|
Staline qua đời đánh dấu nửa đoạn đường của bảy
thập niên tồn tại của chế độ Liên Bang Sô Viết, và cũng đánh dấu
một giai đoạn quyết định kết thúc một chế độ. Một thành viên của Hàn Lâm Viện Pháp,
ông Francois Furet đă viết:" Cái chết
của một nhân vật lănh đạo tối cao đă biểu lộ sự nghịch lư
của một chế độ. Mặc dù chế độ được ghi nhận là để
phát triển xă hội nhưng tất cả các diễn biến của nó hoàn toàn tùy thuộc
vào một cá nhân. Khi con người duy nhất không c̣n nữa, th́ chính cái xă hội
cũng mất đi một cái ǵ thiết yếu cho sự phát triển được tiếp
diễn. Một trong những điểm thiết yếu này là cường độ vĩ
đại của các cuộc đàn áp đă được thực hiện, dưới nhiều
h́nh thức khác nhau do nhà nước chủ trương chống lại toàn thể xă hội."
Đối
với các cộng tác viên quan trọng của Staline như các ông Malenkov, Molotov, Vorochilov, Mikoian,
Kaganovtch, Kroutchev, Boulganine và Beria, việc chọn người để thay thế Staline trở
nên vô cùng phức tạp. Một mặt là họ phải làm sao duy tŕ chính sách của Staline,
chia xẻ trách nhiệm. Mặt khác họ phải t́m cách quân b́nh hóa quyền lực của
mỗi cá nhân sao cho người này không vượt trội hơn người khác. Họ phải
thống nhất đưa ra một số chính sách của nhà nước để đáp
ứng với t́nh h́nh hiện tại, sao cho mọi cộng tác viên đều đồng ư. Vấn
đề dung ḥa chính sách của nhà nước kể từ khi Staline qua đời cho đến
khi ông Beria bị bắt giam vào ngày 26 tháng 6 năm 1953 đă gặp phải rất nhiều
khó khăn. Ngày nay, khi đọc các văn bản tóm tắt của phiên họp Ủy Viên
Trung ương đảng vào ngày Staline chết , ngày 5 tháng 3 năm 1953 và của phiên họp
từ ngày 2 đến ngày 7 tháng 7 năm 1953 [ sau khi loại trừ Beria], chúng ta t́m thấy
những lư do thúc đẩy các nhà lănh đạo kế tiếp Staline phải làm: Gỉa từ
chủ nghĩa Staline. Từ đó Kroutchev quyết định giải thể chủ nghĩa
Staline nhân kỳ đại hội thứ 20 của đảng cộng sản Sô Viết vào
tháng 2 năm 1956, thành lập Đảng Cộng Sản thống Nhất. Và Đại hội
đảng lần thứ 22 , tổ chức vào tháng 10 năm 1962.
Lư do thứ nhất
là bản năng tự vệ để sinh tồn. Vào những tháng cuối cùng của
Staline, tất cả lănh tụ Bônsêvich đều cảm thấy tính mạng của họ
không an toàn. Chẳng ai tránh được tai tiếng. Ông Vorochilov th́ bị coi như là nhân
viên t́nh báo của Anh. Ngoai Trưởng Molotov và Mikoian bị Staline loại ra khỏi Trung Ương
đảng. Trùm công An Beria bị nghi ngờ có chân trong âm mưu đen tối đang diễn
ra trong các cơ quan Nội an. Ở các cơ sở trung cấp th́ ai nấy cũng lo sợ
và t́m cách tránh né các h́nh thức khủng bố của chế độ. Muốn cho người
dân có được đời sống ổn định là phải dẹp bỏ cơ quan
công an nội chính đầy quyền lực. Khởi đầu là hủy bỏ bộ máy
chính trị mà nhà độc tài đă xây dựng với chủ đích riêng của ông ta. Nhờ
đó mà không một lănh tụ nào c̣n có thể lợi dụng quyền hạng để t́m
cách khống chế người khác. Thêm vào đó, đă có nhiều ư kiến bất đồng
xảy ra trong nội bộ về chính sách cải cách ruộng đất. Cũng có nhiều
hoạt động ngầm trong việc cấu kết bè phái để t́m cách thay thế Staline.
Nhân vật được coi như sáng gía nhất lúc bấy giờ là trùm công an Beria đầy
quyền thế. Người ta biết rất rơ một điều là không thể có một
guồng máy đàn áp nào ngoài ṿng kiểm soát của đảng. Đảng là vũ khí của
một cá nhân dùng để đàn áp các thế lực chính trị khác.
Lư do thứ hai
và cũng là lư do căn bản là cần phải có sự thay đổi để cải cách
kinh tế và xă hội.
Theo như hai nhà lănh tụ cộng sản, ông Kroutchev và ông
Malenkov th́ chính sách đàn áp để quản lư kinh tế, áp đặt các h́nh thức trừng
phạt, việc mở rộng các trung tâm lao động khổ khai Goulag là nhỡng lư do dẫn
đến sự khủng hoảng kinh tế và làm bế tắc phát triển xă hội. Chính
sách kinh tế được thiết lập trong những năm 1930 đă làm ngược
lại nguyện vọng của tầng lớp xă hội lúc bấy giờ. Các cuộc chống
đối của nhân dân và các cuộc đàn áp đẫm máu của những năm 1936-1938
như đă đề cập trước đây , không c̣n thích hợp nữa.
