|
Vào những năm cuối cùng của Staline, ở Nga không c̣n xảy ra các vụ án do ṭa
án nhân dân xử công khai có quần chúng tham dự. Các vụ khủng bố cũng không c̣n. Tuy
nhiên, không khí kinh hoàng của những năm trước vẫn c̣n đè nặng và bao trùm
người dân vào những năm sau khi thế chiến thứ hai kết thúc.
Các vụ phạm pháp và tệ nạn xă hội đă
diễn ra với mức độ cao nhất của nó. Những ước mơ cho một
cuộc sống b́nh thường trong xă hội đă tan biến theo chiến tranh. Sự chờ
đợi để hưởng một chút hơi thở tự do chỉ là những giấc
mơ không bao giờ hiện thực. Thi hào lừng
danh Ilia Ehrenbourg đă viết trong tập hồi kư của ông , đề ngày 9 tháng 5 như
sau:
'' Nhân dân đă quá đau khổ. Không thể để tái diễn những
ǵ đă xảy ra trong quá khứ.'' Ông ta là một người biết rất rơ bản
chất của chế độ và guồng máy cai trị của nó. Ông vẫn thường
lo âu cái ǵ sẽ xảy ra. Và nó đă xảy ra đúng như ông ta đă nghĩ. Trong tháng
9 và tháng 10 năm 1945, Bộ Chính Trị Trung Ương đă gởi nhiều phái đoàn thanh
tra về địa phương để khảo sát t́nh h́nh. Các bản báo cáo gởi về
Trung Ương cho thấy nhân dân đang sống trong thất vọng. Họ đang sống
trong khó khăn và họ hy vọng sẽ có cái ǵ đó để thay đổi cuộc sống.
Theo các bản phúc tŕnh th́ đất nước đang lâm vào thời kỳ hỗn loạn.
Trong
thời kỳ chiến tranh, các nhà máy phải dời về phía Đông để tránh rơi
vào tay quân Đức Quốc Xă. Sự kiện này đă kéo theo hàng triệu nhân công phục
vụ trong các nhà máy. Chính t́nh trạng này đă tạo một khoảng trống khó phục
hồi lại mức sản xuất. Các cuộc đ́nh công hàng loạt đă xảy ra tại
các nhà máy luyện kim ở Oural. Sự kiện này chưa hề xảy ra trước đây.
Trong nước đă có 25 triệu người dân không gia cư. Những người lao động
nặng, hằng ngày nhận khẩu phần bánh ḿ không quá một cân Anh. Cuối tháng 10 năm
1945, các Ủy Viên của các Ban Chấp Hành địa phương vùng Novossibirsk đă đề
nghị hủy bỏ các cuộc diễn hành và lễ kỷ niệm cuộc cách mạng
tháng 10 v́ dân chúng không có quần áo và giày để đi diễn hành. Trong cuộc sống khốn
khổ đó, nhiều tin đồn đưa ra là sẽ giải tán các hợp tác xă nông nghiệp
v́ các tổ chức này không đủ tiền và lương thực để trả cho các
thành viên và nông dân cho dù họ chỉ trả một vài kư lúa ḿ cho mỗi nông dân trong một
vụ mùa lao động. Giới nông nghiệp bị thảm bại nặng nề. Chiến
tranh tàn phá ruộng vườn ở nông thôn. Thêm vào đó, nạn hạn hán, thiếu phương
tiện cơ giới, thiếu nhân công, đă làm cho vụ mùa tháng 10 thất thu trầm trọng.
Nhà nước phải kéo dài t́nh trạng phân phối lương thực hạn chế, trái
với lời hứa của Staline là sẽ chấp dứt t́nh trang hạn chế lương
thực này. Tháng 2 năm 1946, Staline đọc một bài diễn văn với những hứa
hẹn lạc quan. Nhưng những ǵ ông nói đều trái ngược với những ǵ
đă diễn ra trong thực tế. Ông cho rằng nông dân chỉ thấy mối lợi trên
mảnh đất nhỏ mà họ tự canh tác, không qua sự kiểm soát của chính quyền.
Chính những người này đă không thi hành nghĩa vụ sản xuất tập thể
theo chính sách của nhà nước. Do vậy, nhà nước phải ra tay thanh trừng những
ai vi phạm vào quy chế của các hợp tác xă nông nghiệp. Nhà nước sẽ truy tố
những ai đă phung phí tài sản, ăn cắp tài vật , phá hoại máy móc và ngăn chận
các vụ thu mua nông phẩm.
