doichienbinh.jpg



















phucwdiendandongtiengif.gif

 
TIN TỨC THỜI SỰ
Bắm vào các đề mục trên để đọc tiếp những bài khác



























Sàig̣n Niềm Nhớ Không Tên - HạtSươngKhuya

 


Nhớ mở loa computer

 

   

Loạt Bài Cho Tháng Tư
"Quốc Hận"
Nhẩy Dù

Xin giới thiệu loạt bài đặc biệt của Mũ Đỏ Phạm huy Sảnh viết nhân dịp tháng 4-09. Bài đầu tiên viết về đại úy Nguyễn văn Viên và tiểu đoàn 5 nhẩy dù.

Vị Anh Hùng Kiệt Liệt
“Như nước Đại Việt ta từ trước, dẫu mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”. Nguyễn Trăi - B́nh Ngô Đại Cáo.

Lời người viết: Công lao những người cầm súng bảo vệ VNCH trong suốt 25 năm là điều rất đáng tri ân, khâm phục. Nhưng đáng tôn vinh hơn, khi sau 30-4-1975, lúc giặc Cộng đă tràn ngập miền Nam, tướng Dương Văn Minh đă đầu hàng, Việt Nam Cộng Hoà không c̣n nữa, tổ chức Quân Lực VNCH ngưng hoạt động, th́ tại nhiều nơi trong nước, vẫn có những tổ chức vơ trang nổi lên chống lại CS BắÔc Việt. Họ gồm đủ mọi thành phần: nam, nữ quân nhân, sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ, các tổ chức tôn giáo chính trị, các thường dân buôn bán, các sinh viên học sinh, các giáo sư, nhà văn, nhà báo thậm chí đến cả các thương phế binh những người c̣n đủ khả năng chiến đấu. Những người con yêu tuấn liệt đó của miền Nam Việt Nam, bằng trái tim yêu nước rực lửa và tinh thần bất khuất sắt đá “thà chết chứ không khuất phục Cộng Sản. Ôi! Vinh hiển thay! Họ đă đi vào cơi chết để t́m sự sống cho nhiều chục triệu sinh linh và chính nhờ những hy sinh cao đẹp đó, đă tiếp lửa cho ngọn đuốc chính nghĩa tự do được trường tồn.

Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một trong những tấm gương sáng chói, vị anh hùng kiệt liệt: Đại Úy Nguyễn Văn Viên. Cựu Mũ Đỏ Phạm Huy Sảnh 3/2009.


Tôi biết Đại Úy Nguyễn Văn Viên từ năm 1955 khi ông làm Tiểu Đoàn Trường (TĐT) Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù (TĐ5ND), ông thường sang thăm Đại Úy Phan Trọng Chinh Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3ND và Trung Úy Đỗ Kế Giai, Tiểu Đoàn Phó. Lúc đó tôi là Thiếu Úy,Trung Đội Trưởng của TĐ3ND. Ông Viên người nhỏ con, gầy, sinh trưởng ở miền Nam, ăn nói nhẹ nhàng như con gái, nh́n sắc diện ông không có vẻ “lính nhảy dù”. Nhưng mẫu người đó đă để lại trong kư ức tôi h́nh ảnh một cấp chỉ huy thật gan dạ. Đi hành quân dù trong thành phố hay dă ngoại, trong lúc đạn dịch bắn như mưa rào, ông lúc nào cũng đội mũ đỏ đứng chỉ huy. Khi nhắc đến Đại Úy Nguyễn Văn Viên không thể không nói tới đơn vị mà từ đó, ông trưởng thành trong đời binh nghiệp: TĐ5ND.

Trong quân sử Việt Nam Cộng Hoà có lẽ TĐ5ND là ḷ luyện thép đă sản xuất các cán bộ chỉ huy xuất sắc, và là đơn vị cấp Tiểu Đoàn tham dự nhiều trận đánh nhất trong quân lực. Về cấp Tướng Lănh, TĐ5ND đă đào luyện được 7 vị: Nguyễn Chánh Thi, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Hồ Trung Hậu, Lê Quang Lưỡng, Vũ Văn Giai. Nếu so sánh về thâm niên quân vụ của các Tiểu Đoàn Nhảy Dù th́ TĐ5ND đứng vào hàng thứ ba. Thành lập ngày 1 tháng 9/1953 tại Hà Nội. Tiểu Đoàn thâm niên thứ hai là TĐ3ND thành lập ngày 1 tháng 9/1952 cũng tại Hà Nội. Tiểu Đoàn thâm niên hơn cả là TĐ1ND được thành lập từ 15 tháng 7 năm 1951 tại Sài G̣n. Vào cuối năm 1953, thêm TĐ7ND cũng được thành lập tại Hà Nội ngày 1-11-1953, nhưng sau đó lại giải tán vào khoảng tháng 12 năm 1954 tại Đồng Đế, Nha Trang để lấy quân số bổ sung cho TĐ5ND được tái thành lập sau khi đă thiệt hại 100% tại trận Điện Biên Phủ. Tiểu Đoàn son trẻ nhất là TĐ6ND (hậu thân của Tiểu Đoàn 19 Bộ Binh của Thiếu Tá Đỗ Cao Trí) thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1954.

Nếu làm thống kê về các Tướng Lănh xuất thân từ các Tiểu Đoàn Nhảy Dù nguyên thủy, chúng ta có thể liệt kê thêm quí vị xuất thân từ TĐ3ND có 4 vị, Phan Trọng Chinh, Đỗ Kế Giai, Trương Quang Ân và Trần Quốc Lịch- xuất thân từ TĐ6ND có 2 vị, Lê Nguyên Vĩ và Chuẩn Tướng Nguyễn Trọng Bảo (truy thăng), TĐ1ND là đơn vị đào tạo ra 4 vị: Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Vỹ, Đỗ Cao Trí và Dư Quốc Đống. Về hàng Tiểu Đoàn Trưởng xuất sắc TĐ5ND đă cung ứng cho quân đội VNCH như: Nguyễn Văn Viên, Ngô Xuân Soạn, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Hồ Trung Hậu, Hồ Tiêu, Lê Quang Lưỡng. Riêng Ngô Lê Tĩnh từng làm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2ND và TĐ11ND. Hai Tiểu Đoàn này đều thành lập sau.

Nói tóm lại TĐ5ND đă lừng lững đứng hàng đầu trong Thiên Anh Hùng Sử của Quân Lực VNCH.

CÁC SĨ QUAN CỦA TIỂU ĐOÀN 5 NHẢY DÙ TRONG NHỮNG
NGÀY ĐẦU TIÊN KHI PHÁP TRAO LẠI CHO VIỆT NAM CHỈ HUY


(H́nh tư liệu của TĐ5ND chụp tháng 9 năm 1954)

Hàng đứng từ trái qua: Nguyễn Đức Huy (K10 Đà Lạt), Vũ Văn Giai (K10 Đà Lạt), Nguyễn Mộng Hùng (K4 Thủ Đức), Nguyễn Minh Tiến (K4 Thủ Đức).

Hàng giữa: Lê Quang Lưỡng (K4 Thủ Đức), Vơ Mạnh Đông (K4 Thủ Đức), Đào Văn Lượng (K4 Thủ Đức), Nguyễn Trường Tự (K10 Đà Lạt), Ngô Quang Trưởng (K4 Thủ Đức), Phạm Hi Mai (K4 Thủ Đức),Vũ Văn Ngói (K4 Thủ Đức).

Hàng ngồi dưới cùng: Phạm Ngọc Linh (K4 Thủ Đức), Nhâm Ngọc Hựu (K4 Thủ Đức), Trung Úy Nguyễn Văn Viên Tiểu Đoàn Trưởng (K6 Đà Lạt), Trần Huy Chương (K4 Thủ Đức), Nguyễn Văn Tư (K4 Thủ Đức).



16 sĩ quan trong tấm h́nh lịch sữ 55 năm sau; 14 vị đă trở thành người thiên cổ, 2 vị c̣n lại là Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai (Santa Ana) và Trung Tá Nguyễn Mộng Hùng (San Jose).

Ghi chú: H́nh c̣n thiếu các sĩ quan: Vơ Trọng Hầu (K4 Thủ Đức) và các sĩ quan của K4 Phụ Cương Quyết tốt nghiệp Vơ bị Đà Lạt đáo nhậm TĐ5ND vào đầu tháng 12/1954 gồm có: Nguyễn Nghiêm Tôn, Trần Văn Huyên, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Văn Nghĩa, Nguyễn Duy Khoa, Ngô Lê Tĩnh, Lê Ngọc Tô, Nguyễn Văn Vỹ, Nguyễn Văn Thụ, Trần Văn Nguyên và Trần Hữu Bào.