Lư do
sau cùng của sự thay đổi là diễn biến tất yếu của trào lưu đău
tranh chính trị để tiến tới một bước cao hơn. Một nhân vật
điển h́nh là ông Nikita Kroutchev. Chúng tôi không đề cập đến quía khứ chính
trị của ông ta là một người theo Staline hay không, nhưng chắc chắn ông ta đă
thật sự hối tiếc về những ǵ ông đă làm trong quá khứ. Ông ta rất khéo
léo trong sinh hoạt chính trị, rất b́nh dân, tỏ ra tin tưởng vào tương lai rực
rỡ của Xă Hội Chủ nghĩa. Ông cương quyết xây dựng một xă hội
hợp pháp. Điều này đă gây cho ông ta một thế chính trị vững mạnh hơn
tất cả các lănh tụ đồng thời . Ông cương quyết từng bước
và từng phần dẹp bỏ chủ nghĩa Staline. Ông xây dựng một xă hội cấp
tiến hơn. Nhưng qua những h́nh ảnh khủng khiếp vừa xảy ra phải
làm cho người ta tự hỏi, liệu trong vài năm hoạt động, Kroutchev có thể biến đổi chế độ độc
tài khủng bố dă man, trở thành một chế độ chuyên quyền công an trị, bảo
đảm cho một xă hội trật tự hậu Staline?
Không mấy tuần
lễ sau khi Staline qua đời, chính sách nhà tù Goulag lại được tái tổ chức
sâu rộng và đặt dưới quyền quản lư của Bộ Tư Pháp. Về việc
tổ chức hạ tầng cơ sở kinh tế th́ thuộc thẩm quyền của các
cơ quan dân chính địa phương. Về cơ chế hành chánh, nhà nước
mới cho thi hành một số quyết nghị nhằm giảm bớt quyền hành của
Bộ Nội Vụ. Như nghị quyết của chủ tịch đoàn Sô Viết do
chủ tịch Vorochilov ấn kư, đăng trên tờ Sự Thật số ra ngày 23 tháng 3
năm 1953 thông báo về việc ân xá : Tất cả các phạm nhân bị kết án dưới
5 năm. Tất cả các phạm nhân bị kết án v́ lư do kinh tế, lộng quyền
và không thi hành nhiệm vụ. Tất cả nữ tù nhân đang co thai , các nữ tù nhân trên
50 tuổi, các tù nhân dưới 10 tuổi, các nam tù nhân trên 55 tuổi. Ngoài qua nghị
quyết c̣n cho ân xá một nửa thời gian tù cho các tù nhân nào không phải bị kết án
v́ lư do chính trị, giết người có âm mưu và trộm cướp có tầm vóc lớn. Trong
vài tuần lễ, đă có 1.200.000 phạm nhân , gần một nửa con số phạm án,
được phép rời khỏi các trại tập trung Goulag, các trại khẩn hoang đặc
biệt và các trung tâm nhà tù. Phần lớn những người này thuộc vào tội tiểu
h́nh, như ăn cướp vặt, bỏ sở làm, vi phạm giấy thông hành.. Lînh ân
xá không được áp dụng đối với tù chính trị. Hön thế nửa, nội
dung của nghị quyết cũng rất mù mờ, với mục đích là tạo sự
hiểu lầm để tranh giành quyền lực. Vào mùa xuân 1953 là thời điểm để cho ông Lavrenti Beria, Bộ Trưởng
Bộ Nội Vụ, kiêm đệ nhất phó chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng,
chứng tỏ ra ḿnh là một nhà đại cải cách. Tại sao lại có cuộc ân xá
sâu rộng như vậy?
Theo như nhận định của Amy Knight, tác gỉa
của tập sách về cuộc đời của Beria, do nhà xuất bản Aubier cho ra mắt
tại Paris ngày 27 tháng 3 năm 1953, th́ chính Beria tự ư quyết định áp dụng biện
pháp chính trị này để gây thế lực trong mục tiêu trở thành người thừa
kế Staline. Để chứng tỏ tính cách pháp lư về biện pháp ân xá này, ngày 24 tháng
3 năm 1953, Beria chính thức gởi một văn thư đến Chủ tịch đoàn
Ủy ban Trung ương để giải thích. Beria cho rằng trong số 2.526.402 phạm
nhân trong các Goulag chỉ có 221.453 thật sự là phạm tội và bị giam cầm trong các
trại tù đậc biệt. Và ông ta cho rằng một số đông lớn tù nhân không gây
nguy hiểm ǵ đến nền an ninh của nhà nước. Như vậy, một cuộc
đại ân xá là điều cần thiết để giải tỏa gánh nặng kinh tế
cho nhà nước trong công cuộc quản lư lao tù. Từ năm 1950 trở về sau, vấn
đề mở rộng các trung tâm tù Goulag và sự quản lư của nó đă trở thành câu
hỏi thường xuyên trong nội bộ đảng. Các nhà lănh tụ biết rơ vấn
nạn này, ngay cả trong thời kỳ trước khi Staline qua đời. Cho nên nghị
quyết ân xá ngày 27 tháng 3 năm 1953 có đủ lư do pháp lư của nó trong lúc đưa ra thi
hành. Bất kỳ lănh tụ cao cấp trong đảng nhằm có ư định thay chân
Staline đều biết rất rơ yếu tố khủng hoảng chính trị cũng như
yếu tố kinh tế sa sút trầm trọng của chính sách Goulag. Cho nên họ đă đồng
thuận cho thi hành biện pháp ân xá. Khi Staline c̣n sống, không có một biện pháp cấp
tiến nào, cho dù trong bất kỳ lănh vực nào được phép thi hành. Sử gia Moshe
Lewin nhận định rằng tất cả những ǵ xảy ra trong thời kỳ Staline
lâm bịnh đều bất động, như là một xác chết ướp khô. Nhưng
sau khi Staline qua đời, không phải là việc ǵ cũng được cải tiến.
