|
Người Nga rất lấy làm xấu hổ khi nhắt tên từ '' Iejovschina''. Cái tên
Iejov đi đôi với các cuộc đàn áp trong những năm 1936-1938. Sách báo đă viết
rất nhiều về sự kiện này. Nikolai Iejov, người đă từng là giám đốc
cơ quan an ninh t́nh báo NKVD của Xô Viết từ tháng 9 năm 1936 đến tháng 11 năm
1938. Trong thời kỳ này, cơ quan an ninh t́nh báo NKVD đă mở các cuộc khủng bố
rộng lớn đối với mọi tầng lớp trong xă hội Nga. Từ các nhân vật
lănh tụ trong bộ chính trị của đảng cộng sản cho đến các thường
dân ngoài đường phố. Cơ quan an ninh t́nh báo t́m cách bắt cho đủ chỉ tiêu
con số '' phản cách mạng''. Nhiều thập niên về sau, chính quyền cộng sản Xô Viết cấm tuyệt
đối không được phép đề cập những ǵ có liên quan đến các cuộc
khủng bố năm 1936-1938. Thế giới bên ngoài và nhất là tại Tây Âu biết đến
ba vụ án chính ở Mạc Tư Khoa. Một vụ xảy ra trong năm 1936, vụ thứ
hai vào tháng giêng năm 1937 và vụ thứ ba vào tháng 3 năm 1938. Can phạm của ba vụ
án lại chính là những thủ lănh tên tuổi của đảng cộng sản Nga và đă
từng là đồng chí thân cận của Lenine. Trong số này có Zinoniev, Kamenev, Kristinski, Rykov,
Piatakv, Radek, Boukharine và một số đảng viên kỳ cựu khác. Một điều làm
cho mọi người ngạc nhiên trong các vụ án này là tất cả các bị can điều
thú nhận tội của ḿnh. Họ nhận là đă tổ chức các nhóm khủng bố
có khuynh hướng thân Trotski và Zinoviev. Mục đích của họ là lật đổ chính
quyền Xô Viết, ám sát các nhân viên chính phủ, phục hồi chủ nghĩa tư bản,
thi hành các cuộc phá hoại, làm tiêu hao lực lượng Hồng quân, làm tan ră Liên Bang Xô Viết,
tách rời các cộng ḥa Ukraine, Géorgie, Armenie và các vùng Viễn Đông Xô Viết để làm
lợi cho thế lực ngoại bang. Nhưng trên thực tế, vụ án ở Mạc
Tư Khoa là vụ án dàn cảnh ngoạn mục mà chủ đích là để đánh lạc
hướng các nhà quan sát quốc tế khi họ được mời đến tham dự
các vụ xử án. Các quan sát viên không hề đề cập đến chính sách giải thể
nông nghiệp cá thể, chính sách đàn áp địa chủ, các nạn đói lớn trong những
năm 1931-1932, và cũng không đề cập đến các trại tập trung lao động
khổ sai. Hai năm 1936-1938 là giai đoạn chót của cuộc đấu tranh chính trị
của Staline chống lại các lănh tụ đối lập trong đảng của ông ta.
Và cũng trong giai đoạn này, Staline muốn dứt điểm những công chức, đảng
viên trung thành của Lenine từ đầu cuộc cách mạng năm 1917, c̣n sót lại trong
cơ cấu chính quyền. Trong một bài báo viết trên tờ Le Temps số ra ngày
27 tháng bảy năm 1936 dưới tựa đề '' Một cuộc cách mạng bị
phản bội'', Trotski viết: '' Cuộc cách mạng Nga giống như cuộc cách
mạng Pháp, được biết đến dưới cái tên Thermidor. Staline đă nhận
thức được cái tính hư không của chủ nghĩa Mác-xít và cái huyền thoại
của cuộc cách mạng toàn cầu. Ông ta là một nhà xă hội tốt. Nhưng trước
tiên, ông ta là một người yêu nước, ông phải biết rằng khi cho áp dụng
cái tính hư không và cái huyền thoại của chủ nghĩa đó vào trong nước
ông, nó sẽ đem lại biết bao nhiêu là thảm họa cho dân tộc ông. Giấc mơ
của ông là giấc mơ của một nhà độc tài, nó khác với t́nh yêu của chủ
nghĩa tư bản, lại càng không giống cái ảo tưởng của chủ nghĩa
cộng sản.''. Trotski c̣n viết trên báo Echo de Paris, số ra ngày 30 tháng giêng năm 1937,
những lời không được trịnh trọng về chân dung của một nhân vật
lịch sử của nước Nga. Ông viết: '' Con người gốc dân Gégorie, có tầm
vóc thấp, cho dù không muốn nhưng cũng đă đi theo vết chân của bạo chúa
Ivan, Đại đế Pierre và Nữ hoàng Caterine đệ nhị.'' Phải đến
20 năm sau khi Krouchtches đọc bản báo cáo chính trị vào ngày 25 tháng hai năm 1956 trước
kỳ đại hội đảng lần thứ 20 tố cáo tội ác của Satline, người
ta mới biết các vụ vi phạm luật pháp xảy ra trong xă hội chủ nghĩa trong
những năm 1936-1938. Sau đó vài năm, nhiều nhân vật lănh đạo đảng
và một số quân nhân bị kết án trước đây, nay được chính quyền
phục hồi danh dự. Nhưng chính quyền cộng sản không hề quan tâm đến
các tội phạm thường dân. Măi đến kỳ đại hội toàn đảng
lần thứ 22 vào tháng mười năm 1962, Krouchtches mới thú nhận là trong các cuộc
khủng bố dưới thời Staline đă gây tổn thương cho rất nhiều thường
dân. Nhưng ông không chịu xác nhận mức độ tổn thương, bởi v́
chính ông cũng là một trong những người thừa hành lịnh khủng bố . Vào
cuối thập niên 60, sử gia Robert Conquest dựa vào các tài liệu viết thành văn bản
cũng như lời khai của các nhân chứng thoát khỏi địa ngục Nga trong thời
gian Krouchtches hạ bệ Staline, đă vẻ lại bức tranh của các cuộc đại
khủng bố. Ông đă khui ra những quyết định cho thi hành lịnh khủng bố
và ông cũng đưa ra con số chính xác nạn nhân của cuộc khủng bố này. Nhiều
cuộc tranh luận về các trại tập trung, về vai tṛ của Staline và Iejev và về
con số nạn nhân. Một sử gia Hoa Kỳ, thuộc trường phái xét lại, phủ
nhận vai tṛ quyết định của Staline trong moị chính sách của những năm
1936-1938. Ông ta nhấn mạnh đến sự khác biệt trong phương thức hành động
giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương. Ông cho rằng
quyền hành của chính quyền địa phương càng lúc càng mạnh, trong khi đó chính
quyền trung ương yếu dần. Trung ương không c̣n kiểm soát được
chính quyền địa phương; Địa phương muốn chứng tỏ ḷng nhiệt
thành với Trung ương cho nên thẳng tay đàn áp quần chúng và chống lại mọi
kẻ thù, bất cứ từ đâu đến. Đề cập đến con số
nạn nhân, sử gia Conquest xác nhận có 6 triệu người bị bắt giam, 3 triệu
người bị hành quyết và 2 triệu người chết dần chết ṃn trong các
trại tập trung cải tạo lao động. Nhưng theo sử gia Hoa kỳ thuộc
trường phái xét lại, đó là con số thổi phồng. Ngày nay, nhờ vào các tài
liệu được quyền tự do tham khảo trong các văn khố của chính quyền
Bônsêvich, chúng ta có cái nh́n mới về cuộc đại khủng bố. Khó có thể
tŕnh bày tất cả các diễn biến của cuộc khủng bố trên vài trang giấy.
