|
Không phải chỉ có những người nông dân ở miền quê mới là nạn nhân
phải cống hiến quá nhiều cho cuộc cách mạng rộng lớn thay đổi từ
cội nguồn của xă hội. Các thành phần khác của xă hội cũng bị xếp
vào những thành phần ''xa lạ đối với tân xă hội chủ nghiă''
Những người này bị loại ra khỏi
sinh hoạt xă hội. Họ bị tước quyền công dân; Họ bị đuỗi ra
khỏi sở làm; Họ bị đuỗi ra khỏi căn nhà họ đang cư ngụ;
Họ bị hạ thấp trong các bật thang của xă hội; Họ bị lưu đày.
Đó là những thành phần trung lưu, trưởng gỉa, chuyên viên, trí thức, các ngành
nghề tự do, thương gia, những vị lănh đạo tinh thần. Họ là nạn
nhân của cuộc cách mạng chống tư bản, được phát động từ
năm 1930. Tất cả những ai sống trong thành phố không thuộc thành phần vô sản,
không phải là công nhân thợ thuyền hay không phải là những người đóng góp vào
công cuộc xây dựng xă hội chủ nghĩa đều là những đối tượng
phải chịu những biện pháp đàn áp. Họ bị cưỡng bách phải theo con
đường xă hội chủ nghĩa, đúng như triết lư chính trị của nó là
phải đi xuống để đi trở lại con đường tiến bộ. Bản
án của một trí thức tên Chakkty đă kết thúc cuộc hưu chiến giữa nhà cầm
quyền và những thành phần có học. Nó khởi đầu cho kế hoạch ngũ niên.
Bài học chính trị rút ra từ bản án của Chakkty là : Nghi ngờ, lưỡng lự
, thờ ơ với công cuộc cải cách do đảng chủ trương là những yếu
tố phá hoại chính sách của đảng. Chưa dứt khoát tư tưởng là đồng
nghĩa với phản bội.
Những người Bôsêvich học nằm ḷng câu ''chuyên
gia là những kẻ phá hoại''. Bản án Chakkty đă đươc tất cả những
người Bônsêvích học tập. Chuyên gia trở thành những con vật tế thần
cho những thất bại trong chính sách kinh tế của nhà nước. V́ nhà nước
tịch thu tất cả công cụ và phương tiện sản xuất cho nên mức sản
xuất xuống rất thấp. Từ đó cuộc sống hằng ngày trở nên khó khăn
hơn. Cuối năm 1928, tất cả chuyên viên kỹ thuật của các nhà máy, hăng xưởng
, công ty sản xuất đều bị sa thải, bởi v́ họ bị ghép vào gíơi trung
lưu, trưởng gỉa. Họ bị cắt phiếu tiếp tế thực phẩm,
phiếu y tế sức khỏe và c̣n bị đuổi ra khỏi nhà của họ. Năm
1929, hàng ngàn nhân viên, công chức thuộc các cơ quan Kế hoạch trung ương, Bộ
thương mại, cơ quan cố vấn tối cao kinh tế, Bộ tài chánh, Bộ canh
nông bị sa thải . Họ bị kết tội là có tư tưởng hữu khuynh, phá họai
hay thuộc thành phần xa lạ với xă hội chủ nghĩa. Trên thực tế, trong
số nhân viên này có đến 80% là những người của chế độ cũ. Từ
mùa hè năm 1930 , chiến dịch bài trừ các thành phần trung lưu trưởng giả
bắt đầu thi hành triệt để tại các cơ quan hành chánh. Staline cũng
như Thủ tướng chính phủ là lănh tụ Bônsêvích Rykov muốn dứt khóat với
các thành phần hữu khuynh. Dưới con mắt của Staline họ là những thành phần
phá hoại. Trong tháng 8 và tháng 9, cơ quan chính trị công an cho bắt những chuyên
viên có tên tuổi, đang đảm nhận các chức vụ quan trọng trong các bộ, các
sở , uỷ ban của nhà nước. Trong số người bị bắt có Giáo sư
Krondratiev, cựu Bộ trưởng đặt trách tiếp tế trong giai đoạn lâm
thời hồi năm 1917. Ông đă từng là trưởng ban điều hợp Ủy
ban nhân dân của bộ tài chánh. Các nhà kinh tế học trên thế giới biết ông qua lư
thuyết Chu kỳ phát triển kinh tế Krondratiev. Các Giáo sư Makarov, Tchaianov giữ
các chức vụ quan trọng trong bộ canh nông, Giáo sư Sadyzine làm việc trong ban giám đốc
ngân hàng , Giáo sư Ramzine, Groman là những chuyên gia của ngành thống kê thuộc
ban kế hoạch trung ương và một số chuyên viên lỗi lạc khác. Nhận lệnh
của Staline, cơ quan an ninh chính trị tiến hành thiết lập hồ sơ cá nhân của
từng chuyên gia trung lưu, trưởng gỉa này. Hồ sơ nêu lên các chứng cớ về
các tội móc nối các hoạt động có hệ thống nhằm lật đổ chính
quyền Xô viết của Đảng nông dân lao động do Kondratiev lănh đạo và
Đảng Kỹ thuật của Giaó sư Ramzine. Họ bắt những người
này phải kư tên trong các tờ khai là họ có liên hệ với các lănh tụ Bônsêvích Rykov, Syrtsov
và Boukhazine. Họ bi bắt buộc phải khai là có tham dự vào tổ chức Nhóm lưu
vong chống Xô viết và có làm việc cho các cơ quan t́nh báo khác nhằm hạ bệ
Staline và huỷ bỏ chính quyền Xô Viết. Nhóm an ninh chính trị c̣n bắt một
huấn luyện viên cuả trường tham mưu thuộc Viện đại học quân
sự, bắt ông ta phải khai báo là ông ta có liên hệ với Thống chế Tham mưu
trưởng Hồng quân Mikhail Toukhatchevski trong một âm mưu chống Staline. Thời kỳ
này xuất hiện không biết bao nhiêu kỹ thuật chụp mũ của các toán khủng
bố nhằm lùng bắt những người cộng sản có âm mưu chống lại
Staline. Đến năm 1930 th́ chiến dịch loại trừ các phần tử phá hoại
coi như hoàn tất. Mục đích của Staline là chận đứng những người
ở trong đảng có tư tưởng chống lại chính sách của Staline và đe dọa
những phần tử lưng chừng . Tờ báo Sự Thật, số ra
ngày 22 tháng 9 năm 1930 cho đăng bản tự khai của 42 nhân viên công chức phục
vụ tại ủy ban nhân dân Bộ tài chánh và Bộ Thương mại. Họ tự nhận
