Dưới cái nh́n tổng quát, một số phân tích gia cho rằng
cuộc chiến tranh ở Nga là cuộc nội chiến giữa phe Bônsêvich Đỏ và phe
Bảo Hoàng Trắng.
Nhưng trên thực tế, ngoài các cuộc giao chiến giữa
hai phe Hồng Quân và Bạch Quân ra, vấn đề quan trọng là những ǵ xảy ra ở
hậu tuyến sau khi chiến tuyến di chuyển về phía trước. Đặc điểm
của những diễn biến ở hậu phương là các cuộc đàn áp bằng vũ
lực tại những nơi mà Hồng quân hay Bạch quân chiếm đóng.
Tại các vùng do Hồng Quân kiểm soát, các cuộc đàn áp
được tổ chức có phương pháp và rất quy mô. Đối tượng là
quần chúng của mọi tầng lớp. Đặc biệt đối với lănh tụ
của các đảng phái chính trị hay các đoàn thể chống đối, các công nhân đ́nh
công đ̣i hỏi yêu sách, các người trốn quân dịch, lính đào ngũ. Đơn giản
hơn nữa là các công dân thuộc các giai cấp xă hội bị t́nh nghi thù địch với
cái tội là đă sinh ra và lớn lên trong các thành phố của phe đối nghịch nay
được tái chiếm.
Điểm quan trọng của cuộc nội chiến là cuộc
đương đầu của hai phe trước hàng triệu nông dân, lính đào ngũ,
bất phục tùng. Họ là yếu tố quyết định thành hay bại của cuộc
chiến cho cả Hồng Quân lẫn Bạch Quân.
Suốt trong mùa hè 1919, những người nông dân đă nhiều
lần nổi lên chống chính quyền Bônsêvich ở các vùng trung lưu sông Volga , sông Don và trên
toàn vùng Ukraine. Nhờ các cuộc nổi loạn này, Đô đốc
Koltchak và Tướng Denikime đă phá vỡ hằng trăm cây số sâu vào chiến tuyến
của Bônsêvich. Nhưng sau đó vài tháng, Koltchak đă tính toán sai lầm khi ông quyết định
trao trả ruộng đất lại cho các địa chủ. Nhóm nông dân vùng Tây Bá Lợi
Á kịch liệt chống lại quyết định của Koltchak. V́ thế Bạch
quân dưới quyền chỉ huy của Đô Đốc Koltchak thất trận.
Các cuộc hành quân của Bạch lẫn Hồng quân chỉ diễn
ra từ cuối năm 1918 đến đầu năm 1919, nghĩa là chỉ hơn một
năm, trên thật tế không phải là cuộc nội chiến. Đó là các cuộc chiến
vô cùng bẩn thiểu với mục đích là đè đẹp các thế lực của nông
dân nổi dậy ở những vùng họ chiếm đóng. Ở các vùng đất do Bônsêvich
kiểm soát, đă diễn ra các cuộc đău tranh giai cấp, chống lại lớp người
giàu có, các phần tử mà họ cho là xa lạ với xă hội , truy lùng lănh tụ của
các phe đối lập, đàn áp những người đ́nh công, tấn công những
đơn vị Hồng quân bị nghi ngờ tiếp tay trong các cuộc nổi dậy của
nông dân.
Trong các vùng do Bạch quân chiếm đóng, những người
bị t́nh nghi gốc Do Thái thân Bônsêvich bi truy nă gắt gao. Không phải chỉ có Bônsêvich mới
đàn áp. Các cuộc khủng bố trắng đă diễn ra ở vùng Ukraine để tàn
sát những người Do Thái xảy ra vào mùa hè 1919 dưới quyền chỉ huy của
Tướng Denikine và các lực lượng vỏ trang Petioura. Họ đă giết lối
150.000 người Do Thái. Những nhà nghiên cứu nhận định rằng không thể đánh
gía các cuộc khủng bố đỏ cũng giống như đánh gía các cuộc khủng
bố trắng. Cuộc khủng bố đỏ được tổ chức có hệ thống,
có phương pháp, có suy tính kỹ lưỡng và được thi hành trước khi xày
ra cuộc nội chiến. Nó được lư thuyết hóa để chống lại tất
cả mọi tầng lớp trong xă hội.
Trong khi đó, cuộc khủng bố của Bạch quân chỉ
do các đơn vị ngoài tầm kiểm soát của quân Bạch Nga. Nó không nằm trong kế
hoạch hay tính toán của bộ chỉ huy Bạch quân. Các cuộc đàn áp này thường
do các toán công an, cảnh sát hay các toán phản gián thực hiện. Tướng Denikine đă
nhiều lần lên án các cuộc khủng bố này. Để đối đầu với
cơ quan phản gián của Bạch quân, phía Hồng quân đă cho cơ quan t́nh báo chính trị
Tcheka kết hợp với '' Lực lượng bảo vệ nội chính cộng ḥa''
lập thành một lực lượng có nhiều đặc quyền và được tổ
chức rất chu đáo.
Khó có thể tŕnh bày hết các h́nh thức khủng bố của
cuộc nội chiến. Ở đây chúng tôi chỉ nêu những điểm tiêu biểu về
các cuộc đàn áp của nhóm Bônsêvich. Tuỳ theo phương pháp thực hiện và tuỳ
ưu tiên giải quyết, các cuộc đàn áp đều đă xảy ra trước
cuộc nội chiến. Cuộc đàn áp thực sự mở rộng vào cuối mùa hè năm
1919. Chúng tôi chỉ chọn ra đây các sự kiện rơ ràng và xảy ra liên tục theo thời
gian để có thể theo dơi từ đầu của chế độ bônsêvich:
Các vị lănh tụ chính trị không thuộc phe Bônsêvich, từ những
người thuộc phe bảo Hoàng đến các thành phần vô chính phủ.
Các công nhân thợ thuyền đău tranh cho quyền lợi sơ
đẳng của họ, như có việc làm, có cơm ăn, có quyền tự do căn
bản và tôn trọng nhân phẩm.
Các nông dân, lính đào ngũ có liên hệ đến các cuộc chống
phá chính quyền của lực lượng nông dân, hay các đơn vị Hồng quân nổi
loạn.
Các người Cosaques bị coi là thành phần chống chính quyền
Bônsêvich v́ họ thuộc giai cấp riêng biệt của xà hội. Họ bị lưu đày
từng khối đông quần chúng. Hiện tượng giải trừ người Cosaque
là một điềm báo hiệu cho các cuộc lưu đày của thành phần giàu có cùng với
các sắc dân đă diễn ra với mức độ quy mô trong những năm 1930 sau này.
Nó nói lên tính liên tục trong chính sách đàn áp của Lenine và Staline.
Các phần tử xa lạ với xă hội, kẻ thù của
nhân dân, các thành phần bị t́nh nghi, các con tin,.. bị thủ tiêu, đă từng xảy ra
ở các thành phố trước khi người Bônsêvich rút lui v́ Bạch quân tấn công hay
khi tái chiếm.
Người ta biết rất nhiều về các cuộc lùng bắt
các đối thủ đảng phái chính trị đối lập chống lại chính quyền
bônsêvich.
Các lănh tụ có tên tuổi của các đảng phái chính trị
thường để lại các chứng từ . Có số c̣n bị tù đày, có vị lưu
vong ra nước ngoài, hiện đang c̣n sống. Các lănh tụ gốc nông dân hay công nhân
là những thành phần nồng cốt thường bị xử bắn không cần xét xử.
Có khi họ bị thanh toán trong các cuộc hành quân truy lùng do tổ chức công an chính trị
Tcheka phát động. Điển h́nh là cuộc đàn áp diễn ra ngày 11 tháng 4 năm 1918 tại
Mạc Tư Khoa nhắm vào thành phần vô chính phủ. Họ đă bắn tại chổ
hàng chục người. Các cuộc hành quân truy lùng các thành phần vô chính phủ vẫn tiếp
tục mấy năm liền sau đó. Lực lượng gọi là vô chính phủ vừa
chống lại chính quyền chuyên chế của Bônsêvich, vừa chống lại những
người của chính quyền cũ. Như lănh tụ Makkno gốc nông dân thuộc lực
lượng vô chính phủ. Lúc đầu ông hợp tác với Hồng quân để chống
lại Bạch quân. Khi thanh toán xong Bạch quân, ông quay ra chống Hồng quân. Họ bị
Hồng quân và các toán Tcheka kết tội là các tên lưu manh phá rối và bị xử bắn.
Trong số đó có rất nhiều nông dân bị giết. Theo bản thống kê của những
người nông dân c̣n sống sót bỏ chạy qua Đức hồi năm 1922 cho biết
con số người bi bắn lên đến 138 người vào năm 1919 đến 1921.
Cho đến ngày 1 tháng giêng năm 1922 có tất cả 608 người bi bắt cầm tù.
Từ mùa hè 1918 cho tới tháng 2 năm 1919, nhóm Xă hội thiên
tả vẫn c̣n là đồng minh của chính quyền Bônsêvich nên được đối
đăi khoan hồng. Nữ lănh tụ Spiridonova của phe xă hội cách mạng được
phép chủ tọa một phiên đại hội của đảng. Nhưng khi lên án về
các vụ đàn áp của các toán công an chính trị Tcheka, bà bị bất cùng với 210 đảng
viên của bà vào ngày 19 tháng 2 năm 1919. Ṭa án cách mạng Bônsêvich kết tội họ là
những người điên nên giam họ trong các trung tâm người bịnh tâm thần. Đây
là h́nh thức đàn áp người đối lập chính trị đầu tiên của chính
quyền chuyên chế Sô Viết. Bà Maria Spiridonova vượt ngục và tiếp tục bí mật
chỉ huy lực lượng xă hội cách mạng thiên hữu. Theo báo cáo của cơ quan
công an chính trị Tcheka, trong năm 1919, họ đă phá vỡ 58 tổ chức xă hội cách
mạng và năm 1920 phá vỡ 45 tổ chức khác. Trong ṿng hai năm này, có tất cả 1875
người thuộc đảng xă hội cách mạng bị bắt cầm tù. Ngày 19 tháng 3
năm 1919, Djerjinski tuyên bố, ông ta sẽ không phân biệt các Bạch quân thuộc cánh xă hội
cách mạng hay thuộc phe Krasnov nữa. Các đảng viên đảng xă hội cách mạng
cũng như các thành phần mensêvich sẽ bị bắt giam làm con tin. Họ sẽ bị
kết án tùy theo các hoạt động chính trị của các đảng của họ.
