|
Trong lúc tổng hợp các chương trên, mục đích của chúng tôi không phải
là nêu lên các hành động tàn bạo và các biện pháp đàn áp mà nhà nước Liên Sô đă
chủ trương trong suốt thời gian chế độ này ngự trị. Cũng không
phải để nêu lên sự khác biệt trong cái nh́n của các sử gia trước và sau
khi được phép tham khảo tài liệu mật khi viết về cường độ
và hậu quả của các cuộc khủng bố và đàn áp. Ngược lại, khi được phép tham khảo, chúng tôi muốn
thiết lập một bản thống kê toàn bộ các diễn tiến có tính cách hệ thống
theo thời gian về số lượng cũng như phương thức áp dụng bạo
lực, và ư nghĩa của những lời dẫn giải khác nhau. Trong suốt 10 năm
gần đây, có nhiều cuộc nghiên cứu sâu rộng đă xảy ra ở Nga cũng như
ở Âu Châu. Với chính sách '' mở cửa''- cho dù chỉ mới hé mở- các sử gia cũng
đă bắt đầu sưu tầm các tài liệu của các văn kiện trước
kia được coi như là '' bất b́nh thường'' mà ngày nay được cho phép truy
lục. Nhờ vậy, nhiều sử gia, nhất là sử gia người Nga đă tung ra
nhiều tài liệu , làm nền tảng cho các cuộc nghiên cứu sâu rộng đang diễn
tiếp. Nhiều lănh vực nghiên cứu được đặt lên hàng đầu.
Đặc biệt là các trung tâm tù vĩ đại; các cuộc nổi dậy của nhân dân
chống lại nhà nước; chính sách, các h́nh thức ban hành các đạo luật và thực
thi các quyết nghị của nhà nước Cộng sản. Hai sử gia người
Nga, ông V.N. Zemsov và N. Bougai viết một bản thống kê về số lượng của
tất cả các cuộc lưu đày trong suốt thời gian Staline cai trị, nghĩa là
từ khi Lenine cho đến khi Staline tắt hơi thở cuối cùng. Các ông V.P Danliov ở
Nga và ông A. Graziosi ở Ư viết về các cuộc đụng độ liên tục của
nông dân với tân chế độ Sô Viết. Dựa theo tài liệu của Trung ương
đảng, sử gia O. Klevniouk đă đưa ra ánh sáng về các cuộc hợp ṿng tṛn ở
điện Cẩm Linh. Nghĩa là tất cả những ǵ trước khi cho thi hành đều
có sự quyết định và được sự đồng ư của các lănh tụ Bônsêvích.
Căn cứ vào kết quả các cuộc nghiên cứu trên, chúng tôi cố gắng sắp
xếp lại cho có hệ thống những diễn biến của các chu kỳ bạo động
và đàn áp, khởi đầu từ năm 1917. Các chu kỳ này đă trở thành mục tiêu
chính của các cuộc nghiên cứu rộng lớn về lịch sử và xă hội Nga. Nó
cũng trở trành tài liệu nghiên cứu của khoa Xă Hội Học trên toàn thế giới. Khi
xử dụng các tài liệu quư giá của các sử gia đàn anh đă dày công khảo cứu
các diễn biến bi thảm của lịch sử, chúng tôi đă cẩn thận chọn lựa
những sử liệu biểu tượng trong các h́nh thức đàn áp bạo động
đa dạng. Các cuộc đàn áp đă diễn ra cho từng nhóm nạn nhân chuyên biệt
và xảy ra trong từng thời kỳ khác nhau. Có khi giữa hành động đàn áp cùng
với những bản văn tuyên cáo cũng không đồng nhất. Như khi Lenine tuyên án
đem xử bắn tất cả các thành viên của nhóm Mensưvich, th́ thật ra Lenine chỉ
bắt họ bỏ tù mà thôi. Như hành động của các toán trưng thu lương thực
ở miền quê. Các toán này chỉ được lệnh thi hành trưng thu lương thực
cưỡng bách trước ngày Lenine ban hành chính sách kinh tế mới vào năm 1921. Thế