Lịch sử trong những năm 1936-1938 của Xô Viết là lịch sử của bi
thảm, đẫm máu, mà chế độ cộng sản đă chủ trương. Với
tài liệu được phép tham khảo, chúng ta sẽ đưa ra ánh sáng một số
sự kiện để trả lời cho các câu hỏi của những năm vừa qua về
các trại tập trung, về con số người chết, về các chiến dịch đàn
áp. Tài liệu trong văn khố xác nhận vai tṛ quyết định của các lănh tụ
chủ chốt của đảng cộng sản , của bộ chính trị và của Staline
nói riêng. Từ việc tổ chức cho đến việc thi hành các chiến dịch đàn
áp đẫm máu, các vụ thủ tiêu các đại điền chủ, các h́nh thức kết
tội ''chống lại cách mạng, chống lại chính quyền Bônsêvich'',..phát động
từ tháng tám năm 1937 cho đến tháng năm năm 1938 đều do chính quyền trung
ương chủ xướng. Từ năm 1935, hằng ngày đều có lịnh bắt
những cựu địa chủ đi cải tạo lao động. Và mặc dù có lịnh
cấm các tù cải tạo cưụ địa chủ, trong việc quan hệ đến
các công nhân b́nh thường, nhưng họ vẫn t́m cách sống móc nối. Tháng 8 năm
19386, ông Rudolf Berman, một trong những trưởng trại tập trung lao động khổ
sai viết một báo cáo gởi về trung ương với nội dung : '' Lợi dụng
sự canh pḥng lỏng lẻo, một số tù cải tạo thuộc loại khẩn hoang
đặc biệt đă trốn ra khỏi nơi chỉ định định cư. Họ
sống trà trộn với những người lao động b́nh thường. Rất khó
bắt họ về trở lại. Họ đă học được một số nghề
chuyên môn và các cơ quan đang dùng họ, rất muốn giữ họ lại để làm
việc. Nhiều người đă chạy được giấy thông hành. Một số
khác lập gia đ́nh với các công nhân tự do, xây cất nhà cửa riêng. Trong khi có một
số nhân công lao động khổ sai trốn ra khỏi khu chỉ định sống trà
trộn vào đám công nhân thừơng, một số khác bỏ trại trốn đi xa. Đám
nhân công này gia nhập vào các băng đảng, quấy phá các khu vực quanh các thành phố
lơn. Trong các cuộc kiểm tra vào mùa thu năm 1936, các toán công an phát hiện ra con số
nhân công trốn trại rất là nhiều. Tại vùng Arkhandelsk, trong số 89.700 nhân công trên
giấy tờ, bấy giờ chỉ c̣n có 37.000 người. Ngày 2 tháng bảy năm 1937,
Bộ chính trị gởi văn thơ đến chính quyền địa phương, ra
lịnh cho các cơ quan lùng bắt các nông dân cải tạo không thi hành lịnh của trại.
Bắn tại chỗ các phần tử chống đối sau khi Ủy ban tam đầu chế
xem xét hồ sơ hành chánh của tội phạm. Ủy ban tam đầu chế gồm có
Đệ nhất bí thư đảng, một biện lư và một ủy viên của cơ
quan t́nh báo công an NKVD địa phương. Công tác thanh lọc tập thể nông dân lao động
khổ sai phải thực hiện hoàn tất trong ṿng 5 ngày. Đầu tháng 7 năm 1937, Staline quyết định mở chiến dịch khủng
bố tập thể . Mỗi tuần, Trung ương đều nhận báo cáo của
địa phương về con số phạm luật. Căn cứ theo các bản báo cáo
này, ngày 30 tháng 7 năm 1937, Chỉ huy trưởng cơ quan t́nh báo, ông Iejov ra chỉ thị
số 00447, cho hành quyết 72.950 nông dân và bắt giam 259.450 người. Đây chưa phải
là con số chính thức, v́ c̣n một số địa phương chưa gởi đầy
đủ về Trung ương. Cũng như các cuộc khủng bố trước đây,
chính quyền địa phương nhận lịnh phải t́m bắt cho đủ con số
tội phạm của từng loại do Trung ương ấn định. Loại một
, tử h́nh. Loại hai, đưa đi lưu đày. Tội phạm thuộc loại một
lần này bao gồm các thành phần chính trị rộng lớn hơn trước đây.
Ngoài các phần tử cựu địa chủ, c̣n có cả các đảng viên của các đảng
đối lập, các cựu công chức của chế độ Nga Hoàng và cựu quân nhân
của Bạch Quân. Thật ra các toán t́nh báo có thể gán các '' danh xưng tử h́nh'' đó
cho bất cứ người nào mà họ muốn thủ tiêu, kể cả đảng viên
đảng cộng sản. Cơ quan t́nh báo NKVD hằng ngày ghi nhận, điều tra là
lập danh sách các người t́nh nghi chống phá chính quyền để theo dơi. Ngày 30 tháng
7 năm 1937, Trung ương gở thêm danh sách bổ túc xuống chính quyền địa phương.
Chiếu theo danh sách, chính quyền điạ phương phải bắt luôn cả thân nhân
của các người bị kết án lưu đày tại các trại tập trung hay những
người đă bị xử tử h́nh. Cuối tháng 8, con số bị xử bắn
tăng thêm 22.500 người và bắt đi lưu đày tăng thêm 16.800 người.
Tháng giêng năm 1938, theo đề nghị của cơ quan t́nh báo NKVD, chính quyền địa
phương phải xử bắn 48.000 người và lưu đày 9.200 người trước
ngày 15 tháng 3. Mặc dù bị đảng thanh trừng nhiều lần, nhiều đảng
viên địa phương muốn bày tỏ ḷng trung thành với đảng, bằng cách đề
nghị chỉ tiêu con số người bị đàn áp lên đến 90.000 trong thời gian
từ ngày 1 tháng hai đến ngày 20 tháng 8 năm 1938. Như vậy chiến dịch khủng
bố thay v́ phải kết thúc trong ṿng 4 tháng, nay kéo dài hơn một năm. Và con số dự
liệu phải giết và phải lưu đày tăng lên gần 200.000 người. Nạn
nhân của các vụ đàn áp khủng bố này gồm đủ hạng người trong
xă hội. Từ những người cư ngụ dọc theo biên giới , những người
có liên hệ với người ngoại quốc, cựu tù binh chiến tranh, các người
có thân nhân sống ở nước ngoài cho dù họ không c̣n liên lạc,.. Những người
chơi tem, xử dụng máy vô tuyến,..cũng có thể bị ghép vào tội gián điệp. Từ
ngày 6 tháng 8 đến cuối tháng chạp năm 1937, dưới quyền điều khiển
của cơ quan t́nh báo NKVD, có nhiều cuộc hành quân lùng bắt những người ngoại
quốc đang sống trên đất Nga. Từ người Đức, Ba Lan, Nhật Bản,
Lỗ ma Ni, Thổ nhĩ Kỳ cho đến người Lituanine, Estonie và Tettonie. Họ bị
xếp vào các thành phần gián điệp. Trong ṿng một năm rưỡi, Công an bắt
giam trên 1500 người với cái tội làm gián điệp. Con số nạn nhân nêu trên
vẫn c̣n thiếu rất nhiều. Thật vậy, chúng tôi chưa được phép tra cứu
các văn thư trong văn khố của cơ quan t́nh báo KBG, của Phủ chủ tịch
đảng, v́ văn khố này thuộc loại '' kín và của riêng''. Nó gồm có một số
tài liệu như sau: Chiến dịch phát động ngày 20 tháng bảy năm 1937 nhằm
thanh toán người Đức phục vụ trong các ngành kỹ nghệ quốc pḥng. Cuộc
hành quân ngày 19 tháng 9 năm 1937 nhằm thanh toán các phần tử khủng bố, làm gián điệp
cho Nhật. Cuộc hành quân ngày 4 tháng 8 năm 1937 nhằm thanh toán các đơn vị quân
đội người Cosaque thân Nhật. Chiến dịch đàn áp thân nhân của những
người bị bắt giam trong các trung tâm lao động hay những người đă
bị xử bắn vào ngày 15 tháng 8 năm 1937.
