|
Trích lục các đạo luật của Chủ Tịch Đoàn Tối Cao Xô Viết
ngày 28 tháng 8 năm 1941 về việc lưu đày đập thể những công dân Nga gốc
Đức.]
Theo các nguồn
t́nh báo quân sự đáng tin cậy, đang có hàng chục ngàn người Nga gốc Đức
hiện đang sống dọc theo con sông Volga làm gián điệp cho Đức. Những người
này khi nhận ra dấu hiệu của Đức Quốc Xă sẽ tổ chức các cuộc
phá hoại trong các khu vực mà họ đang sinh sống. Nhưng chẳng có ai chính tức
khai báo với chính quyền Xô Viết sự hiện diện của nhóm người phá hoại
này. Điều này chứng tỏ dân Nga gốc Đức đă nuôi dưỡng kẻ thù
của nhân dân và của chính quyền Cộng Sản. Nếu quả thật có xảy ra
các vụ phá hoại và các vụ làm gián điệp, trong các vùng họ đang định cư
hay ở các vùng lân cận, th́ chính quyền Xô Viết sẽ thi hành biện pháp trừng
trị áp dụng trong thời chiến. Từ đó, máu sẽ đổ, người sẽ
chết. Để tránh t́nh trạng đổ máu xảy ra, Chủ Tịch Đoàn Tối
Cao đă ra lịnh thuyên chuyển toàn thể cộng đồng người Nga gốc Đức
đang sống dọc theo sông Volga di chuyển đến vùng khác. Nhà nước sẽ cung
cấp các phương tiện căn bản sinh sống để họ tái lập nghiệp
tại nơi định cư mới. Các vùng c̣n đất hoang như Novossibirk và Osmk thuộc
lănh thổ Altai ở Kazakhstan và các vùng phụ thuộcsẽ là nơi định cư mới
cho nhóm người này. Đă từ lâu trong lịch sử Xô Viết có nhiều tài liệu
mật nói về các cuộc lưu đày các sắc dân mà chính quyền Cộng Sản cho rằng
họ có tư tưởng và hành động sai lệch, làm gián điệp, cộng tác với
đuân Đức trong thời gian xảy ra trận chiến tranh với Đức Quốc
Xă. Măi cho đến thập niên 50, chính quyền Cộng Sản mới thừa nhận
rằng những việc làm như vậy là hơi quá đáng. Và trong thập niên 60, một
số quốc gia đă bị xoá tên v́ có hành vi hợp tác với Đức Quốc Xă, mới
được thừa nhận trở lại. Và trên lư thuyết, kể từ năm 1972,
những người bị lưu đày mới được quyền chọn nơi nào
họ muốn đến định cư. Đến năm 1989 dân Tartare sinh sống ở
bán đảo Crimeé mới được phục hồi quyền công dân của nước
họ. Vào giữa thập niên 60, vẫn c̣n nhiều điều bí mật về việc
băi bỏ các thủ tục trừng phạt các sắc dân. Nhưng cho đến năm 1964
các đạo luật băi bỏ trừng phạt này vẫn chưa được ban hành. Phải
đợi măi đến năm 1989, Hội Đồng Xô Viết Tối Cao mới nh́n nhận
tính bất hợp pháp của các đạo luật do Staline về việc lưu đày tập
thể các sắc dân. Dân Nga gốc Đức là sắc dân đầu tiên bị lưu đày
khi quân Đức Quốc Xă tấn công vào lănh thổ của Nga. Theo cuộc kiểm tra dân
số vào năm 1939, có 1.427.000 dân Nga gốc Đức bi lưu đày. Những người
này là nhóm con cháu của những người Đức bị đưa đi khai hoang dưới
thời Nữ Hoàng Nga Catherine II. Bà ta cũng là người Đức sinh trưởng ở
vùng Hesse. Năm 1924, chính quyền Cộng Sản cho thành lập Cộng Ḥa Đức tự
trị trong vùng sông Volga. Dân Đức ở vùng này chỉ khoảng chừng 370.000 người
tức là độ chừng 1/4 tổng số dân Đức sống răi rác trên khắp nước
Nga, từ Saratov, Stalingrad, Voronej, Moscou , Leningrad, Ukraine cho đến các vùng Bắc Caucase., vùng
bán đảo Crimeé,.. Vào ngày 28 tháng 8 năm 1941, Chủ Tịch Đoàn Xô Viết Tối
Cao đă quyết định đưa toàn thể dân Đức thuộc Cộng Ḥa tự
trị Volga , vùng Sartov và vùng Stalingrad đến định cư ở các vùng Kazakhstan
và Sibérie. Trong khi Hồng Quân thua trận và đang rút vào nội địa, hằng
ngày đă phải bỏ lại hàng chục ngàn binh sĩ tử thương, th́ Béria, chủ
nhiệm An Ninh Nôi Chính ra lịnh cho Tướng Serov điều động 14.000 quân nhân
vào công tác lưu đày dân Đức. Từ ngày 3 đến ngày 10 tháng 9 năm 1941 đă
có 446.800 người Đức bị đi lưu đày trên 230 đoàn xe lửa. Mỗi đoàn
xe có 50 toa. Trung b́nh mỗi đoàn tàu chở 2000 người. Các đoàn xe chạy nối tiếp
nhau, rất chậm. V́ thế phải mất tờ 4 đến 8 tuần lễ, đoàn tàu
mới đến được các vùng được chỉ định ở Osmk, Novossibirsk,
vùng Barnoul phía Nam Sibérie, vùng Krasnoiarsk Đông Sibérie. Cũng giống như các cuộc lưu
đày dân của ba nước vùng Baltique trước đây, lần này những người
bi lưu đày cũng chỉ được phép mang theo một số vật dụng và thực
phẩm đi đường trong ṿng một tháng. Bên cạnh các cuộc hành quân chính là
cho đưa đi lưu đày, Hồng quân c̣n mở ra các cuộc hành quân phụ, tùy theo
t́nh h́nh trên chiến trường. Ngày 29 tháng 8 năm 1941 các lănh tụ Xô Viết như Molotov,Malenkov
và Jdanov đề nghị với Staline cho quét sạch thành phố Léningrad và vùng phụ cận.
Trong khu vực này có 96.000 dân gốc Đức và Phần Lan. Ngày 30 tháng 8 năm 1941, quân Đức
tiến đến bờ sông Neva, cắt đứt đường hỏa xa nối liền
Léningrad và các phần c̣n lại của nước Nga. Thành phố Léningrad bị đe dọa
từng ngày. Nhà cầm quyền không đưa ra một kế hoạch di tản dân thành
phố hay dự trữ lương thực cho dân. Mặc dù t́nh h́nh căng thẳng như
vậy, vào ngày 30 tháng 8 năm 1941, Béria cũng tiếp tục ra lịnh lưu đày 132.000
người dân Đức và Phần Lan ra khỏi thành phố Léningrad. 96.000 người di
chuyển bằng xe lửa và 36.000 người theo đường biển. Trong khi đó,
sở an ninh nội chính chỉ có thể di tản 11.000 dân Nga ra khỏi Léningrad. Trong suốt
mấy tuần lễ sau đó, các cuộc hành quân truy lùng bắt dân gốc Đức cho đi
lưu đày vẫn tiếp tục diễn ra. Ngày 14 tháng 9 năm 1941, có 3162 vùng Gorgie.