nhưng các toán trưng thu vẫn tiếp tục thi hành chính sách này cho đến cuối năm
1922, mặc dù chính sách kinh tế mới đă ban hành hơn một năm qua. Trong những
năm 30, trong khi nhà nước Trung ương ra lịnh phóng thích tù nhân v́ nhà tù không c̣n chỗ
để chứa, th́ ngược lại, các toán công an cứ tiếp tục lùng bắt
người. Trong số quá nhiều sự việc đă xảy ra như một vài sữ
kiện điển h́nh kể trên, chúng tôi có ư định một bản thống kê các cuộc
đàn áp bạo động hầu để giải đáp một phần nào những câu
hỏi về cơ cấu của guồng máy cai trị, mức độ và ư nghĩa của
các cuộc khủng bố mà nhà nước Liên Sô nhắm vào đám đông quần chúng. Các
diễn tiến đàn áp thường xuyên diễn ra một cách ngẫu nhiên cho đến
khi Staline qua đời đă làm chúng tôi quyết định, trong giai đoạn đầu,
đưa mục đích của cuộc nghiên cứu về lịch sử chính trị của
nước Nga xuống hàng thứ hai. Trong lúc sắp xếp các tài liệu
cho có hệ thống, nhiều sự kiện trước đây hay những sử liệu
vừa mới được công bố, đă đặt cho chúng tôi một số vấn
đề cần phải giải quyết. Các câu hỏi thường nảy sinh ra khi chúng
tôi bắt gặp một số bản phúc tŕnh của các nhân viên thi hành công tác, viết tại
chỗ gởi về trung ương. Đó là các bản phúc tŕnh của các toán công an Tchéka địa
phương nói về nạn chết đói, các cuộc đ́nh công ở Toula; các bản phúc
tŕnh của các ban quản lư các trại lao động tập trung viết về t́nh trạng
sức khỏe của các tù nhân cải tạo. Tất cả các sự kiện đó kết
tụ thành một h́nh ảnh thực tế của một thế giới bạo lực đang
ngự trị. Chúng tôi cố t́nh nhắt lại chu kỳ đàn áp với mục đích
để chúng ta thử đặt lại một số vấn đề. Và đó chính cái
đích của cuộc nghiên cứu này. Chu kỳ đầu tiên xảy ra vào cuối năm
1917 cho đến cuối năm 1922 với việc cướp chính quyền. Theo sách lược
của Lenine, chỉ có con đường bạo lực nội chiến mới đạt
mục đích này. Sau một thời gian ngắn h́nh thành các điều kiện khả
thi như sức phản kháng bộc phát của quần chúng, Lenine đă dùng nó như một
vũ khí cần thiết để phá vở trật tự của chế độ cũ.
Vào mùa Xuân 1918, người ta chứng kiến một cuộc tấn công xă hội nông thôn đă
được nghiên cứu kỹ từ trước. Đó là cuộc chiến làm mẫu
mực cho các cuộc đàn áp diễn tiếp trong mấy thập niên sau này. Các cuộc
khủng bố đă gây nên sự bất măn tột độ của dân chúng đối với
chính quyền Sô Viết, và đă gây ra cuộc nội chiến giữa hai lực lượng
Hồng và Bạch quân. Một điều đáng lưu ư là, mặc dù chính quyền Sô Viết
đang ở trong thời kỳ bấp bênh, chính quyền Bônsơvich từ chối các cuộc
thương thuyết. Họ tiếp tục tiến lên và tiếp tục đàn áp nhóm người
Mensơvich, đàn áp công nhân thợ thuyền nổi loại ở thành phố Kronstadt. Và chu
kỳ đàn áp này vẫn tiếp tục diễn ra khi Bạch quân thua trận và cả
sau khi Lenine cho ban hành chính sách kinh tế mới NEP. Nó diễn ra một cách liên tục và mănh
liệt mà hệ quả của nó là nạn chết đói kinh hoàng trong năm 1922. Từ năm 1923 - 1927, các cuộc khủng bố tạm ngưng.
