|
Đến cuối
năm 1920, chính quyền bônsêvich gần như thành công. Đạo quân cuối cùng của Bạch
quân bị đánh bại. Các toán quân của người Cosaque cũng chịu chung số phận.
C̣n các đơn vị của Makno đang ở trên đường tháo chạy. Nhưng cuộc
chiến giữa lực lượng quần chúng xă hội và chính quyền cộng sản
vẫn c̣n tiếp tục. Cao điểm của trận chiến này xảy ra vào đầu
năm 1921 của các đạo quân nông dân thoát ra khỏi gộng kiềm của nhà nước
bônsêvich. Toàn tỉnh Tambov,
một phần của tỉnh Volga [ Samara, Sarotov, Tsartsyne, Simbirk] và phía tây của Siberia
nằm trong tay của quân nông dân. Nhà nước chỉ quản lư các thành phố. Các cuộc
đ́nh công, phản đối, các cuộc nổi loạn của công nhân thợ thuyền
xảy ra liên tục ở các trung tâm kỹ nghệ. Cuối tháng 2 năm 1921, các thuỷ thủ
của căn cứ hải quân Kronstadt nằm ngoài khơi thành phố Petrograd
nổi loạn. T́nh h́nh trở nên khẩn trương. Nhà nườc gần như không c̣n
quyền lực điều hành. Trước nguy cơ bùng nổ, chính quyền đành phải
lùi bước. Nhà nước cho ban hành các biện pháp nhằm xoa dịu sự phẫn nộ
của nông dân, là thành phần chiếm đa số và nguy hiểm nhất. Chính quyền hứa
sẽ đ́nh chỉ lịnh trưng thu lương thực, thay vào đó là thuế trả
bằng hiện vật.
Tháng 3 năm 1921, họ cho thi hành Tân chính sách kinh tế chính
trị. Mặc dù chính quyền có thay đổi chính sách nhưng các cuộc nổi loại
của nông dân vẫn tiếp tục gia tăng. Nhiều tài liệu nằm trong văn khố
hiện nay cho chúng ta thấy, mùa xuân năm 1921 không có '' ḥa b́nh ''. T́nh trạng căng thẳng
kéo dài cho đến mùa hè 1922. Các toán thu mua lương thực vẫn tiếp tục lộng
hành ở nông thôn. Việc lùng bắt các lănh tụ cuối cùng của phe xă hội cách mạng
vẫn c̣n tiến hành. Công nhân thợ thuyền đ́nh công vẫn c̣n bị đàn áp dă man.
Các cuộc t́m kiếm và tiêu diệt nông dân lẫn tránh trong rừng vẫn c̣n thi hành triệt
để, dưới nhiều h́nh thức : xử bắn con tin, dùng đạn pháo binh chứa
hơi ngạt bắn vào làng quê. Nhưng chính nạn đói năm 1921-1922 đă quy phục
các thôn làng xáo động nhất. V́ vấn đề sống c̣n, nhân dân các làng quê này đă
cương quyết nổi dậy chống lại các toán trưng thu của nhà nước.
Nếu phải vẻ một bức tranh th́ chúng ta sẽ nhận ra tại các nơi năm
trước thu mua nhiều, là những nơi có các cuộc chống đối lớn và bị
đói kinh hoàng nhất. Một cách khách quan, chúng ta có thể nói rằng, nạn
đói kém là đồng minh của chính quyền. Nhà nước cộng sản đă xử
dụng '' Bỏ chết đói'' như là một vũ khí để đè bẹp sức kháng
cự của nông dân, tiêu diệt Giáo Hội Chính thống và những người trí thức.
Trong số các cuộc nổi loạn của nông dân chống lại chính sách trưng
thu kể từ năm 1918, cuộc nổi loạn của nông dân ở tỉnh Tambov là quan
trọng, được tổ chức chu đáo và do đó cầm cự lâu nhất. Vùng
Tambov nằm phía Đông và cách Mạc Tư Khoa 500 cây số. Từ đầu thế kỷ
thứ 20, vùng này là pháo đài của đảng xă hội cách mạng, là di sản của
phong trào B́nh Dân Nga. Trong những năm 1918-1920, mặc dù bị đàn áp, nhưng vẫn
c̣n nhiều lănh tụ hoạt động tích cực. Tambov
được coi là vựa lúa quan trọng nằm sát Thủ Đô. Mùa thu 1918, hàng trăm
đoàn trưng thu về công tác vùng này. Đến đầu mùa xuân 1919, các cuộc đụng
độ không tổ chức bắt đầu nổ ra. Nhưng chẳng kéo dài được
bao lâu. Chỉ tiêu trưng thu lương thực năm 1918 là 18 triệu thùng lúa ḿ . Qua
năm 1920 chỉ tiêu tăng lên 27 triệu thùng. V́ phản đối nhà nước, không
chịu tăng gia canh tác mà lại bi trưng thu nhiều hơn năm trước, nên nông
dân sẽ phải nh́n đói nếu nộp hết số lúa để dành. Ngày 19 tháng
8 năm 1920 xảy ra nhiều cuộc xô xát ở Khitrovo giữa các toán trưng thu và nông dân.
Chính quyền địa phương cũng thừa nhận h́nh thức làm việc bất
nhẫn của các toan thu mua lương thực. Nhân viên của các toán này đă lạm dụng
quyền hành khi thi hành công tác. Họ thu luôn cả các vật dung hằng ngày như gối,
mền, nồi, chén, nĩa,.và nhất là làm ẩm ướt, úng lúa khi chuyên chở ra ga. Họ
c̣n hà hiếp, đánh đập các người ǵa cả chỉ v́ những người này
có con đào ngũ. Từ Khitrovo, các cuộc chống đối như lửa gặp rơm
khô, lan tràn nhanh chóng. Cuối tháng 8 con số người tham dự chống đối nhà nườc
lên đến 40.000 . Phần đông là các lính đào ngũ có mang theo vũ khí trốn về
miền quê. Chĩa ba , cào cỏ, là vũ khí của một số người khác. Họ
tấn công và tàn sát, hoặc đuổi đại diện của chính quyền. Nhiều nhất
là ở ba vùng thuộc tỉnh Tambov. Lực
lượng nông dân ở Tambov được
chỉ huy bởi một lănh tụ thiện chiến, ông Alexandre Stepanovitch Antonov. Ông là nhà
chính trị thuộc cánh Xă hội cách mạng thiên tả. Năm 1908 bị đày ra vùng Tây
Bá Lợi Á cho đến cuộc cách mạng tháng 2 năm 1917. Ông đă từng ủng
hộ Bônsêvich và đă từng được bổ nhiệm chỉ huy quân dân vùng Kirsonov, quê
quán của ông. Tháng 8 năm 1918, ông ly khai Bônsêvich, trở thành lănh tụ các quân nhân đào ngũ.
