HU LOAN VA HOA SIM

 
HỮU LOAN & HOA SIM


(Nhà Thơ Hữu Loan)

"Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh..."



Tôi sinh ra trong một gia đ́nh nghèo, hồi nhỏ không có cơ duyên được cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người, nhờ ông mà năm 1938 - lúc đó tôi cũng đă 22 tuổi - tôi chơi ngông vác lều chơng ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo tự học cũng có thể đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi chẳng có ư định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài Pháp thời đó rất khó khăn. Số người đỗ trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5, 6 chục năm sau những người cùng thời c̣n nhớ tên những cậu khóa ấy, trong số có Nguyễn Đ́nh Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuân, Đỗ Thiện và tôi... (theo Lê Thọ B́nh, báo Pháp Luật số Xuân Giáp Thân)

Với mảnh bằng tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa dạy học. Nhăn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà Tham Kỳ chú ư, vời về nhà dạy kèm cho hai đứa con nhỏ. Tên thật của bà Tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, bà Tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt đến (theo Lê Thọ B́nh, báo đă dẫn).

Bà Tham Kỳ là một người hiền lành tốt bụng, đối xử với tôi rất đàng hoàng tử tế, coi tôi chẳng khác người nhà. Nhớ lại ngày đầu tiên khoác áo gia sư, bà gọi măi, đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi - mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay miệng lí nhí: "Em chào thầy ạ!" Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nh́n thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tṛn xoe như có ánh chớp ấy đă hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài G̣n nên sinh ở trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đó nhưng ít nói và mỗi lần mở miệng là cứ y như một "bà cụ non". Đặc biệt em chăm sóc tôi hàng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn lúc th́ vài quả ớt đỏ au, lúc th́ quả chanh mọng ướt em vừa hái ở vườn; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà đem ra giếng giặt...

Có lần tôi kể chuyện "bà cụ non" ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em dỗi! Suốt một tuần liền, em nằm ĺ ở buồng trong, không chịu học hành... Một hôm bà Tham Kỳ dẫn tôi vào pḥng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đă nói ǵ, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đă nói rất nhiều, đă kể chuyện cho em nghe; rồi tôi đọc thơ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy, ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đ̣i tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ư: "Mới ốm dậy, c̣n yếu lắm, không đi được đâu!" Em không chịu, nhất định đ̣i đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà Tham Kỳ đưa em lên núi chơi...

Xe kéo chạy chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc con, tôi đuổi theo muốn đứt hơi! Lên tới đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói ǵ. Bất chợt em nh́n tôi, rồi ngước mắt nh́n ra tận chân trời. Không biết lúc đó em nghĩ ǵ. Bất chợt em hỏi tôi:

- Thầy có thích ăn sim không?

Tôi nh́n xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên, đi xuống sườn đồi, c̣n tôi v́ mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ... Khi tỉnh dậy, em đă ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen nhánh, chín mọng.

- Thầy ăn đi!

Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng và trầm trồ:

- Ngọt quá!

Như đă nói, tôi sinh ra trong một gia đ́nh nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm ǵ, nhưng thú thật chưa bao giờ tôi được ăn những quả sim ngọt đến thế!

Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nh́n em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi cũng đỏ tím, hai bên má th́... tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà Tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo măi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nh́n theo. Tôi đi... Lên tới bờ đê, nh́n xuống đầu làng, em vẫn đứng đó, nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi... Tôi quay đầu nh́n lại... Em vẫn đứng yên đó...Tôi lại đi và nh́n lại cho tới khi không c̣n nh́n thấy em nữa...

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi có nhận được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đă khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 đă có nhiều chàng trai đến ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ...

Chín năm sau, tôi trở lại nhà... Về Nông Cống t́m em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói ǵ, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không c̣n là cô học tṛ Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đă gần 17 tuổi, đă là một cô gái xinh đẹp...

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ v́ hai gia đ́nh không "môn đăng hộ đối" một chút nào. Măi sau mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm "soạn kịch bản".

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới th́ em gạt đi, "không đ̣i may áo mới trong ngày hợp hôn", bảo rằng là: "Yêu nhau, thương nhau cốt cái tâm và cái t́nh bền chặt là hơn cả". Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay lại... đẹp giai nên em thường gọi đùa là ông chồng độc đáo.

Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa của gia đ́nh em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi đi thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đă đứng. Chỉ có giờ đây em không c̣n là cô bé Ninh nữa mà đă là người bạn đời yêu quư của tôi. Tôi bước đi, tôi lại quay đầu nh́n lại... Nếu như chín năm về trước, nh́n lại chỉ cảm thấy một nỗi buồn man mác th́ lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồng (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), v́ muốn chụp lấy tấm áo bị nước cuốn đi nên trượt chân té xuống sông chết đuối! Con nước lớn đă cuốn em đi vào ḷng nó, cướp đi của tôi người bạn ḷng tri kỷ, để lại cho tôi nỗi đau không ǵ có thể bù đắp nổi! Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Nỗi đau ấy tôi phải giấu kín trong ḷng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn... Dường như càng ḱm nén th́ nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm tư ǵ cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong tôi được dịp bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng. Hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi, chép. Chẳng cần phải suy nghĩ ǵ, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:

Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng có em chưa biết nói

Khi tóc nàng đang xanh...

...Tôi về không gặp nàng...


Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc b́nh hoa ngày cưới làm b́nh hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại nhà một người bạn ở Thanh Hóa. Anh bạn này đă chép lại và chuyền tay nhau suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn đọc đă biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916, hiện tại đang "ở nhà trông vườn" ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chỗ "quê đẻ của tôi đấy" thuộc Xă Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi mới viết nổi những câu chiều hành quân/ qua những đồi hoa sim /những đồi hoa sim/ những đồi hoa sim dài trong chiều không hết /màu tím hoa sim /tím chiều hoang biền biệt và chiều hoang tím có chiều hoang biết/ chiều hoang tím tím thêm màu da diết.

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội; từ giă văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng v́ tính tôi "hay căi, thích chống đối, không thể làm những ǵ trái với suy nghĩ của tôi". "Bọn nó" nhiếc móc, chê tôi ủy mị, hoạnh họe tôi đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Tôi chẳng cần, mặc kệ chúng! Tôi thương, tôi nhớ Hoa Sim của tôi quá rồi! Với lại, tôi cũng đă chán ngấy cái mặt nạ yêu nước của "bọn nó" rồi!

Tôi về quê chúng chẳng buông tha, theo dơi quản thúc, thường xuyên kiếm chuyện gây khó dễ tôi cũng chẳng cần biết! Sau bao nhiêu năm trời ngậm cay nuốt đắng, tôi đă được dịp phơi bày tâm sự trong hai kỳ phỏng vấn của Hương Ly, phóng viên BBC tiếng Việt phát thanh trong hai ngày 5 và 12-10-2002. Theo tôi th́ t́nh h́nh chung của đất nước bây giờ là thằng nào cũng lợi dụng trèo đầu cỡi cổ thằng dân chứ có cái ǵ đâu... Sau phần đầu nói về nguồn gốc của Màu Tím Hoa Sim và những hệ lụy của bài thơ này, trong phần II tôi đă nói về cuộc sống cơ hàn và những âm mưu ám sát, chế ngự của đảng đối với tôi và gia đ́nh tôi từ năm 1956. Dù gian khổ và chết hụt nhiều lần, tôi nhất định không chịu quỵ lụỵ. Hồi ấy, ra làm ở ngoài Trung Ương th́ bắt phải theo cộng sản nên tôi bỏ tôi về. Tôi bỏ về nó không cho về... Nó làm tôi tam t́nh, tứ tội, làm đủ cách đễ thủ tiêu nhưng mà tôi vẫn tin là tôi có sự che chở của Trời - Phật cho nên nó không thủ tiêu nổi, bao nhiêu lần đầu độc không xong... Đó là cái thời 1955 - 1956 khi phong trào Văn nghệ sĩ chống Đảng bắt đầu bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, và đồng thời chống những Văn nghệ sĩ bồi bút đang tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca tụng Đảng để kiếm chút cơm thừa canh cặn của chế độ. Làm thơ phải có cái tâm mà phải là cái tâm linh thật thiêng liêng th́ mới có thơ hay. Thơ hay th́ sống măi. Làm thơ mà không có t́nh, có tâm th́ chả ra ǵ! Làm thơ lúc bấy giờ là phải làm về Đảng, ca tụng Đảng, ca tụng cộng sản, ca tụng cái buôn bán chiến tranh. Bởi v́ cái đánh nhau là cái dễ kiếm chác lắm. Mà kiếm chác ở cái chiến tranh ấy th́ khó kiểm tra lắm cho nên những cái bọn ăn bẩn ấy bao giờ cũng chủ trương chiến tranh, buôn bán chiến tranh. Mà tôi th́ tôi thấy cái đấy là cái khổ dân nhất nên tôi chống hết sức. Lúc giờ người ta đang một tí là đề cao Hồ Chí Minh, hai tí là đề cao Hồ Chí Minh... trong khi tôi lại đề cao cái T́nh Yêu. Tôi khóc người Vợ tử tế với ḿnh, người bạn đời hiếm có của ḿnh. Lúc đó khóc như vậy, nó cho là khóc cái t́nh cảm riêng... Y như trong Thơ nói đấy: tôi lấy Vợ rồi đi Bộ đội, mới lấy nhau được có hơn tháng, ở nhà Bà ấy đi giặt rồi chết đuối ở sông... Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc. Bài thơ ấy lúc bấy giờ nó cho là phản động, làm thơ là phải làm về cộng sản, làm về bác Hồ chứ không được khóc cái đau riêng của ḿnh... Cái đau khổ riêng của con người tại sao lại không được khóc!?

