1lyhuonga.jpg



















1qphucdiendandongtiengif.gif








































Hành tŕnh về Phương Đông tiếp theo :

 

7

 

- Các ông cứ cho rằng ma quỷ là một thực thể nào đó khác hẳn loài người, thật ra phần lớn chúng là những vong linh sống ở cảnh giới thứ bẩy, thứ sáu mà thôi. Chúng c̣n lưu luyến cơi trần, c̣n say mê dục vọng không sao thoát ra khỏi cảnh giới này... Luật thiên nhiên không cho phép chúng trở lại cơi trần nhưng cũng có những trường hợp đặc biệt khiến người cơi trần trong một thoáng giây có thể nh́n thấy chúng... Khoan đă, các ông hăy xem ḱa, người bạn của tôi đă làm xong việc.

Hamoud chỉ vào góc pḥng nơi ông ta để bó len và cây kim đan áo. Mọi người bước đến gần và thấy một chiếc áo len đan bằng tay đă thành h́nh từ lúc nào không ai rơ. Chiếc áo đan tay rất vụng, không khéo léo nhưng trên ngực có thêu tên giáo sư Mortimer. Vị pháp sư giải thích:

- Con Ma này rất nghịch và thường quanh quẩn ở đây, tôi yêu cầu hắn đan chiếc áo len cho các ông để làm bằng chứng. Để tránh việc các ông cho rằng tôi đă làm tṛ ảo thuật, tráo vào đó một chiếc áo len khác, tôi yêu cầu hắn thêu tên người nào trong phái đoàn có nhiều nghi ngờ nhất. Các ông đều biết rằng từ khi gặp gỡ tôi không hề hỏi tên các ông và nếu chiếc áo này không đan riêng cho các ông th́ c̣n ai nữa?

Quả thế, vị pháp sư gầy g̣ không thể mặc chiếc áo đan to tướng, rất vừa vặn cho giáo sư Mortimer, một người Âu mà kích thước đă rất ư quá khổ so với những người Âu khác, đó là chưa kể ṿng bụng khổng lồ rất hiếm có của ông này. Hơn nữa, áo này cũng không thể may sẵn để bán v́ đường kim, mũi chỉ rất ư vụng về nếu có bán cũng chả ai mua. Tại nơi hoang vu, không có ai ngoài vị Pháp sư và phái đoàn sự kiện này quả thật rất lạ lùng.

Giáo sư Evans - Wentz thắc mắc:

- Như vậy ông có thể sai khiến ma quỷ hay sao?

- Tôi không phải là một phù thủy, lợi dụng quyền năng cho tư lợi mà chỉ là một người có rất nhiều bạn hữu vô h́nh bên cơi âm. Tôi hiểu rơ các luật thiên nhiên như Luân Hồi, Nhân Quả và hậu quả việc thờ cúng ma quỷ để mưu cầu một cái ǵ.

Tôi chỉ là một khoa học gia nghiên cứu cơi vô h́nh một cách đứng đắn. Sự nghiên cứu những hiện tượng siêu h́nh là một khoa học hết sức đứng đắn chứ không phải mê tín dị đoan. Nhiều người thường tỏ ư chê cười khi nói đến vấn đề ma quỷ nên những ai có gặp ma cũng chả dám nói v́ sợ bị chê cười hay cho là loạn trí. Nếu người nào không tin hăy nghiên cứu và chứng minh một cách khoa học rằng ma quỷ chỉ là những giả thuyết tưởng tượng, c̣n như phủ nhận không dám chứng minh chỉ là một cái cớ che dấu sự sợ hăi. Điều khoa học chưa chứng minh được không có nghĩa điều này không có thật, v́ một ngày nào đó khoa học sẽ tiến đến mức mà họ có thể chứng minh. Những phương pháp thông thường như cầu cơ, đồng cốt thường gặp nhiều sai lầm v́ như tôi đă tŕnh bày, các vong linh nhập vào phần lớn cũng có các kiến thức giới hạn ở cảnh giới nào đó. Đôi khi họ cũng trích dẫn vài câu trong “Thánh Kinh” hoặc sách vở, kinh điển để nâng cao giá trị lời nói, điều này có khác nào những nhà chính trị khi diễn thuyết. Phương pháp khoa học chính xác nhất là phải tự ḿnh qua hẳn thế giới đó nghiên cứu.

Các ông nên biết thân thể chúng ta không phải môi trường duy nhất của linh hồn và giác quan của nó cũng không phải phương tiện duy nhất để nghiên cứu ngoại cảnh.

Nếu ta chấp nhận rằng vũ trụ có nhiều cơi giới khác nhau và mỗi thể con người tương ứng với một cơi th́ ta thấy ngay rằng thể xác cấu tạo bằng nguyên tử cơi trần nên chỉ giới hạn trong cơi này được thôi. Các thể khác cũng có giác quan riêng của nó và khi giác quan thể Vía được khai mở ta có thể quan sát các cơi giới vô h́nh dễ dàng. Khi từ trần, thể xác tiêu hao, các giác quan không c̣n sử dụng được nữa th́ linh hồn sẽ tập phát triển các giác quan thể Vía ngay. Nếu biết cách khai mở các giác quan này khi c̣n sống, ta có thể nh́n thấy cơi âm một cách dễ dàng.

Giáo sư Allen ngập ngừng:

- Nhưng có một quan niệm lại cho rằng sau khi chết linh hồn sẽ lên Thiên Đàng hay xuống địa ngục vĩnh viễn, điều này ra sao?

Hamoud lắc đầu:

- Đó là một quan niệm không hợp lư v́ điều này cho rằng khi chết linh hồn sẽ đổi thay toàn diện: Sau khi chết, linh hồn sẽ mất hết tính xấu để trở nên toàn thiện, trở nên một vị thiên thần vào cơi thiên đàng hoặc là linh hồn có thể mất hết các tính tốt để trở nên xấu xa, trở nên một thứ ma quỷ bị đẩy vào địa ngục. Điều này vô lư v́ sự tiến hóa phải từ từ chứ không thể đột ngột được, trên thế gian này không ai toàn thiện hay toàn ác. Trong mỗi chúng ta đều có các chủng tử xấu, tốt do các duyên, nghiệp từ tiền kiếp để lại. Tùy theo điều kiện bên ngoài mà những chủng tử này nẩy mầm, phát triển hay thui chột, không thể phát triển. Một người tu thân là một người biết ḿnh, lo vun xới tinh thần để các nhân tốt phát triển giống như một người làm vườn lo trồng hoa và nhổ đi cỏ dại.

Thực ra khi sống và chết, con người không thay đổi bao nhiêu. Nếu khi sống họ ăn tham th́ khi chết họ vẫn tham ăn, chỉ có khác ở chỗ điều này sẽ không c̣n được thỏa măn v́ thể xác đă hư thối, tan ră mất rồi. Sau khi chết, t́m về nhà thấy con cháu ăn uống linh đ́nh mà họ th́ không sao ăn được, ḷng ham muốn gia tăng cực độ như lửa đốt gan, đốt ruột, đau khổ không sao tả được.

- Như ông đă nói loài ma đói thường rung động theo không khí quanh đó như thế họ có thỏa măn không?

- Khi người sống ăn ngon có các tư tưởng khoái lạc th́ loài ma đói xúm quanh cũng t́m cách rung động theo tư tưởng đó nhưng không làm sao thỏa măn cho được. Điều này ví như khi đói, nghĩ đến món ăn ngon ta thấy khoan khoái, ứa nước bọt nhưng điều này đâu có thỏa măn nhu cầu bao tử đâu. Các loại ma hung dữ, khát máu thường tụ tập nơi mổ xẻ súc vật, ḷ sát sinh để rung động theo những không khí thô bạo ở đó. Những người giết súc vật trong nhà vô t́nh mời gọi các vong linh này đến, sự có mặt của chúng nó có thể gây nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là cho những người dễ thụ cảm.

- Đa số mọi người đều cho rằng ma quỷ thường xuất hiện ở nghĩa địa, điều này ra sao?

- Sự hiện h́nh ở nghĩa địa chỉ là h́nh thể của thể Phách đang tan ră chứ không phải ma quỷ, vong linh. Khi ta chết, thể xác hư thối th́ thể phách vốn là thể trung gian giữa thể xác và thể vía cũng tan ră theo. Thể phách được cấu tạo bằng những nguyên tử tương đồng với nguyên tử cơi trần nhưng trong đó có nhiều nguyên tử Dĩ Thái nên nhẹ hơn, nó thu thập các sinh lực c̣n rơi rớt trong thể xác để cố gắng kéo dài sự sống thêm một thời gian nữa, v́ đang tan ră nên thể Phách không hoàn toàn, do đó, đôi khi ta thấy trên nghĩa địa có những h́nh ảnh người cụt đầu, cụt chân, bay là là trên các nấm mồ. Người không hiểu gọi đó là ma.

Theo sự hiểu biết của tôi th́ việc Thiêu xác tốt đẹp hơn việc chôn cất v́ để thể xác tan ră từ từ làm cho linh hồn đau khổ không ít và thường ở trong một giai đoạn hôn mê, bất động một thời gian rất lâu. Thiêu xác khiến vong linh thấy ḿnh không c̣n ǵ quyến luyến nữa nên siêu thoát nhanh hơn nhiều.

- Ma quỷ thường thuộc thành phần ǵ trong xă hội?

- Chúng thuộc đủ mọi thành phần, tùy theo dục vọng khi c̣n sống. Người chết bất đắc kỳ tử thường lưu lại cơi âm lâu hơn người chết già v́ c̣n nhiều ham muốn hơn. Những kẻ sát nhân bị hành quyết vẫn sống trong cảnh tù tội, giận hờn và xó ư định trả thù. Một người tự tử để trốn nợ đời cũng thế, y sẽ hôn mê trong trạng thái khổ sở lúc tự tử rất lâu. Định luật cơi âm xác nhận rằng: Chính cái dục vọng của ta quyết định cảnh giới ta sẽ đến và lưu lại ở đó lâu hay mau.

- Số phận của những người quân nhân tử trận th́ ra sao?

- Họ cũng không ra ngoài luật lệ đó, tùy theo dục vọng từng cá nhân. Tuy nhiên, người hy sinh tính mạng cho một lư tưởng có một tương lai tốt đẹp hơn v́ cái chết cao đẹp là một bức thang lớn trong cuộc tíen hóa. Họ đă quên ḿnh để chết và sống cho lư tưởng th́ cái chết đó có khác nào những vị Thánh tử đạo. Dĩ nhiên không phải quân nhân nào cũng sống cho lư tưởng và những kẻ giết chóc oán thù và chết trong oán thù lại khác hẳn.

- Như ông nói th́ người chết vẫn thấy người sống?

- Thật ra phải nói như thế này, khi chết các giác quan thể xác đều không sử dụng được nữa nhưng người chết vẫn theo dơi mọi sự dễ dàng v́ các giác quan thể vía. Không những thế họ c̣n biết rất rơ tư tưởng, t́nh cảm liên hệ là đằng khác mặc dù họ không c̣n nghe thấy, nh́n thấy như chúng ta. Nhờ đọc được tư tưởng họ vẫn hiểu điều chúng ta muốn diễn tả.

- Như vậy th́ họ ở gần hay ở xa chúng ta?

- Khi mới từ trần, người chết luôn quanh quẩn bên gia đ́nh, bên những người thân nhưng theo thời gian, khi ư thức hoàn cảnh mới họ sẽ tách rời các ràng buộc gia đ́nh để sống hẳn ở cơi giới của họ.

- Như thế có cách nào người sống tiếp xúc được với thân nhân quá cố không?

- Điều này không có ǵ khó, hăy nghĩ đến họ trong giấc ngủ. Thật ra nếu hiểu biết th́ ta không nên quấy rầy, v́ làm thế chỉ gây trở ngại cho sự siêu thoát.

Sự chết là bước vào một đời sống mới, các sinh lực từ trước vẫn hướng ra ngoài th́ nay quay vào trong, linh hồn từ từ rút khỏi thể xác bằng một bí huyệt trên đỉnh đầu. Do đó, hai chân từ từ lạnh dần rồi đến tay và sau cùng là trái tim. Lúc này người chết thấy rất an tĩnh, nhẹ nhàng không c̣n bị ảnh hưởng vật chất. Khi linh hồn rút lên óc, nó sẽ khơi động các kư ức, cả cuộc đời sẽ diễn lại như cuốn phim. Hiện tượng này gọi là “Hồi quang phản chiếu” (Memory Projection) đây là một giây phút hết sức quan trọng v́ nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cơi bên kia. Sợi dây từ điện liên hệ giữa thể xác và thể Phách sẽ đứt hẳn. Đây là lúc người chết hoàn toàn hôn mê, vô ư thức để linh hồn rút khỏi thể Phách và thể Vía bắt đầu lo bảo vệ sự sống của nó bằng cách xếp lại từng lớp nguyên tử, lớp nặng bọc ngoài và lớp thanh nhẹ ở trong. Sự thu xếp này ấn định cơi giới nào vong linh sẽ đến.