Nh́n toàn bộ các cuộc đàn áp trong
những năm 1936-1938, chúng ta thấy, Bộ Chính Trị Trung Ương là đầu năo của
kế hoạch và cơ quan t́nh báo NKVD là bộ phận thi hành. Sau khi kết thúc chiến
dịch đại khủng bố, nhà nước chỉ gởi một ủy ban duy nhất
đến vùng Turménistan để kiểm tra các việc làm quá trớn của phong trào mang cái
tên Iejovchina. Trong suốt thời kỳ này, nước cộng hoà nhỏ Turménistan với dân
số 1.300.000 dân, cơ quan t́nh báo NKVD bắt giam 13.259 người. Trong số này có 4037 người
bị xử bắn. Nhưng theo chỉ thị của Trung ương , cơ quan địa
phương chỉ có quyền bắt giam 6277 và xử bắn 3225 người chống chính
quyền mà thôi. Điều đó cho thấy hành động quá trớn của chính quyền
địa phương, không thi hành đúng chỉ thị của Trung ương. Một
số tài liệu khác xác nhận quyết định của Bộ chính trị Trung ương
và của Staline về các cuộc tàn sát tập thể. Bộ chính trị và Staline đưa
ra một danh sách tội nhân qua Ṭa án. Nghĩa là một bộ phận đặc trách tư
pháp của Bộ chính trị kết tội trước khi đưa qua Ṭa án quân sự, Hội
đồng tối cao quân sự hay Ủy ban đặc biệt của cơ quan t́nh báo NKVD.
Bộ chính trị đă kư 383 danh sách bắt giữ 44000 người bao gồm các lănh tụ
của đảng cộng sản, của quân đội, và của bộ kinh tế. Có 39.000
người trong danh sách này bị kết án tử h́nh. Riêng Staline đă kư 362 ; Molotov, 373
; Vorochilov, 195 ; Kaganovitch, 191; Jdanov, 177 và Mikoian, 62 danh sách. Vào đầu mùa hè 1937, các lănh tụ
cộng sản vừa nêu trên đích thân về các địa phương để trực
tiếp hướng dẫn các vụ thanh trừng. Kaganovitch về các vùng Donbass, Tchéliabinsk,
Ivanovo, Smolenk. Lănh tụ Jdanov sau khi làm công tác thanh trừng ở Leningrad, ông được
biệt phái về vùng Orenbourg, Bachkiri, Tatarstan. Lănh tụ Mikoian về vùng Arménie. Và Kroutchev đi
về Ukraine. Mặc dù quyết nghị thành trừng các thành phần chống đối
chính quyền được toàn thể Bộ chính trị biểu quyết, nhưng các tài
liệu ngày nay cho thấy, hầu hết các quyết nghị đều do Staline đưa
ra. Sau đây là một thí dụ điển h́nh. Ngày 27 tháng tám năm 1937, Trung ương nhận
một điện văn của Mikhail Korotchenko, Ủy viên đặc trách vùng Tây Bá Lợi
Á . Điện văn báo cáo vụ án xử các nhân viên nông nghiệp phạm tội tham nhũng
và phá hoại. Sau khi nhận điện văn, hồi 17 giờ cùng ngày, Staline gọi điện
thoại ra lịnh hành quyết ngay những người phạm tội và ra lịnh cho đăng
tin hành quyết lên các báo. Tài liệu trong các văn khố cũng c̣n cho chúng ta thấy
Staline kiểm soát tất cả các diễn tiến trong các cuộc thanh trừng. Chính Staline
tự tay sửa đổi các văn thư, các lời tố cáo và bản án của cơ
quan an ninh NKVD gởi đến. Ông ta là nhà đạo diễn chính trong tất cả các
vụ xử án lớn. Trong thời gian điều tra và thẩm xét vụ án '' âm mưu
của quân đội '', tố cáo Thống chế Toukhatchevski cùng toàn thể sĩ quan cao cấp
của Bộ Tổng tham mưu Hồng Quân, Chính ủy cao và trung cấp, ..mỗi ngày Iejov
đều đến gặp Staline để hội ư. Chính Staline viết thư ngày 25 tháng
chín năm 1936, bổ nhiệm Iejov vào chức vụ Ủy viên đặc trách bộ Nội
Vụ, trong khi Staline đang nghỉ hè ở Sotchi. Ông viết :'' Việc cần thiết và
cấp bách là phải bổ nhiệm Iejov vào chức vụ Ủy viên đặc trách Bộ
Nội Vụ. Đồng chí Iagoda thiếu khả năng làm công tác vạch mặt nạ
các tên theo Trotski và Zinoviev. Cơ quan an ninh đă làm chậm mất 4 năm trong công tác này. ''
Rồi cũng chính Staline ngày 17 tháng 11 năm 1938, ra lịnh cho NKVD tạm ngưng chiến
dịch truy lùng các phần tử chống đối. Một tuần lễ sau, Staline cách
chức Iejov và tiến cử Béria vào chức vụ ủy viên nhân dân phụ trách Bộ Nội
Vụ. Tóm lại, mở đầu và chấm dứt cuộc khủng bố đều
do quyết định của Staline. Một trong các nghị quyết của đại
hội đảng cộng sản Liên Xô lần thứ 22 là đề cử ông Nicolai Chvernik
phụ trách ủy ban điều tra các hành động đàn áp trong thời Staline. Ủy
ban dựa theo các bản phúc tŕnh của các trung tâm lao động khổ sai , các bản
văn trong các pḥng hành chánh của Ủy viên Bộ Nội Vụ, Bộ Tư Pháp và các
ṭa án trên toàn nước Nga. Ngày nay dân chúng được phép tự do tham khảo các tài liệu
này. Theo các tài liệu dẫn trên, cơ quan t́nh báo NKVD đă bắt giam 1.575.000 người
trong năm 1937-1938. Tất cả đều bị hành quyết. Chính quyền cộng sản
chia tội nhân ra thành nhiều loại. Với các vụ án của cán bộ chính trị,
kinh tế, quân sự và các thành phần trí thức, thường được nhiều người
biết đến. Họ bị đưa ra ṭa án quân sự hay ṭa án đặc biệt của
cơ quan t́nh báo NKVD . Cuối tháng 7 năm 1937, v́ các cuộc khủng bố gia tăng,
con số người bị bắt quá nhiều nên chính quyền cộng sản phải thành
lập ở địa phương một loại toà án tam đầu chế- toà án gồm
có 3 thành viên để giải quyết cho nhanh. Ṭa án tam đầu chế gồm có một
biện lư, một nhân viên tính báo và một công an. Họ xét xử cấp bách và lấy lệ,
miễn sao cho cung cấp đủ con số ''phải bắt giam'' do Trung ương yêu cầu.
Trong quyển niên giám của thành phố Leningrad ghi lại từng tháng, bắt đầu từ
tháng 8 ăm 1937, con số người bị kết án tử h́nh chiếu theo điều
thứ 58 của bộ H́nh Luật. Thời gian từ lúc bắt, xử án cho đến khi
xử bắn chỉ xảy ra trong ṿng từ vài ngày đến vài tuần lễ. Không hề
có chuyện xét lại hay chống án. Ngày 30 tháng 7 năm 1937, Chính quyền cộng sản
mở các cuộc hành quân đặc biệt nhằm truy lùng và thủ tiêu các thành phần bị
ghép vào tội gián điệp, các thành phần chao đảo đường lối chính trị.