Nguyễn Văn Viên
1951, một thanh niên miền Nam, sau khi tốt nghiệp trung học rồi theo tiếng gọi của núi sông, ông t́nh nguyện vào quân ngũ (Khoá 6 Vơ Bị Đà Lạt) để chống lại bọn Cộng phỉ đang dày xéo quê hương. Nhưng đường hoạn lộ của người thanh niên yêu nước đă gặp đầy gian truân, chướng ngại. Cùng đơn vị đầu đời là TĐ5ND, ông 2 lần nhảy dù xuống mặt trận Điện Biên Phủ. Lần thứ nhất ngày 23 tháng 11 năm 1953 để giúp vị Tư Lệnh Mặt Trận Đại Tá De Castrie thiết lập các cứ điểm quân sự trọng yếu. Lần thứ 2 ngày 14 tháng 3 năm1954, TĐ5ND lại được thả xuống để tiếp cứu Điện Biên Phủ. Ngay khi các cánh dù c̣n lơ lửng trên cao, hoả lực của quân CS bố trí từ những cao điểm xung quanh căn cứ thi nhau tác xạ. Khi quân bạn vừa đặt chân xuống đất th́ ta và địch hỗn chiến khốc liệt. Trung Úy Nguyễn Văn Viên sĩ quan phụ tá đứng hàng thứ 3 trong Tiểu Đoàn) của TĐ5ND bị thương nặng nên được không vận di tản về bệnh viện Đôn Thủy Hà Nội cấp cứu. Toàn bộ TĐ5ND (trong số đó có Trung Úy Đại Đội Trưởng Phạm Văn Phú; sau này lên Tướng) được coi là những đơn vị sau cùng đă chiến đấu dũng cảm cho đến khi chiến trường Điện Biên Phủ hoàn toàn im tiếng súng.

Tháng 3 năm 1955, từ Đồng Đế Nha Trang, 2 Tiểu Đoàn Nhảy Dù được điều động về Sài G̣n tham dự cuộc hành quân dẹp loạn B́nh Xuyên.

1) TĐ3ND do Đại Úy Nhiệm Chức Phan Trọng Chinh mới nhận Tiểu Đoàn do Pháp trao lại. Từ chức vụ Đại Đội Trưởng ông trở thành vị Tiểu Đoàn Trưởng Việt Nam đầu tiên.

2) TĐ5ND cũng do Pháp chuyển giao lại do Trung Úy Nguyễn Văn Viên, sĩ quan phụ tá của Tiểu Đoàn được đôn lên làm Tiểu Đoàn Trưởng cũng là người Việt Nam đầu tiên.

Khi các lực lượng của chính phủ hồi đó đă đánh đuổi quân phiến loạn B́nh Xuyên khỏi Sài G̣n-Chợ Lớn, các sĩ quan sau đây đă được thăng cấp: Thiếu Tá Đỗ Cao Trí lên Trung Tá, các Đại Úy Nguyễn Chánh Thi và Vũ Quang Tài lên Thiếu Tá. Có điều đặc biệt là Trung Úy Nguyễn Văn Viên, Trung Úy Đỗ Kế Giai lên Đại Úy thực thụ và Đại Úy nhiệm chức Phan Trọng Chinh cũng được điều chỉnh đều là Đại Úy thực thụ cùng ngày. Sau đó Đại Úy Viên trao TĐ5ND cho Thiếu Tá Nguyễn Chánh Thi. Đại Úy Nguyễn Văn Viên về chỉ huy TĐ6ND thay Thiếu Tá Đỗ Cao Trí. Ông Trí mới được thăng cấp Trung Tá và trở thành Chỉ HuyTrưởng Liên Đoàn Nhảy Dù Việt Nam gồm: TĐ1ND Tiểu Đoàn Trưởng, Thiếu Tá Vũ Quang Tài (mới thăng cấp) TĐ3ND Tiểu Đoàn Trưởng, Đại Úy Phan Trọng Chinh, TĐ5ND Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Chánh Thi (mới thăng cấp) TĐ6ND Tiểu Đoàn Trưởng Đại Úy Nguyễn Văn Viên (mới thăng cấp).

Kế tiếp Liên Đoàn Nhảy Dù tiếp tục hành quân truy kích “Tướng” Bảy Viễn và tàn quân tại khu Rừng Sát. Vào thời gian này Thiếu Tá Nguyễn Chánh Thi lên làm Chỉ Huy Phó LĐND, ông trao TĐ5ND cho Đại Úy Ngô Xuân Soạn làm Tiểu Đoàn Trưởng.

Khi kết thúc cuộc hành quân tiểu trừ tàn quân B́nh Xuyên tại Sài G̣n-Chợ Lớn và Rừng Sát Sài G̣n, các đơn vị nhảy dù lại được điều động hành quân tại Núi Bà Đen Tây Ninh dẹp lực lượng Cao Đài ly khai, và chiến dịch Đinh Tiên Hoàng để b́nh định Miền Tây.

Có thể nói trong suốt gần 2 năm 1955 và 1956, lực lượng nhảy dù đă là cái xương sống chống đỡ cho nội các của chính phủ Ngô Đ́nh Nhiệm đứng vững trước cơn băo táp chính trị tạo nên bởi CẢ BẠN-các lực lượng giáo phái và tổ chức chính trị- LẪN THÙ- phe thân Pháp và tàn dư- Nói một cách khác nếu không có những người lính MŨ ĐỎ đă hy sinh xương máu v́ ḷng yêu nước đối với quốc gia dân tộc th́ NỀN ĐỆ NHẤT CỘNG HOÀ CỦA MIỀN NAM VIỆT NAM không thể h́nh thành!

Bởi trước những mua chuộc bằng tiền bạc, bổng lộc, quyền lợi rồi liên hệ t́nh cảm của người Pháp lúc đó; chỉ cần một cái gật đầu ủng thuận của Trung Tá Đô Cao Trí vị Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Nhảy Dù, hoặc bất cứ một vị Tiểu Đoàn Trưởng mũ đỏ nào đang hành quân, không cần phải chống lại Thủ Tướng Diệm mà chỉ cần án binh bất động không thôi, cũng đủ tạo thời cơ cho Tướng Nguyễn Văn Hinh phe thân Pháp khuấy động t́nh thế, khiến cho nội các của Chính Phủ Diệm phải sụp đổ, dù cho ông Diệm có được sự hậu thuẫn của Tướng Trinh Minh Thế và một số các đơn vị của Giáo Phái Cao Đài.

Tôi c̣n nhớ ngay sau khi quân bạn đă đánh đuổi các đơn vị B́nh Xuyên khỏi Sài G̣n và Chợ Lớn, “Tướng” Bảy Viễn và dư đảng chạy về ẩn náu trong khu Rừng Sát, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm tổ chức buổi tiếp tận vào buổi trưa (tôi không nhớ rơ ngày) để khoản đăi và tưởng thưởng các cấp chỉ huy của đơn vị nhảy dù tham chiến, Thủ Tướng Diệm đến bắt tay từng sĩ quan chúng tôi. Trong ánh mắt long lanh biểu lộ sự xúc động ông nói rất chậm:” Việc tái lập an ninh tại thủ đô là nhờ công lao của các chiến sĩ, tôi và chính phủ sẽ không bao giờ quên!..”



Gần 2 năm chinh chiến để chu toàn trọng trách từ dẹp quân phiến loạn B́nh Xuyên tại Sài G̣n, tại Rừng Sát, b́nh định các lực lượng giáo phái ly khai tại Tây Ninh và các tỉnh miền Tây. Lực lượng nhảy dù là nỗ lực chính giúp chính phủ Ngô Đ́nh Diệm ngăn chặn được các mũi tấn công quân sự, chính trị để cuối cùng ông đă thành công trong việc ổn định xáo trộn chính trị, văn hồi trật tự xă hội, tại thủ đô Sài G̣n cũng như từ vĩ tuyến 17 xuống mũi Cà Mau, công lao đó của các chiến sĩ Mũ Đỏ được coi là những công thần lập quốc của NỀN CỘNG HOÀ NAM VIỆT NAM. Hy vọng mai này những người viết sử sẽ không quên.

Năm 1957, Đại Úy Viên đang làm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ6ND đột nhiên tai hoạ xảy đến cho ông, v́ một lỗi lầm của thuộc hạ ông phải gánh hết trách nhiệm và bị giải ngũ. Ra khỏi quân đội ông đi dạy học và vợ ông buôn bán mưu sinh. Ông cảm nhận sống đời “phó thường dân” và nghĩ rằng đă cố gắng đóng góp đủ nghĩa vụ cho đất nước. Năm 1972, ông được lệnh tái ngủ theo lệnh của Bộ Quốc Pḥng v́ nhu cầu cần cán bộ chỉ huy. Ông bổ sung về SĐ9BB và được chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh của Sư Đoàn.