là đă gây khó khăn trong công tác tiếp tế của nhà nước và đă biển thủ
các đồng tiền Rúp . Vài ngày trước đó, Staline có gởi cho Molotov một
văn thư với các chỉ thị về vấn đề này. Trong thư Staline cho biết
phải loại trừ những người cộng sản c̣n nghi ngờ trong các bộ tài
chánh, ngân hàng trung ương, hay những người cộng sản phát biểu không tốt
như Piatakov Brioukhanov. Cho xử bắn vài chục người đă xâm nhập vào các cơ
quan này. Staline chỉ thị cho cơ quan an ninh chính trị dùng vỏ lực thu hồi các đồng
Rúp c̣n đang lưu hành. Ngày 25 tháng 9, tất cả 42 người tự khai bị hành quyết. Những
tháng sau đó, các vụ xử án và hành quyết do lối dàn cảnh tự khai như trên xảy
ra liên tục. Có nhiều vụ phải xử kín. Như vụ án các chuyên viên làm việc
trong Hội đồng tối cao kinh tế nhà nước hay vụ Đảng
nông dân. Vụ án Đảng kỹ thuật xử công khai.Trong vụ này có 8 chuyên gia
tự khai là có liên hệ với một tổ chức có trên 2000 chuyên viên tham dự. Họ
tự nhận có nhận chỉ thị của các ṭa Đại sứ ngoại quốc làm
xáo trộn nền kinh tế Xô Viết. Các vụ án này đă tạo nên cái huyền thoại
về âm mưu và phá hoại . Nó là nền tản cho ư thức hệ chính trị của
Staline. Trong ṿng 4 năm, kể từ năm 1928 đến 1931 đă có tất cả
130.000 nhân viên công chức bị sa thải ra khỏi các cơ sở chính quyền. Trong số
này có 23.000 người bị kết án là kẻ thù cuả chế độ. Họ bị
tước quyền công dân. Tại các xí nghiệp, công việc lùng bắt các chuyên viên diễn
ra gay gắt. V́ thiếu chuyên viên nên số nhân công c̣n lại phải gia tăng giờ
làm việc, làm cho nhanh . Đó là nguyên nhân sinh ra tai nạn trong lao động, hàng hoá không đạt
chất lượng và làm hư hao máy móc. Từ tháng giêng năm 1930 đến tháng 6 năm
1931 có đến 48% chuyên viên, kỹ sư làm việc tại trung tâm mơ than Donbass bị bắt
giam. Nửa năm đầu đă có 4500 phần tử phá hoại thuộc bộ
phận chuyển vận bị phát giác . Chính sách lùng bắt chuyên viên, thiếu kế hoạch
làm việc, không am tường về các định luật kinh tế là những nguyên do chính
đă đưa mức sản xuất của các xí nghiệp bị phá hoại lâu dài. Đứng
trước sự khủng hoảng trầm trọng của chính sách kinh tế đang áp dụng,
chính quyền Xô Viết đă phải chấp nhận sửa sai . Ngày 10 tháng 7 năm
1931 , Bộ chính trị ban ra nhiều biện pháp để hạn chế các lạm quyền
đă xảy ra từ năm 1928 mà nạn nhân là các người Spetzy. Bộ chính trị ra
lịnh cho phóng thích hàng ngàn kỹ sư và chuyên viên; Ưu tiên cho các ngành hầm mơ
và luyện kim. Băi bỏ nghị quyết cấm con cái của thành phần chuyên viên này vào các
ngành đại học. Cấm các cơ quan công an bắt bớ những người này nếu
không có lịnh của ủy ban nhân dân phụ trách ngành. Điều đó đă nói lên mức
độ trầm trọng về sự kỳ thị và sự đàn áp của nhà nước
kể từ vụ án Chakty. Đă có hàng chục ngàn kỹ sư chuyên môn của các ngành nghề
bị đối xử tàn tệ. Thành viên của các giáo hội cũng bị gạt ra
khỏi các sinh hoạt cuả Tân xă hội- xă hội chủ nghĩa. Trong năm 1918 và năm
1922 nhà nước cộng sản mở các cuộc tấn công vào các chủng viện lùng bắt
những người tu hành. Đợt lùng bắt rộng lớn nhất xảy ra vào
hai năm 1929-1930. Năm 1920 , mặc dù có rất nhiều tu sĩ phản đối,
Gíao chủ Serge- người thừa kế Gíao Tộc Trưởng Tikhon- đă kêu
gọi các Giáo sĩ cũng như giáo dân hăy trung thành với nhà nước. V́ thế Giáo Hội
Chính Thống vẫn c̣n có ảnh hưởng lớn đối với chánh quyền. Tính
đến năm 1914 nước Nga có 54.692 nhà thờ. Đến năm 1929 chỉ c̣n
lại 39.000 nhà thờ mở cửa đón nhận giáo dân đến cầu nguyện và hành
lễ. Ông Emelian Iaraoslavski đứng ra thành lập Mặt trận vô thần
hồi năm 1925. Đă có trên 10 triệu người trên tổng số dân số 130 triệu
của nước Nga thời bấy ǵơ ra khỏi giáo hội. Chiến dịch đàn
áp tôn giáo trong hai năm 1929-1930 được chia ra làm hai giai đoạn . Giai đoạn
đầu phát động vào mùa xuân và mùa hè năm 1929 bằng cách tái thi hành nghị quyết
không tôn giáo của các năm 1918 và 1922. Như vậy, tất cả các hoạt động
của Giáo hội vượt mức yêu cầu, sẽ bị hành xử theo điều
10 khỏan 58 của bộ h́nh luật. Ngày 4 tháng 4 năm 1929 nhà nước cho ban hành một
đạo luật đặc biệt , theo đó ủy ban nhân dân địa phương sẽ
quản lư các cơ sở của Gíao hội. Nếu dùng các sinh hoạt của Giáo hội
để tuyên truyền chống chính quyền sẽ bị trừng phạt ít nhất là 3
năm tù cho đến kết án tử h́nh. Ngày 26 tháng 8 năm 1929, chính quyền ra lịnh
trong một tuần lễ làm việc 5 ngày và nghỉ 2 ngày. Ngày chúa nhật được
coi như một ngày làm việc b́nh thường. Mục đích của những người
cộng sản là ngăn chận con chiên đi nhà thờ vào ngày chúa nhật. Đó là một
âm mưu tiêu diệt tôn giáo. Các đạo luật nói trên chỉ là một khởi đầu
của chiến dịch thứ hai tấn công và bài trừ tôn giáo. Đến tháng 10 năm
1929 nhà nước cộng sản ra lịnh tịch thu các cái chuông của nhà thờ với
lư do là v́ cái chuông gây ồn ào, phá rối sự yên tĩnh của đại đa số quần
chúng ở nông thôn. Tu sĩ và các vị linh mục được xếp vào thành phần xa
lạ với xă hội chủ nghĩa. Họ phải đóng thuế rất nhiều.