- Ông du hành sang cơi âm thế nào?

- Nói như thế không đúng lắm v́ ám chỉ một sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Các cơi thật ra ở cùng một nơi chỉ khác nhau ở chiều không gian và thời gian (Time, Space dimension). Sang cơi âm là sự chuyển tâm thức, sử dụng giác quan thể Vía để nhận thức chứ không phải đi đến một nơi nào hết. Sở dĩ cơi trần không thấy cơi âm v́ nguyên tử cấu tạo nó quá nặng nề, rung động quá chậm không thể đáp ứng với sự rung động nhanh của cơi âm. Quan niệm về không gian cũng khác v́ đây là cơi tư tưởng, nghĩ đến đâu là ta đến đó liền, muốn gặp ai chỉ cần giữ h́nh ảnh người đó trong tư tưởng ta sẽ gặp người đó ngay. Khi di chuyển ta có cảm giác như lướt trôi, bay bổng v́ không c̣n đi bằng hai chân như thể xác.

Những người chết nhận thức về đời sống mới ra sao?

- Trừ những kẻ cực kỳ hung dữ, ghê gớm đa số mọi người thức tỉnh trong cảng giới thứ năm hoặc thứ sáu vốn có rung động không khác cơi trần là bao. Lúc đầu họ c̣n bỡ ngỡ, hoang mang nhưng sau sẽ quen đi. Tùy theo t́nh cảm, dục vọng mà họ hành động. Tôi đă gặp vong linh của một Thương gia giàu có, ông này cứ quanh quẩn trong ngôi nhà cũ nhiều năm, ông cho tôi biết rằng ông rất cô đơn và đau khổ. Ông không có bạn và cũng chả cần ai, ông trở về căn nhà để sống với kỷ niệm xưa nhưng ông buồn v́ vợ con ông vẫn c̣n đó nhưng chả ai để ư đến ông. Họ tin rằng ông đă lên Thiên Đàng v́ họ đă bỏ ra những số tiền, tổ chức các nghi lễ tôn giáo rất lớn, một tu sĩ đă xác nhận thế nào ông cũng được lên Thiên Đàng. Tôi khuyên ông ta nên cởi bỏ các quyến luyến để siêu thoát nhưng ông ta từ chối. Một vài người thân đă qua đời cũng đến t́m gặp nhưng ông cũng không nghe họ. Có lẽ ông ta sẽ c̣n ở đó một thời gian lâu cho đến khi các lưu luyến phai nhạt hết. Tôi đă gặp những vong linh quanh quẩn bên cạnh cơ sở mà họ gây dựng nên, họ vô cùng đau khổ và tức giận v́ không c̣n ảnh hưởng được ǵ, họ rất khổ sở khi người nối nghiệp, con cháu có quyết định sai lầm, tiêu phá cơ nghiệp.

Tôi đă gặp những người chôn cất của cải, phập phồng lo sợ có kẻ t́m ra, họ vẫn quanh quẩn gần đó và đôi khi t́m cách hiện về dọa nạt những người bén mảng đến gần nơi chôn dấu. Vong linh ghen tuông c̣n khổ sở hơn nữa, họ không muốn người họ yêu mến chia sẻ t́nh yêu với kẻ khác. Đôi khi họ điên lên khi chứng kiến sự âu yếm của người họ yêu mến và người khác. Dĩ nhiên họ không thể làm ǵ được nên vô cùng khổ sở. Những nhà lănh đạo, những vua chúa, những người hống hách quyền uy th́ cảm thấy bất lực khi không c̣n ảnh hưởng ǵ được nữa, họ hết sức đau khổ.

Đôi lúc tư tưởng oán hờn có thể tạo nên những h́nh tư tưởng có sự sống riêng biệt và có tác dụng mạnh mẽ ở cơi vô h́nh. Cách đây vài năm, một người bạn ở Calcutta cho tôi biết có một con dao cán ngà rất đẹp mà hễ ai cầm lên cũng có ư định giết người. Tôi bèn t́m đến và cầm thử th́ quả nhiên trong người bị kích động lạ thường. Nhờ đă mở giác quan thể Vía nên tôi thấy một vong linh hung tợn đang giận dữ v́ tôi chống lại y, nhờ các bạn bè cơi âm tôi tiếp xúc được với tư tưởng vong linh đó: Vợ y đă ngoại t́nh với người bạn thân nên y sử dụng con dao này đâm chết cả hai. Sau đó y c̣n đâm chết hai người em vợ và bị một người khác dùng chính con dao đó đâm chết y. Sau khi chết, ḷng oán hận khôn nguôi nên y quanh quẩn bên con dao này và ảnh hưởng đến bất cứ ai sử dụng nó. Nhiều người đă bị y xúi dục giết người, y rất thành công cho đến khi gặp tôi. Phải mất một thời gian lâu tôi mới thuyết phục được y, tôi bèn bẻ gẫy con dao đó đem chôn.

Một trường hợp khác tôi gặp một vong linh say rượu bị xe đụng chết. Y rất oán hận nên cứ vẩn vơ nơi ngă tư đường, hướng dẫn những người lái xe cho họ gặp tai nạn. Rất nhiều người bị chết ở đó. Tôi mất nhiều thời gian khuyên giải nên y mới bỏ đi nơi khác. Dĩ nhiên, sớm muộn ǵ các vong linh cũng tỉnh ngộ nhưng việc làm của y là nhưng nguyên nhân xấu sẽ tạo những nghiệp quả mà y sẽ phải trả v́ ở bất cứ cơi nào, luật thiên nhiên cũng không thay đổi.

Trong một trường hợp khác, có hai người bạn rất thân thiết nhưng cùng yêu một cô gái. Để chiếm đoạt cô này, một người đă âm mưu khiến bạn ḿnh bị t́nh nghi có dính dáng vào một tổ chức chính trị, anh này bị bắt và bị thủ tiêu. Người kia chinh phục cô gái nhưng không thành công và ít lâu sau cô này lấy chồng khác. Anh đau khổ bèn tự tử. Thế là cả hai người bạn đều sang cơi bên kia nhưng người bị thủ tiêu không biết ḿnh là nạn nhân của bạn, vẫn mến bạn nên đi t́m gặp. Trái lại, anh kia lúc nào cũng bị lương tâm dằn vặt, thường trốn tránh, ẩn náu. Sự t́m gặp này kéo dài rất lâu khiến người bạn tội lỗi lúc nào cũng đau khổ, hối hận.

Hamoud lắc đầu:

- Các ông nên biết, ở cơi trần có thể trốn tránh được chứ ở cơi âm làm sao trốn đi đâu? Đây là cơi của tư tưởng chỉ cần nghĩ đến nhau là đă gặp nhau rồi...

Mọi người im lặng, cảm thấy thấm thía điều vị pháp sư Ai Cập diễn tả. Giáo sư Mortimer lên tiếng:

- Xin ông giải thích thêm về h́nh tư tưởng...

- Khi ta phát ra một tư tưởng th́ ở cơi trung giới một h́nh tư tưởng được tạo ra. Nếu tư tưởng đó có tính cách cá nhân th́ chúng bay vơ vẩn quanh ta, dĩ nhiên khi c̣n sống, ta không ư thức điều này nhưng khi ta chết ta thấy nó rơ ràng. Nhờ thế ta có thể biết tư tưởng của ḿnh tốt đẹp hay xấu xa. Cũng như thế, khi ghen ghét oán hận ai, ta cũng tạo các h́nh tư tưởng bao quanh người đó. V́ khả năng tập trung tư tưởng của con người rất yếu nên h́nh tư tưởng cũng chỉ phất phơ rồi tan biến, không để lại dấu vết. Tuy nhiên, khi đă có thành kiến với ai, ta tạo nên một h́nh tư tưởng có thể sống lâu hơn và tư tưởng này bao quanh kẻ đó. Luật thiên nhiên đă định “Đồng thanh tương ứng” nghĩa là tư tưởng chỉ có tác dụng khi đối tượng có rung động tương tự. Một kẻ xấu xa sẽ trở nên xấu xa hơn, nhưng tư tưởng xấu không thể hại người lương thiện. Do đó, vấn đề kiểm soát tư tưởng, tránh các thành kiến là một vấn đề quan trọng v́ ta có trách nhiệm với tư tưởng của ḿnh.

Tôi đă gặp một thiếu nữ nhan sắc diễm lệ, cô này rất kiêu căng thường quyến rủ các thanh niên háo sắc rồi phụ bạc họ. Nhiều người đă tán gia, bại sản về tay cô, có kẻ đau khổ tự tử. Các tư tưởng giận hờn, oán ghét của nhiều người cấu tạo nên một h́nh tư tưởng hết sức dữ tợn. Khi cô này vừa chết, h́nh tư tưởng này bám cô bén gót, cô càng chạy trốn, nó càng theo đến cùng. Các bạn hăy tưởng tượng một quái vật theo ḿnh như bóng với h́nh th́ sao?

Hamoud ngưng nói đưa mắt nh́n mọi người. Phái đoàn im lặng nh́n nhau, họ đă nghe nói về cơi âm nhưng chưa ai giải thích rơ rệt, khoa học và cụ thể như vị pháp sư này. Có nên tin hay không? Làm sao kiểm chứng đây? Việc chứng minh bằng chiếc áo len đă làm mọi người kinh ngạc nhưng cả một thế giới vô h́nh lại là một đề tài quá rộng răi, bao quát, vượt khỏi tầm hiểu biết của mọi người. Phải chăng đó chỉ là một sự tưởng tượng hết sức dồi dào và chu đáo? Dù cho Hamoud là một Tiến sĩ, tốt nghiệp Oxford nhưng không có nghĩa ông ta có đủ thẩm quyền để tŕnh bày sự kiện không chứng minh.

Hamoud mỉm cười như đọc tưởng mọi người:

- Nhờ khai mở các giác quan đặc biệt, tôi có thể thấy cơi vô h́nh trực tiếp mà không phải qua bất cứ trung gian nào. Thay v́ nói rằng sách vở này nói thế hoặc tài liệu kia chỉ dẫn vậy. Tôi dám quả quyết rằng điều tŕnh bày là kinh nghiệm mà tôi đă trải qua, đă nghiên cứu trong nhiều năm. Dĩ nhiên, tôi không mong các ông chấp nhận, tôi mong các ông hăy suy nghĩ cẩn thận, hăy t́m hiểu và nếu c̣n thắc mắc hăy đặt vấn đề thảo luận. Tôi mong các ông lấy tinh thần khoa học suy xét, lấy lư luận làm căn bản để cùng nhau đặt lại vấn đề. Sự nghiên cứu không thể giản dị, dễ dàng được mà c̣n rất nhiều khúc mắc, rắc rối nhưng có thế th́ mới có những thích thú...

Mọi người nh́n nhau, nhà Pháp sư này đă dám đưa một vấn đề trừu tượng như cơi siêu h́nh ra để thảo luận. Giáo sư Allen lên tiếng:

- Từ trước đến nay, người Âu không bao giờ chấp nhận sự hiện hữu của một thế giới bên kia cửa tử. Họ chỉ có thể nh́n nhận điều ông nói như một “Tin tưởng” nào thôi thay v́ một dữ kiện khoa học có thể kiểm chứng.

Vị pháp sư mỉm cười:

- Các ông gọi nó là tin tưởng cũng được, thật ra sự hiện hữu về cơi vô h́nh đă được truyền dạy từ lâu trong các giáo điều, kinh điển nhưng nó được nói đến dưới h́nh thức biểu tượng hay ư nghĩa bóng bẩy mà theo thời gian các giáo sĩ thiếu kinh nghiệm tâm linh không thể hiểu thấu đáo. Do đó, họ đă nói sai lạc đi nhiều. Dần dần, những điều này trở nên mê tín dưới ánh sáng khoa học. Đây là một điều hết sức đáng tiếc, khoa học thật ra chỉ là một phần rất nhỏ của Huyền Bí Học đă được truyền bá rộng răi mà thôi. Nếu các ông muốn có một chứng minh cụ thể cũng được, tôi sẵn sàng tiết lộ một ch́a khóa vào cơi âm. Điều tôi sắp tŕnh bầy là căn bản môn H́nh Học Ai Cập hiện đă thất truyền:

Ở cơi trần, tâm thức con người bị giới hạn bởi ba chiều không gian. Thật ra có nhiều chiều nữa mà ta không nh́n thấy. Khối óc của ta chỉ chấp nhận chiều dài, chiều ngang và chiều đứng mà thôi. Dĩ nhiên, mọi sự đi đứng, di chuyển cũng chỉ giới hạn trong ba chiều này. Nếu tôi nói có một chiều đo thứ tư thẳng góc với ba chiều này th́ các ông sẽ không thể tưởng tượng nổi. Nhưng không thấy được đâu có nghĩa là nó không hiện hữu có phải không? Muốn t́m hiểu chiều đo thứ tư này ta cần dùng đến sự so sánh. Thí dụ có một con kiến đang ḅ trên một tờ giấy phẳng. Giả thuyết rằng con kiến không thể rời khỏi tờ giấy này được nên thế giới của nó chỉ là một mặt phẳng giới hạn trong hai bề đo. Dù nó biết suy luận nó cũng không thể quan niệm được bề đo thứ ba tức là bề đứng. Từ không gian ba chiều của chúng ta, ta có thể làm nhiều điều tầm thường mà con kiến cho là một phép lạ thí dụ như ta để một hạt thóc lên tờ giấy. Con kiến không thể hiểu hạt thóc từ đâu xuất hiện v́ giới hạn trong hai bề đo của tờ giấy, nó nghĩ rằng mọi vật phải đến từ tờ giấy chứ không thể ở một cơi nào đó. Nếu con kiến muốn đi từ đầu giấy đến cuối, nó phải ḅ suốt chiều dài tấm giấy. Đối với chúng ta, v́ biết chiều đo thứ ba, ta có thể gấp tờ giấy lại để hai góc tờ giấy chạm vào nhau, con kiến chỉ cần nhúc nhích đă đi đến cuối tờ giấy. Nó không thể hiểu tại sao quăng đường dài bỗng biến mất, dĩ nhiên đối với ta việc này đâu có ǵ lạ. Vấn đề này có thể dùng để diễn tả thuật “Rút đất” của các Lạt Ma Tây Tạng. Một khi đă hiểu chiều đo thứ tư, mọi hiện tượng cơi âm đều có thể giải thích hết sức dễ dàng, khoa học.