Tại Mạc Tư Khoa, ngày 15 tháng 9 năm 1941 có 9640. Vùng Toula, ngoại ô Thủ Đô Mạc
Tư Khoa có 2700 người vào ngày 21 tháng 9 năm 1941. Tại vùng Rostov, từ ngày 10 đến
ngày 20 tháng 9 đă có 38.288 người. Từ ngày 15 tháng 9 đến 10 tháng 10 năm 1941,
tại vùng Zaporojie có 31.320 người. Ngày 15 tháng 9 ở vùng Krasnodaz đüa đi 38.136 người
và vùng Ordjonikidze, ngày 20 tháng 9 có 77.570 người. Trong suốt tháng 10 năm 1941 có cả 100.000
người dân Đức thuộc các vùng Georgie, Armenie, Azerbaidzan vùng Bắc Caucase và bàn đảo
Crimee. Một bản tổng kết con số dân Đức bị lưu đày được
thông báo vào ngày 25 tháng 12 năm 1941 đă lên đến 894.600 người. Nếu cộng thêm
con số dân gốc Đức đi lưu đày năm 1942, con số này lên đến 1.209.430
người. Đó là kết quả đạt được trong một thời gian không
đày một năm, kể từ tháng 8 năm 1941 đến tháng 6 năm 1942. Cũng
cần nên biết là cuộc kiểm tra dân số vào năm 1939, trên toàn cơi nước Nga có
tất cả là 1.427.00 dân gốc Đức. Như vậy có tới 82% dân gốc Đức
bị lưu đày. Đáng lư ra trong thời gian chiến tranh, thay v́ quân đội được
xử dụng vào chiến trường, nhà nước Cộng sản lại đem quân làm
công tác lưu đày dân chúng vô tội. Ngoài ra một số dân gốc Đức đan phục
vụ trong các binh chủng cũng bị rút về hậu tuyến thành lập thành các đơn
vị trừng giới để canh chừng các dân lao động khổ sai. Tại các vùng
Vorkouta, Kotlas, Kemerovo,.. có trên 25.000 dân Đức làm việc trong các tổ hợp luyện kim.
Đời sống của các nhân công này cũng cùng cực như các tù nhân trong các trại
tập trung Goulag. Có rất nhiều người biến mất trên con đường đưa
đi lưu đày. Nhưng không hề có một biên bản báo cáo nào c̣n sót lại. V́ đang
ở trong thời kỳ chiến tranh nên việc kiểm soát hành chánh không được thi
hành rơ ràng. Và trong mùa Thu 1941 đă có biết bao chuyến xe chở dân Đức đi lưu
đày không bao giờ đến điểm hẹn? Theo kế hoạch, vào tháng 11 năm
1941 sẽ có 29.600 người đến vùng Kardazanda. Nhưng than ôi! Măi đến ngày 1 tháng
1 năm 1942 chỉ có 8.304 người đến nơi. Vùng Novossibirk dự trù 130.998 người
th́ chỉ có 116.612 người. Vùng Altai dự trù 110.000 người nhưng chỉ c̣n có 94.799
người. Con số c̣n lại nằm ở đâu? Họ chết dọc đường?
Hay họ bi đưa đi nơi khác? Cơ quan An Ninh Nội Chính chỉ báo cáo đơn
giản là do tính toán sai lầm của các nhân viên hành chánh . V́ lư do phải giử bí mật
cho nên chính quyền địa phương chỉ được biết trước
vài ngày con số người tới định cư. Họ không có th́ giờ để
chuẩn bị. V́ vậy khi dân lưu đày đến nơi, không có nhà có cửa để
lưu trú. Họ phải tự t́m cách tạm trú bất cứ nơi nào họ t́m được.
Từ các chuồng ḅ, chuồng heo cho đến các kho chứa lúa. V́ con số người
đến quá đông cho nên nhiều người không c̣n chỗ để trú ẩn. Họ
phải sống ở ngoài trời lạnh buốc. Nhưng nhờ vào kinh nghiệm của
những năm 30 trong các trại tập trung Goulag, ban tổ chức của nhà nước
cũng đă thành công trong việc xử dụng các thợ chuyên môn trong đám dân lưu
đày. Trong ṿng vài tháng dân lưu đày được phân chia hạt giống để canh
tác. Họ cũng chịu cùng số phận như những người đi khai hoang, nghĩa
là cũng phải thi hành đúng các điều kiện lao động trong các hợp tác xă,
hay khẩu phần lương thực như các công nhân trong các xí nghiệp. Sau chiến
dịch chuển dân gốc Đức ra khỏi thành phố, lần lược đến
các sắc dân thiểu số khác. Từ tháng 11 năm 1943 đến tháng 6 năm 1944, các
sắc dân Tchechene, Ingouche, Tartare, Karatchais, Balkar và Kalmouk bị bắt di dân về vùng Siberie,
vùng Kazakhstan, vùng Ouzbekistan, vùng Kirghise v́ họ bị ghép vào tội đă tiếp tay quân Đức.
Đợt di dân lớn nhất khởi đi từ tháng 7 năm 1944 với tổng số
trên 900.000 người. Sau đó là các đợt di chuyển các giống dân thiểu số
khác sống quanh bán đảo Crimee và quanh vùng Caucase. Đó là người Hy Lạp, Thổn
Nhĩ Kỳ, Bảo Gia Lợi, Armenie..Các sổ sách hành chánh c̣n lưu trữ trong văn khố
không ghi rơ các chi tiết về các hành động hợp tác của các dân thiể số này
với quân Đức Đuốc Xă. Thật ra chỉ có một vài trường hợp hợp
tác lẻ tẻ xảy ra ở bán đảo Crimee, ở vùng Kalmoukie nằm trong lănh thổ
Karatchai và trong vùng Kabardino-Balkazie. Không thể coi một vài hành động hợp tác này
là chính sách hợp tác của dân thiểu số. Sau ngày quân Đức Quốc Xă chiếm
đóng Rostov nằm dọc theo sông Don và vùng Caucase kể từ tháng mùa hè năm 1942, dân của
các vùng này cũng có các hành động hợp tác với quân Đức. Thật ra điều
đó cũng chẳng lạ ǵ. Khi Hồng Quân bỏ chạy, quân Đức Quốc Xă vào,
một số nhân sĩ địa phương đứng ra thành lập các Ủy ban nhân dân.