Như chuyện ân xá cho các tù nhân chính trị, những người bị ghép vào tội phản
cách mạng vẫn không được thi hành. Chính việc không cho ân xá các tù nhân chính trị
này là nguyên nhân của các vụ nổi loạn trong các trại có quy chế đặc biệt
về Goulag của Retchlag và Steplag. Ngày 4 tháng 4 năm 1953, tờ Sự Thật loan tin vụ
tàn sát các tù nhân thuộc giới Y Dược là do sự khiêu khích. Tờ báo cũng viết,
theo lời khai th́ những nạn nhân Bác sĩ này bị ép buộc phải khai những điều
không thật. Vài ngày sau đó, biến cố này được thổi phồng lên khi Trung
ương đưa ra một nghị quyết cho rằng đó là do quyết định
sai lầm của cơ quan công an khi ra tay đàn áp nhóm tù nhân y sĩ. Đây không phải là
một vụ sai lầm duy nhất. Và như vậy có nghĩa là cơ quan an ninh đă ư thi
hành quá nhiều biện pháp bất hợp pháp. Đảng cộng sản chính thức phê phán
những hành động này của công an. Sự kiện này đă tạo ra hai sự kiện
trái ngược . Một mặc, nhiều đơn tố cáo đă gởi đến các văn
pḥng ṭa án để xin tái xác thân nhân của họ hiện c̣n đang giam giữ. Trong khi đó
các tù nhân trong các trại th́ phản đối sự thanh lọc do ban giám đốc trại,
để cho phép người nào thuộc diện ân xá vào ngày 27 tháng 3 năm 1953. Các tù nhân phản
đối về sự đàn áp của cai tù, phản đối ban quản trại, không
thi hành các công tác lao động, bất tuân lịnh của trại. Ngày 14 tháng 3 năm 1953,
có trân 10 tù nhân thuộc các nhóm khác nhau của trại tù Norilsk tổ chức đ́nh công. Họ
tổ chức thành các nhóm thuộc các sắc dân khác nhau mà trong đó dân Ukraine và dân vùng Baltique
nắm chủ chốt. Yêu sách của họ là giảm giờ lao động; hủy bỏ
in số đính bài trên quần áo; hủy bọ quy chế hạn chế thư từ
liên lạc gia đ́nh; trục xuất các tên chỉ điểm; nới rộng các điều
kiện ân xá cho tù nhân chính trị. Ngày 10 tháng
7 năm 1953, tin Beria bị bắt đă được chính thức công bố. Beria bị
tố cáo là làm gián điệp cho cục t́nh báo Anh. Sự việc này đă làm cho những tù
nhân nghĩ rằng có cái ǵ đó đang diễn ra ở thủ đô Mạc Tư Khoa. Chính
v́ thế họ gia tăng yêu sách với nhà nước. Các h́nh thức không tham gia lao động
của các phạm nhân ở các trại tù bắt đầu lan rộng.