Phái đoàn nh́n nhau thán phục vị Pháp sư Ai Cập đă diễn tả một ư niệm phức tạp bằng một thí dụ giản dị, dễ hiểu. Nhưng c̣n bề đo thứ tư?

Hamoud mỉm cười:

- Các ông đều biết đường thẳng được tạo ra bởi một điểm kéo dài theo một chiều nhất định. Nếu ta di chuyển một cái chấm khoảng 2 thước th́ ta có đường thẳng dài 2 thước. Nếu ta tiếp tục di chuyển chấm ấy một khoảng cách 2 thước nhưng thẳng góc với đường cũ cho đến khi trở về khởi điểm th́ ta sẽ có một h́nh vuông có đúng không? H́nh vuông có thể diễn tả bằng con số 2 b́nh phương theo toán học. Đây là h́nh học mặt phẳng chứ không có ǵ lạ. Nếu ta tiếp tục di chuyển theo chiều đứng, thẳng góc với h́nh vuông cũ th́ ta sẽ có một khối vuông (Cubic). Khối vuông có thể diễn tả bằng con số 2 tam thừa. Tóm lại ta có 3 h́nh: Đường thẳng, h́nh vuông và khối vuông tương ứng với số 2, 2 b́nh phương, 2 tam thừa.

H́nh học không gian ngừng ở đây, không đi xa nữa v́ ta chỉ biết có 3 chiều mà thôi, nhưng toán học cho biết có thể có 2 tứ thừa, 2 lũy thừa năm, 2 lũy thừa sáu và nhiều nữa. Các con số toán học này đều có h́nh tương ứng trên phương diện h́nh học và tương ứng với 2 lũy thừa bốn hay bề đo thứ tư là ch́a khóa vào cơi âm. Khoa H́nh học cổ của Ai Cập không những chứng minh được mà c̣n có các dụng cụ để đo lường chiều thứ tư này. Trở về h́nh học phẳng, ta sử dụng thước kẻ để đo chiều dài. Để đo h́nh vuông ta sử dụng một thước khác gọi là thước vuông v́ loại thước kẻ không thể đo góc vuông được. Cũng thế khi bước sang h́nh học không gian ta không thể dùng thước vuông v́ h́nh vuông theo định nghĩa không có bề đứng, không thể đo h́nh khối được. Nếu di chuyển h́nh khối theo chiều đo thứ tư ta sẽ có h́nh ǵ? Dĩ nhiên ta không tưởng tượng được. H́nh học Ai Cập cho biết nó là một h́nh bốn bề, có 16 góc, 32 cạnh và 24 mặt được giới hạn bởi 8 h́nh khối (H́nh khối chỉ có 6 mặt 12 cạnh và 8 góc). Ngày nào khoa học chứng minh được h́nh này là họ mở cửa vào được chiều đo thứ tư. Toán học cho biết 2 lũy thừa bốn rất dễ chứng minh và từ toán học áp dụng để xây Kim Tự Tháp, đem các tảng đá vạn cân lên cao. Môn học này đă thất truyền trong quá khứ nhưng di tích của nó vẫn được ghi khắc trên những biểu tượng tại Kim Tự Tháp đấy chứ.

Hamoud im lặng như thả hồn vào một kư ức xa xăm rồi nói tiếp:

- Khi vén màn vào chiều đo thứ tư, sự phát minh khoa học ngày nay chỉ là mảnh vụn, không đáng kể. Con người có thể du lịch khắp không gian và có quyền năng ngoài sự hiểu biết của người hiện tại. Trong thời buổi vàng son, dân Ai Cập đă đi khắp không gian, đến những giải ngân hà xa lạ nhưng tiếc thay sự giao tiếp với cơi âm của chiều đo thứ tư đem lại các hiểm nguy mà họ không biết. Chính v́ thế nền văn minh này đă sụp đổ, biến mất trên mặt địa cầu chỉ v́ thiếu một nền tảng trí tuệ sáng suốt, không biết phân biệt chân giả. Từ ngàn xưa, các bậc trưởng lăo đă nhắn nhủ rằng sự tiến bộ phải song song với trí tuệ và chỉ khi trí tuệ khai mở con người mới đủ khả năng phân biệt hư thực, xé bỏ các mê lầm của vô minh. Tiếc thay các nhà lănh đạo Ai Cập không nhận thức điều này nên mới xẩy ra những điều đáng tiếc.

- Ông muốn nói rằng dân Ai Cập đă tiến bộ như vậy sao?

- Dĩ nhiên, khoảng tám ngàn năm trước họ đă ở những xă hội hơn hẳn những xă hội tân tiến, văn minh nhất bây giờ bằng cớ là ngày nay, đă ai xây nổi Kim Tự Tháp chưa? C̣n nhiều vấn đề thần bí khác mà một ngày nào đó các ông sẽ hiểu.

Này các ông bạn, Ai Cập đă để lại những Kim Tự Tháp hùng vĩ, kiến thức vĩ đại vào mục đích ǵ? Đa số người Âu cho rằng đó là một tàng trữ thi hài những vua Pharaoh, có như vậy chăng? Tại sao triều đại Pharaoh có cả trăm vua chúa mà chỉ có vài vị cho xây Kim Tự Tháp? Nhưng người ta đâu có t́m thấy thi thể vua chúa nào trong Kim Tự Tháp đâu? Hơn nữa, trong Kim Tự Tháp làm ǵ có ám tự hay tranh ảnh nói về một cá nhân ông vua nào đâu? Chỉ có những nấm mồ đào được chôn sâu dưới đất mới có các xác ướp và tranh vẽ thôi, điều này thế nào? Tại sao các nấm mồ trong ḷng đất có khắc kư hiệu, ám tự, h́nh vẽ mà trong Kim Tự Tháp lại trống trơn? Dĩ nhiên quan niệm thông thường không thể hiểu nổi, nếu các ông hiểu chiều đo thứ tư th́ các ông sẽ không nh́n Kim Tự Tháp như một h́nh khối ba chiều.

- Ông muốn nói là nó c̣n chiều đo nữa hay sao?

- Đúng thế nhưng đó là bí mật của Kim Tự Tháp, đây không phải một vấn đề ta có thể dem ra bàn luận trong một thời gian giới hạn. Các ông đang muốn chứng minh về thế giới vô h́nh kia mà. Tôi hy vọng dẫn chứng về Toán học vừa qua sẽ giúp các ông một ch́a khóa, một căn bản mới trong tiến tŕnh nghiên cứu...

Giáo sư Evans - Wentz rụt rè:

- Nhưng chúng tôi vẫn chưa có bằng chứng nào rằng sự chết không phải là chấm dứt...

Hamoud bật cười:

- Từ bao lâu nay, chết vẫn là một điều mơ hồ, đáng sợ ám ảnh mọi người. Dù ai cũng trước sau phải chết nhưng hầu như tất cả đều cố gắng không nghĩ đến nó. Ngay cả những người già yếu, liệt giường, liệt chiếu, đầy bệnh hoạn đớn đau cũng hăi hùng khi giáp mặt tử thần. Tất cả tựu chung v́ họ không hiểu sự chết, không biết chuẩn bị, không biết đối đầu hay chấp nhận nó. Trong cuộc đời đầy rẫy vô thường, sự chết có thể đến bất cứ lúc nào, thế mà con người cứ lẫn tránh nó như khất nợ vậy. Sự hiểu biết về cơi vô h́nh giúp ta chấp nhận sự thật hiển nhiên này. Hăy đặt câu hỏi nếu sự chết là hết th́ cuộc đời có ư nghĩa ǵ? Tại sao ta lại sinh ra đời, có mặt trên trái đất này? Tại sao có sự khác biệt giữa các cá nhân dù cùng huyết thống, điều kiện sinh sống, có kẻ khôn, người dại, kẻ thông minh tuyệt đỉnh, người ngu xuẩn khù khờ? Từ chối sự chết là từ chối một sự thật tại sao ta cứ phải trốn tránh một sự thật? Tại sao không t́m hiểu nó và chuẩn bị khi nó đến có hơn không?

- Phải chuẩn bị như thế nào? Làm sao có thể giải thích cho những người Âu vốn hết sức đa nghi và không chấp nhận những ǵ viễn vông rằng có một đời sống khác bên kia cửa tử

- Th́ đó là việc của họ, tin tưởng hay phủ nhận hoàn toàn tùy theo cá nhân, việc ǵ các ông cứ phải thắc mắc về vấn đề giải thích. Điều quan trọng là tự các ông có tin hay không mà thôi. Nếu các ông tin rằng sự chết chỉ là việc cởi bỏ một cái áo cũ, khi c̣n sống ra sao th́ khi chết cũng thế thôi, vấn đề thiên thần trên thiên đường hay ác quỷ dưới địa ngục hoàn toàn vô lư th́ mọi việc sẽ khác hẳn. Nếu nói một cách hết sức khoa học, lư luận th́ tùy theo dục vọng, tư tưởng của con người ra sao mà họ đến những cơi giới tương ứng, ta sẽ thấy rơ rằng con người có toàn quyền định đoạt số phận của họ khi sống cũng như khi chết. Đó không phải là một vinh dự lớn cho loài người hay sao? Nếu ta chấp nhận rằng các dục vọng tư tưởng khi c̣n sống tạo ra sẽ bay vẫn vơ tác động lên vong linh cho đến khi sinh lực chúng hao ṃn, tan ră th́ ta thấy vấn đề chuẩn bị tư tưởng cũng như lối sống hết sức cần thiết, quan trọng. Nếu các tư tưởng này hoàn toàn nhắm về vật chất th́ dĩ nhiên hoàn cảnh cá nhân hết sức bi đát v́ vong linh không c̣n thỏa măn chúng được nữa. Vong linh sẽ đau khổ và sẽ học được bài học về sự chế ngự dục vọng để áp dụng trong một kiếp sống tương lai. Dĩ nhiên khi dục vọng trên tiêu tan hết th́ y mới siêu thoát được.

Nếu trong đời sống hàng ngày, con người không có một đời sống tinh thần th́ khi chết họ sẽ ở một cảnh giới hết sức buồn nản, vô tri bất động rất lâu cho đến khi họ ư thức sự thiếu hoạt động này và có những tâm nguyện hăng hái hơn ở một kiếp khác. Thảm kịch lớn nhất là khi con người chết đột ngột, không chấp nhận rằng ḿnh đă chết nên cố gắng bám lấy sự sống. V́ không chấp nhận rằng ḿnh đă chết nên họ cứ ở nguyên t́nh trạng khi c̣n sống nghĩa là t́nh trạng chuyển tiếp, không có ǵ rơ ràng hết. Hồn ở cơi âm nhưng đầu óc tư tưởng vẫn ở cơi trần, họ cần được hướng dẫn, khuyên bảo.

Hăy lấy trường hợp một vong linh chết đuối, v́ y không tin ḿnh đă chết nên cứ ở trong tŕnh trạng lúc chết nghĩa là ngộp nước. V́ đầu óc hôn mê nên y không nh́n thấy cơi âm mà giữ nguyên h́nh ảnh cơi trần, dĩ nhiên nó chỉ nằm trong tư tưởng của y mà thôi. Nói một cách khác, thời gian như ngừng lại, y cứ thế hôn mê trong nhiều năm. Tôi đă cố gắng thuyết phục nhưng nói ǵ y cũng không nghe, tôi bèn yêu cầu y trở về nhà, đầu óc y hôn mê quá rồi nên cũng không sao trở về được. Nhờ các bạn bè cơi vô h́nh, tôi t́m được tên tuổi và địa chỉ thân nhân vong linh. Tôi tiếp xúc với họ và yêu cầu lập một nghi lễ cầu siêu để cảnh tỉnh vong linh. Nhờ sức chú nguyện mănh lực của buổi cầu siêu, tôi thấy vong linh từ từ tỉnh táo ra, nghe được lời kinh. Y trở về nhà và chứng kiến buổi cầu siêu của con cháu gần 60 năm sau khi y qua đời. Sau đó y chấp nhận việc ḿnh đă chết và siêu thoát...

