôi phai (embryon)
của phong trào trốt kít được thành lập vào năm 1928 dưới quyền của
Chen Duxiu, một người sáng lập và là thư kư của đảng cộng sản Trung-Quốc
(viết tắt là PCC) và cùng với các người khác thi hành chung lư tưởng cộng sản.
Trong lúc xảy ra chiến tranh với nước Nhựt, một phần các người trốt-kít
đả gia nhập vào đội ngũ của Bát lộ quân của Quân đội nhơn
dân ( viết tắt là APL). Chính Mao Trạch Đông đả ra lịnh hành quyết các người
theo phong trào trốt-kít và thanh toán các tiểu đoàn do các người trốt-kít chỉ huy.Sau
khi cuộc nội chiến chấm dứt các người trốt-kít đả bị săn
đuổi và giết chết. Số phận của những người này đến nay
vẫn không được biết. Ở Đông dương t́nh thế vào giai đoạn
đầu lại khác. Các người trốt-kít thuộc nhóm tranh đău và các người
cộng sản cùng có đường lối chung, khởi đầu từ năm 1933. Ảnh
hưởng của riêng nhóm trốt-kít ở về phía Nam nói riêng là mạnh. Năm 1937, theo
một chỉ thị của Jacque Duclos cấm đảng cộng sản Đông dương
tiếp tục cuộc hợp tác với các người trốt-kítthuộc nhóm tranh đău.
Trong những tháng sau cuộc đầu hàng của nước Nhật, một chi nhánh của
nhóm trốt-kít '' Liên đoàn cộng-sản quốc tế '' đả tạo được
một ảnh hưởng khá đủ để làm các người lănh đạo cộng-sản
lo ngại. Tháng 9 năm 1945, khi quân đội Anh đến Sài-g̣n, Liên đoàn cộng-sản
quốc tế ( tên viết tắc là LCJ ) đă kích Mật trận Việt minh ( mật trận
dân chủ tranh đău cho độc lập ) về việc đón tiếp ôn ḥa đối
với quân đội Anh. Ngày 14 tháng 9, Việt minh mở cuộc tấn công rộng lớn
chống lại các cán bộ trốt-kít, nhưng những người này không trả đủa
lại. Bị bắt giam, và phần lớn đả bị giết sau đó. Các toán vơ trang
của các người yêu nước trong số này có các người trốt-kít, sau khi đả
chiến đău chống lại quân đội Anh, Pháp, họ đả rút vào Đồng Tháp
Mười và bị các toán vơ trang của Việt-minh '' đè nát ''. Qua đến giai đoạn
hai : Việt minh quay trở lại chống các người trốt-kít, thuộc nhóm tranh đău,
những người bị bắt giam ở gần Bến súc đả bị giết khi
quân đội Pháp tiến đến gần nơi đây. Bị bắt sau đó, ông Tạ
Thu-Thâu, người lănh đạo lịch sữ của phong trào đả bị giết
vào tháng 2 năm 1946 . Chính Hồ Chí Minh đả viết : '' Các người trốt-kít là các
người phản bội, và là các tên gián điệp đê hèn ''. Ở nước Tiệp-khắc
( Tchécoslavaquie ), định mệnh của Zavis Kalandra đả tượng trưng riêng cho
ông số phận của tất cả các đồng chí của ông. Năm 1936, Kalandra đả
bị trục xuất ra khỏi đảng cộng-sản Tiệp ( PCT ), v́ ông đả
viết một cuốn sách tố cáo các vụ xữ án ở Moscou. Tham gia vào kháng chiến
ông đả bị quân đội Đức bắt giam và đưa đi ở trại Oranienbourg.
Ông sống sót và khi chiến tranh chấm dứt, ông được hồi hương. Tháng
11 năm 1949 ông bị bắt và bị buộc tội đả lănh đạo một cuộc
âm mưu lật đổ nền cộng ḥa. Ông đả bị tra tấn. Phiên ṭa xữ
ông được diễn ra vào tháng 6 năm 1950 ; tại phiên ṭa này, ông đả làm bản
tự kiễm thảo ( autocritique ). Ngày 8 tháng 6 năm 1950 ông bị tuyên án tữ h́nh. Trong nhựt
báo Trận chiến ( Le Combat ) số ra ngày 14 tháng 6 năm 1950, André Breton, đả nói với
Paul Eluard can thiệp cho một người mà cả hai đều biết từ trước
chiến tranh. Eluard đả trả lời : '' Tôi làm đả quá nhiều cho các người
vô tội, các người vô tội này đả kêu gào sự vô tội của ḿnh và trước
các người thủ phạm họ đả kêu gào sự phạm tội của họ.
Zavis Kalandra đả bị hành quyết ngày 27 tháng 6 cùng với 3 đồng chí của ông. Các người chống phát xít và các người cách mạng ngoại
quốc, nạn nhơn của các cuộc khủng bố ở Liên bang Sô-viết
Tồ
chức Komintern, với việc tàn sát các người trốt-kít cùng với các người
cộng-sản ly-khai không phải là việc duy nhứt mà tổ chức này đả hành động.
Vào các năm của thập niên 1930, ở trên lănh thổ Liên Bang Sô Viết có một số
đông người ngoại quốc đả sinh sống ở đây dù họ không phải
là cộng-sản, nhưng đả bị lôi cuốn vào '' ảo ảnh sô-viết''. Rất
nhiều người ngoại quốc này đả trả giá quá cao về việc mất
tự do và thường bị mất mạng v́ việc đam mê của họ đối
với đất nước của người sô-viết. Vào đầu các năm 1930,
các người sô-viết đả mở một cuộc tuyên truyền ở trong vùngCarélie,
vùng này nằm trong vùng cận biên giới Phần lan và Liên bang Sô-viết, một sự tuyên
truyền cho sự ''xây dựng chủ nghĩa xă hội '' để lôi cuốn các người
dân. Đả có 12000 người dân Phần lan cộng thêm với 5000 người dân Phần
lan sống trên đất Hoa-kỳ , phần đông là hội viên (ở Hoa-kỳ) ; v́ họ
gặp quá nhiều khó khăn trong cuộc khủng hoảng kinh tế vào năm 1930 như
thất nghiệp, không nhà ở v.v. . .''Cơn sốt Carelie ''đả mạnh hơn khi các
nhơn viên của tổ chức thương măi sô-viết tên là Amtorg đả hứa với
họ là họ sẽ có việc làm với đ̣ng lương cao, nhà ở và các cuộc du
lịch không tốn tiền từ New York về Léningrad. Họ được nhắn nhũ
là hảy đem tất cả những gỉ họ có. Cuộc '' đua nhau đi về
ảo tưởng ''(ruée vers l'utopie), theo định nghỉa của Ains Küsinen, đả biến
thành cơn ác mộng. Khi họ đi đến nơi, các máy móc công nghệ của họ
cùng với các tài sản, các tiền để tiết kiệm của các người dân di
cư này đều bị tịch thu ( việc như vậy đả tái diễn đối
với các Việt kiều từ Thái lan và Tân Calédonie, hồi hương về miền Bắc
vào các năm đầu của thập niên 1960 ). Các giấy thông hành của họ đều
bị giử lại và họ bị đưa về cácvùng kém mở mang và bị giữ lại
như các người tù sống ở các vùng mà chung quanh toàn là rừng và các điều kiện
sinh sống rất là cực khổ ( lời người dịch : h́nh thức Kinh Tế Mới
mà Cộng sản Việt nam đả áp dụng cho dân tộc Việt nam sau 30 tháng 4 năm
1975 ). Theo sự nhận định của Arvo Tuominen người lănh đạo đảng
cộng sản Phần Lan và được bầu vào thành viên dự khuyết của chủ
tịch đoàn ũy ban hành pháp của tổ chức Komintern cho đến cuối năm
1939, sau bị kết án tữ h́nh và y đả xin xét lại án, c̣n giảm xuống 10 năm
tù giam ; hơn nửa đả có trên hai chục ngàn người dân Phần Lan đả bị
giam cầm trong các trại tập trung. Bị cưởng bách phải sống ở vùng
Kirovakan, Aino Kuusinen đả chứng kiến sau đệ nhị thế chiến, lúc các người
Amnien, nạn nhơn của các cuộc tuyên truyền khéo léo của các cơ quan tuyên truyền
sô-viết , các người này đả chấp nhận đến định cư ở
cộng ḥa sô-viết Aménie. Đáp lời kêu gọi của Staline, kêu gọi các người
dân gốc Nga đang sống ở ngoại quốc hảy trở về Liên Bang Sô-viết
. Các người Aménien, dù là họ đả di cư sống trên đất của Turquie,
họ được động viên để trở về vùng đất của cộng
ḥa Arménie mà trong trí tưởng tượng của họ là vùng đất của tổ tiên
của họ. Tháng 9 năm 1947, nhiều ngàn người đả tụ họp ở Marseille
và chiếc tàu Rossia đả chở 3500 người về Liên Bang Sô-viết. Khi ấy đả
có nhiều người hiểu ngày này là một chiếc bẩy ghê tởm ( piège odieux ) đả
khép chặt vào họ và khi chiếc tàu này đả đi vào hải phận Nga, thái độ
của các người cầm quyền sô-viết thay đổi hoàn toàn. Vào năm 1948, hai trăm
người Arménien đả biểu t́nh ở thủ đô Erevan khi vị ngoại trưởng
Pháp tên Christian Pineau thăm viếng nơi đây. Chỉ có 60 gia đ́nh được phép
đi khỏi lănh thổ Liên Bang Sô-viết ; trong khi ấycuộc đàn áp đả diễn
ra vào những người c̣n bị ở lại. Cuộc khủng hoảng không những
áp đặt lên các người tự nguyện đến Liên bang Sô-viết mà luôn cả các
người đả phải đến đây để t́m chổ '' dung thân'' v́ bị cưởng
bách bởi các chế độ độc tài tại đất nước của họ.
Theo điều 129 của bản hiến pháp Sô-viết : '' Liên Bang Sô-viết ban cho quyền
' ẩn náo ' ( droit d'asile ) cho tất cả các người công dân ngoại quốc đả
bị truy tố v́ đả bảo vệ quyền lợi của các công nhơn, hay là v́ các
hoạt động của họ về lĩnh vực khoa học, hoặc v́ do cuộc đău
tranh của họ cho nền độc lập quốc-gia ''. Trong cuốn tiểu thuyết
của Vassili Grossman tựa đề là : '' Cuộc sống và định mệnh '', ông đả
đưa ra một hài kịch về sự ''đối đầu ''giữa một quân nhơn
SS của Hitler và một người đău tranh bôn sê-vít là tù nhơn của tên lính SS. Trong một
cuộc độc thoại ( monologue ) dài, tên lính SS đả phát biểu một bản án
của định mệnh cho hàng chục ngàn người gồm đàn ông, đàn bà, lăo ông,
lăo bà và các thiếu nhi họ đả đến Liên Bang Sô-Viết để t́m chổ ''trú
ẩn'' ; và sau đây là bản án :'' Ai đả ở trong các trại trong thời gian ḥa b́nh,
khi không có các tù nhơn v́ chiến tranh. Tại các trại này người ta đả gặp
các người được gọi là kẽ thù của đảng, kẽ thù của nhơn
dân. Đây là một loại mà anh được biết rỏ, đó là các người trong
trại của anh. Và nếu trong thời gian ḥa b́nh, các trại của anh nằm trong chế
độ SS, chúng tôi sẽ không để các tù nhơn này ra đi. Các người tù nhơn
của các anh là các người tù nhơn của chúng tôi''. Dù họ từ ngoại quốc
đến theo lời kêu gọi của chính phủ của các người Sô-Viết , hay là
họ t́m nơi an toàn mà họ đả không t́m được ở đất nước
của họ v́ các việc tham gia vào chính trị, tất cả các người di cư này
vẫn bị coi là có thể trở thành một lực lượng gián điệp ( potentiels
espions) Đó là lư do thường được ghi trên các bản xữ án. Một trong những
cuộc di cư quá sớm của các người chống phát xít gốc Italie, diễn ra vào
các năm giữa thập niên 1920. Một số trong những người này họ tưởng
rằng đả t́m thấy '' xứ sở của xă-hội chủ-nghĩa xă-hội '' là
nơi ẩn náo các giấc mộng của họ. Họ đả bị thất vọng
chua cay, và họ đả bị khũng bố. Các người cộng-sản Italie và các
người cảm t́nh của Liên Bang Sô-Viết vào giữa các năm của thập niên 1930,
lên đến khoảng 600 người :'' .. khoảng 250 người là cán bộ chính trị
di cư và 350 người là các học viêntheo học trong 3 trường đào tạo về
chính trị. Rất nhiều học viên này đả rời Liên Bang Sô-Viết sau khi đả
thụ huấn xong và 100 người đău tranh đả tham gia chiến đău ở Espagne
trong cuộc nội chiến 1936-1937, cuộc đại khũng bố đả giáng xuống
các người c̣n ở lại. Khoảng 200 người Italie đả bị bắt giam
và bị khép vào tội '' làm gián điệp '' ; khoảng 40 người đả bị xữ
bắn và người ta biết rơ lư lịch của các người này ; các người khác
bị gởi đi các Goulog hoặc là các mơ khai thác vàng ở Kolyma hay ở vùng Kazahstan. Romols
Caccavale đả viết một quyễn sách rất cảm động, đả kễ
lại hành tŕnh và định mệnh thê thăm của cả chục người đău tranh.