Với mục đích ǵ? Nhiều sự kiện cho thấy đó là hậu quả của
cuộc nội chiến. Con số nhân viên của cơ quan công an nội chính giảm
xuống. Nhà nước muốn đổi cuộc chiến đàn áp nông dân qua con đường
pháp lư. Nhưng nhà nước vẫn chưa cho giải tán toàn bộ bộ máy công an. Các toán
này chỉ thay đổi nhiệm vụ. Từ công tác đàn áp, các toán này làm công việc kiểm
soát, canh pḥng và thiết lập phiếu cá nhân. Đó là mục đích của cuộc ngưng
bắn. Chu kỳ đàn áp lần thứ nhất đă diễn ra trực tiếp và
toàn bộ. Trong khi đó, chu kỳ đàn áp lần thứ hai chỉ xảy ra giữa các một
nhóm người thân Staline chống lại tầng lớp nông dân, vào lúc mà các lănh tụ cộng
sản cao cấp đang tranh nhau để chiếm chiếc ghế của mhà độc
tài Staline. Cả hai phe đều nghĩ rằng, tiếng súng của chu kỳ đàn áp đă
thực sự tái diễn. Nhà nước cộng sản đem áp dụng lại một số
biện pháp mà trước kia họ thi hành khi ra tay đàn áp nông dân. Và cũng chính các hành động
đàn áp này đă dẫn đến sự thoái hoá của nhà nước 25 năm sau đó. Cuộc
tuyên chiến lần thứ hai của nhà nước đối với tầng lớp nông
dân đă quyết định sự h́nh thành một định chế khủng bố như
là một chính sách cai trị. Có nhiều h́nh thức định chế khủng bố khác
nhau. Nhà nước t́m cách gây hận thù giữa lớp người nghèo và người giàu,
như trước kia họ vẫn thường hay áp dụng ở thông thôn. Chính quyền
cũng mở chiến dịch cho lưu đày một số đông quần chúng. Đồng
thời trong thời gian này, nhà nước cố đào tạo cán bộ chính trị phục
vụ cho chế độ. Sau đó, nhà nước cũng diễn lại cái tṛ thu mua nông
sản cưỡng bách theo lối ăn cướp tài sản của nhân dân. Sự kiện
này đă gây xáo trộn hệ thống sản xuất của tầng lớp nhà nông. Nó mở
đường cho cuộc thử nghiệm giết người kinh tởm nhất dưới
thời Staline. Năm 1933 đă xảy ra ở Liên Sô một trận đói làm chết hàng chục
triệu người. Đó là thời kỳ có con số người chết cao nhất dưới
triều Staline. Con số nông dân chết quá nhiều và nhà tù nhốt quá nhiều tù nhân cho đến
nổi không c̣n đủ người để gieo hạt giống trong các vụ mùa. Đứng
trước t́nh cảnh này, nhà nước tạm thời hưu chiến với nông dân
và cho ân xá một số tù nhân. Nhưng biện pháp ḥa giải đă dẫn đến
t́nh trạng căng thẳng khác. Nhà nước lại ra lịnh không cho con cái của những
người điền chủ trở về quê quán mặc dù những người này đă
được phục hồi quyền công dân.
Làm
thế nào để hiểu được tính liên tục của các chu kỳ khủng bố
đă xảy ra trong suốt thập niên 30 và các thập niên sau đó?
Để có
một cái nh́n chính xác, chúng tôi căn cứ theo các mốc thời gian và mức độ diễn
tiến của các cuộc đàn áp. Thời gian xảy ra cuộc Đại Khủng Bố
trong ṿng hai năm, từ cuối năm 1936 đến cuối năm 1938. Có đến 85%
án tử h́nh trên tổng số án tử h́nh trong suốt thời kỳ Staline cầm quyền,
do các toà án nhân dân đặc biệt thi hành. Trong suốt thời gian khủng bố này, người
ta không thể hiểu nổi về thành phần cán bộ bị hành quyết và con số nạn
nhân phải được thủ tiêu theo con số nhà nước ấn định trước.