Đối với chính quyền bônsêvich, đảng xă hội cách
mạng luôn luôn là đối thủ chính trị nguy hiểm của họ. Người ta c̣n
nhớ kết quả của cuộc tuyển cử tự do vào tháng 11 và 12 năm 1917. Trong
cuộc bầu cử tự do này, đảng xă hội cách mạng thiên hữu đă chiếm
đa số tuyệt đối trong Quốc Hội. Ngay sau khi Quốc Hội lập hiến
giải tán, đảng xă hội các mạng vẫn c̣n tham dự chính quyền tư cấp
địa phương cho đến Ủy ban hành pháp trung ương Xô Viết. Nhưng đến
tháng 6 năm 1919, đại diện của nhóm Xă hội cũng như nhóm mensêvich bị đẫy
ra khỏi các cơ quan chính quyền. Từ đó các đảng chính trị này kết hợp
với nhau thành lập đơn vị chính quyền tạm thời tại Samara và Omsk. Nhưng chẳng bao lâu họ cũng bị Đô
đốc Bạch quân Koltchak giải tán. Đứng giữa hai thế lực Hồng và Bạch
quân, các tổ chức chính trị của nhóm mensêvich cũng như nhóm cách mạng xă hội
không chọn được con đường chính trị nào để hoạt động.
Hơn thế nữa họ c̣n bị các tổ chức xă hội đối lập khác xâm
nhập, phá hoại, trở nên yếu thế.
Ngày 20 tháng 3 năm 1919, khi Bạch quân tấn công, chính quyền
Bônsêvich cho phép nhóm Xă hội cách mạng tái bản tờ báo của đảng dưới
cái tên Dân Quyền - Delo naroda.
Ngày 31 tháng 3, cơ quan công an chính trị Tcheka mở cuộc bố
ráp t́m bất các phần tử của nhóm xă hội cách mạng và mensêvich, mặc dù họ
được phép hoạt động. 1900 đảng viên của hai đảng này bị
bắt tại Mạc Tư khoa và tại các thành phố Toula, Somolensk, Voronej, Penza,
Samara và Kostroma.
Ngày 28 tháng 8 năm 1918, Lenine viết một bài báo đăng
trên tờ Sự Thật - Pravda, kết án nhóm xă hội cách mạng và Mensêvich là những
tên tay sai của Bạch quân, địa chủ và tư bản.. Liền sau đó, cơ quan
công an chính trị Tcheka bắt giam 2380 người.
Ông Victor Tchernov, vị chủ tịch Quốc Hội một ngày,
nhân các thợ xếp chữ tổ chức lễ đón chào phái đoàn nhân công Anh ngày 23 tháng
5 năm 1920 đă giả dạng lên diễn đàng tố cáo hành động lố bịch
của chính phủ và cơ quan Tcheka. Sau đó chính quyền chuyên chế truy lùng ông và những
đảng viên xă hội khác. Tất cả gia đ́nh ông bị bắt giữ làm con tin.
Trong một bản tin nội bộ của cơ quan Tcheka đề
ngày 1 tháng 7 năm 1920 có ghi những lời đểu cáng như sau : Nếu không cho họ
hoạt động công khai, th́ họ sẽ hoạt động bí mật. Và như vậy
rất khó kiểm soát. Tốt hơn hết là để cho họ hoạt động '' bán
hợp pháp''. Muốn bắt họ lúc nào cũng được, và nhất là cho người
trà trộn vào để chỉ điểm các cán bộ nồng cốt của tổ chức
họ. Đối với các đảng chống Xô Viết, làm như vậy chúng ta dễ
kiểm soát. Khi muốn bắt chúng ta chỉ cần kết tội như gây chia rẽ, tạo
rối loạn, loan các tin thất thiệt,..Lợi dụng t́nh h́nh nội chiến, chúng ta
ghép họ vào các tội phản động, phản cách mạng, phản tổ quốc, lũng
đoạn hậu phương, làm gián điệp cho địch, ..''..
Đầu năm 1918, đảng bônsêvich, nhân danh giai cấp công
nhân đứng lên cướp chính quyền, đă mở các cuộc đàn áp lại công nhân.
Các cuộc đàn áp kéo dài đến năm 1919, 1920 và đạt cao điểm vào năm 1921.
Điển h́nh nhất là cuộc đàn áp công nhân đ́nh công biểu t́nh ở thành phố
Kronstad. Từ đầu năm 1918, công nhân Mạc Tư khoa đă biểu lộ sự nghi
ngờ của họ đối với chính quyền bônsêvich.
Ngày 2 tháng 7 năm 1918 , công nhân tổ chức đ́nh công nhưng
thất bại. Đến tháng 3 năm 1919 chính quyền bônsêvich bắt giam một số lănh
tụ đảng xă hội cách mạng. Trong đó có bà Maria Spidonova. Mới trước đó
bà được các nhân công nghinh đón khi bà đến viếng các công xưởng trong thành
phố Petrograd. Các cuộc lùng bắt tiếp tục diễn ra trong
lúc t́nh h́nh đang căng thẳng v́ các cuộc đ́nh công, chống đối.
Ngày 10 tháng 3 năm 1919, nhân một kỳ đại hội của
công nhân công xưởng Poutilov, 10.000 công nhân đă đọc tuyên cáo long trọng lên án chính
quyền bônsêvich. Họ cho rằng chính quyền Bônsêvich là chính quyền độc tài Cộng
sản, cai trị bằng các toán công an chính trị Tcheka và các toà án cách mạng. Bản tuyên
cáo đ̣i hỏi trao quyền lại cho các Xô Viết công xưởng; Công nhân có quyền
tự do chọn ban đại diện; Băi bỏ hạn chế lương thực; Được
quyền mang thực phẩm mỗi lần 24 kư từ miền quê về thành phố; Trả
tự do cho những đảng viên các đảng chính trị c̣n bị giam giữ kể
cả bà Maria Spiridonova,..
Để chận đứng phong trào chống đối mỗi
ngày một lớn rộng, đích thân Lenine phải trở lại Petrograd ngày 12 và 13 tháng 3
năm 1919. Nhưng khi Lenine lên diễn đàn trong các công xưởng 1ể nói chuyện , các
công nhân không cho ông nói. Họ trương biểu ngữ và phản đối Lenine và Zinoviev.
Họ hô khẩu hiệu : đả đảo Do Thái và các ủy viên. Họ đă ghép
phong trào bài trừ người Do Thái cùng với bài trừ Bônsêvich vào một. Những
thiện cảm của họ trong những ngày đầu của cuộc cách mạng tháng
10 giờ đây gần như tiêu tan. Bằng chứng, những lănh tụ bônsêvich lớn như
Trotski, Zinoviev, Kamenev, Rykov, Radek,.. đều là gốc Do Thái. V́ thế dưới mắt của
quần chúng, có sự trùng hợp giữa Bônsôvich và Do thái.
Ngày 16 tháng 3 năm 1919, các lực lượng vỏ trang công an Tcheka
tấn công công xưởng Poutilov đă bị lực lượng công nhân thợ thuyền
chống trả. 900 công nhân bị bắt và sau đó 200 người trong số này bị hành
quyết, tại Schlusselbourg , cách Petrograd 50 cây số. Không hề có phiên ṭa nào xét xử họ
cả. Và theo luật lệ mới, tất cả công nhân đ́nh công đều bị sa thải.
Muốn làm trở lại, họ phải làm bản tự khai là họ đă bị các tên đầu
sỏ phản động lạm dụng gây ra tội ác. Từ đó công nhân bị kiểm
soát gắt gao. Vào mùa Xuân, cơ quan công an Tcheka tổ chức mạng lưới các tên chỉ
điểm trong các công xưởng. Những tên chỉ điểm có nhiệm vụ theo dơi
công nhân rồi báo cáo cho cơ quan công an theo tiêu chuẩn lao động cần cù, thành phần
phản động hay thành phần lười biếng.
Cũng trong mùa Xuân 1919 cũng đă xảy ra các cuộc đ́nh
công và bị đàn áp dă man ở các trung tâm kỹ nghệ Toula, Sormovo, Orel, Briansk, Tver, Ivanovo-Voznessesk,
Astrakhan. Họ cùng có một nguyện vọng. Dù được tiếp tế phiếu thực
phẩm, nhưng với đồng lương chết đói, họ chỉ có thể mua
lối 250 gram bánh ḿ mỗi ngày. Công nhân đ̣i hưởng khẩu phần hằng ngày bằng
khẩu phần của Hồng quân và của nhân viên thuộc cơ quan công an Tcheka. Ngoài ra,
nguyện vọng của họ cũng có tính cách chính trị. Họ đ̣i bỏ các đặc
quyền dành cho Cộng sản; Đ̣i trả tự do cho các tù chính trị; Đ̣i tự do
bầu ủy ban thợ thuyền của công xưởng; Băi bỏ tất cả các cuộc
trưng binh của Hồng quân; Đ̣i tự do báo chí, tự do tư tưởng,..
Sự kiện vô cùng nguy hiểm cho chính quyền Bônsêvich là các đơn
vị Hồng quân đóng ở các khu kỹ nghệ Orel, Briansk, Gomel, Astrakhan nổi loạn
và đứng về phía công nhân. Dưới khẩu hiệu đả đảo bọn Do
Thái và cá ủy viên chính trị'' , các đơn vị Hồng quân nổi loạn chiếm
đóng một phần các thành phố. Nhưng sau nhiều ngày giao chiến, lực lượng
chính phủ cùng các toán công an vỏ trang đă tái chiếm. Lại xảy ra các cuộc lùng bắt,
đàn áp dă man. Hàng trăm người bị hành quyết. Hàng ngàn công nhân bị sa thải,
bị tịch thu thẻ tiếp tế lương thực. Cuộc đàn áp quan trọng
nhất xảy ra tại Toula và Astrakhan trong tháng 3 và tháng 4 năm 1919. Chính Dzerjinski có mặt
trong các cuộc đàn áp này. Toula là thành phố sản xuất vũ khí cho nước Nga. Vũ
khí này dùng để chống lại các cuộc đ́nh công của công nhân xưởng sản
xuất vũ khí. Vào mùa Đông 1918-1919 xưởng đă chế tạo 80% vũ khí cho Hồng
quân trên toàn nước Nga.