Có người nói rằng đường hoan lộ của ông sinh động như “bức tranh vân cẩu” bởi vào thời điểm này các Thiếu Úy Vũ Văn Giai đă là Chuẩn Tướng Tư Lệnh SĐ3BB và Lê Quang Lưỡng tư lệnh SĐNhảy Du. Thiếu Úy Ngô Quang Trưởng một sĩ quan đàn em rất thân tín của ông thời c̣n ở TĐ5ND đă lên Thiếu Tướng và hiện đang là Tư Lệnh Quân Đoàn 4 mà SĐ9BB là đơn vị cơ hữu.

Truyện được kể rằng hồi đó, có lần Tướng Trưởng xuống thăm Bộ Tư Lệnh SĐ9BB. Ngẫu nhiên Tướng Trưởng tao ngộ vị xếp cũ của ḿnh trong hàng quân. Tướng Trưởng thân mật bắt tay Đại Úy Viên và hỏi: “Anh Viên và gia đ́nh mạnh khỏe? Anh có cần ǵ không? Đại Úy Viên không đợi cho Tướng Trưởng nói hết câu, ông trả lời: “Cám ơn Thiếu Tướng, tôi không cần ǵ cả” thái độ của Đại Úy Viên đă biểu lộ cái “dũng” của người lính rất tự trọng và kỷ luật: lệnh sao làm vậy, không cần nhờ vả ai.

Một vị tướng lănh hiện đang định cư tại Hoa Kỳ từng là bạn thân cùng binh chủng với Đại Úy Nguyễn Văn Viên kể lại: “Sau 30/4/1975, khi CS đă chiếm toàn bộ Nam Việt Nam, chúng (CS) kêu gọi sĩ quan và Tướng Lănh phải tŕnh diện đi “học tập”. Đại Úy Viên đến thăm tôi tại nhà riêng ở Sài G̣n. Ông Viên hỏi tôi: “Anh có đi tŕnh diện tụi nó không?” Tôi trả lời: “Đâu c̣n cách nào khác hơn, tôi đang sửa soạn đây.” Đại Úy Viên khẳng định: “Tôi (NVV) không đi đâu cả, tôi sẽ tổ chức lực lượng “uưnh” bỏ mẹ tụi CS này” Rồi Đại Úy Viên tiếp: “Anh c̣n vũ khí không? Xin cho tôi để giúp chúng tôi chiến đấu” Tôi (vị tướng lănh) nghe anh Viên nói vậy bèn đi lục lọi trong nhà t́m được một số vũ khí như súng lục hăm thanh, súng colt 45, súng cac bin, tiểu liên và đạn dược rồi trao cho Đại Úy Viên. Ông Viên tháo rời từng khẩu cho dễ ngụy trang rồi gói riêng thành từng gói cho vào túi vải. Ông Viên nh́n quanh pḥng làm việc của tôi thấy cái máy chữ nhỏ, Olivetli, ông liền hỏi xin luôn để dùng đánh máy truyền đơn. Tôi chấp nhận ngay, tôi cho ông 2 cái túi vải để đựng các món đồ tôi vừa tặng. Ông Viên cám ơn rồi kiếu từ chia tay. Chúng tôi chia tay từ đó, tôi (vị tướng lănh) th́ vào tù CS c̣n ông Viên ở lại quyết chiến đấu với kẻ thù để hy vọng một ngày giải thoát cho tôi.

Ông tiếp: “Sau 17 năm bị tù CS, trở lại sống tại Sài G̣n, tôi có được nghe huyền thoại thật đẹp về Đại Úy Nguyễn Văn Viên. Rằng sau 30/4/1975, ông tổ chức một lực lượng vơ trang hoạt động ngay trong khu vực Sài G̣n-Chợ Lớn. Ông liên kết với các lực lượng tôn giáo và tạo được nhiều thành quả như đặt chất nổ phá hoại, trải truyền đơn kêu gọi đồng bào đứng lên chống lại bọn CS cầm quyền. Tổ chức của Đại Úy Viên liên kết với lực lượng của linh mục Nguyễn Văn Vàng thuộc Ḍng Chúa Cứu Thế và nhiều tổ chức khác đă gây được sự chú ư tại quốc nội và hải ngoại. Rất tiếc sau đó bị nội tuyến nên khoảng cuối năm 1976 các vị lănh tụ của tổ chức là Đại Úy Nguyễn Văn Viên, linh mục Nguyễn Văn Vàng và một số chiến hữu trong tổ chức đă bị CSVN bắt.

Để tuyên truyền hù doạ dân chúng. CS cho tổ chức cái gọi là “phiên toà khẩn cấp” để xử ông Viên và các vị lănh tụ của tổ chức chống đối. Phiên toà xử ông đă được CS loan truyền trên loa phóng thanh diễn tiến cuộc xử án cho dân chúng nghe. Trong phiên toà, Đại Úy Viên, Linh Mục Vàng và các chiến sĩ tay bị c̣ng, dáng điệu khinh mạn bọn CS đang ngồi xử án, nét hiên ngang của các dũng sĩ đă làm cho người dân trong pḥng xử đều khâm phục c̣n truyền tụng đến ngày nay.

Phiên toà ngắn ngủi, được tổ chức hết sức máy móc, phi công lư, không luật sư biện hộ, trên bục công tố là những tên “dép râu” mới từ bưng biền về mặt hăy c̣n nám màu nước phèn, thái độ đằng đằng sát khí. Kết quả của bản án đă được tụi CS soạn trước, chúng tuyên án: Đại Úy Nguyễn Văn Viên tử h́nh, linh mục Nguyễn Văn Vàng chung thân khổ sai v.v..

Nguồn tin một nhân chứng hiện c̣n sống tại Sài G̣n là một cụ bà người Công Giáo năm nay đă gần 90 tuổi qua điện thoại cụ kể lại: “Ngày Việt Cộng xử tử Đại Úy Viên tại Vườn Điều Thủ Đức (?)vào năm cuối 1976 (cụ không nhớ ngày) nhiều dân chúng trong số đó có cụ đă tụ tập quanh “pháp trường” để chiêm ngưỡng ông lần cuối. Trước khi bắn ông, chúng (Cộng Sản) hỏi ông có muốn nói điều ǵ không? Đại Úy Nguyễn Văn Viên dơng dạc trả lời: “Tôi muốn nói với các anh, người Cộng Sản, có bắn tôi hôm nay cũng không dập tắt được ngọn lửa đấu tranh của người dân trong nước, mai này sẽ có hàng trăm, hàng ngàn Nguyễn Văn Viên khác nối gót. Nói xong Đại Úy Nguyễn Văn Viên quay về phía đồng bào đang dự kiến, ông nói thật lớn: “Tôi xin chúc đồng bào ở lại mạnh giỏi.” Rồi, tuy hai tay ông bị trói chặt về phía sau, nhưng Đại Úy Nguyễn Văn Viên trong tư thế rất oai nghiêm, đầu ông ngẩng cao, ngực ưỡn về phía trước như thách đố những tay súng, một tên CS tay cầm miếng vải đen tính bịt mắt ông, ông hiên ngang nói lớn: “Các anh không cần bịt mắt tôi, tôi sẵn sàng rồi, bắn đi.”

Một loạt đạn nổ liên tiếp xuất phát từ những bàn tay CS khát máu, đă kết thúc mạng sống người con yêu của Miền Nam Việt Nam. Đầu ông vẫn thẳng, dựa vào cái cột gỗ, tấm áo trắng của ông nhuộm đầy máu, những ḍng máu đỏ từ ngực ông theo thân h́nh chảy dài xuống chân, thấm vào mạch đất tự do, nơi ông sinh ra và cả đời hết ḷng phụng sự!

Ôi cái chết của Nguyễn Văn Viên thật kiêu hùng kỳ diệu, c̣n vinh hiển hơn cả người xưa. Hơn 100 năm trước, ngày 24 tháng 4 năm 1882, Tổng Đốc Hoàng Diệu cũng đă chọn cái chết bằng cách thắt cổ tự tử sau khi không giữ nổi thành Hà Nội: Tổng Đốc Hoàng Diệu, một trụ cột của triều đ́nh nhà Nguyễn, ngài nhận lệnh vua trấn thủ thành Hà Nội. Khi thành mất về tay địch, ngài đă lựa cái chết để giữ trọn khí tiết của kẻ sĩ và một tôi trung, sự tuấn liệt đó, đă được sử sách hết lời ca tụng! Đó là truyện đời xưa.