Giá thuế tăng lên gấp 10 lần từ năm 1928 đến năm 1929. Họ bị
tước quyền công dân. Tất nhiên họ không được cấp thẻ tiếp tế
lương thực cũng như không được hưởng quy chế sức khỏe.
Hầu hết các tu sĩ bị bắt và đưa đi lưu đày. Theo các bản thống
kê chưa hoàn tất, có 13.000 tu sĩ bị bắt giam trong năm 1930. Tại các làng nhỏ
ở nông thôn hẻo lánh, khi tiến hành chiến dịch tập thể hoá, chính quyền đóng
tất cả các nhà thờ. Linh mục, tu sĩ cũng cùng chịu chung số phận như
những người nông dân khi chính quyền giải thể chế độ điền chủ.
Chiến dịch bài trừ tôn giáo đạt đến cao điểm vào mùa Đông năm
1929-1930. Tính đến ngày 1 tháng 3 năm 1930 có tất cả 6715 giáo đường bị
đóng cửa hoặc bị phá hủy. Các cơ quan chính quyền địa phương
tiếp tục đá kích trong công tác bài trừ và tiêu diệt tôn giáo. Họ đưa ra
những lư do bịa đặt để đóng cửa các giáo đường : các giáo đường
thiếu điều kiện vệ sinh; không tu bổ dễ gây đổ nát, gây thương
tích cho giáo dân; không đóng bảo hiểm; không đóng thuế; đóng thuế chưa đủ.
Các tu sĩ bi tước quyền công dân, không được đi làm trả lương cho
nên các tu sĩ này bị ghép vào tội ăn bám vào xă hội. Một số tu sĩ không thể
chịu đựng được nữa nên bỏ đi lan thang, sống ngoài ṿng pháp luật
cộng sản. Từ đó phát sinh một phong trào tôn giáo dưới sự lănh đạo
của Giáo chủ Serge chống lại chính quyền cộng sản tại hai tỉnh Voronej
và Tambov. Tại hai tỉnh này đă xảy ra nhiều vụ chống chính quyền hơn những
tỉnh khác. Tại tỉnh Voronej, giám mục Alexei Boui bị bắt giam v́ ông ta không chịu
nhượng bộ trong các cuộc dàn xếp giữa Giáo hội và chính quyền. Tín đồ
của ông đứng ra thành lập một Giáo hội tự trị, một giáo hội
Chính Thống đúng với ư nghĩa của nó. Có cả hàng Giáo Phẩm, được thụ
phong ở ng̣ai khuông viên nhà thờ của Giáo chủ Serge. Giáo hội này không có khu vực hành
đạo riêng. Họ làm lễ bất cứ ở nơi nào họ thấy thuận lợi.
Từ trong nhà tù cho đến trong các hang đá. Tín đồ của Giáo hội này tự nhận
họ là tín đồ chân chính của Giáo Hội Chính Thống Giáo. Họ bị chính quyền
cộng sản ngược đăi. Hàng chục ngàn tín đồ bị bắt và bị đưa
đi lưu đày, đi khẫn hoang ở những vùng xa xôi hẻo lánh, bị đưa
đi lao động khổ sai. V́ bị chính quyền liên tục đàn áp cho nên con số
thánh đường cũng như con chiên mỗi lúc một ít dần. Tính đến ngày 1
tháng 4 năm 1936 trên ṭan nước Nga chỉ có 15.835 giáo đường c̣n hoạt động.
Con số này chỉ bằng 28% con số giáo đường có trước cách mạng năm
1917. Về phía Hồi Giáo chỉ có 4830 giao đường mở cửa, tức là chỉ
bằng 32% trước năm 1917. Trong năm 1914, tổng số nhân viên phục vụ cho
Giáo hội là 112.629 người. Đến năm 1928 chỉ c̣n lại 70.000 người.
Qua năm 1932 con số người ghi danh phục vụ chỉ c̣n 17.857. Với con số
này, chính quyền cho rằng Giáo Hội đang ở trong giai đoạn hấp hối.
Theo bản kiểm kê năm 1937, chỉ c̣n có 70% của tín đồ nói rằng họ c̣n
đức tin. Tháng giêng năm 1930, chính quyền cộng sản
lại mở chiến dịch tước đoạt tài sản của thành phần tư
doanh. Họ nhắm vào các thương gia , các tiểu thương, các người làm thủ
công nghệ và các ngành nghề tự do khác. Có tới hơn một triệu rưởi người
đang hành nghề dưới các điều luật do Lenine chỉ định. Họ
làm các công việc rất khiêm tốn. Vốn luyến của họ không quá 1000 Rúp.
98% số người này là họ tự làm lấy. Họ không mướn nhân công. Dưới
chính quyền của Staline, những người bị buộc tội là những phần
tử giàu có, ăn bám xă hội, những thành phần xa lạ với xă hội chủ nghĩa.
Họ bị tước đoạt quỳên công dân. Họ bị coi là giai cấp trung lưu
của bộ máy kinh tế thời Nga Hoàng. Ngày 12 tháng chạp năm 1930, cộng sản
chia những người bị tước đoạt quyền công dân ra làm 30 loại : Cưụ
địa chủ, Cưụ công chức Nga Hoàng, Cưụ điền chủ, Cưụ
thương gia, Cưụ qúy tộc, Cựu tư bản, Cưụ sĩ quan bạch quân,
những người phục vụ tôn giáo, tu sĩ, cưụ đảng viên các đảng
phái chính trị,v.v.v.. Con số nạn nhân này kể cả gia đ́nh của họ lên đến
7 triệu người. Cũng như nạn nhân của các trường hợp khác, họ
không được quyền đi bầu; Họ không có thẻ tiếp tế lương
thực; Họ không được cấp phiếu khám sức khỏe; Họ bị đuổi
ra khỏi thành phố ; Họ bị coi là những người sống ngoài xă hội. Chính
sách cưỡng bách tập thể hoá nông nghiệp đă làm xáo trộn toàn cuộc sống
ở nông thôn. Đồng thời chính sách phát triển nền công nghệ ở các thành phố
đă là động cơ thúc đẫy những người sống ở nông thôn đang
gặp khó khăn trong cuộc sống, bỏ quê làng chạy về thành phố. Nước
Nga với đa số dân chúng sống bằng nghề nông nay bỏ chạy về thành phố
trở thành những lớp người lan thang . Từ cuối năm 1928 đến cuối
năm 1932, các thành phố Nga bị tràn ngập. Có đến 12 triệu người. Họ
chaỵ trốn chính sách giải thể điền chủ và chính sách cưỡng bách
tập thể hoá nông nghiệp đang được thi hành ráo riết ở nông thôn. Riêng
tại hai thành phố Mạc Tư Khoa và thành phố Lenine đă ghi nhận có 3 triệu rưỡi
người di cư. Trong số những người nông dân di cư này có những người
có đầu óc kinh doanh. Họ tự giải thể h́nh thức điền chủ, đồng
thời từ chối tham gia vào hợp tác xă nông nghiệp. Các năm 1930-1931 là những năm
có nhiều nhà máy mọc lên đă thu hút họ vào làm trong các hăng xưởng. Họ được
thu nhận vào làm v́ họ là những người ít đ̣i hỏi quyền lợi. Đền
năm 1932, chính quyền cộng sản lo sợ t́nh trạng hỗn loạn có thể xảy
ra v́ số người tràn về thành phố mỗi lúc một đông. Nó có thể làm đăo
lộn chính sách tiếp tế lương thực cho các thành phố mà chính quyền đă mất
bao công sức để thiết lập từ năm 1929. Vào đầu năm 1930, có tất cả 26 triệu người được
cấp phát thẻ mua nhu yếu phẩm, tức là thẻ tiếp tế lương thực.