Bọn nó xúc phạm đến danh dự và t́nh cảm thiêng liêng của người Vợ mà tôi hằng yêu quư, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ Đảng, bỏ Cơ quan về thẳng nhà để đi cày. Bọn ấy không cho bỏ, bắt tôi phải viết đơn xin. Tôi không xin... Tôi có cái tự do của tôi, cái chuyện bỏ Đảng, tôi muốn bỏ là tôi bỏ không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày, đi bừa, đi thồ, đi đốn củi đưa về, đi xe đá để bán, bọn nó phá tôi đủ cách, bắt giữ xe đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ phía trước, có hai càng ph́a sau thùng gỗ để đủn hay kéo đi. Xe cút kít nó cũng không cho, cấm không ai được bán bánh xe cho tôi nữa. Có lần tôi phải gánh bộ, gánh bằng vai tôi cũng cứ nhận. Tôi cứ gánh tôi làm, không bao giờ tôi chịu khuất phục. Thế mà chúng nó cũng theo dơi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an mật đi theo dơi, cho người theo hại tôi... Nhưng mà lúc nào cũng như có người cứu tôi! Có một cái lạ là chính Thơ của tôi đă có lần cứu sống tôi! Lần đó tên mật vụ nói thật với tôi là được giao lệnh giết tôi nhưng nó là cái thằng rất yêu Quê hương, nhớ Quê nhà. Nó thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Ninh B́nh của nó ra đọc cho đỡ nhớ, v́ vậy không nỡ giết tôi.

Ngoài bài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đă làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến nỗi không có đến cái chiếu mà nằm!

Chiếc chiếu

Có ai thấy một người cha

Từng buổi, từng buổi

Trước tủ kính cửa hàng Mậu dịch ḍm như nổ mắt

T́ mũi dẹp như quả bóng xuống hơi

Thầm đọc đi đọc lại giá hàng từng thứ đồ chơi

Dù nhiều lần đă hạ giá

Trong óc nổi ḅng bong từng mớ

Những cơm đến gạo đến quần đến áo

Đôi chiếu nằm rách từ giữa rách ra

Tục ngữ nói rằng những chiếc nhà dột từ nóc trên dột xuống

Từng sáng mai nh́n gầm giường

Đốt cói rụng đầy như chiếu rụng đốt xương

Gió thổi từ dưới thổi lên

Muỗi cũng đốt từ dưới đốt lên

Nhưng con đái dầm lại tiện

Ṛng ră mười năm kháng chiến

Cầm vững hai tay

Một cái t́nh thần

Choảng nhau với súng với bom

Gian khổ c̣n ư ?

Bố con ta lại vung cái tinh thần như tráng sỹ vung gươm

Chong chóng không quay

Con vứt đi phụng phịu

Sáng kiến làm đồ chơi

Bố th́ không thiếu

Bố lại lấy lá dứa vận cho con cái kèn

Bố thổi nó kêu lên ṭ he. Ṭ he

Con đắc trí giật kèn đi thổi khắp Ô Kim Mă

Ṭ he. Ṭ he

Như một thiên sứ Hài đồng

Xuống lệnh điềm tin

Ṭ he. Ṭ he

Nhớ truyện Đông Chu

Sao đỏ, sao đen

Ṭ he. Ṭ he


Cuộc đời đẩy đưa, định mệnh dắt tôi đến với một người phụ nữ khác, sống cùng tôi đến ngày hôm nay. Bà tên Phạm Thị Nhu, cũng là một người phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Bà vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố điền chủ của Việt Minh.

Nhớ lại, lúc đó, tôi c̣n là chính trị viên tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, hiểu biết luân thường đạo lư, lại có tâm hồn nghệ sĩ, nên tôi cảm thấy chán nản quá và không c̣n kính trọng già Hồ cũng như chủ nghĩa cộng sản nữa. Tuy nhiên, tôi đă trót làm đảng viên được mấy năm rồi. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng! Trong một xă thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa tôi ở độ mười lăm cây số, có một gia đ́nh địa chủ rất giầu, nắm trong tay gần năm trăm mẫu tư điền. Ông địa chủ giầu ḷng nhân đạo, rất yêu nước thương người. Ông thấy bộ đội sư đoàn 301 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo tới chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là Trưởng Pḥng Tuyên Huấn và Chính Trị nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm ḷng tốt của ông ta, đồng thời đề nghị lên Sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Riêng tôi rất quư mến và luôn luôn nhớ đến ông. Thế rồi một hôm tôi nghe tin gia đ́nh ông ấy bị đấu tố. Hai vợ chồng bị đội đấu tố mang ra cho dân sỉ vả, nhục mạ, rồi chôn xuống đất để hở có cái đầu lên thôi. Xong, họ cho trâu kéo bừa qua lại hai cái đầu cho đến chết. Gia đ́nh ông bà địa chủ xấu số chỉ c̣n có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội đấu tố đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo. Dă man hơn nữa, chúng c̣n ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm dân chúng cả việc lấy các con cái của địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương giáng xuống gia đ́nh ông bà địa chủ mà tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xă đó xem cô con gái của họ sinh sống ra sao, v́ trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được h́nh ảnh của một cô bé mỗi buổi chiều cứ lén lút đứng bên ngoài song cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Khi gặp nhau, cô bé ấy nói v́ đi nghe tôi giảng Kiều nhiều hôm để trâu ăn lúa, nên bị bắt phạt...

Lúc gần tới nơi, may sao tôi gặp cô ta áo quần rách mướp, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom t́m lượm vài củ khoai mà dân bỏ sót nhét vào túi áo, rồi chùi vội một củ vào quần đưa lên miệng gặm. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi lại gần hỏi thăm và được cô ta kể lại rành rọt hôm cha mẹ cô bị đấu tố chết ra sao. Cô ta khóc mếu nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hàng ngày cô phải đi mót khoai ăn đỡ đói ḷng, tối về ngủ trong cái miếu hoang; cô rất đói khổ lo lắng, không biết ngày mai c̣n sống hay sẽ chết v́ đói khát! Tôi nghe mà lấy làm thương tâm quá, trong ḷng vô cùng xúc động. Suy nghĩ rất nhiều, tôi quyết định đem cô ta về quê tôi, rồi bất chấp lệnh cấm, tôi đă lấy cô ta làm vợ. Rất may là sự quyết định của tôi đă không nhầm. Khi xưa, quê tôi nghèo, nhà tôî cũng nghèo, tôi lại c̣n ở trong bộ đội nên không có tiền. Nhưng hai vợ chồng cố gắng chịu đựng đùm bọc nhau bữa đói bữa no... Cho đến ngày nay, bà ấy đă cho tôi 10 người con ngoan, 6 trai, 4 gái và cháu nội cháu ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày hốt đá đi bán, túi dắt theo vài quyển sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc giải sầu, lâu lâu nổi hứng th́ làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi cởi mở, tôi được tụi nó ve văn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm.

Năm 1988, tôi "tái xuất" giang hồ sau 30 năm tự chôn và bị chôn ḿnh ở chốn quê nhà đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do Hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đ̣i tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự.

Dọc đường đất nước trên chuyến đi, tôi đă đọc cho công chúng nghe trong những lần gặp gỡ, bài thơ dài mới nhất tên là "Chuyện tôi về", một loại bút kư thơ kể về thời gian "Ba mươi năm không phải chuyện / Một sớm một chiều/ Một ngày tù đă dài như thế kỷ / Ấy là tù giữa chợ..." Trong 30 năm đó, kể từ ngày có vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, và 17 năm sau đó nữa, chẳng có ai dám viết... Cũng trong dịp này, tôi được may mắn quen biết người bạn trẻ yêu nước, thường viết lách dưới bút hiệu Tiêu Dao Bảo Cự. Mến phục nhà trí thức đa tài đầy nhiệt huyết nầy, tôi đă chép tặng bài thơ Chuyện Di Tề với những câu như sau:

"... Tôi là cây

gỗ

vuông

chành

chạnh

suốt đời

đă làm thất bại

mọi âm mưu

đẽo tṛn

để muốn tùy tiện

lăn long lóc thế nào

th́ long lóc

Chân

tính

đấy

hỡi Ŕu, Bào

Phó-Mộc"

Lần đó, chép xong mấy câu thơ, tôi đă chỉ tay vào trang giấy nói: "Anh thấy đó chữ Ŕu, Bào và Phó-Mộc viết hoa. Anh biết tôi muốn ám chỉ ai rồi." Anh bạn trẻ gật đầu tỏ vẻ lĩnh hội!

Chuyện này sau đó tôi quên tịt, nhưng hẳn là đă để lại trong tâm tư anh ta khá nhiều ấn tượng, bằng chứng là 17 năm sau, anh bạn trẻ (lúc này 60 tuổi, và tôi cũng đă 90!) lần ṃ từ Sài G̣n đến tận nhà thăm tôi! Mặc dù đang cảm nặng, tôi cũng thu gom được chút lực tàn để hầu chuyện cùng anh, ăn chung với anh một bữa cơm trưa thanh đạm gọi là đăi khách từ xa tới! Anh bạn trẻ nói chuyện thật vui, hỏi nhiều thứ tôi không c̣n nhớ nổi, nhất là những chuyện xảy ra trong chuyến xuyên Việt năm 1988! Nhưng những sự việc trước đó th́ tôi nhớ như in, nhất là vào cái thời chúng nó trù dập Nhân Văn Giai Phẩm. Anh bạn trẻ xin phép hút thuốc lá, tôi không cho; anh bảo cái ǵ anh cũng bỏ được, trừ cái tật nghiện thuốc lá! Hừm, có ǵ mà không bỏ được?! Cái ǵ có hại là phải bỏ, cộng sản nó ghê gớm đến thế mà tôi c̣n bỏ được, nói chi thuốc lá?! Nể mặt tôi nên anh giữ im lặng, nhưng tôi thấy rơ ánh bất b́nh trong mắt anh...