Trước đó có nhiều vụ bất ổn xảy ra tại
Toula. Những tay nghề giỏi trong các hăng xưởng Toula lại là các thành viên của nhóm
Mensêvich và nhóm Xă hội cách mạng. Đầu tháng 3 năm 1919, các cuộc truy lùng khởi
đầu. Hàng trăm thành viên đảng xă hội cách mạng bị bắt đă làm nổ
bùng cuộc chống đối. Cao điểm của cuộc nổi loạn xảy ra vào
ngày 27 tháng 3 khi công nhân mở cuộc tuần hành đ̣i tự do và chống đói. Có cả
hàng ngàn công nhân và nhân viên hỏa xa tham dự cuộc tuần hành. Ngày 4 tháng 4, Derjinski ra lịnh
bắt 800 người cầm đầu cuộc tuần hành. Quân chính phủ dùng vũ lực
giải tỏa các công xưởng bị chiếm đóng từ nhiều tuần lễ qua.
Công nhân lại bị sa thải. Thẻ tiếp tế không c̣n gía trị. Nạn đói đang
diễn ra. Muốn được cấp phát thẻ tiếp tế để được
mua 250 gram bánh ḿ mỗi ngày th́ họ lại phải làm đơn cam kết nếu bỏ
sở làm th́ sẽ bị kết án tử h́nh.
Ngày 9 tháng 4, cơ quan Tcheka đem xử bắn 26 người. Ngày
hôm sau các hăng xưởng hoạt động trở lại.
Thành phố Astrakhan nằm trên cửa sông Volga, là địa điểm
chiến lược then chốt cuối cùng của người Bônsêvich để ngăn chận
sự liên lạc giữa các toán quân của Đô đốc Koltchak ở phía Đông và cánh
quân của Tướng Denikine ở hướng Tây Nam. Tháng 3 năm 1919 xảy ra cuộc nổi
dậy và cuộc đàn áp kinh hoàng các cuộc đ́nh công của nhân công thợ thuyền. Khởi
đầu v́ lư do kinh tế , v́ các tiêu chuẩn cấp phát lương thực. Sau đó với
lư do chính trị, đ̣i thả các chính trị phạm. Ngày 10 tháng 3, Trung đoàn 45 có nhiệm
vụ đàn áp cuộc biểu t́nh, nhưng đă quay súng lại và gia nhập lực lương
công nhân thợ thuyền. Họ đập phá trụ sở Bônsêvich, giết chết nhiều
cấp lănh đạo đảng. Chủ tịch ủy ban quân quản Serge Kirov của thành
phố Astrakhan ra lịnh dùng hết mọi phương tiện để tiêu diệt không
nương tay những '' con rận của Bạch quân''. Các đơn vị c̣n trung thành với
chính phủ khóa chặt các ngơ vào thành phố, cho truy lùng bắt công nhân và tái chiếm lại
thành phố. V́ không đủ chỗ nhốt, họ dùng xà lan chở công nhân và quân nhân , cột
vào các cục đá , xô xuống sông Volga cho chết ch́m.
Ngày 15 tháng 4 , nhà nước mở chiến dịch đánh tư
sản. Họ viện lư do , những người tư sản đă xúi giục các cuộc
nổi dậy. Trong hai ngày liền, các căn nhà sang trọng của các thương gia, tư
sản trong thành phố Astrakhan bị nhà nườc tịch thu và đem chủ gia ra bắn.
Có lối 600 người bị bắn và 1000 bị chết ch́m. Từ trước đến
nay người ta được biết tại thành phố này chỉ có các cuộc đụng
độ giữa phe Hồng và Bạch quân. Gần đây, các tài liệu lấy từ trung
tâm văn khố cho biết đó là các cuộc tàn sát công nhân tàn bạo , vĩ đại và
xảy ra trước các cuộc tàn sát ở thành phố Kronstadt do người bônsêvich
chủ trương.
Cuối năm 1919 và bước qua năm 1920, v́ phải động
viên trên 2000 công nhân cho chiến trường cho nên đă tạo nên một bầu không khí tồi
tệ giữa chính quyền Sô Viết và công nhân. Troski đề nghị quân sự hoá các cơ
xưởng trong kỳ đại hội đảng lần thứ tư tổ chức vào
hồi đầu tháng 3. Theo ông, con người vốn lười biếng. Dưới chế
độ Tư bản người ta phải làm việc v́ để sinh tồn, v́ lẽ
kinh tế thị trường hướng dẫn nhân công. Dưới chế độ xă
hội chủ nghĩa, sự hữu dụng của công nhân là nguồn năng lực lao động
thay thế cho thị trường. Nhà nước có nhiệm vụ hướng dẫn, xử
dụng và chỉ huy công nhân. Công nhân phải tuân theo lịnh như quân nhân trong khuôn khổ
một nhà nước công nhân, bảo vệ quyền lợi giai cấp vô sản. Đây là
căn bản và hướng đi của công cuộc quân sự hóa các lực lượng
lao động. Một số lănh tụ bônsêvich và nghiệp đoàn chỉ trích quan điểm
của Troski. Theo quan điểm này, c̣n có nghĩa là cấm đ́nh công, cấm đào nhiệm
trong thời chiến và tăng cường quyền kiểm soát cho các ban giám đốc các
xí nghiệp. Từ nay các nghiệp đoàn và các ủy ban công xưởng lệ thuộc vào
sự chỉ đạo của cấp trên. Công nhân không được phép rời nhiệm
sở. Họ sẽ bị trừng phạt khi vắng mặt hay đi trễ. Hiện tượng
vắng mặt và đi trễ xảy ra thường xuyên trước đây v́ công nhân c̣n
phải t́m công việc khác làm thêm để có thể nuôi gia đ́nh. Sự kiểm soát giờ
giấc, v́ thế gây thêm khó khăn cho công nhân. Họ không kiếm được thêm tiền.
Nạn đói đe dọa. Trong bản phúc tŕnh đề ngày 6 tháng 12 năm 1919 của cơ
quan công an Tcheka gởi về chính phủ đă viết : '' Nhiều công nhân trong nhiều công
xưởng luyện kim ở Mạc Tư Khoa tỏ ra thật vọng và bất măn. Họ
sẵn sàng đ́nh công, bạo động, nổi dậy nếu chúng ta không giải quyết
cấp bách vấn đề tiếp tế lương thực .''
Đầu năm 1920, mức lương hằng trung b́nh của
công nhân ở thành phố Petrograd là 7000 đến 12000 rúp. Với đồng lương này
không thể nào so với gía thị trường 700 rúp cho một lít sữa, 3000 rúp nửa kư
thịt heo, 5000 rúp nửa kư thịt ḅ. Mỗi công nhân được phân chia một số
lượng thực phẩm tùy theo loại hạng.
Cuối năm 1919 ở Petrograd, công nhân làm việc nặng mỗi
ngày lănh 250 gram bánh ḿ; mỗi tháng được quyền mua 250 gram đường , 1
kư cá khô và 125 gram dầu ăn.
Trên lư thuyết, công nhân được chia làm 5 loại bao tử
lao động. Hạng nhất là các công nhân làm công việc nặng. Kế đến là quân
nhân của Hồng Quân. Trí thức được xếp vào hạng ăn không ngồi rồi,
không được cấp phát ǵ cả. Tuy phân chia như vậy nhưng trên thực tế,
phứt tạp và bất công hơn nhiều. Trong hạng nhân công c̣n phải chia ra nhiều
đẳng cấp. Ưu tiên dành cho các công nhân phục vụ trong các cơ quan thiết yếu
cho sự sống c̣n của chế độ.
Mùa đông 1919-1920, tại Petrograd có tất cả 33 loại phiếu
mua thực phẩm. Mỗi phiếu chỉ có gía trị trong một tháng. Với phương
pháp tập trung phiếu phân phối thực phẩm, chính quyền Bônsêvich đă xử dụng
vấn đề '' đói và no''như là một vũ khí quan trọng để thưởng
hay trừng phạt những ai hưởng ứng hay chống lại chính quyền.
Ngày 1 tháng 2 năm 1920, Troski báo cáo cho Lenine biết, phải cắt
giảm số lượng bánh của các công nhân không phục vụ để cung cấp thêm
cho các công nhân phục vụ cho ngành vận tải. Nếu cần phải bỏ chết đói
hàng ngàn người để cứu chế độ, họ sẵn sàng cho chết đói
ngay. Trước t́nh trạng này, những ai c̣n có thân nhân ở miền quê, họ phải trở
về quê để xin thêm thực phẩm. Nhưng con số người có thân nhân ở miền
quê rất ít. Chính sách quân sự hóa lao động các công xưởng kể như thất
bại. Năng xuất sản xuất rất thấp. Nhiều cuộc đ́nh công, bỏ
việc và bạo động xảy ra liên tục, rồi các cuộc đàn áp thẳng tay.
Báo Sự Thật-Pravda, số ra ngày 12 tháng 2 năm 1920 cho rằng
nhân công đ́nh công là những con muỗi vàng phá hoại. Chỗ đứng của họ là
các trại tập trung.
Theo thống kê chính thức của Bộ Lao Động , 77% các
công xưởng đủ loại ở Nga đă tham gia vào các cuộc đ́nh công phá hoại
trong sáu tháng đầu của năm. Xí nghiệp quan trọng nhất là các xưởng luyện
kim, hầm mỏ, hỏa xa v́ các nơi này chính sách quân sự hóa được thi hành triệt
để. Các phúc tŕnh được coi như là tối mật của cơ quan công an chính
trị Tcheka gởi về Trung Ương đă nói rơ các vụ đàn áp công nhân chống lại
chính sách của nhà nước. Các công nhân bị bắt v́ bị truy tố là những phần
tử phá hoại, đào ngũ, rồi bị đưa ra ṭa án cách mạng. Tháng 4 năm 1920,
tại thành phố Simbirsk có 12 công nhân phục vụ trong ngành sản xuất vũ khí đă
bị Ṭa án Cách mạng buộc tội đ́nh công, tuyên truyền chống phá chính quyền
Bônsêvich. Nếu ta phân tích chính sách '' Cái lưỡi gỗ'', chúng ta cỏ thể biết các
công nhân đă ngưng làm việc khi họ chưa được phép. Họ chống đối
ban giám đốc khi bị bắt buộc đi làm thêm vào ngày chủ nhật. Họ cũng
đă tố cáo những người Cộng sản có quá nhiều đặc quyền , tố
cáo tiền lương quá thấp.