Ngày 14
tháng 7, trên 12.000 tù nhân ở khu lao tù Vorkouta đồng loạt tổ chức đ́nh công tập
thể. Có nhiều dấu hiệu cho thấy nhà nước không mở các cuộc đàn áp
tù nhân . Trái lại , đă xảy ra các cuộc thương thuyết ở khu Norilsk cũng
như ở Vorkouta. Từ suốt mùa hè năm 1953 cho đến kỳ đại hội
đảng lần thứ 20 vào tháng 2 năm 1956, liên tục xảy ra các vụ đ́nh công
trong các trại tù đặc biệt. Cuộc nổi loạn lâu dài và quan trọng nhất
diễn ra vào tháng 5 năm 1954, tại khóm 3 của khu tù Steplag, nằm trong vùng Kenguir thuộc
địa hạt Karganda Cộng ḥa Kazakhstan. Cuộc nổi loạn kéo dài 40 ngày và chỉ
bị dẹp tắt khi các lực lượng đặc biệt của bộ Nội Vụ
có xe thiết giáp yễm trợ can thiệp vào. Sáu thành viên của Ủy Ban điều khiển
cuộc nổi loạn bị hành quyết. 400 tù nhân trong nhóm nổi loạn bị bắt
và bị gia tăng án tù. T́nh h́nh chính trị, một phần nào đó đă được
thay đổi sau khi Staline qua đời. Một số yêu sách của tù nhân đưa ra
vào những năm 1953-1954 được giải quyết. Như giờ lao động đă
giảm xuống, chỉ c̣n làm việc 9 giờ trong một ngày. Chế độ ẩm thực
cũng được cải thiện khá hơn. Trong hai năm 1953-1954, sau cái chết của
trùm Beria, chính quyền đă cho thi hành một số biện pháp nhằm làm giảm quyền
hành của cơ quan an ninh nội chính. Băi bỏ xét xử vụ án chính trị Troiki. Cơ
quan công an chính trị đặc biệt được cải tổ trở thành cơ quan
tự trị Cục T́nh Báo Nga KBG [ Komitet Gossudarstvennoi Bezpasnosti]. Con số nhân viên chỉ c̣n
80% so với con số nhân sự vào tháng 3 năm 1953. Tướng Servo được bổ
nhiệm làm chỉ huy trưởng cơ quan KBG, đă duyệt xét lại tất cả các
hồ sơ tù nhân thuộc các sắc dân bị bắt giam trong suốt thời kỳ chiến
tranh. Tướng Servo là bạn thân của Nikita Chroutchev, một người không được
dân chúng biết nhiều trong quá khứ. Và chính trong giai đoạn chuyển tiếp này, ông
được giao phó cho giữ một trong những chức vụ then chốt trong chính quyền. Vào
tháng 9 năm 1955, chính quyền cho ân xá thêm một số tù quan trọng. Họ bị bắt
trong năm 1945 v́ đă hợp tác với quân Đức Quốc Xă và một số tù binh Đức
bị bắt giam trên lănh thổ Nga. Và cuối cùng , nhà nước cũng ban hành nhiều
biện pháp khoan hồng cho các tù khẩn hoang đặc biệt. Những người này được
phép đi lại trong những vùng rộng lớn hơn mà không cần phải tŕnh diện
tại các cơ quan quản lư. Chiếu theo hiệp ước Đức - Liên Sô, có tất
cả 1 triệu người trên tổng số 2.750.000 người Nga gốc Đức bị
đưa đi lưu đày trong tháng 9 năm 1945, là những người đầu tiên được
hưởng quy chế ân xá. Nhưng chính sách ân xá chỉ nhằm băi bỏ một số biện
pháp pháp lư giới hạn của những người tù, không đủ để thoả
măn những ǵ họ mong đợi. Họ không có quyền trở về quê quán; họ không
được phép nhận lại những tài sản của họ. Chính sách hạn chế
từng phần, từng bộ phận của Chroutchev được người dân coi như
là chính sách hạ bệ Staline. Cũng nên nhớ lại rằng Chroutchev là một trong những
lănh tụ thân cận với Staline. Ông ta cùng với các lănh tụ khác đă tham dự trực
tiếp vào các cuộc đàn áp trong quá khứ, dưới triều Staline. Nhơ giải thế
các khu vực canh tác theo lối chủ điền; thanh trừng cán bộ cộng sản;
cho lưu đày các sắc dân; hành quyết những người đối lập; thực
hiện chính sách đău tranh giai cấp. Cho nên dưới triều của Chroutchev, chiến
dịch hạ bệ Staline thật ra chỉ diễn ra trong giới hạn nhỏ. Ông ta chỉ
tố cáo việc sùng bái cá nhân quá đáng của tời Staline mà thôi. Trong bản phúc tŕnh
mật đọc vào đêm 24 tháng 2 năm 1956 nhân kỳ đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ 20, ông Chroutchev chỉ lên án một phần nhỏ của chủ
nghĩa Staline. Ông ta không đặt lại vấn đề và những lư do chính v́ sao Đảng
đă quyết định hồi năm 1917. Ông đưa ra các sự kiện lịch sử
sai lầm có hệ thống của chủ nghĩa Staline khởi đi từ năm 1934. Bản
phúc tŕnh mật không đề cập đến các tội ác của Staline trong chính sách cưỡng
bách kinh tế tập thể hoá. Ông cũng không nói đến vụ hàng triệu người
chết trong những năm 1932-1933 v́ đói kém, do chính sách kinh tế sai lầm của Staline.
Ông ta chỉ liệt kê con số nạn nhân của Staline là những đảng viên cộng
sản, những người dưới tay của Staline, mà không hề đề cập đến
hàng triệu dân chúng, chính là những nạn nhân trực tiếp của chế độ.