Truyện đời nay được truyền tụng rằng: “Vào cuối thế kỷ 20, trong cuộc chiến tranh giữa thiện và ác, giữa chính và tà, giữa những người khát vọng tự do và bọn CS độc tài khát máu, có một dũng sĩ cương quyết chống lại chủ thuyết CS, chống lại bọn CSBV gian ác. Ông quy tụ những người cùng chí hướng nổi lên chống lại chế độ cầm quyền, người đó là Nguyễn Văn Viên.

Đại Úy Nguyễn Văn Viên từng là công thần xây dựng Nền Đệ Nhất Cộng Hoà nhưng chẳng bao lâu, ông bị bỏ quên ngay, Quân Đội ruồng bỏ, đường hoan lộ của ông lang bang từ ông xuống thằng nhưng ông vẫn cắn răng chịu đựng hết ḷng thủy chung.15 năm sau tưởng như giă từ vũ khí, nhưng đầu năm 1972, khi tuổi đời đă “tà tà bóng ngả ”, ông nhận được lệnh tái ngũ, rồi đươc trao cho một chức vụ không hợp với khả năng.

Ông thản nhiên chấp nhận không phản đối. Ấy thế mà khi chính quyền Miền Nam mất về tay CS, Quân Đội không c̣n đủ khả năng bảo vệ người dân. Trong lúc mọi người tuyệt vọng th́ ông đứng lên. Trong lúc mọi người đau khổ, th́ ông sẵn sàng chia sẻ. Trong lúc mọi người mất tự do, th́ ông vùng lên tranh đấu. Ông tự cảm thấy cá nhân ông vẫn c̣n trách nhiệm với Tổ Quốc Nam Việt Nam và đồng bào ruột thịt.

Nét hiên ngang của Nguyễn Văn Viên, là sau 30/4/1975, cũng như các đồng đội khác để tự cứu sinh mạng, có thể t́m đường vượt thoát ra hải ngoại hay vào tù CS, nhưng chiến sĩ Nguyễn Văn Viên đă chọn cho ḿnh một hướng đi mà con đường trước mặt đầy gian nan, nguy hiểm. Ông hy sinh hạnh phúc riêng tư và hiến dâng sinh mạng của ḿnh cho đại nghĩa. Gương tuấn liệt của ông đă làm kẻ thù (CS) phải cúi đầu xấu hổ và thức tỉnh biết bao trái tim yêu nước cho đến ngày hôm nay. Tôi thực hiện bài viết như lời tiễn biệt người chiến sĩ tuẫn liệt cùng hy vọng từ tâm khảm thắp lên nén hương cho Chiến Sĩ Nguyễn Văn Viên và biết bao chiến sĩ hữu danh, vô danh khác để bày tỏ tấm ḷng thương cảm, biết ơn vô vàn. Bây giờ là 4 giờ sáng, đêm ngày 27 tháng 2 năm 2009, ngoài trời vẫn c̣n tối, không gian hoàn toàn im lặng và từ phía bên kia bờ đại dương thật xa đột nhiên văng vẳng giọng ca cao vút của người nữ ca sĩ năm xưa, trong Bài Ca Chính Huấn như rót vào tai tôi: “Người nằm xuống đây, cho ta đứng lên từ quê hương này. Người nằm xuống đây, khi chưa viết xong trang sử đấu tranh. Người đă ra đi theo vận nước”.

Thiên kỷ này, Đại Úy Nguyễn Văn Viên không c̣n nữa! nhưng tinh thần Nguyễn Văn Viên c̣n vằng vặc ngàn năm!

Khởi viết ngày 17 tháng 1 năm 2009, sưu tầm tài liệu, up-date tin tức, nhuận sắc, tŕnh bày kỹ thuật và đánh máy xong ngày 10-3-2009 tại Vùng Tây Bắc Hoa Kỳ.

Cựu Mũ Đỏ Phạm Huy Sảnh

* Tác giả ghi chú:
1) Khi bài viết đă hoàn tất, tác giả nhận được thêm tin tức sau: Đầu năm 1972, hồ sơ gọi tái ngũ của các sĩ quan được Pḥng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu tŕnh lên Đại Tướng TTMT, Đại Tướng Cao Văn Viên duyệt đến hồ sơ của Đại Úy Viên. Vị Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng không đồng ư về những biện pháp mà Quân Đội đă áp dụng đối với Đại Úy Viên vào năm 1957. Tướng Viên cho lệnh Pḥng Tổng Quản Trị thăng cấp Thiếu Tá nhiệm chức cho Đại Úy Nguyễn Văn Viên kể từ ngày tái ngũ. Có nghĩa là khi chiến sĩ Nguyễn Văn Viên về tŕnh diện SĐ9BB, ông đă mang cấp bậc Thiếu Tá Nhiệm Chức cho đến 30/4/1975.

Tác giả xin trân trọng bổ túc.

2) Xin cám ơn quư vị Tướng Lănh Nhảy Dù, quư Linh Mục và cụ bà thuộc Ḍng Chúa Cứu Thế Việt Nam, các chiến hữu của TĐ5ND, Colonel Mike Mc Dermott, cựu cố vấn của TĐ5ND, các chiến hữu Mũ Đỏ từ Âu Châu, đă giúp chúng tôi các tin tức, h́nh ảnh, và tư liệu. Cùng các em Hà, Đặng phụ trách kỹ thuật để hoàn tất bài viết.

150.jpg






Quốc Hận 20-7-1954:

(Bài 4)

Serpent, Chuyến Tàu Vĩnh Biệt

Đỗ Quốc Anh-Thư

<> 

Nhớ lại chuyện Quốc Hận 20-7-1954, chúng tôi trích đoạn 4 phần trong cuốn ‘Nửa Đường Gẫy Cánh’ (NĐGC) để lần lượt phổ biến trên Diễn Đàn:

Bài 1, Bài 2 và Bài 3 đă được phổ biến. Lần này chúng tôi xin gởi đến quư vị ‘Bài 4, Serpent, Chuyến Tàu Vĩnh Biệt’.

V́ NĐGC là cuốn truyện dài, nên chúng tôi xin tóm lược mấy phần tŕnh bầy trước đây: T́nh cảnh của gia đ́nh ông bà Văn --- hai nhân vật trong truyện --- trong bối cảnh lịch sử năm 1954:

Như hàng triệu người dân Việt, hiền ḥa nhưng bất khuất, thương yêu gia đ́nh mà không quên nghĩa vụ đối với đất nước, ông Văn đă chấp nhận xa nhà, vào “Liên Khu Tư” phục vụ cho phong trào kháng chiến chống Pháp gần 5 năm trời. Sau khi hiểu rơ sự thật về Cộng Sản trong Mặt Trận Việt Minh, ông liền viện cớ là ‘già yếu’ để xin trở về nguyên quán với gia đ́nh --- vợ hiền và hai đứa con thơ: Tuấn và Thảo --- ở miền quê tỉnh Hà Nam.

Đây là vùng “kháng chiến” thuộc “Liên Khu Ba”, nên dân chúng miền quê phải sống trong cảnh ‘một cổ đôi tṛng’. Ban ngày th́ lính Pháp hành quân, hoặc cho phi cơ bắn phá. Ban đêm th́ Cộng Sản hoành hành.

Đến năm 1954 th́ hầu như cả vùng “Liên Khu Ba” đặt dưới quyền kiểm soát của Cộng Sản. Chúng cho thi hành chiến dịch “Cải Cách Ruộng Đất”. Thảm trạng đấu tố “địa chủ”--- vô cùng dă man, tàn ác --- diễn ra khiến ông bà Văn hoảng sợ, chỉ c̣n biết t́m đường, đem Tuấn và Thảo đi trốn vào Nam lánh nạn.

 

(From Wikipedia, the free encyclopedia.

Nếu không nh́n thấy ảnh, xin quư vị bấm vào hàng chữ phía dưới)

http://s167.photobucket.com/albums/u156/LamSonVN/488px-HD-SN-99-02045.jpg

 

Trong thời gian này, Hiệp Định Geneva 1954 đă được kư kết, Pháp đă rút lui khỏi miền Bắc. Tất cả các ngả đường đều có công an, du kích và “bần cố nông” CS canh gác để ngăn chặn dân chúng --- nhất là thành phần “Trí, Phú, Địa, Hào” --- đi lánh nạn.

Trong t́nh cảnh ngặt nghèo, ông Văn lại c̣n bị buộc tội là “phản động” và bị công an CS bắt giam. Bà Văn cùng Tuấn và Thảo mỏi ṃn trông chờ, nhưng không thấy ông Văn được thả về. Trong khi ấy, ngày di cư vào Nam --- theo Hiệp Định Geneva quy định --- sắp hết hạn.