Anh bảo ra về sẽ viết một bài kư sự ghi lại buổi gặp gỡ đó, và anh đă giữ đúng lời hứa. Lớp trẻ ngày nay thật tài ba! (xem phần Phụ Lục nơi cuối bài)

Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, Công ty Vitek VTB đột nhiên ra đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một h́nh thức bảo tồn tài sản văn hóa. Th́ cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu, trừ thuế c̣n 90, chia "lộc" cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu, pḥng ốm đau lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.

Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin kư hợp đồng mua mấy tập thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán!

 

 Màu tím hoa sim ,
bài thơ chuyển nhượng bản quyền cho Vitek VTB


Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đ́nh
Yêu nàng như t́nh yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đ̣i may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi ḿnh không về
th́ thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...
Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc b́nh hoa ngày cưới
thành b́nh hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một ḿnh đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nh́n ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt (*)

Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô t́nh hay ác ư với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nh́n áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...
Màu tím hoa sim, tím t́nh trang lệ rớm
Tím t́nh ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu...



Bản chép tay của Hữu Loan chỉ dài tới câu "tím chiều hoang biền biệt ", sau đó được nhà thơ Hữu Loan đánh dấu (*) để nối thêm một đoạn nữa, thành nguyên bản toàn bài (mới hơn và dài hơn) trên đây được dùng chuyển nhượng bản quyền cho Vitek.


 

 
 

Thân thế Hữu Loan qua truyền thuyết và giai thoại



Về thân thế của nhà thơ Hữu Loan, nhất là trong thời kỳ bắt đầu quen biết gia đ́nh ông Lê Đỗ Kỳ và cô Ninh, có nhiều tài liệu ghi khác nhau. Có người bảo rằng: Hữu Loan quen biết bà Ninh khi ông c̣n học Collège Đào Duy Từ, Thanh Hóa. Ngài Tổng thanh tra ngưỡng mộ danh tiếng của cậu học tṛ Hữu Loan đă vời cậu vào dạy học cho con gái. Sau khi tốt nghiệp thành chung, Hữu Loan phải ra Hà Nội học tú tài. Trong một đợt phát động Tuần Lễ Vàng, Hữu Loan diễn thuyết trước đám đông, gặp lại cô học tṛ ngày xưa, nay đă trở thành thiếu nữ "đẹp một vẻ trong trắng, giản dị". Họ nhanh chóng thành thân với nhau vào năm 1948.

Cũng có một thuyết khác kể rằng ngày ông đặt chân đến gia đ́nh ông Lê Đỗ Kỳ làm gia sư cho ba người con trai của ông cũng là ngày bà Kỳ sinh hạ một bé gái xinh xắn. Điều khác thường ở chỗ là cô bé không cất tiếng khóc chào đời như mọi đứa trẻ khác; khi gia đ́nh mang cô bé đặt lên trên nắp một cái thùng phuy để cầu nguyện một điều ǵ đó, ông ṭ ṃ lại ngắm nh́n th́ cô bé nhoẻn miệng cười với ông. Lớn lên, ông đi đâu cô bé ấy cũng đ̣i đi theo. Khi quay trở lại làm gia sư dạy học cho cô bé, mặc dù nhà ông tham Kỳ lúc nào cũng có vài ba mươi người ăn, kẻ ở hầu hạ nhưng cô luôn giữ va-ly và không cho bất kỳ ai giặt quần áo của ông, mà tự tay cô ấy giặt, là lấy rồi gấp xếp vào va-ly cho ông.

Cô bé càng lớn càng đẹp, một vẻ đẹp thánh thiện. Hai người cưới nhau ngày 16-2-1949 th́ đến ngày 29-5 cùng năm đó, cô Ninh mất do chết đuối, khi ông đang hoạt động cách mạng ở Nưa (huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá). Đau thương này kéo dài lắm, v́ lẽ đó ông có ư định không lấy vợ nữa. Mỗi lần nhớ tới cô ấy là ông lại "khóc" ra một quăng của bài thơ Màu Tím Hoa Sim...

Theo tạp chí Nhà Văn (số tháng 9/2003) (http://sacmauvanhoa.vdcmedia.com/Lyluan-c.asp?PostID=624&Day=0&Date=0&Year=0&Page=35 ) th́ "Nhà thơ Hữu Loan, tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại thôn Vân Hoàn, xă Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa. Là con một gia đ́nh nông dân nghèo, lại đông anh chị em, nên Hữu Loan có một tuổi thơ lam lũ ở quê hương. Ngay từ niên thiếu, Hữu Loan đă luôn luôn nỗ lực vươn lên để đạt tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Biểu hiện đầu tiên về khát khao vươn lên của Hữu Loan là học rất giỏi, học chữ nho với thầy đồ ở quê cũng giỏi, rồi lên trường huyện học chữ quốc ngữ cũng rất giỏi. Bởi kết quả học hành xuất sắc của Hữu Loan mà một gia đ́nh nông dân nghèo như bố mẹ Hữu Loan đă dám chắt bóp cho con ăn học lên nữa. Năm 1937, Hữu Loan lên thị xă Thanh Hóa theo học Trường Collège. Để có thêm tiền ăn học, Hữu Loan nhận làm gia sư cho gia đ́nh ông Lê Đỗ Kỳ khi đó đang làm Tổng thanh tra Nông Lâm Đông Dương. Cô Lê Đỗ Thị Ninh, học tṛ của Hữu Loan, chưa đầy 10 tuổi, như sự sắp đặt của số phận, sau này trở thành vợ nhà thơ và để lại một dấu ấn sâu nặng trong thơ ông. Tuy nhiên, những năm trước 1945, Hữu Loan đâu đă biết bản thân sẽ trở thành nhà thơ, đâu biết sẽ gắn bó với Lê Đỗ Thị Ninh một cách lạ lùng... Học rất giỏi, đỗ Thành Chung, rồi Hữu Loan vươn lên nữa, đỗ Tú tài Tây ở Hà Nội. Với sự thành đạt đó, ở vùng quê nghèo Nga Lĩnh, người ta đă gọi Hữu Loan một cách trọng thị: “Ông Tú”, hoặc gần gũi thân t́nh cũng gọi “Tú Loan”. Dù đă thi được chân Thư kư Văn pḥng Toàn quyền, Hữu Loan không đi làm cho người Pháp, mà đi dạy học ở các trường tư thục. Cũng từ năm 1941 đó, Hữu Loan tham gia hoạt động trong phong trào B́nh dân, rồi tham gia Việt Minh. Đến năm 1943, tổ chức phân công Hữu Loan trở về xây dựng phong trào Việt Minh ở Nga Sơn. Cách mạng Tháng Tám, Hữu Loan được cử làm Phó chủ tịch ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Vào tuổi ba mươi, trong ḷng Hữu Loan đă chất chứa nhiều buồn vui sướng khổ. Qua những năm niên thiếu cay cực trên quê hương khổ nghèo. Qua những năm gắng ḷng học tập để vươn lên. Đặc biệt, qua những năm tham gia phong trào yêu nước... Tất cả đă làm cho Hữu Loan có một tấm ḷng thương yêu quê hương, thương yêu con người thật sâu nặng, và, có thể nói, tất cả những nếm trải cuộc đời đă làm cho Hữu Loan hoàn thiện một phẩm chất với một trí tuệ mạnh mẽ và một tâm hồn nồng cháy. Mọi người đều thấy một Hữu Loan xuất sắc, được điều lên ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách bốn ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính, tổ chức Tuần lễ vàng rất thành công. Trong cuộc mít tinh này, Hữu Loan diễn thuyết trước đông đảo dân chúng với một cảm hứng lớn và mới mẻ, khiến rất nhiều người góp vàng góp tiền cúng. Hôm đó, cô học tṛ Lê Đỗ Thị Ninh vừa 16 tuổi, cũng vô cùng cảm kích bởi tài diễn thuyết của Hữu Loan, đă cởi ṿng xuyến vàng của ḿnh trao cho chính quyền mới...

...Đầu năm 1948, Hữu Loan nhận được tin nhắn, gọi về thị xă Thanh Hóa ngay. Nguyên do, cô học tṛ Lê Đỗ Thị Ninh đă thổ lộ với mẹ về t́nh cảm của ḿnh đối với “gia sư” Hữu Loan. Mẹ cô, từ xưa đă quư mến cậu gia sư, nay rất mừng, đồng ư ngay với quyết định của con gái. Đám cưới được tổ chức ngày 6 tháng 2 năm 1948. Bảy tháng sau, khi đang ở Ban Tuyên huấn Sư đoàn 304, đóng ở Thọ Xuân, Thanh Hóa, Hữu Loan nhận được tin người vợ trẻ của ông đă mất. Thoắt cái, Hữu Loan trở thành một người trầm lặng lạ lùng...

Riêng Trịnh Hưng đă viết trong Âu Du (số 47 Xuân Quư Mùi, t.88) như sau:

... Học ở trường huyện thi đậu bằng Tiểu Học Pháp mà lúc bấy giờ là rất hiếm người đạt được. Anh quyết chí đi học tiếp Trung Học nhưng muốn vậy th́ phải ra tỉnh mới có trường. Nhà nghèo ham học nên anh mong muốn ra tỉnh vừa t́m việc làm vừa đi học. Một hôm, t́nh cờ anh may mắn xin được dạy kèm cho các con ông Lê Đỗ Hữu Kỳ, kỹ sư Canh Nông ở Pháp về, hiện làm Thanh Tra cho Bộ Canh Nông của Pháp. Nhà ông có 500 mẫu ruộng gia nhân làm việc 5, 6 chục người. Ông có nuôi thêm một miệng ăn th́ cũng chẳng thấm vào đâu. Bà Kỳ là một người rất rộng lượng và tốt bụng và thường hay giúp đỡ người nghèo nên bà sẳn ḷng cho anh ăn ở, dạy kèm cho các con. Nhờ vậy, Hữu Loan đă an tâm đi học. Thấy anh hiền lành, lễ phép nên bà Kỳ rất mến và nhận anh làm con nuôi cho ăn học thành đạt.