Ngày 29 tháng giêng năm 1920, các cuộc đ́nh công lan tràn đến
các vùng Tây bá lợi á. Lenine gởi điện văn cho Smirnov, chỉ huy trưởng ủy
ban quân sự cách mạng quân khu 5 và khuyến cáo: '' P. đă báo cáo cho tôi hay, công nhân ngành hỏa
xa phá hoại và công nhân vùng Ijevsk cũng gây nổi loạn. Tôi lấy làm ngạc nhiên tại
sao đồng chí chấp nhận sự việc như vậy. Tại sao đồng chí không
ra lịnh đàn áp các vụ phá hoại.''.
Vào năm 1920, do chính sách quân sự hóa lao động, tại vùng
Ekaterinboutg đă xảy ra nhiều vụ đ́nh công. Có 80 nhân công bị bắt hồi tháng
3 và bị giam trong các trại tập trung. Trong tháng 4 có 100 nhân viên hỏa xa phục vụ
trên đường xe lửa Riazan - Oural bị kết án . Tháng 5, trên đường
xe lửa Mạc Tư Khoa - Koursk 120 nhên viên. Xưởng luyện kim Bransk có 152 công nhân
bị bắt trong tháng 6. Sự kiện quan trọng hơn hết , đó là vụ đàn áp
ngày chủ nhật 6 tháng 6 tại xưởng chế tạo vũ khí Toula. Công nhân xưởng
vũ khí từ chối không chịu làm thêm giờ phụ trội. Họ viện cớ ngày
chủ nhật là ngày duy nhất để họ trở về miền quê mua thêm thực phẩm.
Ban giám đốc nhờ cơ quan an ninh Tcheka đưa nhân viên đến bắt các người
thợ. Quân luật được thi hành tại xưởng. Họ thành lập một ủy
ban gồm có lănh tụ đảng, đại diện công an, tố cáo âm mưu chống cách
mạng do các tên gián điệp Ba Lan chủ mưu cùng với 100 tên mọi rợ [ ám chỉ
các thành phần đảng xă hội cách mạng và nhóm Mensêvich]. Cuộc đ́nh công lan
tràn rất nhanh. Kế hoạch đău tranh thay đổi. Cả ngàn nhân công cùng với vợ
con đến bao vây văn pḥng của công an và xin được bắt giam luôn. Họ làm
như vậy để chứng tỏ lời buộc tội cho họ chống phá cách mạng
là vô căn cứ. Bị phản ứng bất ngờ, các chỉ huy công an địa
phương không biết giải quyết bằng cách nào và cũng không biết phải báo
cáo làm sao với cấp trên. Một ủy ban hỏi cung đă tra hỏi hàng ngàn nhân công và vợ
con họ hầu t́m ra thủ phạm chính. Muốn được thả ra , được
làm việc trở lại và được cấp thẻ lương thực th́ nhân công
phải làm tờ tự khai với lời lẽ như sau :
'' Tôi, kư tên dưới đây là một con chó hôi thúi , phạm
tội ác, đă ăn năn trước ṭa án cách mạng và Hồng quân . Tôi đă kê khai các
tội của tôi. Tôi hứa sẽ làm việc chăm chỉ trở lại.''
Không như ở các trung tâm khác, công nhân ở trung tâm Toula chỉ
bị kết án nhẹ. 28 người đưa đi trại giam, 200 không cho định
cư tại Toula.
V́ thiếu tay nghề nên ban giám đốc phải giữ lại
một số thợ chuyên môn. Việc đàn áp cũng như việc tiếp tế lương
thực v́ thế cũng tuỳ thuộc vào từng loại công nhân. Mặt trận chống
lại công nhân chỉ là một trong những mặt trận nhỏ của cuộc nội
chiến. Mặt trận chính của chính quyền Bônsêvich chính là mặt trận chống lại
lực lượng vũ trang nông dân. Các tài liệu mật ngày nay phơi bày cho chúng ta
thấy trận chiến đàn áp đẫm máu , cuộc chiến bẩn thiểu
là cuộc chiến của chính quyền Bônsêvich tấn công những người lính gốc
nông dân . Trong cuộc chiến quyết định giữa người Bônsêvich và toàn thể
khối nông dân dẫn đến sự h́nh thành một chính sách khủng bố. Derjinski chê
trách nông dân là những người không hiểu biết đâu là quyền lợi vật chất
của họ. Ông coi nông dân là những con thú, cần phải dùng súng đạn để chế
ngự. Troski th́ cho rằng phải dùng cây chổi sắt để thanh toán họ như đă
thanh toán đẫm máu các'' băng đảng ăn cướp'' ở Ukraine. Các '' băng
đảng '' này do các lănh tụ nông dân và lănh tụ Nestor Makhno lănh đạo.
Các cuộc nổi dậy của nông dân bắt đầu từ
mùa Hè năm 1918 sang đến mùa Hè 1919. Cuộc nổi loạn mỗi lúc mỗi gia tăng.
Cao điểm của nó là vào mùa Đông 1919-1920. Đến lúc này chính quyền Bônsêvich thấy
nguy nên họ nhượng bộ. Có hai lư do gây nổi loạn . Thứ nhất là v́ nhà nước
trưng dụng lương thực. Kế đến là lịnh bắt nông dân đi lính.
Tháng giêng 1919, xảy ra các cuộc lùng kiếm lương thực
quá bừa băi. Trung ương cho tái tổ chức. Mỗi tỉnh, quận, xă, tổ hợp
nông dân bắt buộc phải đóng cho nhà nước một số lương thực nhất
định và định kỳ từng mùa. Số lương thực này không chỉ riêng
ngũ cốc mà c̣n gồm cả 20 loại khác. Khoai tây, mật ong, trứng gà, bơ, sữa,
thịt,.. Mỗi tổ nông dân đều phải chịu trách nhiệm giao đủ số
lương lương thực. Chính quyền địa phương chứng nhận và sẽ
trao đổi vật dụng do các nhà máy sản xuất, cần dùng cho cuộc sống hằng
ngày. Nhưng đến cuối năm 1920, số lượng cung cấp chỉ bằng 15%
nhu cầu. Nhà nước chỉ trả một số tiền tượng trưng theo giá
quy định của nhà nước. Trong lúc đó đồng rúp mất 96% gía trị.
Từ năm 1918 đến năm 1920 chỉ số trưng dụng
lương thực tăng lên gấp 3. Khó mà biết con số chống đối của
nông dân có tăng theo tỉ lệ này hay không.
Lư do thứ hai của các cuộc nổi loạn này là số lính
đào ngũ trong trận chiến tranh với Đức. Họ gọi đó là cuộc chiến
đế quốc. Các quân nhân gốc nông dân rời bỏ hàng ngũ chạy vào các khu rừng,
tổ chức thành ''quân đội xanh'',chống lại chính quyền Bônsevich. Có khoảng
3 triệu lính đào ngũ trong hai năm 1919-1920. Các toán công an lùng bắt trở lại khoảng
500.000 quân nhân trong năm 1919. Qua đến năm 1920, các toán công an phối hợp với
ủy ban chống đào ngũ, truy lùng và bắt được 700.000 đến 800.000 lính
đào ngũ. Một số lính đào ngũ trốn về nông thôn, nơi họ quen biết
địa h́nh nên dễ lẫn tránh, trốn thoát các cuộc truy nă. Trước t́nh trạng
đào ngũ trầm trọng này, chính quyền phải cho thi hành các biện pháp mạnh. Họ
xử bắn hàng ngàn lính đào ngũ và bắt thân nhân của các quân nhân này giữ làm con tin.
Chính sách '' bắt làm con tin'' được áp dụng từ mùa hè năm 1918. Theo lịnh của
Lenine kư ngày 15 tháng 2 năm 1919 , các toán công an địa phương bắt '' các con tin''
đi quét tuyết trên các đường xe lửa. Nếu không thi hành chu toàn, công an có quyền
đem họ ra xử bắn.
Ngày 12 tháng 5 năm 1920, Lenine ra chỉ thị cho các ủy ban cách
mạng tỉnh phải chống lại việc đào ngũ. Các quân nhân đào ngũ được
gia hạn một tuần lễ để ra tŕnh diện. Bất kỳ ai giúp đở
hay che chở các đào binh đều bị kết án như là những con tin và sẹ bị
trừng phạt. Tuy vậy, mức độ đào ngũ cũng không thuyên giảm.
Cuộc chiến dẹp quân đào ngũ đă diễn ra rất tàn ác, gay go, đẫm máu
và kéo dài có nơi đến 4, 5 năm.
Ngoài lư do bị trưng thu tài sản, bị bắt đi lính, giới
nông dân c̣n cho rằng các ủy viên cộng sản là những người ngoại lai. Cán bộ
cộng sản đă xâm phạm vào quyền lực nội bộ của địa phương.
Họ lư luận đơn giản rằng chính sách tịch thu lương thực của
cộng sản khác với chính sách cải cách điền địa của người
bônsêvich năm 1917. Ở nông thôn, sau các hành động bạo tàn của Bạch quân, rồi
kế tiếp chính sách trưng dụng của Hồng quân đă làm họ vô cùng khốn khổ.
Ban kế hoạch của cơ quan t́nh báo công an chia lực lượng
vơ trang nông dân ra làm hai loại. Loại tổ chức từng nhóm nhỏ vài trăm người
và tổ chức định kỳ. Loại thứ hai đông hơn, có khi lên đến hàng
chục ngàn nông dân tham đự. Loại này được tổ chức có kế hoạch,
có đường lối chính trị do các lănh tụ cách mạng xă hội lănh đạo.
Họ có khả năng chiếm đóng các vùng rộng lớn ở nông thôn cũng như ở
thành phố.