Ngày 21 tháng 9, Staline ra lịnh thành lập một ủy
ban chuyên lo các nghiệp vụ về các hợp tác xă nông nghiệp dưới quyền chỉ
huy của một cán bộ cao cấp của đảng Cộng Sản là ông Andreiev. Ủy
ban có nhiệm vụ thu hồi lại tất cả các phần đất nhỏ mà dân chúng
đă chiếm đoạt bất hợp pháp làm của tư trong thời kỳ đang xảy
ra chiến tranh. Chính các phần đất canh tác nhỏ này đă giúp cho nông dân rất nhiều
bởi v́ khẩu phần do các hợp tác xă nông nghiệp phân phối không đủ nuôi sống
họ để chờ đến vụ mùa tháng 10. Ngày 25 tháng 10 năm 1946, chính phủ
ban hành một nghị quyết bảo vệ các nông sản. Bộ Tư Pháp sẽ mở
cuộc điều tra trong 10 ngày về các vụ thất thoát lương thực. Nhà nước
cũng cho thi hành một đạo luật đă lỗi thời được ban hành vào
ngày 7 tháng 8 năm 1932. Chỉ trong ṿng hai tháng, tháng 11 và tháng 12 năm 1946, nhà nước kết
án 53.300 thành viên của các hợp tác xă nông nghiệp về các tội ăn cắp lúa và bánh
ḿ. Những người này bị đày đi lao động khổ sai tại các trại
lao động cưỡng bách. Hàng ngàn chủ nhiệm các hợp tác xă cũng bị kết
án là đă phá hoại chiến dịch thu mua lương thực. Nhờ đó mà việc thu
mua trong hai tháng này đă tăng từ 36% lên đến 77%. Nhưng phải trả với cái
giá nào? Chính quyền Cộng sàn lấy sự kiện chậm trễ việc thu mua để
che giấu một thảm cảnh kinh hoàng đó là nạn chết v́ thiếu ăn. Nạn
chết đói trong mùa Thu và mùa Đông 1946-1947 đặc biệt đă xảy ra v́ hạn hán
trong các tỉnh Koursk, Tambov,
Voroneij, Orel và Rostov. Có
ít nhất là nửa triệu người chết. Cũng giống như các nạn chết
đói vào năm 1932, lần này chính quyền cũng giữ êm lặng. Nhà nước vẫn
giữ mức thu mua 250 kư lúa trên một mẫu canh tác kể cả các vùng hạn hán này. Cho
nên dân chúng của trong vùng vốn không đủ lương thực v́ mất mùa lại càng
thêm thiếu lương thực. Đó là lư do con số người chết đói gia tăng.
Chỉ c̣n có một cách là phải ăn cắp nông sản của hợp tác xă để sống
qua ngày. Con số nhân viên ăn cắp này lên đến 44% trong ṿng một năm.
Ngày
5 tháng 6 năm 1947, báo chí đă đăng tải hai đạo luật do chính phủ ban hành
vào ngày hôm trước. Đạo luật nhấn mạnh là mọi vi phạm tài sản của
nhà nước, của hợp tác xă nông nghiệp, cá nhân hay tập thể, đều bị
trừng phạt từ 5 năm cho đến 25 năm lao động cưỡng bách. Ai
biết được người nào đó ăn cắp hay có ư đồ ăn cắp mà
không truy tố cũng sẽ bị trừng phạt từ 2 đến 3 năm đi lao động
cưỡng bách. Các văn thư riêng trong giới Tư Pháp cho biết các tội ăn cắp
vặt tài sản của Tổ Hợp Nông Nghiệp cho đến nay chỉ bị phạt
mất quyền tự do trong ṿng một năm, bây giờ được lịnh phạt
theo sắc luật ban hành ngày 4 tháng 7 năm 1947. Vào cuối đệ nhị lục cá nguyệt
của năm 1947, đă có 380.000 người bị kết án, trong đó có 21.000 thanh niên ở
tuổi vị thành niên tức là dưới 16 tuổi. Chỉ cần ăn cắp vài
kí lô khoai ḿ cũng đủ để bị kết án từ 8 đến 10 năm đi lao
động cưỡng bách. Sau đây là bản án do ṭa án quận Souzdal thuộc tỉnh
Vladimir tuyên án ngày 10 tháng 10 năm 1947: '' Hai tên N.A và B.S tuổi 15 và 16, được lịnh
đi gát chuông ngựa tại một công tŕnh tổ hợp nông nghiệp, bị bắt quả
tang ăn cắp 3 trái dưa chuột trong vườn rau của tổ hợp nông nghiệp.
