|
Một trong những vết đen trong lịch sử của Xô-Viết mà ai cũng biết
đến đó là nạn đói lớn trong những năm 1932-1933. Ngày hôm nay với các văn
khố vừa được cho dân chúng tham khảo, cho người ta biết có đến
6 triệu người chết v́ đói trong hai năm đó. Đây là con số không có ai có
thể chối căi được.
Thảm cảnh của nạn đói này không giống như những năm đói đă
xảy ra trước đây theo chu kỳ của nền nông nghiệp dưới thời
Nga Ḥang. Nạn đói lớn của năm 1932-1933 là hậu quả trực tiếp của
phương pháp khai thác nông dân theo kiểu '' phong kiến quân sự '', sáng kiến của một
lănh tụ Bôn-sơ-vích chống Stalin, tên la Nikolai Boukharine. Phương pháp khai thác này được
áp dụng khi thi hành chính sách cưỡng bách tập thể hóa. Kết quả của chính
sách đă dẫn đến sự suy thóai trầm trọng đời sống xă hội. Điểm
khác biệt với các nạn đói xảy ra vào những năm 1921-1922 là vào những năm
đói này nhà nước Xô-Viết kêu gọi quốc tế trợ gíup. Nhưng nạn đói
của những năm 1932-1933, Liên Xô muốn che dấu sự thất bại của ḿnh,
không cho thế giới bên ng̣ai biết chỉ v́ nhu cầu tuyên truyền cái tốt của
chủ nghĩa cộng sản. Nhiều quan sát viên ngọai quốc đă bị lường
gạt khi họ đến thăm Liên Bang Xô Viết. Vào mùa hè năm 1933, Thượng nghị
sĩ kiêm chủ tịch đảng cấp tiếng Pháp ông Edouard Herriot được mời
đến viếng vùng Ukraine , đă tuyên bố :'' Tôi thấy các vườn
rau của các hợp tác xă nông nghiệp được chăm sóc và hệ thống tưới
nước rất đáng khen. Các vụ mùa thu họach rất khả quan'' . Ông kết thúc
chuyến tham quan bằng câu nói quyết định : Tôi đă đi khắp suốt vùng Ukraine. Điều mà tôi thấy là cả vùng
này đang ở trong thời kỳ sản xuất.. Cái nh́n mù quáng này là kết quả của
một vụ dàn cảnh dưới tài đạo diễn của công an. Cơ quan này mời
các quan sát viên ngoại quốc đến và hướng dẫn họ đi thăm các hợp
tác xă nông nghiệp đă được chuẩn bị trước. Công an cũng dẫn
các nhà quan sát quốc tế đến các vườn trẻ kiểu mẫu. V́ nhu cầu
chính trị của đảng ḿnh và nhất là v́ muốn thỏa hiệp với Liên Xô để
quân b́nh hóa lực lượng quân sự ở Âu Châu trước mối đe dọa của
Đức Quốc Xă, nên các nghị sĩ Pháp mới thóat ra những nhận định
mù quáng trên. Nhưng cũng có một số chính khách khác biết rơ những ǵ đă xảy
ra ở Liên Xô vào những năm 1932-1933. Đó là những chính khách cao cấp của Đức
và Ư. Các bản phúc tŕnh của các ṭa sứ quán Ư tại các vùng Karkhov, Odessa và Novorosski mà
sử gia người Ư, ông Andrea Graziosi gần đây đă cho đăng tăi trên một tờ
nguyệt san cho biết Thủ Tướng Mussolini đă đọc và biết rất rơ t́nh
h́nh của nạn đói ở Liên Xô. Nhưng Mussolini không bao giờ dùng các sự kiện này
để chống lại cộng sản. Trái lai, vào mùa hè năm 1933 hai nước Ư và LiênXô
đă kư hiệp ước thương mai và hiệp ước bất tương xâm. V́ quyền
lợi của Ư, các nhà lănh tụ nước này đă làm lơ trước nạn đói của
Xô Viết. Năm 1949 Kravchenko viết một quyển sách với tựa đề ''
Tôi chọn tự do '', trong đó ông mô tả nạn đói năm 19232-1933 đă làm hoang mang
dư luận thế giới. Ông bị coi như là phần tử xuyên tạc chế độ
cộng sản. Nhưng từ năm 1985 các công tŕnh nghiên cưú của các sử gia Tây phương
cũng như của Xô Viết cho thấy những ǵ trong quyền sách ''Tôi chọn tự
do'' là sự thật. Cũng đă có một số tài liệu do các người Ukraine tị nạn cung cấp nhưng vẫn
c̣n rất ít, và rất ít người biết đến. Nguyên nhân của nạn đói
này là do mối tương quan mới giữa nhà nước Xô Viết và cộng đồng
khối nông dân sản xuất, phát xuất từ chính sách cưỡng bách tập thể diễn
ra ở nông thôn. Tại các vùng này, sự tập thể hóa đă h́nh thành và các hợp tác
xă nông nghiệp giữ một vai tṛ quyết định. Hợp tác xă phải cung cấp một
số lượng nông sản nhất định và thường xuyên cho nhà nước.