Một ví dụ tronh các ví dụ : Nazareno Scarioli, một người chống Phát-xít đả
trốn ra khỏi nước Italie vào năm 1923, và từ đó anh đả đi Berlin rồi
qua Moscou. Được phân bộ của Cứu tế đỏ - secours rouge đón tiếp,
anh kiếm được việc làm ở một tổ hợp canh nông ở vùng Moscou trong
ṿng một năm. Sau anh được thuyên chuyễn đi Yalta và làm việc trong một
tổ hợp có 20 người Italie thuộc nhóm vô chính phủ dưới sự hướng
dẫn của Tito Scarselli. Đến năm 1933 tổ hợp này bị giải tán, anh Scarioli
trở về Moscou và t́m được việc làm ở trong một xưởng sản xuất
bánh biscuit. Anh đả tham gia các hoạt động của cộng đ̣ng người Italie
, ..Ṛi đến các năm xăy ra cuộc đại thanh trừng (a grande Purge) ; sự sợ
hải và sự khũng bố đả làm tan ră cộng đ̣ng người Italie ; mỗi
người đều có sự nghi ngờ đối với các đ̣ng hương (compariote).
Người cộng sản chịu trách nhiệm tên Paolo Robotti đả thông báo cho câu lạc
bộ việc bắt giam 36 người di cư bị coi là ''kẽ thù'' của nhơn dân,
các người này làm việc trong một xưỡng chế tạo ổ bi (roulements à billes).
Robotti đả bắt buộc cữ tọa phải chấp nhận việc này đối
với các người thợ mà y đả biết rơ. Lúc dơ tay lên để tán thành, Scarioli
đả không đ̣ng ư. Ngày hôm sau anh đả bị bắt giam. Ở trong nhà tù Lioubianca y
đả bị tra tấn và đả kư một bản thú tội. Bị đưa đi
đày ở Kolyma, anh ta đả làm việc trong mỏ khai thác vàng. Nhiều người Italie
khác củng đồng chung một số phận như anh và có nhiều người đả
chết. ''.. nhà điêu khắc Arnoldo Silva, kỹ sư Cerquetti, người lănh đạo
cộng-sản Aldo Gorellimà người em gái là vợ của .. về sau này là dân biểu công
sản Siloto, cựu thư kư chi bộ cộng sản thành phố Rome, tên là Vincenzo Bazala ; người
ở Toseau tên Otello Gaggi đang làm người gác cửa ở Moscou ; người thành viên
nghiệp đoàn ở Venise tên Carlo Costa làm thợ ở Odessa và Edmundo Peluzo đả từng
quen biết Lenine khi ông này c̣n ở Zurich. Năm 1950 Scarioli, lúc ấy chỉ c̣n 36 kilo được
phép rời khỏi Kolyma nhưng vẫn c̣n là người nô lệ của chế độ
Sô-Viết , bị bắt buộc làm việc ở Sibérie. Chỉ đến năm 1954 anh mới
được ân xá và phục hồi danh dự, và anh phải đợi hơn 6 năm nữa
mới được cấp chiếu kháng để trở về Italie với một hưu
bổng nhỏ nhoi. Tất cả các người tị nạn không phải là người
cộng sản hay là các căm t́nh viên, cùng với các người vô chính phủ , họ bị
t́m bắt và đả chọn Liên-bang Sô-viết làm nơi tị nạn. Trường hợp
mà nhiều người biết đến là của Francesco Gezzi, một người thuộc
nghiệp đoàn tự do, anh đả đến Nga vào năm 1921, để đại diện
cho Liên hiệp Nghiệp đoàn Italie bên cạnh tổ chức Nghiệp đoàn Quốc tế
đỏ. Năm 1922, anh đả đi sang nước Đức và chính phủ Italie đả
xin trục xuất anh v́ tội khũng bố. Một cuộc vận động dư luận
của dân chúng đả giúp anh tránh khỏi phải nếm mùi của nhà tù Italie nhưng anh
phải bắt buộc trở lại nước Nga, vào mùa Thu năm 1924, v́ đả dính
líu với Pièrre Pascal và Nicolas Lazarévitch khiến anh đả có lôi thôi với cơ quan Guépou.
Năm 1929 anh đả bị bắt giam và bị kết án 3 năm tù giam tại khám đường
ở Souzdal, trong nhà ngục dành cho các tội đại h́nh mặc dầu anh đả bị
bịnh ho lao ! Các bạn của anh và người thông tin đả tổ chức một
cuộc vận động dư luận để giúp anh tại Pháp và Thụy sĩ. Trong
lúc ban đầu Romain Rolland và các người khác đả gởi một bản thỉnh
nguyện thư, chính quyền sô-viết liền tung ra tin đ̣n anh là một người gián
điệp của một '' ṭa đại sứ phát xít ''. Được trả tự do
vào năm 1931, anh Gezzi đi làm công nhơn cho một xưởng máy, sang đến năm 1937
anh lại bị bắt lại. Lần này các người bạn của anh ở ngoại
quốc không thể nào biết được tin tức và số phận của anh. Anh đả
bị coi như bị giết chết vào cuối tháng 8 năm 1941 ở Vorkouta. Vào ngày 11
tháng 2 năm 1934 ở Linz, các người trách nhiệm của Schutzbund, liên minh ( ligue)
để bảo vệ chế độ cộng ḥa của đảng xă-hội Áo-Autriche,
đả quyết định chống lại mọi cuộc tấn công của Heimwehren.
Vệ binh ái quốc, nhằm cấm đảng xă-hội hoạt đông, có ai có thể tưởng
tượng được số phận của các đồng bạn của họ. Việc
gây sự của các vệ binh ái quốc Heimwehren ở Linz đả buộc các người
xă-hội dân chủ phát động một cuộc tổng đ́nh công rồi đưa đến
một cuộc dấy loạn. Lănh tụ Dollfus của đảng Thiên chúa xă-hội và đ̣ng
thời là chưỡng ấn ( chancelier ) hay là Thủ tướng ở Áo và Đức, sau
4 ngày chiến đău đẫm máu đả nắm lại được t́nh thế, các
người xă-hội người nào chạy thoát không bị vào các khám đường hay
các trại tập trung th́ đả troỏ thành hoạt ddộng bí mật hay trốn qua nước
Tiệp khắc và sau đó tiếp tục đi chiến đău ở Espagne trong cuộc nội
chiến. Một số người đả quyết định tị nạn ở Liên
bang sô-viết và bị lôi cuốn bởi một cuộc tuyên truyền liên tục, từ đó
khiến họ đả chống lại các người lảnh đạo xă hội dân chủ.
Ngày 23 tháng 4 năm 1934, ba trăm người đả đến đất Nga và liên tục
kéo thêm một số người nửa cho đế tháng 12 năm 1934. Ṭa đại sứ
Đức quốc đả biết được con số là 807 người Schutzbündler
đả di cư qua Liên bang sô-viết cùng với gia đ́nh đả lên đến gần
1400 người đưu xin tị nạn tại Liên bang sô-viết. Đoàn người đầu
tiên đến Moscou đả được các người có trách nhiệm của đảng
cộng sản Áo ( PKO ) đón tiếp và các người chiến sĩ này đả tuần
hành trên đường phố ở Moscou. Họ được Ũy ban trung ương các
nghiệp đoàn đăm nhiệm việc ăn ở . Một trăm hai chục các em thiếu
nhi mà người cha đả chết hay bị kết án tữ h́nh được gởi
đi Crimée, sau được đưa về nhà số 6, cho các trẻ em được
thành lập riêng cho các em. Sau vài tuần lễ nghỉ-ngơi, các người thợ được
phân-phối đi làm ở các công-xưỡng tại Moscou ; Kharkov, Leningrad, Gorki hay Rostov. Chẳng
bao lâu họ bị thất-vọng ( déchanter ) về các điều-kiện sinh-sống mà họ
đả phải bị cưởng-bách chịu đựng, các người cộng-sản
Áo phải can-thiệp. Chính-quyền làm áp lực với họ để họ phải xin
vào quốc-tịch sô-viết. Ba trăm người trong số người làm việc này
đả xin vào quốc-tịch sô-viết. Ngược lại, nhiều nhóm người toàn-diện
đả liên-lạc với ṭa đại-sứ Áo với hy-vọng là sẽ được
hồi-hương về Áo. Theo tin-tức của ṭa Đại-sứ Đức quốcth́
có một số là 400 người đả được trở về nước họ
cho đến mùa xuân 1938. ( Sau biến cố Anschluss vào tháng 3 năm 1938, người dân Áo trở
thành thuộc dân ( sujet ) của Reich Đức. Một trăm sáu chục người c̣n ở
lại nước Nga đả đi qua nước Espagne để tham-gia vào cuộc nội-chiến
trong hàng-ngũ cộng-ḥa. Rất nhiều người đả không có cái mai-mắn để
rời khỏi Liên-bang Sô-viết. Người ta đả được biết con số
278 người Áo đả bị bắt giam trong khoảng thời-gian từ năm 1934 cho
đế năm 1938. Vào năm 1938, Karls Stajner đả gặp ở Norilsk một người
dân của thành phố Vienna tên là Fritz Koppensteiner và từ đó về sau không c̣n ai biết đến
tin-tức của người này nữa. Có người bị hành-quyết như Gustl Deutch,
đả từng chiến đău ở quận Floridsdorf và cựu chỉ-huy trung-đoàn ''
Karl-Marx '' mà các người Sô-viết đả cho xuất-bản một cuốn sách : Các
trận đánh ở Floridsdorf ( sách xuất bản năm 1934 ). C̣n về số phận của
nhà trẻ em số 6 cũng không được chừa ra. Mùa Thu năm 1936, việc bắt
giam các người hay cha mẹ c̣n sống-sót, đả bắt đầu diễn ra. Các người
con của họ được đưa qua sống dưới quyền kiễm-soát của
cơ-quan NKVD, và cơ quan này phân-phối các trẻ em đi các viện cô-nhi. Ba Mẹ của
cậu Wolfgang Leonhart đả bị bắt giam và biệt-tích vào tháng 10 năm 1936, măi đến
mùa Hè năm 1937, cậu này mới nhận được một bưu-thiếp từ cộng-ḥa
Komis của Mẹ cậu gởi cho cậu. Bà này đả bị kết-án 5 năm giam ở
trại v́ các '' hoạt-động phản cách-mạng trốt-kít ''.
Cuộc phiêu-lưu
bi thăm của gia-đ́nh Sladek Tờ báo xă-hội Arberter Zeitung số ra ngày 10 tháng 2 năm
1963 đả đăng truyện của gia-đ́nh Sladek. Vảo trung tuần tháng 9 năm
1934, bà Sladek cùng với 2 người con đả đi Kharkov để gặp lại người
chồng là Josef Sladek, một cựu Schutzbündler là một nhơn-viên hỏa-xa ở Semmering
sang Liên-Bang Sô-Viết xin tị nạn. Bắt đầu từ năm 1937, cơ-quan NKVD khởi
sự các cuộc bắt giam trong cộng-đ̣ng các người dân Áo ở Kharkov, rồi sau
đó đến Moscou và Léningrad. đến lượt Josef Sladek bị bắt giam ngày 15 tháng
2 năm 1938. Đến năm 1941 trước khi quân đội Đức xâm lăng vào nước
Nga, bà Slaked đả đến sứ-quán Đức quốc để xin được
hồi-hương. Ngày 26 tháng 7, cơ quan NKVD đả bắt giam bà và người con trai
lúc ấy đả được 16 tuổi c̣n đùa con trai 8 tuổi tên Victor th́ được
gởi đi vào một trại cô-nhi thuộc cơ-quan NKVD. Các nhơn-viên NKVD đả đánh
đăp Alfred và để khũng bố tinh-thần cậu này đả nói là mẹ của
cậu đả bị xữ bắn hầu đạt được một bản cung
khai thú tội. Họ được di-tản v́ cuộc tiến-công của quân đội
Đức-Quốc-Xă, và một sự t́nh cờ hai mẹ con đả gặp lại nhau
ở trại Ivdel trong vùng Dural. Bà Sladek đả bị kết án 5 năm giam ở trại
v́ tội làm gián-diệp và Alfred củng bị kết án 10 năm tù giam v́ tội làm gián-điệp
và khuấy rối chống lại Sô-viết. Được chuyễn qua trại Ở Sarma,
họ đả gặp lại Josef Sladek đả bị kết án 5 năm tù giam lúc c̣n ở
Kharkov. Và chả bao lâu, họ lại bị chia rẽ. Ủüợc phóng thích vào năm 1946,
bà Sladek đả bị cưởng bách cư-trú tại Solikansk ở trong vùng Dural và một
năm sau chồng của bà đả được phép đến ở cùng bà. Ông này đả
bị bịnh ho lao và tim suy nên không thể làm việc được. Ông phải ''đi ăn
xin'' để sông và đả chết ngày ngày 31 tháng 5 năm 1948. Đến năm 1951 Alferd
được phóng thích và gặp lại mẹ của cậu. Đến năm 1954, sau nhiều
lần chạy-chọt ( démarche ) khó-khăn, cả hai mẹ con mới trở về được
Simmening-Áo-quốc. Hai mẹ con đả gặp lại cậu Victor một lần vào
7 năm về trước. Các tin-tức cuối-cùng mà họ nhận được về
cậu Victor là vào năm 1946.