Vậy làm cách nào để bà Văn đem Tuấn và Thảo, trốn thoát vào Nam? Trong làng xă, bọn công an và “bần cố nông” Cộng Sản đều biết mặt bà Văn --- “địa chủ  phản động”. Nên không thể nào bà đi trốn cùng một lúc với Tuấn và Thảo. Chỉ c̣n cách, bà Văn cho hai em đi lên Hà Nội trước.

Nếu trốn thoát, Tuấn và Thảo sẽ theo cô Hoà --- em của ông Văn, cư ngụ ở đó --- ra Hải Pḥng, lên tàu di cư vào Nam. C̣n bà Văn, sau đó nếu không đi thoát th́ đành chịu thảm cảnh gia đinh ly tán: Vĩnh biệt hai đứa con thơ dại, vẫn c̣n hơn là để chúng sa vào thảm hoạ CS.

Trong khi Tuấn và Thảo trốn lên Hà Nội th́ ông Văn được CS thả. Vừa ra khỏi trại tù, ông lợi dụng “Giấy Ra Trại” trong tay, để ‘đi lạc’ lên Hà Nội, rồi ra Hải Pḥng. Đây là thành phố cuối cùng, vẫn c̣n đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Quốc Gia và đang đón nhận đồng bào tỵ nạn vào Nam bằng đường biển.

Từ khi bị CS bắt giam, ông Văn không hề biết chuyện ǵ xẩy ra trong gia đ́nh --- kể cả chuyện hai đứa con thơ đi trốn CS. Nên ông Văn, khi vừa tới Hải Pḥng th́ vội vàng đến ‘Ty Cảnh Sát’ để xin 4 tấm ‘Giấy Thông Hành’ cho cả gia đ́nh. Được vậy, ông Văn sẽ trở về quê đón vợ con. Ông hy vọng, khi đi trốn mà có ‘Giấy Thông Hành’ trong tay th́ cả nhà ông sẽ thoát khỏi trạm kiểm soát của CS.

Thế nhưng, sự việc xẩy ra không như ư ông Văn mong ước. Nên chuyến tàu Serpent --- chở đồng bào di cư vào Nam --- trở thành ‘chuyến tàu vĩnh biệt’.

<> 

Serpent, Chuyến Tàu Vĩnh Biệt

*

Bên cổng trại tạm trú -- của đồng bào di cư tỵ nạn Cộng Sản -- ở đường Cát Dài, thành phố Hải Pḥng, ông Văn ngồi trên băi cát ôm Tuấn và Thảo trong ṿng tay. Qua làn nước mắt, ông thấy từng toán năm bẩy người, nối tiếp nhau đi qua. Người xách va-li, kẻ bồng bế trẻ thơ, lũ lượt đi về phía bờ biển để đáp tàu vào Nam. Trong lúc chờ đợi, nhiều người đồng cảnh xúm lại nói chuyện, hỏi thăm nhau, trao đổi tâm sự với nhau, khiến cổng trại tạm trú, "ồn ào như cái chợ".

- Chuyến này, gia đ́nh bác vào Nam đầy đủ cả chứ?

- C̣n thiếu, ông bà nội của các cháu. Hai cụ không chịu vào Nam. Phần v́ già yếu, phần v́ các cụ không muốn xa "quê cha đất tổ".

- Thế th́ ai ở lại trông nom hai cụ?

- Thế mới khổ chứ...

Nỗi sầu hiện rơ trên mặt, ông ta nghẹn ngào nói tiếp:

- Đây là điều... khổ tâm. Chúng tôi đă tính cho cháu út ở lại, hầu các cụ... Nhưng các cụ không bằng ḷng. Nhất là cụ ông, cứ khăng khăng bảo rằng:

 "Con phải đem tất cả các cháu vào Nam, lo liệu cho tương lai của chúng nó. Bố mẹ th́ già rồi, liệu c̣n sống được vài năm nữa không mà đi vào Nam? Tuổi già sức yếu, đường xá xa xôi, làm phiền hà các con lắm".

Chắc hẳn ông ta không muốn nhắc đến chuyện chia ĺa nữa, nên hỏi sang chuyện khác:

- Có phải chuyến tàu này là chuyến cuối cùng chở đồng bào ḿnh vào Nam, phải không ạ?

- Vâng, chuyến tàu Serpent này là chuyến cuối cùng, hiện thời đang thả neo ở ngoài khơi hải cảng Hải Pḥng. Nghe nói là con tàu này có thể chở được vài ba ngàn người. Đồng bào ḿnh phải đi tàu "há mồm" trước, khi ra ngoài khơi mới lên tàu Serpent.

- Tàu "há mồm" chỉ chở được khoảng bốn, năm chục người. Ḿnh đi loại tàu nhỏ này mà gặp sóng lớn th́ khổ lắm.

- Hôm nay, trời có vẻ yên tĩnh. Hy vọng, ḿnh đi từ bờ ra ngoài khơi, khoảng vài dặm th́ không đến nỗi nào... Nếu gặp sóng gió th́ cũng phải chịu. Ḿnh thoát được Cộng Sản vào Nam là phúc đức rồi.

Nghe hai chữ "phúc đức", ông Văn nhớ lại lời tâm sự cùng dáng điệu đau khổ của cụ Giáo Giảng sáng nay.

- Ở làng tôi, công an, du kích, bần cố nông, chỗ nào cũng có chúng canh gác. Gia đ́nh nào "phúc đức" lắm th́ mới có thể trốn thoát cả nhà.

Vừa thương người, vừa thương thân. Lúc trao đổi tâm sự sáng nay, ông Văn và cụ Giáo Giảng đều sụt sùi khóc. Cụ Giáo Giảng là người hiền hậu -- ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, hầu như ai cũng biết -- nhưng chỉ v́ có dăm chục mẫu ruộng vườn nên cụ bị Cộng Sản ghép vào "thành phần địa chủ". Khi sắp sửa bị đấu tố, cụ ông trốn thoát lên Hà Nội. Kế tiếp là cháu nội của cụ. C̣n cụ bà và cô con gái, cả tháng sau mới trốn thoát vào lúc nửa đêm. Cuối cùng, gia đ́nh cụ chỉ có 4 người thoát nạn ra Hải Pḥng. C̣n 3 người khác, lần nào đi trốn cũng bị bắt. Bọn "bần cố nông" Cộng Sản đă thay phiên nhau canh gác, cô lập khu nhà của cụ. Chắc hẳn đến khi nhắm mắt, cụ Giáo Giảng vẫn không quên thảm cảnh đoạn trường, gia đ́nh ly tán khi đất nước chia đôi.

- Này ông Thắng, ông có biết tin ǵ không?

- Tin ǵ hở cụ?

Ông Văn ngước mắt lên nh́n: Cụ già, đầu tóc bạc phơ, từ ngoài đường Cát Dài bước vào cổng trại, hỏi chuyện ông Thắng như thế. Mấy người đồng cảnh ở bên cạnh ông Văn, cũng lắng nghe cụ già loan tin.

- Cô cháu ngoại của tôi, vừa mới trốn thoát ra đây kể lại, nhiều người từ miền quê tỉnh Hà Nam và Nam Định, đă trốn lên được Hà Nội, nhưng rồi...

Vừa nghe đến đó, ông Văn đứng phắt dậy như chiếc ḷ so bung lên:

- Nhưng rồi làm sao hở cụ?

Cụ già nh́n ông Văn:

- Nhưng rồi, tất cả đều bị công an Cộng Sản bắt giam ở khu trường học. Măi đến sáng hôm qua, không hiểu "trời xui đất khiến" thế nào mà nhân viên của "Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến" lại biết. Họ đến can thiệp. H́nh như tất cả nạn nhân đă được chở ra Hải Pḥng.

Tuấn và Thảo cũng hấp tấp bước tới, đứng bên cạnh cha. Đôi mắt ông Văn sáng lên trong lúc Tuấn láu táu hỏi:

- Thế bây giờ.... những người ấy ở đâu, cụ biết không ạ?

- Nghe nói... họ đă được chở thẳng ra ngoài bến tàu rồi.

Tia hy vọng lóe sáng. Cầu mong, trong số những người ấy có bà Văn! Không chừng, đến giờ phút cuối, gia đ́nh ông Văn sẽ có mặt đầy đủ trên chiếc tàu Serpent?