Cuối năm 1932 con số này gia tăng lên đến 40 triệu. Công xưởng,
xí nghiệp trở thành trung tâm định cư cho dân tản cư. Phải chăng
những người di cư từ miền quê đến, đă gây nên các tệ nạn của
xă hội như chính quyền gán ép ? Họ gây tại hại lâu dài cho công việc sản xuất
? Họ bỏ việc làm? Họ phá vỡ kỹ luật làm việc trong nhà máy ? Họ
sinh ra nạn du đảng ? nạn nghiện rượu và gây ra tội ác..? Hai tháng cuối
năm 1932, chính phủ đưa ra các biện pháp trừng phạt và đàn áp những người
lao động. Các xí nghiệp đuổi tất cả các phần tử bị xếp vào
loại xa lạ với xă hội chủ nghĩa ra khỏi thành phố. Đạo
luật ban hành ngày 15 tháng 11 năm 1932 quy định bất kỳ công nhân nào vắng mặt
tại sở làm sẽ cho nghỉ việc. Thẻ tiếp tế lương thực
bị thu hồi; Họ bị đuổi ra khỏi nơi họ đang ở. Mục đích
của đạo luật này là nhận diện những người mạo danh là thợ. Tiếp
sau đó, ngày 4 tháng 12 một đạo luật khác ra đời cho phép các xí nghiệp
cấp thẻ tiếp tế lương thực với chủ đích thanh lọc công
tác tiếp tế đối với những người không làm mà cũng có ăn. Họ
gọi những người này là nhân công ma, nhân công có tên trên danh sách mà không có mặt trong lúc
lao động. Ngày 27 tháng 12, chính quyền áp dụng biện pháp gắt gao hơn nhằm
thanh toán những phần tử ăn bám, hạn chế con số người bỏ thôn quê
về thành phố và để bảo vệ sự trong sạch cuả thành phố. Họ
áp dụng kế hoạch cấp phát giấy thông hành nôi bộ. Phần mở đầu của
đạo luật mới này ghi rơ các điều kiện cần thiết để được
cấp giấy thông hành nội bộ. Tất cả các người dân trong thành phố tuổi
từ 16 trở lên không mất quyền công dân, công nhân viên hỏa xa, các công nhân viên thường
trực tại các công trường xây dựng, công nhân viên phụ trách tại các nông trường
nhà nước sẽ được sở công an cấp giấy thông hành nội bộ. Giấy
chỉ có gía trị khi có con dấu xác nhận của công an . Với con dấu của công
an, người có thẻ thông hành nội bộ được hưởng một số quyền
lợi. Họ được cấp thẻ tiếp tế lương thực; Họ được
hưởng quy chế an sinh xă hội. Họ có quyền xin một chỗ cư ngụ. Chính
quyền chia các thành phố ra làm hai loại : Thành phố mở cửa và thành phố đóng
cửa. Các thành phố đóng cửa la các thành phố Mạc tư Khoa, Lenine, Kiev, Odessa, Minsk,
Kharkov, Rostov nằm trên sông Don, Vladivostok. Muốn được định cư và muốn
được thẻ thông hành nội bộ ở các thành phố này, người dân phải
có gốc cha mẹ ở lâu năm, lập gia đ́nh hay có công việc làm trong cơ quan nhà
nước. Tại các thành phố '' mở '' , điều kiện xin cấp giấy thông
hành dễ dăi hơn. Chiến dịch cấp phát giấy thông hành nội địa kéo dài
suốt năm 1933. Nhà nước đă cấp 27 triệu giấy thông hành. Với biện
pháp này, nhà nước cộng sản đă loại được một số người
thuộc thành phần bất hảo. Trong tuần lễ đầu, bắt đầu từ
ngày 5 tháng giêng năm 1933 , chính quyền đă nhận diện ra 3450 người thuộc cựu
Bạch quân, cựu điền chủ, hoặc các phần tử đă có án, đang làm việc
tại 20 xí nghiệp lớn. Tại các thành phố thuộc loại '' đóng cửa '', có
385.000 người không được cấp giấy thông hành. Họ bị cưỡng bách
rời khỏi thành phố trong ṿng 10 ngày. Họ không có quyền sinh sống ở thành phố
kể cả các thành phố mở cửa. Trong bản phúc tŕnh của nhân viên cơ quan an
ninh chính trị gởi về Trung ương đề ngày 13 tháng 8 năm 1934 ghi những điều
như sau : Khi loan báo thi hành cấp giấy thông hành đă có nhiều người tự
ư rời khỏi thành phố v́ họ biết rằng họ không đủ điều kiện
để được cấp phát. Có 35.000 rời khỏi thành phố Magnitogorsk. Tại
Mạc Tư Khoa, hai tháng đầu cấp phát giấy thông hành, dân số giảm 60.000 người.
