Quốc Hận
20-7-1954:
(Bài
4)
Serpent, Chuyến
Tàu Vĩnh Biệt
Đỗ Quốc Anh-Thư
<>
Nhớ lại chuyện Quốc Hận 20-7-1954, chúng tôi trích đoạn
4 phần trong cuốn ‘Nửa Đường Gẫy Cánh’ (NĐGC) để lần lượt
phổ biến trên Diễn Đàn:
Bài 1, Bài 2 và Bài 3
đă được phổ biến. Lần này chúng tôi xin gởi đến quư vị ‘Bài 4, Serpent, Chuyến Tàu Vĩnh Biệt’.
V́ NĐGC là cuốn
truyện dài, nên chúng tôi xin tóm lược mấy phần tŕnh bầy trước đây: T́nh
cảnh của gia đ́nh ông bà Văn --- hai nhân vật trong truyện --- trong bối cảnh
lịch sử năm 1954:
Như hàng triệu người dân Việt, hiền ḥa nhưng bất khuất, thương
yêu gia đ́nh mà không quên nghĩa vụ đối với đất nước, ông Văn
đă chấp nhận xa nhà, vào “Liên Khu Tư” phục vụ cho phong trào kháng chiến
chống Pháp gần 5 năm trời. Sau khi hiểu rơ sự thật về Cộng Sản
trong Mặt Trận Việt Minh, ông liền viện cớ là ‘già yếu’ để
xin trở về nguyên quán với gia đ́nh --- vợ hiền và hai đứa con thơ: Tuấn
và Thảo --- ở miền quê tỉnh Hà Nam.
Đây là vùng “kháng chiến” thuộc “Liên Khu Ba”, nên dân chúng miền quê
phải sống trong cảnh ‘một cổ đôi tṛng’. Ban ngày th́ lính Pháp hành quân,
hoặc cho phi cơ bắn phá. Ban đêm th́ Cộng Sản hoành hành.
Đến năm 1954 th́ hầu như cả vùng “Liên Khu Ba” đặt dưới
quyền kiểm soát của Cộng Sản. Chúng cho thi hành chiến dịch “Cải Cách
Ruộng Đất”. Thảm trạng đấu tố “địa chủ”---
vô cùng dă man, tàn ác --- diễn ra khiến ông bà Văn hoảng sợ, chỉ c̣n biết t́m đường,
đem Tuấn và Thảo đi trốn vào Nam lánh nạn.
(From Wikipedia, the free encyclopedia.
Nếu không nh́n thấy ảnh, xin quư
vị bấm vào hàng chữ phía dưới)
http://s167.photobucket.com/albums/u156/LamSonVN/488px-HD-SN-99-02045.jpg
Trong thời gian này, Hiệp Định Geneva 1954 đă được kư kết, Pháp đă
rút lui khỏi miền Bắc. Tất cả các ngả đường đều có công an,
du kích và “bần cố nông” CS canh gác để ngăn chặn dân chúng --- nhất là
thành phần “Trí, Phú, Địa, Hào” --- đi lánh nạn.
Trong t́nh cảnh ngặt nghèo, ông Văn lại c̣n bị buộc tội là “phản
động” và bị công an CS bắt giam. Bà Văn cùng Tuấn và Thảo mỏi ṃn trông
chờ, nhưng không thấy ông Văn được thả về. Trong khi ấy, ngày di cư
vào Nam --- theo Hiệp Định Geneva quy định --- sắp hết hạn.
Vậy làm cách nào để bà Văn đem Tuấn và Thảo, trốn thoát vào Nam? Trong làng xă, bọn công an và “bần
cố nông” Cộng Sản đều biết mặt bà Văn --- “địa chủ phản động”. Nên không thể nào bà đi trốn cùng
một lúc với Tuấn và Thảo. Chỉ c̣n cách, bà Văn cho hai em đi lên Hà Nội trước.
Nếu trốn thoát, Tuấn và Thảo sẽ theo cô Hoà --- em của ông Văn, cư ngụ
ở đó --- ra Hải Pḥng, lên tàu di cư vào Nam.
C̣n bà Văn, sau đó nếu không đi thoát th́ đành chịu thảm cảnh gia đinh ly
tán: Vĩnh biệt hai đứa con thơ dại, vẫn c̣n hơn là để chúng sa vào
thảm hoạ CS.
Trong khi Tuấn và Thảo trốn lên Hà Nội th́ ông Văn được CS thả.
Vừa ra khỏi trại tù, ông lợi dụng “Giấy Ra Trại” trong tay, để
‘đi lạc’ lên Hà Nội, rồi ra Hải Pḥng. Đây là thành phố cuối cùng, vẫn
c̣n đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Quốc Gia và đang đón
nhận đồng bào tỵ nạn vào Nam
bằng đường biển.