Vào những ngày mùa Thu khi vụ mùa gặt hái bắt đầu, hợp tác xă mở chiến
dịch thu mua cưỡng bách. Đó là những thời điểm đấu sức
giữa chính quyền và tập thể nông dân sản xuất. Những người nông dân muốn
giữ phần nông phẩm của họ để họ có thể sống qua mùa đông,
chờ vụ mùa năm tới. Đối với nhà nước, việc thu mua nông sản
quyết định sự sống c̣n của chế độ. Ở những vùng càng ph́ nhiêu,
càng bị thu mua gắt gao bây nhiêu. Vào năm 1930 chính quyền Xô Viết ấn định
thu mua 30% tổng số thu hoạch vùng Ukraine ; 38% ở các vùng ph́ nhiêu Kouban và vùng bắc Caucase;
33% tại các vùng Kazakhstan. Qua năm 1931, các vụ mùa thu hoạch ít hơn nhưng nhà nước
Xô Viết gia tăng số lượng thu mua. Tại Ukraine
từ 30% tăng lên 41,5%. Vùng Bắc Caucase và Kouban từ 38% tăng lên 47%. Vùng Kazakhstan từ 33% tăng lên 39,5%. V́ số
lượng nông phẩm bị tịch thu quá nhiều nên đă gây ảnh hưởng đến
chu tŕnh canh tác tại các vùng này. Với kế hoạch trưng thu cưỡng bách này, nông
dân chỉ có quyền bán ra thị trường từ 15% đến 20% sản phẩm. Họ
chỉ để lại từ 12% đến 15% làm hạt giống cho vụ mùa năm sau.
Họ phải trích ra 25% đến 30% để nuôi gia súc. Số c̣n lại họ mới
được làm thưc phẩm riêng để sinh sống chờ vụ mùa năm tới.
Về phía nông dân phải t́m cách cất giữ các sản phẩm nông nghiệp cho các nhu cầu
thiết yếu của họ. Mặt khác, chính quyền t́m cách trưng thu càng nhiều
càng tốt để cung cấp cho các chương tŕnh được coi là chẳng thực
tế tí nào. Qua năm 1932, thuế đóng góp nông phẩm lại gia tăng hơm 32% kế
họach thu mua cưỡng bách của năm 1931. V́ vậy các cuộc đụng độ
giữa nông dân và nhân viên thu mua của nhà nước càng trở nên ác liệt. Ban đầu
việc thu mua diễn ra chậm chạp. Khi đến vụ mùa, các nhân viên trong hợp tác
xă nông nghiệp, là những nông dân gia nhập vào hợp tác xă, t́m cách đem các nông phẩm đi
dấu. Hoặc ban đêm họ đi ăn cắp các phần vừa mới thu hoạch.
Họ thông đồng với các thành viên khác trong hợp tác xă, thông đồng với đội
trưởng, với kế tóan viên, với bí thư địa phương. Để chống
lại sự thất thóat này, Trung Ương đă phải cừ các tóan xung phong xuống
tận địa phương, tận các hợp tác xă. Tóan xung phong gồm những đảng
viên trung kiên của đảng cộng sản ở các thành phố. T́nh trạng căng
thẳng ở những vùng nông thôn lúc bấy giờ đă được một ủy viên
chính trị đi công tác huấn luyện chính trị cho các Ủy Ban Hành Chành địa
phương ở vùng hạ lưu sông Volga, một vùng sản xuất nông phẩm, gởi
về trung ương với chi tiết như sau : '' Nhiều thành phần khác nhau đă
thi hành các vụ bắt giam và lục sóat . Như các thành viên của uỷ ban hành chánh xă, thành
viên của đội xung phong, và các thành phần đặc phái khác. Năm nay đă có 12% nông
dân bị đưa ra ṭa án nhân dân, không kể những nhân viên trong hợp tác xă đă bị
đưa đi lưu đày và một số nông dân bị phạt tiền. Theo ước
tính của chủ tịch ṭa án nhân dân vùng này có chừng 15% là nạn nhân của các vụ truy
lùng này. Nếu tính chung con số 800 người tham gia hay nhân viên sản xuất bị khai
trừ ra khỏi hợp tác xă th́ chúng ta có thể ước lượng được hậu
quả của các cuộc đàn áp. Nếu chúng ta không lưu tâm đến sự cần thiết
của các cuộc đàn áp v́ t́nh h́nh, chúng ta phải nhận ra rằng các cuộc đàn áp
đă không giảm bớt đi . Khi đến một mức nào đó, chúng ta khó mà chận
đứng lại được. Các trại tù không c̣n chổ để giam người
nữa. Số tù nhân của nhà tù Balachevo đă gia tăng gấp 5 trên con số dự định.