Chroutchev đă khéo léo không trả lời câu hỏi chính: trách nhiệm của đảng cộng
sản đối với nhân dân kể từ khi đảng cộng sản lên nắm chính
quyền từ năm 1917. Sau đại hội đảng lần thứ 20, nhiều biện
pháp cụ thể đă được thi hành. Các biện pháp này đă bổ túc cho một
số chính sách trước đây. Trong tháng 3 và 4 năm 1956, các người bị đưa
đi khẩn hoang đặc biệt thuộc thành phần sắc tộc, hay bị t́nh nghi
hợp tác với Đức , bị bắt vào những năm 1943-1945 đều được
các cơ quan thuộc bộ Nội Vụ giảm bỏ các thủ tục kiểm soát hành
chánh. Nhưng họ cũng chẳng được quyền đ̣i hỏi lại những
tài sản của họ, bị nhà nước tịch thu trước đây. Biện pháp
ân xá nửa chừng này chỉ gây thêm sự phẩn nộ. Một số lớn không chịu
kư tên xin ân xá khi họ bị buộc phải chấp nhận là không đ̣i lại tài sản
và cũng không xin trở về nguyên quán. Người ta nhận thấy chính phủ có phần
nhượng bộ. Điều này chứng tỏ có thay đổi trong chính sách của chính
quyền vào lúc bấy giờ. Ngày 9 tháng 1 năm 1957, nhà nước cho thi hành nghị quyết
nhằm giải tán các cộng ḥa và các vùng tự trị của các sắc dân, trừ cộng
ḥa Tatars ở vùng Crimee. Suốt trong 3 thập niên, người Tatar quyết tâm tranh đău
để đ̣i cho được trở về quê quán của họ. Từ năm 1957,
đă có hàng chục ngàn người thuộc các sắc dân Karakchais, Kalmouks, Balkars, Tchetchenes
và Ingouches lục đục trở về quê hương của họ. Nhà nước không
trợ giúp họ tái định cư. Nhiều vụ chống đối giữa những
người tù trở về quê cũ và những người Nga đến đang chiếm
ngự nhà cửa của họ. Những người Nga này trước kia cư ngụ ở
những vùng lân cận, được nhà nước chuyển về các khu vực này định
cư, khi dân ở đây bị nhà nước bắt đi lưu đày. Khi những người
tù trở về v́ không có hộ khẩu nên không thể đăng kư chính quyền địa
phương để có nơi cư ngụ chính thức. Họ phải tự t́m chổ
ở bằng cách cất cḥi, lều vải hay bằng nhà tạm bợ bằng gỗ thông
thường. Họ sống trong t́nh trạng bị đe dọa thường xuyên. Họ
bị bắt và bị truy tố về các tội không có giấy thông hành, không hộ khẩu.
Chính quyền địa phương không chịu cung cấp cho họ các loại giấy tờ
hợp pháp đó. Với các lư do đó, họ có thể bị 2 năm tù. Tháng 7 năm 1958,
tại thủ đô Grozny của xứ Tchetchene đă xảy ra vụ thảm sát đẫm
máu giữa dân Nga và dân Tchetchene. Sau đó nhà nước phải chấp nhận cất nhà ở
cho dân tù Tchetchene. Từ đó quan hệ giữa hai sắc dân tạm thời lắng dịu.
Nhưng phải đợi măi đến tháng giêng năm 1960, quy chế của người
dân đi khẩn hoang đặc biệt mới chính thức băi bỏ. Những người
lưu đày thuộc sắc dân Ukraine và dân vùng Baltique là những người được
phóng thích sau cùng. Nhưng v́ hệ thống hành chánh quá rườm rà và gặp quá nhiều trở
ngại trong lúc lập thủ tục ân xá, cho nên có rất nhiều người chán năn, đành
phải ở lại chọn nơi này làm quê hương; trong khi một số khác ít hơn
quá bán lên đường trở về quê nhà. Một số lớn tù nhân bị ghép vào tội
phản cách mạng chỉ được ân xá sau kỳ đại hội đảng lần
thứ 20. Có chừng 90.000 người được trả tự do trong năm 1954-1955. Vào
năm 1956-1957 có gần 310.000 tù nhân thuộc diện phản cách mạng đựơc hồi
hương. Tính đến đầu năm 1959, chỉ c̣n 11.000 tù nhân chính trị c̣n bị
giam. Để tiến hành nhanh chóng thủ tục ân xá và hồi hương, nhà nước
đă thành lập 200 uỷ ban tư pháp về các trại giam. Nhưng được phóng
thích ra khỏi trại giam không có nghĩa là được phục hồi quyền công dân
để hưởng được các quyền lợi khác. Trong hai năm, 1956-1957, chỉ
có chừng 60.000 người trở về được phục hồi quyền công dân.