Như ở vùng Mikhoian- Chakhar, vùng tự trị Kabardino-Kalbarie và ở Elista thuộc vùng tự
trị Kalmouk. Quân Đức thừa nhận chính quyền mới của dân bản xứ.
Chỉ trong ṿng vài tháng sau, các Ủy Ban Nhân Dân này có quyền tự trị về việc điều
hành tôn giáo, chính trị và kinh tế. Sự kiện tự trị ở vùng Caucase đă làm nứt
ḷng đạo Hồi Giáo ở Berlin, và dân Tatare ở bán đảo Crimee. Tại các nơi
này, Đức Quốc Xă cho phép họ thành lập Ban Điều Hành Trung Ưưng Hồi
Giáo và có trụ sở đặt tại Simferspol. Nhưng khi các sắc dân đ̣i tái lập
phong trào nói tiếng Thổ và tiếng Mông Cổ, nhà cầm quyền Đức không cho phép.
Cho nên dân Tatare ở Crimee không được quyền tự trị như người Kalmouk,
người Karatchais và người Balkar. Những người này được hưởng
quyền tự trị trong vài tháng. Để có thể hưởng được quyền
tự trị lâu dài, chính quyền địa phương phải quy tụ một lực
lượng quân sự để thanh lọc các phần tử thân Nga c̣n ẩn nấu trong
thôn xóm. Có 6 tiểu đoàn lính bộ binh dân Tatare và một đơn vị kỵ binh dân Kalmouk.
Từ đầu tháng 9 đến tháng 11 năm 1942, quân Đức chiếm đóng một
phần đất của Cộng Ḥa Tchechine-Ingouchie. Nơi này không có xảy ra các vụ hợp
tác. Nhưng trên thực tế trong nhiều thập niên qua, ngưới Tchechine đă âm thầm
chống lại ảnh hưởng của Nga. Họ chỉ đầu hàng người Nga
vào năm 1859 và được coi là giống dân bất phục tùng. Năm 1925, Hồng Quân
đă mở nhiều cuộc tảo thanh để tịch thu khí giới mà họ vẫn
c̣n cất giữ. Trong ba năm, 1930-1932, dân Tchechie nổi dậy chống chính sách tập
thể hóa của chính quyền Liên Xô . Hồng Quân phải nhờ pháo binh dội vào các để
dẹp các cuộc nổi loạn. Dân Tchechine luôn luôn chống lại sự bảo hộ của
Mạc Tư Khoa. Từ tháng 11 năm 1943 đến thán 5 năm 1944 đă diễn ra 5 cuộc
di dân. Nhưng chính quyền cộng sản đă học được nhiều kinh nghiệm
về các trại tù Goulag nên việc di chuyển có vẻ thành công hơn. Beria nh́n nhận là
hiệu năng khá cao. Việc tổ chức tiếp vận được nghiên cứu
cẩn thận từ nhiều tuần trước. Chính Beria và hai phụ tá của ông,
ông Ivan Serov và Bogdan Koboulov đích thân đến thám sát đoàn xe lửa chuyển người.
46 đoàn xe , mỗi đoàn 60 toa để di chuyển 93.139 người Kalmouk trong ṿng 4 ngày,
từ 27 đến 30 tháng 6 năm 1943. Tiếp theo đó, từ ngày 23 đến ngày 28 tháng
2 năm 1944, 194 đoàn tàu, mỗi đoàn 65 toa di chuyển 521.247 người Tchechine và Ingouche.
Để yễm trợ cho công tác di chuyển, cơ quan An ninh Nội Chính NKVD phải xử
dụng mọi phương tiện chuyển vận cần thiết. Và để lùng bắt
người Tchechine, nhà cầm quyền phải trưng dụng 119.000 nhân viên thuộc các toán
an ninh nội chính đặc biệt, ở vào thời điểm đang diễn ra trận
chiến với quân Đức trên đất Nga. Kế hoạch được thực
hiện theo từng chi tiết như đă thảo hoạch. Trước tiên là lùng bắt
các phần tử được coi là nguy hiểm. Con số người này chỉ chiếm
độ 1% hay 2% dân số c̣n lại lúc bấy giờ. Phần đông dân chỉ là những
đàn bà , trẻ con. Số lớn đă bị bắt ra chiến trường. Theo các báo
cáo gởi về Mạc Tư Khoa th́ các cuộc hành quân lùng bắt diễn ra rất nhanh. Như
vụ bố ráp bắt người Tatare ở vùng Crimee chỉ diễn ra trong ba ngày, từ
18 đến 20 tháng 5 năm 1944. Hai phụ tá Serov và Loboulov gởi báo cáo về cho Beria : '' Ngày
hôm nay, vào lúc 20 giờ, chúng tôi bắt và cho di chuyển 90.000 người như đă dự
tính. Đă có 17 đoàn xe chở 48.400 người đi và số c̣n lại đang lùa lên
25 đoàn xe khác. Các cuộc tảo thanh không hề gặp sự chống đối nào. Hiện
cuộc hành quân đang c̣n tiếp diễn. Đă có 165.515 người đang tập hợp
ở sân ga và 136.412 người lên các đoàn xe vận tải đang tiến về các khu
định cư như đă được chỉ định trước. Qua đến
ngày thứ ba, Serov và Kaboulov gởi tiếp điện văn về cho Berie và báo cáo: '' chiến
dịch di chuyển dân kết thúc vào lúc 16 giở 30. Tổng số có 63 đoàn tàu xe lửa
chở 173.287 người đang trên đường đến nơi chỉ định.
4 đoàn xe vận tải chở 6.727 người sẽ khởi hành chiều nay..'' . Trong
mỗi bản phúc tŕnh, ngời ta đọc thấy các nhân viên An Ninh Nội Chính luôn luôn ca
tụng thành quả của họ là thành công hơn, năng suất cao hơn, tiết kiệm
nhiều hưn,..so với các lần chuyển vận trước. Ông Milstein, một nhân
viên An Ninh báo cáo :'' Các kinh nghiệm học được trong các chuyến lưu đày người
Karatchais và người Kalmouk đă giúp chúng ta giảm được con số toa xe lửa.
Thay v́ mỗi toa trước kia chở 40 người, nay có thể chở 45 người. Dưới
con mắt của cơ quan An Ninh th́ các cuộc di dân diễn ra rất thành công. Nhưng trên
thực tế t́nh trạng của dân lưu đày trên các toa xe kinh hoàng như thế nào? Sau
đây là lời khai của một vài người dân Tatare c̣n sống sót vào cuối thập
niên 70: ' Phải mất 24 ngày, xe lửa mới chở dân lưu đày đến nhà ga Zeraboulak
trong vùng Samarkand. Từ đó, người ta đüa chúng tôi về nông trường tập thể
Pravda. Họ bắt chúng tôi phải sửa chửa các xe ngựa hư cũ lâu đời.