Vào năm 1917, các người Yougoslave sống ở Nga
là 2600 và họ lựa chọn ở lại đây và sang đến năm 1924 con số các
người này đả lên đến 3750 người. Họ được tăng thêm
một số người đồng-hương di-cư sang từ Canada và Mỹ-quốc
đả theo lời kêu gọi của cơ-quan tuyên-truyền Sô-viết, lần này lại
di-cư sang Liên-Bang Sô-Viết với tất cả dụng-cụ nghề-nghiệp ''
để xây-dựng chủ-nghĩa xă-hội ''. Cộng đồng người Yougoslave
đả ở rải-rác khắp vùng đất từ Léninsk ở Magnitsgorsk và đi qua vùng
Saratov. Một số người lối từ 50 đến 100 người đả tham-gia
vạ việc xây-dưng đường hầm cho xe métro ở Moscou. Giông như các sắc dân
khác, các người công nhơn Yougoslave củng bị đàn-áp. Anh Bozidor đả nói là ''
anh đả chịu một số phận tàn-ác và thêm vào : '' phần lớn các người
công-nhơn đồng-hương với anh đả bị bắt giam vào các năm 1937-1938
và số phận họ đả không biết ra sao ..? Một sự nhận định chủ-quan
( subjective ) đả được nuôi dưỡng bởi việc đả có nhiều
trăm người di-cư đả '' biến mất ''. Đến ngày hôm nay chưa có được
các con số chính-xác liên-quan đến các người Yougoslave lao-động ở Liên-Bang
Sô-viết và riêng về các người đả lao đông ở đường hầm xe
métro ở Moscou v́ họ đả phản-đối các việc làm quá cực nhọc và họ
bị đàn-áp quá cứng-rắn ( durement réprimés ). Cuối năm 1939, cuộc phân chia nước
Ba-lan bị chiếm đóng, đả diễn ra giửa nước Đức Quốc-Xă
và nước Nga Sô-Viết đả được bí-mật thỏa-thuận trước
vào ngày 23 tháng 8 năm 1939, đả trở nên thực-thụ. Hai nước Xâm-lăng này
đả phối-hợp hành động của hai bên để thực-hiện việc kiễm-soát
t́nh-h́nh và dân chúng. : Hai cơ-quan Gestapo và NKVD hợp-tác với nhau. Cộng-đồng người
Do-Thái củng bị phân chia : Trên số 3.300.000 người th́ có 2.000.000 người sống
ở những vùng quân Đức chiếm đóng và 1.300.000 người sống ở vùng Hồng-quân.
Các vụ ngược-đải người gốc Do-thái xảy ra liên-tục, các giáo-đường
bị đót cháy, các vụ tàn-sát diễn ra ; tiếp-theo liên-tục là việc giam-nhốt
vào các khu-vực dành riêng cho người gốc Do-thái ( ghetto ). Khu-vực Ghetto ở Lodz được
thành lập ngày 30 tháng 4 năm 1940 và khu vực Varsovie tổ-chức vào tháng 10 và đóng cửa
ngày 15 tháng 11 năm 1940. Trước sự tiến-quân của Đức-Quốc-Xă đả
có nhiều dân Ba-Langốc Do-Thái chạy trốn về hướng Đông. Trong mùa Đông
1939-1940, quân đội Đức-Quốc-Xă đă không t́m cách ngăn cản việc vượt-biên
mới. : '' đó là các lính biên-pḥng Sô-Viết với '' huyền-thoại'' giai-cấp, họ
trang-phục với các áo choàng bằng lông và đội nón kết ( casquette )súng có gài lưởi-lê
( baissnnette ) , đả đón các người du-mục đi về miền đất hứa
này, với con mắt chó săn của cảnh-sát cùng với các tràng đạn súng tiểu-liên.
Từ tháng 12 năm 1939 đến tháng 3 năm 1940 các người Do-thái này sông ở trong một
vùng mà người ta gọi là '' vùng không có người ở ''-( no man'sland ), rộng từ
1000 đến 1500 thước dài theo con sông Bug, ở về hướng Đông và họ đả
phải ngũ ngoài trời. Một phần lớn các người này đành phải trở
về vùng quân-đội Đức-Quốc-Xă chiếm đóng. Một người lính
của đạo-quân do tướng Anders tên L.C số-quân 15015 đả là nhơn chứng
và đả tiết-lộ về t́nh-cảnh không thể tưởng-tượng được
: Vùng đất này có diện-tích lối 600 mét và 700 mét và tại đây đả có từ
700 đến 800 người tụ họp từ vài tuần lễ ; 90 phần trăm là người
gốc Do-Thái họ đả vượt thoát được sự kiễm-soát của người
Đức. V́ bị ướt do các cơn mưa của mùa Thu, không nơi trú-ẩn chúng tôi
tất cả đều đau ốm. Chúng tôi đả ôm lấy nhau để cho đở
lạnh, các người Sô-viết '' nhơn đạo '' không đoái hoài ǵ đến chúng
tôi và không hề cho chúng tôi một mẫu bánh ḿ hay một ít nước nóng. Họ cũng
cấm các người nông dân ở trong vùng này, đến gần chúng tôi v́ các người
nông dân này xót thương chúng tôi ; họ muốn làm một '' cái ǵ '' để chúng tôi c̣n được
sống c̣n. Kết quả chúng tôi để lại một '' số mă '' trên khoảng đất
này. Tôi quả-quyết là các người đả trở về vùng của Đức-Quốc-Xă
chiếm đóng là họ có lư, v́ cơ-quan NKVD ( với một cái nh́n không ở một khía
cạnh nào ) đả giỏi hơn cơ quan Gestapo v́ cơ-quan này đả thâu ngắn
thời-gian dể giết người. Ngược lại cơ-quan NKVD giết người
và tra-tấn một cách c̣n ác-độc hơn cái chết và đưa đến việc là
người nào thoát khỏi nanh-vuốt của cơ-quan này là một phép lạ ; nhưng nếu
c̣n sống-sót th́ đều trở -thành phế nhơn. Được tượng-trưng
Israẽl Joshua Singer đả đặt người '' anh-hùng '' của ông, trở nên '' một
kẻ thù của nhơn-dân '' và đả chết ở tại vùng đất '' không người
ở '' ( no man'sland ) này khi t́m cách trốn khỏi Lănh-thổ Liên-Bang Sô-Viết. Vào tháng 3 năm
1940, nhiều trăm ngàn người tị-nạn, có một người nào đó đả
nói ra con số là sáu trăm ngàn người, đả bị bắt-buộc phải nhận
một giấy thông-hành của Sô-viết. Các thỏa-hiệp Đức-Nga đả dự-pḥng
việc trao-đổi các người tị-nạn. Các gia-đ́nh bị ly-tán, sự thiếu-hụtlương
thực công với các việc khủng bố của cơ quan NKVD, càng ngày càng nặng nề
hơn ; một số người đả quyết-định trở về vùng người
Đức chiếm đóng của nước Ba-Lan. Ông Jules Margo line, vào mùa Xuân năm 1940, đả
hiện diện tại tỉnh LVDV thuộc vùng phía Tây Ukraine đả nói : ''-Các người
gốc Do-Thái thích các khu-vực Ghetto của Đức hơn sự '' b́nh-đẳng của
So-Viết ''. Họ tưởng-tượng là có thể rời khỏi vùng cai-trị của
chính-quyền Đức-Quốc-Xă được dể-dàng hơn là trốn-tránh qua ngă
của Liên-Bang Sô-Viết để đến một nước Trung-Lăp. Đầu
năm 1940, việc đưa đi lưu đày các người công-nhân Ba-Lan khởi đầu
( xin tham-khảo các đóng góp của Andrzej Packowski ) và tiếp-tục đến tháng sáu. Tất
cả các người dân Ba-Lan của mọi khuynh-hướng tôn-giáo đều bị đưa
lên vùng Bắc bao-la và vùng Kazakhstan bằng các đoản xe-hỏa. Đoàn xe của Jules Margolin
phải chạy 10 ngày mới đến vùng Mourmansk. Là một nhà quan-sát tỉ-mĩ kỹ-lưởng
về '' xă-hội tập-trung '' Ông đả viết : '' Việc khác-biệt với các trại
Sô-viết ở tất cảb mọi nơi giam-cầm trên thế-giới, đó không phải
riêng về tầm rộng bao-la, không-thể tưởng-tượng được cùng các
điều-kiện sinh-sống chết người. Đó là nhu-cầu '' nói láo '' không ngừng
để tự bảo-vệ lấy sự sống c̣n của ḿnh, nói láo luôn-luôn, đeo một
cái '' mặt nạ '' ( masque ) trong nhiều năm và không bao giờ có thể nói ra các tư-tưởng
của ḿnh. V́ vậy việc nói láo và việc tự giấu-diếm hay giả-vờ đả
trở-thành cách thức duy nhất để tự bảo-vệ. Các cuộc mít-ting, các cuộc
gặp-gở, các tờ báo dán ở trên các bức tường đều dùng các câu chính-thức
êm-dịu và không một câu nào về sự-thật. Tại nước Nga Sô-viết, người
công-nhân '' tự-do '' củbng bị bắt-buộc phải nói láo. Con người ở phương
Tây khó có thể hiểu được ư-nghĩa của sự cấm-đoán các quyền và
trong hoàn cảnh không thể được. Trong 5 hay 10 năm, có thể nói ra tự do, cho
đến '' tận cùng '' ( jusqu'au bout ) của sự bắt buộc phải đè nén các tư-tưởng
'' bất hợp-pháp '' ( pensée illégale ) và phải câm như nằm ở trong một cái mă ( tombe
). Dưới sức ép không thể tưởng-tượng được, tất cả
đều bị biến-dạng, méo-mó và làm tan-ră thể-chất của con người.
Cái
chết của các người tù nhơn số 41 và 42 Là thành-viên của văn-pḥng Công-nhơn
Xă-hội Quốc-tế, Victor Alter sanh năm 1890, là Thẫm-phán phó thị-xă trưởng ở
Varsovie ; ông đả từng giữ chức chũ-tịch của Liên-đoàn các nghiệp-đoàn
Do-thái. Ông Henryk Erlich là nhơn viên của hội-đ̣ng xă ở Varsovie và là chủ-nhiệm
của nhật-báo tiếng Yçish Folkstaytung. Cả hai dều là đảng viên của đảng
Xă-hội Do-thái của Ba-lan. Tên đảng gọi là Bund. Năm 1939 họ dều tị-nạn
qua vùng Ḥng-quân Sô-viết chiếm đóng. Alter bị bắt giam vào ngày 26 tháng 9 tại Kowel,
c̣n về phần Erlich đả bị bắt giam vào ngày ngày 4 tháng 10 tại Brest_Litovsk. Được
giải về nhà giam Loubianha ở Moscou, ông alter đả bị kết án tữ-h́nh ngày 20
tháng 7 năm 1941 với tội danh là đả có các hoạt-động '' chống Sô-viết
'' ( ông đả bị tố-cáo là đả điều-khiển các hành-động bất
hợp-pháp của đảng Bund ở Liên-Bang Sô-viết và đả liên-lạcvới an-ninh
Ba-lan. Bản án này đả do tập đoàn quân-sự của Ṭa-án tối-cao của Liên-bang
Sô-viết tuyên-án và sau khi xét lại ông bị án 10 năm giam-cầm ở các trại tập-trung.
Ngày 2 tháng 8, Erlich bị ṭa-án quân sự của các lực-lượng vơ-trang của cơ-quan
NKVD ở Saratov tuyên-án tữ-h́nh ; ngày 27 tháng 8, án này được giăm xuống c̣n 10 năm
giam-cầm ở các trại tập trung. Được phóng-thích vào tháng 9 năm 1941 theo thỏa-ước
của Sikorski-Maĩski , Alter và Erlich đả được Béria đ̣i đến tŕnh-diện,
và đề-nghị hai người này cổ-vơ cho Ũy-ban Do-thái chống lại các người
Quốc-xă ( nazis ) và hai người này đồng chấp-thuận. Trước sự tiến
quân của Đức, hai người này rút lui về Kouibychev và lại bị bắt giam trở
lại vào ngày 4 tháng 12 và bị buộc tội đả liên-lạc với các người
Nazi ! Béria ra lịnh giam họ dưới bí số 41 ( Alter ) và 42 ( Erlich ) và không ai được
biết căn-cước của hai người này. Ngày 23 tháng 12 năm 1941, hai người
này bị coi như là công dân Sô-viết, họ bị kết-án tử-h́nh v́ đả phạm-tội
phản bội. Trong những tuần lể sau đó, họ đả gởi nhiều đơn
xin lên các người có quyền, nhưng vô hiệu quả và hai người này củng không
được biết là ḿnh đả bị án xữ-tử . Ngày 15 tháng 5 năm 1942, Erlich
đả tự treo cổ ḿnh lên các cây song-sắt ở trong xà-lim nhà giam. Đến khi mở
hồ-sơ của ông, người ta vẫn tưởng là ông bị hành-quyết. Victor
Alter đe doa sẽ tự-sát. Bérin ra lịnh tăng cường việc kiễm-soát. Victor
Alter đả bị hành-quyết ngày 17 tháng 2 năm 1943. Bản án ngày 23 tháng 12 năm 1941đả
được Staline đích thân duyệt-y . Đáng chú ư là việc hành-quyết ông này đả
diễn ra vào một thời-gian ngắn sau cuộc thắng trận ở Stalingrad. Cộng
thêm với việc ám-sát ông Victor-Alter c̣n thêm sự vu-khống : Alter và Erlich đả tuyên-truyền
cho việc kư-kết một ḥa-ước với nước Đức-Quốc-Xă. ( Tài
liệu trích từ văn-khố của cơ-quan NKVD đăng trên nguyệt-san East European
- Jewish Affairs số 2 - mùa Đông năm 1992 )
Vào mùa Đông 1945-1946, bác-sĩ Jacques Pat, thư
kư của Ũy-ban các công-nhơn gốc Do-thái ở Mỹ quốc đả nhận nhiệm-vụ
đi sang nước Ba-lan để mở một cuộc điều-tra về các tội-ác
của các người Nazi. Khi trở về Mỹ, ông đả cho đăng một loạt
bài trên tờ báo Jewish Daily Forward viết về số phận các người Do-thái tị-nạn
ở Liên-bang Sô-viết. Ông đả ước-lượng là đả có 400 000 người
đả chết v́ bị đưa đi lưu-đày, ở trong các trại cưởng
bách lao-động hay là ở các tổ lao-động. Vào lúc chiến-tranh chấm dứt,
150 000 người này khi đả được đi vưoọt qua khỏi biên-giới
Ba-lan _ Sô-viết không bao giờ nói đến nửa tổ-quốc Xă-hội Chủ-nghĩa
Liên-bang Sô-viết, chế-độ độc-tài và dân-chủ nơi này. Đối với
họ các cuộc tranh-luận đả chấm dứt và câu nói chót của họ : '' là chạy
trốn khỏi nơi này '', Bác-sĩ Jacques Pat đả hỏi hàng trăm người này.