Các cuộc hành quân đàn áp này cũng có tầm mức quy mô giống như các cuộc hành
quân chống các địa chủ phú nông trước kia. Ngày 12 tháng 9, cộng sản
lại mở thêm các cuộc hành quân khủng bố khác. Nạn nhân của các cuộc hành quân
này là thân nhân của những người bị bắt trong các cuộc hành quân trước.
Nếu trong các cuộc hành quân có bắt nhầm, th́ con số bắt nhầm cũng trở
thành con số phạm tội cần thiết cho đủ chỉ số tù nhân của cấp
trên quy định. Nạn nhân của các vụ bắt lầm thường là những người
của các dân tộc sống dọc theo biên giới với lănh thổ Nga, v́ có liên hệ, hay
có cùng tên với dân Nga. Để đáp ứng đủ chỉ tiêu con số người
phải bắt, nhiều đơn vị địa phương phải t́m cách dàn xếp.
Một thí dụ xảy ra ở tỉnh Turménine. Lấy cớ vụ cháy tại một xưởng
máy, nhân viên t́nh báo NKVD bắt giam tất cả công nhân của xưởng với cái tội
là họ đă nhúng tay vào vụ cháy. Nhờ thế chính quyền vùng Turmine mới giao đủ
con số tội phạm của nhà nước đưa ra. Đó là bản chất của
các vụ đại khủng bố trong những năm 1936-1938. Trong các vụ đàn áp,
cũng có một số đảng viên đảng cộng sản bị thủ tiêu. Nhưng
so với tổng số nạn nhân, con số đảng viên bị hành quyết rất khiêm
nhường. Có tất cả 681.692 đảng viên đảng cộng sản bị xử
bắn. Trong tháng 5 và tháng 10 năm 1937, chính quyền cộng sản bắt 172.000 dân Đại
Hàn đày sang các vùng Kazakhstan và Oubékistan. Những người Nga gốc Đại hàn bỏ
nước trốn qua Nga tị nạn trong thời kỳ nước của họ bị
Nhật đánh chiếm. Vô số người chết trong lúc bị tra tấn tại các
văn pḥng công an, trong nhà lao, một số khác chết trên đường chuyển vận
đến trại lưu đày. Năm 1937 có 25.000 người chết. Qua năm 1938 con
số người chết lên đến 90.000. Đó là chưa kể đến con số
người chết, dân Nga gốc Đại hàn. Các tài liệu hiện nay chỉ cho chúng
ta thấy con số người chết một cách tổng quát trong các trại tập trung
cải tạo khổ sai trong những năm cuối của thập niên 30. Nó không cho chúng ta
biết chi tiết của từng giống dân và cũng không phân biệt con số nạn nhân
của cuộc đại khủng bố. Tài liệu đáp ứng từng phần những
người bị bắt giam trong thời kỳ Iejov giữ vai tṛ Ủy viên nhân dân đặc
trách Nội vụ. Trong số nạn nhân của Iejov trong cuộc đại khủng bố
trong hai năm 1936-1938, giới trí thức chiếm 70%. Như vậy, rơ ràng mục tiêu của
các vụ khủng bố cuối thập niên 30 là nhắm vào những thành phần ưu tú
trong xă hội, có tŕnh độ học vấn cao. Quyết nghị đầu tiên về việc
khủng bố trí thức được biểu quyết chấp thuận trong kỳ đại
hội lần thứ 20 của đảng cộng sản Nga. Cũng trong cùng thời điểm
này, đảng ra mặt thanh trừng thẳng tay các đảng viên có khuynh hướng chống
đảng. Kroutchev, trong một phiên họp kín, đă nêu lên số phận của 5 đảng
viên trong Bộ chính trị đă từng là những đồng chí trung thành và thân cận
nhứt của Staline. Đó là các ông Postychev, Roudzoutak, Eikhe, Kossior, Tchoubar. 98 thành viên trong số
193 thành viên trong Ủy ban trung ương đảng bị thành trừng ra khỏi đảng.
Trong số 1966 đại biểu dự đại hội đảng lần thứ
17 trong năm 1934, có 7780 đại biểu bị thanh trừng và bị đàn áp. Trong số
385 bí thư đảng bộ địa phương , có 319 người bị bắt giam.
2210 bí thư chi bộ cũng bị bắt trên tổng số 2750 bí thư chi bộ trên toàn
quốc. Nói chung , tất cả đảng viên đảng cộng sản nằm trong các phân
bộ hay chi bộ đều bị Trung Ương đảng ghi vào sổ đen và bị
thanh trừng. Họ bị nghi ngờ là đă phá hoại các chỉ thị và các quyết định
của trung Ương ở thủ đô Mạc Tư Khoa và họ cản trở sự
kiểm soát của Trung Ương về những diễn biến đă xảy ra trong nước.
Có thể nói, Staline đă thay toàn bộ cán bộ cộng sản trong các cơ cấu chính trị
cũng như hành chánh. Trung Ương đảng nghi ngờ nhất là thành phố Leningrad.
Zinoviev giữ chức bí thư thành ủy. Kirov đă bị áp sát tại thành phố này. Hai
lănh tụ đảng của thành phố, ông Jdanov và Zakovski trực tiếp ra lịnh bắt
giam 90% cán bộ đảng trong thành phố. Để khuyến khích các cuộc khủng
bố thanh trừng, Trung Ương gởi các đảng viên trung tín cùng với các toán t́nh
báo về các tỉnh với nhiệm vụ thiêu đốt và tiêu diệt '' các con rệp Phát
xí -Trotski '' , theo như báo Sự Thật tường thuật. Có những vùng đă diễn
ra các cuộc thanh trừng rất đặc biệt. Như ở Ukraine. Trong năm 1938, khi
Kroutchev đắc cử vào vào tṛ lănh đạo đảng cộng sản Ukraine, số người
bị bắt giam trên 106.000. Phần lớn họ bị xử bắn. Trong số 200
ủy viên của Trung Ương đảng cộng sản Ukraine chỉ có 3 đảng viên
c̣n sống sót. Ở một số vùng khác trên toàn lănh thổ Nga cũng xảy ra các thanh
trừng tương tự như vậy. Bên cạnh các vụ xử án kín của ṭa án tam
đầu chế, các cuộc xử án thanh trừng trong đảng thường được
xét xử công khai, cho dân chúng tham dự. Các cuộc xử án công khai mang tính chất tuyên truyền.