Chúng tôi làm việc rất nặng và luôn luôn thiếu ăn. Nhiều người của chúng
tôi lâu ngày kiệt sức. Họ đi đứng không được. Có 30 gia đ́nh trong
làng tôi bị đüa đến đây. Một số gia đ́nh bây giờ chỉ c̣n sống
một hay hai người. Những người khác chết v́ đói hay đau bịnh..'' Một
người khác kể lại: '' Trên các toa xe đóng kín, người ta chết v́
đói và v́ thiếu không khí để thở. Người ta lăn ra chết như con ruồi
v́ thiếu nước uống. Khi xe di chuyển qua các thôn làng, dân chúng chạy ra chửi bới
chúng tôi. Họ gọi chúng tôi là những bọn phản quốc. Họ ném đá vào các toa xe,
làm cho chúng tôi đâu đầu. Khi xe chúng tôi đến các cánh đồng cỏ ở Kazakhstan,
họ mở cửa các toa xe và cho chúng tôi ăn các khẩu phần của quân đội nhưng
không cho chúng tôi nước uống. Họ ra lịnh cho chúng tôi ném các xác người chết
xuống lề đường, rồi cho xe chạy tiếp. Họ không cho chúng tôi chôn cất
những người chết này..'' Khi đến các vùng Kazakhstan, Kirghizie, Oubekistan, Siberie,
dân lưu đày được phân chia vào các trung tâm lao động tập thể, các xí nghiệp.
Các chi tiết về lao động, nhà cửa, ăn uống của dân lưu đày c̣n lưu
lại trong các văn khố về việc '' di dân đặc biệt '' của các Goulag. Tháng
9 năm 1944, từ vùng Kirghizie cơ quan An Ninh gởi về trung ương một bản
báo cáo cho biết trong số 31.000 gia đ́nh lưu đày chỉ có 5.000 gia đ́nh có được
chỗ ở. Tại vùng Kameniski, chính quyền địa phương bắt ép 800 gia đ́nh
vào ở trong 18 căn nhà. Tính ra 50 gia đ́nh phải sống lúc nhúc trong 1 căn nhà. Họ
không nói kích thước của căn nhà. Ở nơi khác, như tại vùng Caucase, v́ không
đủ chỗ, trẻ em phải thay phiên nhau, một toán ngủ trong nhà và toán kia ngủ
ngoài trời giữa mùa Đông gía lạnh. Tháng 11 năm 1944, một năm sau chiến
dịch lưu đày dân Kalmouk, ông Beria gởi một văn thư đến Mikoian, thừa
nhận: '' Các người Kalmouk sống trong điều kiện vệ sinh thiếu thốn
và sự sinh sống cũng vô cùng khó khăn. Họ không có quần áo, giày dép..'' Hai năm
sau, một bản phúc tŕnh khác ghi nhận chỉ c̣n có 30% dân Kalmouk c̣n có thể lao động
được. Nhưng họ không thể đi làm việc v́ thiếu giày dép. V́ không thích nghi
được với khí hậu khắc nghiệt, thiếu ăn, không nói và hiểu tiếng
địa phương, cho nên lưu dân Kalmouk sống trong đau khổ. V́ xa nhà, v́ đói
kém, v́ bệnh tật, v́ không được huấn nghệ.. những người Kalmouk được
coi như là những công nhân hạng tồi. T́nh trạng dân lưu đày Kalmouk ở Siberie
quá thê thảm. Đó là lời nhận xét của ông D.P. Piourveriev, cựu lănh tụ Cộng
Ḥa Kalmoukie gởi về cho Staline. Họ đến đây chẳng mang theo dụng cụ để
sinh sống nào cả. Họ là người gốc dân du mục. Họ không thể thích nghi
với lối sống tập thể để trở thành người sản xuất, trở
thành con người máy móc. Số lợi tức mà họ nhận được qua sức
lao động không đủ để trả bù số tiền phạt v́ họ làm hư
máy móc. Chúng tôi đưa ra một vài con số tử vong của lưu dân để thấy
được t́nh cảnh của họ. Tháng 5 năm 1946, một cuộc kiểm tra
dân Kalmouk trong vùng. Chỉ c̣n có 70.360 so với ngày mới đến cách đây hai năm là 92.000
người. Cuộc kiểm tra ngày 1 tháng 7 năm 1944 có 35.750 gia đ́nh người Tatare
với tổng số 151.424 dân đến sống trong vùng Ouzbékistan. Rồi sáu tháng sau có 818
gia đ́ng với tổng số 16.000 người đến cư trú. Trong vùng Caucase, dân
số lưu đày là 608.749. Tính đến ngày 1 tháng 10 năm 1948 có 146.892 nười
chết. Như vậy tính ra cứ 4 người th́ có một người chết. Trong khoảng
thời gian này sinh ra thêm 28.120 trẻ em. Tại vùng Crimee, dân số ban đầu là 228.392
người. Sau 4 năm có 44.887 người chết và có thêm 6564 em bé ra đời. Số
tử vong của trẻ em dưới 16 tuổi rất cao, chiếm 40% - 50%. Nhưng có tương
lai nào cho các em bé c̣n sống sót không? Bốn năm sau, tức là vào năm 1948, chỉ có 12.000
trong số 89.000 trẻ em mới được đi học. Trường học chỉ
dạy tiếng Nga, đó là thứ tiếng rất xa lạ đối với dân du mục
Kalmouk. Các cuộc lưu đày vẫn cứ tiếp tục diễn ra trong khi chiến
tranh đang mở rộng trên đất nước họ. Ngay sau khi kết thúc chiến
dịch lưu đày dân Tatare ở bán đảo Crimee, ngày 29 tháng 5 năm 1944, Beria gởi
một điện văn cho Staline, ông nói rằng Cơ quan An Ninh Nội Chính NKVD phải trục
xuất dân Bảo Gia Lợi [ Bulgare], Hy Lạp và Armenie ra khỏi Crimee. Người Bảo
Gia Lợi đă cung cấp bánh ḿ cho quân Đức Quốc Xă. Và họ cũng hợp tác với
quân Đức truy lùng các toán Hồng Quân và du kích Nga đang hoạt động trong vùng..Người
Hy Lạp th́ làm ăn, buôn bán hàng hóa với người Đức. Người Armanie sống
trong vùng Simferopol th́ hợp tác với Đức do Tướng Dro, một người Armenie
lănh đạo. Tướng Dro cho thành lập các cơ sở lo về Tôn giáo, chính trị và
thương mại. Theo Beria, tổ chức của Tướng Dro cũng cung cấp tiền
bạc cho quân Đức và cũng thành lập một đạo quân người Armenie hợp
tác với quân Đức. Bốn ngày sau đó, ngày 2 tháng 6 năm 1944, Staline kư một nghị
quyết của Ủy ban quốc pḥng ra lịnh trục xuất 37.000 dân Tatare, Bảo Gia Lợi,
Hy Lạp và Armenie ra khỏi bán đảo Crimee. Và cũng như các cuộc chuyển dân của
mấy lần trước, các toán người lưu đày được phân phối riêng
rẽ về các vùng hẻo lánh. T́nh Gouriev của Kazakstan nhận 7000 người; T́nh Sverdlov
nhận 10.000; tỉnh Molotov trong vùng Oural 10.000; tỉnh Kemerovo 6000 và tỉnh Bachkirie
4000 người. Ngày 27 và 28 tháng 6 năm 1944, một toán 41.854 người rời khỏi
Crimee. Cho đến nay con số di dân đă đạt được 11% theo kế hoạch
dự trù. Sau chiến dịch lùng bắt và lưu đày ở đảo Crimee, nhà nước
Cộng sản mở chiến dịch lưu đày dân ở vùng biên giới lănh thổ Georgie.