Khi anh bước chân vào nhà ông Kỳ ở, th́ bà Kỳ sinh cô Ninh ở nhà hộ sinh. Hai ngày sau, anh xin phép vào thăm. Thấy cô bé bụ bẩm xinh đẹp nên Hữu Loan bế lên nâng niu trên tay. Cô bé mới sinh có hai ngày mà cứ nh́n anh cười. Anh vội nói với bà Kỳ:

- Má à! Em mới có hai ngày mà đă biết cười. Không hiểu sao em cứ nh́n con cười.

- Mấy bà đỡ đẻ cũng nói là con nít sinh ra là khóc, c̣n con bé nầy th́ không khóc một tiếng nào mà nó lại biết cười ngay. Đó là một điều lạ.

Từ đó anh an tâm học hành, các con ông bà Kỳ rất mến anh. Anh hay dẫn các con ông Kỳ đi chơi và ẳm bồng cô bé Ninh. Đến kỳ thi Trung Học anh đậu hạng tối ưu. Ông bà Kỳ rất mừng và khuyến khích anh học tiếp. Năm 1941 đến kỳ thi Tú Tài ở Hà Nội anh đậu hạng ưu. Sau đó, người Pháp xem bài thấy anh thông minh nên họ mời anh vào làm tại phủ Toàn Quyền có lương bổng cao. Hữu Loan lúc đó ghét Tây nên đă khước từ và về Thanh Hoá sống với gia đ́nh cha mẹ nuôi và đi dạy học. Hữu Loan gặp được cụ Trần Trọng Kim, lúc đó cụ đang thành lập Hội Thanh Niên toàn tỉnh. Cụ thấy anh nhanh nhẹn, thông minh nên giao cho nhiệm vụ làm Tổng Đoàn Trưởng Thanh Niên của cụ


Lê Nguyên Dũng


Vietnamlibrary.net/



TRỞ VỀ ĐẦU TRANGt
 

lyhuonga.jpg

Thư gởi đến Cha,

Kính thưa Cha,

Khi con quyết định viết lá thư này đến Cha, là lúc trái tim con đă nóng như hàng ngàn ngọn lửa đang dốt cháy, cái lửa cháy không ngầm, ngọn lửa đang bộc phát thật mạnh trong trái tim của con.

Con nhớ lại cách đây 28 năm về trước, ngày con rời Sài G̣n để đi lên vùng kinh tế mới Cẫm Đường-Long Thành thăm một người bạn và nơi đó ở vào lứa tuổi 24, con đă gặp và đọc được một bài toán ở bậc tiểu học như sau '' Một em du kích, bắn được 3 thằng Mỹ và hai thằng ngụy. Vậy em du kích đó bắn được bao nhiêu thằng Mỹ, ngụy?''. Bài toán dạy sự giết người, giết người từ thuở c̣n nằm nôi. Cái nôi của Xă Hội Chủ Nghĩa, cái nôi của những người Cộng-Sản Việt-Nam. Cái nôi của sự rừng rú và man rợ.
Những trẻ con Việt, đă phải rời ṿng tay của Mẹ, rời tiếng à ơi, rời hơi ấm của t́nh thương để được đặt vào cái nôi rừng rú này mà trưởng thành. Sự trưởng thành trong man rợ và khát máu. Thưa Cha và họ trưởng thành thật. Những đứa nhỏ này giờ đây đă trưởng thành trong một tinh thần của sự giáo điều và khát máu, dưới mắt chúng nó chỉ có giết và giết cho thật nhiều để xây dựng cái Chủ Nghĩa Cộng Sản ngoại lai đă bị đào thải tử 28 năm nay.
Giờ đây, những đứa bé này đang nắm giữ những chức vụ trong bộ Công An, trong làng xă, trong giáo dục, trong văn nghệ v.v... của chế độ Cộng Sản Việt Nam. Do đó, những sự đàn áp từ mọi khía cạnh trên quê hương Việt Nam chúng ta đă không bao giờ chấm dứt. Những sự việc này đă đưa đất nước Việt Nam đi vào một con đường tồi tệ nhất trong lịch sử dân tộc Việt. Từ cái vệ sinh tối thiểu của một đời sống thường nhật đă không c̣n được chăm sóc, cho đến các vấn đề vận chuyển và giao thông. Rồi lại đến các kinh rạch sông ng̣i đă trở nên dơ bẩn một cách lạ thường. Con người đă mất đi gần như tất cả nhân phẩm của một con người trong cái xă Hội Chủ Nghĩa chuyên chính này.
Bởi v́ thế, mà trong hàng chục năm qua, biết bao nhân sĩ, các nhà lảnh đạo tôn gíáo, các sinh viên học sinh và cùng cả những người Cộng-Sản phản tỉnh đă lên tiếng cảnh cáo những người lảnh đạo đất nước Việt Nam đang đi trên chủ nghĩa phi nhân này hăy thức tỉnh lại. Trong những lời đề nghị thực tế và ôn ḥa. Nhưng sự trả lời cho tinh thần xây dựng này là những sự trù dập và bắt bớ.

Thưa Cha,
Cho đến ngày hôm nay, th́ sự đàn áp đối với các sự sinh hoạt đ̣i hỏi cái quyền tối thiểu của một con người, đă trở nên quyết liệt và dă man. Sự bắt bỏ tù, lên án những tội danh vô h́nh, lấy gia d́nh làm con tin để đàn áp tinh thần v.v... Đă được Bộ Công An của Đảng Cộng Sản Việt-Nam thực hiện tối đa. Từ tất cả nhân sự trong tất cả ngành nghề, cho đến tôn giáo, đến các người dân nghèo khổ, oan khiên đang bị chiếm đất, chiếm nhà sống một đời sống trong kinh hoang lo sợ. Tiếng nói của họ đă bị dập tắt bởi những người giờ đây đang có biệt danh là ''loại Tư Bản Đỏ''.

Đó là tất cả những kết quả của sự đồi trụy và tham nhũng đang lan tràn trên đất nước Viêt Nam ngày hôm nay. Tiếng than oán đă thấu tận ḷng trời. Vậy th́ làm sao yên?...

Thưa Cha, trước những tấm gương can đảm của Ngài Linh Mục Nguyễn văn Lư, của Chị Lê thị Công Nhân, của Anh Phương Nam Đỗ Nam Hải, của Chị Trần Khải Thanh Thủy, của Chị Bùi Kim Thành, của Anh Nguyễn Chính Kết v.v... và của hàng triệu người dân Việt đang sống dưới gông cùm hà khắc trên đất nước Việt nam. Tấm h́nh trên đây, con xin kính tặng Cha với tấm ḷng của những người dân Việt.
Cuối thư, con cám ơn Cha đă không quản tuổi già sức yếu. Đă quên đi những gây phút yên nghĩ cho tuổi già của Cha, để cùng con bước trên con đường cho dân chủ và dân quyền cho những thế hệ về sau trên đất nước Việt-Nam. V́ tấm ḷng đó, xin Cha nhận nơi lời cám ơn của con. Kính chúc Cha thật nhiều sức khỏe và vạn sự như ư.

Strasbourg, ngày 26 tháng 3 năm 2007
Con của Cha
Trần Minh-Tâm

 

Tâm Thư gởi đến Cha (02)- Trần Minh-Tâm

Strasbourg, ngày 9 tháng 4 năm 2007

Kính thưa Cha


Từ cuối tháng 3 cho đến hôm nay, con biết Cha buồn thật nhiều. Bởi v́ những tin tức liên tục mà con nhận được từ Việt-Nam đă làm con thực sự lo lắng cho sức khỏe nơi Cha.

Thưa Cha, con biết những tấm h́nh trong thời gian bạo quyền Cộng-sản đang xử án Linh Mục Nguyễn Văn Lư đă làm Cha xót xa. Nhất là tấm h́nh mà nơi đó ''Bọn quỷ Satan đă bỏ bàn tay bịt miệng Linh Mục Nguyễn Văn Lư, khi Ngài đang phát biểu''. Tấm h́nh sẽ làm Cha thật buồn. Mà thật vậy tấm h́nh này đă làm xúc động những trái tim nhân bản, của hàng triệu triệu người đang sống trong sự yên b́nh và đang được hít thở cái không khí tự do tối thiểu của một con người.

Con cắn răng im lặng, tự hứa với ḷng ḿnh không khóc. Nhưng!... nước mắt đă nằm tại khóe mi tự bao giờ.
Rồi hơn nữa, chỉ một ngày sau là nhận thêm tin từ nước nhà là Linh Mục Nguyễn văn Lư, Anh Nguyễn Phong và Anh Nguyễn B́nh Thành đă bị đem đi biệt giam. Công an của Chế độ Cộng-sản Việt-nam đă gởi giấy thông báo cho những thân nhân của Linh Mục Nguyễn Văn Lư, Anh Nguyễn Phong và Anh Nguyễn B́nh Thành là không được phép đi thăm cũng như gởi tất cả những vật dụng ǵ cả.
Con biết những tin tức này sẽ làm tinh thần Cha mệt mỏi. Nhưng con cũng biết rằng Cha sẽ không ngă lưng, khi Cha chưa thấy được ngày Cha Nguyễn Văn Lư cùng tất cả những Anh, Chị đă bị Chế độ Độc tài của Cộng-sản Việt-Nam đang giam giữ được thoát ra khỏi cảnh ngục tù.

Thưa Cha,
Con xin Cha đừng buồn. V́ nơi đây các con của Cha vẫn c̣n tiếp tục; tiếp tục với tất cả sức lực, trí khôn của một con người đang được sống trong một tinh thần nhân bản. Con hứa với Cha rằng, hôm nay dù chúng con không đủ sức để kêu gọi những đồng bào đang sống trong ngục tù Cộng-Sản Việt-nam, hảy cùng những cái cày, con trâu và chính chúng con cùng bước với nhau trên ''Con Đường Cái Quan''. Những bước đi trong tinh thần ôn ḥa và bất bạo động.