- Ông cho rằng sự cầu nguyện có lợi ích đến thế sao?

- Cầu siêu cho vong linh là một điều hết sức quan trọng và ích lợi v́ nó chứa đựng một sức mạnh tư tưởng vô cùng mănh liệt. Oai lực lời kinh và âm hưởng của nó thật là vô cùng ở cơi âm nếu người ta tụng niệm chú tâm, sử dụng hết cả tinh thần. Tiếc thay, người đời chỉ coi tụng niệm như một h́nh thức. Họ chỉ biết đọc các câu kinh trên đầu môi, chót lưỡi chứ không biết tập trung tinh thần nên mất đi phần nào hiệu nghiệm. Sự cầu nguyện có một sức mạnh kinh khủng, có thể dời núi lấp sông, đó là bí quyết khoa “Mật Tông” Tây Tạng.

- Như ông nói th́ tôn giáo Tây Tạng có hiệu nghiệm nhiều hay sao?

- Vấn đề cầu nguyện cho người chết không phân biệt tôn giáo và cũng không cần theo một nghi thức, nghi lễ nào nhất định mà chỉ cần tập trung tư tưởng, hết sức chú tâm cầu nguyện. Theo sự hiểu biết của tôi th́ tôn giáo nào cũng có những nghi lễ riêng và nghi lễ nào cũng tốt nếu người thực hành thành tâm.

- Như vậy nghi lễ rửa tội trước khi chết có ích lợi ǵ không?

- Một số người tin rằng hạnh phúc vĩnh cửu của con người tùy thuộc tâm trạng y lúc từ trần. Nếu lúc đó y tin rằng ḿnh được cứu rỗi th́ như được một vé phi cơ lên Thiên Đàng c̣n không y sẽ xuống địa ngục. Điều này gây nhiều sợ hăi, lo âu vô ích. Nếu một người chết th́nh ĺnh th́ sao? Phải chăng họ sẽ xuống địa ngục? Nếu một tín đồ hết sức ngoan đạo nhưng chết ngoài trận mạc th́ sao? Họ đâu được hưởng nghi lễ rửa tội? Sự chuẩn bị hữu hiệu nhất là có một đời sống thanh cao, nếu ta đă có một đời sống cao đẹp th́ tâm trạng khi chết không quan trọng. Trái lại, ta không thể ao ước một tương lai tốt đẹp dù khi chết được cử hành bằng các nghi lễ to lớn, linh đ́nh nhất. Dù sao, tư tưởng chót trước khi ĺa đời cũng rất hữu ích cho cuộc sống mới bên kia cửa tử, nó giúp vong linh tỉnh táo, dễ thích hợp với hoàn cảnh mới hơn. Một cái chết thoải mái, ung dung phải hơn một cái chết quằn quoại, chết không nhắm mắt được. Theo tôi th́ sự hiểu biết về cơi vô h́nh, sự chuẩn bị cho sự chết là điều hết sức quan trọng, cần được phổ biến rộng răi nhưng tiếc là ít ai chú ư đến việc này.

- Vậy theo ông chúng ta cần có thái độ ǵ?

- Đối với người Âu Tây, đời sống bắt đầu khi lọt ḷng mẹ và chấm dứt lúc chết đó là một quan niệm cần thay đổi. Đời sống cơi trần chỉ là một phần nhỏ của chu kỳ kiếp sống. Chu kỳ này được biểu hiện bằng một ṿng tṛn mà sự sống và chết là những nhịp cầu chuyển tiếp giữa hai cơi âm và dương, giữa thế giới hữu h́nh và vô h́nh. Trên con đường tiến hóa c̣n hằng hà sa số các chu kỳ, các kiếp sống cho mỗi cá nhân. Linh hồn từ cơi Thượng giới chuyển kiếp xuống cơi Hạ giới qua cơi Trung giới và sau đó trở về Thượng giới cũng phải qua cơi Trung giới. Phần ở cơi trần chỉ là một phần nhỏ của một kiếp sống mà thôi. Trong chu kỳ này phần quan trọng ở chỗ ṿng tṛn tiến sâu vào cơi trần và bắt dầu chuyển ngược trở lên đó là lúc linh hồn hết tha thiết với vật chất mà có ư hướng về tâm linh. Các cổ thư đă vạch ra một đời sống ở cơi trần như sau: 25 năm đầu để học hỏi, 25 năm sau để lo cho gia đ́nh đây là giai đoạn tiến sâu vào trần thế, 25 năm sau nữa phải từ bỏ việc đời để lo cho tâm linh, đó là thời diểm quan trọng để đi ngược lên, hướng về tâm linh và 25 năm chót phải từ bỏ tất cả, chỉ tham thiền, quán tưởng ở nơi rừng sâu, núi thẳm. Đối với người Á châu th́ 50 tuổi là lúc từ bỏ vật chất để hướng về tâm linh nhưng người Âu châu lại khác hẳn, họ ham mê làm việc đến độ mù quáng, cho đến già vẫn tranh đấu hết sức vất vả, cho dục vọng, cho bản ngă, cho sự sống c̣n, cho sự thụ hưởng do đó, đa số mất quân b́nh và khi chết hay gặp các nghịch cảnh không tốt. Theo ư tôi, chính v́ sự thiếu hiểu biết về cơi âm nên con người gây nhiều tai hại ở cơi trần. Chính v́ không nh́n rơ mọi sự một cách tổng quát, nên họ mới gây lầm lỗi chứ nếu biết tỷ lệ đời sống cơi trần đối với toàn kiếp người th́ không ai dồn sức để lo cho 1/3 kiếp sống mà sao lăng các cơi trên. Nếu con người hiểu rằng quăng đời ở cơi trần rất ngắn ngủi đối với trọn kiếp người và đời sống các cơi khác c̣n gần với chân lư, sự thật hơn th́ có thể họ đă hành động khác đi chăng? Có lẽ v́ quá tin tưởng vào giác quan phàm tục nên đa số coi thế giới hư ảo này là thật và cơi khác là không có thật...

- Nhưng nếu ông cho rằng các cơi kia c̣n gần với sự thật hơn th́ tại sao ta lại kéo lê kiếp sống thừa ở cơi trần làm ǵ? Tại sao không rủ nhau đi sang cơi khác có tốt hơn không?

Hamoud mỉm cười:

- Tuy cơi trần hư ảo nhưng nó có những lợi ích của nó v́ con người chỉ có thể t́m hiểu, phát triển xuyên qua các rung động thô thiển này thôi. Cơi trần có các bài học mà ta không t́m thấy ở đâu được. Chính các bậc chân tiên, Bồ Tát trước khi đắc quả vị đều phải chuyển kiếp xuống trần, làm các công việc vĩ đại như một thử thách cuối cùng. Muốn khai mở quyền năng, con người phải tiếp nhận các bài học ở cơi trần mà thôi, nhờ học hỏi những bài học này họ mới trở nên nhạy cảm với các rung động cơi trên.


- Ông muốn nói sự nhạy cảm thế nào?

- Sự mở mang trí tuệ giống như một máy thu thanh (Radio) và các rung động ví như các tần sóng. Một người không hiểu biết ví như máy thu thanh không bắt trúng đài, không thay đổi băng tần. Họ sinh ra sao th́ chết cũng vậy, chả học được điều ǵ v́ như máy không bắt trúng đài chỉ kêu rè rè. Một người hiểu biết là người biết thay đổi con người của ḿnh để bắt trúng những làn sóng, dĩ nhiên có nhiều làn sóng, băng tầng khác nhau và con người sẽ bị tràn ngập bởi các làn sóng này cho đến khi họ điều ḥa, phân biệt điều hay, lễ dở để chọn những băng tầng thích hợp. Khi đó họ bắt trúng những đài phát thanh, nghe được điệu nhạc họ muốn. Huyền âm của Thượng Đế lúc nào cũng vang lừng vũ trụ cho những ai muốn nghe, biết chuyển tâm thức để nghe, biết thay đổi tâm hồn để bắt được làn sóng thanh cao, tế nhị đó.

Mọi người gật đầu thán phục vị pháp sư Ai Cập đă dùng những thí dụ cụ thể để giải thích một điều phức tạp. Giáo sư Mortimer thắc mắc:

- Ngoài việc khai mở giác quan để nghiên cứu cơi âm ông c̣n làm ǵ nữa?

- Việc nghiên cứu sẽ không có ư nghĩa ǵ nếu ta chỉ quan sát như một khách bàng quang, đứng ngoài nh́n ngắm. Con người cần học hỏi những điều ǵ xẩy ra khi họ từ trần để thay đổi, thích hợp với cuộc sống mới, không những cho họ mà c̣n cho những người thân. Càng hiểu biết bên kia cửa Tử họ càng dễ dàng hướng dẫn các vong linh khác.

- Nói một cách khác ông hay giúp đỡ những vong linh vừa từ trần?

- Chính thế, đó là công việc của tôi. Phần lớn người chết thường xúc động và không chấp nhận rằng họ đă chết, họ muốn bám víu lấy cơi trần và trở nên các loài ma vất vưởng. Công việc của tôi là trấn an họ, giải thích cho họ rằng ở cơi âm nếu muốn siêu thoát cần thay đổi trọn vẹn lối sống. Việc này dĩ nhiên rất khó v́ các vong linh không chịu nghe, hơn nữa nhiều người luyến tiếc cơi trần v́ họ có những việc chưa giải quyết xong, tâm hồn họ chưa được an để siêu thoát. V́ thế sự hiện diện của một người c̣n sống như tôi rất hữu ích, tôi có thể giúp họ hoàn tất các tâm nguyện để họ siêu thoát...

- Công việc này có kết quả ǵ không?

- Đây là một việc hết sức khó khăn nên tôi phải kết thân với một số bạn bè bên cơi âm. Nếu vong linh u mê nhất định không nghe th́ tôi phải nhờ những bạn bè, người thân của họ thuyết phục, giúp đỡ. Thí dụ như một vong linh bị chết trong một trận hỏa hoạn tại Luân - Đôn. Y bị kẹt trong ṭa nhà ba từng, không sao thoát nên chết ngộp bởi khói. Y không tin ḿnh đă chết nên thần thức vẫn vùng vẫy, t́m chỗ thoát thân. Tôi khuyên bảo nhưng y quá lo sợ chết cháy nên không chịu tin lời tôi. Sau tôi phải nhờ mẹ y đă từ trần nhiều năm trước đến khuyên bảo th́ y mới chấp nhận và siêu thoát.

- Ông muốn nói rằng thân quyến có thể làm việc đó dù họ chết đă lâu?

- Dĩ nhiên, sự liên hệ giữa con người với nhau đâu phải t́nh cờ mà do nhiều duyên nghiệp từ trước. Nếu sợi dây thân ái vẫn c̣n th́ dù qua đời họ vẫn để ư lưu tâm đến những người họ yêu mến nhau. Dù đă siêu thoát lên cảnh giới trên nhưng họ vẫn sẵn sàng trở lại khuyên bảo, giúp đỡ con cháu của họ.

- Như vậy sau khi chết ta có thể gặp lại cha mẹ, ông bà, họ hàng thân thích hay sao?

- Dĩ nhiên, như tôi vẫn nói con người khi sống ra sao th́ chết vẫn vậy, đâu có đổi thay ǵ nhiều. Nếu t́nh cảm vẫn c̣n th́ họ vẫn t́m đến gặp nhau là thường. Thật ra nếu ta xem sự chết như đi du lịch qua một thế giới mới, quang đăng, sáng sủa hơn th́ chúng ta sẽ không có cảm tưởng như xa người quá cố. Sự thật là không có điều ǵ chia cách linh hồn cả, khi ta yêu mến ai bằng những rung động chân thành, ta yêu mến họ qua linh hồn của họ chứ đâu phải chỉ xác thân. Xác tuy hư hại nhưng hồn họ vẫn ở quanh ta, tuy ta không thấy họ nhưng họ vẫn cảm xúc được t́nh thương của ta. Họ c̣n biết các đau buồn, cảm giác của ta v́ họ đọc được tư tưởng. Dĩ nhiên, nếu họ vẫn theo dơi th́ khi ta chết đi, họ sẽ đón tiếp để trấn an ta là đằng khác. Đây là một vấn đề cần được lănh hội cẩn thận v́ khi hiểu biết ta sẽ không c̣n sợ hăi, ta chấp nhận sự chết như một việc hiển nhiên. Bên kia cửa tử cũng như cơi trần, luật thiên nhiên luôn luôn biểu hiện và hết sức công bằng.