Thành phố Leningrad tháng đầu tiên có 54.000 ra đi. Tại các thành phố mở cửa,
chúng tôi đă trục xuất 420.000 người. Các cuộc kiểm soát và bố ráp của
công an đă bắt đưa đi đày hàng trăm ngàn người. Tháng 12 năm 1933,
chỉ huy trưởng cơ quan an ninh chính trị Genzikh Iagoda ra lịnh cho các thuộc
viên mỗi tuần phải quét sạch các nhà ga và các chợ trời cuả các thành phố
đóng cửa. Trong ṿng 8 tháng đầu của năm 1934 có tất cả 630.000 bị
bắt tại các thành phố đóng cửa v́ lư do vi phạm quy chế giấy thông hành nội
bộ. Trong số này có 65.661 người bị bắt giam bằng biện pháp hành chánh. Họ
bị đưa đi lưu đày. Họ bị xếp vào hồ sơ '' những người
khai hoang đặc biệt ''. Có 3.596 người đưa ra ṭa án. 175.627 đưa đi
khai hoang b́nh thường. C̣n một số người khác may mắn được thả
ra sau khi nộp tiền phạt. Trong năm 1933 nhà nước mở rất nhiều
chiến dịch tấn công đặt biệt. Từ ngày 28 đến ngày 6 tháng 7
nhà nước cộng sản bắt 5470 người thuộc sắc dân Tsigane gốc ở
Mạc Tư Khoa đày ra vùng kinh tế mới Siberie. Từ 8 đến 12 tháng 7 có 4750
người gốc Kiev bị lưu đày. Trong tháng 4, tháng 6 và tháng 7 có 3 cuộc bố
ráp nhằm lùng bắt những người xa lạ với xă hội chủ nghĩa thuộc
hai thành phố Mạc tư Khoa và Leningrad. Tổng số người bắt trong 3 đợt
lên đến 18.000 người. Đợt đầu những người này bị đưa
ra ḥn đảo chết Nazino . Ngay trong tháng đầu có 2 phần 3 số người chết. Theo
báo cáo của một đảng viên trong ban huấn luyện đảng ở Nazym phúc
tŕnh t́nh trạng cuả những người này như sau : Thật là oan uổng cho những
người xấu số này. Họ là những công nhân viên, là đảng viên cộng sản.
Họ chết v́ không thể chịu đựng được các điều kiện sống
ở trên đảo này. Trường hợp điển h́nh của anh Novojlov Vladamir, người
gốc Mạc Tư Khoa. Anh là tài xế phục vụ tại cơ xưởng máy ép hơi.
Anh đă được tuyên dương 3 lần về thành tích phục vụ. Anh có vợ
và sanh được một con. Vợ chồng anh đang chuẩn bị đi xem hát. Anh
bước xuống nhà dưới và băng qua đường đến một quán nhỏ
ở gần nhà anh mua thuốc lá. Anh quên không mang theo giấy thông hành. Vừa đúng lúc ấy
có bố ráp ngoài đường. Anh bị bắt. Một trường hợp khác. Anh Vinogradova
công nhân của một hợp tác xă. Anh đi xe lửa đến thăm người anh đang
là chỉ huy trưởng của một tóan quân tự vệ thành. Khi vừa bước xuống
xe lửa, anh bị bắt v́ không đem theo giấy tờ chứng minh. Ở thành phố
Voikine, anh Nikolai Vassilievitch đảng viên cộng sản, phục vụ tại hăng dệt
Serpoukhov. Chiều chúa nhật anh đi xem đá banh. Anh bị bắt v́ không đem theo giấy
tuỳ thân. Anh I.M. Matveev, công nhân xây dựng cao ốc công trường sản xuất
bánh ḿ số 9. Anh được cấp phát giấy thông hành để đi làm việc ngoài
mùa sản xuất nông sản. Giấy có gía trị đến tháng 12 năm 1933. Khi bị bố
ráp, anh tŕnh giấy thông hành nhưng chẳng ai thèm đọc giấy của anh. Anh bi bắt
đưa đi lưu đày. Các cuộc hành quân để đuổi sạch ra khỏi
thành phố diễn ra nhiều lần và định kỳ, tại các cơ quan của nhà
nước cũng như tại các xí nghiệp. Tại cục hỏa xa, một bộ
phận thiết yếu cũng đă diễn ra các cuộc bố ráp do Andreiev và Kaganovitch chỉ
đạo. Mùa xuân 1933 đă có 8% nhân viên, khoảng 20.000 bị sa thải và bắt đi
lưu đày. Ngày 5 tháng giêng, một viên công an phụ trách ngành vận chuyển hỏa xa
gởi bản phúc tŕnh với nội dung : '' Để loại trừ các phần tử phản
cách mạng chống lại nhà nước cộng sản núp trong ngành hỏa xa, cơ quan
vận chuyển vùng số 8 đă mở các cuộc truy lùng. Kết quả , 700 người
bị bắt đưa ra ṭa án. Trong đó có 325 người ăn cắp các kiện hàng; 221
tên du đảng phá rối ; 27 tên ăn cướp; 127 tên phản cách mạng; 37 tên năm
trong các băng đảng ăn cướp có tổ chức. Những tên này bị bắn
ngay tại chỗ. Lần ráp bố cuối cùng đă bắt 300 người và cho
sa thải theo quy chế hành chánh. Trong 4 tháng cuối cùng đă có 1270 ngườI v́ lư do này hay
lư do khác đă bị loại ra khỏi cục hoả xa. Chúng tôi tiếp tục chiến dịch.'' Kể
từ khi nhà nước cho thi hành chính sách cưỡng bách tập thể hoá nông nghiệp và
giải thể điền chủ. Các mối tương quan giữa chính quyền với
nhân dân và giữa nhân dân với nhau trở nên ngột ngạt và căng thẳng. Thêm vào đó,
nạn đói đe dọa hằng ngày. Các tệ đoan xă hội gia tăng ở các thành
phố. Xă hội suy đồi. Ngày 7 tháng 4 năm 1934 văn pḥng Bộ chính trị ban hành
nghị quyết cho thi hành các biện pháp chống lại số đông thiếu niên phạm
pháp. Các tội như ăn cắp, đánh phá, huỷ hoại thân thể, thuộc vào tội
tiểu h́nh. Nếu giết người th́ đưa ra ṭa án đại h́nh.