Các cuộc hành quân tảo thanh được thực hiện có kế hoạch với chủ
đề là chống lại các tổ chức gián điệp như Cộng sản đă
làm vào những năm 1937-1938. Ngày 21 tháng 7 năm 1944, một nghị quyết của Ủy
ban quốc pḥng do Staline kư, đă ra lịnh cho lưu đày 86.000 người gốc Thổ
Nhĩ Kỳ thuộc bộ lạc Meskhète, các người Kurde và các người thuộc
sắc dân Khemchine đang sinh sống ở vùng biên giới Georgie. Nếu xét về địa
h́nh, vùng này có nhiều núi non hiểm trở, là nơi định cư của các dân du mục
thuộc Đế Quốc Ottomane từ trước năm 1918. Dân vùng này thường
di chuyển qua lại dọc theo biên giới của Xô Viết và Thổ Nhĩ Kỳ. Các cuộc
hành quân lùng bắt các sắc dân này v́ thế cần có nhiều th́ giờ so vơi các nơi
khác. Nó kéo đài từ ngày 15 đến đến ngày 25 tháng 9 năm 1944. Nhà nước
huy động 14.000 nhân viên an ninh và trưng dụng 900 xe vận tại hiệu Studebaker
do Mỹ chế tạo để người Nga mượn với mục đích là giúp chiến
cụ cho đồng minh trong cuộc chiến chống quân Đức Quốc Xă. Ngày 28
tháng 11 năm 1944, Beria gởi cho Staline một bản phúc tŕnh và bày tỏ hài ḷng về
công tác lưu đày 91.095 người hoàn tất trong ṿng 10 ngày trong điều kiện vô cùng
khó khăn. Trong số này, trẻ em dưới 16 tuồi chiếm 49%. Beria gọi họ là
những điệp viên người Thổ Nhĩ Kỳ. Bởi v́ số đông họ sống
ở gần biên giới và có liên hệ thân nhân trong nước Thổ. Họ thường
đi buôn bán qua các vùng dọc theo biên giới, tổ chức chuyển người Nga qua Thổ
và cung cấp tin tức về t́nh h́nh nước Nga cho chính quyền Thổ. Con số di dân
đến vùng Kazakhstan và Kirghizie lên đến 94.955 người. Từ tháng 11 năm 1944
đến tháng 7 năm 1948 có 19.540 người Thổ gốc Meskhete, Kurde và Khemchine chết
trong lúc lưu đày, tỉ lệ 21%. Với chính sách lưu đày dân thiểu số, con
số người đi khẫn hoang v́ thế tăng lên rất cao. Từ 1.200.000 người
lên đến 2.500.000 người. Đối với các điền chủ, con số bị
bắt lưu đày trước chiến tranh là 936.000 người đến tháng 5 năm
1945 chỉ c̣n lại 622.000 người. Đối với những gia đ́nh có con ra mặt
trận, nhà nước coi họ như là những công dân tự do, có nghĩa là không có tên trong
danh sách đi khẫn hoang. Nhưng v́ đang ở trong thời chiến cho nên họ cũng
không được phép rời khỏi nơi họ đang sống. Cuộc sống của
dân lưu đày lâm vào t́nh trạng khốn khổ nhất từ trước đến nay
là ở vào những năm 1941-1942. Thiếu ăn, bịnh truyền nhiễm, thiếu vệ
sinh, lao động quá mức là những ǵ những người tù lao động, gọi tắt
là ZEK, phải chịu đựng hằng ngày. Ngoài ra, họ c̣n bị các tên điềm chỉ
báo cáo gian để lấy điểm. Người nào bị chỉ điểm, là người
đó sẽ bị tử h́nh. V́ sợ tù nhân và công nhân khẫn hoang rơi vào tay quân Đức,
cho nên nhà nước Cộng Sản phải liên tục chuyển các trại về phía sau trước
khi quân Đức tràn vào. Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1941 có 210 trung tâm khẫn hoang,
135 khám đường và 27 trại lao động cưỡng bách với tổng số
700.000 người phải di chuyển về hướng Đông. Để ca tụng chính
sách lao động khổ sai trong thời gian xảy ra cuộc chiến, lănh tụ Bônsêvich,
ông Nassedkine đă viết: '' Nói một cách chung chung, các cuộc di chuyển trại
đă thực hiện rất tốt.. V́ thiếu phương tiện, cho nên các tội phạm
phải đi bộ trên các lộ tŕnh dài cả ngàn cây số..'' Làm sao tưởng tượng
nổi sự thống khổ của những người tù lao động này. Trong những
tuần lễ đàu của cuộc chiến, v́ không đủ th́ giờ để di chuyển,
chính quyền đem họ ra xử bắn. Đó là trường hợp xảy ra ở vùng
Tây Ukraine vào cuối tháng 6 năm 1941. Tại Lviv, Cơ quan An Ninh đă giết 10.000 người
; tại Loutsch 1200 người, tại Stanyslaviv 1500 người và tại Doubno, 500 người.. Khi
tiến chiếm thành phố Lviv, vùng Jitomir và Vinnitsa, quân Đức t́m thấy rất
nhiều hầm chôn tập thể. Quân Đức dưới quyền chỉ huy của Sonderkom
cho rằng thủ phạm của những hầm chôn này là người Do Thái gốc Nga, cho
nên quân Đức Quốc Xă ra tay tàn sát những người Nga gốc Do Thái đang sống
trong vùng này. Trong thời gian chiến tranh, những người tù không c̣n chỗ để
nhốt. Họ bị nhốt trong các pḥng chật chội từ 1,5 mét vuông cho mỗi người,
giảm c̣n 0,7 mét vuông. Họ phải thay phiên nhau kẻ ngủ người thức. Chỉ
có những người có công tác lao động nặng mới có giường riêng để
ngủ. Năng lượng cho mỗi khẩu phần ăn giảm 65% calorie mỗi ngày
so với tiêu chuẩn trước khi xảy ra chiến tranh. Riêng bịnh dịch tả đă
làm cho 19.000 người chết trong năm 1941. Tổng số người chết là 109.000
chiếm 8% trong năm 1941. Qua năm 1942, con số người chết lên đến 18% tức
là 249.000 người và trong năm 1943 con số người chết là 167.000 , tỉ lệ
17%. Ngoài ra con số người chết v́ bị hành quyết trong các khám đường hay
trong các trại lao động khổ sai trong năm 1941 đến 1943 lên đến 600.000
người. Nếu không chết th́ số phận của người c̣n sống cũng
chẳng hơn ǵ người chết. Họ sống trong đau khổ và bị hành hạ,
coi thường. Theo thống kê của các nhân viên quản trại, trong năm 1941 chỉ c̣n
có 19% người đủ sức làm các công việc nặng; 17% làm các công việc b́nh thường
và con số c̣n lại 63% được coi như tàn phế, không c̣n đủ sức
để làm việc. Sau đây là bản phúc tŕnh
của viên vụ tá Ban Hành Động của trại lao động cưỡng bách Siblag
viết ngày 2 tháng 11 năm 1941:
'' Theo
tin nhận được của Ban Hành Động thuộc cơ quan An Ninh Nội Chính vùng
Novossibirsk, th́ con số tử vong gia tăng ở các vùng Akhloursk, Kouznetsk và vùng Nossibirk Siblag. Lao
động quá nặng, thời gian làm việc trong ngày quá dài, không được cung cấp
lương thực, thiếu ăn, chăm sóc y tế quá tồi tệ là các nguyên nhân đă
làm gia tăng người bịnh và từ đó gia tăng con số người chết.