Tại vùng Elan, mộ nhà tù thật nhỏ đă phải chứa 610 người. Trong
tháng qua, nhà tù Balachevo đă chuyển qua Elan 78 tù nhân đă bị kết án.Trong số này có 48
tù nhân dưới 10 tuổi. 21 tù nhân được phóng thích tại chỗ. Với t́nh trạng
quá đông tù nhân này, cai tù chỉ có thề dùng vỏ lực để quăn lư. Hai mệnh lệnh
được thi hành ở đây là : Gieo hạt và sản xuất. Cho đến ngày nay công
việc của chúng ta làm là chuyển hướng họ để thi hành hai hai mệnh lệnh
trên. Thí dụ điển h́nh sau đây cho thấy mức độ khủng bố đối
với nông dân. Tại Morsy, mỗi nông dân phải đóng 100% số nông sản. Một
nông dân đă đến gặp đồng chí Formitchev bí thư xă, xin t́nh nguyện đi lưu
đày chớ không thể nào sống được trong t́nh trạng thuế má như vậy.
Một bằng cớ khác là một thỉnh nguyện thư của 16 người của
hợp tác xă Alexandrov cũng t́nh nguyện xin đi lưu đày. Nói tóm lại, chính sách
lao động tập thể đă trở thành chiến dịch đột kích ăn cắp
hạt giống, gia súc, dụng cụ sản xuất. Người ta đột kích lao động.
Không có việc ǵ mà người ta không đột kích. Họ bao vây từ 9 hoặc 10 ǵơ
tối cho đến khi rạng đông. Các cuộc đột kích đă diễn ra như sau:
Các đội phục kích đóng quân tại một căn nhà gỗ dùng làm pḥng làm việc.
Họ cho người đi đến các nhà nông dân và ra lệnh từng người đến
văn pḥng chấp vấn. Họ thuyết phục và ra lệnh nông dân phải thi hành chỉ
thị nộp nông phẩm. Họ chấp vấn liên tục, lập đi lập lại suốt
đêm''. Vào thời điểm căng thẳng nhất của cuộc xung đột giữa
nhà nước và nông dân, một đạo luật kỳ lạ đă được nhà nước
cho ban hành vào ngày 7 tháng 8 năm 1932. Đạo luật này đóng vai tṛ quyết định.
Theo đạo luật này, bất kỳ người nào ăn cắp hay biển thủ tài
sản của Xă hội chủ nghĩa đều bị xử án 10 năm tu hay bị hành
quyết. Dân chúng gọi đạo luật này là ''đạo luật hột lúa''. Bởi
v́ những người bị kết án là những người nông dân đang làm việc trên
cánh đồng, ăn cắp vài hột lúa ḿ của hợp tác xă. Với đạo luật tàn ác này, chính quyền đă kết án 125000 người
bị xử án 10 năm và kết án tử h́nh 5400 người trong khoảng thời gian từ
tháng 8 năm 1932 đến tháng chạp năm 1933.
Mặc dù cho thi hành các biện pháp
gắt gao nhưng số lúa thu họach hay bị cưỡng bách thu mua chẳng đạt
được bao nhiêu. Đến tháng 10 năm 1932 kế hoạch thu mua tại các vùng sản
xuất nông phẩm chính cũng chỉ được từ 15% đến 20%. V́ số
lượng thu mua quá ít, Bộ chính trị đảng cộng sản Nga quyết định
gởi hai phái đ̣an đặc biệt về hai vùng Ukraine
và Caucase để đẫy mạnh công tác thu mua nông phẩm. Hai phái đoàn này do hai đảng
viên cộng sản trung thành Viacheslav Molotov và Lazare Kaganovitch lănh đạo. Ngày 2 tháng 11 năm
1932 phái đ̣an Kazanovitch cùng với phụ tá Genrik Iagoda đến tỉnh Rostov trên sông
Don. Bí thư đảng của các vùng thuộc Bắc Caucase đều có mặt trong
phiên họp và cùng biểu quyết : V́ lư do thất bại trong chiến dịch thu mua
lương phẩm , nay bắt buộc các cơ sở đảng địa phương
phải bẽ găy các âm mưu phá hoại do các phần tử phản cách mạng trong các hợp
tác xă, những đảng viên có tinh thần chống đối chủ trương, các
tổ trưởng của các hợp tác xă đă tham gia vào các hoạt động phá hoại. Một
số biện pháp sẽ được đem ra thi hành ,như : thâu hồi tất cả
sản phẩm, nông sản hiện tại tồn kho; Các dịch vụ mua bán phải thanh
toán ngay các tiền nợ; Phải đóng các thuế đặc biệt; Bắt giam tất
cả những người lạ mặt, những người phản cách mạng, những
kẻ phá hoại; Áp dụng thủ tục khẩn cấp dưới quyền giám sát của
các toán xung kích. Nếu bị truy tố v́ tội phá hoại th́ tập thể dân chúng trong vùng
sẽ bị đưa đi lưu đày. Tháng 11 năm 1932 là tháng đầu tiên áp dụng
biện pháp chống phá hoại. 5000 đảng viên ở các vùng nông thôn bi truy tố trước
toà án nhân dân về tội đă dễ dăi đối với các phần tử phá hoại ở
nông thôn, lơ là trong công tác thu mua. Tại vùng Bắc Caucase , vùng sản xuất nhiều
nông phẩm mang tính chiến lược, đă có 15000 nhân công của các hợp tác xă nông nghiệp
bị bắt giam. Qua đến tháng chạp , chiến dịch đưa đi lưu đày
lan tràn khắp nơi. Khởi đầu dân của vùng Cosaque. Hồi năm 1920 dân của
vùng này cũng đă bị đàn áp nặng nề. Rồi đến những công nhân của
các hợp tác xă. Chiến dịch mà họ gọi là đi khẫn hoang ở các vùng kinh tế
mới đă lưu đày không biết bao nhiêu người ǵa, trẻ, trai, gái,.. Trong năm
1932 đă có 71236 người bi bắt đi. Đến năm 1933 con số này lên đến
268091. Ở vùng Ukraine , phái đoàn do Molotov cầm đầu cũng đă thi hành các
biện pháp tương tự. Molotov cho ghi vào sổ đen tên các vùng không thu mua đúng chỉ
tiêu. Ông ra lịnh thanh trừng và sa thải ra khỏi các đảng viên cộng sản
không tích cực trong công tác thu mua. Bắt giam tất cả công nhân hợp tác xă kể cả
các chủ tịch nếu có báo cáo đă làm giảm thiểu số lượng thực phẩm
thu mua. Chẳng bao lâu, biện pháp này cũng được đem ra áp dụng trên khắp
khu vực nông thôn sản xuất.