Cuộc đàn áp man rợ và thủ tiêu mù quáng đă được coi như là phượng
tiện duy nhất nhằm giải quyết một số khủng hoảng tranh chấp nội
bộ. Nh́n vào đối tượng của các cuộc đàn áp, người ta có thể
biết được từng lớp nạn nhân của các vụ khủng bố trong suốt
thập niên 30. Nạn nhân cuối cùng của nhà nước cộng sản đó là những
người dân cùng đinh nhỏ bé sống trong các thành phố, khởi đầu từ
năm 1938 bằng các đạo luật mang tính chất chống lại nhân dân. Trong
bối cảnh của chính sách Liên Sô hóa các vùng vừa mới chiếm, và cuộc chiến
Ái Quốc, từ năm 1940, người ta nhận ra một giai đoạn đàn áp mới.
Biểu tượng cho thời kỳ khủng bố này là một tầng lớp
nạn nhân mới. Đó là những người có tinh thần quốc gia và các nhóm người
thuộc các quốc gia thù nghịch bị truy lùng và cho đi lưu đày tập thể. Triệu
chứng của các đợt lưu đày cũng đă được ghi nhận vào những
năm 1936-1937. Một số dân Nga gốc Triều Tiên nằm dọc biên giới là những
nạn nhân bị lưu đày đầu tiên. Từ năm 1939, việc sát nhập các vùng
đất nằm ở phía Đông Ba Lan rồi đến ba nước vùng Baltique đă dẫn
đến sự loại trừ các Đại Biểu của các sắc dân này. Nhà nước
cộng sản kết tội những người này thuộc tầng lớp trung lưu
tư sản quốc gia. Họ bị đưa đi lưu đày cùng với một số
nhóm dân thiểu số khác, điển h́nh là dân Ba Lan cư ngụ ở vùng Đông Galicie. Chiến
dịch lưu đày tập thể gia tăng khi chiến tranh Nga Đức bùng nổ. Nhà
nước không quan tâm đến nhu cầu tối yếu của quốc pḥng đang đe
dọa tiêu diệt. Và rồi các cuộc lưu đày tập thể dân Nga gốc Đức,
gốc Tatar, gốc Kalamouk, gốc Tchetchene vẫn diển ra liên tục nhờ vào kinh nghiệm
của các năm vừa qua. Chiến tranh không làm cản trở chính sách lưu đày. Nó vẫn
diển ra có hệ thống và kéo dài trong suốt thập niên 40 trong chính sách b́nh định
và Sô Viết hóa các vùng đất mới được sát nhập vào đế quốc. Sự
hiện diện của các nạn nhân bị lưu đày thuộc tầng lớp những
người Đại Diện cho các dân tộc bị trừng phạt đă làm thay đổi
hẳn bộ mặt của thế giới ngục tù Goulag. Sau thế chiến thứ hai,
người ta thấy t́nh h́nh quản lư trong các ngục tù trở nên cứng rắn hơn.
Như việc gia tăng các bản án cũ. Người bị kết án 5 năm, bấy giờ
tăng lên 10 năm. Thêm vào đó, con số tùn nhân mỗi lúc một gia tăng. Vào thời điểm
này, con số tù tại các trại giam Goulag đă đạt đến cao điểm của
nó và đó cũng là khởi điểm của một giai đoạn khủng hoảng trong
các trại tù. Điều này đă dẫn đến t́nh trạng sa sút hiệu năng kinh
tế càng ngày càng trầm trọng. Có rất nhiều chi tiết của những năm
cuối của Staline vẫn c̣n nằm trong bí mật. Nhưng vẫn có một số bằng
chứng cụ thể để xác nhận như việc cho tái thi hành chính sách bài Dân Do Thái,
gây chia rẽ các thế lực trong các cơ quan nhà nước, tranh giành quyền lực trong
Đảng ở các địa phương. Những diễn tiến trên đủ để
cho người ta đưa một câu hỏi là phải chăng đă đến lúc diễn
ra một cuộc Đại khủng Bố mới mà nạn nhân chính là những công dân người
Nga gốc Do Thái? Phần viết tóm lượt lịch sử của Liêng Bang Sô Viết
trong suốt 35 năm này đặt biệt lưu tâm đến các hành động bạo
lực đă diễn ra liên tục và đạt đến cao điểm nhất của nó.