Các đơn vị của ông đă chận đánh các toán trưng thu của nhà nước
khi đi công tác thu mua trong các vùng ông đang chiếm đóng. Khi cao trào nông dân chống đối
lên cao, ông tổ chức quân đội có kỹ luật và tổ chức toán t́nh báo xâm nhập
vào các đơn vị của nhà nước. Ông tổ chức các toán tuyên truyền, vận
động nhân dân chống lại chế độ Bônsêvich. Ông đ̣i hỏi cho nhân dân có quyền
tự do mua bán, chấm dứt chính sách trưng thu, tự do bầu cử, bỏ chế độ
ủy viên, và giải tán tổ chức công an Tcheka. Song song với công tác bí mật của
đảng xă hội cách mạng, ông c̣n thành lập tổ chức Liên đoàn công nhân lao động,
một hệ thống ngầm của các lănh tụ nông dân vẫn c̣n bám trụ tại địa
phương. Mặc dù có bất đồng quan điểm trong nội bộ, đă dẫn
đến một lănh tụ ly khai, nhưng phong trào nông dân ở Tambov cũng đă thành
lập được một cơ cấu quân sự , một mạng lưới t́nh báo,
một cơ sở chính trị. Đó là một thành công to lớn mà từ trước đến
nay lực lương nông dân chưa bao giờ có ngoài phong trào của Makhno. Tháng 10 năm
1920, chính quyền bônsêvich chỉ c̣n kiểm soát khu lỏm trong thành phố cấp tỉnh hay
cấp quận. Hàng ngàn lính đào ngũ gia nhập lực lượng của Antonov. . Quân
số lên đến 50.000. Ngày 19 tháng 10 năm 1920, khi nhận ra t́nh h́nh quá nghiêm trọng,
Lenine thông báo cho Dzerjinski, chỉ huy trưởng ngành công an, phải mau chóng tiêu diệt các phong
trào chống đối nhà nước ở Tambov
để làm gương. Đầu tháng 11, lực lượng an ninh của chính phủ
chỉ có 5000 quân. Nhưng sau khi đánh bại Tướng Bạch quân Wrangel, đơn
vị an ninh lên đến 10.000, cùng với một vài đơn vị ít quân số của
Hồng quân. Qua năm 1921, các cuộc chống đối làn tràn qua các vùng khác. Vùng Volga, gồm
các tỉnh Samara,Saratov, Tsaritsyne, Astrakhan
và luôn cả vùng Tây Siberia. T́nh h́nh cực kỳ nghiêm trọng. Nạn đói đang đe dọa
tại các tỉnh, trước kia rất trù phú. Viên chỉ huy tỉnh Samara báo tin cho trung
ương biết về các cuộc bao bây các kho chứa lúa của các toán trưng thu chờ
chuyển về thành phố và tiếp tế cho chiến trường. Lính giữ kho phải
nổ súng vào nông dân đang bao vây họ. Ở Saratov
cũng đă xảy ra các vụ cướp lúa. Nông dân dùng súng của các lính đào ngũ lấy
lại 3 triệu thùng lúa ḿ từ trong kho nhà nước. Nhiều toán Hồng quân giữ kho
tan ră. Khi vùng trù phú Ukraine không
c̣n ǵ để thu mua, Hồng quân kéo qua phía Đông, đến vùng Tây Siberia. Tại đây
họ ra chỉ tiêu trưng thu số lượng mễ cốc cao bằng năm 1913. Nhưng
v́ vùng này đă bị chiến tranh tàn phá nên không thể nào cung cấp đủ. Cũng như
ở những nơi khác, nông dân Siberia nổi lên chống lại lịnh
trưng thu. Từ tháng giêng đến tháng 3, chính phủ mất quyền kiểm soát.
Đường xe lửa xuyên Tây Bá Lợi Á bị cắt đứt. Ngày 21 tháng 3, một
đơn vị quân nông dân đánh chiếm thành phố Tobolsk . Đến ngày 30, Hồng quân
chiếm lại. Ở thủ đô Mạc Tư Khoa , ở Petrogradt, vào đầu năm
1921, t́nh h́nh cũng chẳng khá ǵ hơn. Nền kinh tế bị đứng lại. Xe lửa
ngưng hoạt động v́ thiếu than. Các công xưởng sản xuất ít lại v́
nhiên liệu. Số lượng lương thực tiếp tế cho thành phố giảm
sút. Công nhân bỏ sở t́m việc làm thêm, tụ hợp tranh luận, hay về miền quê
mua thêm thực phẩm. Nhiều xưởng bỏ hoang, ai muốn lấy ǵ th́ lấy, chẳng
c̣n người quan tâm. Ngày 16 tháng giêng , công an báo cáo về trung ương : '' Bất măn lan
tràn khắp nơi. Giới thợ thuyền và công nhân tiên đoán chính quyền sắp sụp
đổ. chẳng c̣n ai muốn làm việc. Ăn không đủ no. Đ́nh công sẽ nổ
ra rất lớn. Quân nhân ở thủ đô không c̣n tin tưởng. Họ có thể phản
chúng ta bất cứ lúc nào. Phải áp dụng chính sách pḥng loạn.'' Ngày 21, chính quyền
ra lịnh giảm bớt 1/3 khẩu phần bánh ḿ ở thủ đô, và cho thi hành ngay
vào ngày hôm sau. Lịnh này không c̣n dựa vào khẩu hiệu '' phản cách mạng'' để
kêu gọi ḷng ái quốc của tầng lớp dân lao động , v́ tàn quân của Bạch
nga đă hoàn toàn tan ră. Quyết định giảm khẩu phần là hành động đổ
dầu vào lửa. Cuối tháng giêng cho đến đầu tháng 3, các cuộc đ́nh công,
các cuộc biểu t́nh tuần hành cứu đói, các cuộc chiếm đóng các công xưởng
sản xuất diễn ra hằng ngày. Ngày 22-24 tháng 2 tại Mạc Tư Khoa cũng như
tại Petrgradt công an đặc biệt ra tay đàn áp các đoàn biểu t́nh. Xô xát giữa
đôi bên. Phía biểu t́nh tràn vào trại lính giải thích để gây cảm thông. Nhiều
vụ nổ súng. Hàng trăm người chết , bị thương và bị bắt giam
. Cuộc nổi loạn ở thàng phố Petrograd đạt đến cao điểm vào
ngày 22 tháng 2 khi công nhân các hăng xưởng tổ chức bầu Hội Đồng Toàn Quyền
của Công Nhân. Hội đồng thuộc khuynh hướng của đảng xă hội
cách mạng và của người mensêvich. Trong bản tuyên ngôn thứ nhất, họ đ̣i
hủy bỏ chế độ độc tài Bônsêvich. Họ đói bầu cử tự do
các Sô Viết. Họ đ̣i tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí, và
đ̣i trả tất cả tù chính trị. Để đạt mục đích trên, Hội
Đồng kêu gọi công nhân tổng đ́nh công. Nhiều đơn vị quân đội
ủng hộ, tán thành yêu sách và tham gia vào cuộc biểu t́nh. Ngày 12 tháng 2, một toán công
an nổ súng vào đám biểu t́nh, bắn chết 12 công nhân. Cùng trong ngày, hơn 1000 đảng
viên đảng xă hội cách mạng bị bắt. Nhưng vụ đàn áp của công an không
chận đứng sự phẫn nộ của quần chúng. Hàng ngàn lính chính phủ rời
bỏ hàng ngũ chạy sang phía công nhân thợ thuyền. Màn kịch lật đổ chế
độ phong kiến Nga Hoàng cách nay 4 năm, tháng hai năm 1917, nay lại tái diễn. Ngày
26 tháng 2, vào lúc 21 giờ, Zinoniev, lănh tụ Bônsêvich khu vực Petrograd gởi điện văn
cho Lenine, bày tỏ sự hoảng hốt của ông: '' Công nhân thợ thuyền đă bắt
liên lạc với lính trong trại. Chúng tôi đang chợ đợi quân tiếp viện từ
Novgorod. Nếu viện binh không đến kịp,
chúng tôi sẽ bị tràn ngập.''. Qua ngày hôm sau, là ngày kinh hoàng của quân chính phủ. Các
thủy thủ của chiến hạm đậu tại căn cứ hải quân Kronstadt nằm
ngoài khơi Petrograd nổi loạn. 23 giờ đêm ngày 28 tháng 2,
Zinoniev gởi thêm cho Lenine một công điện nữa. Ông báo cáo với Lenine, hai chiến
hạm Sebastopol và Petropavlovsk gởi tối
hậu thư buộc nhà nước cộng sản phải trả lời. Ông cho biết
t́nh h́nh công nhân thợ thuyền rất bất ổn. Các yêu sách của công nhân thợ thuyền
chính là yêu sách của những người đă sống 3 năm trong chế độ
độc tài cộng sản Bônsêvich. Ngoài các yêu sách về các quyền tự do, họ c̣n đ̣i
b́nh đẳng trong khẩu phần lương thực. Họ c̣n đ̣i bầu ủy ban
cứu xét các người bị bắt giam trong tù. Giải tỏa lịnh trưng dụng.