Với biện pháp này, nhà nước có thể thắng
được toàn khối nông dân sản xuất hay không ? Trong bản phúc tŕnh của
viên lănh sự Ư ở tỉnh Novorossijk đă ghi rất rơ là không. Mặc dù lực lượng
của chính quyền rất hùng hậu nhưng không đàn áp được ư chí chống lại
của tập thể nông dân.Nông dân chia ra thành các toán nhỏ chống lại lực lượng
của nhà nước. Dần dần lực lượng Xô Viết kiệt sức. Họ
phải răi quân khắp nơi. Nơi này có cánh đồng lúa chưa chín. Nơi khác có vài tạ
lúa cất giấu và được phát giác; chổ kia có chiếc máy cày không được
sử dụng; Một máy cày khác bị phá hư và một chiếc th́ chạy rong chơi chớ
không phải đang làm công tác,...Rồi họ nhận ra một kho nông phẩm bị đánh
cắp. Sổ sách của các hợp tác xă không ghi đúng số lượng cũng như không
ghi đúng ngày tháng; có nơi ghi giả mạo. Giám đốc các hợp tác xă hoặc v́ sợ
hoặc v́ bất cẩn, đă báo cáo không đúng sự thật trong các bản phúc tŕnh. Chỉ
c̣n có một cách duy nhất để thắng kẻ thù là tạo ra nạn đói. Hay
nói đúng hơn là kế hoạch'' tuyệt lương''. Trong các bản phúc tŕnh gởi
về Mạc Tư Khoa vào mùa hè năm 1932 đă tiên liệu là nạn đói sẽ có thể
xăy ra vào mùa đông 1932-1933. Tháng 8 năm 1932 Molotov báo cáo về MạcTư Khoa triển
vọng chết đói có thể diễn ra ở các vùng vốn sản xuất nông phẩm
nhiều nhất. Nhưng đồng thời ông cũng đă hứa là sẽ t́m đủ
mọi cách để đạt cho kỳ được mục tiêu của kế họach
thu mua. Cũng vào thời tháng 8, ông Issaev, chủ tịch ủy ban nhân dân vùng Kazakhstan
bí mật báo cáo lên Staline về mức độ của cuộc khủng hỏang thực
phẩm này. Vùng Kazakhstan đă ḥan tất chương tŕnh định cư tập thể.
Chương tŕnh này đă làm xáo trộn đời sống của các nhóm dân du mục. Ngay
cả hai nhân vật thân tín nhất của Staline là ông Stalinas Kossiloz, đệ nhất bí thư
đảng cộng sản Ukraine và ông Mikhail, đệ nhất bí thư đảng cộng
sản Dniepropetrovk cũng phải viết thư riêng cho Staline và Molotov xin giảm bớt chỉ
tiêu quá cao của kế hoạch thu mua. Hai ông viết: ''Để cho tương lai công
tác sản xuất nông phẩm đạt được chỉ tiêu, đáp ứng được
nhu cầu của nhà nước Vô sản, chúng ta phải thỏa măn nhu cầu tối
thiểu của các nông dân làm việc trong các hợp tác xă. Nếu không, chúng ta sẽ không c̣n
đủ hạt giống để bảo đảm sản xuất trong vụ mùa tới.'' Molotov
,trong bức thư trả lời đă nói rằng các bí thư đă không nhận định
đúng t́nh h́nh, sai với tinh thần Bôn-sơ-vích. Ông nói : Là những người Bônsêvích,
chúng ta phải đặt nhu cầu của nhà nước vào ưu tiên một. Các nhu cầu
này sẽ được đảng xác định bằng những quyết định của
Đảng, và sẽ không được giảm một chút nào cả chớ đừng nói
đến ưu tiên thứ hai. Vài ngày sau, Trung Ương Đảng gởi văn thư
xuống các cơ sở Đảng địa phương yêu cầu các cơ sở phải
ra lịnh cho các hợp tác xă nào chưa cung cấp đủ chỉ tiêu nông phẩm đă được
ấn định, phải xuất ṭan bộ nông phẩm dự trử dùng làm hạt giống
cho vụ mùa năm sau, đem nộp cho các toán thu mua. V́ bị cưỡng bách kể cả
dùng vũ lực tra tấn cho nên nông dân cuối cùng cũng phải đen giao luôn các hạt
giống cho nhà nước. Kết quả là mặc dù những nông dân đang sống trên các
vùng đất ph́ nhiêu, màu mỡ nhưng họ cũng đành chịu chết đói v́ không
có cách ǵ kiếm ra thực phẩm để sống qua ngày. Nếu họ muốn sống
th́ chỉ c̣n có cách là phải đổ xô về thành phố. Nhưng nhà nước cộng
sản đă chận đứng làn sóng người trở về thành phố này bằng một
đạo luật ban hành ngày 27 tháng 12 năm 1932. Theo tinh thần của đaọ luật
này, chính quyền thiết lập việc kiểm tra dân số cư ngụ trong thành phố.