Chứng suy tim cũng là một trong những nguyên nhân. Nhiều người chết chỉ
c̣n da bọc xương, óm yếu gầy ṃn. Người khác chết v́ bịnh truyền
nhiễm do sự thuyên chuyển các công nhân mang bịnh, từ trung tâm phân phối chuyển
qua các trại lao động khổ sai. Ngày 8 tháng 11 năm 1941, từ trung tâm phân phối
Novossibirsk thuộc vùng Marinski có 539 phạm nhân gầy óm và trong người đầy chí rận
cùng với 6 người chết chuyển về các trại lao động. Đêm 8 rạng
ngày 9 tháng 11 có thêm 5 người trong toán này chết. Một số phạm nhân chuyển về
trại khác th́ người nào cũng đày chí rận và không một ai có quần áo lót trong
người. Sau này người ta phát hiện các nhân viên y tế, hay các tù nhân được
phái vào công tác y tế đă t́m cách phá hoại. Một nhân viên y tế của trại Ahjer thuộc
vùng Taiginski đă bị kết án theo sắc luật 58-10 v́ tội đă cùng với 4 người
khác phá hoại công tác sản xuất của trại. Họ đă đưa các tù nhân đau
yếu vào các khâu lao động quá nặng và không chịu săn sóc bịnh nhân đúng
lúc, với mục đích là làm giảm chỉ tiêu sản xuất.
Phụ tá Ban Hành Động của trại lao động cưỡng bách,
Đại Uư lực lượng an ninh, Kogenman.
''
Các bản báo cáo của nhân viên quản lư các trại về t́nh trạng suy yếu
của các tù nhân để giảm thiểu công tác lao động, đă không làm giao động
các cơ quan chịu trách nhiệm sản xuất. Các cơ quan này vẫn tiếp tục ra
lịnh cho các tù nhân bịnh yếu làm việc cho đến khi kiệt sức. Từ năm
1941 đến năm 1944, gía trị sản phẩm do sức lao động sản xuất
gia tăng từ 9 đồng Rúp lên đến 21 đồng Rúp. Đó là gia trị trung b́nh
một ngày lao động của tù nhân. Một số vài trăm ngàn tù nhân đă làm việc
trong các nhà máy sản xuất vũ khí thay cho các công nhân bị động viên ra chiến trường.
Nhờ thế mà vai tṛ của các cam phạm trại lao động khổ sai này trở
nên quan trọng. Theo ước lượng của các quản lư trại, tù nhân đă đóng
góp một phần tư tổng số vũ khí, kim loại và sản phẩm hầm mỏ
trên toàn quốc. Mặc dù các tù cải tạo lao động có nhiều hành động tốt,
và hơn 95% tù lao động tham gia tích cực vào công tác thi đua lao động Xă hội
chủ nghĩa, nhưng các biện pháp đàn áp v́ lư do chính trị đối với tù nhân
cũng không được gia giảm. Áp dụng điều luật 58 về việc trừng
phạt các tù nhân chính trị do Trung Ương ban hành, cho dù tù nhân đă măn hạn, họ vẫn
c̣n bị giữ lại cho đến khi hết chiến tranh. Các quản lư trại nhốt
biệt giam các tù nhân chính trị có liên quan đến các tổ chức của Trotski, các tổ
chức thiên hữu, các toán gián điệp, khủng bố hay phản cách mạng. Rồi
họ bị đưa về các vùng có khí hậu quá khắc khe như vùng Kolyma gần Bắc
Băng Dương. Con số người chết hằng năm v́ thế tăng lên 30%. Ngày
22 tháng 4 nhà nước ra lịnh cho thiết lập trại lao động khổ sai cưỡng
bách gia tăng. Trại này c̣n có tên là trại tử thần. Bất kỳ tù nhân nào bị chuyển
về trại này đều không có hy vọng sống sót. Tù nhân bị bắt buộc làm việc
12 tiếng đồng hồ trong một ngày trong các mỏ kim loại như mỏ vàng, mỏ
ch́, mỏ radium, mỏ than đá nằm trong vùng Kolyma và Vorkouta. Trong ṿng 3 năm, từ tháng
7 năm 1941 đến tháng 7 năm 1944, các toán đặc biệt đă gia tăng án phạm
nhân lên đến 148.000 người. Trong số này có tới 10.858 tù nhân bị hành quyết,
gồm có 208 người bị kết tội làm gián điệp, 4307 tội phá rối, 6016
tội âm mưu nổi loạn. Theo tin của Anh Ninh Nội Chính, có 603 tổ chức phản
động của tù phạm bị phát hiện và phá vỡ. Điều này chứng tỏ
công tác tốt của cơ quan an ninh. Nhờ đó, các toán an ninh này được gởi
đi làm công tác khác như đi lùng bắt và lưu đày các tôi phạm. Trong suốt thời
gian chiến tranh có rất nhiều vụ trốn trại và nổi loạn xảy ra trong
các trung tâm lao động cưỡng bách. Và cũng có nhiều sự thay đổi đáng
kể. Sau khi thi hành điều luật kư ngày 2 tháng 7 năm 1941, đă có 577.000 các tù nhân có tội
nhẹ như ăn cắp vặt, trốn làm việc,.. đă được phóng thích và được
bổ xung vào các đơn vị Hồng Quân. Trong suốt thời kỳ chến tranh, đă
có 1.068.000 tù nhân của các trại lao động cưỡng bách được ân xá qua được
thu nhận vào quân đội, đưa ra chiến trường. Từ đó tù nhân trong
các trại lao động khổ sai, trong các trung tâm khẫn hoang thưa dần. Chỉ c̣n
lại các tù nhân ĺ lợm và trọng phạm. Tỉ lệ các tù phạm do sắc luật
58, bị kết án trên 8 năm tù đă giảm từ 27% đến 43%. Lúc đầu khi chiến
tranh bùng nổ, con số tù gia tăng. Vào những năm 1944-1945, sau một thời gian tạm
giảm xuống, c̣n số tù tại các trại lao động cưỡng bách bỗng nhiên
gia tăng rất nhiều, trên 45% ở vào tháng giêm 1945 dến đầu năm 1946. Trước