Mục đích của các vụ án này là nhầm lôi kéo một số thường dân kém hiểu
biết về với chính quyền Trung Ương, chống lại những người lănh
đạo địa phương. Các '' Tân bạo chúa'' luôn luôn tự măn về các hành động
vô nhân của họ là tạo ra sự bất măn giả tạo. Nhưng các hành động
này, ngược lại, chỉ tạo thuận lợi thêm cho phe Trotski. Cũng như các cuộc
thanh trừng ở thủ đô, các vụ xử án ở địa phương dân chúng cũng
được quyền tham dự và cũng được báo chí hô hào rầm rộ. Cuộc
diện đảo ngược trật tự trong xă hội. Lớp người có quyền
thề nay trở thành những kẻ tử tội. Và lớp người kém hiểu biết
lại được tung hô. Theo bà Annie Kriegel, các cuộc xử án công khai là liều thuốc
ngừa bịnh cho xă hội. Nhưng các cuộc thanh trừng các cấp lănh đạo địa
phơơng và các nhân vật chủ chốt của đảng chỉ là phần nổi của
tảng băng trên nước biển. Thí dụ ở tỉnh Orenbourg. Tại tỉnh này
chúng tôi có một bản phúc tŕnh đầy đủ của cơ quan t́nh báo NKVD về các
biện pháp thanh toán nhóm Trotski hoạt động trong ṿng bí mật, các nhóm thân Boukhaine và các
nhóm phản cách mạng khác. Các cuộc hành quân diễn ra từ ngày 1 tháng tư đến
ngày 18 tháng chín năm 1937. Trước khi Idanov được bổ nhiệm, trong ṿng năm
tháng, cơ quan t́nh báo NKVD bắt giam 420 cán bộ hàng đầu của của các ngành kinh tế
và chính trị, thân Trotski. Họ bắt thên 120 người khuynh hữu, đang lănh đạo
các cơ quan hành chính địa phương. Số người này chiếm 45% trên tổng
số cán bộ địa phương được nhà nước ưu đăi. Khi Idanov
đến, các cuộc thanh trừng gia tăng cường độ. Có thêm 598 khác bị bắt
và bị xử bắn. Từ mùa Thu năm 1937, tất cả các cán bộ lănh đạo chính
trị và kinh tế địa phương trên toàn lănh thổ Nga đều bị sa thải
và được thay thế bởi một thế hệ cán bộ mới như các đảng
viên Brejnev, Kossiguine, Outinov, Gromyko. Trong thập niên 70, các đảng viên này được
đề cử vào bộ chính trị. Bên cạnh các đảng viên cốt cán bị
thanh trừng, đa số nạn nhân của các cuộc khủng bố là đảng viên không
tên tuổi và thường dân. Đọc tiếp bản phúc tŕnh của cơ quan t́nh báo tỉnh
Orenbourg, chúng ta biết: Trong số 2000 bị bắt v́ t́nh nghi thành viên của nhóm quân
sự Cosaque thân nhật, có 1500 ngườ bị xử bắn. Trên 1500 sĩ quan, công chức
thời Nga Hoàng, từ thành phố Leningrad đưa đi lưu đày đến vùng Ornbourg
vào năm 1953 v́ bị coi như những phần tử xạ lạ với xă hội. Sau vụ
ám sát Kirov , họ bị chuyển đi đến nhiều vùng khác nhau. 250 người bị
bắt v́ có dính líu đến dân Ba Lan. 95 người bị bắt v́ có liên hệ đến
người gốc Kharbine. 1290 người bị đàn áp trong khuôn khổ của chiến
dịch thủ tiêu các cựu địa chủ cường hào. 1399 bị bắt v́ bị
ghép vào các phần tử gây tội ác,.. Nếu cộng thêm một số người bị
bắt trong các quân trường, tổng cộng con số người do cơ quan NKVD bắt
trước khi Idanov đến là 7500. Trong số các nạn nhân của các cuộc thanh trừng,
thành phần chỉ huy và cán bộ ngành ngoại giao chiếm đa số. Họ buộc vào
tội làm gián điệp, làm tay sai cho ngoại bang. Những đảng viên đă từng
làm đại sứ ở các quốc gia khác cũng bị thanh trừng. Như các ông Krestinski,
Sokolikov, Bogomolov, Ioureniev, Ostrovski, .. Một số đảng viên cao cấp đặc trách
kinh tế và chỉ huy các khu công nghiệp, các nhà máy lớn cũng bị thanh trừng v́ bị
ghép vào tội phá hoại. Trong một số Bộ của chính phủ, có thể nói là toàn
thể nhân viên phục vụ trong các bộ bị sa thải. Bộ chịu đàn áp nặng
nhất là Bộ phụ trách trang bị cơ giới cho các nhà máy lớn. Chỉ trừ hai
giám đóc, c̣n lại đều bị bắt giam, kể cả chuyên viên kỹ thuật. Chiến
dịch thanh trừng cũng diễn ra ở các ngành sản xuất phi cơ, sản xuất
tàu thủy, sản xuất xe vận tải,.. Chúng tôi chỉ có một số ít và từng
phần tài liệu về các ngành này. Sau cuộc đại khủng bố, nhân kỳ đại
hội đảng lần thứ 18, vào tháng 3 năm 1938, lănh tụ Kagnovitch thừa nhận
rằng trong hai năm 1937-1938, tất cả nhân viên phục vụ ngành kỹ nghệ nặng
hoàn toàn bị thay thế. Thời kỳ các đảng viên bị thanh trừng mạnh nhất
là thời Iejovchina. Vào lúc đó, các đại biểu của các đảng cộng sản
trên thế giới và của Quốc tế cộng sản đang lưu trú tại khách sạn
Lux ở thủ đô Mạc Tư Khoa. Trong số lănh tụ lớn của đảng cộng
sản Đức bị bắt giam, người ta biết đến các ông: Heinz Neuman, Herman
Remmele, Fritz Schulte, Herman Schubert, từng là ủy viên Bộ chính trị; Ông Leo Frieg Bí thơ Ủy
ban Trung Ương; Heinrich Susskind và Werner Hirsch, tổng biên tập tờ Rote Fahne; Ông Hugo Eberlin
đại biểu đảng cộng sản Đức tại hội nghị thành lập
Quốc Tế cộng sản. Sau hiệp ước bất tương xâm giữa nước
Đức và Nga kư hồi tháng 9 năm 1939, Cộng sản Nga trao 590 cộng sản Đức
bị nhốt trong các trại tù ở thủ đô Mạc Tư Khoa, cho Đức quốc
xă tại chiếc cầu biên giới Brest-Litovski. Đảng cộng sản Hung gia lợi
cũng bị ảnh hưởng bởi cuộc thanh trừng. Ông Bela Kun, người
khởi xướng cuộc cách mạng năm 1919 cùng với 12 Ủy viên nhân dân của chính
phủ cộng sản Budapest lánh chạy ra Mạc Tư Khoa. Ông và các Ủy viên đều
bị bắt và bị xử tử. Gần 200 đảng viên đảng cộng sản
Ư cũng bị bắt. Trong số này có Paolo Robotti, em rễ của lănh tụ đảng cộng
sản Ư, Togliatti. Gần 100 đảng viên đảng cộng sản Nam Tư cũng bị
bắt. Trong số này có nhiều đảng viên được thế giới biết đến.
Như các ông Tổng bí thư Gorkie, Bí thư kiêm lănh tụ Binh đoàn Quốc Tế Vlada
Copie; và 3/4 các thành viên của Ủy ban Trung Ương đảng cộng sản Nam Tư. Đại
đa số nạn nhân của cuộc đại khủng bố là thường dân. Sau đây là một hồ sơ ''thường'' của một
tội nhân của năm 1938. Hồ sơ số 24260. I.-Lư lịch cá nhân:
1.- Họ : Sidorov. 2.- Tên: Vassili Klementovitch. 3.- Nơi và năm sinh: Setchevo vùng
Mạc Tư Khoa, năm 1893. 4.- Địa chỉ cư ngụ:
Setchevo, quận Lolomenski , Mạc Tư Khoa. 5.- Nghê nghiệp: Công nhân viên hợp
tác xă. 6.- Khuynh hướng nghiệp đoàn: Hội viên nghiệp đoàn hợp
tác xă. 7.- Tài sản khi bị bắt: Một căn nhà gỗ 8m * 8m, mái tôle, sân có mái che rộng
20m*7m; một con ḅ cái, 4 con trừu, 2 con heo và một số gà vịt. 8.- Tài sản vào năm
1929: có thêm 1 con ngựa. 9.- Tài sản vào năm 1917: căn nhà gỗ 8m*8m, sân có mái che
rộng 30m*20m; hai kho chứa lúa, hai kho chứa rơm, 2 con ngựa, 2 con ḅ cái, 7 con trừu
cái. 10.- T́nh trạng xă hội khi bị bắt: công nhân. 11.- T́nh trạng trong quân độI
Nga: Binh nh́ thuộc trung đoàn 6 Bộ binh trong năm 1915-1916. 12.- Trong quân đội
Bạch quân : Không có. 13.- Trong quân đội Hồng quân: Không có. 14.- Nguồn gốc xă
hội: Tôi tự coi là con của gia đ́nh nông dân hạng trung. 15.- Quá khứ chính trị:
Không có gia nhập đảng phái nào. 16.- Quốc tịch: Gốc dân Nga, công dân của Liên
Bang Xô Viết. 17.- Có gia nhập đảng cộng sản Nga: Không. 18.- Tŕnh độ
học vấn: Tiểu học. 19.- T́nh trạng quân sự hiện tại: Thuộc thành
phần trừ bị. 20. Quá khứ tư pháp: Không có tiền án. 21. T́nh trạng sức
khỏe: Bịnh sán khí. 22.- Gia cảnh: Vợ tên là Anastia Fedorovna, 43 tuổi, con gái tên Nina,
24 tuổi. Cơ quan t́nh báo an ninh NKVD địa phương bắt giam ngày 13 tháng 2 năm
1938. II. Bản hỏi cung và lời khai của phạm nhân: Hỏi: Anh hảy
giải thích tài sản của anh trước và sau 1917, từ đâu mà có ? Khai: Cha mẹ
tôi làm nghề buôn bán. Năm 1904 cha tôi có một cửa tiệm nhỏ ở phố Zolotorojskaia
, Mạc Tư Khoa. Theo lời cha tôi kể, chỉ có ḿnh cha tôi quản lư, không có mướn
người làm. V́ không thể cạnh tranh với các tiêm buôn lớn, cha tôi phải dẹp
tiệm. Cha tôi trở về vùng quê Sytchevo và thuê ở đó 6 mẫu đất làm ruộng
và thuê 2 mẫu khác để trồng cỏ. Cha tôi có thuê một người giúp việc tên
là Goriatchiev cho đến năm 1916. Qua năm sau chúng tôi vẫn quản lư sở đất
nhưng mất hai con ngựa v́ lịnh trưng dụng của nhà nước. Đến
năm 1925 cha tôi mất. Tôi và em tôi chia đôi cơ sở sản xuất. Tôi thấy tôi
không có phạm tội ǵ và cũng không hề là thủ phạm của một tội ác nào. III.