Nay tuyên án hai đương sự N.A và B.S 8 năm mất quyền tự do và đưa đi
lao động theo chế độ thường ở các trại lao động tập trung.'' Trong
ṿng 6 năm đă có 1.300.000 người bị kết án. 75% trong số này phải đi lao
động cưỡng bách trong 5 năm theo sắc luật ngày 4 tháng 6 năm 1947. Đến năm 1951, con số thường phạm chiếm
53%. Và tính trên toàn quốc, con số thường phạm ở tù lao động cưỡng
bách với tỉ lệ 40%. Vào những năm cuối của thập niên 40, do áp dụng
chặt chẽ sắc luật ngày 4 tháng 6 năm 1947, con số bản án kết tội trên
5 năm lao động cưỡng bách đă tăng từ 2% vào năm đầu cho đến
29% vào những năm cuối của thập niên 40.
Ở vào thời điểm cai
trị cao độ nhất của Staline, các cuộc khủng bố và đàn áp đă diễn
ra hằng ngày. Ṭa án nhân dân một h́nh thức chuyển tiếp của cái Ṭa án siêu pháp lư của
cơ quan An Ninh Nội Chính NKVD rất nổi tiếng trong những năm 1930-1940. Trong số
những người bị kết án có rất nhiều quả phụ của các quân nhân đă
bị tử thương trong cuộc chiến vừa qua. Những quả phụ này sống
với đám con nhỏ mà chồng họ đă bỏ lại, không đủ sức nuôi con
nên phải đi ăn cắp, đi ăn xin. Vào cuối năm 1948, nhà nước Cộng
Sản bắt giam 500.000 phụ nữ, tức là hai lần nhiều hơn so với năm
1945. Con của các quả phụ này dưới 4 tuổi đều phải được
chuyển vào nhà trẻ tập thể cũng nằm trong các trại giam. Đến năm
1953, con số trẻ em tăng lên 35.000 em. Để tránh cho các trung tâm lao động cưỡng
bách trở thành các trung tâm giữ trẻ vĩ đại v́ con số phụ nữ bị
bắt quá nhiều bởi chính sách đàn áp tàn bạo ban hành năm 1947, nhà nước Cộng
Sản phải ban hành sắc luật kư hồi tháng 4 năm 1949, ân xá cho 84.200 phụ nữ
trẻ có trẻ em nhỏ tuổi. Nhưng đồng thời nhà nước Cộng sản
vẫn tiếp tục kết án con số phụ nữ khác v́ tội ăn cắp. Đến
năm 1953, con số phụ nữ bị bắt giam trong các trại lao động cưỡng
bách chiếm từ 25% đến 30% trên tổng số can phạm. Trong hai năm 1947-1948
nhà nước c̣n gia tăng các vụ đàn áp qua các Đạo Luật biểu tượng
t́nh cảnh xă hội thời đó. Như đạo luật ban hành ngày 15 háng 2 năm 1947,
cấm người Nga kết hôn với người ngoại quốc. Một đạo
luật khác ban hành ngày 9 tháng 6 năm 1947 quy định trách nhiệm về việc loan tin hay
làm thất thoát các vấn đề bí mật của nhà nước. Đạo luật ban
hành ngày 21 tháng 2 năm 1948 kết án các thành phần thuộc nhóm Xă Hội thiên hữu, Mensevich,
nhóm Xă hội có khuynh hướng Quốc Gia, nhóm Trotski, nhóm vô chính phủ, nhóm quân nhân Bạch
Nga,..là các phần tử gián điệp chống lại nhà nước. Những người
này sau khi măn tù hay sau khi hết thời gian lao động khổ sai sẽ bị đưa
đi lưu đày ở các vùng Kolyma thuộc tỉnh Novossibirsk và vùng Krasnoiarsk hay các vùng hẻo
lánh ở Kazakhstand. Để canh pḥngvà kềm chế những người nay, nhà nước
Cộng Sản thường gia tăng thời gian tù thêm 10 năm mà không cần có một phiên
ṭa nào phán xét. Những người tù bị bắt vào những năm 1937-1938, thường
được đặt cho cái tên là những người tù 58. Có nghĩa là họ chỉ
được phóng thích vào năm 1958, tức là phải ở tù 20 năm. Vào cùng ngày 21 tháng
2 năm 1948, Hội Đồng Xô Viết Tối Cao cho ban hành một sắc luật trục
xuất ra khỏi lănh thổ Cộng Ḥa Ukraine, tất cả các phần tử nào không chịu
lao động trong một thời gia tối thiểu trong các trung tâm lao động hợp
tác xă cưỡng bách. Họ bị coi là những phần tử ăn bám xă hội. Qua đến
ngày 2 tháng 6 th́ đạo luật này có giá trị trên toàn lănh thổ Liên Xô. T́nh trạng sinh
sống ở các trại lao động cưỡng bách hợp tác xă nông nghiệp tập trung
th́ hầu như không đủ trả tiền cho nhân công, kể cả phân chia sản phẩm.