Giải tán các đơn vị đặc quyền công an. Nông dân có quyền canh tác loại
nào, nuôi gia súc nào họ thấy cần thiết. Ở Kronstadt t́nh thế biến chuyển
dồn dập. Ngày 1 tháng 3, công nhân tổ chức một cuộc biểu t́nh vĩ đại.
Có 15.000 người tham dự, một phần tư là lính hải quân và dân vùng Kronstadt. Chủ
tịch Ủy ban hành pháp trung ương bônsêvich, ông Mikhail Kalinine phải đích thân đến
để cứu văn t́nh h́nh. Nhưng ông ta bị nhóm biểu t́nh đả đảo và bị
đuổi đi. Ngày hôm sau một nhóm Bônsêvich chừng 2000 của tỉnh Krostadt đứng
ra thành lập một Ủy ban cách mạng lâm thời và tiếp xúc với đ̣an biểu
t́nh. Để bẻ găy phong trào chống đối, ngày 7 tháng 3, lực lượng công
an được lịnh hành động dứt điểm cuộc nổi loạn. Trong ṿng
48 tiếng đồng hồ, công an bắt giam trên hai ngàn công nhân, cảm t́nh viên, đảng
viên đảng xă hội cách mạng, và những người không đảng phái. V́ không có
vũ khí chống cự nên họ bị bắt dễ dàng. Sau đó, chính quyền Bônsêvich và
các toán công an tổ chức chu đáo tấn công căn cứ hải quân Krostadt. Tướng
Toukhatchevki chỉ huy cuộc tấn công. Ông ta dùng khóa sinh của trường vơ bị và các
toán công an trong chiến dịch dẹp loạn. Cuộc tấn công bắt đầu ngày 8
tháng 3. Sau 10 ngày giao tranh, căn cứ Kronstadt thất thủ. Trên 1000 người chết
cho cả hai bên. Cuộc đàn áp tiếp diễn với tất cả mức độ tàn
ác của nó. Quân thua trận bị bắn tại chỗ. Tài liệu mới đây cho biết
từ tháng 4 cho đến tháng 6 có 2103 người bị án tử h́nh, 6459 tù chung thân khổ
sai. Trước khi Kronstadt thất thủ, gần 8000 người trốn thoát theo con
đường băng tuyết thuộc vịnh Phần Lan. Họ tụ tập ở Terijoki,
Ino và Vyborg. Khi nghe lịnh ân xá, họ trở
vê Nga. Nhưng họ bị lừa. Liền ngay khi trở về, họ bị bắt giam và
bị đày đi lao động khổ sai ở đảo Solovski và Kholmogory. Trong số
5000 người bị đày đến nơi này, vào muà Xuân 1922 chỉ c̣n sống sót có 500
người. Trại khổ sai lao động Kholmogory nằm ven sông Dvina,
là một trong những trại tàn bạo nhứt. Họ đưa tội nhân xuống thuyền,
trói tay chân, và buộc cục đá vào cổ, rồi xô xuống sông. Đây là sáng kiến
của chỉ huy trưởng công an Mikhail Kedrov. Ông ta áp dụng phương thức giết
người này từ năm 1920. Một số lính nổi loạn ở Krostadt, các
người Cosaque và nông dân vùng Tambov là nạn
nhân của phương thức giết người dă man này trong năm 1922. Sau
khi dẹp xong Kronstadt, nhà nước Bônsêvich dồn lực lượng vào công tác lùng bắt
các đầu năo của các cuộc đ́nh công. Mặc khác, họ đ́nh chỉ các cuộc
trưng thu và các cuộc đàn áp Tôn giáo. Ngày 28 tháng 12, chỉ huy trưởng công an Dzerjinski
ra lịnh cho các công an địa phương bắt giam tất cả các thành phần trí thức,
nhóm Mensêvich, đảng cách mạng xă hội. Bắt giam cả các công chức làm việc trong
các uỷ ban phụ trách nông nghiệp và bộ phận tiếp tế. Nhóm xă hội ôn ḥa
cũng bị truy nă cùng với đảng Mensêvich. Đảng này có ảnh hưởng lớn
trong quần chúng. Từ tháng 3 đến tháng 6, cơ cấu trung ương đảng Mensêvich
bị phá vỡ. Các uỷ viên bị bắt và đe dọa chuyển ra vùng Siberie. Các vị
này tuyệt thực phản đối. Chính quyền tống 12 lănh tụ đảng Mensêvich
ra khỏi nước Nga. Tháng 2 năm 1922 họ tới thủ đô Bá Linh của Đức.
Hai lănh tụ nổi tiếng là ông Dan và Nikholaievski. Mùa Xuân 1921, chính quyền cộng sản
bắt đầu cho sản xuất công nghiệp. Lúc bấy giờ mức sản xuất
giảm 1/10 so với năm 1913. Qua chính sách quân sự hóa lao động, nhà nước bắt
công nhân gia tăng năng làm việc. Trung tâm hầm mỏ cung cấp 80% thép và than đá
cho toàn nước Nga là vùng Dombass. Tại vùng này , chính quyền áp dụng phương pháp độc
tài để bắt công nhân làm việc. Cuối năm 1920, một trong những lănh tụ
thân tín với Troski, ông Piatakov được chỉ định làm Tổng cục trưởng
phụ trách hầm mỏ. Trong một năm, ông đă cho công nhân sản xuất gấp 5 lần
so với mức sản xuất b́nh thường. Bất cứ công nhân nào vắng mặt
đều bị ghép vào tội phá hoại, sẽ bị đưa đi lao động khổ
sai hay bị xử bắn. Đả có 18 công nhân bị bắn trong năm 1921. Ông bắt công
nhân đi làm luôn ngày chủ nhật, họ mới nhận đủ khẩu phần bánh ḿ
hằng ngày. Ngoài ra họ chỉ nhận 1/3 hay 1/2 khẩu phần để sống qua ngày.