Bản buộc tội. Tên Sidorovđă có tư tưởng xấu đói với chính
quyền Xô Viết nói chung và đối với đảng cộng sản nói riêng. Hắn
thi hành có kế hoạch chống lại chế độ Xô Viết. Hắn viết rằng
Staline và đồng đảng của ông ta không có ư muốn rời chính quyền. Staline đă
giết nhiều người mà không chịu từ chức. Nhóm Bônsêvich muốn giữ chính
quyền và cho bắt giam những thường dân lương thiện, mặc dù họ không
hề nói điều ǵ. Nếu họ nói ra , người ta sẽ bắt họ lưu đày
vào các trại lao động khổ sai trong ṿng 25 năm. Bị cáo Sidorov đă khai và không
nhận tội. Nhiều nhân chứng tố cáo và đă lột mặt nạ của hắn.
Nội vụ đă được đưa ra xử tại ṭa án Tam đầu chế. Kư
tên: Galkine, Thiếu úy an ninh quốc gia, Trưởng toán an ninh quận Kolomenskoie.
IV.
Quyết định của ṭa án Tam đầu chế ngày 16 và 17 tháng 7 năm 1938:
Vụ
Sidorov V.K. , cựu thương gia, cùng với cha khai thác một tiệm buôn. Bị cáo đă
tuyên truyền chống cách mạng, đưa ra những lời phá hoại và hâm dọa đảng
viên đảng cộng sản, những lời chỉ trích, chống lại chính sách của
đảng và nhà nước. Tuyên án: Xử bắn tên Sidorov Vassili Klementovitch, tịch thu
toàn bộ tài sản. Lịnh xử bắn thực thi ngày 3 tháng 8 năm 1938. Đă được
phục hồi sau khi chết. Nguồn gốc tài liệu: Volia- số 2- 3 trang 45-46. Dân
Nga gốc Ban lan cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều trong cuộc đại
khủng bố. Nhất là đảng cộng sản Ba Lan. Đảng cộng sản Ba Lan
xuất phát từ đảng Xă Hội Dân Chủ của Vương quốc Ba Lan và Lituaine.
Năm 1906, đảng được hưởng quy chế tự trị khi gia nhập đảng
công nhân Xă Hội Nga. Féliks Dzerjinski là liên lạc viên chính thức giữa hai đảng cộng
sản Nga và Ba Lan. Nhiều đảng viên về sau vẫn c̣n hoạt động trong đảng
Bônsêvich. Một số đảng viên tên tuổi, và đều giữ ngành t́nh báo công an, như
Dzerjinski, Menjinski, Unschlikth, Radek,.. Trong hai năm 1937-1938, toàn bộ đảng cộng
sản Ba Lan đều bị thủ tiêu. 12 thành viên trong Bộ chính trị đảng cộng
sản Ba Lan có mặt tại Mạc Tư Khoa cùng với các đảng viên đại diện
thường trực cơ quan Quốc Tế cộng sản cũng chịu cùng số phận.
Ngày 28 tháng 11 năm 1938, Staline kư nghị quyết ra lịnh tiêu diệt hoàn toàn đảng
cộng sản Ba Lan. Phe lên thay là phe chống đối trong đảng cộng sản Ba
Lan bấy lâu nay. Ngày 16 tháng 8 năm 1938, Ban chấp hành Cộng Sản Quốc Tế biểu
quyết giải tán đảng cộng sản Ba Lan. Theo lời giải thích của Manouilski,
các chức vụ then chốt của đảng cộng sản Ba Lan đều nằm trong
tay của phe Phát-Xít Ba Lan. Về sau, các thành viên lănh đạo Xô Viết trong Quốc Tế
Cộng sản cũng trở thành nạn nhân của cuộc thanh trừng. Đó là trường
hợp của Korine, thành viên của ủy ban Trung Ương; Mirov Abramov, trưởng ban tuyên
truyền nước ngoài; Alikhanov, trưởng ban tổ chức cán bộ; và vài trăm thành
viên khác cũng bị thủ tiêu. Vài thành viên v́ hoàn cảnh liên hệ với Staline c̣n sống
sót như Manouilski và Kuunisen. Vụ thanh trừng được biết chính xác nhất là
vụ thanh trừng các tướng lănh. Ngày 11 tháng 6 năm 1937, báo chí loan tin ṭa án quân sự
xử vụ Thống chế Toukhatchevski. Ông ta là phó Ủy viên đảm trách bộ Quốc
Pḥng và là người có công trong kế hoạch canh tân quân đội Hồng quân. Ông bị
ghép vào tội làm gián điệp và phản bội, bởi v́ ông không cũng quan điểm
với Staline và Vorochilov trong cuộc chiến tranh với Ba Lan hồi năm 1920. Cùng với
thống chế Toukhatchevski, có 7 tướng lănh cũng bị kết án tử h́nh. Đó là
các tướng Iakir, Ouborevitch, Eideman, Kork, Poutna, Feldman, Primakov. Mười ngày sau đó, Staline
ra lịnh bắt giam 980 sĩ quan cao cấp, trong số này có 21 Tướng cấp quân đoàn
và 37 Trung tướng. Staline đă cho sắp đặc '' vụ án âm mưu quân sự do Thống
chế Toukhatchevski cầm đầu'' từ mấy tháng trước đó. các bị cáo chính
bị bắt từ tháng 5 năm 1937. Họ bị tra tấn rất dă man. [ 20 năm sau, danh
dự Thống chế được phục hồi. Trên các tờ khai của Thống chế
c̣n dính nhiều vết máu. ]. Đích thân Iejov điều tra Thống chế Toukhatchevski. Bị
cáo đều thú nhận tội vài ngày trước khi đưa ra ṭa án quân sự xét xử.