Các người tù-binh Sô-viết bị cưởng-bách trở
về nước
Nếu ai có liên-lạc với người nước ngoài, hay là
v́ nhu-cầu ǵ cần phải liên-lạc với các người của nước ngoài hay
là một ai từ nước ngoài đến URSS là trở thành một người đến
chế độ. Bị bắt làm tù-binh và đả sống 4 năm khỏi lănh thổ quốc-gia
đả khiến cho các người quân-nhân Nga bị lính Đức bắt làm tù-binh lại
trở-thành một con người đáng chịu một h́nh phạt. Đạo luật
số 270 của năm 1942 đả thay đổi điều 193 củ bộ h́nh-luật,
được coi là một người tù-binh bị quân-thù bắt được là ( ipro
facto ) là một người phản-bội. Không đếm xỉa ǵ đến hoàn-cảnh
bị bắt và việc bị giam-cầm đả diểnra, việc bị giam-cầm đối
với các tù-binh Nga thật là đáng ghê-sợ. Các người Slaves bị coi là hạng người
thấp kém ( sous-homme ) và số phận của họ đả được quyết-định
là họ sẽ phải '' biến-mất '' ( disparaître ) theo như Weltans Chaung của chủ-nghĩa
quốc-xă_Nazi_ v́ vậy trong số 5.700.000 tù-binh Nga bị bắt v́ chiến-tranh, đả
có 3.300.000 người đả chết v́ bị ngược đải và chết đói,
cùng với các chứng bịnh mà không được săn-sóc. V́ vậy theo lời yêu-cầu
rất sớm của các đồng-minh, mà Staline đả quyết-định cho hồi-hương
tất cảcác người Nga đang ở trên các phần đất ở về phía Tây.
Các nước đồng-minh rất lấy làm bối-rối về vấn đề nuôi
ăn số quá đông tù-binh Nga bị quân đội Đức Wehmacht bắt. Việc này
được giải-quyết rất mau. Cuối tháng 10 năm 1944 cho đến tháng Giêng
năm 1945 đả có 332.000 tù binh người Nga ( trong số này có 1.179 người từ
San Francisco ) đả được đưa trả trở về dù chưa có sự chấp
thuậ của URSS. Không những các nhà ngoại-giao Anh và Mỹ đả vô-t́nh ( aucun état d'âme
) mà đề cập đến vấn đề này với một lượng tính vô liêm-sĩ
mà họ không biết, như ngoại-trưởng Anthony Eden đả nói phải dùng đến
sức mạnh để giải-quyết vấn đề này. Trong lúc diễn ra các cuộc
thương-nghị ở Yalta từ ngày 5 đến 12 tháng 2 năm 1945, cả ba thủ-lănh
( Sô-viết-Anh-Mỹ ) đả kư-kết các thỏa-ước bí-mật bao gồm các quân
nhơn cùng các người thường dân đả bị di-chuyễn v́ chiến-tranh.Churchill
và Eden đả chấp-nhận để Staline quyết-định số phận các người
tù-binh đả chịu gia-nhập và chiến đău trong hàng-ngủ của đạo quân
Nga giải-phóng ROA do tướng Vlassov chỉ-huy và mong là các người này sẽ được
hưởng một sự xữ-án công-bằng và được bảo-đảm. Staline
biết rỏ là một phần các người bị bắt làm tù-binh là do sự rối-loạn
về tổ-chức trong lúc mới xăy ra chiến-tranh, xảy ra trong lúc các đội-ngũ
của Ḥng-quân mà Staline là người đầu tiên phải chịu trách-nhiệm, về sự
thiếu khả-năng của các vị tướng và của chính Staline. Và có một điều
là các người quân-nhơn này đả không muốn chiến đău để bảo vệ
một chế-độ ghê-tởm ( exécré ) này và đả nhắc lại một câu diễn-tả
của Lénine : '' đả bầu với đôi chân ''( a voté avec leurs pieds ). Sau khi hiệp-đînhYalta
được kư-kết, không có một tuần nào mà lại không có các đoàn tàu, rời các
đảo của Anh-quốc để chở trả về nước Nga các người
tù v́ chiến-tranh. Trong hai tháng 5 và 6 năm 1945, có tất cả là 1.300.000 người đả
được đưa hồi-hương luôn cả các người thường dân đang
cư-ngụ trong các vùng chiếm đóng mà Moscou coi là các công-dân Sô-viết, gồm luôn các người
Ukraine và 3 nước ở ven biển Baltique. Cuối tháng 8 năm 1945 đả giải-giao
2 triệu người cho các người Sô-viết, và đả có rất nhiều trường-hợp
dử-tợn thường xảy-ra : các việc tự-sát cá-nhơn và nhiều khi có các vụ
tự-sát tập-thể ( toàn-thể một gia-đ́nh ) và luôn cả việc tự hũy-hoại
thân-thể để trở nên tàn phế ; các người tù-binh kháng cự lại một
cách thụ-động và các người Anh-Mỹ đả không ngần-ngại xữ-dụng
'' sức-mạnh '' để đàn-áp các người tù-binh này hầu để đáp-ứng
các sự đ̣i-hỏi của các người Sô-viết. Khi đến nơi, các người
'' hồi-hương '' được đặt dưới sự canh gác của các toán công-an
chính-trị. Trong ngày chiếc tàu Almanzora đến bến Odessa, vào ngày 18 tháng 4 đả xăy
ra các cuộc hành-quyết đơn-giản. Và màn ảnh này lại tái-diễn khi chiếc
tàu Empire Pride cặp bến tàu ở trong biển Hắc-Hải ( Mer Noire ). Các nước
phương Tây lo-ngại là URSS sẽ giữ làm con tin các tù-binh người Mỹ-Anh-Pháp và
dùng các người tù-binh này làm món hàng trao-đổi, thái-độ rất rỏ-ràng trong các
khuynh-hướng của họ trước các sự đ̣i-hỏi tuyệt-đối ( diktat
) của các người Sô-viết, bắt buộc phải đưa '' hồi-hương
'' tất cả các người dân Nga đả di-cư sau cuộc cách-mạng năm 1917.
Chính-sách này đả được các người ở phương Tây hiểu rỏ, dù
có thỏa-mản các sự đ̣i-hỏi tuyệt-đối của các người Sô-viết,
vẫn không đạt được kết-quả để làm dể-giải việc trở
về của các người công dân của nước họ. Trái lại, nó c̣n cho phép một
số người cán-bộ Sô-viết được đi truy-lùng các người '' ương-ngạnh
'' và các người cán-bộ Nga đả hành-động coi thường các luật-lệ
của các nước đồng-minh. Về phần nước Pháp, Bản Thông-báo của
Bộ Tư-lịnh Quân-sự Pháp chiếm đóng nước Đức xác-nhận là đến
ngày 1 tháng 10 năm 1945 đả trả trở về cho các người Sô-viết Nga một
số là 101.000 người đả bi chiến-tranh '' di-chuyễn '' họ đi. Và luôn tại
nước Pháp, chính-quyền đả cho thiết-lập 70 trại để tiện việc
'' tái tập họp lại '' (regrouper ) và được hưởng-quyền '' bất xâm-phạm
'' như trại Beauregard ở tại vùng ngoại-ô Paris, và trên các trại này chính-quyền
đả từ-khước làm các việc kiễm-soát và đả chấp-nhận cho các
cán-bộ vủa cơ-quan NKVD hoạt-động ở Pháp không bị trừng-phạt ( impunité
), đả làm trái lại và mâu-thuẩn với chủ-quyền tội-cao của Quốc-gia
( souveraineté nationale ). Các người Sô-viết đả suy-tính kỹ-lưỡng và sâu-sắc
về các hành-động đem những người có liên-hệ với họ trở về
nước, cùng với sự hổ-trợ của đảng Cộng-sản Pháp, họ
phát-động một cuộc tuyên-truyền khéo-léo. Vào tháng 11 năm 1947 trại Beauregard đả
xảy ra vụ x́ căn đan ( scandale ) về việc bắt cóc các trẻ em của một
gia-đ́nh đang ợở trong t́nh-trạng ly-dị, ông Robert Wybot một công-chức
Pháp nhười đả chịu trách-nhiệm về việc đóng cửa trại
này đả tuyên-bố : '' Theo các tin t́nh-báo mà tôi có được, các trại '' tập họp
'' này, nói nới đúng nghỉa hơn là các trại '' bắt cóc trẻ em ''. Các việc phản-kháng
về chính-sách của người Sô-viết đả xảy ra quá trể và hiếm-hoi. Măi
đến mùa Hè ( tháng 7 năm 7947 ) tờ nguyệt-san xă-hội '' Quần-chúng '' ( la Masse
) mới đăng : '' Khi Gengis-Khan-Thánh Cát Tư Hản đả ra lịnh khép kín các biên-giới
của nước ông để các người nô-lệ không thể chạy trốn được,
đây là một chuyện dể-hiểu !, nhưng ông ấy lại có thêm một quyền
trục-xuất ra khỏi lănh-thổ của các nước khác ? Việc này nó vượt
qua quá nhiều nền luân-lư suy-đồi của thời hậu chiến. Lăy quyền ǵ mà
người ta bắt-buộc con người phải sinh-sống trong một nước mà
sự '' nô-lệ '' bản-thân và luân-thường được áp đặt ? Thế-giới
đang mong đợi ǵ ở nơi Staline, để rồi phải lặng-câm trước
các tiếng kêu-than của các người công-dân Nga, khi các người công-dân này muốn tự-sát
hơn là bị cưởng-bách trở về đất nước của họ.. Các vị
chủ-nhiệm của nguyệt-san nảy đả tố-cáo các vụ trục-xuất sau
đây : '' Trước sự thờ-ơ của quảng-đại quần-chúng đả
khuyến-khích việc xâm-phạm các quyền xin '' ẩn-trú '' ( droit asile ) các vị tư-lịnh
quân-sự người Anh đóng tại nước Italie đả vi-phạm một tội-ác
không thể nói được. Ngày 8 tháng 5, người ta đả đem ra khỏi trại
số 7 ở tại Ruccioné 175 người Nga và cho họ biết rằng họ sẽ được
đưa sang Tô-Cách-Lan ( Ecosse ), và cùng ngày họ củng đem ra khỏi trại số 6 mười
người ( trại này chỉ gồm có toàn phần là các gia-đ́nh ). Khi số 185 người
này đả rờbi xa các trại, những quân nhơn người Anh đả lục-soát
tất cả mọi người và tịch-thu tất cả các đồ vật ǵ có thể
dùng để tự-sát, và sau đó, họ mới nói ra sự-thật '' là tất cả các
người này sẽ được đưa về nước Nga chớ không phải đi
sang nước Tô-Cách-Lan ( Ecosse ).Cùng ngày này, người ta củng đả đem đi 80
người thuộc dân gốc vùng Caucuse , lấy ra từ trại ở Pise. Tất cả
các người xấu-số này đả được đưa đi xang nước
Áo, chở trên các toa xe lửa và do những người lính Anh canh giữ. Có một vài người
toan tính chạy trốn nhưng đả bị các người lính Anh bắn chết. Các
người Nga '' hồi-hương '' này đả bị tập-trung vào các trại gọi
là '' thanh-lọc và kiễm-soát '' ? Các trại này đả được thành-lập từ
năm 1941 và củng ở cùng với các trại lao-động và đả được
sát-nhập vào hệ-thống các Goulag vào năm 1946. Trong ṿng năm 1945 đả có 210 000 người
tù bước qua ngưởng cửa của các trại này và các người tù này đả
được hội-nhấp vào các Goulag vào thời cao-điễm của tổ-chức
này ; nói tổng-quát chiếu theo điều-luật số 58-1-b, họ đả bị tuyên-án
tập-thể 6 năm tù giam ở các trại lao-động. Trong số các người vô-phước
này có một số người đả tham-gia vào lực-lượng quân-đội giải-phóng
người Nga và đả chiến đău chống lại quân-đội SS của Đức-Quốc-Xă
để giải-phóng thành-phố Prague ở Tiệp-Khắc ( Tchécolovaquie ).