Từ khi bị CS bắt giam, ông Văn không hề biết chuyện ǵ xẩy ra trong
gia đ́nh --- kể cả chuyện hai đứa con thơ đi trốn CS. Nên ông Văn,
khi vừa tới Hải Pḥng th́ vội vàng đến ‘Ty Cảnh Sát’ để xin
4 tấm ‘Giấy Thông Hành’ cho cả gia đ́nh. Được vậy, ông Văn sẽ
trở về quê đón vợ con. Ông hy vọng, khi đi trốn mà có ‘Giấy Thông Hành’
trong tay th́ cả nhà ông sẽ thoát khỏi trạm kiểm soát của CS.
Thế nhưng, sự việc xẩy ra không như ư ông Văn mong ước. Nên chuyến
tàu Serpent --- chở đồng bào di cư vào Nam --- trở thành ‘chuyến tàu vĩnh biệt’.
<>
Serpent, Chuyến Tàu Vĩnh Biệt
*
Bên cổng trại tạm trú -- của đồng bào
di cư tỵ nạn Cộng Sản -- ở đường Cát Dài, thành phố Hải Pḥng,
ông Văn ngồi trên băi cát ôm Tuấn và Thảo trong ṿng tay. Qua làn nước mắt, ông thấy
từng toán năm bẩy người, nối tiếp nhau đi qua. Người xách va-li, kẻ
bồng bế trẻ thơ, lũ lượt đi về phía bờ biển để đáp
tàu vào Nam. Trong lúc chờ đợi, nhiều người đồng cảnh xúm lại nói
chuyện, hỏi thăm nhau, trao đổi tâm sự với nhau, khiến cổng trại
tạm trú, "ồn ào như cái chợ".
- Chuyến này, gia đ́nh bác vào Nam đầy đủ cả chứ?
- C̣n thiếu, ông bà nội của các cháu. Hai cụ không chịu vào Nam. Phần v́ già yếu,
phần v́ các cụ không muốn xa "quê cha đất tổ".
- Thế th́ ai ở lại trông nom hai cụ?
- Thế mới khổ chứ...
Nỗi sầu hiện rơ trên mặt, ông ta nghẹn ngào nói tiếp:
- Đây là điều... khổ tâm. Chúng tôi đă tính cho cháu út ở lại, hầu các
cụ... Nhưng các cụ không bằng ḷng. Nhất là cụ ông, cứ khăng khăng bảo
rằng:
"Con phải đem tất cả các cháu vào Nam, lo liệu
cho tương lai của chúng nó. Bố mẹ th́ già rồi, liệu c̣n sống được
vài năm nữa không mà đi vào Nam? Tuổi già sức yếu, đường xá xa xôi, làm
phiền hà các con lắm".
Chắc hẳn ông ta không muốn nhắc đến chuyện chia ĺa nữa, nên hỏi
sang chuyện khác:
- Có phải chuyến tàu này là chuyến cuối cùng chở đồng bào ḿnh vào Nam, phải
không ạ?
- Vâng, chuyến tàu Serpent này là chuyến cuối cùng, hiện thời đang thả neo
ở ngoài khơi hải cảng Hải Pḥng. Nghe nói là con tàu này có thể chở được
vài ba ngàn người. Đồng bào ḿnh phải đi tàu "há mồm" trước, khi ra ngoài
khơi mới lên tàu Serpent.
- Tàu "há mồm" chỉ chở được khoảng bốn, năm chục người.
Ḿnh đi loại tàu nhỏ này mà gặp sóng lớn th́ khổ lắm.
- Hôm nay, trời có vẻ yên tĩnh. Hy vọng, ḿnh đi từ bờ ra ngoài khơi,
khoảng vài dặm th́ không đến nỗi nào... Nếu gặp sóng gió th́ cũng phải
chịu. Ḿnh thoát được Cộng Sản vào Nam là phúc đức rồi.
Nghe hai chữ "phúc đức", ông Văn nhớ lại lời tâm sự cùng dáng điệu
đau khổ của cụ Giáo Giảng sáng nay.
- Ở làng tôi, công an, du kích, bần cố nông, chỗ nào cũng có chúng canh gác. Gia đ́nh
nào "phúc đức" lắm th́ mới có thể trốn thoát cả nhà.
Vừa thương người, vừa thương thân. Lúc trao đổi tâm sự
sáng nay, ông Văn và cụ Giáo Giảng đều sụt sùi khóc. Cụ Giáo Giảng là người
hiền hậu -- ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, hầu như ai cũng biết -- nhưng
chỉ v́ có dăm chục mẫu ruộng vườn nên cụ bị Cộng Sản ghép
vào "thành phần địa chủ". Khi sắp sửa bị đấu tố, cụ ông trốn
thoát lên Hà Nội. Kế tiếp là cháu nội của cụ. C̣n cụ bà và cô con gái, cả
tháng sau mới trốn thoát vào lúc nửa đêm. Cuối cùng, gia đ́nh cụ chỉ có 4 người
thoát nạn ra Hải Pḥng. C̣n 3 người khác, lần nào đi trốn cũng bị bắt.