Đầu tháng 4 năm 1919, lính đào ngũ và nông dân nổi dậy
chống chính sách của nhà nước về việc bắt lính, thu mua lương thự
và trưng dụng tài sản tại vùng Lebiadinski thuộc tỉnh Tambov. Họ trương
khẩu hiệu '' Đả đảo cộng sản! Đả đảo Sô Viết ''.
Dùng vũ lực, các toán nông dân phá 4 trụ sở Uỷ ban hành chánh cách mạng và dùng cưa
,cưa 7 cán bộ cộng sản cho đến chết. Lực lượng tiếp trợ
của cộng sản cùng với tiểu đoàn 212 công an đến dẹp tan nhóm nông dân
nổi loạn . 60 người bị bất và 50 người bị bắn tại chổ.
Khu hoàn toàn bị phá hủy.
Ngày 11 tháng 6 năm 1919, vào lúc 16 giờ 15, tỉnh Voronej báo về
trung ương :'' T́nh h́nh trở lại b́nh thường. Cuộc nổi lọan ở Novokhopersk
đă bị đè bẹp. Phi cơ của chính phủ đă san bằng thị trấn Trechia
nơi bọn phản loạn nông dân khởi xướng. Cuộc tảo thanh vẫn c̣n tiếp
tục.
Ngày 23 tháng 6 năm 1919, cuộc nổi loạn của lính đào
ngũ ở Volost Petropavlovskaia đă bị đàn áp. Thân nhân của các đào binh bị bắt
làm con tin. Khi chúng ta đem một thân nhân ra xử bắn th́ đào binh của thân
nhân này từ trong rừng ra đầu hàng. Chúng ta đă xử bắn 34 đảo binh
để làm gương.''
Ba bản phúc tŕnh kể trên được lấy ra trong hàng ngàn
bản phúc tŕnh khác trong thư khố của cơ quan chính trị công an Tcheka vừa mới
cho phép công chúng tha khảo. Điều này đă nói lên sự kinh hoàng trong trận chiến của
chính quyền Bônsêvich chống lại giới nông dân. Phương cách của chính quyền cộng
sản áp dụng là bắt thân nhân của những người lính nông dân đào ngũ đem
đi xử bắn và dùng phi cơ san bằng nhà cửa, làng xóm của nông dân. Bất kỳ
ai che chở đào binh đều bị xử bắn , nhà cửa bị tiêu diệt.
Từ ngày 15 tháng 10 đến ngày 30 tháng 11 năm 1918, trong 12 tỉnh
ở Nga đă xảy ra 44 cuộc nổi loạn loại nhỏ có vài trăm người
tham đự. Có 2320 người bị bắt giam, 620 người bị giết chết
và 982 người bị xử bắn. Đồng thời cũng có 480 cán bộ cộng sản
và 112 nhân viên của các toán trưng thu bị giết chết.
Trong tháng 9 năm 1919, tổng kết 48375 lính đào ngũ trong 10
tỉnh của nước Nga. Bị bắt lại 7325, giết chết 1826 và đem xử
bắn 2230 người. Phía chính quyền chết 430. Đó là chưa kể con số thương
vong của thường dân.
Cao điểm của các cuộc nổi loạn xảy ra ở
các thời điểm và tại các vùng khác nhau. Vùng Trung lưu sông Volga và Ukraine vào tháng 3 đến
tháng 8 năm 1918. Vùng Samara, Oufa, Kazan, Tambov từ tháng 2 đến tháng 8 năm 1920.
Từ cuối năm 1920 đến giửa năm 1921, nông
dân ở các vùng Ukraine, lưu vực sông Don, Kouban, bị đàn áp nặng nề. Ngọn lửa
chống đối của nông dân tàn lụi khi nạn đói khủng khiếp của thế
kỷ thứ 20 bắt đầu bao trùm trên toàn nước Nga.
Hai vùng đất ph́ nhiêu Samara và Simbirk đă cung cấp 1/5 lương
thực cho toàn nước Nga vào năm 1919. Và cũng chính nơi này và cũng vào thời
điểm này, các cuộc nổi loạn chính thức bùng nổ. Một lực lượng
nông dân vơ trang với chồng 30.000 tay súng đă chiếm đóng nhiếu thị trấn trong
một thời gian khá lâu. Chính quyền Sô Viết mất tỉnh Samara. Cuộc nổi
loạn này đă giúp cho Bạch quân của Đô đốc Koltchak tiến chiếm vùng Volga.
Sau đó Hồng quân đến tiếp viện và đánh bật lực lượng nông dân,
tái chiếm tỉnh Sanara. Nông dân đ̣i bỏ chính sách trưng thu; đ̣i cho tự
do thương mại; đ̣i tự do bầu cử và đ̣i chấm dứt giai cấp cai
trị của cộng sản.
Ngọn lửa của cuộc nội chiến ở tỉnh Samar
vừa tạm lắn xuống, th́ tại Ukraine bùng nổ dữ dội. sau khi kư ḥa ước
với Đức và quân Đức Hung rút khỏi đất nga vào cuối năm 1918, chính
quyền cộng sản dồn nỗ lực đàn áp nông dân Ukraine. Đây là 2 vùng trù phú nhất
của nước Nga thời Nga Hoàng. Chính vùng này đă cung cấp thực phẩm nuôi những
người '' vô sản'' ở Petrograd và Mạc Tư Khoa. V́ phải cung cấp với chỉ
tiêu quá cao, cộng thêm vào đó bị quân Đức- Hung tịch thu trước khi rút đi,
dân Ukraine không c̣n đủ lương thực để sống chờ đến vụ
mùa năm tới. Dân Ukraine không đủ ăn. Trước đó vùng Ukraine bị tái phân chia
đất đai theo chính sách mới của nhà nước năm 1917, nay lại bị quốc
hữu hóa, kế hoạch canh tác thay đổi, . Nông dân trở thành người làm công.
Họ bất măn và chống lại chính quyền. Họ học nhiều kinh nghiệm chiến
đău trong thời kỳ bị quân Đức- Hung chiếm đóng.
Đầu năm 1919, Ukraine có chừng vài chục ngàn nông dân vơ trang.
Các cấp chỉ huy có nhiều kinh nghiệm gốc Ukraine như Simon Petlioura, Nestor Makhno, Hryhoryiv
và Zeleny. Họ chủ trương lấy đất cho nông dân, cho tự do thương
mại, cho bầu cử tự do các Xô Viết, không bị chi phối bởi những người
ở thủ đô Mạc Tư Khoa và những tên Do Thái. Họ coi dân thành phố Mạc
Tư Khoa , bônsêvich và người Do thái là một. Tất cả nhửng thàng phần này
sẽ bị đuổi ra khỏi Ukraine. Sự kiện này giài thích tại sao các cuộc
nổi dậy và đàn áp đă diễn ra trong một thời gian quá lâu giữa những người
bônsêvich và lực lương nông dân. Hơn thế nữa, nông dân cũng chống lại Bạch
quân v́ họ không muốn tái lập chính sách đại điền chủ như xưa.
Cuộc nổi loạn lớn nhất xảy ra hồi tháng 4 năm
1919 chống lại các toán trưng thu nông sản của chính quyền. Có 93 cuộc bạo
động xảy ra ở tỉnh Kiev, Tchernigov, Poltava và Odessa. Trong 20 ngày đầu tháng 7
, công an ghi nhận có 210 vụ chống đối với trên 100.000 nông dân vơ trang và hàng trăm
ngàn người dân ủng hộ.
Dưới quyền của lănh tụ Hryhoryiv có trên 20.00 tay súng mà
phần lớn là thuộc các đơn vị Hồng quân ngă về phía nông dân. Với 50 khẩu
đại bác, 700 súng đại liên, họ đă chiếm đóng các thành phố phía nam Ukraine
như Tcherkassy, Kherson, Nikolaiev và Odessa trong tháng 3 và tháng 4. Họ thành lập tai các vùng này các
cơ quan hành chánh tự trị với khẩu hiệu : Tất cả chính quyền thuộc
Sô Viết của dân Ukraine. Đất Ukraine của người Ukraine, không có người
Bônsêvich cũng không có người Do thái.
Dưới tay lănh tụ Zeleny cũng có khoảng 20.000 tay súng , kiểm
soát gần hết tỉnh Kiev, ngoại trừ thành phố. Họ tổ chức thanh toán người
Do Thái sinh sống trong các thành phố.
Lănh tụ Nestor Makhno chủ trương tinh thần quốc gia,
xă hội và vô chính phủ. Dưới trướng ông phục vụ vài chục ngàn tay súng.
Ông chống lại sự nhúng tay của chính quyền vào nội bộ của nông dân. Ông đ̣i
quyền tự trị cho nông dân, dựa trên căn bản các Sô Viết do dân bầu ra.
Hàng trâm cuộc nổi loạn của nông dân đă đóng vai
tṛ quyết định ở hậu phương của Hồng quân. Nhờ đó, bạch
quân của Tướng Denikine mới đạt được một số chiến thắng.
Bạch quân xuất phát từ phía nam Ukraine vào ngày 19 tháng 5 năm
1919. Họ tiến quân mạnh mẻ đánh phá Hồng quân, trong khi lực lượng này
đang bận tay đối phó với nông dân.
Ngày 12 tháng 6, Bạch quân chiếm Kharkov; ngày 28 tháng 8 chiếm
Kiev và ngày 30 tháng 9 chiếm Voronej.
Trong lúc tháo chạy, Hồng quân ra lịnh giết hàng loạt các
con tin mà họ c̣n bắt giữ. Khi rút qua các làng mạc có quân du kích nông dân, Hồng quân
cũng như lực lượng vơ trang công an ra tay tàn phá nhà cửa và đàn áp gắt gao dân
chúng địa phương và hành quyết vô số lính đào ngũ.
Đàu năm 1920, trừ một vài đơn vị nhỏ Bạch
quân dưới quyền của Tướng Wrangel đang ẩn núp trong vùng Crimee, toàn thể
Bạch quân đều tan ră. Cuộc chiến bấy ǵơ chỉ là các cuộc đụng
độ giữa nông dân và Hồng quân cho đến cuối năm 1922.