V́ thế, có rất nhiều công nhân không thực hiện đủ số ngày lao động
do nhà nước ấn định. Như vậy đă có hàng triệu công nhân không đạt
đúng tiêu chuẩn ngày lao động, trở thành phạm nhân. Chính quyền địa phương
nhận rằng, nếu áp dụng đúng theo các điều luật của Trung Ương
th́ sẽ gây ra xáo trộn. Cho nên họ áp dụng một cách lơ là, làm cho có làm. Tuy vậy
cũng đă có 38.000 người bị bắt đi lưu đày trong năm 1948. Mặc
dù án tử h́nh đă được băi bỏ theo như đạo luật kư ngày 26 tháng 5 năm
1947, nhưng các đạo luật đàn áp đẫm máu nêu trên đă làm lu mờ đạo
luật băi bỏ án tử h́nh. Ngày 12 tháng giêng năm 1950, nhà nước Cộng Sản
cho thi hành lại đạo luật tử h́nh, để xử các vụ án Leningrad. Trong
những năm của thập niên 1930, việc cho hồi hương những phần tử
bị đưa lưu đày đă không được thi hành thống nhất và không liên
tục trong các cơ quan của nhà nước. Măi cho đến thập niên 40 th́ vấn
đề này mới được gỉai quyết trắng đen. Theo đó, các tù nhân bị
kết án trong những năm 1941-1945, th́ trở thành những tên tù vĩnh viễn. Con cái của
họ sau này cũng trở thành những người dân khẩn hoang đặc biệt. Trong
những năm 1948-1953 con số người đi khẩn hoang gia tăng không ngừng. Đầu
năm 1946, con số dân khẩn hoang là 2.342.000 người. Qua tháng giêng năm 1953, lên đến
273.000 người. Tại Lituanie, dân chúng nổi lên chống chính sách lao động cưỡng
bách đă bị cơ quan công an nội chính lùng bắt vào hai ngày 22 và 23 tháng 5 năm 1948. Công
an mở chiến dịch hành quân mùa xuân, trong ṿng 48 tiếng đồng hồ, đă bắt
36.932 thanh niên và thiếu niên bỏ lên 32 đoàn xe chở đi lưu đày. Tất cả
bị kết án là các phần tử ăn cướp, những người có tư tưởng
quốc gia. Các đoàn xe chở họ đi trong suốt 4 hay 5 tuần lễ. Họ bị
đưa về các vùng cực Đông của Siberie và đặt dưới quyền kiểm
soát của các toán xung kích thuộc Bộ Công An Nội Chính. Họ phải làm việc cực
nhọc và khổ sai tại các trung tâm khai thác lâm sản. Trong một bản phúc tŕnh của
cơ quan an ninh nội chính vùng Krasnoiarsk cho biết các gia đ́nh người gốc Littuanie
được phân phối đến lao động ở tổ hợp khai thác lâm sản
Igara. Họ phải sống trong các căn nhà dột nát, cửa sổ không có kính để
chận gío lạnh. Họ không có giường , nên phải nằmh ngủ trên nền đất
với vài đống rơm. Không bàn, không ghế. V́ sống chen chúc nhau trong các gian nhà nhỏ
và v́ không có tiêu chuẩn vệ sinh cho nên đă sinh ra các bịnh truyền nhiễm, kiết
lỵ, rận chí,..Con số người chết mỗi lúc một gia tăng. Trong năm
1948 có trên 50.000 dân Lituanie lưu đày khẩn hoang đặc biệt. Con số khác 30.000 dân
lưu đày trong các trung tâm khổ sai. Theo bộ nội vụ, có đến 21.259 người
bị giết chết trong các cuộc hành quân b́nh định v́ nước Cộng Ḥa này cương
quyết chống lại chính sách cưỡng bách lao động của nhà nước Liên
Xô. Mặc dù bị nhà nước Cộng Sản áp bức, nhưng tính đến cuối
năm 1948, chỉ có 4% đất đai của vùng Baltique là vào tập thể. Đầu
năm 1949, nhà nước Cộng Sản cương quyết tập thể hóa và sát nhập
ba nước vùng Baltique bằng cách khai trừ các phần tử có tư tưởng quốc