Nhà nước cấp thẻ thông hành nội bộ. Như vậy những người từ
vùng kinh tế mới trở về sẽ không có giấy thông hành nội bộ và họ
sẽ bị bắt, bị tống về trở lại vùng chết đói, nơi mà họ
đă bỏ ra đi. Trước t́nh trạng làn sóng trở về thành v́ sự sống
c̣n, ngày 22 tháng giêng năm 1933, Bộ chính trị trung ương đă cho ban hành một nghị
quyết '' ác ôn'', dẫn đến nạn chết đói cuả hằng triệu nông dân trong
những ngày sắp tới. Chiếu theo nghị quyết do Staline và Molotov kư tên, họ ra lệnh
cho các cơ sở đảng và công an địa phương bằng đủ mọi
cách chận đứng những ngưới nông dân trở về thành phố. Nhất là nông
dân của các vùng Ukraine và vùng Bắc Caucase. Nghị quyết nêu rơ : Nhà nước có đủ
bằng cớ cho thấy các người trở về theo kế hoạch của các phần
tử chống phá chính quyền , những người chống phá cách mạng, của những
điệp viên hoạt động cho Ba Lan nhầm tuyên truyền phá hoại các hợp
tác xă nói riêng, và nhà nước Xô Viết nói chung . Các toán công an địa phương thiết
lập các nút chận tại các nơi đang xăy ra nạn đói, tại các nhà ga xe lửa,
nhầm ngăn chận làn sóng người trở về thành phố. Đầu tháng 3 năm
1933, một toán công an báo cáo t́nh h́nh chính trị về Trung Ương. Bản báo cáo cho biết
trong ṿng một tháng họ đă ngăn chận được 219460 .Trong số này họ
đă trả lại 186588 người trở về lại nơi cư ngụ. Số người
khác bị bắt giam và đưa ra ṭa án. Bản báo cáo không nói thêm chi tiết về những
người bị trả trở lại. Nhưng viên lănh sự Ư thuộc vùng Kharkov, một
vùng đă xảy ra nạn đói trầm trọng, báo cáo về chính phủ Ư những nhận
xét như sau : '' Từ một tuần lễ nay người ta tổ chức một cơ
sở để đón nhận trẻ em mồ côi. Bởi v́ cha mẹ của các em này
đă kéo nhau trở về thành phố để kiếm cách sinh nhai, nhưng bị bắt
buộc phải trở lại vùng chết đói. Họ bỏ con em ở lại với ước
nguyện sẽ có người ra tay giúp đở. C̣n họ , họ trở về chịu
chết trong những làng quê hẻo lánh. Từ một tuần lễ nay nhà nước huy
động những người gác cỗng, các lao công của các công thự, cho mặc các
chiếc áo choàng trắng đi truy lùng các trẻ em đem về nhốt tại các đồn
công an khu vực. Nửa đêm, họ dùng xe nhà binh chở ra nhà ga Servodonetz. Tại đây cũng
đă có một số người lớn c̣n sót lại trong thành phố và bị lùng bắt.