Sau khi làm việc xong, họ phải tháo đôi giày của họ để lại cho toán khác
mang , tiếp tục làm việc. Tổng cục trưởng hầm mỏ thừa nhận
có nhiều lư do công nhân bỏ việc. Ngoài chuyện thiếu ăn trầm trọng, công nhân
mắc bịnh v́ thời tiết quá lạnh, quần áo không đủ ấm. Nhất là bị
ẩm ướt lâu ngày không có quần áo thay. Để giảm bớt miệng ăn, ngày
24 tháng 6, chính quyền ra lịnh đuổi một số người không có việc làm ra
khỏi các trung tâm hầm mỏ. Bớt khẩu phần lương thực của thân nhân
công nhân hầm mỏ. Tiêu chuẩn tiếp tế lương thực căn cứ vào
năng xuất lao động. Đó là h́nh thức sơ khai của chính sách trả công theo
sản phẩm. Các biện pháp trên hoàn toàn đi ngược lại các tư tưởng
b́nh đẳng và bảo đảm tiếp tế lương thực mà nhiều công nhân hằng
mơ tưởng. Họ bị nhóm người Bônsêvich lợi dụng. Đó là những phương
pháp phản lại tầng lớp thợ thuyền, lại sẽ được áp dụng
sau này vào năm 1930 dưới thời Staline. Nhà nước cộng sản bất chấp
luật lao động. Họ chẳng quan tâm đến nghiệp đoàn. Chính sách lao động
tàn bạo này không phải chỉ là sản phẩm của cuộc nội chiến dưới
thời Lenine, mà nó là một báo hiệu trước chính sách sau này của trung tâm quyền lực
chủ nghĩa Staline. Mùa Xuân 1921, chính phủ tiếp tục công tác b́nh định các
vùng c̣n do nông dân chiếm đóng. Ngày 27 tháng 4, cục chính trị uỷ nhiệm cho Toukhatchevski
đàn áp các toán nông dân phiến loạn của Antonov trong vùng Tambov.
Một lực lượng quân số chừng 100.000 trong đó đơn vị chính là các toán
công an, có pháo binh và không quân yễm trợ, đă tiêu diệt lực lượng đối
kháng của Antonov. Các biện pháp thanh trừng, lưu đày, xử bắn, diễn ra thảm
khốc tại vùng này sau khi quân chính phủ đánh tan phiến loạn. Họ dùng cả hơi
ngạt trong các làng xa xôi mà họ nghi ngờ đă che chở các quân lính của Antonov.
Ngày
11 tháng 6 năm 1921, Toukhatchevski và chủ tịch toàn quyền ủy ban hành pháp, ông Ovseenko cùng
kư bản nhật lịnh số 171, cho thi hành các biện pháp sau đây: 1./ Bắn tại
chổ những ai không xưng tên khi bị xét hỏi. 2./ Các ủy ban chính trị quận
hay xă có quyền bắt các con tin hay đem xử bắn những người có vũ khí mà
không chịu đem giao cho nhà nước. 3./ Khi t́m thấy vũ khí ở nơi nào là những
người ở đó sẽ bị hành quyết. 4./ Gia đ́nh nào che chở lính phản
loạn, sẽ bị bắt giam và đưa đi lao động khổ sai, biệt xứ.
Tài sản sẽ bị tịch thu. Người lớn tuổI nhất trong nhà sẽ bị
hành quyết không cần xét xử. 5./ Gia đ́nh của các phiến loạn cũng bị
ghép vào các phần tử phiến loạn. Nhà cửa bị tịch thu. Chủ gia bị xử
bắn. 6./ Nếu gia đ́nh quân nhân phiến loạn bỏ trốn,
tất cả tài sản sẽ chia cho nông dân trung thành với chế độ. 7./ Nhựt
lịnh này phải được thi hành triệt để. Ngày 12 tháng 6, Tướng Toukhatchevski
ra lịnh bắn đại bác có đầu đạn chứa hơi ngạt vào các vị
trí của quân nông dân nổi loạn. Tàn quân phải di chuyển qua các vùng khác. Một số
lănh tụ phản đối phương thức dùng hơi ngạt tấn cộng loạn
quân. Tháng 7 năm 1921, công an cho thiết lập bảy trung tâm tập trung, chứa 50.000 bị
bắt làm con tin mà phần đông là phụ nữ, thiếu nhi, và người ǵa. Họ là
thân nhân của các nông dân, quân nhân đào ngũ. Tính trạng sức khỏe ở vào mức
độ tồi tệ nhất. Bịnh tiêu chảy, chí rận, không đủ quần áo,
thiếu ăn, diễn ra hằng ngày. Con số tử vong hàng tháng lên đến 15%. Ngày
1 tháng 9 năm 1921, từ quân số 40.000 trong cuộc nổi loạn tháng 2 , lưc lượng
nông dân nay chỉ c̣n lối 1000 người có vũ khí. Đến tháng 11, loạn nông
dân gần như tan ră. Một số bị lưu đày số khác bị án tử h́nh. Cuộc
b́nh định của vùng Tambov được coi như hoàn tất. Nhưng tại các vùng
quê ở Ukraine, miền Tây Siberiee, các tỉnh ven sông Volga à vùng Caucase vẫn c̣n các cuộc bạo
động, ít ra cũng kéo dài đến cuối tháng 6 năm 1922. Mặc dù chính sách trưng
thu đă hủy bỏ nhưng các h́nh thức sách nhiễu dân chúng vẫn c̣n tái diễn tại
các vùng vừa mới b́nh định. Cho nên t́nh h́nh ở nông thôn vẫn c̣n ngột ngạt.
Nhân dân và chính quyền không tin tưởng lẫn nhau. Sau
đây là bản phúc tŕnh đề ngày 11 tháng 7 năm 1921 của chủ tịch đoàn của
ủy ban toàn quyền gồm 5 thành viên, chỉ đạo các biện pháp áp dụng chống
lại các tên phiến loạn ở Tambov.
''
Các cuộc càn quét ở xă Koudrioukovskaia đă bắt đầu từ ngày 27 tháng 7 tại làng
Ossinovski. Đó là nơi trú ẩn của loạn quân. Dân làng tỏ ra thờ ơ với các
toán công an. Họ không chỉ điểm các nơi ẩn trú của lính nông dân. Họ trả
lời không biết. Chúng ta bắt giữ 40 người làm con tin. Thông báo cho họ biết
làng bị bao vây, trong ṿng 2 tiếng đồng hồ phải mang vũ khí ra nạp và phải
tố cáo các quân phiến loạn. Dân làng hội hộp nhưng không có thái độ dứt
khoát hợp tác với các toán tảo thanh càn quét. Có lẻ họ cho lịnh xử bắn
của chúng ta chỉ là để hâm dọa. Nhưng khi 2 tiếng đồng hồ trôi qua,
trước đám đông dân chúng tụ tập, chúng ta đă bắn tại chổ 21 con tin.