Vài ngày sau, Bộ chính trị gởi tiếp các văn thư yêu cầu ṭa án phải
dùng các h́nh phạt nặng nề nhất tức là kết án tử h́nh để có thể
bảo vệ xă hội. Như vậy bộ h́nh luật trong đó có điều khoản
băi bỏ án tử h́nh kể như không c̣n gía trị nữa. Song song với các chị
thị trên, nhà nước ra lịnh cho cơ quan an ninh chính trị tổ chức các trung tâm
cải huấn thanh thiếu niên. Trước kia phần hành này thuộc trách nhiệm của
ủy ban nhân dân phụ trách bộ giáo dục. Một hệ thống các trại được
thành lập dưới danh nghĩa ''Trại lao động của vị thành niên ''. Nhưng
các h́nh thức trấn áp này chẳng ngăn chặn được tuổi trẻ. Nạn
du đảng, cướp phá cứ tiếp tục gia tăng. Một bản phúc tŕnh công tác
thanh toán nạn du đảng của thiếu niên kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1935 đến
ngày 1 tháng 10 năm 1937 đă nh́n nhận : Mặc dù đă thi hành chỉ thị tái
tổ chức các cơ quan tiếp nhận các trẻ em thuộc thành phần du đảng,
trộm cướp, lang thang, nhưng chẳng cải thiện được một bước
nào. Từ tháng 2 năm 1937 ở nông thôn nhận ra hiện tượng bỏ nhà đi bụi
đời của lớp trẻ. Tại các vùng năm trước mất mùa này. Dân chúng không
đủ ăn. Việc tổ chức ở các hợp tác xa quá tồi tệ. Quỹ tương
trợ trong những lúc có thiên tai cũng chẳng có ǵ. Cơ quan chính quyền địa phương
muốn tống khứ lớp trẻ này đi bằng cách họ cấp cho các em bé giấy
chứng nhận là những người đi ăn xin. Đến lượt nhân viên an ninh
chính trị tại các nhà ga cũng thi hành các hành động như vậy. Thay v́ họ đưa
các em bé phạm pháp vào các trại lao động vị thành niên, họ muốn tống đi
cho nhanh bằng cách lùa các em lên xe lửa , để chuyển qua vùng khác, khỏi vùng trách nhiệm
của họ. V́ thế các em bé này cuối cùng tụ tập lại rất nhiều ở
các thành phố lớn. Năm 1936 cơ quan an ninh chính trị tiếp nhận 125.000
trẻ em phạm pháp vào các trung tâm lao động vị thành niên. Tính từ năm 1935 đến
1939 có tất cả 155.000 trẻ em đưa vào trung tâm lao động và 92.000 các em từ
lứa tuổi 12 đến 16 bị đưa ra ṭa án . Từ 1 tháng 4 năm 1939 có 10.000 vị
thành niên bị đưa đi lưu đày. Trong ṿng 5 năm đầu của thập
niên 30, Đảng và nhà nước cho thi hành các biện pháp chống laị các thành phần
chống cách mạng. Mức độ và chu kỳ thi hành các biện pháp này thay đổi
tuỳ theo t́nh h́nh. Khi thấy có sự chống đối và có cơ gây hỗn loạn, nhà
nước cho ngưng khủng bố để tạo thế quân b́nh. Chu kỳ đầu
tiên của cuộc đại khủng bố xảy ra vào cuối năm 1929 khi nhà
nước cho thi hành chính sách giải thể quy chế điền chủ. Cuộc khủng
bố đạt đến cao điểm vào mùa Xuân năm 1933. Chính quyền phải đương
đầu với nhiều vấn đề nan giải chưa từng xảy ra. Vấn đề
trước tiên là phải giải quyết các vùng bị nạn đói . Lấy người
đâu ra để làm vụ mùa cho năm tới. Những người chịu trách nhiệm
trực tiếp tại các hợp tác xă đă lên tiếng cảnh cáo, nếu không giải quyết
một số nhu cầu căn bản tối thiểu cho nông dân của hợp tác xă th́ sẽ
không c̣n ai để cày cấy, gieo hạt , đảm bảo công tác sản xuất. Hơn
thế nữa, v́ các trại giam quá đông, nhân viên quản lư không thể nào trông coi được,
không thể nào khai thác đúng mức sức lao động. Nó có ảnh hưởng không tốt
đến tâm lư quần chúng. Nhiều thành viên của hợp tác xă đă đặt ra câu hỏi
này từ tháng 3 năm 1933. Hai trăm người trong số thành viên hợp tác xă có ư kiến
như trên bị bắt giam hơn 2 năm tù với cái tội phá hoại các vụ gieo hạt
giống. Sau đó họ được thả trở về làm việc lại. Để
giải quyết vấn đề thiếu nhân công cho công việc thu hoạch mùa màng ở
các vùng bị nạn đói tàn phá, chính quyền mở nhiều cuộc bố ráp khắp nơi
trong thành phố , bắt các người dân , chở về các vùng nông thôn, thay thế số
nông dân bị bắt đi lưu đày oan ức. Trong bản phúc tŕnh của ṭa lănh
sự Ư ở thành phố Kharkov gởi về nước đề ngày 20 tháng 7 năm 1933
viết như sau : '' Số người bị bắt rất nhiều. Trong tuần lễ
này, có ít nhất 20.000 người bị đưa về các trại tập trung miền quê.
Hằng ngày diễn ra như vậy. Hôm qua , nhà nước cho bao vây khu vực chợ trời.
Họ bắt một số thanh niên nam nữ khỏe mạnh giải họ ra ga chở về
các vùng quê.'' Việc chuyên chở các người thành phố về miền quê cũng gặp
phải nhiều khó khăn, nhiều xung đột với dân quê địa phương.
V́ tức dận, dân quê đốt phá các doanh trại chứa những người từ thành
phố mới chuyển đến. Cán bộ cũng khuyên những người thành phố
mới đưa về, đừng đi sâu vào làng mạc để tránh xung đột với
ngưới bản xứ. Vụ mùa năm đó đạt được kết quả
khả quan một phần nhờ thời tiết thuận lợi, một phần nhờ
sự tổ chức chặt chẽ trong công tác đưa người từ thành phố về
nông thôn. Phần quan trọng khác, v́ nông dân không c̣n cách nào sinh sống nên đă tham gia công
tác trong hợp tác xă. Vấn đề thứ hai là làm thế nào để giải quyết
làn sóng người ồ ạt tràn vào các trại giam. Nhà nước cộng sản giải
quyết một cách thực tế : phóng thích một số ngưới bị bắt. Ngày
8 tháng 3 năm 1933, Bộ chính trị gởi văn thư riêng cho bộ nội vụ:
Thi hành biện pháp điều lệ hóa các vụ bắt bớ. Cơ quan nào cũng có
thể bắt giam người khác. Như vậy sẽ giải tỏa được sự
tập trung tội phạm. Ngoại trừ trại giam lưu đày ở Siberie, tất cả
các trại giam khác phải t́m các giảm phân nửa số tù nhân. Phải mất đi một
năm mới phóng thích được 320.000 trong số 800.000 tù nhân trong các trại tù. Năm
1934, chính quyền ngưng chiến dịch đàn áp chính trị. Kết quả cụ
thể là trong năm 1934 chỉ có 79.000 vụ án ra toà so với con số vụ án 240.000 trong