Trong tháng 2 và tháng 3 năm 1920 xảy ra cuộc nôị loạn lớn
từ vùng sông Volga đến Oral trong các tỉnh Kazan, Simbirsk và Oufa. Trong vùng này có các sắc
dân Nga, dân cái tên đạo quân'' con ó đen'' với quân số trên 50.000 người. Lực
lượng chính phủ đă cửa bị thiêu dùng súng đại liên càn quét những chiến
sĩ Ó Đen trong tay chỉ trang bị chỉa ba hay gậy gộc. chỉ trong vài ngày, hàng
ngàn nông dân nổi loại bị giết, hàng trăm nhà rụi.
Sau vụ đàn áp mau lẹ lực lượng nông dân '' chỉa
ba'', cuộc nội loạn lan tràn xuống các vùng dọc sông Volga., rồi đến vùng Tambov,
Penza, Samara, Saratov và Tsaritsyne. Lănh tụ Bônsêvich, Tướng Anton-Ovssenko , chỉ huy các cuộc
đàn áp nông dân vùng Tambov xác nhận chương tŕnh trưng thu năm 1920-1921 sẽ dẫn
đến nạn đói lớn. Các toán trưng thu chỉ để lại cho mỗi người
khoảng 16 kư lúa ḿ, 24 kư khoai tây sống trong một năm. Với số lượng
thực này họ chỉ có thể sống trong một năm. Nó khởi đầu cho cuộc
chiến đău sống c̣n của nông dân từ mùa hè năm 1920. Cuộc đău tranh diễn
ra liên tục và kéo dài trong hai năm.
Cuộc đău tranh lớn thứ ba diễn ra trong vùng Ukraine giữa
chính quyền và nông dân trong năm 1920. Hồng quân đánh bại Bạch quân và tái chiếm
các thành phố của Ukraine từ tháng 12 năm 1919 đến tháng 2 năm 1920. Nhưng nông
thôn vẫn c̣n trong tay nông dân. Khác với toán quân'' Ó Đen '', lực lượng nông dân này phần
lớn là lính đào ngũ có mang theo vũ khí tối tân dưới quyền lănh đạo
của Tướng Makhno. Vào mùa hè năm 1920, quân số lên đến 15.000 trong đó có
2500 kỵ binh. Họ có 100 khẩu đại liên, 20 súng đại bác và 2 xe thiết giáp. Họ
tổ chức thành hàng trăm nhóm từ vài chục đến vài trăm tay súng. Họ mănh
liệt chống lại các cuộc tấn công của quân chính phủ.
Chính quyền Bônsêvich vào đầu tháng 5 năm 1920 bổ nhiệm
ông Felix Dzerjinski làm tư lệnh chiến trường hậu tuyến Đông nam. Cũng
nên biết, ông Dzerjinski la chỉ huy trưởng lực lượng công an chính trị Tcheka.
Ông ở lại Kharkov hai tháng để tổ chức 24 đơn vị An ninh nội chính
đặc biệt của cộng ḥa Nga. Đơn vị này bao gồm các tóan kỵ binh và
các phi đội có khả năng săn đuổi các tổ chức nổi loạn. Nhiệm
vụ của họ là trong ṿng 3 tháng phải giải quyết xong các nông dân chống chính
phủ. Trên thực tế, các cuộc hành quân b́nh định phải kéo dài hơn 2 năm,
từ mùa hè năm 1920 đến mùa thu năm 1922. Hàng chục ngàn nông dân cũng như
quân chính phủ bị giết chết.
Kế đến là giai đoạn tiêu diệt người Cosaque
trú ngụ dọc sông Don và Kouban. Đó là nhóm dân riêng biệt nằm định cư trong
một khu vực đặc biệt.
Đây là lần đầu tiên, tân chính quyền thi hành chính sách
phân loại, tiêu diệt và lưu đày tập thể đông đảo một sắc dân.
Đây không phải là cuộc trả đũa mang tính chất quân sự. Chính sách này đă
được hoạch tính từ lâu. Nhiều nghị định hành chính do các nhân vật
lớn trong chính quyền Xô Viết ban hành. Như các ông Lenine, Ordjonikidze, Syrtov, Sokolnikov, Reingold.
Năm 1919, chính quyền thất bại trên nhiều mặt trận.
Qua năm 1920, Hồng quân tái chiếm các vùng dọc sông Don và Kouban. Chiến dịch tiêu
diệt người Cosaque tái diễn tàn bạo và ác liệt hơn lần trước.
Tháng chạp năm 1917 tất cả quy chế họ được
hưởng dưới chế độ Nga Hoàng đều bị băi bỏ. Người
Bônsêvich xếp dân Cosaque vào loại quân cướp, kẻ thù của giai cấp. Dân Copsaque
đồng loạt đứng dưới cờ của lănh tụ tinh thần Krasnov. Ông ta
liên minh với Bạch quân ở phía nam nước Nga vào mùa Xuân 1918.
Măi đến tháng 2 năm 1919, Hồng quân mới tổng tấn
công vào Ukraine và miền Nam nước Nga. Các toán tiền phương của Hồng quân xâm
nhập được vùng đất của dân Cosaque dọc theo sông Don . Liền ngay sau đó,
Hồng quân cho thi hành một số biện pháp, nhằm tiêu diệt các đặc tính của
dân vùng này. Họ tịch thu ruộng đất sở hữu của người Cosaque phân
chia cho các người khai hoang gốc Nga, là những người không được hưởng
quy chế của người Cosaque. Họ ra lịnh dân Cosaque phải giao nạp vũ khí.
Không thi hành mệnh lệnh bị tử h́nh. Hội đồng hành tỉnh, hội đồng
điền địa bị giải tán và đặc ra ngoài ṿng pháp luật. Một nghị
quyết đă được Bộ chính trị đảng cộng sản bí mật
soạn thảo từ ngày 24 tháng giêng năm 1919, nhằm tiêu diệt dân Cosaque.: '' Xét v́
cuộc nội chiến chống người Cosaque, v́ nhu cầu tối hậu chính trị
trong cuộc chiến mất c̣n, phải áp dụng một cuộc khủng bố toàn diện
chống lại các người Cosaque giàu có. Biện pháp tiêu diệt phải được
được áp dụng cho tới người cuối cùng''.
Reingold, chủ tịch Ủy ban cách mạng vùng sông Don được
lệnh phải áp dụng trật tự Bônsêvich trên vùng dân Cosaque sinh sống. Ông ta nh́n nhận
: '' Chúng tôi có khuynh hướng tiêu diệt toàn bộ người Cosaque, không phân biệt loại
nào. ''
Trong ṿng vài tuần lễ, từ 15 tháng 2 đến 15 tháng 3 năm
1919, các toán công an đặc biệt đă bắn chết 8000 người Cosaque. Ở mỗi
thị trấn, chính quyền Bônsêvich thiết lập một toà án nhân dân . Họ chỉ cần
vài phút kết tội, tuyên án tử h́nh các phần tử mà họ cho là phản cách mạng.
Đứng trước hành động quá tàn bạo này, dân Cosaque chỉ c̣n có một con đường
sống duy nhất là kết hợp với nhau chống lại tân chính quyền. Cuộc nổi
dậy bắt đầu ngày 11 tháng 3 năm 1919 tại thị trấn Veshenski. Được
tổ chức khéo léo, họ kêu gọi động viên tất cả nam giới tuổi từ
16 đến 55. Họ gởi các điện văn đến các vùng dọc sông Don, đến
các vùng lân cận tỉnh Voronej, kêu gọi dân chúng chống lại bônsêvich. Điện
văn viết: '' Chúng tôi không chống lại các Xô Viết. Chúng tôi đ̣i hỏi có bầu
cử tự do. Chúng tôi chống lại các người cộng sản, các hợp tác xă, các
người Do thái, chính sách trưng thu, các cuộc hành quyết do công an chủ trương.''
Vào đầu tháng 4 năm 1919, lực lượng Cosaque lên đến
30.000 chiến sị vơ trang thiện chiến. Họ tấn công vào phía sau lưng của Hồng
quân, trong khi cánh quân này đang giao tranh với các đơn vị Bạch quân của Tướng
Denikine ở vùng phía nam của Nga.
Đầu tháng 6, quân Cosaque bắt tay được quân Bạch
nga trong vùng sông Don. Dân Cosaque được giải phóng khỏi bàn tay '' ô nhục'' của
Mạc Tư khoa, của Bônsêvich, của Do thái. Nhưng người bônsêvich lật ngược
lại t́nh thế. Họ phản công mạnh vào tháng 2 năm 1920. Vùng đất của dân
Cosaque bị tái chiếm lần thứ hai. Cuộc đàn áp tái diễn với mức độ
khủng khiếp hơn lần trước bội phần. Nhà nước bônsêvich ra lịnh
trưng thu hàng trăm ngàn tấn nông phẩm. Một con số vượt mức sản xuất
của nông dân. Họ ra lịnh tịch thu tất cả dụng cụ , vật dụng ,
kể cả cái ấm nấu nước của dân Cosaque. Trước t́nh thế này, ai c̣n
có thể cầm súng chống lại nhà nước đều gia nhập vào lực lượng
Cosaque.
Bị chận đứng ở Crimee, Tướng Wrangel mưu
toan thoát khỏi ṿng vây của Hồng quân, t́m cách bắt liên lạc với các toán Cosaque ở
Kouban , ngày 17 tháng 8 năm 1920 ông cho 5000 quân đổ bộ ở Novorossiski . Dưới sức
tấn công của ba cánh quân: Bạch quân, quân Cosaque và phe nông dân nổi loạn, Hồng quân
phải rút ra khỏi thị trấn Ekaterinodar. Tướng Wrangel tiến quân và phía nam Ukraine.
Nhưng cuộc chiến thắng của Bạch không kéo dài được lâu. Hồng quân
đưa quân vào trận, tràn ngập quân của Tướng Wrangel. Tháng 10, quân của Tướng
Wrangel rút lui về Ukraine. Cuộc tháo chạy rất hỗn loạn, làm cản trở cuộc
thoái quân. Hồng quân tái chiếm vùng Crimee. Đây là giai đoạn cuối cùng của cuộc
chiến giữa hai cánh Hồng và Bạch quân. Cuộc thảm sát lớn nhất đă diễn
ra tại đây. Hơn 50.000 thường dân bị quân bônsêvich tàn sát.