Cuộc hành quyết diễn ra từng người có sự hiện diện của các thành
viên của ủy ban toàn quyền, những người cộng sản, .. để gây ảnh
hưởng trong quần chúng. Đối với làng Kareievska, một làng có nhiều tàn quân
trú ẩn, với địa h́nh hiểm trở, chúng ta phá hủy toàn diện và xóa tên luôn trên
bản đồ. Dân làng phải bị đưa đi lưu đày. Những gia đ́nh có
con phục vụ cho Hồng quân th́ được đưa qua các làng lớn hay vào trú ngụ
trong các căn nhà tịch thu của các gia đ́nh loạn quân. Ngày 3 tháng 7 năm 1921, chúng
tôi hành quân vào làng Bogoslovka. Chưa có nông dân của làng nào mà cứng đầu và có tổ chức
như vậy. Khi chúng tôi đặc câu hỏi, từ trẻ em tới người già đều
ngạc nhiên trả lời : - Ở làng chúng tôi không có tên ''ăn cướp'' nào cả. Các
ông đừng có nghĩ như vậy! Thỉnh thoảng chúng tôi có thấy họ di chuyển
qua làng chúng tôi, nhưng chúng tôi không biết không biết có phải họ là những tên'' ăn
cướp'' không ? Chúng tôi sống yên ổn. Chúng tôi không làm hại ai cả. Chúng tôi không biết
ǵ cả... Ủy ban đă thi hành các biện pháp như đă xảy ra ở làng Ossinovski.
Chúng tôi bắt giử 58 con tin. Qua ngày 4 tháng 7 chúng tôi xử bắn trước mắt dân làng
21 con tin. Ngày hôm sau 15. Chúng tôi đă loại 60 gia đ́nh của quân phá hoại tổng số
lên đến 200 người. Cuối cùng chúng tôi đạt được mục đích.
Dân làng chịu hợp tác truy lùng các tàn quân nông dân và chỉ điểm các hầm vũ khí. Các
cuộc tảo thanh càn quét kết thúc vào ngày 6 tháng 7 năm 1921. Kết quả rất tốt
đẹp. Tiếng vang ,tràn đến các làng bên cạnh. Những người lính nông dân
trốn trong xă Volots cạnh đó đă ra đầu hàng. Kư tên : Chủ tịch ủy ban
toàn quyền''
Siberie là vùng cung cấp một số lớn nông phẩm vào lúc nạn
đói đe doạ trầm trọng nhất ở các tỉnh ven sông Volga. Để
xúc tiến việc thu thuế vùng Siberie, Dzerjinski được biệt phái đến vùng
này vào tháng 12 năm 1921 với tư cách là toàn quyền đặc biệt. Ông thiết lập
một ṭa án lưu động. Ṭa án di chuyển từ làng này qua làng kia và xử án tù hay đưa
đi lao động khổ sai đối với những ai không chịu đóng thuế. Các
toán trưng thu, các toán thu thuế cùng với ṭa án lưu động đă gây ra biết bao
tội ác. Viên chủ tịch ṭa án tối cao Nikolai Krylenko đă ra lịnh điều
tra các hành động sách nhiễu của các tổ chức dưới quyền của viên
chỉ huy ngàng công an, tướng Dzerjinski. Ngày 14 tháng 2 năm 1922, sau khi thanh tra vùng Omsk, ông
viết phúc tŕnh: '' Hành động lạm quyền của các toán trưng thu không thể tưởng
tượng được. Họ bắt nông dân không đóng thuế nhốt vào trong các nhà
kho không có ḷ sưởi. Họ tra đánh nông dân bằng các roi da và hâm dọa xử bắn.
Nông dân đóng thuế không đủ tiêu chuẩn th́ bị trói và bắt chạy khỏa thân
qua các đường phố, rồi sau đó bị nhốt trong các nhà kho kông ḷ sưởi.
Phụ nữ cũng bị bắt khỏa thân, ngồi trong các hố băng tuyết gía lạnh.
T́nh h́nh trong các làng rất là căng thẳng. Một năm rưỡi sau, khi cho thi hành chính
sách kinh tế chính trị, cơ quan công an chính trị, được coi như là nhân chứng
đă làm một tờ phúc tŕnh như sau : '' Trong tỉnh Pskov, các số thuế được
quy định trên 2/ 3 các vụ mùa thu hoạch. Bốn xă vơ trang nổi dậy chống lại
chính sách thuế cao. Tỉnh Novgorod v́ thất mùa nên thuế giảm xuống 1/ 4 . Hai
tỉnh Riazan và Tver bị đánh thuế 100%. Dân của hai tỉnh không c̣n lương thực.
Họ phải đào rễ cây hay cắt cỏ để ăn, sống qua ngày. Nhưng ở
đây chúng tôi không thấy các cảnh tự sát tập thể như ở Kiev khi nông dân không
thể đóng thuế mà cũng chẳng có vũ khí để chống lại. Gần hơn
một năm nay, nạn đói đe dọa liên tục, càng làm cho người dân bi quan hơn.
Qua đến mùa Thu 1922, t́nh h́nh khả quan hơn. Sau hai năm sống trong cảnh
đói kém, vụ mùa năm nay họ được phép giữ nông phẩm để ăn
qua mùa Đông, với điều kiện vụ mùa Xuân phải đóng thuế trả từng
phần. Năm đó số lượng ngũ cốc thu hoạch giảm rất nhiều
so với 10 năm trước. Hạn hán không phải là lư do duy nhất dẫn đến
sự giảm sút trong thu hoạch. Sự thiếu tổ chức, tŕnh độ hiểu biết
về kỹ thuật nông nghiệp quá thấp, dụng thu quá thô sơ, lỗi thời là những
nguyên nhân . Ngoài ra vấn đề chiến tranh, sự chống đối của nông dân trong
chính sách nông nghiệp cũng là lư do làm chậm trễ các quá tŕnh sản xuất.'' Trong
lời khai, họ có nói đến cái tại họa nhưng nêu đích danh. Đó là yếu
tố chính của các vụ mất mùa: Chính sách trưng dụng. Các quan đầu tỉnh
của các tỉnh bị nạn đói đe dọa nhiều nhất đă cùng nhau họp
tại Mạc Tư Khoa trong tháng 6 năm 1921 đă quy trách nhiệm vào chính phủ và nhất
là các toán trưng dụng. Chính các toán này v́ có quá nhiều quyền hành, đă lạm dụng,
thi hành quá gắt gao cho nên làm cho nạn đói trầm trọng hơn. Ông Vaviline, đại
diện cho tỉnh Samara giải thích rằng các ủy ban tỉnh phụ trách tiếp tế
từ lúc khởI đầu trưng thu ước lượng con số quá cao.Họ thổi
phồng con số trưng thu. Năm 1920, mặc dù mùa màn thất thoát, họ củng trưng
thu hàng triệu thùng lúa ḿ. Tất cả lúa dự trữ, lúa giống điều bị tịch
thu. Qua tháng giêng năm 1921, dân không c̣n bánh ḿ để ăn. Qua tháng hai, con số người
chết v́ đói gia tăng. Vài tháng sau, trong tỉnh Samara không c̣n lực lượng chống
đối nào nữa cả. Dân chỉ đến bao vây ôn ḥa các văn pḥng hành chánh Xô Viết
hay văn pḥng đảng cộng sản. Họ chờ đợi các đoàn tiếp tế
lương thực trong nhiều ngày. Chúng tôi không biết
cách nào giải tán. Mỗi ngày, họ lăng ra chết tại trụ sở, chết như
con ruồi. Có đến chín trăm ngàn người chết đói trong tỉnh. Đọc
các bản báo cáo của công an địa phương, của cục t́nh báo quân đội,
người ta biết được vụ thiếu lương thực xảy ra từ
năm 1919. Từ đó, t́nh trạng thiếu lương thực mỗi ngày một tăng.