Mặc dù, đó là "chuyện ngàn năm một thuở". Nhưng ba bố ông Văn vẫn cảm thấy nao nức trong ḷng. Có lẽ, Tuấn là người nóng ḷng nhất. Cậu bé mong mỏi, được lên tàu Serpent thật sớm, để gặp lại mẹ già ....…

*

...... Ba bố con ông Văn -- cùng nhiều người tỵ nạn khác -- đợi chờ hết giờ này sang giờ khác. Trên sân cát, có nhóm thanh niên, năm bẩy người xúm lại, bàn chuyện thời sự. Nào là chuyện chia đôi đất nước. Nào là chuyện di cư vào Nam tỵ nạn. Nào là chuyện về chiến dịch Điện Biên Phủ ......

......Thế là sau 8 năm khởi xướng chiến tranh, kêu gọi "toàn quốc kháng chiến" --  DIỆN bên ngoài là "đánh Pháp giành Độc Lập", nhưng ĐIỂM  bên trong là bành trướng bá quyền Mác-Lênin -- đến ngày 20-7-1954, Cộng Sản đă thoả thuận với Pháp, kư kết hiệp định Genève, chia đôi đất nước VN dọc theo sông Bến Hải. Ngược lại, đại diện cho Chính Phủ Quốc Gia là bác sĩ Trần Văn Đỗ -- nhận lệnh của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm -- quyết liệt phản đối hiệp định này.

V́ biết miền Bắc đặt duới ách thống trị ác độc của Cộng Sản, nên đồng bào mới bỏ cơ nghiệp, di cư vào Nam với hai bàn tray trắng. Ngược lại, ở miền Nam, hầu như không có người dân nào muốn ‘di cư ra Bắc’ -- ngoại trừ mấy chục ngàn cán binh Cộng Sản được lệnh của "Bác và Đảng, đi tập kết". Dù bên này hay bên kia chiến tuyến, trong biến cố lịch sử này, có hàng trăm ngàn gia đ́nh tan nát. Con sông Bến Hải trở thành ḍng sông "ngăn cách" kẻ Bắc, người Nam.

Ông Văn càng ghe nhóm thanh niên bàn luận, lại càng cảm thấy ân hận. Chính ông là kẻ lầm lẫn, tin theo Mặt Trận Việt Minh, tham gia kháng chiến chống Pháp. Để kết quả, sau 8 năm chiến tranh, quân đội Pháp là phía thảm bại, Cộng Sản là kẻ hưởng chiến thắng. Dân tộc VN là nạn nhân đau thương nhất.

Chiến dịch Điện Biên Phủ là thí dụ điển h́nh. Phía Cộng Sản áp dụng chiến thuật "Biển Người", tung vào trận địa khoảng 63 ngàn "Bộ Đội Chủ Lực" và 30 ngàn dân công trợ lực để đè bẹp 12 tiểu đoàn tác chiến của Pháp. Quyền chỉ huy Chiến Dịch nằm trong tay bọn tướng lănh Tàu Cộng -- Bành Đức Hoài, Lă Quư Ba và Vi Quốc Thanh. C̣n Vơ Nguyên Giáp, thực sự chỉ là kẻ phụ tá, nếu không muốn nói là bù nh́n. Quân đội Pháp không ngờ, nhiều đơn vị pháo binh của Tàu Cộng tham chiến. Nên các vị trí đóng quân của Pháp mới bị "mưa pháo" tan tành -- đúng theo chiến thuật "Tiền Pháo Hậu Xung" của Tàu Cộng .

Qua trận Điện Biên Phủ, ai cũng thấy, Cộng Sản hưởng chiến thắng. Thảm thương nhất là dân tộc VN. Hàng chục ngàn người Việt, bao gồm cả "Bộ Đội" và "Dân Công", bị thiệt mạng trên chiến trường. Hàng chục ngàn người khác bị tàn phế. Để rồi, dân chúng VN phải sống dưới ách nô lệ Mác-Lênin. Tất cả quyền tự do căn bản bị cấm đoán. Ách cai trị của Cộng Sản, thâm độc hơn quân Pháp bội phần. V́ vậy dân chúng mới bỏ "quê cha đất tổ", vào Nam tỵ nạn.

"Nơi xa vời, vọng về đất Bắc xa xôi ...

... Buồn ngày đất nước chia đôi.

Khắp phố phường... Hà Nội ủ rũ phai màu

Hải pḥng ngơ ngác u sầu... người dân đi về đâu"?

Tâm trạng của người dân miền Bắc, đúng như lời trong bài hát -- được nhiều người ưa thích trong thời gian này. Ông Văn ngồi lắng tai nghe từng lời hát, tay ôm hai đứa con thơ, trong ḷng buồn tê tái.

Trong khi ấy, ở bên cạnh ông, nhiều người đồng cảnh lại ồn ào, hết bàn tán chuyện này lại sang chuyện khác. Đợi măi đến chiều tối, ba bố con ông Văn mới đến phiên, từ trại tạm trú đi ra bờ biển để lên tàu "há mồm"......

*

*    *

...... Ở ngoài khơi thành phố Hải Pḥng, trời đă mờ mờ tối. Trên cao, ánh trăng sao lấp lánh. Bên dưới, nhờ ánh đèn điện chiếu sáng, ai cũng nh́n thấy cảnh tấp nập trên boong tàu Serpent. Người đi tới, kẻ đi lui. Phiá bên phải con tàu th́ ồn ào hơn cả: Đám dân di cư cuối cùng -- từ trại tạm trú ở đường Cát Dài -- vừa được chiếc tàu "há mồm", chở ra ngoài khơi, đang leo lên tàu Serpent.

Đa số đồng bào di cư đều là dân quê. Ít có người biết cách sử dụng những vật dụng ở trên tàu. V́ vậy, không biết mấy chục lần rồi, anh xướng ngôn viên phải dùng máy vi âm, nhắc nhở đồng bào những điều cần thiết:

"Khi lên tàu, quư vị cẩn thận từng bước và theo lối đi có giăng giây màu trắng để đến khu giường ngủ. Ở gần nơi ấy, có nhiều pḥng vệ sinh công cộng. Khi dùng xong, quư vị nhớ cho giấy vào bồn cầu rồi giật nước, giữ cho cầu tiêu, cầu tiểu sạch sẽ.

Nếu ai đau yếu, hoặc muốn t́m thân nhân, hăy đến pḥng Truyền Tin ở trên boong tàu, phía sau đài ra-đa.

Chuyến tàu này chạy suốt 3 ngày, 3 đêm mới cập bến Sài G̣n. Sáng, trưa và chiều tối, khi đi lănh phần ăn, quư vị nhớ xếp hàng, không ai được chen lấn, làm mất trật tự.

Sau đây là phần t́m thân nhân..."

Đang đi trên boong tàu, ông Văn nghe đến phần "T́m Thân Nhân" th́ ra dấu cho Tuấn và Thảo đứng lại. Ba người đều cẩn trọng, lắng tai nghe từng tiếng:

"Cụ Giáo Giảng ở làng Nghè, cần gặp bà Cả quê ở làng Bưởi... Cụ Phó Bùi và ông Tiêu, quê ở làng Văn Xá, Nam Định, cần gặp ông bà Quang cùng ba cháu là Cương, Quyết và Ngữ... Các cô Loan, Nho, Nhu...và Như, con cụ Lẫm ở thôn Thủy Nha, đang t́m kiếm anh chị Hào, ai biết tin xin cho biết"......

Ông Văn rối rít hỏi:

 - Pḥng Truyền Tin ở phía nào?

Nh́n quanh quẩn, Tuấn thấy hai thanh niên đang đứng nói chuyện ở cầu thang. Cậu bé hấp tấp, bước tới:

- Anh cho em hỏi, pḥng Truyền Tin ở phía nào hở anh?

- Hồi năy, trên máy vi âm vừa nói ở phía sau đài ra-đa.

Nói xong, anh ấy liếc mắt xung quanh rồi chỉ tay về phía trước:

- Có lẽ chỗ này là đài ra-đa th́ phải? Để hỏi anh chàng thủy thủ này xem sao?

Chắc hẳn anh thanh niên không thông thạo tiếng Mỹ. Nên khi gặp người Mỹ, anh vừa nói vừa ra dấu tay. Sau khi được chỉ dẫn, anh quay lại nói với Tuấn:

- Đúng là phía đó.

 Tuấn vội vàng cám ơn, rồi hấp tấp trở lại chỗ cũ, nắm tay ông Văn:

- Đi về phía này bố ạ.

Thế là, ba bố con ông Văn hăm hở đi về phía đài ra-đa. Câu chuyện hy hữu do cụ già thuật lại hồi sáng nay, tưởng như c̣n văng vẳng bên tai ông Văn:

".... Nhiều người từ miền quê tỉnh Hà Nam hay Nam Định, trốn lên Hà Nội....bị công an Cộng Sản bắt giam ở khu trường học. Nhưng đến sáng hôm qua, không hiểu "trời xui đất khiến" thế nào mà nhân viên của "Uỷ Hội Quốc Tế" lại biết. Họ can thiệp. Có tin đồn là các nạn nhân đă được chở ra Hải Pḥng để lên tàu Serpent di cư vào Nam".