Chuyên viên y tế sẽ khảm nghiệm sức khoẻ để phân loại. Người
nào không phù thủng, có nghĩa là c̣n khoẻ sẽ được đưa về các gian nhà
gỗ vùng Holadanaia Gora hay đưa về các gian trại sống chung với 8000 người
khác đang nằm hấp hối trên đống rơm. Số người khác, bịnh
hoạn, sẽ được xe lửa chở đến các vùng cách thành phố chừng
50 hoặc 60 km. Họ bị đuổi xuống dọc đường rồi bị lùa
vào các làng hẻo lánh. Họ bị bỏ rơi ở đó, chờ chết, không ai hay
biết ǵ đến họ cả. Và cũng tại những nơi được chỉ
định, người ta cho đào những lỗ bên đường. Nhân viên trên xe lửa
quăng các thây người chết xuống các lỗ đă đào sẳn này.'' Con số
người chết đói đạt đến điểm cao nhất của nó vào mua xuân
năm 1933. Cùng với nạn đói, các bịnh truyền nhiễm cũng bắt đầu
lan tràn. Có những thị trấn trước kia với dân số vá chục ngàn người,
ngày nay sau nạn đói chỉ c̣n sống sót lại vài ngàn . T́nh trạng ăn thịt
người đă xảy ra ở một vài nơi. Trong các bản báo cáo của các cơ quan
an ninh địa phương cũng như của các văn pḥng sứ quán Ư: Mỗi đêm
người ta đi nhặt dọc theo đường phố khoảng 250 thây người
chết v́ bịnh dịch. Các thây chết này bị mất lá gang. Dường như lá gang
bị móc ra qua một lỗ nhỏ ở trên bụng. Sau cùng cơ quan công an được
tin cho biết có một số người móc lấy lá gang rồi trộn vào thịt để
làm nhưn bánh bao, đem ra chợ bán. Tháng 4 năm 1933, nhân chuyến viếng thăm vùng
Kouban, nhà văn Mikhail Cholokhov viết hai lá thư gởi cho Staline. Trong thư ông viết từng
chi tiết về những biện pháp tra tấn của công an đối với nông dân để
buộc các nông dân này phải đem nộp nông phẩm dự trữ trong hợp tác xă của
họ. Chính v́ thế mà phải lâm vào t́nh trạng chết đói. Ông đề nghi với
Staline để cho ông gởi một số lượng lương thực để cứu
những người nông dân này. Staline từ chối và nói thẳng rằng những người
nông dân này bị trừng phạt v́ phạm vào cái tội đ́nh công và phá hoại. Họ đă
mở trận chiến tiêu hao chống lại nhà nước cộng sản. Cũng vào năm
1933 này, trong lúc nạn thiếu lương thực đă giết hàng triệu người,
th́ nhà nước Xô Viết cho xuất cảng ra ngoại quốc 1800000 tấn lúa ḿ để
thu ngoại tệ cho công cuộc kỹ nghệ hoá. Các cuộc kiểm tra dân số của
các phân khoa dân số học vào những năm 1937 và 1939 được giữ bí mật cho
đến ngày hôm nay, giúp chúng ta biết thêm chi tiết về nạn đói năm 1933 . Theo
các cơ quan thống kê này, nạn đói đă xảy ra tại các vùng đất đen
Ukraine, vùng đất phù sa ven sông Don, vùng Kouban , vùng Bắc Caucase và một phần lớn
vùng Kazakhtan. Đă có khoảng 40 triệu người là nạn nhân của nạn đói tại
các vùng này. Con số thiệt hại lớn nhất là các vùng ở chung quanh thành phố Kharkov.
Số người chết từ tháng giêng đến tháng sáu tăng lên gấp mười
so với mức độ chết trung b́nh. Trong tháng 6 năm 1933 con số người
chết đói lên đến 100.000 người so với 9.000 người của tháng 6 năm
trước. Đó là chưa kể đến con số người chết không khai báo. Ở
nông thôn con số người chết cao hơn ở thành phố. Trong một năm, thành phố
Kharkov mất 120.000 người; thành phố Krasnodar mất 40.000 người và thành phố
Stavropol giảm 20.000 người. Ngoài con số người chết tại các vùng xảy
ra nạn đói, con số người chết ở các nơi thiếu ăn cũng không ít.
Vùng nông nghiệp phụ cận thủ đô Mạc Tư Khoa số người chết gia
tăng 50% trong ṿng từ tháng giêng đến tháng 6 năm 1933. Cũng trong khoảng thời
gian nửa năm này con số người chết đói của thành phố Ivanovo gia tăng
35%. Trên toàn nước Nga , có trên 6 triệu người chết đói trong năm 1933
cao hơn các năm trước. Chỉ riêng vùng Ukraine con số ngừơi chết đă
lên đến 4 triệu. Vùng Kazakhtan chết 1 triệu , phần lớn là dân du mục. Vùng
Bắc Caucase 1 triệu. Trong bức thư gởi
cho Staline vào ngày 4 tháng 3 năm 1933, nhà văn Mikhail Cholokhov, tác giả của tác phẩm '' Ḍng
sông Don êm đềm'' viết :
'' Thưa Đồng
chí Staline, Việc phân phối thực phẩm không đạt đúng theo như kế hoạch
đă chỉ định tại các khu vực Vechenski cũng như tại các vùng Bắc Caucase