Trong các bản phúc tŕnh nội bộ, các ủy ban nông nghiệp và tiếp tế đều
có kê khai các vùng đang bị đói và các vùng sẽ bị đói. Vụ đói ở năm
1921 là do các cuộc trưng thu cuồng nhiệt của năm 1920. Cơ quan công an chính trị
suy luận rằng chính nhờ nạn đói mới giảm được sự chống
đối của quần chúng. Mặc dù chính phủ biết rằng chính cưỡng bách
thu mua lương thực sẽ dẫn đến hậu quả không lường được,
chính phủ không dùng biện pháp nào để ngăn chận nạn đói. Ngày 30 tháng 7 Lenine
và Molotov gởi điện thư đến các bí thư tỉnh, vùng, ra lịnh họ gia
tăng bộ phận thu mua và mở chiến dịch giải thích tầm mức quan trọng
chính trị và kinh tế về việc đóng thuế để duy tŕ sức mạnh của
đảng và nhà nước. Đứng trước chính sách thi hành triệt để
tiêu diệt giai cấp nông dân, tháng 6 năm 1921, các nhà trí thức, chuyên viên nông nghiệp, kinh
tế, giáo sư đại học đă đứng lên thành lập Ủy ban Chống Đói
trong phạm vi của Hội Canh Nông Mạc Tư khoa. Các ủy viên đầu tiên là hai
kinh tế gia Krondatiev và Prokopovitch, ông Ekaterina Kouskova, cựu Bộ Trưởng tiếp tế
của Chính Phủ lâm thời, một nhà văn, một kư giả và một số chuyên viên
nông nghiệp. Nhờ sự giới thiệu của Gorki, ủy ban được ông
Levkamenev tiếp kiến vào trung tuần tháng 7. Lenine từ chối tiếp kiến ủy
ban. Sau cùng ủy ban thuyết phục được một số nhân vật lănh đạo
đảng về một số vấn đề. Các ủy viên trong ủy ban chống đói
là những người rất có uy tín với Tây phương qua cuộc cứu đói năm
1891. Nay họ đứng ra vận động sự giúp đở của quốc tế.
Ủy ban đ̣i một quy chế cho họ. Ngày 21 tháng 7 năm 1921 chính quyền bônsêvich cho
hợp pháp hoá uỷ ban cứu đói dưới cái tên '' Ủy ban liên Nga cứu đói''.
Ủy ban này được phép mang dấu Hồng Thập Tự, và được toàn quyền
t́m kiếm lương thực, thuốc men trong hay ngoài lănh thổ Nga. Họ được
phép xử dụng các phương tiện chuyển vận đặc biệt để mang
thực phẩm đến phân phối cho các nạn nhân của nạn đói. Họ tổ
chức các quán cơm miễn phí. Họ có quyền liên lạc với các cơ quan ngoại
quốc. Chưa bao giờ trong lịch sử nước Nga có được một
tổ chức với nhiều quyền như vậy. Sự nhượng bộ này là do sự
khủng hoảng kinh tế và xă hội trong khi nước Nga đang cho thi hành tân chính sách
chính tri kinh tế. Chính quyền c̣n đang lo sợ . Ủy Ban liên Nga liền bắt liên
lạc với Giáo chủ Tikhon của giáo hội Chính Thống. Vị Giáo chủ cùng với
các giáo sĩ thành lập ủy ban cứu trợ. Ngày 7 tháng 7 năm 1921, Giáo chủ gởi
cho các tu sĩ của các nhà thờ ở Nga một bức thơ. '' Xác của những người
chết đói là món ăn ngon nhất của những người sắp chết đói. Mà
món ăn này cũng khó mà t́m cho ra. Cảnh người ăn thịt người đă diễn
ra. Hăy ra tay cứu giúp các người anh em của chúng ta. Với sự chấp thuận của
giáo dân, các Người có thể xử dụng các kho tàng của giáo đường để
cứu các nạn nhân đang chết đói. Các vật dụng không có gía trị tâm linh như
vàng ṿng nữ trang, các tượng thánh,v,v..'' Sau khi được Giáo hộ tiếp tay
cứu trợ, Ủy ban liên Nga liên lạc với các cơ quan từ thiện quốc tế,
như Hội Hồng Thập Tự , Hội Tân Giáo Ước [ Quaker ] , Hội người
Mỹ cứu trợ [ ARA ]. Tất cả đều phản ứng tích cực. Nhưng
than ôi, Ủy Ban Liên Nga sống không quá 5 tuần lễ. Đến ngày 27 tháng 8 năm 1921, sáu
ngày sau khi kư hiệp đồng với đại diện Hội cứu trợ Mỹ ông
Herbert Hoover, chính quyền cộng sản giải tán Ủy ban. Đối với Lenine, một
khi các con tàu Mỹ chở lương thực rời bến là nhiệm vụ của Ủy
ban liên Nga hoàn tất. Phần tiếp nhận là phần của người chính quyền ,
ông Kouskov kư tên nhận lănh. Đủ rồi. Chủ tịch ủy ban Liên Nga , ông Prokopovitch
bị bắt giam ba tháng v́ tội '' phiến loạn''. Một số uỷ viên của ủy
ban bị tống ra nước ngoài. Một số khác bị đày đi sinh sống ở
các vùng khác nhau, nơi đó không có hệ thống vận chuyển công công. Họ bi quản
thúc và bị theo dơi hằng ngày. Chính quyền giải thích với dân chúng bằng cách công bố
rằng: v́ Ủy ban không chịu làm việc nên phải giải tán. Chính quyền ra lịnh
cho báo chí mạ nhục. Họ gọi các ủy viên là các cậu ấm , các tên lính của Nga
Hoàng, muốn đi rong ra nước ngoài, ít chịu đi công tác ở các tỉnh. Qua báo chí,
Chính quyền hạ nhục các nhà trí thức, các nhà từ thiện ít nhất hai lần trong
một tháng. Tuân hành theo chỉ thị của nhà nước, báo chí phát động chiến
dịch tố khổ một danh sách 60 nhà trí thức tên tuổi trong Ủy ban Liên Nga cứu
đói. Báo Sự Thật số ra ngày 31 tháng 8 năm 1921 chạy tin '' Người ta không
thể đùa bỡn với thần đói'', '' Người ta đầu cơ trên sự
đói kém'', hay '' Ủy ban cứu trợ,.. .. bọn phản cách mạng''. Khi
có người nói rằng Ủy ban liên Nga đâu có làm ǵ phạm pháp, th́ Unschlicht là một phụ
tá chỉ huy ngành công an trả lời:'' Phải rồi, họ chẳng làm ǵ phạm pháp. Nhưng
các việc làm của họ thu hút quan tâm của xă hội. Sự việc này chúng tôi không
chấp nhận. Như ông biết, khi ta đặt một nhánh cây vào ly nước, nhánh cây
sẽ mọc rễ và nẫy mầm. Khi Ủy Ban liên Nga hoạt động, trong cộng
đồng xă hội phát sinh ra nhiều chi nhánh khác. Chúng tôi phải rút nhánh cây ra và đập
nát nó..''. Thay vào vai tṛ của Ủy ban liên Nga, nhà nước cộng sản dựng ra Ủy
ban trung ương cứu đói. Đó là một cơ chế nặng nề, quan liêu, gồm
các công nhiên viên nhà nước, các uỷ viên nhân dân không có khả năng, không có uy tín, thối
nát và chỉ biết ăn hối lộ. Trong lúc có đến 30 triệu ngưới chết
đói cần cứu giúp, Ủy ban chỉ có thể trợ cứu bất thường cho
chừng 3 triệu, 1/3 trên tổng số nạn nhân. Các cơ quan từ thiện quốc tế,
như Hội Hồng Thập Tự, Hội Quaker, Hội ARA, phụ lo cho chừng 10 triệu
nạn nhân. Có ít nhất 1 triệu người chết đói trong những năm 1921-1922.