năm 1933. Cơ quan an ninh chính trị được tổ chức trở lại. Theo
chỉ thị của nghị quyết ngày 10 tháng 7 năm 1934 , cơ quan an ninh chính trị
trực thuộc ủy ban nhân dân Bộ Nội vụ. Do vậy, cơ quan này giảm
đi quyền hành . Nó hoạt động như các ngành công xưởng tự vệ,
tự vệ nông thôn, tự vệ biên pḥng,.. Họ mang huy hiệu cũng giống như
các Uỷ viên trong bộ Nội vụ. Cơ quan này mất đi phần trách nhiệm về
tư pháp. Cơ quan này sau khi đ́êu tra, phải chuyển các tội phạm qua Biện
lư cuộc để thụ lư. Cơ quan an ninh chính trị mới tái tổ chức không có
quyền tuyên án nếu không có sự chấp thuận của Trung Ương. Tất cả
các biện pháp trên nhằm để củng cố chính sách hợp lư hóa cơ cấu pháp lư
của chủ nghĩa xă hội. Nhưng các biện pháp này cũng chỉ đem đến
một số kết quả rất khiêm nhường. Việc kiểm soát cuả Biện
lư cũng chẳng đi đến đâu. Như ông Biện lư Vichins đă để cho các
cơ quan an ninh chính trị mới hoạt động tự do. Thêm vào đó, từ tháng 9
năm 1934 chính văn pḥng Bộ chính trị Trung Ương cũng đă làm những việc
trái ngược với chỉ thị đă ban hành. Trung Ương cho phép các cơ quan thi hành
bản án tử h́nh mà không cần thông báo về Trung Ương. Như vậy, chính sách đàn
áp chỉ tạm ngưng trong khoảng thời gian rất ngắn. Ngày 1 tháng 12 năm 1934
ông Serge Kirov, đệ nhất phó bí thư thành ủy Leningrad, đồng thời cũng là
ủy viên Bộ chính trị, bị ám sát. Thủ phạm là ông Leonid Nikolaieo. Ông ta là một
thành viên của đoàn thanh niên cộng sản. Ông ta xâm nhập vào trụ sở của đảng
cộng sản thành phố Leningrad để ám sát. Trong nhiều năm, dư luận cho rằng
vụ ám sát ông Kirov có Staline nhúng tay v́ Kirov là đối thủ cua ông ta. Trong kỳ Đại
hội thứ 20 của đảng cộng sản, đêm 24 tháng 2 năm 1956, chủ tịch
nhà nước Nikita Kroutchev cũng đă xác nhận như vậy. Nhưng ngày nay các tài
liệu của Alla Kirilina đă chứng minh trong tác phẩm của ông xuất bản vào năm
1995 rằng nguồn dư luận đó không đúng. Ông đă căn cứ vào số tài liệu
mật vừa mới cho phép dân chúng tham khảo. Staline dựa vào cuộc ám sát ông Kirov
để thực hiện mưu đồ chính trị của ông. Trên thực tế lúc nào
Staline cũng có thể dùng các thủ đoạn để tạo ra t́nh h́nh căng thẳng
hay nới lỏng tuỳ theo nhu cầu chính trị của ông. Để bao che sự yếu
kém của chế độ, ông giải thích : Đáng lẻ ra đời sông phải được
vui vẻ hơn và cuộc sống sung sướng hơn nhưng tại v́ vụ ám sát Kirov
nên cuộc sống cứ tiếp tục rối loạn. Vài tiếng đồng hồ
sau vụ ám sát, Staline cho thảo ra một đạo luật , được gọi là Đạo
luật ngày 1 tháng 12. Hai ngày sau Bộ chính trị mới chấp thuận đạo luật
này. Theo đạo luật này, lịnh xử các vụ khủng bố giết người
phải thực hiện trong ṿng 10 ngày không cần phải có sự hiện diện của
bị can và áp dụng ngay bàn án tử h́nh. Đạo luật này ra đời để
kết thúc các đạo luật vài tháng trước đây. Nó mở màn cho giai đoạn
Đại khủng bố. Một vài ngày sau, một số đảng viên cộng sản
thuộc nhóm chống Staline bị bắt v́ t́nh nghi có tham gia các hoạt động khủng
bố. Báo chí ra ngày 22 tháng 12 đăng tin : Một nhóm người khủng bố hoạt
động ngầm đă gây ra tội ác kinh tởm gồm có Nikolaiev và 13 người thuộc
nhóm Zinoviev dưới sự lănh đạo của một tổ chức gọi la ''Trung tâm
Leningrad'', đă ăn năn nhận lỗi. Nhóm này bị xử kín ngày 28 và 29 tháng 12. Cả
nhóm bị kết án tử h́nh và bị hành quyết ngay sau đó. Ngày 9 tháng giêng năm 1935,
nhà nước cộng sản lại cho xử vụ án huyền thoại '' nhóm người
Znoviev và trung tâm Leningrad ''. 67 người bị kết án. Trong số đó có nhiền
nhân vật nổi tiếng , trong quá khứ họ chống lại chính sách của Staline. Cả
thảy 67 người bị bắt giam . Sau vụ Trung tâm Lenigrad đến vụ trung tâm
Mạc tư Khoa . 19 người t́nh nghi bị bắt. Trong số này có hai đảng viên
kỳ cưụ là Zinoviev và Kamenev bị bắt với tội danh Ṭng phạm ư thức hệ
với thủ phạm trong vụ ám sát Kirov. Trong phiên toà xử hai ông vào ngày 16 tháng giêng năm
1935 hai ông thú nhận trong quá khứ có hoạt động chống lại chính sách đă
làm cho xă hội băng hoại cơ nguyên sinh ra nhiều thủ phạm giết người;
Hai ông cũng thú nhận có đồng lơa ư thức với cuộc ám sát. V́ ăn năn
và v́ công khai từ bỏ nên hai lănh tụ tội phạm chỉ bị kết án
một người 5 năm tù và người kia 10 năm. Từ tháng 12 năm 1934 đến
tháng 2 năm 1935 đă có 6.500 ngừơi bị kết án theo h́nh thức tố tụng mới
của đạo luật ngày 1 tháng 12 quy định về tội khủng bố. Sau
ngày xử bản án của Zinoviev và Kemenev, Bộ Chính trị trung ương gởi văn
thư mật đến các Ủy ban nhân dân địa phương. Nội dung của văn
thư mật là bài học về các diễn biến quan trọng chung quanh cuộc ám sát ghê
tởm đồng chí Kirov. Văn thư xác nhận hai trung tâm thân Zinoviev lănh đạo một
tổ chức nguỵ trang của Bạch quân. Văn thư cũng nhấn mạnh, lịch
sử của đảng cộng sản là cuộc đấu tranh thường trực đối
với các nhóm chống đảng như bọn Troski, bọn trung tâm dân chủ, bọn chủ
trương thân hữu. Đảng viên nào đă từng chống lại chính sách của
Staline đều bị nghi ngờ. Cuộc lùng bắt các đảng viên cộng sản bắt
đầu diễn ra. Tháng giêng năm 1935, tại thành phố Leningrad có 988 đảng viên
thân Zinoviev bị bắt ra đày đi vùng Tây bá lợi Á. Trung Ương đảng ra lịnh
cho các Ủy ban nhân dân địa phương thành lập hồ sơ tất cả các cưụ
đảng viên cộng sản bị sa thải ra khỏi đảng hồi năm 1926-1928
v́ thân Troski và Zinoviev. Căn cứ trên danh sách này, nhà nước cộng sản sẽ truy lùng.