Bọn "bần cố nông" Cộng Sản đă thay phiên nhau canh gác, cô lập khu nhà của
cụ. Chắc hẳn đến khi nhắm mắt, cụ Giáo Giảng vẫn không quên thảm
cảnh đoạn trường, gia đ́nh ly tán khi đất nước chia đôi.
- Này ông Thắng, ông có biết tin ǵ không?
- Tin ǵ hở cụ?
Ông Văn ngước mắt lên nh́n: Cụ già, đầu tóc bạc phơ, từ ngoài
đường Cát Dài bước vào cổng trại, hỏi chuyện ông Thắng như thế.
Mấy người đồng cảnh ở bên cạnh ông Văn, cũng lắng nghe cụ
già loan tin.
- Cô cháu ngoại của tôi, vừa mới trốn thoát ra đây kể lại, nhiều
người từ miền quê tỉnh Hà Nam và Nam Định, đă trốn lên được
Hà Nội, nhưng rồi...
Vừa nghe đến đó, ông Văn đứng phắt dậy như chiếc ḷ so
bung lên:
- Nhưng rồi làm sao hở cụ?
Cụ già nh́n ông Văn:
- Nhưng rồi, tất cả đều bị công an Cộng Sản bắt giam ở
khu trường học. Măi đến sáng hôm qua, không hiểu "trời xui đất khiến"
thế nào mà nhân viên của "Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến" lại
biết. Họ đến can thiệp. H́nh như tất cả nạn nhân đă được
chở ra Hải Pḥng.
Tuấn và Thảo cũng hấp tấp bước tới, đứng bên cạnh cha.
Đôi mắt ông Văn sáng lên trong lúc Tuấn láu táu hỏi:
- Thế bây giờ.... những người ấy ở đâu, cụ biết không ạ?
- Nghe nói... họ đă được chở thẳng ra ngoài bến tàu rồi.
Tia hy vọng lóe sáng. Cầu mong, trong số những người ấy có bà Văn! Không
chừng, đến giờ phút cuối, gia đ́nh ông Văn sẽ có mặt đầy đủ
trên chiếc tàu Serpent?
Mặc dù, đó là "chuyện ngàn năm một thuở". Nhưng ba bố ông Văn vẫn
cảm thấy nao nức trong ḷng. Có lẽ, Tuấn là người nóng ḷng nhất. Cậu
bé mong mỏi, được lên tàu Serpent thật sớm, để gặp lại mẹ già
....…
*
...... Ba bố con ông Văn -- cùng nhiều người tỵ nạn khác -- đợi
chờ hết giờ này sang giờ khác. Trên sân cát, có nhóm thanh niên, năm bẩy người
xúm lại, bàn chuyện thời sự. Nào là chuyện chia đôi đất nước. Nào
là chuyện di cư vào Nam tỵ nạn. Nào là chuyện về chiến dịch Điện
Biên Phủ ......
......Thế là sau 8 năm khởi xướng chiến tranh, kêu gọi "toàn quốc kháng
chiến" -- DIỆN bên ngoài là "đánh Pháp giành Độc
Lập", nhưng ĐIỂM bên trong là bành trướng bá
quyền Mác-Lênin -- đến ngày 20-7-1954, Cộng Sản đă thoả thuận với Pháp,
kư kết hiệp định Genève, chia đôi đất nước VN dọc theo sông Bến
Hải. Ngược lại, đại diện cho Chính Phủ Quốc Gia là bác sĩ Trần
Văn Đỗ -- nhận lệnh của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm -- quyết
liệt phản đối hiệp định này.
V́ biết miền Bắc đặt duới ách thống trị ác độc của
Cộng Sản, nên đồng bào mới bỏ cơ nghiệp, di cư vào Nam với hai bàn
tray trắng. Ngược lại, ở miền Nam, hầu như không có người dân nào
muốn ‘di cư ra Bắc’ -- ngoại trừ mấy chục ngàn cán binh Cộng Sản
được lệnh của "Bác và Đảng, đi tập kết". Dù bên này hay bên kia chiến
tuyến, trong biến cố lịch sử này, có hàng trăm ngàn gia đ́nh tan nát. Con sông Bến
Hải trở thành ḍng sông "ngăn cách" kẻ Bắc, người Nam.
Ông Văn càng ghe nhóm thanh niên bàn luận, lại càng cảm thấy ân hận. Chính ông là
kẻ lầm lẫn, tin theo Mặt Trận Việt Minh, tham gia kháng chiến chống Pháp.
Để kết quả, sau 8 năm chiến tranh, quân đội Pháp là phía thảm bại,
Cộng Sản là kẻ hưởng chiến thắng. Dân tộc VN là nạn nhân đau thương
nhất.