gia của các nước này. Ngày 12 tháng giêng năm 1949 Hội Đồng Bộ Trưởng
Xô Viết ban hành đạo luật trục xuất ra khỏi lănh thổ ba nước Baltique,
tất cả gia đ́nh của các phần tử điền chủ và các người có tư
tưởng quốc gia đang sống bất hợp pháp và gia đ́nh của các người
bị giết trong cuộc hành quân b́nh định mùa xuân trước đây. Các cuộc truy
lùng diễn ra từ tháng 3 cho đến tháng 5 năm 1949 đă đưa 95.000 dân ba nước
Baltique ra vùng Siberie. Trong bản phúc tŕnh của Krouglovgởi cho Staline đề ngày 19 tháng
5 năm 1949, báo cáo rằng trong số dân lưu đày đó có đến 27.084 trẻ em dưới
16 tuổi; 1785 trẻ thơ không có gia đ́nh; 146 người tàn phế và 2850 người
ǵa gần đến ngày chết. Vào tháng 9 năm 1951 lại diễn ra các cuộc bố
ráp. Cộng Sản bắt thêm 17.000 người đưa đi Siberie. Tính từ năm 1940
đến năm 1953, đă có trên 200.000 dân vùng Baltique bị bắt đi lưu đày ở
vùng Tây Bá Lợi Á. Trong đó có 120.000 dân Lituanie, 50.000 dân Lettonie và 30.000 dân Estonie. Trong năm
1953, người ta cũng thấy có 75.000 dân ba vùng này bị giữ trong các trại tù chính
trị khổ sai, chiếm 1/ 5 trên tổng số tù trong các trại này, và bằng 1/10 con số
dân trưởng thành của ba nước này bị đưa đi lưu đày. Một
trong các dân sắc tộc bị ép vào Liên Bang Xô Viết là dân xứ Moldave. Dân này rất bướng
bĩnh, chống lại chính sách lao động tập thể của nhà nước Xô Viết. Cuối
năm 1949, chính quyền quyết định thi hành lịnh bố ráp để bắt đi
lưu đày các phần tử được coi là xa lạ với Chủ Nghĩa Xă Hội.
Cuộc hành quân do Đệ Nhất Bí Thư đảng Cộng Sản Moldave chi huy. Đó
là ông Leonid Ilitch Brejnev, sau này trở thành Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Xô Viết. Ngày
17 tháng 2 năm 1950, Kroulov gởi về Staline một bản phúc tŕnh cho biết có tắt cả
94.792 dân Moldave bị lưu đày như là dân khẩn hoang đặc biệt. Trong các cuộc
lùng bắt khác trong năm 1949, đă có 57.680 dân Hy Lạp, Armenie, Thổ Nhỉ Kỳ và các
người sinh sống quanh vùng Hắc Hải bi đưa đi lao động ở các vùng
Kazakhstand, vùng Alta. Trong ṿng 5 năm sau thế chiến thứ hai, các du kích quân vỏ trang
chống Xô Viết, mang tên là UPA và OUN đă bị bắt và bị đưa đi lưu đày
biệt xứ. Từ tháng 7 năm 1941 đến tháng 12 năm 1949 nhà nước Cộng Sản
đă 7 lần lên tiếng kêu gọi các quân du kích bỏ súng đầu hàng sẽ được
ân xá. Nhưng các lời kêu gọi này không đạt được kết qủa. Quân du kích
hoạt động ven ben giới của các nước Ba Lan và Tiệp Khắc. Quân du kích
hành quân đánh phá liên tục và khá mạnh cho nên nhà nước Cộng Sản đă phải
kư hiệp ước vào tháng 5 năm 1947 với hai nước Ba Lan và Tiệp Khắc để
phối hợp với hai quốc gia này mở các cuộc hành quân thanh toán quân du kích gốc
người Ukraine. Để có thể tiêu diệt các căn cứ du kích, chính quyền Ba Lan
đă cho toàn thể dân Ukrane di chuyển về vùng Đông Bắc Ba Lan. Nạn đói xảy
ra vào cuối năm 1947 và đàu năm 1948 đă buộc hàng chụ ngàn nông dân sống ở
vùng phía Đông Ukraine chạy qua vùng Tây Ukraine. Vùng này tương đối có ăn. Chính do
nhóm di dân v́ đói này, du kích quân đă tuyển thêm được một số quân. Ngày 30