Tháng 5 năm 1935 , Staline ra lịnh cho các cơ sở đảng cộng sản địa
phương kiểm soát chặt chẽ thẻ đảng của từng đảng viên.
Chiến dịch kiểm soát thẻ đảng kéo dài 6 tháng với sự tham gia của cơ
quan an ninh chính trị. Cơ quan an ninh chính trị cung cấp hồ sơ đảng viên
bị nghi ngờ cho Ban chấp hành đảng. Trái lại Ban chấp hành đảng cung cấp
danh sách các đảng viên bị khai trừ cho cơ quan an ninh. Kết quả của chiến
dịch này ghi dấu con số bị bắt lên đến 250.000 đảng viên . 9% đảng
viên bị khai trừ. Trong cuộc họp toàn đảng của Uỷ ban trung ương
vào cuối tháng chạp năm 1935, trưởng ban tổ chức trung ương đảng
kiêm chỉ huy trưởng chiến dịch kiểm tra thẻ đảng , đồng chí
Nikolaiev Iejov đưa ra một con số không đầy đủ : 15.218 đảng viên thuộc
thành phần kẻ thù nhân dân, bị khai trừ ra khỏi đảng và bị bắt giam. Theo
báo cáo của Iejov, chiến dịch khai trừ tiến hành không tốt và đă kéo dài thời
gian gấp 3 lần so với kế hoạch. Theo ông dường như có thành phần hủ
bại đang nằm trong cơ quan hành chánh nhà nước làm hỏng chiến dịch. Mặc
dù có lời kêu gọi của Trung Ương về việc vạch trần bộ mặt
của các phần tử thân Zinoviev, nhưng chỉ có 3% đảng viên bị khai trừ.
Các cơ sở cộng sản địa phương không muốn làm việc chung với
cơ quan an ninh chính trị nên không tích cực gởi danh sách của các đảng viên nghi
ngờ lên trung ương. Iejov cho rằng trong chiến dịch này, cơ sở đảng
cộng sản ở các địa phương thông đồng với nhau gây trở ngại
trong công tác kiểm tra thẻ đảng. Sự kiện này không bao Staline quên. Sau vụ ám
sát Kirov, làn sóng khủng bố lan tràn trong đảng. Viện lư do nhóm khủng bố Bạch
quân hiện xâm nhập phía tây Cộng ḥa Liên Xô, ngày 27 tháng 12 năm 1934 Bộ chính trị ra
lịnh cho lưu đày 2000 gia đ́nh của những người chống lại chính quyền
Xô Viết tại các khu vực ranh giới Ukraine. Ngày 15 tháng 3 năm 1935 các biện
pháp tương tự cũng diễn ra ở các vùng quanh Lenigrad, Cộng Ḥa Carelie. Các người
này bị đưa về các vùng Kazakhtanvà vùng Tây Bá Lợi Á. Phần lớn thuộc gốc
dân Phần Lan. Đó là nạn nhân của cuộc chiến tranh giữa Nga và Phần Lan. Đầu
tiên nhà nước đưa đi 10.000 dân phần Lan. Cuộc lưu đày lần thứ
hai diễn ra vào mùa xuân 1936 với số lượng 15.000 người. Đă có 50.000 thuộc
các giống dân Ba Lan, Đức cư ngụ tại Ukraine bị đày về Karaganda thuộc
tỉnh Kazakhtan. Trong thời gian này cũng có một số biện pháp kinh tế dễ
dăi được thi hành làm cho t́nh h́nh lắng dịu lại. Như băi bỏ các biện pháp
áp dụng cho số ngưới xa lạ với xă hội chủ nghĩa; Ân xá cho
một số tù nhân cuả các hợp tác xă, bị kết án dưới 5 năm . Phóng thích
70.000 người bị kết án theo đạo luật ngày 7 tháng 8 năm 1932. Khôi phục
quyền công dân và đưa họ đi vùng kinh tế mới đặc biệt. Bỏ quy
chế kỳ thị với con cái của họ khi thi vào các trường đại học.
Các biện pháp trên nhiều khi rất mâu thuẫn. Nhiều tù nhân sau 5 năm được
trả tự do, nhưng không được quyền rời khỏi nơi cư ngụ đă
được nhà nước chỉ định. Nhưng khi trở về , họ phải
ở đâu ? Nhà cửa , tài sản của họ đă bị nhà nước tịch thu rồi.
Việc này lại sinh ra một số vấn đề liên hệ không giải quyết được. Mối
tương quan giữa nhân dân và chính quyền lại trở nên căng thẳng khi chính quyền
rầm rộ mở chiến dịch thi đua lao động vượt chỉ tiêu Stakhanov.
Đó là tên của một công nhân hầm mỏ. Anh Andrei Stakhanov gia tăng thời gian làm việc
để tăng năng gấp 14 chỉ tiêu đă đề ra. Tháng 11 năm 1935, Satline
đưa chỉ tiêu của anh thợ mỏ Stakhanov lên thủ đô Mạc Tư Khoa mở
cuộc hội thảo về kỷ lục sản xuất của người thợ mỏ
tiên phong. Staline nhấn mạnh rằng tính cách mạng sâu rộng trong phong trào đă giải
phóng được tính bảo thủ của người kỹ sư, của các chuyên viên
kỹ thuật và các người lănh đạo trong các xí nghiệp. Trong t́nh trạng hoạt
động của nền công nghệ Liên Xô thời bấy giờ, kèm theo với cách tổ
chức làm việc gia tăng ngày đêm theo kiểu Stakhanov, chắc chắn sẽ làm xáo trộn
chu tŕnh sản xuất. Máy móc hư ṃn, các tai nạn lao động gia tăng. Sau một thời
gian đạt mức gia tăng, th́ nền sản xuất bắt đầu xuống dốc.
Chính quyền lại tái diễn cái tṛ chạy tội như đă làm ở những
năm 1928-1931. Họ quy lỗi những khó khăn của kinh tế là do sự phá hoại
của những người đă xâm nhập vào các đội ngũ sản xuất, các chuyên
viên kỹ thuật trong các nhà máy. Mỗi một lời nói xấu về phong trào Stakhanov,
một hành động gían đọan sản xuất, một động tác làm hư phương
tiện sản xuất đều bị kết tội là có âm mưu chống phá phong trào Stakhanov.
Trong 6 tháng đầu của năm 1936 đă có 14.000
cán bộ các ngành công kỹ nghệ bị bắt v́ tội phá hoại. Staline đă dùng phong
trào Stakhanov để phát động làn sóng khủng bố mới , làn sóng khủng bố
vô tiền khoáng hậu này đă đi vào lịch sử đưới cái tên cuộc ''
Đại khủng bố của thời đại ''. ./.
Back to TOP
|