Nhưng ngày mai, hàng triệu bước chân, sẽ làm thức tỉnh sự tỉnh mịch của Con Đường Cái Quan. Tiếng vang rền như tiếng trống đồng Ngoc Lữ. Ngày mà con tin rằng Quốc Tổ và Quốc Mẫu sẽ về, để chứng nhận những đứa con Lạc Hồng '' Đang từng bước tháo gỡ Bàn Tay của Quỷ Satan ra khỏi tổ quốc Việt-Nam''
Xin Cha nhận nơi đây lời hứa trong danh dự của Con. Con tin rằng ngày tất cả dân Việt cùng cái cày con trâu, rời bỏ ruộng đồng, xóm làng để đi lên trên Con Đường Cái Quan trong tinh thần ôn ḥa và bất bạo động. Ngày ấy trong hàng đầu có con của Cha trong đó.

Cuối thư, con kính chúc Cha được nhiều sức kḥe và an b́nh

Con của Cha
Trần Minh Tâm
Strasbourg, ngày 9 tháng 4 năm 2007

Tâm Thư gởi đến Cha (03)- Trần Minh-Tâm

Strasbourg, ngày 1 tháng 6 năm 2007

Kính thưa Cha


Lâu rồi con không thư thăm Cha Mẹ, v́ Anh Em con có chuyện xào xáo trong nhà. Nay th́ gia đ́nh đâu đă vào đó, ngăn nắp và ổn định. Nên con vội viết thư thăm Cha Mẹ và kể lại câu chuyện đă qua cho Cha rơ.
Như Cha đă biết từ những ngày đầu tiên đặt chân lên mảnh đất mà chúng con sẽ chọn làm quê hương thứ hai này. Các con của Cha đă không ngần ngại, bước chân vào tham gia những sinh hoạt đoàn thể và xă hội trong phạm vi nơi vùng mà chúng con đang sinh sống. Dù trước những khó khăn về kinh tế và đến những khó khăn trong những bước đầu tiên trên đất khách. Nhưng thưa Cha, tất cả những khó khăn theo ngày tháng trôi đi, cuộc sống của chúng con đang vào ổn định, công ăn việc làm đă bắt đầu vào ngăn nắp, những việc hoạt động cùng cộng đồng người Việt đang được phát triển, các lớp tiếng Việt được mở rộng, các chương tŕnh đại lễ của dân tộc đang được thực hiện đều đặn v.v... Th́ bổng gia đ́nh con có nhiều xáo trộn và anh em con bị cắt đứt sợi dây ruột thịt trong một khoảng thời gian khá lâu.



Con biết điều này đă làm Cha Mẹ buồn thật nhiều, nhưng đây không phải là một vấn đề mà con có thể giải quyết ngay tức khắc được. Tất cả những vấn đề đă đến từ những suy nghĩ cho cộng đồng và sinh hoạt tập thể trong gia đ́nh chúng con. Nơi đó trong giai đoạn khởi đầu anh em chúng con đă có một ḷng và một chương tŕnh đồng nhất để cùng nhau làm sao xây dựng từ cái không có cho đến cái có được. Nên trong giai đoạn đầu này, dù gặp rất nhiều khó khăn, nhưng trong gia đ́nh lúc nào cũng t́m được những buổi cơm ''canh lành canh ngọt''.
Cho đến một ngày, th́ tự nhiên trong gia đ́nh những buổi nói chuyện về t́nh h́nh trong sinh hoạt cộng đồng đă có những tiếng nói không đồng nhất; chẳng hạn như ''Anh làm như thế là không đúng, người ta đă nói như thế'' hay là ''chú làm như vậy là sai, v́ đây là chuyện chung. Mà chuyện chung th́ ḿnh chỉ phải nhận định trên đa số mà làm việc.'' v.v... Chỉ có thế thôi, mà gia đ́nh con đă chia ra hai, theo cơn sốt chia hai của cộng đồng ngày hôm đó.
Từ đó anh em ít nói chuyện với nhau, rồi kéo theo hai chị em dâu cũng ít thăm hỏi với nhau và rồi các cháu cũng không c̣n gặp bác, chú vào những cuối tuần nữa. Từ từ th́ khoảng hai tháng sau, anh em chúng con đă không c̣n gặp nhau, rồi không c̣n nói chuyện với nhau. Con bắt đầu có một sự nghi ngờ, những ǵ đă xăy ra cho gia đ́nh con. Suy nghĩ thật nhiều th́ thấy câu chuyện này bắt đầu chỉ bởi những ham thích sinh hoạt cho cộng đồng mà thôi. Trong gia đ́nh th́ từ những sự đối xử với nhau trong t́nh anh em, t́nh chi em dâu, t́nh các cháu con bác, con chú không có một cái ǵ là buồn phiền hay có những sự hổn láo nơi các cháu cả. Vậy th́ cái ǵ đă làm cho tinh thần sinh hoạt cộng đồng và xă hội nơi anh em con, giờ đây lại trở thành một sự chia cắt gia đ́nh đến độ gần như tồi tệ như thế.
Kiểm soát lại những quá tŕnh sinh hoạt cộng đồng đă qua, th́ con thấy được có hai điều như sau:
Thứ nhất: Tinh thần của cộng đồng người Việt rất dễ dàng xúc động trước những biến chuyển, nên từ đó đă dễ dàng bị tách đôi, tách ba, tách bốn v.v... Nhưng trước những hoàn cảnh này, th́ cũng không khó lắm để làm ổn định lại tinh thần chung cho cộng đồng, v́ ai cũng thấy rỏ rằng ''đoàn kết th́ sống, mà chia rẽ th́ chết''. Do đó, dù phải mất nhiều thời giờ để giải thích, để an ủi, kêu gọi t́nh thương lẫn nhau, th́ cộng đồng cũng từ từ ổn định trở lại và từng gia đ́nh cũng t́m trở lại được những hạnh phúc sau khi đă bỏ mất nhiều thời giờ và đôi khi cả tiền bạc cho các việc làm mà trong xă hội thường nói '' Ăn cơm nhà đi vác ngà voi''...
Thứ hai: Sự giúp đở từ những cơ quan chính quyền địa phương và những nhà hảo tâm địa phương. Đây chính là những người giúp đở trực tiếp và nhiều khía cạnh cho cộng đồng người Việt nơi đây. Để con tŕnh bày đến Cha một vài thí dụ cho vấn đề này như sau: ''Khi con c̣n dạy lớp tiếng Việt, th́ những sinh hoạt này đă được giúp đở từ các cơ quan chính quyền và các nhà hảo tâm rất nhiều. Như cho chúng con những bàn học, giấy tập, cả tiền để có thể phát triển thêm lên. Những sự có mặt của một vài người đại diện cho chính quyền để hổ trợ v.v...''. Rồi từ từ, những nhà hảo tâm giúp đở cho những gia đ́nh gặp nhiều khó khăn qua công ăn việc làm, và làm sống động thêm cái không khí đầm ấm cho cộng đồng người Việt tại đây. Con gọi đây là những người ''Hàng Xóm Dễ Thương''.
Nhưng thưa Cha, chính là những người ''Hàng Xóm Dễ Thương'' này đă tạo ra cái khoảng cách vô h́nh trong cộng đồng, mà nó được bắt đầu từ những gia đ́nh nhỏ bé của chúng ta. Con không có trách bất cứ hành động giúp đở nào của những ''Người Hàng Xóm Dễ Thương'' này cả, chỉ biết rằng khi họ giúp đở th́ ḿnh mang ơn. Nhưng cái ơn của từng gia đ́nh, th́ tạo nên những trả ơn khác nhau và những thân thiết khác nhau. Cái trả ơn và cái thân thiết khác nhau đối với những ''Người Hàng Xóm Dễ Thương'' này chính là cái kéo để cắt sự đoàn kết thật nhẹ nhàng, nhưng khó hàn gắn.



Từ những nhận xét đó, con quyết định làm một cuộc đối thoại nghiêm khắc và can đảm trước những khó khăn t́nh cảm nơi chính gia đ́nh con. Sự nghiêm khắc con dựa trên những lư luận đầu tiên cho gia đ́nh, sự ổn định và sự hội nhập vào cộng đồng trong tinh thần sinh hoạt xă hội mà gia đ́nh đă có. Lấy tinh thần xă hội mà gia đ́nh đă có làm mục tiêu chính yếu và lấy tinh thần trợ giúp của các người ''Hàng Xóm Dễ Thương'' này làm động lực phát triển vào hàng thứ hai. Th́ kết quả con đă nhận được ngày hôm nay,
Từ t́nh thương máu mủ, từ t́nh yêu xă hội, từ tấm ḷng trung thực đă có chúng con đă làm cho không khí gia đ́nh được sống lại. Cái can đảm trực diện với nhau trước những bất đồng chính kiến, những dị biệt đă được tháo mở bằng chính h́nh ảnh mà Cha đă bươn chăi trong suốt cuộc đời của Cha.
Bên mâm cơm hôm nay, hai gia đ́nh của Anh Em con, cùng một vài gia đ́nh trong cộng đồng và các cháu đang quây quần bên ''Tô canh chua và tộ cá kho''. Thưa Cha buổi ăn thật sự thanh đạm, nhưng nơi đó con t́m lại một sự hạnh phúc và con biết rằng, chính sự hạnh phúc này sẽ làm cho tinh thần xă hội đă có trong gia đ́nh ta tiếp tục không ngừng. Rồi cũng chính v́ sự thật tâm trong sự sinh hoạt cộng đồng này mà chúng con đă, liên lạc lại được với những người ''Hàng Xóm Dễ Thương'' và cái nh́n của những ''Người Hàng Xóm Dễ Thương'' này đă mở rộng hơn, bao la hơn cho sự sinh hoạt cộng đồng của những người Việt hôm nay.
Cái kết quả đă có, gia đ́nh con ḥa thuận, cộng đồng người Việt rộng mở hơn lên, những người ''Hàng Xóm Dễ Thương'' lại tiếp tục có mặt bên những mâm cơm của cộng đồng Việt Nam trong những ngày đại lễ. Thưa Cha, con xin dâng lên Cha sự thành công này để tạ ơn và làm niềm vui với hy vọng rằng Cha Mẹ sẽ sống âu hơn để nh́n sự trưởng thành thật sự nơi chúng con.