tháng 12 năm 1949, trong bản đề nghị ân xá cuối cùng do Bộ Trưởng Nội
Vụ kư cho các toán quân nổi loạn không thuộc thành phần du kích. Họ là nông dân, các người
bỏ trốn các công xưởng, học sinh các trường công nghệ. Măi đến cuối
năm 1950, các vùng phía Tây Ukraine mới được ổn định. Sau khi cho thi hành lịnh
cưỡng bách lao động tập thể, đă có 300.000 dân Ukraine bi bắt giam và bị
lưu đày. Theo bản thống kê của Bộ Nội Vụ, từ giửa năm 1944
đến năm 1952 có tất cả 172.000 quân kháng chiến UPA và OUN cùng với gia đ́nh
của họ bị đưa đi lưu đày thuộc toán khẩn hoang đặc biệt
ở các vùng Kazakhstand và Siberie. Theo các tin tưc từ Bộ Nội Vụ, các cuộc lưu
đày dân vẫn diễn ra tiếp tục cho đến khi Staline qua đời. Từ năm
1951-1952, con số dân lưu đày định kỳ tương đối nhỏ. 11.685 người
gốc Mingrélien, và 4707 dân Ba Lan gốc Iran đang sống trong vùng Georgie, 4356 giáo dân Jehovah, 4431
dân điền chủ sống trong vùng Tây Biélorussie, 1145 điền chủ sống trong vùng
Tây Ukraine, 1415 điền chủ của vùng Pskov, 995 Tín đồ Chính Thống Giáo, 2795 gốc
Basmatchi và 591 thuộc những người vô gia cư. Những người này được
hưởng một quy chế khá đặc biệt. Họ không bị lưu đày vĩnh
viễn mà chỉ ở tù trong ṿng 10 hay 20 năm. Các văn kiện vừa mới cho nhân
dân tham khảo xác nhận rằng vào các năm đầu thập niên 50 là những năm có
con số lưu đày cao nhất từ trước đến nay. Vào đầu năm
1953, các trại Goulag giam giữ 2.750.000 phạm nhân, và được sắp xếp thành ba
loại: Độ chừng 500 khu trại lao động khẩn hoang được dựng
lên rải rác trong các khu rừng. Mỗi khu chứa chừng 1000 đến 3000 phạm nhân.
Họ thuộc vào nhóm tội nhân thường phạm. Một nửa phạm nhân này bị
kết án dưới 5 năm. Độ chừng 60 khu lớn, tổng hợp các trại
lao động, thiết lập ở vùng cực Bắc và ở về phía Đông của Liên
Bang Xô Viết. Mỗi khu quy tụ chồng vài chục ngàn tù phạm, cùng với tù chính tri
và thường bị kết án tồ 10 năm tù trở lên. 15 trại có chế độ
đặc biệt, được thiết lập theo chỉ thị mật của Bộ
Nội Vụ duyệt kư vào ngày 7 tháng 2 năm 1948. Đây là trại giam những người
tù chính trị đặc biệt. Con số tù chính trị ở các trung tâm này lên đến
200.000 người. Ngoài con số nhân nhân trên, c̣n có cả 2.750.000 dân bị đưa đi
khẩn hoang, trực thuộc ban giám đốc các trung tâm Goulag.V́ con số tù nhân và dân lao động
cưỡng bách quá lớn cho nên công việc quản lư và kiểm soát hiệu năng kinh tế
vô cùng khó khăn. Năm 1951, Tướng Krouglov, đương kiêm Bộ Trưởng Bộ
Nội Vụ đă bắt đầu lo âu v́ con số sản lượng xuống quá thấp.
Các ban kiểm soát các trung tâm tù Goulag phát giác một số sự kiện quan trọng. Khởi
đầu, quy chế của các trại thuộc quy chế đặc biệt dành cho các tù
chính trị bị bắt vào năm 1945. Đó là các thành phần quốc gia thuộc dân Ukraine
và dân vùng Baltique đă từng tham dự vào lực lượng du kích, cùng với các phần
tử xa lạ với Xă Hội Chủ Nghĩa của một số quốc gia vừa mới
bị cưỡng ép sát nhập vào Liên Bang Xô Viết, những người đă từng hợp
tác với kẻ thù của nhân dân, các người thuộc diện phản quốc, phản
động bị đày trong thập niên 30, những cán bộ đảng viên cũ,..