không phải v́ lư do có sự phá hoại cuả các nhân viêng trong hợp tác xă mà chính là v́
không biết cách quản trị của các cơ quan địa phương. Để đạt
chỉ tiêu trong công tác thu mua nông phẩm, ủy ban địa phương của đảng
cộng sản đă giao ṭan quyền quyết định cho đồng chí Ovtchinnikov. Ông ta
đưa ra các biện pháp sau đây: Tịch thu tất cả nông sản, kể cả
số lượng dự trữ của các hợp tác xă dùng làm hạt giống cho năm sau. Nhân
viên hợp tác xă phải đến từng gia đ́nh thu mua một số lượng nông
phẩm sao cho đủ chỉ tiêu để giao cho nhà nước. Thi hành các biện pháp
trên sẽ đạt được ǵ ? Ngay từ đầu chiến dịch thu mua, nông
dân đă t́m cách đem giấu cất số lương thực phẩm riêng tư của
họ. Số thu được rất khiêm nhường : 593 tấn lúa ḿ. Trong số lúa ḿ
này có một phần đă cất giấu từ năm 1918. Xin kể ra đây một số
thủ đoạn thua mua. Thủ đoạn sức chịu lạnh . Họ bắt nông
dân trong các hợp tác xă cỡi bỏ quần áo, đứng khỏa thân trong các nhà kho lớn
giữa cái lạnh của mùa đông. Thủ đoạn sức chịu nóng . Họ thấm
dầu lửa vào chân hay vào chiếc váy của phụ nữ rồi châm lửa. Khi lửa
bốc cháy, họ cho cháy một chốc rồi dẹp tắt. Cứ như thế họ
lập đi lập lại. Tại Napolovski, ủy ban địa phương bắt nông
dân ôm lấy các ống khói của các ḷ sưởi đang đun nóng. Sau đó họ đem
giam, khỏa thân trong các nhà kho lạnh buốt. Tại Lebiajenski, người ta bắt nông
dân đứng xếp hàng như chờ hành quyết. Tôi có thể kể ra không biết bao
nhiêu trường hợp khác đă xảy ra nhiều nơi. Đó không phải là những
hành động lạm quyền. Nó là những phương pháp thông thường của các
toán công an áp dụng để thu mua nông phẩm của nông dân. Nếu đồng chí Staline
nhận thấy rằng bức thư này đáng đựơc Bộ chính trị lưu tâm,
xin hăy biệt phái ngay một cán bộ cộng sản chơn chính về địa phương
để điều tra. Cán bộ này phải có đủ can đảm lột mặt nạ
các nhân viên địa phương. V́ chính những nhân viên này đă phá hoại chương
tŕnh xây dựng các hợp tác xă nông nghiệp. Đồng chí là nguồn hy vọng lớn nhất
của chúng tôi. Kư tên : Mikhail Cholokhov của đồng chí. '' [ Tài liệu của
Phủ chủ tịch số 45/1/827/7-22].
Ngày 6 tháng 5 năm 1933 Staline viết thư phúc
đáp nhà văn Mikhail Cholokhov.
'' Đồng
chí Choloklov thân, Tôi đă nhận được hai bức thư của đồng chí. Đề
nghị xin gíup đở của đồng chí đă được thực hiện. Tôi đă
phái đồng chí Chkiziatov đi về các địa phương để giải quyết
các vấn đề cuả đồng chí nêu ra. Xin đồng chí hăy tiếp tay Chkiziatov. Nhưng
thưa đồng chí Cholokhov, không phải đó là những điểm mà tôi muốn nói.
Thực ra thư của đồng chí viết tôi cho rằng không khách quan. Về vấn đề
này tôi muốn nói thêm vài lời với đồng chí. Tôi cám ơn đồng chí đă viết
thơ cho tôi. Bức thơ đă vạch ra một cơn bịnh nhỏ trong guồng
máy của chúng ta. V́ muốn thực hiện tốt các chỉ thị, tức là giải giới
kẻ thù cuả chúng ta , đă có một số cán bộ đảng va chạm đến
những người bạn của chúng ta. Nhiều khi họ lám quá trớn. Nói thẳng ra
là quá hung bạo. Nhưng với sự quan tâm của tôi, tôi không thể nói là tôi hoàn toàn đồng
ư với đồng chí về mọi khía cạnh của vấn đề. Đồng chí
đă nh́n cái ''dạng ''của vấn đề mà thôi. Nhưng tôi phải nh́n nhận là cái
nh́n của đồng chí khá sắc bén. Nhưng đó chỉ là cái dạng bên ngoài của sự
việc. Với cái nh́n chính trị, bức thư của đồng chí không phải là loại
thư văn chương tả cảnh mà là một nhận xét chính tri. Nhưng chúng ta phải
nh́n ở khía cạnh thực tế của vấn đề. Đó là những nông dân đáng
kính của chúng ta ở các vùng mà đồng chí nêu ra trong thư. Họ đă đ́nh công và
phá hopại. Họ sẵn sàng chấp nhận đ́nh công để cho thợ thuyền và
Hồng quân không có bánh ḿ . Mặc dù họ không gây đổ máu, họ chỉ hoạt động
trong êm lặng, nhưng trên căn bản họ cũng chính là thành phần phá hoại. Họ
đang mở một cuộc chiến tranh tiêu hao, chống lại quyền lực Xô Viết.
Đây là một trận chiến sống mái, xin đồng chí Cholokhov hiểu cho ! Theo như
nhận xét của đồng chí , quả thật những vi phạm của các cán bộ địa
phương không thể nào chứng minh được đó là sự lộng quyền cả.