năm 1945, người ta chỉ biết mặt trái '' mạ vàng'' của cái mề đay
Liên Bang Xô Viết. Cái vẻ vang thắng trận chỉ là sự che đăy sự tàn phá
trong nước. Người ta không biết hoặc không muốn biết mặt trái của
một sự thật được che giấu rất kỹ. Theo các tài liệu c̣n lưu
lại cho ngơời ta thấy chính năm chiến thắng của Liên Xô cũng là năm
truy lùng và bắt giam người cao độ nhất. Tuy có hoà b́nh với thế giới
bên ngoài nhưng bên trong nước không gia giảm khủng bố, bắt bớ. Chính trong
thời chiến đă làm gia giảm các cuộc kiểm soát lùng bắt. Cho nên trong năm 1945
khi chiến tranh chấm dứt, nhà nước mở lại các cuộc kiểm soát để
sát nhập vào Liên Bang Xô Viết những vùng đất, những sắc dân trước đây
vẫn c̣n sống ngoài ṿng pháp luật của Liên Xô. Những vùng đất một thời
thoát khỏi vùng kiểm soát của Liên Xô là các vùng đă bị sát nhập vào những năm
1939-1940. Như ba nước vùng Baltique, Vùng phía Tây Bielorussie, vùng Moldavie, vùng Tây Ukraine. Các vùng
này một lần nữa bị sát nhập vào Liên Bang. Những cuộc chống đối
chính sách Liên- Xô- hoá do các lực lượng quốc gia của các dân tộc tổ chức
đă nổi lên và bị đàn áp thẳng tay. Ở vùng Tây Ukrine và tại ba nước Baltique,
phong trào kháng chiến chống thuộc địa Nga nổi lên rất mạnh. Cuộc
chiếm đóng đầu tiên xảy ra vào tháng 9 năm 1939 đến tháng 6 năm 1941. Hồng
quân cho tổ chức một lực lượng quân đội ch́m lấy tên là OUN : Tổ
chức các sắc dân Ukraine. Trong thời kỳ chiến tranh, nhiều thành viên của lực
lượng này đă gia nhập vào quân Đức Quốc Xă, chiến đău chống lại
Cộng Sản Nga và chống lại người Do Thái. Vào tháng 7 năm 1944, khi Hồng Quân
tái chiếm, tổ chức OUN trở thành Hội Đồng Tối Cao Giải Phóng nước
Ukraine, lănh tụ là ông Roman Choukhovitch. Ông ta đă từng là viên chỉ huy của lực lượng
kháng chiến ngưới Ukraine UPA, với một số quân trên 20.000 người trong
năm 1944. Vào ngày 31 tháng 3 năm 1944, Béria ra lịnh lùng bắt cho lưu đày đất
cả thân nhân của các quân kháng chiến thuộc hai tổ chức OUN và UPA. Đă có 100.300
thường dân bị bắt lưu đày, mà đa số là đàn bà, người ǵa và trẻ
em, trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 10 năm 1944. Đồng thời
cũng có 37.000 kháng chiến quân bị bắt và bị đưa đi lao động khổ
sai. Sau khi Giáo Chủ Chteheptitski của giáo hội Uniate của Ukraine qua đời, chính
quyền Xô Viết bắt giáo hội này phải gia nhập vào Giáo Hội Cơ Đốc
Chính Thống. Để phá huỷ các lực lượng chống lại chính sách Liên-Xô-hóa,
các nhân viên An Ninh Nội Chính đích thân đến các trường học trong các vùng phía Tây
Ukraine là vùng trước kia thuộc Ba Lan có khuynh hướng tư bản, điều tra
danh sách học sinh và các sổ học bạ. Các học sinh giỏi đều bị bắt
giam v́ nhà cầm quyền Cộng Sản cho rằng chính các em học giỏi sẽ có
khả năng chống đối chính sách của nhà nước. Theo bản phúc tŕnh của
viên phụ tá Beria là ông Koboulov, th́ từ tháng 9 năm 1944 đến tháng 3 năm 1945 cơ quan
an ninh nội chính đă bắt trên 100.000 người v́ tội đă hợp tác với quân
Đức trong vùng phía Tây Bielorussie, được coi là vùng có nhiều phần tử chống
chính quyền Xô Viết. Trong khoảng thời gian từ 1 tháng giêng đến 15 tháng 3 năm
1945, nhà nước mở 2257 chiến dịch lùng bắt trên lănh thổ Lituanie. 6000 người
bị hành quyết và 75.000 khác bị bắt. Trong năm 1945 có 38.000 thân nhân các người
chống đối nhà nước bị trục xuất ra khỏi Lituanie. Chính v́ vậy mà
con số tù lao động khổ sai trong các trại tập trung gia tăng trong năm
1945. Tăng từ 140% đến 420%. Nhưng qua năm 1946, con số này lại hạ xuống
một ít. Người gốc Ukrine giảm 23%, người gốc ba nước vùng Baltique
giảm 6% so với các sắc dân khác trong Liên Bang Xô Viết. Một số tù nằm trong
các trại thuộc các vùng do Hồng Quân giải phóng được đưa về các trại
lao động khổ sai Goulag đă có từ năm 1941 cũng đă giải thích một phần
nào con số tù gia tăng vào năm 1945. Các tù nhân này phần đông là các cựu tù binh bị
t́nh nghi là làm tay sai cho quân Đức Quốc Xă trong thời chiến. Các trại này cũng
tiếp nhận các thanh niên đến tuổi động viên đang sống trong các vùng Đức
chiếm đóng. Nhà cầm quyền nghi ngờ các thành phần này đă tiêm nhiễm tư
tưởng chống chính quyền Cộng Sản. Theo sổ sách chính thức, từ tháng giêng
năm 1942 đến tháng 10 năm 1944 có tất cả 421.000 người bị bắt đưa
vào trại thanh lọc. Khi tiến quân tái chiếm các vùng đất bị quân Đức
Quốc Xă chiếm như vùng ba quốc gia ở eo biển Baltique, lănh thổ Bulgarie [ Gia Bảo