- Làm sao chúng tôi có thể biết chắc rằng khi chết ta sẽ gặp người thân?

- Như tôi đă tŕnh bày, có bẩy cảnh ở cơi Trung giới và sự thức tỉnh ở cảnh nào hoàn toàn tùy theo tâm thức con người rung động với nhịp rung của cảnh đó. Con người chỉ có thể tiếp xúc với vong linh ở cảnh đó hoặc cảnh thấp hơn mà thôi. Đa số những người qua đời đă lâu, thể Vía đă được thanh lọc nên thường sống ở cảnh giới cao hơn, do đó họ có thể tiếp xúc với những người ở cảnh giới thấp hơn nếu họ muốn. Ngược lại những kẻ thức tỉnh ở cảnh giới thấp rất ít khi biết đến các cảnh giới cao hơn, những kẻ thức tỉnh ở cảnh thứ bẩy hay thứ sáu chỉ muốn t́m về cơi trần mà thôi ít khi ư thức cảnh giới khác. Có nhiều vong linh sau khi đă lên đến cảnh giới cao lại t́m về những cảnh thấp hơn, không phải họ ham mê ǵ cơi này nhưng v́ ḷng thương người, bác ái mà họ muốn giúp đỡ những người cùng cảnh ngộ, những kẻ lạc lỏng, bơ vơ không ư thức ǵ.

Hamoud im lặng một lúc rồi thong thả:

- Cứu trợ, giúp đỡ các vong linh bên kia cửa tử là một điều hết sức cần thiết v́ người chết th́ nhiều mà người hiểu biết lại chẳng có là bao nhiêu...

- Nhưng đâu phải ai cũng làm được việc này, phải có các quang năng đặc biệt như ông hay đợi lúc chết mới giúp đỡ được chứ...

Hamoud lắc đầu:

- Không phải khi từ trần mới làm được việc này, khi c̣n sống ta vẫn có thể làm được mà cũng không cần phải khai mở quang năng nào cả. Bất cứ ai biết suy nghĩ đều có thể làm được. Các ông nên hiểu rằng khi ngủ, thể Vía của ta được tự do có thể hoạt động bên cơi âm. Nếu ta tập trung tư tưởng trước khi ngủ vào một sự giúp đỡ, an ủi nhằm mục đích hướng dẫn, cứu trợ tất cả mọi người không phân biệt th́ điều này sẽ được thực hiện.

- Chỉ thế thôi ư? Như vậy ai làm chả được.

- Dĩ nhiên, điều này không nguy hiểm ǵ hết v́ tư tưởng có một sức mạnh thần giao đặc biệt và có một mănh lực phi thường ở cơi âm. Nếu ta tập làm những việc này khi c̣n sống, ta sẽ không bỡ ngỡ, ngạc nhiên khi qua cơi bên kia v́ ta đă quen thuộc với nó rồi. Ta c̣n gặp những người nhờ tư tưởng của ta mà được giúp đỡ là đằng khác, dĩ nhiên họ sẽ đón tiếp ta nồng hậu và từ đó sẽ tiếp tục làm những công việc này...

- Làm sao có thể dễ dàng như thế được?...

Hamoud mỉm cười:

- Nghe th́ dễ thật nhưng nó đ̣i hỏi một sự quyết tâm. Thứ nhất việc làm của ta phải bất vụ lợi, vị tha, vô tư v́ cơi âm là cơi tư tưởng. Nếu ta có ư định mưu đồ một việc ǵ, những người khác biết ngay và hậu quả lại chưa biết thế nào mà lượng được. Thứ hai, đa số các vong linh đều u mê, ngoan cố rất khó thuyết phục v́ các nghiệp quả trói buộc hoặc lưu luyến cơi trần v́ con cháu khóc than, thương tiếc quá họ đâm ra xúc động khó siêu thoát. Do đó, công việc này đ̣i hỏi sự tế nhị, khéo léo và một tâm hồn an tĩnh, không bối rối, xúc động. Nhưng khi ta đă phát tâm th́ tư tưởng này sẽ là một khí cụ rất tốt giúp đỡ ta rất nhiều. Theo ư kiến của tôi th́ việc có một kiến thức rộng răi về cơi âm là căn bản đầu tiên...

Giáo sư Allen lắc đầu:

- Nếu nói rằng khi ngủ ta qua cơi âm, tại sao tôi không ư thức một tí ǵ cả? Phải có một bằng chứng nào rơ rệt mới tin như vậy được.

- Các ông nên hiểu về sự cấu tạo của con người: Trong lúc thức tỉnh, thể Vía là cây cầu cho tâm thức. Mọi sự va chạm, rung động, cảm xúc bên ngoài do hệ thần kinh giao cảm được thể Vía chuyển vào tâm thức sau đó mới ghi nhận ở khối óc. Bằng chứng là ta suy nghĩ trước khi ta hành động có phải không? Nguyên nhân giấc ngủ là sự mệt mỏi của thể xác, nó cần phục hồi sức khỏe nên nằm yên nhưng thể Vía lại khác, nó vẫn hoạt động v́ bằng chứng là đôi khi ngủ say nhưng ta vẫn ư thức mọi việc xẩy ra chung quanh có đúng như thế không? Thể Vía luôn rung động để đáp ứng với hoàn cảnh chung quanh, v́ tính chất này nó rất mẫn cảm với các rung động của bản năng, ham muốn, dục vọng. Các tính xấu như giận hờn, oán ghét chẳng qua là sự cô đọng của tư tưởng mà thôi. Sự cô đọng này tạo thành một lớp vỏ bao trùm lên thể Vía và ảnh hưởng của nó. Do đó, tính t́nh con người chỉ là một thói quen của tư tưởng. Như tôi đă tŕnh bày, tư tưởng thanh cao cũng như hèn hạ đều bị thu hút vào thể vía và trực tiếp ảnh hưởng đến t́nh cảm con người. Bằng chứng là một người có tâm hồn thanh khiết không thể hợp với những nơi ồn ào náo nhiệt, ngược lại kẻ có tâm hồn náo động không thể chịu nơi vắng vẻ, êm đềm. Có người tự hỏi tại sao họ không thể ngồi yên một chỗ, không thể tu tập các pháp môn thiền quán? Ấy v́ thể Vía họ lao chao, muốn động. Họ cần biết cách chủ trị t́nh cảm, thanh lọc thể vía. Các món đồ ăn nặng trọc như thịt cá, rượu các chất kích thích cũng đem vào thể Vía các đối phần nặng trọc. Người tu phải triệt để từ bỏ các món ăn này v́ nó rất có hại cho việc tham thiền, quán tưởng. Thể xác và thể vía liên lạc với nhau qua bẩy trung tâm giao điểm sinh lực gọi là Luân Xa, tại đây có một tấm màn cấu tạo bẳng nguyên tử cơi trần để ngăn chặn ảnh hưởng cơi âm. V́ thế, kư ức và sinh hoạt lúc ngủ không chuyển sang khối óc vật chất tuy nhiên, đôi khi ngủ dậy ta vẫn mường tượng có một cái ǵ mà không sao nhớ được. Đối với một người b́nh thường th́ luân xa không thức động nên tấm màn này khép chặt nhưng rượu, thịt, các chất kích thích có thể phá hoại tấm màn này khiến nó bị rách và ảnh hưởng cơi âm có thể chuyển qua cơi trần khiến y bị điên khùng hay rối loạn hệ thần kinh. Có khi cá nhân mất tự chủ, bị các loài ma quỷ nhập vào sai khiến.

Giáo sư Allen lên tiếng:

- Những điều ông tŕnh bày rất lạ lùng, nhưng cũng có lư. Tuy nhiên, theo sự hiểu biết của chúng tôi th́ khoa học không thể chứng minh điều này. Liệu có cách nào khiến chúng tôi cũng khai mở các quang năng để nghiên cứu cơi giới vô h́nh như ông không?

 

 

Hamoud gật đầu:

- Sự khai mở quyền năng thuộc phạm vi tâm thức, trước khi mở tâm phải tinh luyện các thể đă. Nếu chưa thanh lọc được các thể th́ đừng nói đến khai mở bất cứ một giác quan nào.

- Vậy ta phải luyện các thể bằng cách nào?

- Tinh luyện thể Trí bằng sự suy tư chân chính. Trí tưởng tượng con người là một công cụ sáng tạo hữu hiệu, khi ta suy tư, tưởng tượng ta vô t́nh xây dựng thể Trí. Nếu ta chỉ suy tư những điều tốt lành, cao thượng th́ ta đă luyện trí rồi. Sau thể Trí là thể Vía, thể này chỉ luyện bằng các ham muốn chân chính. Hăy ham mê các điều cao thượng th́ tự khắc thể Vía sẽ phát triển.

- Ông nói nghe thật dễ dàng. Tư tưởng cao thượng và ham muốn chân chính là những điều trừu tượng, làm sao có thể làm được...

- Đa số mọi người quan niệm như thế nên chả khi nào tiến bộ được. Con người muốn quyền năng, giải thoát nhưng chỉ chờ đợi một phép lạ, một tha lực ngoại giới chứ không tự tin rằng ḿnh có khả năng làm những việc đó.

- Dù tôi muốn thanh lọc các thể th́ cũng phải có một phương pháp, một sự hướng dẫn, một kỹ thuật nào đó chứ nói một cách trừu tượng th́ ai nói chả được.

- Theo sự hiểu biết của tôi th́ Tôn giáo nào cũng dạy những điều cao đẹp và áp dụng những lời dạy này chả phải một phương pháp, kỹ thuật thanh lọc các thể hay sao?

- Như vậy ông theo phương pháp nào? Hăy nói về kinh nghiệm của ông đă...

Hamoud trầm ngâm rồi gật đầu:

- Được lắm, tôi được truyền thụ phương pháp này tại một tu viện ở Tây Tạng nên chịu ảnh hưởng Phật Giáo rất nhiều: Thứ nhứt là luyện thể xác, phải biết cách kiểm soát, kiềm chế thể xác hoàn toàn, quy định mọi hoạt động như ăn, uống, ngủ cho thật đúng. Thức ăn được phân làm ba loại: Tĩnh, Động và Điều Ḥa, người tập phải tránh đồ ăn “Tĩnh” v́ nó làm thể xác hôn mê, lười biếng, bất động. Các thức ăn có đặc tính “Tĩnh” là các món đang lên men, các thứ đồ khô, các loại rượu. Các món ăn có đặc tính “Động” như thịt, cá thường đem lại các kích thích hăng hái nhất thời, xác chết thú vật gồm nhiều nguyên tử nặng nề bởi các thú tính thấp hèn không thích hợp cho việc tu hành, thanh lọc. Chỉ có các món ăn “Điều Ḥa” như các thứ có khả năng tăng trưởng, chứa nhiều sự sống như ngũ cốc v́ nó sắp đâm mầm, nẩy lộc, các loại trái cây vốn tràn đầy nhựa sống, các loại rau cỏ vốn hấp thụ khí thái dương cần thiết cho một thể xác cường tráng, nhạy cảm.

Sau việc ăn uống c̣n phải thở hít, hô hấp cho đúng cách. Khoa học chứng minh con người sống được là nhờ hơi thở nhưng thật ra đó là nhờ Sinh khí (Prana).

Chính các sinh khí này thấm nhuần khắp cơ thể, mang sự sống đến khắp tế bào. Prana xuất phát từ ánh sáng mặt trời, nó rung động và pha trộn trong không khí. Bằng cách hô hấp thật sâu, thong thả, Prana sẽ thấm vào thần kinh hệ và lưu thông khắp châu thân mang sự sống khắp xác thể. Chính các Prana tích tụ trong hệ thần kinh tạo ra luồng “Nhân điện” một yếu tố quan trọng của sự sống.

Tóm lại, dinh dưỡng đúng cách bằng các món ăn có đặc tính điều ḥa, tập thở hít đúng cách là phương pháp tinh luyện thể xác vô cùng quan trọng. Như các ông thấy, phương pháp này không có ǵ trái với khoa học hiện tại, cách thực hành có thể khác nhau tùy cá nhân, người gọi nó là thể dục, người gọi nó là thiền định điều này không quan trọng v́ căn bản chính chỉ nhằm đem lại một thể xác lành mạnh, cường tráng. Người luyện thể xác cần sống nơi thoáng khí, nhiều ánh sáng mặt trời để đón nhận các sinh lực prana nhằm bổ túc luồng nhân điện. Các món ăn như thịt cá mang lại các rung động thô bạo khiến luồng nhân điện này chạy loạn lên khó kiểm soát gây nên các bệnh tật hoặc phá hoại hệ thần kinh. Các món ăn Tĩnh như rượu làm tê liệt bộ thần kinh khiến luồng nhân điện bị ngắt quăng không đều ngăn trở các sinh khí prana lưu thông mang sinh lực nuôi thể xác gây nên nhiều hậu quả không tốt.