Chiến dịch Điện Biên Phủ là thí dụ điển h́nh. Phía Cộng Sản
áp dụng chiến thuật "Biển Người", tung vào trận địa khoảng 63 ngàn
"Bộ Đội Chủ Lực" và 30 ngàn dân công trợ lực để đè bẹp 12 tiểu
đoàn tác chiến của Pháp. Quyền chỉ huy Chiến Dịch nằm trong tay bọn tướng
lănh Tàu Cộng -- Bành Đức Hoài, Lă Quư Ba và Vi Quốc Thanh. C̣n Vơ Nguyên Giáp, thực sự
chỉ là kẻ phụ tá, nếu không muốn nói là bù nh́n. Quân đội Pháp không ngờ, nhiều
đơn vị pháo binh của Tàu Cộng tham chiến. Nên các vị trí đóng quân của
Pháp mới bị "mưa pháo" tan tành -- đúng theo chiến thuật "Tiền Pháo Hậu Xung"
của Tàu Cộng .
Qua trận Điện Biên Phủ, ai cũng thấy, Cộng Sản hưởng chiến
thắng. Thảm thương nhất là dân tộc VN. Hàng chục ngàn người Việt,
bao gồm cả "Bộ Đội" và "Dân Công", bị thiệt mạng trên chiến trường.
Hàng chục ngàn người khác bị tàn phế. Để rồi, dân chúng VN phải sống
dưới ách nô lệ Mác-Lênin. Tất cả quyền tự do căn bản bị cấm
đoán. Ách cai trị của Cộng Sản, thâm độc hơn quân Pháp bội phần.
V́ vậy dân chúng mới bỏ "quê cha đất tổ", vào Nam tỵ nạn.
"Nơi xa vời, vọng về đất Bắc xa xôi ...
... Buồn ngày đất nước chia đôi.
Khắp phố phường... Hà Nội ủ rũ phai màu
Hải pḥng ngơ ngác u sầu... người dân đi về đâu"?
Tâm trạng của
người dân miền Bắc, đúng như lời trong bài hát -- được nhiều
người ưa thích trong thời gian này. Ông Văn ngồi lắng tai nghe từng lời
hát, tay ôm hai đứa con thơ, trong ḷng buồn tê tái.
Trong khi ấy, ở
bên cạnh ông, nhiều người đồng cảnh lại ồn ào, hết bàn tán chuyện
này lại sang chuyện khác. Đợi măi đến chiều tối, ba bố con ông Văn
mới đến phiên, từ trại tạm trú đi ra bờ biển để lên tàu "há
mồm"......
*
* *
...... Ở ngoài khơi thành phố Hải Pḥng, trời đă mờ mờ tối. Trên
cao, ánh trăng sao lấp lánh. Bên dưới, nhờ ánh đèn điện chiếu sáng, ai cũng
nh́n thấy cảnh tấp nập trên boong tàu Serpent. Người đi tới, kẻ đi
lui. Phiá bên phải con tàu th́ ồn ào hơn cả: Đám dân di cư cuối cùng -- từ trại
tạm trú ở đường Cát Dài -- vừa được chiếc tàu "há mồm", chở
ra ngoài khơi, đang leo lên tàu Serpent.
Đa số đồng bào di cư đều là dân quê. Ít có người biết cách sử
dụng những vật dụng ở trên tàu. V́ vậy, không biết mấy chục lần
rồi, anh xướng ngôn viên phải dùng máy vi âm, nhắc nhở đồng bào những
điều cần thiết:
"Khi lên tàu, quư vị cẩn thận từng bước và theo lối đi có giăng
giây màu trắng để đến khu giường ngủ. Ở gần nơi ấy, có
nhiều pḥng vệ sinh công cộng. Khi dùng xong, quư vị nhớ cho giấy vào bồn cầu
rồi giật nước, giữ cho cầu tiêu, cầu tiểu sạch sẽ.
Nếu ai đau yếu, hoặc muốn t́m thân nhân, hăy đến pḥng Truyền Tin ở
trên boong tàu, phía sau đài ra-đa.
Chuyến tàu này chạy suốt 3 ngày, 3 đêm mới cập bến Sài G̣n. Sáng, trưa
và chiều tối, khi đi lănh phần ăn, quư vị nhớ xếp hàng, không ai được
chen lấn, làm mất trật tự.
Sau đây là phần t́m thân nhân..."
Đang đi trên boong tàu, ông Văn nghe đến phần "T́m Thân Nhân" th́ ra dấu cho
Tuấn và Thảo đứng lại. Ba người đều cẩn trọng, lắng tai
nghe từng tiếng:
"Cụ Giáo Giảng ở làng Nghè, cần gặp bà Cả quê ở làng Bưởi... Cụ
Phó Bùi và ông Tiêu, quê ở làng Văn Xá, Nam Định, cần gặp ông bà Quang cùng ba cháu là Cương,
Quyết và Ngữ... Các cô Loan, Nho, Nhu...và Như, con cụ Lẫm ở thôn Thủy Nha, đang
t́m kiếm anh chị Hào, ai biết tin xin cho biết"......