Con số đông c̣n lại phải chờ nhiều năm sau, có khi hàng chục năm mới
được cấp giấy chứng minh nhân dân cần thiết này. Trong tác phẩm '' Mọi
việc rồi sẽ qua đi'' nhà văn Vassili Grossman gọi năm 1956 là năm của ''
các cuộc trở về''. Ông đă dùng nhóm từ '' các cuộc trở về'' thật là đầy
đủ ư nghĩa, thật là vĩ đại. Nó phản ảnh sự êm lặng hoàn toàn
về phía nhà nước và chính nó đă gợi lại trong đầu của những người
đă không có cơ hội để trở về nơi chôn nhau cắt rún của ḿnh. Nó gây
chấn thương tâm lư trong quần chúng và đă làm xáo động trong đời sống
của người dân. Trong tác phẩm '' Hai nước Nga đối diện '', nhà
văn Lydia Tchoukovskaia đă cái thảm kịch mặt đối mặt trong cùng một xă
hội. Một nước Nga cầm tù và một nước Nga bị cầm tù. Trong cái khung
cảnh thù hận đó, chính quyền quyết định không giải quyết các thư
tố cáo cá nhân, thư tố cáo các viên chức, trước đây có nhúng tay bất hợp
pháp trong các vụ đàn áp, tra tấn và đưa đi tù đày. Cơ quan duy nhất có quyền
tái cứu xét các bản án đó là Ủy ban kiểm soát của đảng cộng sản. Trong
các văn thư của nhà nước gởi đến các văn pḥng biện lư có rất
nhiều phần đề cập đến vấn đề ưu tiên giải quyết
cho các cán bộ cộng sản và quân nhân. Sau khi cho ân xá tù chính trị, các trại giam sau thời
kỳ Staline đă giảm xuống đến con số tương đối ổn định.
Vào năm 1959-1960 có chừng 900.000 phạm nhân, trong đó có chừng 300.000 người thuộc
diện cứng đầu. Những người này hoặc đă tái phạm hay bị kết
án tù nhiều năm. Con số c̣n lại 600.000 người thuộc diện thường tội. Vai
tṛ chính ở các Goulag là dùng nhân lực của tù nhân để khai thác các nguồn tài nguyên thiên
nhiên ở các vùng Cực Bắc và vùng Viễn Đông của nước Nga. Nhưng rồi
theo t́nh thế, vai nhiệm vụ này của Goulag cũng biết mất dần. V́ các trại
tù dưới thời Staline được phân tán mỏng ra cho nên các địa h́nh của
Goulag cũng bị biến thể. Một số trại tù về sau được tái thiết
lập ở vùng nằm về khu vực của Nga nằm trong lục địa Ău Châu.
Mặc dù có cải thiện hệ thống nhà tù sau khi Staline qua đời, nhưng chính
sách quản trị các trại tù vẫn c̣n xa lạ với hệ thống luật pháp của
nhà nước pháp trị. Nó vẫn c̣n dấu vết của thời kỳ giam cầm trong
chế độ Sô Viết đưới thời Staline. Con số tù vẫn tiếp tục
gia tăng khi nhà nước mở chiến dịch bài trừ du đảng, rượu chè,
không nhà không cửa, thất nghiệp,..và nạn nhân của các điều lệ 70 và 190 của
bộ h́nh luật mới vừa cho áp dụng từ năm 1960. Chiếu theo các điều
lệ trong bộ h́nh luật mới, các biện pháp khác nhau về việc trao trả phạm
nhân thay đổi liên tục. Một trong các biện pháp cải tổ đầu tiên sau
thời Staline được ban hành vào ngày 25 tháng 4. Đó là hủy bỏ điều
lệ chống lại công nhân của năm 1940. Theo điều lệ này, trước đây
nhà nước cấm công nhân đ́nh công hay bỏ sở làm. Nhà nước dùng phương
pháp cải tổ từng phần để dẫn dư luận quần chúng đến việc
chấp thuận đạo luật về những điểm căn bản mới của
Bộ H́nh Luật, ban hành ngày 25 tháng 12 năm 1958. Các điểm căn bản này đă thay
đổi toàn toàn các cụm từ của Bộ H́nh Luật trước. Như '' kẻ
thù của nhân dân''; '' tội ác phản cách mạng''.. Hơn thế nửa, người
dân chỉ chịu trách nhiệm trước pháp luật khi đúng 16 tuổi trở lên, thay
v́ 14 tuổi như trước kia. Công an không được tra tấn trong lúc hỏi cung.
Các bị can khi ra ṭa đều có luật sư , tham khảo tài liệu trước khi bào
chửa cho bị can. Ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt, đa số
các phiên ṭa đều được xử công khai có quần chúng tham dự. Nhưng Bộ
H́nh Luật năm 1960 vẫn c̣n giữ lại một số điều lệ nhằm trừng
phạt mọi h́nh thức '' sai lệch định hướng chính trị và ư thức hệ''.
Chiếu theo đều 70 của Bộ H́nh Luật này, bất kỳ người nào có ư tuyên
truyền để làm giảm uy tín của chế độ và quyền lực của nhà
nước Liên Sô đều bị trừng phạt từ 6 tháng cho đến 7 năm tù và
sau đó bị đưa lưu đày từ 2 đến 5 năm. Điều 130 lên án những
ai biết các hoạt động chống lại chế độ mà không chịu đi tố
cáo. Những người này sẽ bị tù từ 3 đến 5 năm và bị phạt
lao động không công cho nhà nước. Trong
hai thập niên 1960-1970, nhà nước đă cho áp dụng sâu rộng hai điều luật
70 và 190 là điều luật nói về các h́nh thức '' đi lạc hướng chính trị
và ư thức hệ.''Có đến 90% thường dân bị bắt giam v́ những lời phát
biểu hay có hành động chống lại chính quyền Sô Viết. Trong những năm
thay đổi đường lối lănh đạo chính trị cũng như cải thiện
đời sống kinh tế, người ta thấy dường như có rất ít hay không
có xảy ra các h́nh thức tranh cải hay bất đồng ư kiến. Có lẻ là do cái quá
khứ bị đàn áp ghê tợn vẫn c̣n ghi đậm trong kư ức của người
dân, cho nên chẳng ai muốn phản kháng.