Sau khi thanh lọc thể xác ta bắt đầu luyện đến thể Vía: Thể Vía là trung tâm của t́nh cảm, một khi t́nh cảm trong sạch, vị tha, bác ái đương nhiên các chất thanh nhẹ sẽ được hấp thụ vào và các chất nặng trọc, xấu xa sẽ bị đào thải ra ngoài theo một nguyên lư giống như sự thẩm máu (Osmosis). Khi thể Vía thanh cao nó sẽ rung động với các tư tưởng cao thượng mang tâm thức lên một b́nh điện cao hơn. Khi sự rung động (Vibration) đến một chu kỳ nào đó (In - phase) các giác quan thể vía bắt đầu khai mở và tự nhiên con người sẽ bắt đầu có quyền năng đặc biệt. Nói một cách khoa học hơn, các giác quan thể Vía chỉ hoạt động ở một chu kỳ và chỉ khi thể Vía rung động đúng chu kỳ này nó mới được đánh thức để hoạt động. Thể vía chỉ có thể rung động ở chu kỳ này khi nó được cấu tạo bằng những nguyên tử thật thanh, nhẹ khi những nguyên tử nặng trọc bị khu trục hết, điều này chỉ xẩy ra khi con người chỉ có các t́nh cảm cao thượng ḷng bác ái tốt lành bao trùm mọi vật. Đó là bí quyết cách luyện thể Vía.

Khi bẩy giác quan của thể vía hoạt động, nó sẽ khai mở một số bí huyệt để luồng hỏa hầu Kundalini thức giấc, khi luồng hỏa hầu này chạy dọc theo xương sống lên đỉnh đầu, nó sẽ thúc đẩy, khai mở thể trí khiến nó khai triển để hợp nhất với chơn thần. Khi thể trí khai triển, mở lớn ra nó sẽ khởi sự tiêu diệt cái phàm ngă ích kỷ của con người để hướng lên các điều thánh thiện. Đây là một giai đoạn vô cùng khó khăn, rất ít ai vượt qua nổi: Danh từ Phật giáo gọi là Phật tánh biểu lộ, danh từ Thiên Chúa Giáo gọi là sự quên ḿnh để ḥa nhập với đấng Cứu Thế, danh từ Ấn Giáo gọi là sự hợp nhất với Chân Ngă. Nói một cách giản dị th́ đây là lúc trí tuệ quy kết các tư tưởng và hoạt động về t́nh huynh đệ, bác ái nhu thuận, từ bi, trí tuệ, vị tha, hỷ xả để kết tinh thành chân ngă. Khi phàm ngă hoàn toàn bị hủy diệt, các thể cũng hoàn toàn được thanh lọc th́ không c̣n sự phân biệt giữa ta và tha nhân, giữa chủ thể và đối tượng mà tất cả đều là một. Thể trí không c̣n tính cách cá nhân mà đă thành “Đại Trí” hay trí tuệ “Bát nhă”. Tâm thức cũng không c̣n là tâm cá nhân mà thành tâm thức “Bồ Đề” ḥa hợp hoàn toàn với tâm thức vũ trụ. Cả tâm lẫn trí mở rộng đón nhận ánh sáng chân lư mà không c̣n phải học hỏi, lư luận ǵ nữa. Đây chính là giai đoạn giác ngộ của người tu. Họ trở nên một đấng siêu nhân, một vị Tổ, một vị Thánh...

Giáo sư Evans - Wentz thắc mắc:

- Căn cứ vào đâu ta biết được như vậy? Phải có bằng chứng ǵ chứ?

Hamoud lắc đầu:

- Các kinh nghiệm quư báu, thiêng liêng đó chỉ có các bậc giác ngộ rồi mới hiểu được. Không một vị thánh nào vỗ ngực tự xưng đă đạt quả vị này hay quyền năng nọ. Khi đă giác ngộ th́ chức tước, danh vọng, địa vị đâu có nghĩa lư ǵ nữa v́ họ đâu c̣n bản ngă thấp hèn như chúng ta để phân biệt. Chỉ có các “bậc lừa bịp”, các tu sĩ giả mạo mới thích danh vọng, chức tước v́ bản ngă họ c̣n to lớn và cần các danh xưng, địa vị để lừa bịp tín đồ nhẹ dạ.

- Trên nguyên tắc th́ như vậy nhưng c̣n phương pháp, kỹ thuật th́ ra sao?

- Phương pháp, kỹ thuật th́ rất nhiều, con đường đến chân lư cũng thế tùy theo nhân duyên, căn cơ cá nhân không thể áp dụng một kỹ thuật nào cứng nhắc được. Phương pháp, kỹ thuật có thể khác nhau nhưng nguyên tắc chỉ có một. Sự thật là chân lư luôn luôn được truyền dạy dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác tùy theo điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện. Phương pháp tuy khác nhưng chân lư vẫn là một giống như nước suối hay nước sông th́ vẫn là nước mà thôi (Tùy duyên bất biến).

Chân lư có thể được truyền dạy bởi những thầy phù thủy trong các bộ lạc man dă hoặc các bậc giáo chủ trong kinh điển tôn giáo. Kinh điển hay tôn giáo có thể khác nhau về h́nh thức nhưng vẫn có những điểm tương đồng mà ta phải chấp nhận.

- Chấp nhận phải chăng là một h́nh thức của tin tưởng?

- Con đường đạo đ̣i hỏi một đức tin nhưng không phải nhắm mắt tin tưởng bừa băi. Đức tin chỉ đến sau khi người t́m đạo tự ḿnh nhận thức rơ ràng, sau khi hiểu biết chứng nghiệm nó một cách rốt ráo. Các ông là những khoa học gia, không đời nào các ông tin tưởng một sự kiện ǵ nếu không kiểm chứng rơ ràng, sự nghi ngờ là một điều cần thiết nhưng nếu có những sự kiện mà khoa học không thể chứng minh hay chưa thể chứng minh được các ông sẽ phải làm ǵ? Phủ nhận chăng? Nếu phủ nhận các ông đă bỏ qua một cơ hội t́m hiểu nghiên cứu. Nếu chấp nhận mà không kiểm chứng th́ các ông đă mù quáng tin tưởng bừa băi. Tôi không mong các ông phải tin tưởng những điều tôi tŕnh bày, nhưng mong các ông hăy suy gẫm, nghiên cứu nó, nếu chưa thể sử dụng các dụng cụ khoa học thực nghiệm để chứng minh th́ hăy sử dụng lư trí, trực giác v́ sự nghiên cứu cơi âm là một khoa học chứ không phải một sự tin tưởng bừa băi. Kiến thức về cơi giới này sẽ giúp đỡ nhiều người, tôi tin rẳng trong một ngày không xa sẽ có nhiều cuộc nghiên cứu về đối tượng này.

- Tại sao ông không công bố những điều t́m được cho mọi người? Tại sao ông lại ẩn thân một nơi hoang vu như thế này? Nếu ông muốn kiến thức về cơi giới này được nghiên cứu rộng răi th́ ông phải là người khởi xướng nó lên để mọi người được biết và biết đâu chẳng có những cuộc nghiên cứu theo sau?

Hamoud mỉm cười:

- Khi tŕnh độ con người chưa đến lúc, có những điều chưa thể công bố được. Các bậc giáo chủ ngày trước chẳng giảng dạy chân lư ra làm hai phần Công truyền và Bí truyền hay sao? Tại sao các ngài lại dạy riêng cho một thiểu số môn đồ môn giáo lư bí truyền? Phải chăng các ngài biết chỉ một thiểu số người có thể lĩnh hội những điều ngài giảng dạy. Khoa học nghiên cứu về cơi âm cũng có những sự nguy hiểm riêng của nó, không thể truyền dạy bừa băi cho tất cả mọi người.

- Xin ông giải thích rơ hơn về việc này, tại sao lại nguy hiểm?

- Tôi vừa tŕnh bày cho các ông một phương pháp tinh luyện các thể như tôi đă được truyền dạy. Dĩ nhiên, c̣n có nhiều phương pháp khác cũng mang lại các kết quả tương tự nhưng cứu cánh lại khác hẳn. Có hàng trăm phương pháp phát triển năng khiếu thần thông nhưng người tu phải hiểu rằng quyền năng chỉ là những phương tiện thấp thỏi, giúp ta mở rộng kiến thức. Quyền năng không bao giờ là một cứu cánh, một mục đích. Sự tham luyến, vọng tưởng sẽ đưa người có quyền năng vào ma đạo. Người tu hành cần ư thức rơ rệt rằng chỉ khi nào phàm ngă hoàn toàn bị tiêu diệt th́ con người mới thoát khỏi ảo ảnh của màn vô minh và thực sự chứng nghiệm chân lư. Quyền năng càng cao ta càng phải lập hạnh, nghiêm khắc giữ ǵn đề cao cảnh giác các ảo ảnh của vô minh...

- Ông nói đến vô minh như một cái ǵ trừu tượng, liệu ông có thể lấy một thí dụ dễ hiểu hơn không v́ danh từ này c̣n xa lạ với chúng tôi?

- Hăy lấy thí dụ một người tu hành công phu khổ luyện đă bắt đầu khai mở vài quyền năng thô thiển như Thần Nhăn chẳng hạn. V́ số người có quyền năng này ở cơi trần rất ít, người đó đă tưởng ḿnh tiến bộ vượt bực, đă trở nên một đấng này, đấng nọ. Ḷng kiêu căng phát triển xúi dục họ nghĩ rằng ḿnh đă đắc quả vị lớn lao, đă được giao phó các sứ mạng cao cả. Họ tự phong cho ḿnh những chức tước, danh vọng hoặc đôi khi tín đồ xưng tụng cho họ là đấng này, đấng nọ th́ họ cũng chấp nhận tuốt, họ nghĩ ḿnh đă sáng suốt, cao cả th́ c̣n lầm lạc thế nào được nữa... Họ đâu hiểu rằng trong cơi âm có rất nhiều vong linh bất hảo hay t́m cách hướng dẫn sai lạc những người non nớt vừa bắt đầu khai mở quyền năng. Dĩ nhiên với trí tuệ nông cạn, họ không có một tiêu chuẩn nào để xét đoán, hiểu biết những hiện tượng, những điều họ nh́n thấy và trắc nghiệm xem điều đó có hợp với chân lư hay không? Bởi thế họ dễ bị lung lạc để trở nên một tay sai đắc lực của các vông linh, ma quỷ, các sinh vật vô h́nh. Như các ông đă thấy những pháp sư, thầy phù thủy, các tu sĩ thiếu sáng suốt, thiếu công phu tu hành, thiếu tŕ giới đều rơi vào cạm bẫy của vô minh cả. Họ có một vài quyền năng thật nhưng không sử dụng nó vào mục đích giúp đời mà sử dụng vào các việc ích kỷ hại nhân...

- Nhưng làm sao tránh được các điều này? Làm sao một người mới bắt đầu có quyền năng biết được những điều ḿnh nh́n thấy không phải là một ảo ảnh của vô minh, những điều ḿnh chứng nghiệm không phải một sự truyền dạy vu vơ của loài sinh vật vô h́nh?

Hamoud nghiêm trang tuyên bố:

- Người nào sống một đời tinh khiết về tư tưởng và hành động, không bị ô nhiểm bởi ích kỷ th́ sẽ được che chở. V́ các rung động thanh cao, các ảnh hưởng xấu không thể xâm nhập, các vong linh bất hảo thấy người đó không có ǵ để chúng lợi dụng được. Trái lại, một người c̣n nhiều tham vọng, thiếu công phu tŕ giới th́ chính sự rung động bất thiện phát xuất từ nội tâm người đó sẽ hấp dẫn các vong linh, ma quái đến quanh. Trong họ c̣n đầy đủ các khí cụ như Tham, Sân, Si hay ích kỷ, mê muội th́ quá dễ dàng để các vong linh lợi dụng. Một tu sĩ bất cứ tôn giáo nào cũng đều phải giữ giới, tuân các điều răn v́ các bậc giáo chủ sáng lập tôn giáo đă đi qua con đường đó, đă biết các hiểm nguy và đặt ra cấm điều để cho người theo sau biết đường mà tránh.

- Nhưng các lối tu luyện thần thông vào mục đích nhất định như chữa bệnh th́ sao?

- Điều này tùy tâm thức người luyện nhưng theo sự hiểu biết của tôi bất cứ lối tập luyện nào thiếu sự đứng đắn đều đưa vào con đường nguy hiểm. Các ông nên biết một khi có quyền năng, dù là một quyền năng hạ cấp rất thô thiển, kẻ sử dụng nó đều có thể làm nhiều việc mà người b́nh thường cho là “Phi thường” v́ đa số nhân loại chưa có khả năng đó. Điều này khiến kẻ luyện dễ trở nên kiêu căng và nếu không trong sạch, y có thể sử dụng quyền năng vào các điều tà muội.

Giáo sư Allen lắc đầu:

- Ông nói điều xấu, điều tốt như có một tiêu chuẩn rơ ràng vậy. Tại sao ông không nghĩ xấu hay tốt chỉ là những điều tương đối, một điều người Âu cho là vô lư có thể người Á lại chấp nhận như một sự kiện hữu lư...