Con của Cha
Trần Minh-Tâm
Strasbourg, ngày 1 tháng 6 năm 2007

Tâm Thư gởi đến Cha (04)- Trần Minh-Tâm

Strasbourg, ngày... tháng... năm 2007

Kính thưa Cha



Hôm qua nhân dịp vào ăn tối tại một tiệm phở, bất ngờ con đă gặp được một thanh niên vừa từ Việt Nam trở về Pháp sau ba tháng về thăm quê nhà. Trong buổi ăn tối hôm đó, chúng con đă nói chuyện với nhau về t́nh h́nh tổng quát ở quê hương. Sau khi nghe con nói rằng đă lâu lắm con chưa trở lại thăm quê nhà, th́ Chú trẻ này đă thật ḷng kể cho con nghe những điều Chú ấy đă thấy trong tầm nh́n của Chú ấy trong những tháng vừa qua.
Buổi nói chuyện bước qua nhiều đề tài, từ chuyện vui chơi, chuyện giá cả thị trường, đời sống người dân ở thành phố, đời sống người dân ở miền đồng Nam Bộ, đời sống người dân miền núi, vấn đề giáo dục và sự suy nghĩ của tuổi trẻ tại quê nhà v.v... Câu chuyện được tiếp tục khi con đề cập đến vấn đề Dân Oan và những sự việc khiếu kiện từ Nam cho đến Bắc trong những năm nay. Vấn đề Dân oan và sự khiếu kiện th́ anh chàng trẻ này đă tỏ ra không biết ǵ cả, Anh chàng trẻ này chỉ kể sơ sài qua những ǵ đă nghe từ trong gia đ́nh qua các cuộc biểu t́nh tại Sài G̣n và Hà Nội thôi, v́ chuyện bưng bít của chế độ Cộng-Sản Việt nam từ xưa cho đến nay vẫn là như thế. Nhưng từ câu chuyện Dân Oan này, đă đưa chúng con qua một đề tài mà con không thể lường trước, đó là câu chuyện phát triển thành phố một cách kỳ quái, nguy hiểm, và mang tính cách thâm độc có chủ đích của Đảng Cộng sản Việt Nam.
''... Cái mốc của những sự giành đất để cắm dùi nó đă được phát động từ cuối năm 1975, với mục đích làm thay đổi số lượng dân thành phố để dễ dàng kiểm soát. Tất cả những sự kê khai dân số đă cho thấy sự thay đổi khủng khiếp này trên những đô thị và những tỉnh thành lớn của toàn Miền Nam Việt Nam. Từ những hành động chiếm những địa ốc để xây dựng các cơ quan của nhà nước, thành lập các HợpTác Xă, các cửa hàng thương mại, cửa hàng ăn uống, cửa hàng lương thực với mục tiêu chiếm chổ, chiếm đất và đẩy lùi dân bản xứ vào những vùng xa xôi hẻo lánh với danh xưng vùng Kinh Tế Mới v.v... Nhưng sau khi đă thực hiện xong chiến dịch lùa dân từ các thành thị và các tỉnh lỵ đi vào để thành lập các vùng kinh tế mới, cùng phong trào Thanh Niên Xung Phong để gom lại và để kiểm soát số lượng thanh niên mà chế độ Cộng sản cho rằng đây là thành phần nguy hiểm c̣n lại của "Ngụy"; th́ liền sau đó, chế độ Cộng Sản Việt Nam đă thực hiện ngay bước tiến lấy đất của những nhà nông nơi miền đồng bằng Nam Bộ. Nhưng mai mắn hơn cho dân quê nơi Miền Nam, v́ bài học Cải Cách Ruộng Đất đă làm rúng động vào tâm khảm của người dân Miền Bắc và đă đi vào lịch sử của dân tộc Việt một vết nhơ tận cùng của chế độ. Do đó, lần này chế độ Cộng Sản Việt Nam đă đưa ra chánh sách ''Kư Giấy Tạm Mượn'', và chính những tờ giấy này đă tố cáo sự thú tính và mang ư đồ cướp giựt đất đai của Chế Dộ Cộng Sản Việt Nam vào ngày hôm nay.
Trở lại phần người di dân tại Việt nam trong thời gian đó th́ con thấy như sau. Chế độ Cộng sản Việt Nam đă đưa một số lớn dân từ miền Bắc và miền Trung vào lập nghiệp trên Miền Nam và đă để họ tự xây cất nhà cửa trên những vùng được chỉ định, không có một chương tŕnh thiết kế đô thị nào cả?... Mục đích chỉ làm sao đẩy lùi được cư dân địa phương Miền Nam ra càng xa các đô thị và làng mạc càng tốt. Từ đó các hệ thống ao rạch và sông ng̣i chằng chịt trên mảnh đất đồng bằng về phía Nam Bộ đă từ từ bị lấp để xây nhà và tắt nghẽn.
Đất bắt đầu trở nên hiếm v́ số người di dân từ Miền Bắc và Miền Trung càng ngày càng đông, sự xâm chiếm và giành dựt bắt đầu lộ liễu. V́ không có chủ đích thành tâm trong sự phát triển về đô thị nên đă tạo nên một xă hội hổn loạn và mất vệ sinh ngay từ những giây phút định cư đầu tiên của số người di dân Việt Nam mới này.
Cuộc chiếm đất định cư này đă kéo dài cho đến hôm nay. Từ đó, đời sống có vẽ phồn thịnh lên và giá đất bắt đầu tăng dần lên. Khi đó con người từ bần cố nông đă bắt đầu có của và họ cố bám víu vào cải của trời cho này. Các hệ thống hành chánh của Chế Độ Cộng Sản cũng thế, họ đă dựa vào quyền lực và sự sợ hải của người dân trong giai đoạn đầu để tự chiếm lấy những ǵ họ có thể làm được. Sự uất nghẹn từ đó đă im ĺm bộc phát từ trong trái tim của người dân đồng bằng Nam Bộ. Rồi đến khi mở cửa cho một nền Kinh Tế Thị Trường dị hợm, th́ một số người Việt thân cộng đă trở về trước và đă mua được những căn nhà tại những thành phố và những vùng phụ cận để cho thân nhân làm ăn cùng sinh sống. Cuộc mở cửa lần này được nới rộng hơn lên v́ túi tiền của những người tị nạn Cộng Sản mà chế độ Cộng Sản đă đặt cho một cái tên là ''Khúc ruột ngàn dậm'', được phát động rầm rộ. Từ đó những ngựi dân Việt trên tứ xứ đă có dịp để trở về giúp đở Cha Mẹ, Anh Em và họ hàng đang chịu những khổ sở trong hàng chục năm qua. Những căn nhà mục nát được sửa sang trở lại, những mănh đất được mua trở lại từ những người dân quê hay chính những kẻ đă chiếm đất di dân t́m sống trong giai đoạn đầu mà con đă kể ở trên. Đồng tiền được tung ra từ nơi những người Việt viễn xứ này, đă làm ḷng tham không đáy của những kẻ bần cố nông trổi dậy. Từ đó giá đất nhà cửa đă trở thành như vàng tại Việt Nam, những mảnh đất, do chế độ Cộng Sản Việt Nam chỉ định định cư hay những mănh đất đă kư giấy tạm mượn trên mấy chục năm nay đang được tung ra mua bán trên thị trường đất đai của Việt Nam tính từ Nam chí Bắc.
Thưa Cha, đến hôm nay th́ ḷng dân đă căm phẫm đến tột cùng, tiếng nói uất nghẹn đang dâng trào ra tại Việt Nam và có phải cũng chính là lúc mà Chế Độ phi nhân Cộng Sản Việt Nam đang chuyễn những mảnh đất đă cướp từ trong tay của người dân Việt qua các chương tŕnh Cải Cách Ruộng Đất rồi những cuộc di dân vào Miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đang từ từ rơi vào trong tay của những ''Khúc Ruột Ngàn Dậm'' này hay không?...
Thư đă dài, con ngừng và kính chúc Cha được thật nhiều sức khỏe.

Con

Trần Minh Tâm / Strasbourg / France

Tâm Thư gởi đến Cha (05)- Trần Minh-Tâm

Strasbourg, ngày... tháng... năm 2007

Kính thưa Cha,


Thư trước trong lúc kể đến Cha câu chuyện về vấn đề ''Đất Đai'', mà con đă đàm thoại cùng một người bạn trẻ trong một tiệm phở vừa về thăm quê nhà trở qua. Trong lá thư đó con có viết đến vấn đề ''thiết kế đô thị'' tại Việt Nam và nó đă được tiếp tục trong hàng chục năm qua. Cho đến hôm nay th́ vấn đề thiết kế đô thị tại Việt Nam đang đi song song với chương tŕnh phát triển kinh tế và xă hội, đă làm cho con có một cái nh́n lo sợ cho tương lai của cả dân tộc Việt Nam; nhất là cho sức khỏe của những thế hệ tiếp nối sẽ đến . Bởi v́ sự suy nghĩ này, mà hôm nay con tŕnh bày ư tưởng này của chính con đến Cha để tường.