Trong khi đó nạn đói lớn của Nga vào năm 1891 chỉ có 400 ngàn người chết
ở những vùng ven sông Volga và vùng Kazakhstan. Lúc đó chính quyền và toàn dân cùng nhau tham
gia vào công tác cứu trợ. Chỉ trừ ông luật sư trẻ Vladimir Lenine, đầu
năm 1890 cư ngụ tại Samara là một người trí thức trong vùng đang bị
nạn đói đe dọa trong năm 1891, không những không tham gia vào chiến dịch cứu
đói, ông c̣n lên tiếng chống lại chính sách cứu trợ của chính quyền.
Một người bạn của Lenine nhắt lại quan điểm của Lênine: ''
Lenine nói trước quần chúng rằng nạn đói là cơ hội tốt cho sự ra
đời lớp giai cấp vô sản. các người vô sản sẽ là những '' đạo
t́'' chôn cất giai cấp trưởng gỉa. Khi nạn đói hủy diệt hết các
nông dân lạc hậu, chúng ta sẽ tiến dần đến mục tiêu. Đó là tiến
đến Xă hội chủ nghĩa, một giai đoạn đến sau chủ nghĩa Tư
Bản. Nạn đói sẽ phá hủy niềm tin của dân chúng vào Nga Hoàng và ḷng tin nơi
Thượng Đế''. Ba mươi năm sau, vị luật sư trở thành chủ
tịch chính phủ Bônsêvich cũng lập lại mưu đồ của ông. Ông cho rằng
nạn đói sẽ là phương tiện đánh chết kẻ thù. Kẻ thù lúc này là Giáo
hội Chính Thống. Khi đàm thoại với ông Leonid Krassine về kế hoạch Điện
Khí Hóa cho nước Nga, Ông nói, điện khí sẽ thay Thượng đế. Hăy để
nông dân cầu nguyện điện khí. Như vậy nông dân sẽ tin phục vào quyền lực
nhà nước hơn là tin vào thượng Đế. Từ khi thành lập Tân chính quyền,
sự ban giao giữa nhà nước và Giáo hội càng ngày càng tồi tệ hơn. Ngày 5
tháng 2 năm 1918, chính quyền ra nghị quyết tách rời Giáo Hội ra khỏi nhà nước,
ra khỏi nhà trường và quốc hữu hóa tất cả tài sản của Giáo Hội.
Dưới thời Nga Hoàng, Chính Thống Gíao là quốc giáo. Để chống lại hành
động vi phạm vào vai tṛ truyền thống của Giáo hội, Giáo chủ Tikhon đă
gởi bốn bức thư đến giáo dân . Người Bônsêvich liên tục đả phá
giao hội bằng cách bôi xấu tên thánh của các vị thánh. Họ tổ chức các cuộc
'' hội hoa phản tôn giáo'' trong những ngày Thánh Lễ. Họ đ̣i biến Tu viện lớn
Trinite Saint Serge gần thủ đô, thành '' viện bảo tàng vô thần''. Các vị giám
mục chống lại lời đề nghị của Bônsêvich đều bị bắt giam.
Lenine lấy cớ nạn đói để tiêu diệt Tôn giáo. Ngày 26 tháng 2 năm 1922, trên
các báo của nhà nước đăng một nghị định của chính phủ cho tịch
thu lập tức tất cả các quư vật bằng vàng, bạc hay đá quư của các Thánh
đường, Tu viện nếu những vật dụng này không dùng vào trong các cuộc hành
lễ. Tất cả quư vật phải chuyển giao cho bộ Tài Chánh. Bộ này có quyền
xử dụng trong công tác cứu trợ nạn đói. Các biện pháp tiến hành tịch
thu tài sản Giáo hội bắt đầu vào tháng 3 và tiếp diễn sau đó với nhiều
vụ đụng độ giữa các toán trông thu và các tín đồ trung tín. Vụ chống
đối lớn xảy ra tại Chouia vào ngày 15 tháng 3 năm 1922. Đây là một thành phố
nhỏ có nhiều nhà máy , nằm trong tỉnh Ivanovo. Quân đội nổ súng vào đám
đông tín đồ bắn chết 10 người. Lăy cớ các cuộc chống đối
của tín đồ, Lênine ra tay tiêu diệt tôn giáo. Trong một văn thư gởi cho các
thành viên của Bộ chính trị đề ngày 19 tháng 3 năm 1922, với lời lẽ
vô liêm sĩ, Lenine giải thích : '' Nạn đói là công cụ để đánh chết đầu
năo của kẻ thù. Về biến cố ở Chouia, chúng ta phải quyết định
ngay bây giờ v́ nó nằm trong chính sách đău tranh toàn diện của chúng ta. Cứ theo như
các tin trên báo chí, chúng ta cần phải xét đến thái độ chống chính sách tịch
thu tài sản của các tín đồ và nhất là lập trường của Giáo chủ Tikhon.
Hiện ǵơ Giáo Hội của ''một trăm tên áo đen'' [ 100 Linh Mục ] đang tổ
chức chống lại nhà nước. Tôi nghĩ rằng kẻ thù của chúng ta đă tính
sai. Lúc này là lúc thuận lợi cho chúng ta hơn là cho bọn chúng. Sự thành công của chúng
ta có thể lên đến 99%. Nó cho phép chúng ta đánh gục bọn đầu năo và chúng ta
cũng cố địa vị cần thiết cho lúc này và cho vài thập niên về sau.
Trong cái khung cảnh người ăn thịt người, người chết hàng trăm,
hàng ngàn nằm ngỗn ngang, chúng ta phải thu hết nghị lực, phải hết sức
dữ tợn, hết sức tàn nhẫn mới tịch thu tài sản của Giáo hội được.
Chỉ có lúc này là lúc mà nông dân sẽ bỏ bọn Giáo sĩ, bọn tiểu tư sản,
chạy về phía chúng ta. Chúng ta có thể cưỡng đoạt kho tàng trị gía cả
trăm triệu Rúp. Nếu không có tài sản này, chúng ta không thể nào thực hiện được
công tŕnh xây dựng kinh tế, hành chánh và pḥng thủ. Chúng đă sẽ không thể đứng
vững được. Chiến dịch tịch thu phải được thi hành ngay lúc này.
Chính v́ t́nh h́nh đói kém, dân chúng chẳng quan tâm đến t́nh cảm hay xúc động.