Hamoud gật đầu:

- Đúng thế, quan niệm xấu tốt, thiện ác ít nhiều chịu ảnh hưởng xă hội nhưng vượt lên cao hơn nữa chúng ta vẫn có luật vũ trụ kia mà. Theo sự hiểu biết của tôi th́ có hai con đường: Chính đạo và Tà đạo.

 

1lyhuonga.jpg






8.
 
Con người làm chuyện tà đạo là khi y dùng quyền năng tiềm tàng của ḿnh để mưu lợi riêng cho sự phát triển cá nhân và sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của kẻ khác. Phát triển cá nhân ở đây có nghĩa là sự bành trướng về giác quan, cảm xúc hay tri thức của cá nhân mà không đếm xỉa đến sự thiệt hại cho kẻ khác. Một người lợi dụng sự ngu dốt, yếu đuối của kẻ khác để thu lấy ít lợi lộc về tiền bạc hay thỏa măn tham vọng cá nhân tức là đang đi trên con đường tà đạo. Nếu y có chút quyền năng y sẽ trở nên ghê gớm như thế nào?

Chánh đạo cũng là việc sử dụng những quyền năng của ḿnh nhưng để phụng sự nhân loại. Trong khi phụng sự, con người sẵn sàng hy sinh mọi tiện nghi, tham vọng cá nhân ḿnh để làm việc hữu ích cho kẻ khác. Kẻ phụng sự dứt tuyệt các thú vui về giác quan, từ bỏ mọi tôn kính chính đáng mà y có quyền hưởng thụ, dẹp bỏ cái phàm ngă cá nhân mà chỉ chú trọng đến mục đích là đạt đến sự toàn thiện.

Tà đạo là sử dụng quyền năng qua các h́nh thức lễ nghi, cúng bái trợ lực để tạo nên các đoàn thể, h́nh thức, các h́nh thức này có thể là vật chất hay một tổ chức mà công cụ của nó không phải lo cho đời sống chúng hay một lư tưởng cao thượng mà chỉ là một h́nh thức cho quan niệm riêng của ḿnh phát biểu.

Chánh đạo là sử dụng các quyền năng cố hữu của bản chất con người để vượt qua mọi hạn định của h́nh thức, để giải thoát tâm hồn khỏi các trói buộc của cảm giác, sự tưởng tượng hay xu hướng nhất thời, để tránh các cám dỗ, lừa gạt của vô minh để phục vụ cái phần bất tử thiêng liêng của bản thể, chân như.

Một người nghiên cứu huyền môn có thể đi trên đường chính cũng như tà, họ có thể t́m cách phát triển cá nhân qua sự tự chủ gắt gao để khai mở các quyền năng, thu thập kiến thức. Họ cũng có thể ao ước cơi thiên đàng mở rộng trong ḷng mọi người và chính trong họ qua các hành động bác ái, vị tha. Trong hai trường hợp, hạng đầu cầu mong kiến thức, quyền năng khi hạng sau muốn trở nên người hữu dụng. Càng đi xa th́ sự tiến bộ càng khác biệt. Người sử dụng kiến thức, quyền năng để phụng sự, sẽ trở nên một bậc “Bồ Tát” và chỉ có trái tim Bồ Tát mới là ánh sáng soi đường, chỉ lối giúp họ đi trọn vẹn con đường đạo. Người cầu trí thức cho ḿnh chỉ quanh quẩn trong phạm trù cá nhân một lúc, thiếu từ bi trí tuệ y rất dễ bị sa ngă vào ma đạo lúc nào không hay. Không có trí tuệ bát nhă soi đường y dễ trở thành nạn nhân của vô minh. Điều này cũng như một người đi biển mà không có bản đồ, la bàn định hướng mà đi bừa băi th́ làm sao đến nơi được. Đường đạo cũng thế, một tu sĩ phải tŕ giới nghiêm minh để tu thân nhưng thế vẫn chưa đủ mà c̣n phải lập những hạnh nguyện, xác định mục đích rơ ràng để hành động, có tu th́ phải có hành, phải biết đem kiến thức của ḿnh ra để giúp ích cho những người khác. Trí tuệ phải đi đôi với Bác ái, có “Trí” mà thiếu cái “Tâm” chỉ là mớ kiến thức vô dụng, một cái xác không hồn. Có “Tâm” mà thiếu “Trí” cũng không được v́ sẽ dễ sa ngă, đi lầm vào tà đạo. Đó là điều đă xẩy ra trong quá khứ, các tu sĩ thiếu kiến thức, trí tuệ đă bị vô minh che phủ, họ coi Thượng Đế như một đấng thần linh để thờ phụng, tách ngài ra khỏi tín đồ và dạy bảo rằng ngài cao siêu quá, không thể nói chuyện với những người tầm thường được mà phải qua sự trung gian của giới tăng lữ. Họ đặt đủ các ngôn từ hoa mỹ, thêu gấm dệt hoa vào giáo điều để tín đồ quay cuồng trong ngôn ngữ mà xa lánh chân lư thực tế. Dần dần các chân lư cao đẹp bị bao phủ bằng các h́nh thức mê tín dị đoan, các điều sằng bậy và đưa nó vào chỗ suy tàn... Đó là điều đă xẩy ra cho tôn giáo Ai Cập.

Giáo sư Wentz ngắt lời:

- Xin ông nói rơ hơn về sự suy tàn của nền văn minh Ai Cập, lịch sử vẫn chưa hiểu tại sao nền văn minh này lại suy tàn nhanh chóng như vậy?

Hamoud im lặng như hồi tưởng một kư ức xa xôi nào đó, một lúc sau y gật đầu:

- Có nhiều giả thuyết về sự suy tàn của nền văn minh Ai Cập, đa số đổ lỗi cho chiến tranh, bệnh dịch, thiên tai nhưng ít ai biết rơ nguyên nhân sâu xa. Tôi không có ư muốn tiết lộ những điều này v́ mục đích buổi tiếp xúc hôm nay là nói chuyện, tham khảo về cơi giới vô h́nh. Tuy nhiên, tôi sẵn sàng tiết lộ những điều thầm kín như một nhân duyên đặc biệt với các ông, điều này không phải tự ư tôi nhưng do một thông điệp tư tưởng của một vị chân sư chuyển giao. Tôi muốn tiết lộ những điều này như một cảnh cáo đối với thế giới ngày nay để họ không đi vào vết xe những việc xẩy ra trong qua khứ...

Một lần nữa, sự hiện diện của một vị chân sư bí mật lại được nhắc đến khiến mọi người vô cùng cảm kích. Vị pháp sư Ai Cập ngửa mặt nh́n lên trời như ôn lại dĩ văng:

- Trong thời buổi vàng son, nền văn minh Ai Cập đến lúc cực thịnh. Các đạo viện với những minh sư truyền dạy khoa học huyền môn, đưa dân trí đến một mức tiến bộ vượt xa thời buổi hiện nay. Tuy nhiên, theo thời gian nhiều tu sĩ đă không giữ ǵn giới luật khắc khe hoặc thấu hiểu các giáo điều cao siêu. Họ bèn t́m một lối đi ngắn hơn và dễ hơn, chú trọng về phương pháp kỹ thuật (techniques) để đạt đến quyền năng. Thần thông trở nên mục đích chứ không phải phương tiện nữa. Để đạt mục đích, họ không ngần ngại hy sinh quyền lợi tôn giáo, quốc gia... Thiếu sáng suốt nên họ đi vào ma đạo và chịu sự sai khiến của các động lực bất hảo. Các tăng lữ này lập thành phe nhóm, liên kết lẫn nhau để tạo một ảnh hưởng cực mạnh đến nỗi các vua Pharaoh hách dịch cũng phải kiêng dè. Họ lạm dụng danh từ tôn giáo, thần linh, truyền bá các tà thuật, phù phép, thần chú hắc ám để lôi cuốn tín đồ. Dĩ nhiên với các tà thuật, họ có thể làm mọi thứ mà một người b́nh thường vô phương chống lại. Chỉ một thời gian ngắn, dân chúng đều trở nên nạn nhân của một thứ Tà giáo. Các vị pháp sư trở nên sứ giả của cơi âm, một thứ quỷ sống đội lốt người, họ c̣n kêu gọi những âm binh hung ác nhất đến giúp họ đạt các mục đích tà muội.

Trong đền thờ, khoa phù thủy thay thế sinh hoạt tâm linh và các tu sĩ chân chính bị loại trừ, đào thải nhanh chóng. Cũng v́ thế, khoa huyền môn chân chính trở nên thất truyền v́ không người tu học, nghiên cứu. Các tu sĩ chân chính phải trốn tránh, từ bỏ các giáo đường uy nghiêm. Nền văn minh đặt căn bản trên kiến thức huyền môn cũng tàn lụi khi cánh cửa huyền môn chân chính khép chặt. Các ông nên rơ, trong thời cổ, hầu hết các khoa học gia, y sĩ, các nhà toán học kiến trúc đều xuất thân từ giới tu sĩ hoặc học hỏi trong các tu viện v́ thời đó không có trường học hay một nền giáo dục như bây giờ. Khi bùa chú, phép thuật mê hoặc nhân tâm, thúc đẩy con người tư bỏ Thượng Đế để tôn thờ các loài ma quái th́ các thứ như Chiêm tinh, Toán học, Kiến trúc không c̣n lư do để tồn tại.

Thời gian trôi qua, nền văn minh Ai Cập huy hoàng đă xuống dốc cực kỳ thảm hại. Chính các tu sĩ lầm lạc, ích kỷ đầy tham vọng đă là nguyên nhân gây nên hoàn cảnh trên, họ lợi dụng danh nghĩa “Tôn giáo”, một thứ tôn giáo ma quái, xa ĺa Thượng Đế để đưa Ai Cập vào con đường thoái hóa. Thay v́ lo giải thoát cho chính ḿnh khỏi mê lầm th́ họ lại hướng dẫn quần chúng vào ma đạo. Thay v́ tuân theo các giới luật th́ họ lại phá giới, ngụy biện bằng các danh từ hoa mỹ, tốt đẹp. Thay v́ kiểm thảo nội tâm họ lại lập phe nhóm bênh vực lẫn nhau để che dấu các hành vi tà muội. Khoa nghi thức hành lễ mất hết các tính cách thiêng liêng mà chỉ c̣n h́nh thức bề ngoài, kêu gọi một năng lực ngoại giới đến trợ giúp quyền uy giáo sĩ. Sự hiến dâng biến thành hối lộ, tu sĩ lựa chọn các thứ ḿnh thích nhất như món ăn, thiếu nữ xinh đẹp để Tế Thần và sau đó đem chia chác lẫn nhau cùng hưởng thụ. Thượng Đế nhân từ bác ái bỗng biến thành một thần linh toàn lực, toàn uy, trọn quyền thưởng phạt mà giới giáo sĩ là trung gian. Để lung lạc nhân tâm, khoa bùa chú, thôi miên được sử dụng tối đa như một phương tiện cần thiết để thỏa măn tham vọng cá nhân.

Để tránh các tinh túy huyền môn không lọt vào tay giới bàn môn tà đạo, các tu sĩ chân chính đă sử dụng khoa Ám Tự (Hierograph). Đây là một văn tự huyền bí ẩn dấu nhiều ư nghĩa tâm linh mà chỉ các tu sĩ chân chính sau khi vượt qua các thử thách mới được tiết lộ. Sự sử dụng ư nghĩa tượng trưng (Symbol) hoặc tỷ dụ (Parapol) được sử dụng tối đa. Chính Moses về sau đă sử dụng ngôn ngữ này trong các cuốn sách của Do Thái (Bộ sách Pentateuque).

Sự bành trướng của nhóm Tà đạo quá mạnh, các tu sĩ chân chính phải rút vào rừng sâu núi thẳm và cuối cùng th́ khoa Huyền môn chân chính cũng thất truyền. Một số giáo sĩ, khoa học gia, các nhà Toán học, kiến trúc trốn sang Hy Lạp và truyền dạy các khoa này tại đây, mở đầu cho một nền văn minh mới. Trong khi đó, để lôi cuốn phe đảng, vấn đề truyền giáo được đặt ra và giới tăng lữ buộc các vua Pharaoh phải gây chiến tranh truyền bá tôn giáo. Các cuộc “Thánh Chiến” này đă đem lại một giai cấp mới: Nô lệ.

Giáo sư Mortimer ngạc nhiên:

- Như vậy trước đó không có nô lệ hay sao?