V́ thua trận, dân Cosaque lại một lần nữa hứng chịu
các đ̣n đàn áp trả thù. Karl Lander, thuộc sắc dân Letton, chỉ huy trưởng công
an Tcheka được bổ nhiệm đặc trách ṭan quyền Bắc Caucase và vùng sông Don.
Ông cho thiết lập các ṭa án đặc biệt xử tội dân Cosaque. Chỉ trong ṿng tháng
10 năm 1920 đă lên án và đem đi hành quyết 6000 người. Thân nhân, hàng xóm của
những binh sĩ lần lượt cũng bị bắt làm con tin, đưa đi giam trong
các trại tập trung, c̣n gọi là trại tử thần. Trong bản phúc tŕnh gởi về
Mạc Tư Khoa, trưởng cơ quan công an vùng Ukraine, ông Martynlatsis viết : '' các con tin
gồm có phụ nữ, trẻ em, người ǵa, tập trung vào một trại ở gần
Maikop. Họ sống trong một hoàng cảnh thật kinh hoàng. Họ sống trong những
vũng bùn, trong cơn lạnh và đày tuyết rơi của tháng 10. Họ chết như
các con ruồi. Phụ nữ chấp nhận những hành động xấu xa để thoát
chết. Các binh lính canh gát lợI dụng t́nh trạng này để bán các phụ nữ vào
những việc đê tiện.''
Kháng cự lại lịnh của trại đều bị trừng
phạt nặng nề.
Theo ông Lander, viên toàn quyền Bắc Caucase, các cuộc khủng bố
đỏ xảy ra rất b́nh thường. Hằng ngày có trên 300 ngườ bị xử
bắn. Công an địa phương nhận lệnh phải thiết lập danh sách ở
mỗi vùng một số người nhất định. Chính v́ tŕnh trạng này đă xảy
ra các vụ tố cáo nhau v́ tư thù. Tại Kislovodsk, v́ không biết cách nào t́m ra phạm nhân
nên họ đem các bệnh nhân trong bịnh viện ra bắn cho đủ chỉ tiêu.
Phương pháp tiêu diệt mau lẹ là thiêu đốt tất cả làng mạc và tống
dân Cosaque đi lưu đày. Trong tập hồ sơ lưu trữ của ông Sergo Ordjonikidze,
chủ tịch ủy ban cách mạng vùng Bắc Caucase c̣n lưu lại một số phúc tŕnh
về các cuộc đàn áp dân Cosaque từ tháng 10 đến trung tuần tháng 11 năm 1920.
Ngày 23 tháng 10, Sergo Ordjonikidze ra lịnh :
Tiêu hủy hoàn toàn làng Kalinovskaia.
Đuổi tất cả cư sống trong các làng Ermolovskaia, Rmanovskaia,
Samachinskaia và Mikhailosakaia đi nơi khác sinh sống.
Nhà cửa phân phối cho sắc dân Tchchene, là giống dân luôn luôn
trung thành với chế độ Bônsêvich.
Cho cán bộ công an hộ tống đưa đi đày tất
cả đàn ông tuổi từ 18 đến 55 lên các vùng phía Bắc lao động khổ sai.
Trục xuất phụ nữ và trẻ em, đưa đến
các làng ở phía Bắc.
Trưng thu tất cả gia súc, tài sản.
Ba tuần lễ sau, Sergo Ordjonikidze phúc tŕnh về diễn tiến
các cuộc hành quân như sau:
Làng Kalinovskaia bị tiêu hủy và lưu đày 4220 người.
Làng Ermolovskaia lưu đày 3128 người.
Làng Romanovskaia đợt một lưu đày 1660. V́ thiếu xe số
c̣n lại là 1661 người.
Làng Samachinskaia đợt một đưa đi 1018. Số c̣n lại
v́ thiếu xe 1900 người.
Làng Mikhailovskaia đợt một đưa đi 600. Số c̣n lại
2200 người.
Ngoài việc đưa đi lưu đày, chính quyền c̣n xử
dụng 154 toa xe lửa chở lương thực trưng thu. Những người bị
lưu đày thuộc thành phần thân nhân của các người chống đối chính phủ.
Thành phần c̣n ở lại là những người thân chính quyền, gia đ́nh của Hồng
quân, công nhân viên nhà nước cộng sản.
Công tác chuyển vận người lưu đày gặp nhiều
trở ngại v́ thiếu phương tiện. Cho nên, thay v́ đưa tất cả lên miền
Bắc, một số di chuyển xuống miền hầm mỏ Donetz, gần đó hơn.
Hệ thống đường xe lửa không được tu bổ hoàn hảo, cũng là
một trong những lư do chậm trễ. Chiến dịch tiêu diệt dân Cosaque là một kinh
nghiệm tổ chức cho chính quyền cộng sản để 10 năm sau họ áp dụng
vào chính sách đàn áp điền chủ, phú nông.
Dân Cosaque trả một gía quá đắc khi họ chống lại
chính sách đàn áp của chính quyền Bônsêvich. Theo các ước lượng đáng tin cậy,
với dân số không quá 3 triệu, đă có khoảng từ 300.000 đến 500.000 người
bị giết hay bị đưa đi đày và chết trong các trại tử thần trong
2 năm , 1919 - 1920.
Con số người bị giết trong chiến dịch khủng
bố đỏ, tiêu diệt các thành phần phản động trong nửa năm sau của
năm 1918, không thể nào biết chính xác được. Để thiết lập một
xă hội mới trên căn bản con người mới, giai cấp mới, theo người
cộng sản, họ phải liên tục thi hành các cuộc tàn sát như vậy.
Trong tờ nhật báo Thanh kiếm đỏ - Krasnyi Metch , tiếng
nói của công an Tcheka, số ra đầu tiên, phát hành tại Kiev, viên chủ bút nhận định
: '' Tất cả việc làm của chúng tôi đều được cho phép. Chúng tôi bác bỏ
quan niệm của chế độ cũ về luân lư và nhân đạo. Đó là những
điều do bọn tư sản trưởng gỉa đặt ra để bóc lột và
đàn áp giai cấp thấp kém hơn. Quan niệm luân lư của chúng tôi từ trước
đến nay chưa hề có. Quan niệm nhân đạo của chúng tôi dựa trên căn
bản của một lư tưởng mới. Tiêu diệt tất cả các h́nh thức áp bức
và bạo động. Đối với chúng tôi, mọi hành động đều được
cho phép, v́ chúng tôi là những người đầu tiên trên thế giới không phải vung
gươm lên để áp bức , tạo ra chế độ nô lệ, mà để giải
phóng nhân loại thoát khỏi xiềng xích. Phải đổ máu ! Và máu chảy thành sông! Máu
đào sẽ nhuộm đỏ các ngọn cờ đen của bọn trưởng gỉa
ăn cướp. Cuối cùng tiêu diệt thế giới cũ để giải thoát chúng
ta ra khỏi các con chó ăn xác chết. Những con chó này sẽ không bao giờ trở lại.''
Lời kêu gọi này đă gợi trong tâm tư các hành động
bạo lực và ư chí trả thù xă hội của các thành viên thuộc cơ quan công an Tcheka,
phần lớn được kết nạp là những tên tội phạm, bất hăo trong
chế độ cũ.
Trong văn thư đề ngày 22 tháng 3 năm 1919, lănh tụ Bônsêvich
Gopner mô tả hành động của công an ở vùng Ekaterinoslavl như sau :'' Có 5 tên công an phạm
tội ác, bạo động, ngang ngược và chuyên quyền. Họ bị giựt dây bởi
các thành phần đê tiện và các tên mang bản án. Họ
có súng trong tay. Họ bắn bất cứ người nào họ muốn hay họ ghét. Họ
lục soát, cướp bóc, hảm hiếp phụ nữ. Họ muốn bắt ai th́ bắt.
Mua bán giấy tờ gỉa, đ̣i tiền hối lộ. Rồi tố cáo những người
đưa hối lộ để đ̣i thêm tiền,.''
Trong văn khố của Ủy
ban trung ương cũng như củ Dzerjinski c̣n lưu lại một số phúc tŕnh về
hành động say máu bạo động của các nhân viên công an. V́ không có căn bản
pháp lư nào nên các nhân viên công an tỏ ra vô trách nhiệm, tự thi hành các hành động khát máu,
vô nhân đạo.
Sau đây là ba bản báo cáo
lấy ra từ hàng chục bản báo cáo về các hành động suy thoái của công an địa
phương trong một xă hội vô luật pháp.
Ngày 22 tháng 3 năm 1919, một
huấn luyện viên công an vùng Systran thuộc tỉnh Tambov
gởi báo cáo về cho Dzerjinski
: '' Tôi đă kiểm soát lại các vụ nổi loạn ở vùng Volost Novo-Matrionskaia. Việc
bắt người rất hỗn loạn. Tôi đọc lời khai của 70 người
bị tra tấn mà tôi chẳng hiểu ǵ cả. Ngày 16 tháng 2, có 5 người bị xử
bắn. Ngày hôm sau 13 người. Trong khi đó lệnh xử bắn đề ngày 28 tháng 2.
Khi tôi hỏi viên chỉ huy công an giải thích cho tôi, ông trả lời là ông không có thời
giờ lập biên bản.Và cũng chẳng lập biên bản làm ǵ. Công việc chính là tiêu
diệt các thành phần tư sản, kẻ thù của giai cấp.''
Ngày 26 tháng 9 năm 1919, viên
thư kư đảng bônsêvich vùng Iaroslavl báo cáo các nhân viên công an cướp bóc và bắt bớ
người vô cớ. Họ biến văn pḥng công an trở thành ổ điếm. Họ
mang các phụ nữ tư sản về trụ sở. Họ ăn nhậu say sưa và c̣n
dùng thuốc phiện.
Ngày 16 tháng 10 năm 1919, phái
đoàn thanh tra Rosenthal gởi bản phúc tŕnh từ vùng Astrakhan về trung ương :'' Atarbekov,Viên
chỉ huy lực lượng đặc biệt của quân đoàn 9 không c̣n nh́n nhận quyền
lực của Trung ương. Ngày 30 tháng 7, khi đồng chí Zakovski từ Mạc Tư Khoa
phái đến để kiểm soát các việc làm của lực lượng đặc biệt
, khi gặp vị chỉ huy trưởng, ông ta cho biết là hăy nói lại với Dzerjinski,
ông ta không chịu sự kiểm soát nào cả. Không có một tiêu chuẩn hành chánh nào để
cho nhân viên tuân theo. Hồ sơ công tác hầu như không thiết lập. Riêng về các vụ
tuyên án tử h́nh, tôi không thấy hồ sơ nào cả. Họ chỉ đưa cho tôi các danh
sách không đày đủ và thường chỉ viết có vài chữ : Đă bị xử bắn
theo lịnh của Atarbekov. Khó mà biết rơ những ǵ đă xảy ra trong tháng 3 năm 1919.