Lần
thứ nhất trong 5 năm đầu của chế độ, một bản báo cáo
của KBG được ghi nhận như sau: Năm 1961 có 1300 vụ chống đối;
năm 1962 , 2500 vụ; năm 1964, 4500 vụ và năm 1965 1300 vụ. Ở vào thời điểm
của những năm 1960-1970, cơ quan KBG có nhiệm vụ theo dơi ba loại người. Nhóm
nhất nhất là những người thiểu số hoạt động trong các Tôn Giáo; Nhóm
thứ hai là nhóm thiểu số có khuynh hướng quốc gia như các người gốc
Baltique, gốc Tatar ở vùng Crime, người Đức, người Ukraine,.. Nhóm thứ
ba là giới trí thức, tham gia vào các phong trào ly khai vào những năm 1960.
Năm 1957,
nhà nước mở chiến dịch chống Tôn Giáo. Một số tín đồ bị bắt
giam và đóng cửa các giáo đường, nhà thờ mà trước đây trong thời kỳ
chiến tranh với Đức được phép hành đạo. Sự hợp tác của
Giáo Hội Chính thống Giáo với nhà nước không c̣n nữa. Sự xung đột gia
tặng. Cơ quan KBG đặc biệt lưu ư đến nhóm người thiểu số
sinh hoạt trong các Tôn Giáo v́ nhà nước cho rằng những người này được
sự trợ giúp của các tổ chức Tôn Giáo của nước ngoài. Một vài dẫn
chứng cho thấy các sự kiện này đă diễn ra . Năm 1973-1975, KBG bắt gia 116 tín
đồ Tin Lành; năm 1984 có đến 200 người bị bắt giam trung b́nh từ một
năm tù trở lên. Ở vùng phía Tây Ukraine, chính sách Sô Viết hóa đă gặp nhiều khó
khăn. Có lúc phải ngưng lại v́ sự chống đối của nhóm người quốc
gia, trước kia có chân trong phong tráo kháng chiến OUN. Một số người trong tổ
chức ở các vùng Ternopol, Zaporojre-Ivano-Frankovsk, Lviv bị phát hiện và bị trừng phạt
vào những năm 1961-1973. Họ bị kết án từ 5 đến 10 năm tù. Tại
Ltuanie thuộc vùng Baltique, từ năm 1940 bị xáp nhập vào Liên Sô, vào những năm 1960-1970
đă có nhiều vị Linh Mục Thiên Chúa Giáo bị bắt giam. Cho đến ngày Liên Bang
Sô Viết tan ră, vấn đề của người Tatars thuộc vùng Crime vẫn chưa
được giải quyết. Họ bị Staline đưa đi lưu đày tập
thể vào năm 1944. Vào những năm cuối của thập niên 1950, phần lớn
dân Tatars định cư ở vùng Trung Á . Khi t́nh h́nh chính trị ở Liên Sô bắt đầu
thay đổi, họ phát động chiến dịch, đưa kiến nghị, đ̣i được
trở về quê cha đất tổ của họ. Vào năm 1966, một thỉnh nguyện
thơ với 130.000 chữ kư của dân Tatars đă được chuyển đến Đại
Hội Đảng lần thứ 23. Tháng 9 năm 1967, văn pḥng Chủ Tịch Sô Viết
Tói Cao ra nghị quyết bải bỏ tội '' phản bội tập thể'' mà nhà nước
trước kia đă kết án. Ba tháng sau, một nghị quyết khác thừa nhận quyền
tự trị của dân Tatars. Họ được quyền chọn nơi sinh sống nhưng
phải tôn trọng luật pháp của nhà nước. Họ được cấp thẻ
thông hành nội địa và như vậy họ được hưởng các quy chế
lao động cũng giống như những người khác. Từ năm 1968 đến
năm 1978 chỉ có 15.000, tức là khoảng 2% người Tatars đủ tiêu chuẩn
pháp lư để được cấp giấy thông hành nội địa. Một Tướng
lănh trong quân đội Nga ông Grigorenko, ủng hộ phong trào tự trị của dân Tatars.
Ông bị bắt vào tháng 9 năm 1969 trong lúc đó ông ta đang phục vụ ở Tachkent thuộc
Cộng Ḥa Ouzbekistan. Ông bị đưa vào bịnh viện tâm thần. Sau này mỗi năm,
nhà nước Cộng Sản cũng bắt giam khoảng 10 người chống đối
khác trong các nhà thương điên như trên.