Ông Văn rối rít hỏi:
- Pḥng Truyền Tin ở phía nào?
Nh́n quanh quẩn, Tuấn thấy hai thanh niên đang đứng nói chuyện ở cầu
thang. Cậu bé hấp tấp, bước tới:
- Anh cho em hỏi, pḥng Truyền Tin ở phía nào hở anh?
- Hồi năy, trên máy vi âm vừa nói ở phía sau đài ra-đa.
Nói xong, anh ấy liếc mắt xung quanh rồi chỉ tay về phía trước:
- Có lẽ chỗ này là đài ra-đa th́ phải? Để hỏi anh chàng thủy thủ
này xem sao?
Chắc hẳn anh thanh niên không thông thạo tiếng Mỹ. Nên khi gặp người
Mỹ, anh vừa nói vừa ra dấu tay. Sau khi được chỉ dẫn, anh quay lại
nói với Tuấn:
- Đúng là phía đó.
Tuấn vội vàng cám ơn, rồi hấp tấp trở
lại chỗ cũ, nắm tay ông Văn:
- Đi về phía này bố ạ.
Thế là, ba bố con ông Văn hăm hở đi về phía đài ra-đa. Câu chuyện
hy hữu do cụ già thuật lại hồi sáng nay, tưởng như c̣n văng vẳng
bên tai ông Văn:
".... Nhiều người từ miền quê tỉnh Hà Nam hay Nam Định, trốn lên
Hà Nội....bị công an Cộng Sản bắt giam ở khu trường học. Nhưng đến
sáng hôm qua, không hiểu "trời xui đất khiến" thế nào mà nhân viên của "Uỷ
Hội Quốc Tế" lại biết. Họ can thiệp. Có tin đồn là các nạn nhân
đă được chở ra Hải Pḥng để lên tàu Serpent di cư vào Nam".
Tại sao trong số những người ấy lại không có bà Văn? Ông Văn là
người mang nhiều hy vọng. C̣n Tuấn th́ có trí tưởng tượng phong phú. Nên
đi bên cạnh cha, cậu bé mơ tưỏng đến cảnh đoàn tụ:
"Lúc vừa trông thấy mẹ th́ con mừng quưnh, quẳng túi hành lư xuống boong tàu, chạy
lại ôm chặt lấy mẹ để thỏa niềm mong ước. Trong khi xúc động,
bố mẹ và các con nh́n nhau ứa lệ. Từ đây, thảm trạng gia đ́nh ly tán chấm
dứt. Bố mẹ sẽ sung sướng, lúc nào cũng có các con quấn quưt ở bên cạnh"...
Ảo tưởng ấy làm Tuấn hăm hở bước đến pḥng Truyền
Tin trước tiên. Khi vừa bước đến cửa pḥng, cậu bé xoay lại phía
sau, thúc dục ông Văn:
- Nhanh lên, đi nhanh lên bố ơi.
Ông Văn níu lấy tay Thảo. Tuổi già sức yếu,
mới đi được một quăng, ông thở hổn hển. Tuấn phải đứng
chờ một lúc lâu. Sau khi ông Văn viết vào tờ đơn nhắn tin, đưa cho
anh xướng ngôn viên ở trong pḥng Truyền Tin th́ trên máy vi âm vang lên:
"Xin Quư vị lưu ư, sau đây là phần t́m thân nhân.
Ông Văn và hai con là Tuấn và Thảo quê ở Hà Nam, muốn t́m bà Văn. Quư vị nào
biết tin, xin cho biết. Ông Văn cùng hai cháu đang chờ ở pḥng Truyền Tin. Chúng tôi
xin lập lại, ông Văn..."
... Năm phút, 10 phút... rồi cả tiếng đồng hồ trôi qua. Ba bố con ông
Văn ngồi chờ rồi thất vọng, không gặp được ai. Trong lúc ông Văn
ủ rũ, ngồi ở trước cửa pḥng "Truyền Tin", Tuấn và Thảo rủ
nhau, đi về phía đầu tàu.
Lần đầu tiên bước chân lên tàu thuỷ nên Tuấn và Thảo ṭ ṃ nh́n hết
chỗ này đến chỗ khác. Tuấn quan sát, từ đầu đến cuối con tàu
sơn màu xám. Chỉ có ống khỏi ở chính giữa là có 2 ṿng sơn đen và đỏ.
Phía trước pḥng lái, có lá cờ Mỹ đang tung bay trước gió. Trên boong tàu, nhiều
nơi có cầu thang sắt nối liền với tầng dưới. Càng quan sát máy móc trên
tàu, Tuấn và Thảo càng cảm thấy thắc mắc.
- Cái này là cái ǵ hở anh?
Tuấn lắc đầu tỏ ư "không biết", rồi
hỏi bâng quơ:
- Chiếc máy này dùng để làm ǵ hà?