Và chính bạo lực là chính sách quản trị xă hội của nhà nước cộng sản.
Có cần phải đặt lại câu hỏi quá cũ về sự liên hệ của
hai chu kỳ Lenine và Staline hay không? Qua đó, chu kỳ thứ nhất là biểu tượng
đă dẫn đến chu kỳ thứ hai. Dĩ nhiên là các cơ chế lịch sử của
hai thời kỳ không thể nào so sánh với nhau được. Vào mùa thu năm 1915 cuộc
khủng bố đỏ phát sinh trong một hoàn cảnh phải đối phó toàn diện.
Và những biện pháp đặc biệt trong lúc thi hành các cuộc khủng bố v́ thế
cũng mang tính chất đặc thù. Ngược lại, cuộc chiến chống lại
nông dân trong chu kỳ thứ hai đă diễn ra một một quốc gia đă được
ổn định, nhưng tại sao lại cũng diễn ra các cuộc tàn sát đẫm
máu lâu dài chống lại toàn xă hội. Mặc dù t́nh thế có khác biệt giữa hai chu kỳ
này, nhưng bạo lực vẫn là vũ khí chính để thực hiện kế hoạch
chính trị của Lenine đă vạch ra trước, trước khi cuộc nội chiến
h́nh thành. Và nó đă được đem ra thi hành một cách có chủ đích như là một
chương tŕnh hành động mang tính chất tạm thời. Dưới cái nh́n này, cuộc
hưu chiến trong thời kỳ thi hành Chính Sách kinh Tế Mới NEP của Lenine đă tạo
ra một cuộc tranh luận rất gay cấn giữa các lănh tụ trong đảng Bônsêvích
về việc t́m một hướng phát triển cho đất nước. Câu hỏi
vẫn c̣n phải đặt ra, có phải việc b́nh thường hóa đời sống
và việc gia tăng các cuộc đàn áp là phương tiện duy nhất để giải
quyết t́nh trạng căng thẳng kinh tế và xă hội? Trên thực tế, trong suốt
thời gian này, những người ở miền quê, sống tách rời ra khỏi thế
giới bên ngoài. Và như vậy, những hoạt động tương quan giữa nhà cầm
quyền và xă hội chẳng có ai biết đến. Cuộc chiến nông dân, một gạch
nối giữa hai chu kỳ bạo động, đă diễn ra trong cùng một khuôn mẫu.
Bởi v́ cuộc chiến này đă khơi lại những sự kiện đă được
thử nghiệm và đă được khai thác trong những năm 1918-1922. Như nhà nước
mở chiến dịch thu mua cưỡng bách, công cụ hóa sự căng thẳng của
xă hội nông dân, các cuộc đụng độ trực tiếp đă được dàn
xếp trước, gây bạo động cục bộ.. Cả hai bên, chính quyền cũng
như nông dân cùng nghĩ rằng họ đang sống trở lại cái thời trước
đây mà họ đă nếm mùi. Cho dù triều đại Staline đă chiếm một vị
trí đặt biệt trong chúng ta, nhưng v́ có những lư do quá rơ ràng liên hệ đến
h́nh thức khủng bố được dùng như phương tiện để cai trị,
chúng ta cũng phải tự hỏi những điều ǵ đă cấu kết nên cuộc
đàn áp. Về vấn đề này, việc đưa đi lưu đày đầu tiên
được coi như là chính sách giải thể toàn diện người Cosaque trong các năm
1919-1920. Nằm trong kế hoạch tịch thu lại các phần đất mà dân Cosaque đang
định cư, nhà nước cộng sản mở chiến dịch đưa đi lưu
đày tất cả dân địa phương trong vùng. Trước hết nhà nước
nhắm vào một số người giàu có, sau đó, do nhiệt t́nh của các cơ quan địa
phương, nhà nước bắt lưu đày tất cả những người c̣n lại.