Lợi] và Romaie [Lỗ Ma Ni], Chính quyền Cộng Sản đă giải thoát hằng triệu
quân Nga và các người lao công lưu đày. Công việc tổ chức hồi hương
và làm thủ tục giải ngũ cho một số đông thường dân và quân lính đă
tạo nên nhiều khó khăn cho nhà nước. Tháng 10 năm 1944, nhà nước Cộng
Sản thành lập một Tổng Nha chuyên trách công tác hồi hương dưới quyền
chỉ huy của Tướng Golikov. Ngày 11 tháng 11, Tướng Golikov họp báo và tuyên bố
: '' Chính quyền Xô Viết rất lo âu về số phận của dân chúng chẳng may bị
sống dưới ách nô lệ của Đức Quốc Xă. Họ đă được giải
phóng và nay trở về trong ṿng tay đón nhận của Tổ Quốc... Nhà nước đánh
gía rằng những người này v́ bị sức ép của quân Đức cho nên đă phải
làm những điều chống lại chính quyền Xô Viết. Họ sẽ không chịu
trách nhiệm những ǵ họ đă làm, nếu họ thật sự sẵn sàng thi hành bổn
phận công dân khi họ trở về trong ḷng Tổ Quốc.'' Lời tuyên bố của
Tướng Golikov đă được phổ biến rộng răi và đă đánh lừa được
Đồng Minh. Các nước Đồng Minh thi hành đúng các điều khoản của
hội nghị Yalta và đă giúp Nga một cách nhiệt t́nh trong công tác hồi hương các
công dân Xô Viết hiện đang sống ngoài Liên Bang. Theo thỏa ước Yalta, những
người dân Xô Viết đă từng đầu quân và đang phục vụ trong quân đội
Đức Quốc Xă và những người đă từng hợp tác với Đức đều
bị cưỡng bách hồi hương. Dân chúng sống ngoài lănh thổ Liên Bang cũng được
chuyển về giao cho nhân viên An Ninh Nội Chính quản lư. Ba ngày sau khi kết thúc trận
chiến, ngày 11 tháng 5 năm 1945, chính quyền Xô Viết ra lịnh thiết lập một
trăm trại kiểm soát và thanh lọc. Mỗi trại có thể chứa 10.000 người.
Tất cả tù binh chiến tranh đều phải qua sự kiểm soát của cơ
quan SMERCH, một tổ chức đặc trách phản gián. C̣n thường dân th́ do cơ
quan An Ninh Nội Chính thanh lọc. Trong ṿng chín tháng, từ tháng 5 năm 1945 cho đến
tháng hai năm 1946, có đến 4.200.000 dân và lính được chuyển về nước.
Trong đó có 1.545.000 tù binh chiến tranh c̣n sống sót trong số 5.000.000 quân bị Đức
bắt; 2.655.000 thường dân bị bắt lưu đày cộng thêm với con số thường
dân bỏ trốn trong thời chiến tranh. Sau một thời gian kiểm tra và thanh
lọc, nhà nước cho trẻ em và phụ nữ trở về quê quán. Con số này chiếm
57%. Một số quân nhân , 19% trở lại quân đội và cho đi trừng giới. 14%
được bổ xung vào các đơn vị tái lập. Và c̣n lại 8% , lối chừng
360.000 người, bị chuyển vào các trại lao động khổ sai. Phần lớn
số này bị ghép vào tội phản quốc và tuỳ theo nặng hay nhẹ, sẽ phải
bị tù từ 10 năm đến 20 năm và bị đưa đi lao động khổ
sai tại các trung tâm Goulag, đặt dưới quyền quản lư của An Ninh Nội
Chính. Nhóm quân nhân , mệnh danh là nhóm Vlassovtsy là những quân nhân đă theo Tướng Andrei
Vlassov chỉ huy quân đoàn II, đă bị quân Đức bắt làm tu binh vào tháng 7 năm 1942.
Chính nhóm này có ư chống lại Staline và đă chấp nhận hợp tác với Đức
để giải phóng Liên Bang Xô Viết. Tướng Vlassov đă thành lập Ủy Ban Quốc
Gia Nga và kêu gọi một số quân nhân thành lập hai sư đoàn quân giải phóng Nga. Sau
khi chiến tranh kết thúc, các nước Đồng Minh đă giao trả Tướng Vlassov
và các sĩ quan cho Hồng Quân. Tất cả đều bị hành quyết. Quân lính của
ông th́ được hưởng luật ân xá được ban hành tháng 11 năm 1945. Họ
bị đưa đi lưu đày trong 6 năm về các trại lao động ở vùng
Siberi, vùng Kazakhstan và các vùng cực Bắc. Vào đầu năm 1946 đă có danh sách 148.079
người thuộc nhóm Vlassovtsy được Nha Quản Lư chuyển qua nơi khác để
đi khẩn hoang, trực thuộc Bộ Nội Vụ. Cả ngàn hạ sĩ quan bị
ghép vào tội phản quốc b́ đày vào các trại lao động cưỡng bách chung thân. Trong
năm chiến thắng này, tổng số các trại di dân đặc biệt, các trung tâm lao
động cưỡng bách khổ sai , các trung tâm khẩn hoang đặc biệt, các trại
kiểm soát và thanh lọc, các khám đường trên lănh thổ Liên Bang Xô Viết đă
đạt đến con số kỷ lục. Con số tù lên đến 5 triệu người.
Thành tích con số tù vĩ đại này đă bị che mờ bởi các cuộc liên hoan mừng
chiến thắng được nhà nước Cộng Sản tổ chức liên tục trên
toàn lănh thổ Xô Viết. Chính vào lúc này, hơn lúc nào hết, Liên Xô đă mê hoặc hàng
triệu dân nước khác. Liên Bang Xô Viết đă trả một gía quá cao về con số
người chết cho cuộc chiến thắng quân Đức Quốc Xă. Sự kiện
này đă che giấu tính chất độc tài của Staline. Ở vào thời điểm
đó, chiến thắng đă giúp cho chế độ vượt qua những nghi ngờ .
Và ngày nay, các vụ án ở Mạc Tư Khoa và hiệp ước của Đức
Quốc Xă kư kết với Liên Bang Xô Viết hồi tháng 8 năm 1938 đă trở thành dĩ
văng.
Back to TOP
|