Thưa Cha, tấm h́nh ở trên mà con đang kèm theo thư đă chứng minh rằng dân chúng tại Việt Nam đang sống với sinh trùng và những bệnh hoạn giết người trong giây lát. Đúng như anh bạn trẻ mà con gặp trong tiệm phở đă nói ''...nước sông ng̣i th́ đen kịt và sự bẩn thĩu đă làm cho không khí có một mùi nồng nặc khó thở. Vậy mà anh ơi!... dân ḿnh vẫn chịu đựng sống như vậy qua hàng chục năm, cho đến hôm nay vẫn c̣n như thế....'' Rồi tuần trước có một người đàn bà cũng vừa về Việt Nam trở qua, đi chợ và kể cho con nghe những chuyện làm ḷng con băn khoăn không it. Bà ấy nói như sau ''...Anh à!... Lúc này ở Việt Nam ḿnh chết trẻ không hà, không biết tại sao nữa?...'' Nhân câu chuyện c̣n đang tiếp tục con hỏi thêm để lấy thêm những dữ kiện về vấn đề sông, rạch xung quanh Sài G̣n ''... ''...Thưa Chị, tôi nghe rất nhiền người nói rằng những con sông và những con rạch xung quanh Sài G̣n gần như đă bị nhiễm trùng rất nặng, phải không?...'' và chị ấy trả lời cho con như sau ''... Đúng rồi đó anh, nước sông đen thui và rất là hôi. Vậy mà người dân ḿnh hít thở để mà sống. Đi ngang Cầu Bông tôi không thể thở được!...''.
Đó là những dữ kiện mà con có được từ những người quen biết xung quanh tỉnh Strasbourg này. Có thêm một dữ kiện trong gia đ́nh đưa về, là đầu năm 2007 Chú Út cùng vợ đi về thăm Má vợ, khi trở về có ghé thăm con và kể vùng đất của Ngoại cho con nghe. Cái vùng đất nhà quê nằm kế cận Sài G̣n, hiền lành dễ thương mà con thường cuối tuần chạy xe đạp về đó để mà chạy giởn trên những cánh đồng, hay đi bắt cá, ăn cắp mía v.v.. Vùng đất B́nh Triệu nằm trước nhà thờ Fatima. Thưa Cha nghe Chú Út nó kể mà con lạnh người, tất cả những kinh rạch ở nơi đó bây giờ nước ''Đen ng̣m...''. Bởi v́ nhà cửa mọc lên như nấm và cắt đứt từng đoạn những con rạch, con kinh hay ao hồ đă có nơi vùng đất B́nh Triệu này. Từ đó nước không có đường thoát, đọng vũng lâu ngày rồi trở nên đen và bốc mùi hôi. Trong giai đoạn đầu khi những người di dân được quyền cho phép lấp kinh lấp rạch để cất nhà, th́ họ đă không thể nào lấp hết một đoạn kinh hay một đoạn rạch, do đó những con rạch hay con kinh bị cắt đứt từng khoảng. Những khoảng kinh rạch bị cắt đứt này, trong những ngày đầu th́ nước c̣n trong xanh nên thấy đẹp mắt, nhưng về lâu th́ bắt đầu nước thâm đen v́ chất phèn và do sự ứ động lâu ngày. Thêm nữa nước mưa hàng năm đă làm những vũng nước ứ động này không thể khô đi, dù nơi đó không có một mạch nước nào có thể ăn thông.
Rồi con hỏi về mảnh đất của Ngoại và cái ao cá ở trước nhà, bắt Chú Út nó kể rỏ cho con nghe mảnh đất hiện tại của Ngoại bây giờ ra sao?... Th́ Chú Út trả lời cho con như sau: ''...Anh biết đó từ lúc vùng đất B́nh Triệu này bán được giá, th́ Cậu Út cũng đă lấp tất cả để xây nhà rồi. Những con rạch bị nghẽn nước đen thui, hôi thúi đầy xung quanh nhà. Vùng đất ngày xưa Ngoại trồng bưởi, có rất nhiều con mương nước chảy ṿng quanh, nay bị tắt nghẽn nước đen luôn. Nước lấy từ con rạch chảy vào từ sông lớn, rồi đem vào chứa trong cái ao trước nhà. Từ đó mới đem vào trong vườn, chảy qua tất cả các mương ăn luồn trong mảnh vườn của Ngoại. Giờ đây, cái ao nguồn mạch nước chính đă bị lấp, th́ nước phải bị đen và hôi là điều dễ hiểu thôi...''
Từ đó, th́ tất cả những vùng đất nơi vùng B́nh Triệu đều giống nhau, ''Bán Đất Cất Nhà rồi Bán Nhà'', đời sống kinh tế của những gia đ́nh nông dân bỗng dưng t́m được một lối thoát ''dễ thở'' cho cuộc sống hiện tại. Không c̣n bị ràng buộc vào những sự ḍm ngó của các cán bộ cộng-sản, không c̣n sợ cái danh xưng ''tiểu điền chủ'' bám vào gia đ́nh và con cháu ḿnh, lại có được tiền. Vậy th́ lấy tiền, đi chổ khác làm ăn, bỏ làng xóm, bỏ nơi chôn nhau cắt rún, bỏ cái lư lịch ''tiểu tư sản'' để cho những người mới muốn làm ǵ th́ làm. Đất ruộng là đất nước, đất của kinh rạch, của ao và mương. Lấy nó cất nhà th́ phải lấp cho hết, lấp không hết th́ phải làm đường thoát nước, không có đường thoát nước th́ chúng ta làm ''vũng nuôi muỗi'' chớ sao?... Thưa Cha, viết đến đây con thật sự lạnh người khi nghĩ đến những con vi trùng giết người, ''không có thuốc chữa'', đang tràn lan trên đất nước Việt Nam. Những con vi trùng của bịnh AIDS, binh CÚM GIA CẦM, bịnh SỐT XUẤT HUYẾT, bịnh UNG THƯ, bịnh Heo Ḅ Lở Ṃm Long Móng v.v... đang bao trùm tất cả. Thời tiết càng ngay càng tăng độ nóng dần, sự ẩm thấp cũa miền nhiệt đới sẽ là cái ổ cho sự sinh sôi này và 84 triệu người dân Việt có đủ thuốc để trị liệu kịp thời hay không?...
Thưa Cha, đối với sự suy nghĩ của con thi chắc chắn là không!... Con nhớ vào những năm 1982 cho đến 1988, nước Việt Nam đă bị rơi vào t́nh trạng gần như kiệt quệ về tài chánh và dân miền Nam Việt Nam đă rơi vào khoảng thời gian ''đói khổ'' tột cùng. Lúc đó tại nơi đây con đă cùng với các hội đoàn bạn làm những cuộc vận động để cộng đồng hải ngoại nơi đây ''góp máu và nước mắt'' nuôi sống cho chính gia đ́nh họ và từ đó kéo sự sống c̣n cho dân tộc Việt Nam nói chung và cho dân miền Nam nói riêng. Tiền có thể mua được thực phẩm để cho tạm đói ḷng, nhưng tiền sẽ không mua được ''cái mạng của những con vi trùng'' khi cả thế giới chưa có t́m ra được ''loại thuốc chủng ngừa bệnh dịch''... Vậy th́ khi bệnh dịch phát lên trên đất nước Việt Nam, th́ 84 triệu dân sẽ phải ra sao?... Thưa Cha ḷng con nặng trĩu, mắt con hoa lên, và con muốn khóc!...

Con xin ngừng tại dây, Cha thông cảm cho con. Bức thư bị cắt ngang, nhưng con không thể viết thêm được nữa. Hôn Cha, và kính chúc Cha, Mẹ được thật nhiều sức khỏe.
Con của Cha
Trần Minh Tâm / Strasbourg

Thư trả lời Cha 6

Strasbourg, ngày 2 tháng 12 năm 2007

Kính thưa Cha,
Từ tháng trước cho đến hôm nay, con đă liên lạc bằng thư tín về thăm gia đ́nh và bạn hữu, để hỏi thăm một vài việc, mà hiện tại đang làm xao động đời sống của người dân Việt Nam. Sự liên lạc này, được con viết về bên nhà, như là viết một bức thư thăm hỏi b́nh thường, thăm hỏi về gia cảnh, kinh tế và sức khỏe của từng gia đ́nh. Dựa trên tinh thần của một người Việt kiều, muốn về Việt Nam để dự trù một ''công việc làm ăn''. Từng người, con bàn thảo từng vấn đề ''phát triển và hội nhập'', cho mỗi công việc, từ nông nghiệp, ngư nghiệp cho đến công nghiệp và cả những h́nh thức buôn bán lẻ của người dân Việt Nam từ Nam chí Bắc. (Phần này con không nhận được sự trả lời chính xác. Nhưng qua những dữ kiện thông tin trên báo chí và truyền thông, con đă nắm vững được nhiều cho mỗi công việc mà con đă dự trù). Hôm nay, con viết thư này, gởi đến Cha để tŕnh bày và cùng hỏi ư kiến nơi Cha trên các vấn đề mà con kể sau đây, để xin Cha giúp đở và cho ư kiến:
Thưa Cha, con sẽ tŕnh bày với Cha từng dữ kiện của từng vấn đề và kết luận trên từng vấn đề để Cha nh́n thầy được mẫu số chung của việc làm này. Mong Cha cho con ư kiến thực tiển nhất cho mẫu số chung trên từng chủ đề mà con dự trù thực hiện. Đầu tiên con sẽ bắt đầu bằng những sự kiện về các vấn nạn của người dân ''khiếu kiện đất đaI'':
Dân khiếu kiện đất đai (vấn đề xă hội)
Theo những tin tức từ quê nhà và trên báo chí cùng truyền thông, th́ số lượng dân chúng (những người thuộc vào diện khiếu kiện đất đai, có được vào khoảng 1% dân số, tính cả gia đ́nh vào đó). nhiều nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long Nam bộ. Rồi đến miền Bắc và miền Trung (riêng miền Trung th́ số lượng rất ít, so với dân khiếu kiện về vấn đề đất đai của miền Nam và miền Bắc).
Vậy muốn giúp được vấn nạn này, có thể giải quyết được một cách rỏ ràng và minh bạch, th́ cần phải có được ''một nhóm luật sư'' và những người luật sư này cần có được một sự chấp nhận nào đó, cho phép sinh hoạt, để có thể bênh vực cho những người dân khốn cùng này. Nhưng với một chế độ độc Đảng và Đảng trị hiện tại ở Việt-Nam, th́ phải làm sao người dân trong nước có thể thành lập một nhóm ''luật sư'' cho vấn đề này, trên danh chánh ngôn thuận?...
Thưa Cha, gần như con có được trên 80% ư kiến, của bạn bè từ trong nước trả lời rằng ''cần phài có một công đoàn độc lập'' và nhóm người luật sự này sẽ là một bộ phận và được sự hổ trợ của chính công đoàn này. Bởi v́, hiện tại tâm trạng của những người dân khiếu kiện về đất đai, chỉ c̣n một niềm tin duy nhất vào các ''luật sư' ngay tại trong nước. Đối với họ, chỉ có những người ''luật sư'' này mới có thể giúp họ đặt tiếng nói với độc quyền Cộng Sản Việt-Nam!...