Việc
đối xữ với các tù-binh '' địch '' Năm 1929 ? tại Genève có một cuộc
họp và để kư một thỏa-ước về các tù-binh chiến-tranh. Liên-Bang Sô-Viết
URSS không có tham-gia kư-kết thỏa-ước này. Trên lư-thuyết th́ các tù binh đều được
bảo-vệ tuy là nước của họ đả không có kư vào thỏa ước này.
Nhưng Liên-Bang Sô-Viết không có '' đếm xỉa '' ǵ thỏa-ước này và đối
với họ là vô giá-trị. Là nước thắng-trận, URSS c̣n giam-giữ từ 3 đến
4 triệu tù-binh người Đức. Trong số các tù-binh người Đức này, có
một số người tù-binh được quân-đội Mỹ-Anh-Pháp đả phónh-thích
; họ trở về quê-hương của họ trong các vùng do Hồng-quân Nga chiếm đóng,
họ đả bị bắt trở lại và bị đưa đi lưu-đày ở
các trại lao-động trong nước Nga. Đến tháng 3 năm 1947, ngoại trưởng
Nga Viatcheslav Molstov đả tuyên bố là đả có một triệu người Đức
được hồi-hương, ( đúng số là 1.003.000 người ) và c̣n lại một
số là 890.532 người c̣n bị '' quản-thúc '' ở nước Nga. Con số này đả
bị bác bỏ. Đến tháng 3 năm 1950 ? Liên Bang Sô-Viết tuyên-bố là việc hồi-hương
các tù-binh đả hoàn-tất. Tuy vậy, các tổ chức nhơn đạo đả báo
cáo là c̣n lại một số là 300.000 tù-binh c̣n bị giam-giử lại cùng với 100.000 người
thường dân. Ngày 8 tháng 5 năm 1940, chính-phủ Lục-Xâm-Bảo ( Luxembourg )phản-kháng
việc chấm dứt '' hồi-hương '' và đóng cửa các trại v́ c̣n có 2000 công
dân của họ vẫn c̣n bị giữ lại trên đất Nga. Việc giữ lại
các thông-tin về số phận các tù-binh đả có dụng ư là che dấu các sự thật
đáng buồn về định mệnh của các tù-binh ? Người ta liền nhỉ
đến con số ''tử-vong '' của các người '' tù-binh '' trong các trại-giam. Một
ũy-ban đặc-biệt, mang tên Machke ước-lượng rằng đả có 1.000.000
người tù-binh Đức đả bị Hồng-quân Nga bắt sau trận chiến-thắng
ở Stalingrad, chỉ c̣n có 6000 người sống-sót được trả về. Bên cạnh
hay là cùng với các người tù-binh người Đức củng có 60000 người tù-binh
người Italie đả sống-sót vào tháng 2 năm 1947 ( con số 80000 người củng
được đưa ra. Chính-phủ Italie đả công-bố là đến ngày tháng kể
trên, chỉ có 12513 người tủ-binh Italie được phóng-thích và được đưa
trả trở về nước Italie. Và phải tính thêm vào số tù-binh người Hongrie
và Roumanie, chiến đău với quân-đội Đức-quốc-xă trên mặt trận Nga
củng chịu chung một số phận. Tháng 3 năm 1954, một trăm người t́nh-nguyện
Espagne thuộc sư-đoàn '' AZUL '' chiến đău với quân-đội Đức-quốc-xă
được phóng-thích. Và với việc nh́n tổng-quát về số tù-binh '' đîch '' sẽ
c̣n thiếu sót nếu không nói đến số-phận 900000 tù-binh Nhựt trên bị-bắt
ở các mặt trận ở Mản-châu- Mandchouric vào những ngày cuối của đệ
nhị thế-chiến.
Thăm-cảnh của
những người '' mặc dầu chúng tôi '' hay '' Bất đắc dỉ '' - Malgré nous
Ở
trong các trại-giam của cộng-sản có một câu nói ( dicton ) đả diển ra hoàn-toàn
về đa số các nguồn-gốc của các sắc-tộc mà trong toàn số dân của
chế-độ lao-tù sô-viết : '' Nếu nước nào không có người đại-diện
ở trong các Goulog, nước đó không có trên thế-giới này ''. Nước Pháp củng
có một số người tù-giam mà bộ Ngoại-giao Pháp đả không tích-cực để
bảo-vệ và phàn-kháng để hầu cho các người tù-binh này được trở
về Pháp. Mùa Xuân năm 1940, quân đội Pháp đả xin ngưng chiến ( armistice
) ngày 17 tháng 6. Ba tỉnh Moselle-Thượng vàHạ sông Rhin đả được các người
Nazi ( Quốc-xă ) đối xữ một cách đặc-biệt : Các vùng Alsace-Loraine đả
bị xát nhập vào lảnh-thổ Đức-quốc, bị Đức hóa và luôbn Quốc-xă
hóa. Năm 1942, các người Quốc-xă đả quyết-định '' cưởng-bách
'' các thanh-niên ở tuổi quân-dịch ( sinh từ các năm 1920 đến 1924 ) phải nhập
ngủ vào quân đội Đức. Rất nhiều thanh-niên là dân của các vùng Moselle và Alsace,
không hề muốn phục-vụ dưới lá cờ của Đức-Quốc-Xă và t́m mọi
cách để trốn-tránh cái việc này mà người Quốc-Xă đả đặc cho
cái tên '' Đặc-quyền '' ( privilège ). Cho đến ngày chiến-tranh chấm dứt, đả
có tất cả 21 tuổi đả bị động-viên ở vùng Alsace và 14 lớp tuổi
đả bị động viên ở vùng Moselle. Tổng số là 130000 thanh-niên đả
bị cưởng-ép phải đi chiến đău trên mật trận ở đất Nga.
22000 thanh-niên này đả tử-trận. Phong-trào '' nước Pháp tự-do '' của tướng
De Gaulle đả thông-báo t́nh-trạng của các thanh-niên '' bất đắc dỉ '' này (
les malgré nous ) cho các nhà cầm-quyền quân sự Sô-viết để họ hiểu rỏ
hoàn-cảnh của các thanh-niên này. Ở tại mật trận Nga, các người Sô-viết
đả kêu gọi các thanh-niên này hảy đào-ngũ, hứa với họ là họ sẽ
được đưa trả vào cho phong-trào nước Pháp tự-do hầu họ có thể
chiến đău chống lại quân đội Đức. Dù vậy và trong mọi trường-hợp,
đả có 23000 người lính '' bất đắc dĩ '' này đả bị bắt làm
tù-binh ; đó là con số mà măi đến năm 1995 cơ-quan của nước Nga ? đả
trao các hồ-sơ liên-hệ cho chính-phủ Pháp. Một số lớn các người lính ''
bất đắc dĩ '' này được tập-họp tại trại-giam số 188 ở
Tambov và đặc dưới sự canh gác của cơ-quan MVD ( cựu NKVD ) với sự
sống c̣n rất là kinh-hoàng : thiếu ăn v́ mỗi ngày được phát có 600 gờ-ram
bánh ḿ đen, lao-động khổ sai trong càc khu rừng, chổ ở đơn-sơ trong
các căn nhà bằng gổ với phân nửa được chôn dưới đất và
không có được hưởng một sự săn-sóc y-tế nào cả. Các người
sống-sót ở đây đả ước-lượng là đả có 14000 người tử-vong
vào các năm 1944 và 1945. Ông Pierre Rigoulot đả cho xuất bản cuốn sách : : '' Thảm
kịch của các người Bất Đắc Dĩ ''. '' Tambov trại-giam người
Pháp ''. Nhà xuất-bản Denoel-1990, đả đưa ra con số 10000 người mất-tích.
Sau nhiều cuộc thương-lượng lâu dài, 1500 người tù-binh đả được
trả tự-do vào mùa hè năm 1944 và được chởb trả về Alger. Nếu Tambov
là nơi có trại-giam là một số lớn người dân Alsace-Lorraine bị giam-cầm,
c̣n có nhiều trại-giam khác ở nhiều nơi khác đả giam-giữ nhiều người
Pháp và tạo lên h́nh-ảnh của các tiểu quần-đảo đả cản-trở
các người Pháp này không chiến-đău được để để giải-phóng
tổ-quốc của họ.
Nội chiến và chiến-tranh giải-phóng Quốc-gia Khi
hiệp-ước Đức-Quốc-Xă và Liên-bang được kư-kết, đó là việc
làm và thời điễm mà các đảng cộng-sản của các nước đả
sụp đổ v́ các đảng viên không chấp-nhận chính-sách chống phát-xít bị bỏ
rơi nhưng đến ngày 21 tháng 6 năm 1941 khi quân đội Đức Quốc-Xă tấn
công vào lănh-thổ Nga th́ phản-ứng chống phát-xít được phát-động liền
trở lại liền. Ngày 23 tháng 6 tổ-chức Komintern đả dùng đài phát-thanh và đánh
các điện tín cho các chi-bộ của tổ-chức này trên toàn thế-giới và giải-thích
lúc này hảy xếp qua một bên các việc cách-mạng xă-hội mà là giờ đău-tranh chống
lại phát-xít và trận chiến để giải-phóng quốc-gia. Đồng thời, tổ
chức Komintern đ̣i hỏi tất cả các nước cộng-sản của các nước
bị quân-đội Đức chiếm đóng phải lập tức có các hành-động
vơ-trang. Chiến-tranh là một h́nh-thức giúp cho đảng cộng-sản có cơ-hội
để thữ-nghiệm một '' hành động mới '' : đău tranh vơ-trang và phá hoại
bộ máy chiến-tranh củ Hitler và tạo các điều-kiện để phát-triễn
chiến-tranh du-kích. Các bộ máy bán quân-sự được tăng cường để
tạo thành những người cán-bộ của các toán vơ-trang cộng-sản, và tùy theo từng
nước hay tùy theo các địa-h́nh ( géographie ) cùng các hoàn-cảnh sẽ trở-thành các
tổ-chức du-kích đáng kể như ở Hy-lạp-Grèce và ở Nam-tư-Yougoslavie. Khởi
đầu từ năm 1942 và đến năm 1943 ở Albanie và miền Bắc Italie
vào cuối năm 1943. Nếu gặp trường-hợp thuận lợi, các hoạt-động
của các tổ-chức du-kích sẽ cướp lấy chính-quyền không từ nan có thể
xăy ra cuộc nội-chiến. Điển h́nh về '' Định hướng mới ''
này là các việc đả diển ra ở Yougoslavie. Từ mùa xuân năm 1941 Hiler đả
phải gởi quân-đội qua Hy-lạp-Grèce để cứu đồng-minh của ḿnh
là Italie đang '' xa lầy '' tại đây v́ phải đương đầu với một
đạo quân nhỏ bé quyết-chiến. Và đến tháng 4 năm 1941, Hitler đả phải
gởi quân-đội qua Yougoslavie và chính-phủ thân Đức ở đây đả bị
lật đổ bởi một cuộc đảo-chính của nhóm thân nước Anh. Ở
tại hai nước này đả từng có các đảng cộng-sản yếu-ớt
nhưng lại giàu kinh-nghiệm, : Họ đả hoạt-động trong ṿng bí-mật từ
nhiều năm qua v́ các chế-độ độc tài của Stojadinovic và Metaxás đả
cấm các đảng cộng-sản hoạt-động công-khai. Sau khi chính-phủ Yougoslavie
xin đ́nh-chiến, nước Yougoslavie đả bị chia cắt cho các nước Italie,
Bulgarie và Đức. Thêm vào đó một cái gọi là '' nước Croatie '' độc-lập
đả do các người cực-hữu nắm chính-quyền, các người được
gọi là Outachi do Ante Paveclic lănh đạo và đả thi-hành chính-sách '' kỳ-thị '' đối
với các người Serbe ; đưa đến các việc tàn sát các người Serbe rồi
lan luôn qua các người Do-thái và Tziganes. Chủ-trương không chấp nhận một sự
đối-lập nào đả khiến cho nhiều Croate tham-gia vào cuộc kháng chiến. Ngày
18 tháng 4 năm 1941, sau khi quân đội Yougoslavie đả đầu-hàng quân đội Đức,
các người đầu tiên bỏ trốn vô rừng để tổ-chức kháng chiến
là các sĩ-quan hoàng-gia tập hợp chung quanh Đại-tá Drazá Mihailovic và chẳng bao lâu sau
ông được chỉ định là người chỉ-huy kháng-chiến Yougoslave, rồi
trở thành Bộ-trưởng Bộ Chiến-tranh của Chính-phủ Hoàng-gia Yougoslave lưu-vong
sang Anh. Chỉ sau khi quân Đức xâm lăng Liên-bang Sô-viết ngày 21 tháng 6 năm 1941, th́ các
người cộng-sản mới quy-tụ lại với sứ mạng mới là đău-tranh
để giải-phóng quốc-gia khỏi ách phát-xít nhưng chưa phát-động cuộc
cách mạng xă-hội. Về phần Đại-tá vừa được thăng lên tướng
Mihailovic th́ lo tổ-chức tại vùng Serbie một quân đội toàn người Serbe và họ
được đặc tên là Tchetniks. Trong lúc Moscou muốn '' vị nể '' càng lâu càng tốt
nơi chính-phủ hoành-gia lưu-vong Yougoslave để đừng làm các đ̣ng minh người
Anh lo ngại. Lănh tụ cộng-sản Tito căm thấy ḿnh có đủ sức mạnh để
hành-động theo ư muốn và đường hướng của ḿnh, từ chối sự
đặt ḿnh dưới sự tuân lệnh của chính-phủ hợp-pháp đang lưu-vong.