Staline tự tay kiểm tra các bản án. Ngày 15 tháng 5 năm 1937, đại sứ Liên Xô tại
Tiệp Khắc chuyển một hồ sơ giả cho t́nh báo Đức Quốc Xă. Trong hồ
sơ này có các bức thơ ngụy tạo danh nghĩa Thống chế Toukhatchevski gởi
cho quân đội Đức. Đó là lư do Thống chế và một số Tướng Tá trong
quân đội Cộng sản bị thanh trừng. Trong
ṿng 2 năm, Hồng quân đă khai trừ :
Ba vị Thống Chế trong năm Thống
chế đang tại chức. Đó là các Thống chế Toukhatchevski, Tegorov và Blucher. Hai vị
sau bị thanh trừng vào tháng 2 năm 1938 . 13 Đại Tướng cấp quân đoàn
trong số 15 vị đang tại chức. 8 Đô Đốc trong số 9 vị đang
tại chức. 50 Đại Tướng cấp Phó quân đoàn trong số 57 vị đang
tại chức. 154 Trung Tướng cấp sư đoàn trong số 186 vị đang tại
chức. 16 Chính ủy cấp quân đoàn trong số 186 vị đang tại chức. 25
Chính ủy cấp phó quân đoàn trong số 16 vị đang tại chức. Từ tháng 5
năm 1937 đến tháng 8 năm 1938 có tất cả 35.020 sĩ quan bị bắt giam hay sa
thải khỏi quân đội. Con số sĩ quan bị hành quyết đến nay chưa
được biết. Qua năm 1939-1941, có 11.000 sĩ quan được lịnh tái ngũ.
Trong số đó có Tướng Rokossovski và Gorbatov. Tóm lại , cuộc thanh trừng trong hàng
ngũ quân đội, có khoảng chừng 30.000 sĩ quan chỉ huy bị bắt hay sa thải
trong số 178.000 vị đang tại chức. Về phương diện chiến lược,
việc thanh trừng trong quân đội là một điểm bất lợi cho Hồng quân
trong các cuộc chiến đương đầu với Ba Lan và quân Đức quốc xă
trong năm 1940. Hai lănh tụ Boukharine và Litvinov khuyến cáo Staline về nguy cơ của
quân Đức quốc xă dưới quyền lănh đạo của Hitler, nhưng Staline không
lưu tâm. Việc thanh trừng các Tướng lănh mạnh miệng lên tiếng chống lại
ư kiến của Staline, để thay bằng các đảng viên không có kinh nghiệm nào
với Staline, đă tạo cơ hội cho Staline tự ư định đoạt về các
chính sách chính trị và quân sự thân thiện với Đức vào cuối thập niên 30. Có
rất nhiều tài liệu về nạn nhân thuộc thành phần trí thức. Từ khi thành
h́nh một bộ phận được thừa nhận trong xă hội , lực lượng
trí thức Nga từ giữa thế kỷ thứ 19 đă chính thức được coi là
trung tâm chống lại chuyên quyền và các h́nh thức nô lệ tư tưởng. Cho nên khi
có cuộc thanh trừng, th́ trí thức là đối tượng chính cần phải đàn
áp. Lúc ban đầu, các cuộc đàn áp c̣n ôn ḥa, diễn ra từ năm 1922 đến các
năm 1928-1931. Vào tháng 3 và tháng 4 năm 1937, báo chí mở chiến dịch lên án nhà nước
về những điều sai lầm trong chính sách kinh tế, lịch sử và văn chương.
Về lịch sử, sử gia Pokrovski đă chết vào năm 1932. Các môn đệ của
ông đều bị bắt giam. Tư tưởng và tri thức sáng tạo phải làm
theo chỉ thị. Mục đích của ư thức hệ chính trị đă bao che các tham vọng
và sự tranh đua. Các vị giáo sư đại học thường hội thảo nhằm
lôi kéo tầng lớp sinh viên, trở thành mục tiêu của các cuộc đàn áp. Chỉ cần
một sơ hở nhỏ trong khi thảo luận, đủ cho một số sinh viên chỉ
điểm được gài trong tập thể sinh viên, tố cáo các vị giáo sư
này. Một số lớn giáo sư của các viện đại học, thành viên của các
hàn lâm viện hay của các học viện đều bị sát hại. Tại Biélorussie,
trong số 105 vị hàn lâm, có 78 vị bị hành quyết v́ bị tố cáo là làm gián điệp
cho Ba Lan. Từ năm 1933, chiến dịch đàn áp '' các phần tử quốc gia trưởng
giả''- cái tên do chính quyền cộng sản gán cho tầng lớp trí thức- thực sự
phát động nhắm vào hàng ngũ trí thức vùng Ukraine. Những người trí thức
bị gán cho cái tội phá hoại các hàn lâm viện Khoa học, học viện Chevtchenko, hàn
lâm viện canh nông, học viện Mat-Lenin. Và biến các nơi này thành các sào huyệt của
những người phản cách mạng. Và những năm 1937-1938 là những năm kết
thúc cuộc thanh trừng đă phát động từ 4 năm trước. Từ xưa,
giới Khoa học đă có liên hệ mật thiết với chính trị, kinh tế, quốc
pḥng và kinh tế. Chính quyền luôn luôn theo doĩ và đàn áp các giới này. Thí dụ như
kỹ sư hàng không Tupolev và khoa học gia Korolev, người lănh đạo chương
tŕnh không gian của Liên Xô bị bắt giam trong trại tập trung đặc biệt
của cơ quan t́nh báo NKVD theo như nhà văn Soljenitsyne viết trong tác phẩm '' Ṿng
đầu''. Trong số 29 nhà thiên văn học phục vụ trong trung tâm nghiên cứu vũ
trụ lớn ở Polkouvo, chính quyền bắt giam 27 người. Toàn thể nhân viên của
Trung tâm thống kê trung ương sau khi làm xong bản thống kê trong năm 1937 , đều
bị bắt nhốt. Nhà nước viện lư do, trung tâm thống kê đă vi phạm nguyên
tắc căn bản sơ khai của môn khoa học thống kê và đă làm sai chỉ thị
của nhà nước. Nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học chống lại lư thuyết
của nhà ngôn ngữ Maxit được Staline thừa nhận là ông Marr, cũng bị bắt
giam. Nhiều nhà sinh vật học tốt nghiệp và thành công trong nhiều lănh vực nghiên
cứu sinh học đă vạch trần lư thuyết lừa bịp của nhà sinh vật
học chính thức của chế độ cộng sản Lyssenko, cũng bị bắt.
Theo ông Lyssenko, lúa ḿ cũng có thể trồng được trong mùa Đông. Trong số nạn
nhân này, có nhà sinh vật học lừng danh là Giáo sư Levit, giám đốc viện nghiên cứu
Y khoa Di Truyền Học, Giáo sư Toulaikov , giám đốc viện nghiên cứu Thảo
Mộc, Giáo sư Ianata thuộc viện nghiên cứu Thực vật và là thành viên của
hàn lâm viện nông nghiệp Lenine, bị bắt giam ngày 6 tháng 8 năm 1940 và chết trong tù ngày
26 tháng giêng 1943. Bị kết án bởi cái tội đă bảo vệ những tư tưởng
ngoại lai, thù địch và muốn tách rời ra khỏi tiêu chuẩn thực tế của
Xă hội chủ nghĩa, các nhà văn, các nhà diễn kịch, các nhà báo đă trả một
gía quá đắc trong thời điểm Iejovchina. Có chừng 2000 nhà văn bị bắt
giam mặc dù họ đă gia nhập vào hội văn bút của nhà nước. Một số
bị xử tử, số khác bị đưa đi lao động khổ sai. Trong số
các nhà văn bị bắt, có vị đă cho ra đời một số tác phẩm văn
chương lớn. Văn sĩ Issak Babel, tác gỉa của hai tác phẩm '' Câu chuyện ở
Odessa'' và '' Đoàn kỵ binh đỏ'', bị xử bắn ngày 27 tháng giêng năm 1940.