Chẳng ngờ ngay khi ấy, có cô bé khoảng bẩy tám tuổi, chạy sấn lại
phía cầu thang:
- Bố ơi! Bố... ơi!
Tuấn nh́n theo cô bé -- vừa chạy, vừa kêu lớn khi nh́n thấy cha từ dưới
cầu thang sắt leo lên trên boong tàu. Thế rồi, Tuấn và Thảo đứng bên nhau,
mở tṛn đôi mắt chứng kiến gia đ́nh cô bé ấy được Trời ban diễm
phúc: Trong khi hai cha con mừng quưnh ôm chặt lấy nhau th́ người mẹ vội vàng bước
đến sát bên, rồi nghẹn ngào kể lể sự t́nh:
- Hai mẹ con... tưởng là ông đă bị bọn công an Việt Minh bắt giam, biệt
tăm rồi. Ở trong trại tạm trú, mấy lần... đă
tính bỏ cuộc, đem con về quê. May mà nhờ có bác Hà và chú Vượng cản lại... Hai mẹ con đi hỏi thăm hết người này đến
người khác, không ai biết tin ông, cứ tưởng
là không bao giờ gặp ông nữa...
Cô bé lanh tranh, ngắt lời mẹ:
- Bố biết không, đêm hôm qua con nằm mơ thấy bố... hôm nay gặp lại.
Người cha cảm động, nh́n con:
- Thế hở!
Đoạn ông xoay sang, nói với vợ:
- Vừa trốn lên được Hà Nội th́ bị công an Việt Minh bắt. Sau mấy
ngày bị chúng giam ở khu trường học cùng với mấy chục nạn nhân khác th́
gặp may, phái đoàn ... "Kiểm Soát... Đ́nh Chiến" đến cứu giúp. Họ thu xếp,
cho người chở tất cả dân tỵ nạn ở đó, ra Hải Pḥng.
Tuấn và Thảo nh́n cảnh xum họp th́ chạnh ḷng. Nghĩ đến thảm cảnh
đoạn trường của gia đ́nh ḿnh, hai em đưa tay lên lau nước mắt.
Biết đến khi nào, hai em được sống êm ấm bên cạnh cha mẹ, ở
nơi quê cũ như những năm xưa?
Lúc ấy trăng lên đă cao. Muôn ngàn ánh sao thi nhau lấp lánh trên bầu trời. Gió biển
thổi vù vù trên boong tàu. Đến giờ khởi hành, tiếng c̣i tàu hét vang. Con tàu Serpent nhổ
neo và từ từ lướt sóng. Tuấn và Thảo nh́n nhau, ánh mắt ngấn lệ.
Ngay khi đó, ông Văn bước đến, ôm hai đứa trẻ thơ. Để
rồi, ba cha con đều sụt sùi, nh́n xuống mặt biển qua làn nước mắt:
Những làn sóng bạc đầu, lấp lánh ánh trăng, nhấp nhô chạy theo nhau đến
vỗ mạnh vào hai bên con tàu. Nghe tiếng sóng "ầm ầm", ba bố con ông Văn cảm
thấy đau buốt trong tim. Chẳng hiểu, trong giây phút này, thân phận bà Văn ra sao?
Bà đang lủi thủi một ḿnh ở nhà, chờ ngày ra đấu trường? Hay bà đă
trốn thoát và đang trôi dạt ở phương nào?…..
*
* *
…… Ba ngày hôm sau, chuyến tàu Serpent chở đồng bào di cư tỵ nạn
Cộng Sản cấp bến Sài G̣n. Trong khi chờ xuống tàu, đồng bào tỵ nạn
đứng chật ních trên boong. Nhiều người ṭ ṃ, chen nhau đi về phía bên phải
con tàu để nh́n cảnh lạ -- lần đầu tiên thấy đường phố
Sài G̣n. Dăm bẩy người khác lại nóng ḷng, muốn xuống tàu ngay tức khắc.
Họ tụ tập gần cầu thang sắt với hy vọng t́m thấy thân nhân -- đứng
chờ họ ở bên dưới.
C̣n ba bố con ông Văn th́ sao? Tuấn và Thảo giống hệt cha, buồn thê thảm,
đứng ủ rũ bên cạnh cô Hoà. Sau ba ngày đêm trên chuyến tàu Serpent, người
nào trông cũng thẫn thờ như những kẻ mất hồn. Nhất là ông Văn, tuổi
già sức yếu mà lại c̣n bị say sóng. Hệ quả sau cuộc hành tŕnh, ông bị mệt
mỏi. May mà có cô Hoà, nên ông được chăm sóc và an ủi rất nhiều. Tuấn nh́n
cha rồi ra chiều ái ngại. Cậu bé ngập ngừng một lúc lâu, rồi mới hỏi:
- Ḿnh chọn... trại định cư nào hở bố?