Nói một cách tổng quát, sau thời
kỳ Staline, các vụ án chính trị đều được xử công khai và dân chúng có quyền
tham dự. Như vụ án nhà văn Andrei Siniaviski và Iouri Daniel diễn ra vào tháng 2 năm
1966. Cả hai bị kết án 5 năm tù và 7 năm lao động cưỡng bách. Các
nhà viết sử đánh giá bản án này khởi đầu cho một phong trào ly khai. Ngày
5 than1g 12 năm 1965, vài ngày sau tin hai nhà văn bị bắt, một cuộc biểu t́nh có chừng
50 người tham dự để bày tỏ ủng hộ tinh thần hai nhà văn tại
công trường Pouchkine ở Mạc Tư Khoa. Từ năm 1960, có chừng trăm người
trong nhóm ly khai. Mười năm sau, con số này tăng lên 2000 người. H́nh thức chống
đối của nhóm người này khác với các h́nh thức trước kia. Thay v́ đ̣i
hỏi bải bỏ chế độ, họ đ̣i nhà nước phải thi hành nghiêm chỉnh
các nghị quyết, hiến pháp và các hiệp ước quốc tế mà Liên Ban Sô Viết
đă kư kết. Nhóm ly khai thay đổi h́nh thức đău tranh. Họ không hoạt động
bí mật nữa. Họ hoạt động công khai và quảng bá các h́nh thức đău tranh
của họ đến quần chúng, trong các xí nghiệp. Họ thường tổ chức
các cuộc họp báo và nếu được nhà nước cho phép họ mời các nhà báo
ngoại quốc đến tham dự. Về phương diện tương quan quyền
lực th́ con số vài trăm người trong nhóm ly khai chẳng thể nào so sánh với bộ
may cai trị khổng lồ và đầy quyền lực của nhà nước. Do vậy
thông tin quốc tế là vũ khí quyết định của họ. Như sự xuất
hiện tập hồi kư của nhà văn Alexandre Soljenitsine vào năm 1973, quyển '' Quần
đảo ngục tù Goulag'' cùng với sự trục xuất nhà văn lừng danh này đă
làm cho nền chính trị của Liên Sô lung lay. Trong ṿng hai năm, nhờ các hoạt động
của nhóm người này mà vấn đề nhân quyền đă trở thành vấn đề
quan trọng mang tính cách quốc tế trong cuộc hội nghị về vấn đề
An Ninh và Hợp Tác Âu Châu vào đầu năm 1973 tại thủ đô Helsinki của Phần
Lan. Văn kiện của cuộc hội nghị này đă đưực Liên Sô kư tên và
điều này đă làm gia tăng tiếng nói của nhóm người ly khai. Ngay sau đó, các
nhóm người ly khai đă rầm rộ thành lập các uỷ ban để theo dơi sự
thi hành hiệp ước Helsinsk tai các thanh phố Mạc Tư Khoa, Leningrad, Kiev, Vilnus,.. Họ
thông báo cho quốc tế biết về các hành động vi phạm nhân quyền của nhà
nước như đă ghi trong hiệp ước. Trong bối cảnh quốc tế hóa
vấn đề nhân quyền ở Liên Sô đă làm cho cơ quan công an KBG tê liệt. Khi Công
an bắt người nào đó, th́ lập tức cả thế giới biết đến.
Sự việt bắt bớ không c̣n là vấn đề bí mật của nhà nước nữa.
Qua các dữ kiện chính trị và con số bị bắt, người ta lưu ư đến
sự liên hệ giữa biến chuyển bên ngoài và sự bắt bớ ở bên trong nước
Nga. Trong những năm 1968-1972 và trong năm 1979-1982, con số người ly khai bị
bắt nhiều hơn so với những năm 1973-1976. Cho tới giờ này, người
ta chưa có được con số chính thức về những người ly khai chính trị
bị bắt giam trong những năm 1960 đến 1985. Các nguồn tin do nhóm người
đối lập chính trị cho biết là có chừng vai trăm người bị bắt
giam trong những năm căng thẳng nhất. Trong nâm 1970, trong tờ Biên Niên Sử, người
ta đọc thấy có đến 600 người bị kết án. Trong số này có 21 người
bị giam trong các nhà thương Tâm Thần với lư do là để pḥng ngừa. Qua năm
1971, con số tù chỉ có 85 người và 24 đi nhà thương Tâm Thần. Trong
những năm 1979-1982, là những năm căng thẳng v́ đối đầu với các
vấn đề quốc tế, nhà nước Liên Sô cho bắt giam trên 500 người. Ở
trong một quốc gia mà nhà cầm quyền luôn luôn xa lạ với dư luận tự do,
những diễn đạt của sự bất đồng ư kiến không phù hợp chánh
sách của nhà nước, hiện tượng đối lập chính trị, hiện tượng
chống đối cấp tiến, nhân quyền, không thể có ảnh hưởng trực
tiếp đến việc h́nh thành một xă hội. Một sự thay đổi thực
sự c̣n tùy thuộc ở một số điều kiện nào đó. Nó bắt nguồn từ
một nền văn hóa và một xă hội tự trị, xuất hiện vào những
năm 1960, những năm 1970, kéo dài nhiều năm trong thập niên 1980 và cùng với
sự phản tĩnh chính trị của các phần tử cấp tiến ưu tú cần
thiết như những ǵ đă diễn ra trong năm 1953.
Back to TOP
|