Không đặt vấn đề khác biệt sắc-tộc trong việc tuyển mộ các
chiến sĩ v́ Tito là người thuộc sắc dân Croate, ông thiết-lập các căn cứ
du-kích quân ở Bosnie. Trở thành các đối thủ, hai phong-trào đ̣ng phát-triển các mục
tiêu dối chọi nhau đả quay lại chống nhau. Để đối phó với các
kỳ vọng của các người cộng-sản, Mihailovic đả nương các người
lính Đức và gần như đồng minh với các người Italie. T́nh h́nh đả
trở nên một sự hổn-độn thật sự, trộn lẩn một sự chiến-tranh
giải-phóng với một cuộc nội chiến, các sự đối chọi về chính
trị cùng với hận-thù sắc-tộc đả tăng lên v́ chịu sự chiếm
đóng của một quân đội ngoại quốc. Đả xăy ra biết bao nhiêu cuộc
tàn sát lẫn nhau do từ mọi phía, mà nơi đó mọi phía t́m cách tiêu diệt các đối
thủ chính của ḿnh hầu áp đặc được quyền lực lên dân chúng. Các
sữ gia đả đưa ra con số một triệu người đả chết trên
dân số mười sáu triệu cho toàn quốc. Bị hành-quyết, tù binh bị sữ bắn,
các người bị thương cũng bị giết luôn và sự trả thù dưới
mọi h́nh thức không hề ngưng và chuyện này đả trở nên dễ dàng v́ nền
văn-hóa vùng Ba-lan này là môi-trường của sự nuôi dưởng việc chống đối
các bộ lạc hay bè đảng. Nhưng có một sự khác biệt giữa các cuộc
tàn sát do phe tchetnik và các cuộc tàn sát do các người cộng-sản chủ-trương
: các người tchetnik họ chỉ chịu lịnh của bộ chỉ-huy trung ương
một cách lỏng-lẽo và đả có nhiều nhóm đả không chịu sự kiễm-soát
của tướng Mihailovic đả chủ trương các cuộc tàn sát này trên tiêu-chuẩn
sắc tộc hơn là chính-trị. Về phần các người cộng-sản họ hành-động
theo các tiêu-chuẩn quân sự và chính-trị ; Milovan Djilas, một người phụ tá đắc
lực của Tito, về sau đả biểu lộ : '' Chúng tôi rất lấy làm oán hận
về các lư do v́ sao các người nông dân đả ủng-hộ các người tchetnik, họ
nói họ sợ v́ các nhà của họ sẽ bị đót hủy và sẽ phải chịu
các sự trả thù khác. Vấn đề này đả được nêu lên trong một buổi
họp với Tito, và lư lẽ sau đây đả được đưa ra : '' Chúng ta phải
giải-thích cho các người nông dân để họ hiểu là nếu họ ủng hộ
các người xâm lăng trong đó có sự chen vào của các người tchetnik , các người
kháng-chiến thân hoàng-gia và các người Đức xâm lăng, chúng ta cũng đót phá các
nhà cửa của họ ; như vậy họ sẽ đổi lập trường. '' Sau
cùng Tito đả quyết định dứt khoát :'' Thôi được thỉnh-thoảng
chúng ta cũng đốt phá một cái nhà hay một xóm làng''. Về sau Tito cũng đả
ra lịnh nằm trong chiều hướng này- các lịnh này quyết định hơn v́
nó đả được giải-thích rỏ ràng hơn. Tháng chín năm 1943, nước
Italie đầu hàng Đồng-minh. Thủ-tướng Churchill quyết-định viện-trợ
quân sự của Đồng-minh cho Tito thay v́ cho Mihailovic, rồi đến việc Tito
thành-lập Hội-đồng chống Phát-xít và giải-phóng quốc-gia Yougoslavie (AVNOJ) vào
tháng chạp năm 1943, các người cộng-sản đả đạt được
một thắng lợi về chính-trị trên các đối thủ cũa họ. Cuối năm
1944 sang đầu năm 1945, các thân binh cộng sản đả sửa-soạn để
lan tràn và chiếm đóng toàn diện lănh thổ của Yougoslavie. Khi quân lực Đức
quốc xă sắp sữa đầu hàng Đồng minh, Pavelic và quân lực của ông, các người
công chức cùng với gia-đ́nh, tổng cộng vài chục ngàn người, đả rút
chạy về phía biên-giới Áo quốc. Các Bạch quân người slovène và những tchetniks
người monténégrins đả cùng với những người lính của Croatie đả
họp nhau tại Bleiburg, nơi đó họ đả đầu hàng quân lực Anh quốc
và đồng bị giải giao cho Tito. Các người lính, các người công-an và cảnh-sát
đủ mọi loại đả bị cưởng ép ra đi trên một khoảng đường
dài vài trăm kí-lô mét xuyên qua hết nước Yougoslavie và cuộc đi này được
biết dưới tên là :'' hành-tŕnh của tữ-thần ''. Những người tù-binh slovènes
này được đưa về vùng Slovénie trong địa phận Kocevje và đả có
khoảng hai hay ba chục ngàn người đả bị hạ-sát. Là kẻ chiến-bại,
các người Tchetnik đả không tránh được sự trả thù của các thân binh
cộng-sản v́ các người này khôbng bắt tù-binh. Milovan Djilas đả nói lên giai-đoạn
cuối cùng của các người Serbes nhưng không giám tiết lộ các chi-tiết thật
sự của các hành-động rùng-rợn nơi cuộc hành quân cuối cùng này : '' Các người
lính của Drazá ( Mihailovic) đả bị tiêu diệt một lúc cùng với các người
lính Slovénie. Các toán nhỏ người Tchetniks họ chạy thoát được về vùng
Monténégro sau cuộc bị đè nát này, đả thuật lại những sự việc rùng-rợn
đả xảy ra tại nơi đó. Không một ai dám nói lạitất cả các diễn
biến đả xảy ra, dù là những người đả từng nêu cao tinh-thần
cách mạng. Và đó là sự kết thúc của một cơn ác-mộng. Bị bắt, bị
đem ra xữ và bị tuyên án tữ-h́nh, Drazá Mihailovic đả bị xử bắn ngày 17
tháng 7 năm 1945. Trong lúc xử án, các vị sĩ-quan Đồng-minh đả được
biệt phái đến cố vấn ở bộ tham mưu của tướng Mihailovic và
đả từng chiến đău với vị tướng này chống lại quân đội
Đức Quốc-Xă, các lời chứng của các vị sĩ-quan Đồng-minh để
'' minh oan'' cho tướng Mihailovic đều bị ṭa án bác bỏ. Sau chiến tranh trong một
cuộc đàm-thoại cú Staline với Milovan Djilas ông đả bày tỏ căn-bản triết
lư của ông :'' Kẽ nào chiếm đoạt được một vùng lănh thổ có quyền
áp đặt chế độ xă-hội của họ tại nơi đây. Với cuộc
đệ nhị thế chiến, các người cộng-sản Hy-lạp -Grèce củng đả
ở cùng một trường hợp với các người đồng chí Yougoslave của
họ. Ngày 2 tháng 11 năm 1940, sau vài ngày quân đội phát xít Italie đả xâm lăng nước
Hy-lạp, ông Nikos Zachariadis, thơ-kư của đảng cộng-sản Hy-lạp viết tắt
là KKE, bị cầm tù từ tháng 9 năm 1936 đả kêu gọi quân dân đứng lên kháng-chiến
:'' Quốc-gia Hy-lạp ngày hôm nay đả đang chiến đău trong một cuộc chiến-tranh
giải-phóng quốc-gia chống lại phát-xít Loussolini.(...) Tất cả mọi người
phải chiến đău, mỗi người ở vị-trí của ḿnh ''. Nhưng qua ngày7 tháng
12, một bản tuyên ngôn của Ũy Ban Trung Ương bí mật của đảng cộng-sản
đả nêu lên vấn đề của sự định hướng trong lời kêu gọi
nơi Nikos Zachariadis và KKE vẩn giữ đường lối chính thức của tổ-chức
Komintern, đường lối chủ bại cách-mạng. Ngày 22 tháng 6 năm 1941 diễn ra
một cuộc '' trở mặt ngoạn mục '' : '' KKE ra lịnh cho tất cả đảng
viên tổ chức một cuộc đău-tranh để bảo-vệ Liên bang Sô-viết và lật
đổ ách phát-xít ngoại-quốc ''. Các kinh-nghiệm '' đău-tranh và hoạt-động''
trong bóng tối rất là quư cho các người cộng-sản cùng các điều liện thuận
lợi. . Ngày 16 tháng 7 năm 1941, cũng như các đảng đảng cộng-sản của
các nước khác, họ đả thành-lập Mật trận Công-nhơn Giải-phóng quốc-gia
viết tắt là EEAM (Ergatiko Ethniko Apélevthériko Métopo ), và tập hợp được 3 tổ
chức nghiệp đoàn. Đến ngày 27 tháng 9, được tổ chức thành một
tổ chức khác tên là EAM ( Ethniko Apélevthériko Métopo). Mật trận quốc-gia là cánh tay
chính-trị của đảng cộng-sản. Đến ngày 10 tháng 2 năm 1942, lại thêm
một tổ chức : Quân đội nhơn dân giải-phóng quốc-gia, viết tắt là
ELAS ( Ellinikos Laikos Apélevthérotikos Métopo ) và các tổ-chức ở trong bưng đả được
thành lập vào tháng 5 năm 1942, theo sáng kiến của Aris Velouchiotis ( và c̣n có tên khác là Thanassis
Klaras ) một người đấu tranh có nhiều kinh nghiệm và y đả kư một
tờ tuyên bố quy thuận để được ra khỏi khám đường. Và từ
đó nhân số của ELAS tiếp-tục gia tăng. ELAS không phải là một tổ chức
quân sự duy nhứt để kháng chiến. C̣n có thêm tổ chức EDES ( Ethnikos Démokratikos
Ellinikos Syndesmos) tên viết tắt của tổ chức đoàn kết quốc-gia dân chủ
Hy-lạp đả do các nhơn dân và thường dân cộng-ḥa, được tổ chức
từ tháng 9 năm 1941 do một vị đại tá hồi hưu tên Napoléon Zervas, chỉ huy
một nhóm du kích quân. Một tổ chức thứ ba được thành lập vào tháng 10
năm 1942 do đại tá Psarros chỉ huy, tên viết tắt là EKKA ( Ethniki Kai Koiniki Apélevthérosis)
phong-trào giải-phóng xă-hội và quốc-gia. Mỗi một tổ chức đều mưu
tính thu nhập các đoàn viên và các người đău tranh thuộc các tổ chức khác. Nhưng
với các thành công và sức mạnh của tổ-chức ELAS đả khiến cho các người
cộng-sản lạnh lùng mưu toan ép đặc '' bá quyền '' (hégémonie) lên toàn thể các
người kháng-chiến. Các căn cứ ở trong bưng ( maquis ) của tổ chức
EDES đả bị tấn công nhiều lần củng như các căn-cứ của tổ-chức
EKKA, đả bắt buộc phải phân tán các lực-lượng vũ-trang của ḿnh và
chờ khi có dịp hành sự sẽ quy tụ lại. Cuối năm 1942, ở vùng phía Tây
của Thessalie, dưới chân của các dải núi Pinde, thiếu-tá Kostopoulos, một người
ly-khai của tổ chức EAM và đại-tá Safaris đả thành-lập một đơn
vị kháng chiến nằm trong trung-tâm của một vùng mà tổ chức EAM đả thiết-lập
được ; tổ chức ELAS liền tung quân bao vây và tàn sát các chiến sĩ thuộc
tổ chức EAM, các người chiến sĩ nào không chạy thoát được và từ
chối tham-gia vào đội ngũ của ELAS. Bị bắt làm tù-binh, đại-tá Safaris
sau củng đả đành chấp nhận trở thành vị tham mưu trưởng của
tổ chức ELAS. Sự hiện-diện của các sĩ-quan người Anh được
phái đến để giúp đở các người kháng-chiến đả làm cho các người
chỉ huy tổ chức ELAS lo ngại ; các người cộng-sản lo-ngại là các người
Anh sẽ bắt buộc họ phải phục hồi chế độ quân chũ. Trong khi
ấy đả có hai thái độ khác nhau giửa ngành quân sự do Velouchiotis và KKE chính thống
do Giorgos Siantos những người này tuân theo các chỉ thị của Moscou.-một chính sách
liên minh chống phát-xít. Ac cuộc hành-động của các quân nhơn người Anh vào tháng
7 năm 1943, đạt được việc ba tổ chức kháng chiến kư với nhau
một thỏa hiệp, vào lúc đó lực-lượng ELAS có lối 18 ngàn người lính,
lự-lượng EDES có 5 ngàn lính và lực-lượng có khoảng 1000 lính. T́nh h́nh ở
tại đây thay đổi liền vào ngày 8 tháng 9 năm 1943 khi nước Italie kư giấy
đầu hàng. Một trận chiến tranh huynh đệ tương tàn liền diển
ra ngay, trong khi đó quân đội Đức Quốc Xă đóng tại đây tấn công các
vị trí của tổ chức EDES và bắt buộc các lực-lượng của tổ
chức này phải rút lui. Do đó, họ sẽ gặp phía trước mặt trên đường
lui quân là các tiểu đoàn của tổ chức ELAS và các tiểu đoàn này t́m cách bao vây họ
để tiêu diệt. Quyết-định thanh-toán các lực-lượng vơ-trang của EDES
đả được ban chỉ đạo của đảng cộng-sản KKE quyết
định và họ mưu toan khai thác t́nh thế mới này hầu làm thất bại
chính sách của người Anh. Sau bốn ngày đánh nhau, các chiến-sĩ của Zervas đả
phá vỡ ṿng vây và tẩu thoát. Cuộc nội chiến xăy ra trong ḷng của cuộc chiến
tranh giải phóng đả cho quân đội Đức nhiều cơ hội để hành
quân, các quân đội Đức liên-tục tấn công khi th́ tổ chức kháng chiến này,
lúc th́ tổ chức các cuộc kháng chiến khác. Các nước đồng minh có sáng kiến
quyết-định chấm dứt cuộc nội chiến này : Các trận đánh giữa
hai tổ chức ELAS và EDES được ngưng vào tháng 2 năm 1944 và một thỏa-ước
được kư kết ở Plaka, nhưng chỉ phù du ( éphémère) : vài tuần lễ sau các
lực-lượng của ELAS lại tấn công các lực-lượng của EKKA do đại-tá
Psarroschỉ huy. Ông và các sĩ quan của ông đều bị tàn sát và riêng về phần ông
th́ bị chặt đầu. Các hành động của các người cộng-sản đả
đưa đến kết quả là làm mất tinh thần của các tổ kháng chiến
và làm mất uy-tín của EAM, cánh tay chính-trị của đảng cộng-sản ; trong nhiều
vùng toàn thể dân chúng đều oán hận đối với các người cộng-sản
và thù hận đả đến độ sâu sắc khiến cho nhiều người kháng
chiến đả bỏ ngũ, gia nhập vào các tiểu đoàn an-ninh do người Đức
thành lập. Cuộc nội chiến này chỉ chấm dứt khi tổ chức ELAS chịu
tham gia và hợp tác với chính-phủ hợp pháp lưu-vong của Hy-lạp ở Le Caire (Ai-Cập).