Dưới nhiều h́nh thức khác nhau, các cuộc đàn áp này chính là những cái gương
cho các chiến dịch đàn áp sẽ diễn ra ở vào một hoàn cảnh khác , trong một
môi trường khác và trong khoảng thời gian khác, mười năm sau. Sự việc
phân chia các nhóm người trong xă hội, việc làm quá mức chỉ tiêu của các toán công
tác địa phương, cái ư nghĩ '' nhổ tận gốc'' qua h́nh thức đưa
đi lưu đày, giống hệt như là chính sách giải thể giới điền chủ
sau này. Ngược lại, nếu chúng ta suy nghĩ sâu xa hơn về các hiện tượng
chính trong chính sách khai trừ tập thể rồi cô lập các nhóm chống đối và việc
thiết lập một hệ thống nhà tù xảy ra trong khi đang lâm vào cuộc nội
chiến, người ta thấy có một khoảng cách lớn giữa hai thời kỳ đàn
áp này. Việc phát triển các trại giam trong thời kỳ nội chiến, rồi trong thập
niên 1920, việc thi hành các chính sách quản thúc, không phải là biện pháp chung có cùng một
mục tiêu với những ǵ đă xảy ra trong thực tế đă xảy ra trong thập
niên 1930. V́ vậy việc thi hành công cuộc cải cách lớn trong năm 1929 không
phải là cuộc lùng bắt thông thường. Trái lại nó đặt nền tảng cho
một chế độ ngục tù mới thể hiện dưới h́nh thức lao động
cưỡng bách. Sự xuất hiện các trại lao động cưỡng bách Goulag dẫn
chúng ta đến vấn đề chính yếu về việc phải chăng đă có một
kế hoạch để loại trừ con người lâu dài trong một dự án được
thực hiện với mục đích là để thay đổi toàn diện cơ chế
xă hội và kinh tế. Có nhiều dấu hiệu cho thấy giả thuyết này trở thành
sự thật. Giả thuyết này cũng đă được các nhà độc tài triển
khai. Trước hết, kế họach khủng bố thực hiện theo chỉ tiêu như
đă xảy ra từ khi bắt đầu chính sách giải thể cho đến xảy ra
cuộc Đại Khủng Bố, có thể được coi như là h́nh thức biểu
tượng cho kế hoạch. Công tác nghiên cứu các văn kiện xác nhận sự kiện
này bằng những con số chính xác. Các bản kế toán với nhỡng con số được
ghi đều đặn đă chứng minh rơ ràng các nhà lănh đạo nắm vững sự
việc xảy ra cùng với diễn tiến của các cuộc đàn áp.
Nhờ vậy,
sử gia có thể diễn lại, mặc dù rất phứt tạp, thứ tự cừơng
độ của các cuộc đàn áp theo từng bậc. Ngày hôm nay, tài liệu về các cuộc
khủng bố theo từng thời điểm, đă được biết rơ, nó qiúp cho ta
xác định được một chuỗi đàn áp có hệ thống.
Tuy nhiên việc thiết lập lại toàn bộ các cuộc đàn áp, của hệ thống
ban lịnh và thi hành lịnh, của những ǵ đă xảy ra, sẽ làm mất đi
rất nhiều sự kiện quan trọng mà chính các nhà độc tài đă khai thác và thi hành
trong một thời gian lâu. Nếu chúng ta đặt vấn đề việc kế hoạch
hóa các cuộc đàn áp, chúng ta sẽ nhằm lẫn và sơ soát một số sự kiện
trong các giai đoạn đàn áp khác nhau. Theo cái nh́n này, một thí dụ điễn h́nh nhất
là đưa đi lưu đày các thành phần điền chủ mà không cho họ biết
đi đến nơi nào. Nói một cách khác, nhà nước muốn để cho số phận
của những người lưu đày luôn luôn ở trong t́nh trạng khủng hoảng.