Ông Văn uể oải:
- Theo cô Hoà... ḿnh chọn trại Tam Hà, ở gần Thủ Đức.
Cô Hoà tỏ ra thành thạo:
- Tôi hỏi thăm nhiều người rồi bác Văn ạ. Thủ Đức cách
Sài G̣n chỉ có 14 cây số. Ở đó lại sẵn có ga xe lửa và bến xe đ̣, nên
lúc nào ḿnh cũng có thể đi Sài G̣n dễ dàng. Khi có chuyện cần, t́m việc hay buôn
bán, ḿnh xoay sở được. Ở Sài G̣n có nhiều cơ hội thuận lợi cho các
cháu đi học. C̣n chọn mấy nơi hẻo lánh như trại Ba Bèo... th́ xa Sài G̣n quá.
Trên boong tàu, đa số đồng bào di cư là người Công Giáo. Ai cũng nhận
thấy dễ dàng qua ảnh ‘Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp’, hay cây ‘Thập
Tự Giá’, hoặc h́nh ‘Đức Chúa Jesus’, thêu trên tấm vải nhỏ mà họ
đeo ở trước ngực. V́ vậy mới có tin đồn là cơ quan tuyên truyền
của Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm, đă hợp tác với CIA của Hoa Kỳ --- do Đại
Tá Edward Lansdale chỉ huy --- bịa chuyện "Đức Chúa và
Đức Mẹ đă vào Nam" nhằm thúc đẩy đồng bào Công Giáo di cư.
Chuyện này thực hư thế nào? Hay chính bọn Cộng Sản gian manh đă tung
ra tin này để che dấu sự thật lịch sử: Đại đa số đồng
bào miền Bắc đều ghê tởm bọn chúng. Nếu có cơ hội th́ hầu như
ai cũng chấp nhận, bỏ ‘quê cha đất tổ’ đi vào Nam tỵ nạn.
Trên chuyến tàu Serpent này, bên cạnh ba bố con ông Văn và gia đ́nh cô Hoà, c̣n hàng trăm
hay cả ngàn người theo Phật Giáo, hoặc Khổng Giáo. Thảm trạng ‘cướp
của, giết người’ --- vô vùng dă man tàn ác --- trong chiến dịch “Cải
Cách Ruộng Đất” là động lực chính yếu thúc đẩy đồng bào miền
Bắc di cư vào Nam tỵ nạn. Sở dĩ đồng bào Công Giáo vào Nam đông nhất,
v́ trong thời gian di cư, hầu hết những vùng Giáo Dân cư ngụ, chưa bị Cộng
Sản kiểm soát. Vả lại, các Linh Mục Công Giáo là những người chống lại
Cộng Sản vô thần. Nên họ đă t́m cách giúp đỡ Giáo Dân vào Nam tỵ nạn.
Đứng ngay trước mặt cô Ḥa là cặp vợ chồng và ba đứa trẻ
thơ là người Phật Giáo. Họ đă thuật lại hôm đi chùa lễ Phật,
xin Đức Bồ Tát phù hộ cho họ thoát nạn Cộng Sản vào Nam. Khi nghe cô Hoà nói
chuyện với ông Văn, người chồng xoay qua hỏi cô làm quen:
- Này bà, sau khi ḿnh xuống tàu th́ mỗi người được Chính Phủ Quốc
Gia cấp cho 800 đồng, phải không à?
- Chiều hôm nọ, qua máy vi âm th́ ai cũng nghe như thế.
- Gia đ́nh bà có mấy người?
- Tôi có hai cháu. Ông anh tôi cũng có hai cháu. Tất cả là 6 người.
Ông ta gật gù rồi lẩm bẩm tính:
- Sáu lần tám là 48. Thế th́... Thế th́ cô và ông anh,
được lănh 4800 đồng đấy.
Cô Hoà cũng ṭ ṃ hỏi:
- C̣n gia đ́nh ông th́ sao?
- Gia đ́nh tôi có bốn người.
Cô Hoà than thở:
- Chẳng hiểu là sau khi tiêu hết số tiền được cấp phát th́ biết
làm ǵ mà sinh sống đây?
- Tôi nghe nói, khi đến trại định cư, ḿnh phải ở trong lều vải.
Ban ngày nóng, ban đêm lạnh. Nếu đúng như dự trù th́ sang năm, Chính Phủ Quốc
Gia mới xây nhà xong để cấp cho đồng bào, phải không ạ?
- Trước đây tôi c̣n nghe, Chính Phủ Mỹ đă chấp thuận ngân khoản
1 tỷ Đô-La để hỗ trợ cho Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm, có thêm phương
tiện cứu giúp đồng bào di cư tỵ nạn Cộng Sản. Mấy bộ quần
áo cũ rộng thùng th́nh mà đồng bào ḿnh được cấp phát trên chuyến tàu này,
cũng do các hội từ thiện từ bên Mỹ gởi cho.