Tháng 9 năm 1944, sáu người đại-diện cho EAM-ELAS trở thành nhơn viên của
chính-phủ đoàn kết quốc-gia do ông Georges Papandréous lănh đạo. Ngày 2 tháng 9 năm
1944, khi quân đội Đức Quốc Xă bắt đầu cuộc rút quân ra khỏi lănh
thổ Hy Lạp, tổ chức ELAS tiến quân để chiếm đóng vùng Péloponnèse nằm
ngoài vùng kiễm soát của họ, v́ có sự hiện diện của các tiểu đoàn
an-ninh của quân Đức để lại. Các thành phố và các làng mạc đả bị
'' trừng phạt ''. Tại Meligala, một ngàn bốn trăm người gồm có nam, nữ
và trẻ em đả bị tàn sát cùng với lối 50 người sĩ quan và hạ sĩ
quan của các tiểu đoàn an-ninh. H́nh như không có ǵ có thể làm chướng ngại
vật cho bá quyền của EAM-ELAS. Mặc dù thủ đô Athènes đả được
giải phóng ngày 12 tháng 10 n nhưng đả thoát khỏi ''bá quyền '' của Cộng-Sản
v́ quân lực của hoàng-gia Anh đả đổ bộ lên vùngPirée. Ban lănh đạo KKE
do dự không dám dùng sức mạnh chống lại quân lực Anh quốc. Họ toan tính chơi
tṛ chính phủ liên hiệp ? Chả có ǵ có thể gọi là chắc chắn ? và họ đả
từ chối giải ngũ các lực lượng vơ trang thuộc ELAS, theo lời yêu cầu
của chính phủ đoàn kết quốc gia, Iannis Zegvos, Bộ Trưởng Bộ Canh Nông
là người cộng-sản đả yêu cầu giải tán các đơn vị riêng đả
tuân theo lịnh của chính phủ. Ngày 4 tháng 12 các đơn vị tuần tiểu thuộc
Elas tiến vào Athènes và đả phải đụng đầu với các đơn vị
quân đội của chính phủ. Ngày hôm sau, gần như tất cả thành phố Athènes
đều nằm dưới sự kiễm soát của các đơn vị vơ trang của
tổ chức Elas v́ họ đả huy động gần 20 000 người ; nhưng quân
đội hoàng gia Anh đả chống cự lại mong đợi các viện binh được
gởi đến. Ngày 18 tháng 12 các lực lượng Elas tấn công vào các vị trí đóng
quân của lực lượng EDES ở vùng Épire. Song song với các trận đánh đang
diễn ra các người cộng sản đả phát động một cuộc thanh-trừng
đẫm máu chống lại phe nhà vua. Cuộc tấn công của cộng-sản đả
bị thất bại, và họ đành chịu miển cưởng kư kết, trong một
cuộc họp được diễn ra ởVarkiza, một thỏa ước ấn định
việc giải giới các lực lượng vơ trang thuộc tổ chức vơ trang ELAS. Nhưng
trên thực tế đả có rất nhiều súng và các vũ khí khác đả được
bí mật chôn dấu. Aris Velouchiotis, một trong những người lănh đạo đả
từ chối không chấp nhận thỏa ước được kư kết ở Varkiza
và đả chạy vào bưng cùng lối 100 người chiến sĩ thân tín của ông,
rồi ông chạy sang ẩn náu ở nước Albanie, hy vọng sẽ trở lạbi chiến
đău vũ trang. Được hỏi ông về các lư do của cuộc thất bại nơi
các tổ chức ELAM-ELAS, Vélouchiotis đả thẳng thắng trả lời : '' Đó là
việc chúng tôi đả giết một số '' quá ít '' các người. Các người Anh
đả chú ư đến cái '' ngă tư '' này mà người ta gọi là nước Hy Lạp
; nếu chúng tôi không để một người bạn nào của người Anh sống
sót, các người Anh không thể nào đổ bộ được ở một phần
đất nào. Nhưng các người khác gọi tôi là '' tên giết người '' : và coi bây
giờ t́nh h́nh đă đưa đẩy chúng tôi vào t́nh trạng này. Và ông thêm vào : Các cuộc
cách mạng chỉ thành công khi nào các con sông đều nhộm đỏ máu đào và đáng
công để làm đổ máu. Đó là phần thưởng cho việc thay đổi hoàn
toàn xă-hội loài người ''. Người sáng lập ra ELAS, Aris Velouchiotis đả bị
giết chết vào tháng 6 năm 1945 trong một trận chiến đả xăy ra ở vùng Thessalie,
vài ngày sau khi ông bị khai trừ ra khỏi tổ chức KKE của đảng cộng-sản
Hy Lạp . Cuộc thua trận của hai tổ chức ELAM-ELAS đả giải thoát được
các phản ứng, các mối oán thù chống lại các người cộng-sản và các người
đồng minh. Nhiều nhóm bán quân sự đả giết chết nhiều người
tranh đău ; các người lănh đạo th́ bị đưa đi lưu đày ra các ḥn
đảo nhỏ. Tháng 5 năm 1945, Nikos Zachariadis, tổng thơ kư của đảng cộng-sản
Hy-Lạp KKE từ trại Dachau ở Đức quốc, được quân đội đồng
minh phóng thích trở về Hy-Lạp. Các lời tuyên bố đầu tiên của ông đả
phát biểu rỏ ràng đường lối chính trị của KKE :'' Hoặc là chúng ta sống
trở lại dưới chính sách độc tài c̣n ngặt nghèo hơn cả chế độ
độc tài quân chủ phát xít hay là tiếp tục cuộc đấu tranh của EAM để
giải phóng quốc gia để đạt được việc h́nh thành cho nước
Hy-Lạp một chính thể dân chủ nhơn dân. Nước Hy-Lạp đả đổ
máu và bị tàn phá quá nhiều lại không có hy-vọng sẽ được hưởng một
cuộc ḥa b́nh dân chính. Vào tháng 10 năm 1945, đại hội 7 của đảng cộng-sản
Hy-Lạp đả chấp thuận các mục tiêu do Zachariadis đề ra. Giai đoạn
đầu tiên là vận động để quân đội hoàng gia Anh quốc triệt thoái
ra khỏi nước Hy-Lạp. Tháng Giêng năm 1946, Liên Bang Sô-Viết đả biểu lộ
về các quyền lợi của họ ở Hy-Lạp và đả kêu gọi Hội Đồng
Bảo An của Liên Hiệp Quốc về các nguy cơ của sự hiện diện đóng
quân của quân đội hoàng gia Anh tại nước này. Ngày 12 tháng 12, khi cuộc tổng
tuyển cử để bầu các vị đại biểu thành lập quốc hội và
cảm thấy sự thua phiếu và thất cử của đảng cộng-sản, họ
liền kêu gọi việc '' bỏ không tham dự '' ( abstention ), đảng KKE quyết định
tổ chức một cuộc tổng nổi dậy với sự giúp đở của các
người cộng sản Yougoslave. Vào tháng chạp đả diễn ra một cuộc
họp giữa các đảng viên cộng-sản, của ủy ban trung ương KKE, với
các viên sĩ quan yougoslave và bulgare. Các người Cộng-sản Hy-Lạp đả được
đăm bảo là họ có thể sữ dụng lănh thổ Albanie, Yougoslavie và Bulgarie làm hậu
cứ. Trong 3 năm kế tiếp các chiến sĩ cộng sản đả có thể xữ
dụng các hậu cứ để ẩn náu, săn sóc các thương binh và dùng các vũ khí
mà họ đả dự trử ở các hậu cứ này. Tất cả các cuộc chuẩn
bị này đả bắt đàu vài tháng sau khi tổ chức Kominform ( tên viết tắt của
Kommunist Information ) và sự kiện đả hiện ra rỏ ràng là cuộc nổi dậy
của các người cộng-sản Hy-Lạp là nằm trong chính sách mới của điện
Kremlin. Ngày 30 tháng 3 năm 1946, đảng cộng sản Hy-Lạp KKE đả đảm
nhận trọng trách phát động cuộc nội chiến lần thứ ba. Các cuộc
tấn công đầu tiên do các lực lượng vơ trang mà họ tự gọi là quân đội
dân chủ ( viết tắt là AD ). Được thành lập từ ngày 28 tháng 10 năm 1946
và do tướng Markos Vafiadis chỉ huy, đả được diễn ra theo các khuôn mẫu
củ, họ tấn công vào các đồn trại của quân cảnh, các người quân cảnh
bị tàn sát cùng các vị thân hào. Suốt cả năm 1946, KKE liên tục hành động công
khai !. Trong những tháng đầu năm 1947, tướng Markos gia tăng các cuộc hành
quân : các làng xă bị tấn công đả gia tăng con số lên nhiều chục làng, cùng
với hàng trăm người nông dân đả bị hành quyết. Quân sĩ của AD đả
gia tăng, nhờ vào các việc cưởng bách ṭng quân xăy ra ở các nông thôn. Nếu có một
đơn vị làng nào từ chối, không đáp ứng các đ̣i hỏi của AD, làng này
phải chịu sự '' trảthù '' ; một ngôi làng ở Macédoine đả bị trả
một giá quá cao : 48 ngôi nhà bị đốt, 12 người nam, sáu người nử và 2 em
bé bị hành quyết. Khởi đầu từ tháng 3 năm 1947, các vị chủ tịch
các hội đồng xă lần lượt bị ám sát cùng với các vị linh mục. Và
cũng vào tháng này số người tị nạn đả lên đến 400 000 người
. Chính sách khủng bố đả khiến diễn ra chính sách chống khũng bố : các
người thuộc các nhóm '' cực hữu '' đả giết hại các người
tranh đău cộng sản hay là thuộc tả phái. Tháng 6 năm 1947, sau một cuộc đi
thăm viếng các thủ đô Belgrade, Prague và Moscou, Zachariadis đả tuyên bố việc
sẽ thành lập một chính phủ '' tự do ''. Các người cộng sản Hy-Lạp
tưởng là họ có thể '' tái xữ dụng '' lại đường lối của
TiTo đả xữ dụng 4 năm về trước. Chính phủ '' tự do '' này được
'' chính thức '' thành lập vào tháng 12. Các người Yougoslave đả cung cấp các chiến
sĩ '' t́nh nguyện '', gần 10 000 người ! lấy ra từ quân đội Yougoslave.