Các nhà văn Boris Pilniak, Iouri Olecha, Panteleimon Romanov và các thi hào Nikolai Kliounev, Nikolai Zabolotski,
Ossip Mendelstam chết trong trại chuyển tiếp ở Siberie ngày 26 tháng chạp năm 1938,
Gourgen Maari, Titsian Tabidze. Các nhà viết nhạc Jeleiev, nhạc trưởng Mikoladze cũng bị
bắt cùng với các nhạc sĩ , nghệ sĩ sân khấu và nhà đạo diễn
Vsevolod Meyerhold. Đầu năm 1938, chính quyền ra lịnh đóng cửa nhà hát lớn
Meyerhold, với lư do là nó xa lạ với nghệ thuật Xô Viết. Nhà đạo diễn
của nhà hát lớn không chịu tự kiểm thảo nên chính quyền bắt giam ông vào ngày
6 tháng 5 năm 1939. Sau một thời gian tra tấn, chính quyền cộng sản đem
ông ra bắn vào ngày 2 tháng 2 năm 1940. Trong thời gian kể trên, chính quyền muốn thanh
toán vĩnh viễn tàn dư của Giáo Hội. Bản thống kê năm 1937 cho thấy 70%
dân chúng vẫn c̣n giữ Đức Tin mặc dù chịu nhiều h́nh thức áp lực của
chính quyền. Trong cuộc phóng vẫn trong khi làm bản thống kê, khi được hỏi
'' Anh có đức tin không ? '', họ trả lời '' có''. Các nhà lănh đạo Xô
Viết quyết mở trận tấn công cuối cùng vào sào huyệt của Giáo Hội. Tháng
4 năm 1937, lănh tụ Malenkov gởi cho Staline một văn thơ với nội dung cho rằng
các luật lệ về hành đạo đă lỗi thời và đề nghị hủy bỏ
đạo luật kư ngày 28 tháng 4 năm 1929. Ông viết: '' Chiếu theo đạo luật
này, Giáo Hội cũng như các Giáo Phái khác được phép hành đạo. Giáo Hội có
trên 600.000 giáo dân. Đó là một lực lượng thù địch đáng kể đối
với chính quyền. Đă đến lúc chúng ta phải dứt khoát với Giáo Hội và các
vị chức sắc trong trong Giáo Hội cũng như trong các Giáo Phái khác. '' Hàng ngàn
Linh Mục, Giám mục bị bắt đưa vào các trại tập trung lao động khổ
sai. Một số bị hành quyết. Trong tổng số 20.000 giáo đường c̣n cho phép
hoạt động vào năm 1936, sang năm 1941, không c̣n quá 1000 nhà thờ hoạt động.
Có 5665 Giáo sĩ chính thức đăng kư hoạt động vào đầu năm 1941. Phần
lớn họ sinh hoạt trong các vùng Balte, Ba Lan, Ukraine và Moldavie , sát nhập vào Liên Bang Xô Viết
năm 1939-1940. Đó là những người c̣n sống sót trên tổng số 24000 Giáo sĩ
vào năm 1936. Như đă đề cập ở trên, cuộc đại khủng bố
là do các lănh tụ cộng sản Nga mà nhất là do Staline chủ trương và thi hành. Staline
thống trị trên các đồng chí của ông trong Bộ Chính Trị. Ông ta đạt được
hai mục tiêu chính. Quan trọng nhất là ông đă thiết lập được một
guồng máy hành chánh và quân sự dưới quyền kiểm soát của ông. Ông đưa lực
lượng thanh niên trẻ vào đảm nhận các chức vụ trong các cơ quan .
Họ là những thanh niên trẻ, đă chịu ảnh hưởng của Staline trong những
năm 30. Theo lời khai của ông Kaganovitch trước đại hội đảng lần
thứ 18 , lớp thanh niên trẻ nhận lănh và thi hành bất cứ công tác nào cuả Staline
giao phó cho họ. Trước đây, nhân viên phục vụ tại các cơ quan nhà nước
là một thành phần hỗn hợp giữa cán bộ Bônsêvich và các chuyên viên trí thức tiểu
tư sản được đào tạo từ chế độ cũ. Thường, khả
năng của cán bộ Bônsêvich kém hơn v́ họ không được đào đạo đúng
đắn trong thời nội chiến. Nhưng họ quyết tâm bảo vệ thành quả
cách mạng và công ăn việc làm hiện nay của họ. Phương pháp làm việc hành
chánh của họ rất đơn giản . Họ làm việc tự trị, không thi hành các
lịnh của Trung Ương đưa ra. Dưới con mắt của Staline, họ là những
người Bônsêvich thoái hóa. Trong cuộc kiểm tra thẻ đảng viên năm 1935,
các nhân viên kiểm tra gặp phải sự kháng cự thụ động của các cán bộ
địa phương và sự bất hợp tác của các chuyên viên, đă dẫn đến
một kết quả không tốt cho cuộc kiểm tra toàn quốc trong tháng giêng năm
1937. Điều này không phù hợp với nguyện vọng của Staline. V́ thế Staline ra
lịnh khẩn cấp thay thế bằng những nhân viên ''dễ dạy hơn'' để
có thể đạt nhiều hiệu năng trong các công tác. Mục tiêu thứ hai của
cuộc đại khủng bố là hoàn thành một cách lũy tiến trong công tác loại
bỏ các thành phần'' nguy hiểm cho với xă hội'', một cụm từ mang ư nghĩa
rộng lớn. Theo Bộ h́nh luật, thành phần nguy hiểm cho xă hội bao gồm
những ai có một hành động gây nguy hại cho xă hội dù trong quá khứ hay đang
xảy ra. Kể cả những người có liên hệ với các thành phần gây nguy hiểm.
Nếu áp dụng các điều trong bộ H́nh luật, th́ các cựu địa chủ, cựu
quân, cán, chính thời Nga Hoàng, cựu đảng viên đảng Mensêvich, đảng xă hội
cách mạng,...đều là những người có tội. Và theo Staline, các thành phần này
cần phải được thanh toán. Theo lư thuyết của Staline đưa ra trong kỳ
đại hội Ủy ban trung Ương tháng 2 và 3 năm 1937, càng tiến lên xă hội
chủ nghĩa, th́ cuộc đấu tranh với giai cấp đang hấp hối, càng gay
gắt hơn. Và cũng trong kỳ đại hội này, Staline báo động: Cộng
Ḥa Liêng bang Xô Viết đang bị chủ nghĩa tư bản bao vây. Liên Xô là quốc gia
duy nhất đang xây dựng Xă hội chủ nghĩa, và đang bị các quốc gia lân cận
bao vây. Các nước Phần Lan, Ba Lan, Lỗ Ma Ni, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản đang
được các nước tư ban Pháp, Anh trợ giúp để phá hoại sự nghiệp
xây dựng xă hội chủ nghĩa của Liên Xô. Liên Xô , được '' thánh phong'', đi
hàng đầu, lănh sứ mạng thiêng liêng chống lại kẻ thù đang túc trực ở
bên ngoài. Trong t́nh trạng này, công tác thường xuyên phải truy lùng t́m bắt các tên gián điệp.
Nói một cách khác, bất cứ người nào có liên hệ với bên ngoài, dù rất
ít cũng phải bị kết tội và phải bị thủ tiêu. V́ vậy '' thủ tiêu
kẻ thù có thế lực'' là huyền thoại của đạo quân thứ năm ,
là lư thuyết cơ bản cho tất cả các hành động của cuộc đại khủng
bố. Qua việc phân tích và phân loại các nạn nhân của cuộc Đại Khủnh
Bố, trong đó bao gồm cán bộ, chuyên viên, thành phần nguy hiểm cho xă hội,
cựu địa chủ, gián điệp,.. chúng ta đă thấu hiểu tường tận
'' cực điểm'' của cuộc hành quyết với gần 700.000 nạn nhân trong ṿng
hai năm.
Back to TOP
|