Các tù phạm chính trị bị kết án trên 20 năm biết rằng họ không bao giờ
được thả trước thời gian ấn định cho nên chẳng sợ mất
mát ǵ nữa cả. Họ bị giam cô lập. Như nhà văn Alexandre Soljenitsyne của Nga
đă phải ở tù 7 năm chỉ v́ ông đă cả gang chỉ trích đường lối
lănh đạo độc tài của Staline. Ông cho rằng sự hiện diện các thường
phạm bên cạnh các tù nhân chính trị đă là một trở ngại cho việc thành lập
các phong trào thống nhất của Tù Nhân. Ở các trại đặc biệt không có thường
phạm sống chung, thường xảy ra các ổ kháng cự chống lại chính quyền
Cộng Sản. Các mạng lưới kháng cự được bí mật thành lập lúc
c̣n chiến đău ở trong rừng của các người gốc Ukraine và người gốc
Baltique. Các tổ kháng cự này đă tái hoạt động và rất là mạnh. Họ từ
chối lao động, tuyệt thực, vượt ngục từng nhóm, chống đối
bạo động và thường diễn ra đồng loạt. Mặc dù người
ta chưa kiểm chứng tất cả tài liệu, nhưng cũng có vài văn thư cho thấy
vào năm 1950-1952 đă xảy ra 16 vụ nổi loạn quan trọng. Mỗi cuộc nổi
loạn có cả hàng trăm tù nhân tham dự. Các viên thanh tra của Bộ Trưởng
Nội Vụ Krouglov báo cáo hồi năm 1951 t́nh trạng suy đồi ở các trung tâm Goulag
v́ kỷ luật không được thi hành nghiêm khắc. Trong năm 1951 ban giám đóc trại
tù đă làm mất 1.000.000 ngày lao động v́ các tù nhân từ chối làm việc. Đồng
thời trong trại xảy ra nhiều cuộc va chạm giữa cán bộ quản giáo và tù
nhân. Năng xuất sản xuất suy giảm rất nhiều. Theo nhận xét của Ban quản
trại, các vụ xung đột thường xảy ra giữa các băng đảng. Một
bên chống lại lịnh lao động và bên kia là các phần tử tù nhân chịu thi hành
lịnh lao động. Các nhóm tù gia tăng thù địch và thường thanh toán nhau. T́nh h́nh
ở các trại v́ thế trở nên rối loạn. Con số chết v́ thế không phải
chỉ do bệnh tật hay đói khát mà v́ do hai bên giết nhau. Vào tháng 12 năm 1951, một
cuộc họp giữa các nhân viên quản trại đă được tổ chức tại
Mạc Tư Khoa. Trong phiên họp, họ thừa nhận là cho đến nay họ đă khéo
léo đạt được những thắng lợi do sự xung đột giữa các phe
nhóm tù nhân mà họ dần dần mất quyền quản lư. Ở một vài trung tâm, một
số băng đảng đùng ra nắm quyền điều hành trại. Để tiêu
diệt các băng đảng, họ phải thuyên chuyển một số tù phạm từ
trại này qua trại khác và thường xuyên tái tổ chức các toán phạm nhân trong các trung
tâm lao động. Con số tù phạm lao động trong các trung tâm này rất đông, từ
40.000 đến 60.000 người. Bên cạnh sự náo loạn của các băng đảng
đă làm khó khăn cho giới hữu trách, c̣n có một số vấn đề cần phải
thay đổi đó là cải tổ chế độ lao tù, cơ cấu giam cầm và quy
chế lao động sản xuất đối với tù nhân. Theo các bản phúc tŕnh củaTướng Dolguikh, chỉ huy trưởng
các khu Goulag vào đầu năm 1952 và của Đại Tá Zverev, chỉ huy vùng Norilsk nơi
có tất cả 69.000 tù nhân, người ta thấy có một số biện pháp sau đây: 1./
Cô lập các thành viên của băng đảng. Nhưng v́ các băng đảng có quá nhiều
thành viên nên chỉ có thể cô lập các thành phần chủ chốt. 2./ Giải
tán các vùng sản xuất rộng lớn v́ không đủ nhân viên quản lư tù nhân. 3./
Tổ chức các đơn vị sản xuất nhỏ để ban quản giáo dễ theo
dơi và kiểm soát. 4./ Xin gia tăng quản giáo nhưng nhà nước không thể
cung cấp đầy đủ. Hiện con số nhân sự đang thiếu 50%. 5./
Đề nghị tách rời công nhân không bị kết án ra khỏi công nhân tù bị kết
án. Nhưng v́ nhu cầu sản xuất tập trung của vùng Norilsk, ban quản trị trại
không thể có nhà đủ để hai nhóm này cư ngụ khi tách rời. Nói một
cách tổng quát, muốn có hiệu suất lao động tăng cao, th́ phải phóng thích trước
thời hạn 15.000 tù nhân với điều kiện là họ không được phép rời
khỏi nơi mà họ đang lao động. Đề nghị cuối cùng của Đại