Các thủ phạm sẽ phải chịu trách nhiệm về việc làm của họ. Nhưng
có một điều rất rơ là những người nông dân đáng kính trọng của chúng
ta chắc chắn không phải là những con chiên ngây thơ như người ta tưởng
tượng khi đọc thư của đồng chí. Chúc đồng chí sức khỏe
tốt. Chào đồng chí. Staline của đồng chí.''.
[ Tài liệu của Phủ
chủ tịch số 3/61/549/194 ]. Năm năm trước khi xảy ra cuộc tổng
khủng bố với mục đích trước tiên là trừng phạt giới trí thức,
các cán bộ Đảng, nhân viên bộ kinh tế, nạn đói năm 1932-1933 phải
được coi là cao điểm của chiến dịch do nhà nước Xô Viết chủ
trương khởi từ năm 1929, nhằm chống lại tập thể nông dân. Đó
là một giai đoạn quyết liệt. Với kinh nghiệm này, chính quyền cộng sản
sẽ đem áp dụng để đàn áp từng cá nhân, từng nhóm trong cộng đồng
xă hội. Nạn đói đă làm suy sụp mọi mặt, từ chính trị cho đến
xă hội. Tại các địa phương, con số người lộng quyền gia tăng.
Họ sẵn sàng dùng bạo lực để cưỡng đoạt số lương thực
cuối cùng của nông dân. Hành vi sách nhiễu, cướp bóc xảy ra hằng ngày. Trẻ
em bị bỏ rơi. Hiện tượng ăn thịt ngướ xuất hiện, cùng
với sự lan tràn các thứ bịnh truỳên nhiễm. Người ta cho thiết lập
các ''trại tử thần''. Những người đói lă sẽ được đưa
vào trại đó để chờ chết. Nông dân ở trong giai đoạn này bị nhà nước
hành sử giống như những nông nô của thời Trung cổ. Tháng giêng năm 1934,
Sergo Ordjonikidze và Serguei Kirov đă điêên cuồng ca tụng các cán bộ cộng sản trong
những năm đói kém như sau : ''Các cán bộ của chúng ta đă làm việc và chịu
đựng trong cái hoàn cảnh đói kém của những năm 1932-1933. Phải thành thật
thừa nhận rằng họ đă được trui luyện như là thép. Tôi nghĩ rằng
với số cán bộ như vậy, chúng ta có thể xây dựng một nhà nước mà
cho đến ngày hôm nay lịch sử chưa hề có được.''
Đối với các sử gia của ngày hôm nay, kể cả các sử gia của Ukraine,
nạn đói vĩ đại này là một cuộc diệt chủng nhân dân Ukraine. Không ai có
thể chối căi một sự kiện : nhân dân Ukraine là nạn nhân chính của nạn đói
năm 1932-1933. Nạn đói này là một cuộc tổng tấn công của nhà nước
sau các cuộc tấn công mở ra hồi năm 1929 nhằm vào tầng lớp trí thức.
Họ bị buộc phải cái tội đă đi sai con đường khi chọn chủ
nghĩa quốc gia. Andrei Sakharov đă định nghĩa việc làm của Staline là
bài trừ và sợ người Ukraine . Định nghĩa này thật là chính xác. Nhưng không
những chỉ Ukraine bị đói mà nạn đói lan tràn ra đến các vùng Bắc Caucase,
vùng lưu vực sông Don, vùng Kouban và cả vùng Kazakhtan. Năm 1930 , Kazakhtan đă hoàn toàn vào quy chế làm ăn tập thể. Họ cưỡng
bách đân du mục định cư. 80% gia súc của dân du mục bi chết trong ṿng 2 năm.
V́ không thể sinh sống, hai triệu người Kazakhtan phải bỏ nước ra đi.
Nửa triệu người lánh đói chạy qua các vùng đất Trung Á. Một triệu
rưỡi người vượt núi rừng qua Trung Quốc. Trên thực tế, tại
các vùng đất đen ,nơi sinh sống của giống dân Cosaque thuộc Ukraine cuộc
chiến đă diễn ra giữa nông dân và nhà nước XôViết từ năm 1918-1922.
Có một điều trùng hợp lư thú giữa các vùng chống đối mạnh mẻ
của những năm 1918-1922 , những vùng bị cưỡng bách vào tập thể vào năm
1929-1930 với những vùng bị nạn đói . Năm 1934 cơ quan công an ghi nhận 14.000
vụ nổi loạn trong đó 85% các vụ nổi loạn này xaỷ ra tại các vùng bị
trừng phạt v́ nạn đói. Đó là những vùng đất trù phú, dân chúng hiếu động.
Các vùng này đă đóng góp rất nhiều mà cũng bị mất rất nhiều v́ chính
sách cưỡng đoạt của nhà nước cộng sản. Nông phẩm sản
xuất xuống rất thấp khi nhà nước cho thi hành chính sách cưỡng bách tập
thể hóa nền nông nghiệp. Chính v́ thế các vùng này bị thiệt hai nhiều nhất
và con số người chết đói lên cao nhất.
Back to TOP
|