Và cũng giống như kế hoạch giảm tù nhân trong các trại tù không hề được
thực hiện theo kế hoạch. Nếu chúng ta lưu ư đến diễn tiến công việc
chuyển lịnh và thi hành lịnh, người ta không thể nào không nhận thấy tầm
quan trọng về các h́nh thức thi hành theo trước kỳ hẹn, làm quá chỉ tiêu hay
làm không theo lịnh trên.
Nếu chúng ta đề
cập đến vấn đề trung tâm nhà tù Goulag, đó cũng chính là lợi ích và mục
tiêu của chế độ, có lẽ chúng ta sẽ gặp phải nhiều khó khăn và vô
cùng phức tạp khi viết bài nghiên cứu.
Trái với quan điểm cho rằng
những quyền lực của Staline trong thời kỳ xây dựng hệ thống nhà tù Goulag
là những ǵ cần phải cho qua v́ nó đă diễn ra trong quá khứ , tài liệu ngày hôm nay
đă ghi rơ mối tương phản trong thế giới ngục tù. Việc tiếp nhận
hàng loạt con số người tù bị đàn áp chỉ làm rối loạn cơ chế
tổ chức sản xuất hơn là làm gia tăng năng suất lao động. Mặc
dù nhà nước có soạn thảo quy chế riêng biệt cho từng loại công nhân tù, nhưng
người ta không thấy sự khác biệt khi đem ra thi hành. Và sau cùng là vấn đề
kinh tế. Câu hỏi được đặt ra là chính sách giam cầm và khai thác sức lao
động của tù nhân có lợi hay không? Trước một số sự kiện tương
phản đó, người ta phải tự đưa ra một số lư luận, giả thuyết
khác nhau để giải thích về những lư do tại sao các nhà lănh đạo độc
tài cứ cho tái diễn các cuộc đàn áp tàn bạo như vậy. Trong nổ lực t́m
hiểu những lư do sống thực, có lẽ cũng chính là nền tảng cho chính sách phát
động chu kỳ đàn áp vĩ đại của Staline, các sử gia đă minh chứng
mối tương quan mật thiết giữa chính sách hiện đại hóa quốc gia và
chính sách cai trị tùy hứng của Staline. Nhà nước cho rằng khi dứt khoát phá bỏ
hệ thống nhà nước cũ thay vào đó chính sách cai trị rộng lớn mới
bằng vũ lực và đàn áp, họ sẽ sống trong cái ảo tưởng khống
chế được toàn xă hội. Từ đó, người ta bị lôi cuống vào cơn
lốc bạo lực kỳ quái mà từ cơ chế, phản ứng giây chuyền cho
đến bản chất của nó, không một sử gia hay một người đương
thời nào hiểu được. Chính quá tŕnh diễn tiến các cuộc đàn áp, được
coi như là phương tiện duy nhất để trả lời cho các cuộc chống
đối hay những cản trở, đă làm nẩy sinh các phong trào bạo động ngoài
tầm kiểm soát. Chính sách khủng bố trong
lịch sử chính trị và xă hội của Liên Bang Sô Viết đă đặt cho chúng ta
những câu hỏi ngày càng phức tạp hơn. Các cuộc nghiên cứu gần đây đă
đánh đổ một phần nào những lư thuyết cũ của khoa Sô Viết học. Nếu
các nhà nghiên cứu không quan tâm đến việc đi t́m câu giải đáp toàn bộ
và dứt điểm về hiện tượng khủng bố , th́ một cuộc khảo
cứu có thể chuyên hướng trong công tác phân tích về cơ chế và tính hiếu động
của bạo lực. Trong cái viễn ảnh đó vẫn c̣n có nhiều điều bí
ẩn mà một trong những điều quan trọng hơn cả là bản tính xă hội
đă được h́nh thành trong khi thi hành bạo lực. Nếu chúng ta muốn lưu tâm
đến bộ phần thiếu soát này trong công tác tái dựng lại lịch sử - ai sẽ
là người đùng ra làm chuyện này? - th́ chúng ta phải liên tục nghiên cứu toàn bộ
xă hội. V́ chính xă hội vừa là nạn nhân cũng vừa là tác nhân của tất cả
những ǵ đă xảy ra.
Back to TOP
|