V́ vậy tôi đi kến kết luận rơ ràng là phải đập tan bọn Giáo sĩ, bọn
''trăm người áo đen'' quyết liệt và tàn nhẫn. Tôi đề nghị chương
tŕnh hành động của chúng ta như sau: Giao cho đảng viên Kalinine giải quyết
cấp bách mọi vấn đề. Không cho Trotski xuất hiện trước công chúng hay
trên báo chí. Gởi ngay một ủy viên thông minh và cương quyết của uỷ ban hành
pháp trung ương đến Chouia. Không ra văn thư mà bằng khẩu lịnh cho bắt
giam giáo sĩ càng nhiều càng tốt. Phải bắt ít nhất vài chục tiểu tư sản
và thương gia và tố cáo họ đă tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các cuộc
chống đối chính sách trưng thu tài sản giáo hội. sau khi thi hành nhiệm vụ,
nhân viên thi hành phải báo cáo cho Bộ chính trị hay ít nhất cũng phải báo cáo cho hai
thành viên của bộ. Căn cứ vào bản báo cáo, Bộ chính trị sẽ ra khẩu lịnh
cho các cơ quan hữu trách Tư Pháp thi hành bản án các phần tử phản loạn trong
biến cố ở Chouia. Xử bắn một số lớn của '' 100 tên áo đen'' cùng
với các giáo dân ở thủ đô Mạc Tư khoa hay các trung tâm giáo dân khác. Chúng ta phải
cho chúng một bài học ngay bây giờ để cho chúng không c̣n dám nghĩ đến một
h́nh thức chống cự nào nữa trong vài chục năm sau .'' Căn cứ trên các bản
phúc tŕnh hằng tuần của cơ quan công an chính trị, cao điểm của
chiến dịch tịch thu tài sản Giáo hội xảy ra hồi tháng 3, tháng 4 và tháng 5 năm
1922. Trong số 1414 vụ chống cự, có 2691 Linh mục, 1962 nữ tu sĩ và 3447 nam
tu sĩ ở các ḍng tu kín bị hạt sát. Nhà nước mở các vụ xử án tu
sĩ công khai tại Mạc Tư Khoa, Ivanovo, Chouia, Smolenk, Petrograd. Theo chỉ thị của
Lenine, Bộ chính trị đưa ra một số biện pháp. Từ ngày 15 đến ngày
20 bắt giam vị Giáo chủ và các Giám mục trong hội đồng Giáo hội. Trong
ṿng một tuần lễ đưa ra ṭa án những người theo đạo Chính Thống
tại Chouia. Xử bắn các người cầm đầu cuộc nổi loạn. Trong
một báo cáo gởi về Bộ chính trị, Dzerjinski cho biết Giáo chủ và phe của ông
ta có hành động rơ ràng chống lại lịnh tịch thu tài sản của giáo hội.
Nhà nước có đủ chứng cớ để bắt giam Giáo chủ Tikhou và những
thành viên phản động nhết của giáo khu. Việc bắt giam là một hành động
hợp thời và hợp pháp. Linh mục nào chống lại lịnh tịch thu là kẻ thù
của nhân dân. Ở Petrograd, có 76 giáo sĩ bị bắt giam trong các trại lao động
khổ sai, 4 vị bị hành quyết trong đó có vị Tổng giám mục giáo phận Petrograd
tên là Benjamin được bầu vào năm 1917. Vị Tổng Giám mục này rất gần
dân. Ông kêu gọi Giáo Hội độc lập với nhà cầm quyền ở Petrograd. Ở
Mạc Tư Khoa, có 140 Linh mục và giáo dân bị bắt lưu đày lao động khổ
sai. Sau đó họ bị kết án tử h́nh. Giáo chủ Tikhon bị nhốt tại tu viện
Donskoi ở Mạc Tư Khoa. Vài tuần lễ sau khi diễn đi diễn lại tṛ
xử án, ngày 28 tháng 2, báo chí đăng tin xử lại vụ án Mạc Tư Khoa. 34 thành viên
đảng xă hội cách mạng bị kết tội '' phản cách mạng và chống lại
chính quyền Bônsêvich, là ban chỉ đạo cuộc nổi loạn ở Tambov'' , trong đó
gồm luôn vụ mưu sát Lenine xảy ra ngày 31 tháng 7 năm 1918. Lenine cho áp dụng
h́nh thức bị cáo hỗn hợp, như trong năm 1930 sau này Staline áp dụng. Nó gồm
cả thành phần chính trị, mười hai thành viên của Ủy ban trung ương đảng
xă hội cách mạng do Abrmham Gots cầm đầu và các người khiêu khích do chính quyền
gài vô. Họ tố cáo các người cùng bị can và khai những lời tự thú của
ḿnh. Theo nhận xét của bà Helene Carrere d'Encause thuộc Hàn lâm viện của Pháp, là để
thử nghiệm phương pháp tố cáo cho ăn khớp với nhau, có xuất xứ là
một sợ thật. Cuộc chống đối của lực lượng xă hội
cách mạng chống lại chính quyền bônsêvich từ năm 1918 sẽ đưa đến
một nguyên tắc là mọi sự chống đối cuối cùng là đưa đến
việc cộng tác với giới tư sản quốc tế. Chính quyền dàn cảnh
các cuộc biểu t́nh của dân chúng ở bên ngoài các ṭa án, đ̣i xử tử h́nh các tên khủng
bố. Ngày 7 tháng 8, có 10 đảng viên đảng xă hội cách mạng bị kết án
tử h́nh. Nhờ các cuộc vận động quốc tế của một số nhà trí
thức Nga trốn ra nước ngoài, cùng với t́nh h́nh căng thẳng ở nông thôn, nhà
nước cộng sản tạm thời ngưng thi hành các bản án với điều kiện
đảng xă hội ngưng các hoạt động chống lại nhà nước. Tháng
giêng năm 1924, các bản án Tử h́nh giảm xuống án 5 năm lao động khổ sai.
Nhưng các tù nhân sau 5 năm không được thả ra . Họ bị xử tử vào năm
1930 khi mà dư luận thế giới quên đi và t́nh h́nh trong nước không c̣n là mối
lo cho chính quyền nữa. Kể từ 1 tháng 6 năm 1922, nhà nước cho ban hành bộ
h́nh luật mới. Lenine theo dơi sự soạn thảo các điều khỏan của bộ
luật. Bộ h́nh luật mới cho phép dùng bạo lực chống lại kẻ thù
chính trị. ''Bằng chứng'' của các vụ thủ tiêu nhanh chóng không c̣n gía trị trong
thời chiến. Trong các bản dự thảo theo đề nghị của ông, đề
ngày 15 tháng 3 năm 1922, Lenine bày tỏ ư kiến với viên chủ tịch nhân dân phụ trách
Tư pháp Kourskii :'' Theo thiển ư của tôi, phải nới rộng tất tầm xét
xử tội tử h́nh cho tất cả các hoạt động của bọn Mensêvich, bọn
cách mạng xă hội. Ta hăy tạo ra một h́nh phạt mới. Đó là h́nh phạt tống
ra các vùng xa xôi hay ra nước ngoài. Phải tu chính một số h́nh thức kết tội
các hoạt động có liên quan đến bọn tư sản quốc tế.'' Hai ngày
sau, Lenine chỉ thị thêm cho Kourskii.
'' Đồng
chí, tôi muốn thêm vào bản dự thảo một khoản bổ túc cho bản tân h́nh luật.
Việc cần thiết là phải rơ ràng. Phải đặt ra một nguyên tắc cho đúng
với đường lối chính trị, chớ không phải chỉ trong phạm vi hẹp
ḥi của tư pháp. Các nguyên tắc này sẽ là nguyên do thúc đẫy các cuộc khủng
bố. Thiết lập các nguyên tắc rơ ràng, không gian lận, không che giấu. Các điều
khoản của h́nh luật càng cởi mở càng tốt. Chỉ có ư thức cách mạng hợp
pháp mới tạo ra các điều kiện áp dụng cho các việc làm.''.
Back to TOP
|