Tại sao trong số những người ấy lại không có bà Văn? Ông Văn là người mang nhiều hy vọng. C̣n Tuấn th́ có trí tưởng tượng phong phú. Nên đi bên cạnh cha, cậu bé mơ tưỏng đến cảnh đoàn tụ:

"Lúc vừa trông thấy mẹ th́ con mừng quưnh, quẳng túi hành lư xuống boong tàu, chạy lại ôm chặt lấy mẹ để thỏa niềm mong ước. Trong khi xúc động, bố mẹ và các con nh́n nhau ứa lệ. Từ đây, thảm trạng gia đ́nh ly tán chấm dứt. Bố mẹ sẽ sung sướng, lúc nào cũng có các con quấn quưt ở bên cạnh"...

Ảo tưởng ấy làm Tuấn hăm hở bước đến pḥng Truyền Tin trước tiên. Khi vừa bước đến cửa pḥng, cậu bé xoay lại phía sau, thúc dục ông Văn:

- Nhanh lên, đi nhanh lên bố ơi.

 Ông Văn níu lấy tay Thảo. Tuổi già sức yếu, mới đi được một quăng, ông thở hổn hển. Tuấn phải đứng chờ một lúc lâu. Sau khi ông Văn viết vào tờ đơn nhắn tin, đưa cho anh xướng ngôn viên ở trong pḥng Truyền Tin th́ trên máy vi âm vang lên:

"Xin Quư vị lưu ư, sau đây là phần t́m thân nhân.

Ông Văn và hai con là Tuấn và Thảo quê ở Hà Nam, muốn t́m bà Văn. Quư vị nào biết tin, xin cho biết. Ông Văn cùng hai cháu đang chờ ở pḥng Truyền Tin. Chúng tôi xin lập lại, ông Văn..."

... Năm phút, 10 phút... rồi cả tiếng đồng hồ trôi qua. Ba bố con ông Văn ngồi chờ rồi thất vọng, không gặp được ai. Trong lúc ông Văn ủ rũ, ngồi ở trước cửa pḥng "Truyền Tin", Tuấn và Thảo rủ nhau, đi về phía đầu tàu.

Lần đầu tiên bước chân lên tàu thuỷ nên Tuấn và Thảo ṭ ṃ nh́n hết chỗ này đến chỗ khác. Tuấn quan sát, từ đầu đến cuối con tàu sơn màu xám. Chỉ có ống khỏi ở chính giữa là có 2 ṿng sơn đen và đỏ. Phía trước pḥng lái, có lá cờ Mỹ đang tung bay trước gió. Trên boong tàu, nhiều nơi có cầu thang sắt nối liền với tầng dưới. Càng quan sát máy móc trên tàu, Tuấn và Thảo càng cảm thấy thắc mắc.

- Cái này là cái ǵ hở anh?

 Tuấn lắc đầu tỏ ư "không biết", rồi hỏi bâng quơ:

- Chiếc máy này dùng để làm ǵ hà?

Chẳng ngờ ngay khi ấy, có cô bé khoảng bẩy tám tuổi, chạy sấn lại phía cầu thang:

- Bố ơi! Bố... ơi!

Tuấn nh́n theo cô bé -- vừa chạy, vừa kêu lớn khi nh́n thấy cha từ dưới cầu thang sắt leo lên trên boong tàu. Thế rồi, Tuấn và Thảo đứng bên nhau, mở tṛn đôi mắt chứng kiến gia đ́nh cô bé ấy được Trời ban diễm phúc: Trong khi hai cha con mừng quưnh ôm chặt lấy nhau th́ người mẹ vội vàng bước đến sát bên, rồi nghẹn ngào kể lể sự t́nh:

- Hai mẹ con... tưởng là ông đă bị bọn công an Việt Minh bắt giam, biệt tăm rồi. Ở trong trại tạm trú, mấy lần...  đă tính bỏ cuộc, đem con về quê. May mà nhờ có bác Hà và chú Vượng cản lại...  Hai mẹ con đi hỏi thăm hết người này đến người khác, không ai biết tin ông,  cứ tưởng là không bao giờ gặp ông nữa...

Cô bé lanh tranh, ngắt lời mẹ:

- Bố biết không, đêm hôm qua con nằm mơ thấy bố... hôm nay gặp lại.

Người cha cảm động, nh́n con:

- Thế hở!

Đoạn ông xoay sang, nói với vợ:

- Vừa trốn lên được Hà Nội th́ bị công an Việt Minh bắt. Sau mấy ngày bị chúng giam ở khu trường học cùng với mấy chục nạn nhân khác th́ gặp may, phái đoàn ... "Kiểm Soát... Đ́nh Chiến" đến cứu giúp. Họ thu xếp, cho người chở tất cả dân tỵ nạn ở đó, ra Hải Pḥng.

Tuấn và Thảo nh́n cảnh xum họp th́ chạnh ḷng. Nghĩ đến thảm cảnh đoạn trường của gia đ́nh ḿnh, hai em đưa tay lên lau nước mắt. Biết đến khi nào, hai em được sống êm ấm bên cạnh cha mẹ, ở nơi quê cũ như những năm xưa?

Lúc ấy trăng lên đă cao. Muôn ngàn ánh sao thi nhau lấp lánh trên bầu trời. Gió biển thổi vù vù trên boong tàu. Đến giờ khởi hành, tiếng c̣i tàu hét vang. Con tàu Serpent nhổ neo và từ từ lướt sóng. Tuấn và Thảo nh́n nhau, ánh mắt ngấn lệ.

Ngay khi đó, ông Văn bước đến, ôm hai đứa trẻ thơ. Để rồi, ba cha con đều sụt sùi, nh́n xuống mặt biển qua làn nước mắt: Những làn sóng bạc đầu, lấp lánh ánh trăng, nhấp nhô chạy theo nhau đến vỗ mạnh vào hai bên con tàu. Nghe tiếng sóng "ầm ầm", ba bố con ông Văn cảm thấy đau buốt trong tim. Chẳng hiểu, trong giây phút này, thân phận bà Văn ra sao? Bà đang lủi thủi một ḿnh ở nhà, chờ ngày ra đấu trường? Hay bà đă trốn thoát và đang trôi dạt ở phương nào?…..

*

*     *

…… Ba ngày hôm sau, chuyến tàu Serpent chở đồng bào di cư tỵ nạn Cộng Sản cấp bến Sài G̣n. Trong khi chờ xuống tàu, đồng bào tỵ nạn đứng chật ních trên boong. Nhiều người ṭ ṃ, chen nhau đi về phía bên phải con tàu để nh́n cảnh lạ -- lần đầu tiên thấy đường phố Sài G̣n. Dăm bẩy người khác lại nóng ḷng, muốn xuống tàu ngay tức khắc. Họ tụ tập gần cầu thang sắt với hy vọng t́m thấy thân nhân -- đứng chờ họ ở bên dưới.

C̣n ba bố con ông Văn th́ sao? Tuấn và Thảo giống hệt cha, buồn thê thảm, đứng ủ rũ bên cạnh cô Hoà. Sau ba ngày đêm trên chuyến tàu Serpent, người nào trông cũng thẫn thờ như những kẻ mất hồn. Nhất là ông Văn, tuổi già sức yếu mà lại c̣n bị say sóng. Hệ quả sau cuộc hành tŕnh, ông bị mệt mỏi. May mà có cô Hoà, nên ông được chăm sóc và an ủi rất nhiều. Tuấn nh́n cha rồi ra chiều ái ngại. Cậu bé ngập ngừng một lúc lâu, rồi mới hỏi:

- Ḿnh chọn... trại định cư nào hở bố?

Ông Văn uể oải:

- Theo cô Hoà... ḿnh chọn trại Tam Hà, ở gần Thủ Đức.

Cô Hoà tỏ ra thành thạo:

- Tôi hỏi thăm nhiều người rồi bác Văn ạ. Thủ Đức cách Sài G̣n chỉ có 14 cây số. Ở đó lại sẵn có ga xe lửa và bến xe đ̣, nên lúc nào ḿnh cũng có thể đi Sài G̣n dễ dàng. Khi có chuyện cần, t́m việc hay buôn bán, ḿnh xoay sở được. Ở Sài G̣n có nhiều cơ hội thuận lợi cho các cháu đi học. C̣n chọn mấy nơi hẻo lánh như trại Ba Bèo... th́ xa Sài G̣n quá.