Tá Zverev không được coi là hợp lư trong bối cảnh lúc bấy giờ. Vào đầu
tháng giêng năm 1951, Bộ Trửơng Bộ Nội Vụ Tứơng Krouglov đă xin
Béria cho phóng thích 6000 tù nhân trước thời hạn và cho phép họ trở thành công nhân tự
do, rồi chuyển họ đến làm việc ở các công trường lớn như trung
tâm thủy điện Stalingrad. Nơi đây hiện có 25.000 tù nhân đang lao động khổ
sai, nhưng không gia tăng mức sản xuất. Hiện tượng phóng thích trước
thời hạn các tù nhân có tay nghề giỏi thường xảy ra vào các năm đầu
của thập niên 50. Vấn đề kiểm soát hiệu năng kinh tế trong các trại
tù với số lượng to lơn như vậy thật là khó khăn cho ban quản trại. Với
con số 208.000 nhân viên quản trại, nhà nước không thể nào kiểm soát được
bộ máy hành chánh này. V́ thế có rất nhiều báo cáo ma về năng suất lao động
của tù nhân. Để giải quyết vấn đề này, cơ quan quản trại
có hai biện pháp để thi hành: Hoặc là khai thác triệt để con số nhân công
tù, không sợ thất thoát v́ thương vong hay bệnh yếu. Hoặc chỉ khai thác một
cách hợp lư con số công nhân tù c̣n đầy đủ sức khỏe. Cho đến cuối
năm 1948, người ta đă áp dụng giải pháp đầu. V́ thế đến cuối
thập niên 40, con số nhân công tù c̣n sống sót để lao động rất thấp. Và
v́ chiến tranh đă làm tiêu hao dân số, cho nên nhà nước buộc ḷng phải khai thác một
cách tiếc kiệm nhân công. Để khuyến khích họ gia tăng sản xuất, nhà nước
phát phần thưởng, tăng lương và tăng khẩu phằn ăn cho nhân công. Nhờ
đó mà con số tử vong của nhân công tù giảm từ 2 đến 3%. Vào cuối thập
niên 50, các cơ cấu hạ tầng cơ sở của nhà nước hoàn toàn tê liệt.
Không có ngân sách canh tân cơ sở. Hàng chục đơn vị trại tù giam giữ hàng chục
ngàn tù phạm trên một phạm vi quá rộng lớn. Các đơn vị này được
thành lập từ những năm 1930 và 1940 với mục đích là để khai thác triệt
để nguồn nhân lực của các tù nhân. Mặc dù sau đó có lịnh cải tổ
từ năm 1949 nhưng phải đến năm 1952 với biện pháp thành lạp các đơn
vị lao động nhỏ mới đạt được chỉ tiêu quy mô. Công nhân tù
nhận lương hàng tháng vài trăm Rúp. Số tiền nay rất là nhỏ, 14 hay 15 ít hơn
so với các công nhân tự do có cùng việc làm. Sự kiện này đă làm cho nhân công tù chán nản
trong lao động, cho nên năng suất không được gia tăng. Từ đó lại
nảy sinh băng đảng trong nhóm công nhân tù, gây rối loạn trong các trại lao động. Nếu
tổng kết các sự kiện trong các bản phúc tŕnh của hai năm 1951 và 1952, người
ta nhận thấy t́nh h́nh ở các trại tù Goulag trở nên bất trị. Các công tŕnh xây
dựng vĩ đại như công tŕnh thủy điện ở Stalingrad, kinh đào Turkménistan
và Volga-Don vào thời cuối của Staline đều tiến hành chậm trễ so với
kế hoạch đă dự trù. Để thực hiện đúng chỉ tiêu, nhà nước
phải chuyển một số công nhân tự do đến các đại công tŕnh này, đồng
thời phải phóng thích trước thời hạn măn tù, những tù nhân nhân công tỏ
ra siêng năng, làm việc tốt. Sau ngày Stalin qua đời, ngày 27 tháng 3 năm 1953, Beria
ra lịnh ân xá 1.200.000 tù nhân. Điều này đă nói lên sự khủng hoảng trong chính sách
lao tù Goulag.Ngoài các nguyên nhân chính trị và kinh tế, những người kế thừa
Staline phải hiểu rằng t́nh trạng bắt giữ quá nhiều tù nhân cũng là một
trong những nguyên nhân của sự khủng hoảng. Do vậy họ chấp thuận cho
thi hành biện pháp ân xá. Trong lúc các cơ quan quản lư các trại tù Goulag đ̣i giảm
tù nhân và giảm nhân viên quản giáo, th́ Staline ngày càng kiêu căng, nghi ngờ và ích kỷ. Staline
đang chuẩn bị một cuộc đại thanh trừng, một cuộc đại
khủng bố. Những ngày cuối cùng của Staline, t́nh h́nh trở nên căng thẳng.
Sự chống đối mỗi lúc một gia tăng và mâu thuẫn ngày càng trở nên
trầm trọng.
|