Nông dân, Ngư dân và đời sống.
Riêng về nông dân, hiện tại th́ hai miền Nam, Bắc Việt-Nam có hai cách thức làm ruộng khác nhau. Ngoài miền Bắc, th́ đă có chiều hướng có rất nhiều tỉnh, các người nông dân đă tự kết hợp ruộng cá nhân lại với nhau, mà làm thành các cánh đồng lớn để sử dụng cơ giới về nông nghiệp. Nhưng ngược lại trong Nam,th́ v́ đất đai vẫn c̣n rộng, nên chương tŕnh ''tổ hợp lại, những cánh đồng nhỏ'' để nâng diện tích ruộng trồng lúa, cho dễ dàng xử dụng cơ giới, chưa thực hiện được.
Nhưng!... có một điểm chung cho những người làm ruộng từ Nam chí Bắc, là có dưới 20% người làm nghề nông đă có thể đóng tiền cho An Ninh Xă Hội. Vậy th́ chuyện ước mơ có được một số tiền hưu bổng cho tuổi già, đây là một chuyện trong ước mơ, không thể thực hiện. Do đó, tính ra đời sống của người nông dân từ Nam chí Bắc, vẫn c̣n lạc hậu và chưa thoát ra khỏi cảnh lo sống từng ngày. Như thế, muốn cho cái mơ ước về vấn đề ''hưu bổng'' cho khối nhà nông tại Việt Nam, th́ cũng phải cần đến một ''nhóm luật sư'', hiểu biết về vấn đề chi thu của ngành nông nghiệp. Giải thích cho những người nông dân, hiểu được sự thiếu thốn của họ đến từ đâu và tại sao họ không đủ sống; mặc dầu họ đă làm việc cả cuộc đời như thế.
Về ngư nghiệp, th́ có phần ổn định hơn, v́ có chính quyền từng địa phương tham dự vào trong sự phát triển ngành ngư nghiệp. Nhưng đời sống của ngư dân vẫn c̣n rất nghèo khó. Phần đông không biết lúc về già lấy ǵ mà sống. Phần đông cuộc sống vẫn c̣n duy tŕ theo phong tục xưa, là lúc về già th́ về ở với con cái, không có được một chánh sách hưu bổng nào cả?... Hiện tại, bạo quyền Cộng Sản Việt Nam có đưa ra một chánh sách là tất cả thành phần lao động sẽ được hưởng hưu bổng (vấn đề này được biết như sau: ''người lao động phải đóng bắt buộc 15% sự thu nhập hàng tháng và phải đóng ít nhất từ 20 năm trở lên)''.
Trong khi, đời sống của người nông dân và ngư dân c̣n phải kiếm ăn từng ngày, không đủ tiền đóng An Sinh Xă Hội. Th́ lấy đâu ra 15% sự thu nhập hàng tháng này?... Đây là một điều không tưởng. Vậy, để đối đầu với vấn nạn này, th́ cũng cần phải có ''một nhóm luật sư', để giải thích và hướng dẫn tại sao lại có những khó khăn và thiếu thốn lại đến với ngành ngư nghiệp. Từ đó hướng dẫn và đối thoại với bạo quyền Cộng Sản Việt-nam.

T́nh trạng những công nhân làm việc cho những công ty ngoại quốc.
Theo những tin tức gần nhất, th́ mức lương hàng tháng của người công nhân Việt-Nam, làm việc trong những công ty của ngoại quốc, được lănh từ 700 000 đồng Việt-Nam cho đến 900 000 đồng Việt Nam hiện tại. Với mức lương này th́ hơn 1/2 những gia đ́nh ở trong diện công nhân này, đă có một đời sống vừa đủ ăn. Do vậy, t́nh trạng dư ra để sắm sửa những vật dụng cần thiết trong gia đ́nh rất là khó khăn, th́ lấy đâu ra tiền để đóng cho quỹ An Ninh Xă Hội, cho gia đ́nh trong những lúc gặp đau ốm. Vậy th́, khi đă không đủ tiền để đóng cho quỹ An Ninh Xă Hội, th́ giấc mơ ''có tiền hưu bổng'' không thể thực hiện được, v́ không bao giờ có được số tiền 15% phải đóng trên quy định số lương hàng tháng mà bạo quyền Cộng Sản Việt Nam đă đưa ra.
Phần đông, thanh niên và thanh nữ nơi các miền quê đă bỏ xứ, để đi lên t́m việc nơi các thành thị lớn hay đô thị đang kỹ nghệ hóa, để có tiền gởi về nuôi sống và giúp đỡ gia đ́nh đang gặp khó khăn nơi quê nhà (tin từ các thông tin, báo chí trong nước Việt-Nam). Như vậy, con đă có thêm một dữ kiện, để xác định trở lại rằng đời sống của người Nông Dân, Ngư dân và đời sống của người dân buôn bán lẻ rất là khổ sở và khó khăn. Như thế th́ vai tṛ của ''nhóm luật sư'' đứng ra đối đầu trước những dữ kiện hiện tại của đời sống, để bênh vực cho những người dân Việt trở nên rất quan trọng.

Đời sống của những ngưởi công nhân viên chức và Công An.
Thưa Cha, con đă bàn những vấn đề này với những người bạn con ở tại Việt Nam. Chúng con đă mất thời giờ, để rồi t́m được một đáp số vô ích. V́ cái đáp số này, được tạo thành bằng hai chữ ''Tham Nhũng''. Chính cái ''kinh tế thay đổi theo h́nh thức, phát triển và hội nhập nửa chừng này'', đă đưa đến t́nh trạng không thể lường được là ''Ai có thể ăn được cái ǵ th́ cứ ăn, khi cái đó ở trong tầm tay của họ''. Vậy muốn chống lại sự ''tham nhũng'', của những người khốn cùng này, th́ cũng phải cần đến ''Luật''. Mà cái ''luật'' này là tiếng nói chân thật, để bênh vực và nói lên lẽ phải thay cho tiếng nói của những người dân đang bị uất nghẹn, trong một chế độ độc tài đảng trị hiện tại của Việt-Nam. Con biết chắc rằng đây là một sự ''đối đầu'' với nguy hiểm.
Thưa Cha, con đă tŕnh bày đến Cha cái nh́n của con trên những vấn đề đă nêu trên, (dù c̣n một vấn đề, là phương tiện giao thông để di chuyển từ làng này qua làng khác hay từ tỉnh này qua tỉnh khác. Việc này, hiện tại con chỉ nắm được chút ít thôi).
Tóm lại, tất cả những vấn đề mà con muốn thực hiện được ''một chương tŕnh'' cho con đường về làm ăn trên đất nước Việt-nam (qua tinh thần Phát triển và hội nhập) này, đều cần phải có một ''nhóm Luật Sư'' can đảm và dấn thân. Chính tiếng nói này, sẽ thay thế và bênh vực cho tất cả những người dân Việt-nam trong mọi thế hệ, đang chờ đợi trong những uất ức và chiụ đựng. (Vấn đề quan trọng, mà con nh́n thấy được là chính vấn đề ''Hưu Bổng'' , như con đă tŕnh bày trên những phần đă ghi).
Con nghĩ rằng, buổi họp chợ nơi đầu Làng, sẽ tưng bừng rực rở. Khi những người dân đang sống trong khổ sở và lo âu, nghe được những tiếng nói dám bênh vực cho họ. Dám nói lên được những u uất, mà đă nhiều thế hệ phải im lặng cưu mang. Họ đă mang trên lưng từ ngày hôm qua, cho đến hôm nay và chính những người dân Việt này, cũng đă hiểu rằng nếu không thay đổi được, th́ gánh nặng này sẽ tiếp tục cho đến ngày mai.
Nhưng vấn đề ''Luật Lệ'' th́ con lại không thông hiểu, nằm ngoài sự hiểu biết trong tầm tay của con. Rồi hơn nữa, ngay trong những ngày hôm nay, khi tiếng nói của sinh viên và học sinh đồng đứng dậy, trước vấn đề của hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Th́ tiếng nói của những nhà làm lịch sữ và tiếng nói của những ''luật sư'' giờ đây thật là quan trọng. Những dẫn chứng hùng hồn, những biện luận sắc bén trên tất cả những dữ kiện nêu trên, sẽ hung đúc những trái tim đầy nhiệt huyết của cả dân tộc Việt-Nam.
Thưa Cha, đến đây con xin Cha giúp đở cho con và các bạn con một ư kiến, một con đường cho tương lai sắp tới. Con tin rằng khi tiếng nói được phát ra từ ''lương tâm'', nơi những người ''luật sư'' can đảm này, chính nó sẽ làm sống lại các buổi họp chợ nơi đầu Làng từ Nam chí Bắc.
Cuối thư, con kính chúc Cha, Mẹ được thật nhiều sức khỏe và vạn sự như ư.

Kính thư
con của Cha

Trần Minh-Tâm / Strasbourg / France

_________________
Vietnam Library Network
http://www.vietnamlibrary.net

 

lyhuonga.jpg