Trên boong tàu, đa số đồng bào di cư là người Công Giáo. Ai cũng nhận thấy dễ dàng qua ảnh ‘Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp’, hay cây ‘Thập Tự Giá’, hoặc h́nh ‘Đức Chúa Jesus’, thêu trên tấm vải nhỏ mà họ đeo ở trước ngực. V́ vậy mới có tin đồn là cơ quan tuyên truyền của Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm, đă hợp tác với CIA của Hoa Kỳ --- do Đại Tá Edward Lansdale chỉ huy --- bịa chuyện "Đức Chúa  và Đức Mẹ đă vào Nam" nhằm thúc đẩy đồng bào Công Giáo di cư.

Chuyện này thực hư thế nào? Hay chính bọn Cộng Sản gian manh đă tung ra tin này để che dấu sự thật lịch sử: Đại đa số đồng bào miền Bắc đều ghê tởm bọn chúng. Nếu có cơ hội th́ hầu như ai cũng chấp nhận, bỏ ‘quê cha đất tổ’ đi vào Nam tỵ nạn.

Trên chuyến tàu Serpent này, bên cạnh ba bố con ông Văn và gia đ́nh cô Hoà, c̣n hàng trăm hay cả ngàn người theo Phật Giáo, hoặc Khổng Giáo. Thảm trạng ‘cướp của, giết người’ --- vô vùng dă man tàn ác --- trong chiến dịch “Cải Cách Ruộng Đất” là động lực chính yếu thúc đẩy đồng bào miền Bắc di cư vào Nam tỵ nạn. Sở dĩ đồng bào Công Giáo vào Nam đông nhất, v́ trong thời gian di cư, hầu hết những vùng Giáo Dân cư ngụ, chưa bị Cộng Sản kiểm soát. Vả lại, các Linh Mục Công Giáo là những người chống lại Cộng Sản vô thần. Nên họ đă t́m cách giúp đỡ Giáo Dân vào Nam tỵ nạn.

Đứng ngay trước mặt cô Ḥa là cặp vợ chồng và ba đứa trẻ thơ là người Phật Giáo. Họ đă thuật lại hôm đi chùa lễ Phật, xin Đức Bồ Tát phù hộ cho họ thoát nạn Cộng Sản vào Nam. Khi nghe cô Hoà nói chuyện với ông Văn, người chồng xoay qua hỏi cô làm quen:

- Này bà, sau khi ḿnh xuống tàu th́ mỗi người được Chính Phủ Quốc Gia cấp cho 800 đồng, phải không à?

- Chiều hôm nọ, qua máy vi âm th́ ai cũng nghe như thế.

- Gia đ́nh bà có mấy người?

- Tôi có hai cháu. Ông anh tôi cũng có hai cháu. Tất cả là 6 người.

Ông ta gật gù rồi lẩm bẩm tính:

 - Sáu lần tám là 48. Thế th́... Thế th́ cô và ông anh, được lănh 4800 đồng đấy.

Cô Hoà cũng ṭ ṃ hỏi:

- C̣n gia đ́nh ông th́ sao?

- Gia đ́nh tôi có bốn người.

Cô Hoà than thở:

- Chẳng hiểu là sau khi tiêu hết số tiền được cấp phát th́ biết làm ǵ mà sinh sống đây?

- Tôi nghe nói, khi đến trại định cư, ḿnh phải ở trong lều vải. Ban ngày nóng, ban đêm lạnh. Nếu đúng như dự trù th́ sang năm, Chính Phủ Quốc Gia mới xây nhà xong để cấp cho đồng bào, phải không ạ?

- Trước đây tôi c̣n nghe, Chính Phủ Mỹ đă chấp thuận ngân khoản 1 tỷ Đô-La để hỗ trợ cho Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm, có thêm phương tiện cứu giúp đồng bào di cư tỵ nạn Cộng Sản. Mấy bộ quần áo cũ rộng thùng th́nh mà đồng bào ḿnh được cấp phát trên chuyến tàu này, cũng do các hội từ thiện từ bên Mỹ gởi cho.

Trong khi ba bố con ông im ĺm th́ cô Hoà nói hết chuyện này đến chuyện khác:

- Có tin là giới báo chí, đang phanh phui chuyện ăn cắp ngân quỹ dành cho đồng bào di cư tỵ nạn?

- Tôi cũng nghe như vậy. Quanh quẩn thủ phạm vẫn là bọn "sâu dân mọt nước" từ thời vua Bảo Đại để lại trong guồng máy chính quyền. Đồng bào ḿnh đi trốn Cộng Sản, vào Nam với hai bàn tay trắng, đau khổ đủ điều mà chúng nó c̣n t́m cách ăn chặn ngân quỹ! Quả thật là chuyện "chó cắn áo rách".

Câu chuyện đến đó th́ trên máy vi âm vang lên:

"Xin quư vị lưu ư. Khoảng chừng mươi phút nữa, quư vị có thể xuống tàu. Khi bước xuống cầu thang, xin quư vị cẩn thận đi từng bước. Khi thấy thân nhân chờ ở dưới, xin chớ có hấp tấp chạy, rất nguy hiểm. Sau khi xuống tàu, mời quư vị đến lănh tiền trợ cấp ở phía bên phải cầu thang và giải khát miễn phí ở các quầy hàng có hàng chữ "sữa tươi và nước trà nóng của đồng bào di cư". Ngay bên cạnh nơi ấy, có xe đang chờ, để chở quư vị về trại định cư theo ư của quư vị lựa chọn.

Kính chúc quư vị vạn sự như ư và mau an cư lạc nghiệp trên phần đất Tự Do".

Tiếp theo, tiếng ra-đi-ô được truyền qua máy vi âm. Lời hát trong bản "T́nh Cố Đô" vang lên, vô t́nh làm cho kẻ ly hương cảm thấy buồn tê tái:

"Buồn nh́n về xa xôi...

Hà Nội ơi đă xa cách rồi!

Mịt mùng ngàn trùng khơi...

Thành phố cũ lắng sau núi đồi…"

Ba bố con ông Văn rồi cô Ḥa, đưa tay lên lau nước mắt. Không nhiều th́ ít, những người đồng cảnh đứng bên cạnh ông Văn, đều cảm thấy bùi ngùi. Chờ đến khi 3 chiếc cầu thang sắt, một ở đầu tàu, một cuối tàu và một chính giữa được thả xuống, đồng bào di cư trên tàu Serpent mới bắt đầu, bước chân xuống phần đất Tự Do.

Đỗ Quốc Anh-Thư

(Trích đoạn từ cuốn ‘Nửa Đường Gẫy Cánh’)

 

*

*    *

NXB Lam Sơn trân trọng giới thiệu

cuốn truyện dài

thời chiến tranh 1945-1975:

Nửa Đường Gẫy Cánh

<> 

Trong ấn bản lần thứ 3 này, nhiều phần đă được tác giả Đỗ Quốc Anh Thư sửa đổi. Qua 425 trang sách, dầy gấp đôi cuốn cũ, NĐGC có nhiều t́nh tiết hấp dẫn, kèm theo sự kiện lịch sử, để phản ảnh trung thực thảm cảnh 30 năm chiến tranh máu lửa (1945-1975).

 

·        Hai biến cố lịch sử xẩy ra ngày 20-7-1954 và 30-4-1975, đă làm cho hàng triệu người "đổi đời" đột ngột và vô cùng đau thương. "Nửa Đường Gẫy Cánh" chỉ là câu chuyện điển h́nh, cốt truyện được xây dựng trên sự thật --- xẩy ra trong thời gian chiến tranh.

·        Thảm cảnh của miền Nam trong cơn hấp hối và nỗi hận sầu "nước mất nhà tan" của hai Hoa Tiêu Không Quân VNCH trên Tuần Dương Hạm USS Blue Ridge ngày 30-4-1975.

 

 

(Nếu không nh́n thấy ảnh, xin quư vị bấm vào hàng chữ phía dưới)

http://i167.photobucket.com/albums/u156/LamSonVN/QuangBaNDGC1-1.jpg

*

·        Những bí ẩn của phi vụ "Không Số" --- do Hoa Tiêu VNCH và Hoa Kỳ đảm trách --- cùng hoạt động của các chiến sĩ Biệt Kích Lôi Hổ dọc theo đường ṃn Hồ Chí Minh và ngă ba biên giới Việt-Miên-Lào.

·        Câu chuyện kinh hoàng và thảm cảnh đau thương của dân chúng VN trên hành tŕnh tỵ nạn Cộng Sản nơi biển Đông: Từ tàu Green Port đến tàu American Racer, trong trại tạm trú Wake Island và Fort Chaffee.

 

Xin liên lạc với Nguyễn Thứ Dũng

LamSonVN@SBCglobal. net

Điện thoại 408-225-8476

 

150.jpg