Trong khi ba bố con ông im ĺm th́ cô Hoà nói hết chuyện này đến chuyện khác:
- Có tin là giới báo chí, đang phanh phui chuyện ăn cắp ngân quỹ dành cho đồng
bào di cư tỵ nạn?
- Tôi cũng nghe như vậy. Quanh quẩn thủ phạm vẫn là bọn "sâu dân mọt
nước" từ thời vua Bảo Đại để lại trong guồng máy chính quyền.
Đồng bào ḿnh đi trốn Cộng Sản, vào Nam với hai bàn tay trắng, đau khổ
đủ điều mà chúng nó c̣n t́m cách ăn chặn ngân quỹ! Quả thật là chuyện
"chó cắn áo rách".
Câu chuyện đến đó th́ trên máy vi âm vang lên:
"Xin quư vị lưu ư. Khoảng chừng mươi phút nữa, quư vị có thể xuống
tàu. Khi bước xuống cầu thang, xin quư vị cẩn thận đi từng bước.
Khi thấy thân nhân chờ ở dưới, xin chớ có hấp tấp chạy, rất nguy
hiểm. Sau khi xuống tàu, mời quư vị đến lănh tiền trợ cấp ở phía
bên phải cầu thang và giải khát miễn phí ở các quầy hàng có hàng chữ "sữa
tươi và nước trà nóng của đồng bào di cư". Ngay bên cạnh nơi ấy,
có xe đang chờ, để chở quư vị về trại định cư theo ư của
quư vị lựa chọn.
Kính chúc quư vị vạn sự như ư và mau an cư lạc nghiệp trên phần đất
Tự Do".
Tiếp theo, tiếng ra-đi-ô được truyền qua máy vi âm. Lời hát trong bản
"T́nh Cố Đô" vang lên, vô t́nh làm cho kẻ ly hương cảm thấy buồn tê tái:
"Buồn nh́n về xa xôi...
Hà Nội ơi đă xa cách rồi!
Mịt mùng ngàn trùng khơi...
Thành phố cũ lắng sau núi đồi…"
Ba bố con ông Văn rồi cô Ḥa, đưa tay lên lau nước mắt. Không nhiều
th́ ít, những người đồng cảnh đứng bên cạnh ông Văn, đều
cảm thấy bùi ngùi. Chờ đến khi 3 chiếc cầu thang sắt, một ở đầu
tàu, một cuối tàu và một chính giữa được thả xuống, đồng bào
di cư trên tàu Serpent mới bắt đầu, bước chân xuống phần đất
Tự Do.
Đỗ Quốc Anh-Thư
(Trích đoạn từ cuốn ‘Nửa Đường Gẫy Cánh’)
*
* *
NXB Lam Sơn trân trọng giới thiệu
cuốn truyện dài
thời chiến tranh 1945-1975:
Nửa Đường Gẫy Cánh
<>
Trong ấn bản lần thứ 3 này, nhiều phần đă
được tác giả Đỗ Quốc Anh Thư sửa đổi. Qua 425 trang sách, dầy
gấp đôi cuốn cũ, NĐGC có nhiều t́nh tiết hấp dẫn, kèm theo sự kiện
lịch sử, để phản ảnh trung thực thảm cảnh 30 năm chiến tranh
máu lửa (1945-1975).
·
Hai biến cố lịch sử
xẩy ra ngày 20-7-1954 và 30-4-1975, đă làm cho hàng triệu người "đổi đời"
đột ngột và vô cùng đau thương. "Nửa Đường Gẫy Cánh" chỉ
là câu chuyện điển h́nh, cốt truyện được xây dựng trên sự thật
--- xẩy ra trong thời gian chiến tranh.
·
Thảm cảnh của miền
Nam trong cơn hấp hối và nỗi hận sầu "nước mất nhà tan" của hai
Hoa Tiêu Không Quân VNCH trên Tuần Dương Hạm USS Blue Ridge ngày 30-4-1975.
(Nếu không nh́n thấy ảnh, xin quư vị bấm vào hàng chữ phía
dưới)
http://i167.photobucket.com/albums/u156/LamSonVN/QuangBaNDGC1-1.jpg
*
·
Những bí ẩn của phi vụ
"Không Số" --- do Hoa Tiêu VNCH và Hoa Kỳ đảm trách --- cùng hoạt động của các
chiến sĩ Biệt Kích Lôi Hổ dọc theo đường ṃn Hồ Chí Minh và ngă ba biên
giới Việt-Miên-Lào.
·
Câu chuyện kinh hoàng và thảm
cảnh đau thương của dân chúng VN trên hành tŕnh tỵ nạn Cộng Sản nơi
biển Đông: Từ tàu Green Port đến tàu American Racer, trong trại tạm trú Wake Island
và Fort Chaffee.
Xin liên lạc với Nguyễn Thứ Dũng
LamSonVN@SBCglobal. net
Điện thoại 408-225-8476