Nhiều bản phúc tŕnh điều tra Ủy ban Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc
cho các vùngBalkan đả nêu lên tầm quan trọng của cuộc viện trợ này cho Đạo
Quân Dân Chủ-AD- Xảy ra việc tuyệt giao giữa Staline và TiTo vào mùa xuân năm 1948 đả
đưa đến các hậu quả chính cho các người cộng-sản Hy Lạp. Nếu
các nguồn viện trợ vẩn tiếp tục được gởi đến các vùng
biên giới cho đến mùa thu 1948, TiTo bắt đầu ra lịnh cho các người lính
t́nh nguyện Yougoslave rút lui và đóng chặt biên giới. Đến mùa hè, các lực lượng
của chính phủ Hy Lạp khởi sự tấn công rộng lớn, vị lănh tụ cộng
sản Albanie là Enver Hoxha, đả bắt buộc phải đóng chặt biên giới với
Hy Lạp. Các người cộng sản Hy Lạp đả bị cô lập và các cuộc
tranh chấp nội bộ và các niềm bất ḥa bắt đầu diễn ra. Các trận
chiến vẫn tiếp diễn cho đến mùa thu năm 1949. Một số các chiến sĩ
cộng sản chạy sang ẩn náu ở Bulgarie và ở các nước Đông Âu, đặc
biệt là ở nước Roumanie và tại Liên bang Sô Viết. Tachkent thủ đô của
Ouzbékistan đả có cả chục ngàn người tị nạn trong số này có 7500 người
cộng sản. Sau cuộc chiến bại, đảng KKE lưu vong, đả thi hành một
loạt '' khai trừ '', đến nổi vào tháng 9 năm 1955đả đưa đến
một cuộc tranh chấp đả xảy ra giữa hai phe ủng hộ và chống đối
Zachariadis và đưa đến các cuộc xung đột dữ dội ; quân đội sô-viết
đả phải can thiệp để tái lập lại trật tự và đả có hàng
trăm người bị thương. Cuộc đón tiếp các người chiến bại,
của cuộc nội chiến Hy Lạp, ở Liên Bang Sô viết lại là một việc
nghịch lư v́ Staline vào thời điễm này đả phá hũy cộng đồng người
Hy Lạp sinh sống trên đất Nga từ nhiều thế kỷ, và đến năm 1917,
đả được ước lượng khoảng từ 500 000 đến 700 000 người,
phần lớn cư ngụ ở vùng Caucase và dọc theo ven bờ Hắc Hải. Đến
năm 1939, cộng đồng người Hy Lạp chỉ c̣n có khoảng 410 000 người
và sang đến năm 1960 con số này tuột xuống c̣n 177 000 người. Bắt đầu
từ tháng Chạp năm 1937, Staline đả ra lịnh đưa đi lưu đày 285 000
người Hy Lạp sống ở các thành phố lớn đả bị đưa đi
về các vùng Arkhangelsk, về vùng thuộc Cộng Ḥa Komis và về vùng Tây Bắc Sibérie. Có nhiều
người khác đả trở về Hy Lạp. Và đả cùng vào thời điễm
này các ông A. Haitas, cựu thơ kư của đảng cộng-sản Hy Lạp ( KKE ) và nhà sư
phạm J. Jordinis đả bị '' thủ tiêu '' ở URSS. Năm 1944, mười ngàn người
Hy Lạp sinh sống ở vùng Crimée đả bị tố cáo là đả có các hành động
'' thân người Đức '' trong thời gian chiến tranh, và là các người sống
sót của cộng đồng Hy Lạp ngày xưa, đả bị đưa đi lưu
đày ở cộng ḥa Kazakhstan. Và đến thánh 4 năm 1940 tất cả các người
Hy Lạp đang sinh sống ở Batoum cũng phải chịu chung một số phận.
Ở các nước thuộc về phương Tây của Âu-Châu ( được gọi
tắt là Tây Âu ), các mưu toan của các đảng cộng sản để cướp
lấy chính quyền về tay riêng cho đảng, nhơn dịp có các cuộc kháng chiến
và giải phóng đả bị mau chóng '' phá vỡ '' v́ sự hiện diện của các quân
đội Anh Mỹ. Và bắt đầu vào cuối năm 1944, các chỉ thị của Staline
đả khuyến cáo các lực lượng vơ trang của cộng sản và thân cộng sản
:'' hảy chôn dấu các vũ khí , đạn và chờ đợi một dịp tốt hơn
để cướp chính lấy quyền ''. Thẫm quyền này đả được
tỏ ra rơ ràng sau cuộc hội kiến giữa Staline và Maurice Thorez, diển ra tại điện
Kremlin vào ngày 19 tháng 11 năm 1944. Là Tổng thư kư của đảng cộng-sản Pháp,
Thorez đả sống ở Nga, trong suốt thời kỳ xảy ra chiến tranh và sắp
sửa lên đường trở về Pháp.
Số phận của các thiếu nhi
Hy Lạp và con quái vật Minotaure Sô-viết ( Theo truyện thần thoại của Hy-Lạp,
Minotaure là một con quái vật, nửa người nửa con ḅ mộng. Mổi năm phải
tế thần cho Minotaure một thiếu niên để y dùng vào việc riêng ) Trong lúc xăy
ra cuộc nội chiến từ năm 1946 cho đến năm 1948, các người cộng-sản
Hy-Lạp đả kiểm kê tất cả các trẻ em nam và nử từ 3 tuổi đến
14 tuổi, trên toàn thể các vùng mà họ kiễm soát. Tháng 3 năm 1948, tất cả các trẻ
này đều được tập họp về các vùng gần các biên giới và cả chục
ngàn trẻ em được đưa qua các nước Albanie, Yougoslavie và Bulgarie. Các người
dân làng phải đem giấu các trẻ em vào trong các khu rừng. Hội Hồng Thập Tự
sau muôn ngàn khó khăn đả kiễm kê được con số 28 296 trẻ em. Mùa hè năm1948,
với các việc tuyệt giao TiTo-Kominform, một số 11 600 trẻ em đả từ Yougoslavie
chuyễn qua các nước Tiệp-Khắc, Hung, Bảo và Ba Lan, bất chấp các lời
kháng cáo của chính phủ Hy-Lạp và vào cuộc họp lần thứ 3 của Đại
Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đả ra một nghị quyết lên án việc ''
bắt cóc '' các trẻ em Hy-Lạp. Tháng 11 năm 1949, Hội Đồng Liên Hiệp Quốc
đả đ̣i phải đưa các trẻ em Hy-Lạp hồi hương. Tất cả
các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc đều không hề được đáp
ứng. Các chế độ cộng sản '' hàng xóm '' đều trả lời là các trẻ
em này được sống sung túc ở nước họ hơn là ở Hy-Lạp ; vắn
tắt là các cuộc lưu đày những trẻ em này là một hành động '' nhơn
đạo ''. Vậy mà, cuộc cưởng bách lưu đày các trẻ em đả diễn
ra trong các hoàn cảnh khốn khổ, thiếu ăn và các chứng bịnh thời khí đả
khiến nhiều trẽ em đả chết. Được tập họp trong các '' làng
thiếu nhi '' , các em ngoài các chương tŕnh học tổng quát phải học tập
thêm về chính trị, nói đơn giản là '' nhồi sọ '' các em. Và bắt đầu
từ 13 tuổi, các em phải lao động như các tiêu chuẩn của người lớn,
như việc khẩn hoang các vùng '' đầm lầy '' ở Hung Gia Lợi, tên vùng là Hartchag.
Hậu ư của các người lănh đạo cộng sản là đào tạo một thế
hệ mới, tuyệt đối đău tranh tận tụy cho chủ nghĩa. Việc thất
bại đả hiển nhiên xăy ra : vào năm 1956, một người Hy-Lạp tên Constantinidès
đả chiến đău chống lại Hồng Quân Sô-Viết và đả tử thương
cùng các bạn người Hung. Nhiều người Hy-Lạp khác đả chạy thoát qua
Đông-Đức. Trong các năm 1950 đến năm 1952 chỉ có 684 trẻ em được
trả về cho chính phủ Hy-Lạp. Đến năm 1963, khoảng 4 000 trẻ em được
trả về trong số này có nhiều em đả sinh ra ở các nước cộng-sản.
Ở nước Ba-Lan, cộng đồng người Hy Lạp vào các năm đầu của
thập niên 1980, đả được con số là vài chục ngàn người. Có một
số người tham gia vào phong trào Solidarnosc và bị cầm tù sau cuộc đảo chánh
của tướng Jaruzelski. Sau năm 1989, với việc dân chủ hóa đang diễn ra,
nhiều ngàn người Hy-Lạp ở Ba-Lan đả trở về nước của họ
( Trích từ : Vấn đề Hy-Lạp trước Hội Đồng Liên Hiệp Quốc,
bản phúc tŕnh của Ủy-ban đặc biệt cho vùng Balkans, 1950 ).
Sau chiến tranh
và cho đến ngày Staline qua đời, các đường lối hành động bạo
ác cùng với các cuộc khủng bố đả được thiết lập trong ḷng
tổ chức Komintern từ thời trước khi xăy ra chiến tranh, vẩn được
duy tŕ ở trong phong trào cộng-sản quốc-tế. Ở Đông Âu, việc đàn áp các
người '' ly khai '', các người có tư tưởng này hay là các người bị
khép vào cảnh '' giả định '' đả diễn ra gắt gao và riêng các vụ xữ
án '' gian lận '' đả được dàn cảnh lớn lao. Cao điễm các cuộc
khủng bố đả đạt được khi xăy ra vụ khũng hoảng giữa
Staline và TiTo vào năm 1948. V́ đả từ chối không chịu tự phục ṭng và đả
làm tan vỡ quyền uy tối cao của Staline ; TiTo đả bị gán cho là một tên ''
Trotski mới ''. Staline toan tính cho ám sát TiTo, nhưng TiTo là một con người đa nghi và
được sự bảo vệ của bộ máy nhà nước do ông thiết lập.
V́ không thể '' thủ tiêu '' được TiTo, các đảng cộng-sản liên kết
trên thế giới đả lần lượt phát động các hành động '' phóng đảng
'' ( débauche ) các vụ giết người v́ chính trị với tư các tượng trưng
và '' khai trừ '' ra khỏi đảng các phần tử mà họ gán cho là theo '' chủ nghĩa
TiTo ''. Nạn nhơn đầu tiên để '' chuộc tội '' ( expiatoires) là vị Tổng
Thư Kư của đảng cộng-sản Na-Uy ( Norvege ) Peder Furubotn một lảo thành viên
của tổ chức Komintern, sau một thời gian lưu trú lâu dài ở Moscou và đả
trở về nước vào năm 1938, nhờ vậy ông mới cứu được mạng
sống của ông. Ngày 20 tháng 20 năm 1949, nhơn một cuộc họp của đảng
cộng sản Na-Uy, một đảng viên cộng-sản tay sai của Moscou tên là Strand Johansen
đả tố cáo Furubotn là ngă theo chủ nghĩa TiTo. Được sự tín nhiệm của
nhiều đảng viên cộng sản, Furubotn liền triệu tập đại hội
đảng vào ngày 25 tháng 10 và tuyên bố từ chức cùng với đoàn thể các thành viên
của Ủy ban trung ương đảng với điều kiện là trong thời gian
ngắn phải có một cuộc bầu để có một Ủy ban trung ương mới
và các lời tố cáo ông phải được một Ủy ban quốc tế cộng sản
xét xữ. Các đối thủ của Furubotn đả bị '' hụt gị ''. Ngày hôm sau, dưới
sự ngạc nhiên và phẩn uất của toàn thể các đảng viên cộng sản ,
Johansen và các đảng viên cộng sản thân tín của y, đả xông vào trụ sở
của Ủy ban trung ương , tay cầm súng đả đuổi tất cả các đảng
viên thân Furubotn ra khỏi trụ sở. Và liền sau đó Johansen tổ chức một cuộc
họp và bầu cử khai trừ Furubotn và ông này đả từng biết rơ các lối hành
động của các người cộng sản sô viết, liền '' bế môn tỏa cảng
'' ở trong nhà ông cùng với các bạn ông, tất cả đều có vũ khí để
chống cự lại nếu bị tấn công. Sau các việc đả xăy ra như một
film cinéma trinh thám , đảng cộng sản Na Uy / PCN đả mất các phần tử
đău tranh nồng cốt và sống động. C̣n về phần Johansen, bị các nhơn
viên sô-viết dùng y thử nghiệm từ mưu toan này đến mưu toan khác đả
lần lần mất trí nhớ. Và màn diễn chót, của các hành động khũng bố
trong phong trào cộng sản, đả diễn ra vào năm 1957, Imre Nagy, một người
cộng sản Hung Gia Lợi, đả một lúc cầm đầu cuộc nổi loạn
vào năm 1956 ở Budapest, ( coi lại chương Karel Bartosek ) phong trào bị đè
nát, ông chạy vào ṭa Đại sứ Yougoslavie xin tị nạn và không chịu đi ra, e sợ
cho tính mạng của ḿnh. Sau các cuộc mưu toan quanh co và mờ ám, các người Nga-sô-viết
đả bắt được ông và quyết định đưa ông ra xữ tại Hung-Gia-Lợi.
Nhưng không muốn chịu trách nhiệm về việc sát hại này, đảng cộng
sản Hung-Gia-Lợi đả thừa dịp cuộc Hội Thảo lần thứ nhất
của đảng cộng-sản trên thế giới lần thứ nhất nhóm họp ở
Moscou vào tháng 11 năm 1957, để bỏ phiếu lên án tử h́nh Imre Nagy, có sự hiện
diện của các vị lănh tụ các đảng cộng-sản, trong đó có Maurice Thorez
người Pháp và Paimiro Togliatti người Italie. Trừ phiếu chống lại của
Gomulka, tổng thư kư đảng cộng sản Ba-Lan. Imre Nagy bị kết án tử h́nh
và bị treo cổ ngày 16 tháng 6 năm 1958.
Back to TOP
|