Nhậu nhẹt xảy ra hằng ngày. Hầu hết các nhân viên công an nghiện bạch phiến.
Họ cho rằng phải dùng bạch phiến mới có thể chịu đựng các cuộc
bắn giết hằng ngày. Họ quá say máu bạo hành. Cần phải kiểm soát họ.''
Các báo cáo nội bộ của
công an và của đảng cộng sản đă được nhiều nhân chứng xác nhận.
Tướng Denikine thành lập
một ủy ban điều tra tội ác của các người Bôsêvich. Các tài liệu
này trước kia lưu trử ở thủ đô Tiệp khắc. Sau năm 1945, văn khố
dời về Mạc Tư Khoa. Ngày nay dân chúng có thể đến tham khảo.
Từ năm 1926, nhà viết
sử Nga Serge Melgounov đă lập bản kê khai trong tác phẩm của ông. Các cuộc khủng
bố Đỏ, các cuộc tàn sát các con tin, các vụ hành quyết tập thể, các giai đoạn
chính liên quan đến các cuộc đàn áp, có sự trùng hợp với các nguồn tài liệu
khác.
Các cuộc tàn sát đầu
tiên các người t́nh nghi, các con tin, kẻ thù của nhân dân bị giam trong các trại tập
trung, bắt đầu từ tháng 9 năm 1918 khi cuộc Khủng Bố Đỏ mở
màng.
Việc cưỡng đặc
chính quyền chuyên chính vô sản tại các thành phố đang chiếm hay tái chiếm diễn
ra từng giai đoạn.
Trước tiên, họ giải
tán tất cả cơ cấu hành chánh cũ.Sau đó ra lịnh cấm buôn bán để ngăn
chận vật giá leo thang và tránh nạn đầu cơ tích trữ hàng hóa. Kế đến
quốc hữu hóa hay địa phươ ng hóa tất cả công sở, xí nghiệp. Bắt những nhà tư sản, thương gia đóng thuế
thật nặng. 600 triệu vào tháng 2 năm 1919 tại Kharkov. 500 triệu tại Odessa vào tháng
4. Để việc đóng thuế được thành công, họ bắt tư sản và
thương gia nhốt trong các trại tập trung làm con tin. Đây là h́nh thức cướp
giựt trá h́nh. Đó cũng là giai đoạn đầu của chính sách đánh cho tan thành
phần tư sản mại bản.
Ngày 13 tháng 5, trên báo Izvestia
có đăng nghị quyết truất hữu tài sàn của tư sản do Hội đồng
công nhân thành phố Odessa biểu quyết.
Người nào có tài sản đề phải khai. Khai hết. Từ cái chén, cái nĩa cho đến
đôi giày, cái quần, cái áo, nữ trang, tiền bạc,..Ai không khai tức là chống lại
nhà nước, sẽ bị tử h́nh.
Latsis, viên công an trưởng
vùng Ukraine thú nhận, tiền bạc, vật dụng thu được của tư sản
đă chạy vào túi của công an và Hồng vệ binh.
Giai đoạn kế tiếp
là tịch thu nhà cửa.
Trong cuộc chiến này, h́nh
thức hạ nhục tư sản rất được phổ biến. Trên báo chí xuất
bản ở các vùng Odessa, Kiev, Kharkov, Oural,.. hằng ngày loan tin các h́nh thức hạ nhục.
Bắt thương gia tư sản , cùng vợ con đi quét đường, lau cầu
tiêu, dọn doanh trại cho Hồng vệ binh ,.. Nhưng c̣n nhiều chuyện bi đát hơn.
Họ hăm hiếp con vợ con của những người tư sản bị bắt giam.
Đặc biệt ở những vùng do Hồng quân tái chiếm từ tay của bạch quân,
như vùng của người Cosaque và vùng Crimee vào năm 1920, t́nh trạng hiếp dâm diễn
ra khốc liệt và dă man hơn.
Theo tính toán, đây là gai đoạn
cuối cùng của chính sách tiêu diệt giai cấp trung lưu trưởng gỉa. Hành quyết
những người bị bắt giam trong các trại tập trung với cái tội, họ
là những người có tài sản.
Tại Kharkov , 2000 đến
3000 bị xử tử từ tháng 2 đến tháng 6 năm 1919. Khi Hồng quân tái chiếm
vào tháng 12, lại có thêm từ 1000 đến 2000 người bị giết.
Từ tháng 5 đến tháng
8 năm 1919 tại Odessa có 2200 người. Từ tháng 2 năm 1920 đến tháng 2 năm
1921 3000 vụ.
Tại thành phố Kiev xảy
ra 3000 vụ từ tháng 2 đến tháng 8 năm 1919.
Thành phố nhỏ Armavir xảy
ra 300 vụ từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1920.
Trên thực tế c̣n rất
nhiều vụ hành quyết khác đă xảy ra tại nhiều nơi và trong khoảng thời
gian khác nhau.
Người ta biết rất
rơ các vụ đàn áp xảy ra ở Ukraine, các tỉnh phía nam nước Nga, vùng Cosaque, vùng
Tây Bá Lợi Á và vùng Oural.
Thường các cuộc tàn
sát diễn ra khi khi có địch tiến quân tấn công, trước khi rút lui, họ '' dọn
dẹp'' sạch các trại tù tập trung.
Tại Kharkov, hai ngày trước
khi các đơn vị Bạch quân tiến chiếm thành phố, ngày 8 và 9 tháng 6 năm 1919,
hàng trăm con tin bị hành quyết.
Tại Kiev, trên 1800 người
bị bắn chết từ ngày 22 đến ngày 28 tháng 8 năm 1919, trước khi Bạch
quân tiến chiếm thành phố vào ngày 30 tháng 8 cùng năm.
Tại Ekaterinodar cũng diễn
ra tương tự. Trước khi quân Cosaque và quân Artabekov chiếm đóng, trong 3 ngày, từ
17 đến 20 tháng 8 , công an giết chết 1600 người. Dân số của vùng này trước
khi xảy ra cuộc đàn áp là 30.000 dân.
Sau khi chiếm được
thành phố, chỉ huy trưởng Bạch quân cho thiết lập một Ủy ban điều
tra các cuộc tàn sát do những người cộng sản thi hành trước khi rút lui. Theo
lời khai của một số nhân chứng c̣n sống, bản phúc tŕnh khám nghiệm tử
thi chứng minh rằng những người chết sau cùng đều có vết đạn
bắn từ sau ót xuyên qua đầu. Không có vết đạn nào trong thân thể cả hay
dấu vết tra tấn. Trái lại, các thi hài chôn tập thể có dấu tra tấn trước
khi đem đi hành quyết. Sử gia Serge Melgounov đă tường thuật trên báo về
các dụng cụ và các h́nh thức tra tấn của công an. Một số khác đă được
những người xă hội cách mạng trốn thoát viết lại trong các hồi kư xuất
bản trong năm 1922 ở Bá Linh.
Trong ṿng một tháng, từ
ngày 15 tháng 11 1ền ngày 15 tháng 12 năm 1920, sau khi các đơn vị Bạch quân của Tướng
Wrangel rút lui ra khỏi vùng Crimee, Hồng quân tái chiếm, có khỏang 50.000 dân bị xử bắn
hay bị treo cổ.
Hàng trăm công nhân khuân vác bến
tàu Sebastopol bị xử bắn vào ngày 26 tháng 11, bởi v́ họ đă tiếp tay , giúp cho Bạch
quân lên tàu rút lui.
Ngày 28 tháng 11 , chính quyền
cho đăng danh sách trên báo số người bị xử tử. Danh sách thứ nhất
1634 người. Danh sách thứ hai 1202 người.
Vào tháng 12, các đợt hành
quyết giảm dần. Chính quyền cho lập hồ sơ cá nhân và phân loại từng người.
Theo họ, c̣n có rất nhiều tư sản , thương gia từ thành phố về nông
thôn lẫn trốn trong đám thân nhân của họ. Ngày 6 tháng 12 Lenine cho các ủy viên biết
hiện có 30.000 nhà tư sản trốn trong vùng Crimee. Đây là những phần tử tay sai
và làm gián điệp cho ngoại quốc. Chúng sẵn sàng hợp tác với tư bản. Chúng
phải bị trừng phạt.
Quân số của chính phủ gia tăng bao vây vùng Perekop. Chính quyền
ra lịnh dân trong vùng ra tŕnh diện tại các cơ quan công an. Họ phải làm bản tự
khai bằng cách trả lời 50 câu hỏi chi tiết về đời tư, nghề nghiệp
và những hoạt động trong quá khứ, lợi tức, cảm tưởng của họ
đối với biến cố Pologne, họ làm ǵ kể từ ngày 22 tháng 11 năm 1920,..
Căn cứ theo các bản tự khai, họ sẽ được chia ra làm ba hạng. Xử
bắn, đưa đi lưu đày hay được phóng thích.
Một số người sống sót đă đăng các tin trên
báo những ǵ họ đă chứng kiến trong thành phố Sebastopol vào năm 1921.
Toàn khu Nakhimouski treo lũng lẵn tư thi của các sĩ
quan Bạch quân. Xác của thường dân và lính th́ treo dài dọc theo đường phố.
Đây là một thành phố chết. Ai c̣n sống th́ lẫn trốn trong các đường
hầm, cống rănh. Các biểu ngữ : '' Hăy giết các tên phản bội '' treo đầy
trên cột đèn, cửa tiệm, vách phố, hàng rào kẽm gai,..
Giai đoạn chót của cuộc nội chiến không phải
là kết thúc các cuộc đàn áp.
Mặc dù không
c̣n chiến tuyến giữa Bạch quân và Hồng quân nữa, nhưng trận chiến tiêu
diệt và b́nh định vẫn c̣n tiếp tục và kéo dài trong hai năm .