Hamoud lắc đầu:

- Nền văn minh cổ đặt căn bản trên sự bác ái, hoàn hảo của từng cá nhân làm ǵ có vấn đề nô lệ. Hiện tượng nô lệ chỉ bắt đầu khi văn hóa suy đồi, giới tu sĩ lộng hành và sau các cuộc chiến tranh. Lúc đầu họ là tù binh chiến tranh về sau họ trở thành nô lệ. Sau đó các giáo sĩ đặt ra luật những ai không cùng tôn giáo đều bị coi là nô lệ. Dân Do Thái v́ khác tôn giáo nên trở thành nạn nhân đầu tiên. T́nh trạng nô lệ thay đổi xă hội rất nhiều, các giáo sĩ không cần sử dụng bùa chú, thôi miên để thỏa măn dục vọng nữa, các nô lệ đương nhiên phải làm tất cả những ǵ giới chủ nhân muốn. Theo thời gian, pháp môn phù thủy, bùa chú cũng thất truyền v́ giới tu sĩ không cần đến nó nữa. Khi các phép thuật biến mất th́ uy tín các giáo sĩ cũng giảm theo và các vua Pharaoh bắt đầu hạn chế quyền lực các giáo sĩ. Khi nền văn minh xuống dốc, các chân lư tốt đẹp biến mất, đời sống hưởng thụ của tiện nghi vật chất khiến các vua chúa trở nên ích kỷ, chỉ muốn kéo dài đời sống nên phong tục xây cất nhà mồ, ướp xác trở nên thịnh hành v́ nó hứa hẹn một đời sống vĩnh cửu. Công cuộc xây cất những ngôi mộ vĩ đại đă khánh kiệt tài sản quốc gia, đưa xă hội Ai Cập vào một t́nh trạng suy thoái... Do đó, Ai Cập trở nên một miếng mồi ngon cho Ba Tư và Hy Lạp... Lịch sử đă ghi chép khá rơ ràng từ lúc này, tôi chắc các ông đă biết rơ...

Phái đoàn im lặng nh́n nhau, sự suy yếu của Ai Cập sau khi bị Ba Tư, Hy Lạp cai trị không phải là một điều xa lạ ǵ, nhưng tại sao một nền văn minh như Ai Cập đă xây cất những Kim Tự Tháp hùng vĩ, đă sản xuất biết bao nhân tài, ảnh hưởng rộng đến toàn cơi Trung Đông lại suy sụp mau chóng vẫn c̣n là một câu hỏi lịch sử. Lời giải thích của Hamoud là một ch́a khóa vô giá về lịch sử xứ này.

Nhà pháp sư Ai Cập mỉm cười nh́n tất cả mọi người:

- Lịch sử nhân loại luôn luôn biến đổi theo chu kỳ, nhiều việc xẩy ra trong quá khứ sẽ tiếp diễn lại. Có sống trong thời buổi đen tối, hỗn loạn, đầy đau khổ hoang mang nhân loại mới ao ước cơi tâm linh cao thượng. Nhu cầu này sẽ được đáp ứng và một đấng thánh nhân sẽ chuyển kiếp xuống trần, mở rộng cánh cửa tâm linh, hướng dẫn nhân loại thoát khỏi dưới một h́nh thức, phương tiện thích hợp với hoàn cảnh thời gian và không gian khi đó.

Điều này đă xẩy ra nhiều lần tại các nơi khác nhau trên thế giới từ Trung Hoa qua Ấn Độ và đến Trung Đông. Các bậc thánh nhân đều rao truyền những chân lư cao siêu, đẹp đẽ nhưng v́ nhân loại cứ u mê, thiếu hiểu biết nên chỉ ít lâu sau tất cả lại quay cuồng vào vết xe cũ. Các chân lư cao đẹp bị xuyên tạc, sửa dổi, giảng giải sai lạc bởi các giáo sĩ mê tín, thành kiến đầy cuồng tín.

Dù sao chăng nữa bánh xe tiến hóa vẫn quay đều và trong mọi hoàn cảnh, thời đại nào cũng có các cá nhân cố gắng vượt mức để tự giải thoát ra khỏi ảo ảnh của màn vô minh để nhận định chân lư...

Hamoud im lặng một lúc rồi thong thả:

- Tôi muốn các ông ghi nhận một điều này, các ông có thể coi đó như một lời tiên đoán hay cảnh cáo trước cũng được:

Thời gian sắp đến sẽ là một giai đoạn cực kỳ tiến bộ về tri thức nhưng thoái bộ về tâm linh. Moi sự hiểu biết chỉ nhằm vào hiện tượng (Phenomenon) thay v́ nguyên nhân, bản chất do đó, nền khoa học tương lai không thể chuyển biến được ḷng người hoặc giúp cho họ một cái nh́n sáng suốt, một tâm hồn b́nh an.

Nền “khoa học hiện tượng” chỉ kích thích giác quan, cảm xúc hướng ngoại sẽ khiến con người cực kỳ bất măn, lo âu và trở nên hoang mang phiêu bạt. Thêm vào đó nữa, sự khai quật các ngôi cổ mộ Ai Cập sẽ tháo cữi sổ lồng cho vô số âm binh, các động lực cực kỳ hung dữ. Như tôi vừa kể cho các ông, thời kỳ chót của nền văn minh Ai Cập các giáo sĩ đă thực hành tà thuật tối đa mà khoa ướp xác là một bí thuật mang sự liên lạc của cơi vô h́nh vào cơi trần. Tất cả ngôi cổ mộ đều là nơi giam giữ các động lực vô h́nh để canh giữ, duy tŕ ảnh hưởng tà môn.

Khi được tháo cũi, chúng sẽ mang nền Tà giáo cổ Ai Cập trở lại thế kỷ này, dĩ nhiên dưới một h́nh thức nào nó hợp thời hơn. Một số pháp sư vốn là sứ giả cơi âm sẽ đầu thai trở lại hoặc nhập xác để tác oai, tác quái tái tạo một xă hội tối tăm, sa đọa đi ngược trào lưu tiến hóa của Thượng Đế. Thế giới sẽ trở thành nạn nhân của thứ Tôn giáo ma quái này... Chiến tranh, đau khổ, bất an cùng các kích thích cảm giác mới lạ do nền “khoa học hiện tượng” mang lại sẽ thúc đẩy con người vào các cùng cực của cuộc sống.

Trong thời buổi này, khối óc lư trí không giúp được ǵ mà chỉ có sự hiểu biết và ư thức bản chất thầm lặng của nội tâm mới đáp ứng được. Đó là lối thoát duy nhất mà thôi.

Giáo sư Allen ngắt lời:

- Nhưng đă có bằng chứng ǵ về sự hiện diện của các động lực vô h́nh này, làm sao có thể cảnh cáo mọi người về sự trở lại của các pháp sư thời cổ?

Người Âu Mỹ sẽ chả bao giờ chấp nhận một điều hoang đường, vô lư nếu không có bằng chứng rơ rệt.

Hamoud mỉm cười bí mật:

- Cơi âm là đối tượng nghiên cứu của tôi nên tôi có thể tŕnh bày một vài dữ kiện để các ông suy nghiệm như một bằng chứng. Chuyện xẩy ra đă bắt đầu xẩy ra, theo thời gian các ông sẽ thấy. Dù các pháp sư tà đạo thời cổ này có khéo léo dẫn dụ con người bằng những danh từ hoa mỹ, những chủ thuyết đẹp đẽ thế đâu đi nữa th́ họ vẫn chỉ có thể sống như một con người. Dù thế nào họ cũng không thể bỏ qua các thói quen cũ của quá khứ, họ sẽ đội lốt tôn giáo, họ sẽ kêu gọi sự hợp tác của Thần quyền, họ sẽ đặt ra các giáo điều mới thay thế các chân lư cao đẹp để lôi kéo con người từ bỏ Thượng Đế. Họ sẽ sử dụng danh từ, ngôn ngữ để đánh lạc hướng mọi người, tuy nhiên trước sau ǵ họ cũng phải chết và trước khi chết họ sẽ di chúc yêu cầu ướp xác họ và xây dựng những nhà mồ vĩ đại bằng đá như họ đă từng làm trong quá khứ...

Giáo sư Allen bật cười:

- Như vậy th́ nhận diện họ quá dễ, nhưng tôi không tin thời buổi này c̣n ai ướp xác, xây cất nhà mồ như vậy, ông nên nhớ chúng ta đă bắt đầu vào thế kỷ hai mươi, không phải tám ngàn năm trước...

Hamoud mỉm cười:

 

-Nghe th́ dễ thật nhưng nó đ̣i hỏi một sự quyết tâm. Thứ nhất việc làm của ta phải bất vụ lợi, vị tha, vô tư v́ cơi âm là cơi tư tưởng. Nếu ta có ư định mưu đồ một việc ǵ, những người khác biết ngay và hậu quả lại chưa biết thế nào mà lượng được. Thứ hai, đa số các vong linh đều u mê, ngoan cố rất khó thuyết phục v́ các nghiệp quả trói buộc hoặc lưu luyến cơi trần v́ con cháu khóc than, thương tiếc quá họ đâm ra xúc động khó siêu thoát. Do đó, công việc này đ̣i hỏi sự tế nhị, khéo léo và một tâm hồn an tĩnh, không bối rối, xúc động. Nhưng khi ta đă phát tâm th́ tư tưởng này sẽ là một khí cụ rất tốt giúp đỡ ta rất nhiều. Theo ư kiến của tôi th́ việc có một kiến thức rộng răi về cơi âm là căn bản đầu tiên...

Giáo sư Allen lắc đầu:

- Nếu nói rằng khi ngủ ta qua cơi âm, tại sao tôi không ư thức một tí ǵ cả? Phải có một bằng chứng nào rơ rệt mới tin như vậy được.

- Các ông nên hiểu về sự cấu tạo của con người: Trong lúc thức tỉnh, thể Vía là cây cầu cho tâm thức. Mọi sự va chạm, rung động, cảm xúc bên ngoài do hệ thần kinh giao cảm được thể Vía chuyển vào tâm thức sau đó mới ghi nhận ở khối óc. Bằng chứng là ta suy nghĩ trước khi ta hành động có phải không? Nguyên nhân giấc ngủ là sự mệt mỏi của thể xác, nó cần phục hồi sức khỏe nên nằm yên nhưng thể Vía lại khác, nó vẫn hoạt động v́ bằng chứng là đôi khi ngủ say nhưng ta vẫn ư thức mọi việc xẩy ra chung quanh có đúng như thế không? Thể Vía luôn rung động để đáp ứng với hoàn cảnh chung quanh, v́ tính chất này nó rất mẫn cảm với các rung động của bản năng, ham muốn, dục vọng. Các tính xấu như giận hờn, oán ghét chẳng qua là sự cô đọng của tư tưởng mà thôi. Sự cô đọng này tạo thành một lớp vỏ bao trùm lên thể Vía và ảnh hưởng của nó. Do đó, tính t́nh con người chỉ là một thói quen của tư tưởng. Như tôi đă tŕnh bày, tư tưởng thanh cao cũng như hèn hạ đều bị thu hút vào thể vía và trực tiếp ảnh hưởng đến t́nh cảm con người. Bằng chứng là một người có tâm hồn thanh khiết không thể hợp với những nơi ồn ào náo nhiệt, ngược lại kẻ có tâm hồn náo động không thể chịu nơi vắng vẻ, êm đềm. Có người tự hỏi tại sao họ không thể ngồi yên một chỗ, không thể tu tập các pháp môn thiền quán? Ấy v́ thể Vía họ lao chao, muốn động. Họ cần biết cách chủ trị t́nh cảm, thanh lọc thể vía. Các món đồ ăn nặng trọc như thịt cá, rượu các chất kích thích cũng đem vào thể Vía các đối phần nặng trọc. Người tu phải triệt để từ bỏ các món ăn này v́ nó rất có hại cho việc tham thiền, quán tưởng. Thể xác và thể vía liên lạc với nhau qua bẩy trung tâm giao điểm sinh lực gọi là Luân Xa, tại đây có một tấm màn cấu tạo bẳng nguyên tử cơi trần để ngăn chặn ảnh hưởng cơi âm. V́ thế, kư ức và sinh hoạt lúc ngủ không chuyển sang khối óc vật chất tuy nhiên, đôi khi ngủ dậy ta vẫn mường tượng có một cái ǵ mà không sao nhớ được. Đối với một người b́nh thường th́ luân xa không thức động nên tấm màn này khép chặt nhưng rượu, thịt, các chất kích thích có thể phá hoại tấm màn này khiến nó bị rách và ảnh hưởng cơi âm có thể chuyển qua cơi trần khiến y bị điên khùng hay rối loạn hệ thần kinh. Có khi cá nhân mất tự chủ, bị các loài ma quỷ nhập vào sai khiến.

Giáo sư Allen lên tiếng:

- Những điều ông tŕnh bày rất lạ lùng, nhưng cũng có lư. Tuy nhiên, theo sự hiểu biết của chúng tôi th́ khoa học không thể chứng minh điều này. Liệu có cách nào khiến chúng tôi cũng khai mở các quang năng để nghiên cứu cơi giới vô h́nh như ông không?

 

 

Hamoud gật đầu:

- Sự khai mở quyền năng thuộc phạm vi tâm thức, trước khi mở tâm phải tinh luyện các thể đă. Nếu chưa thanh lọc được các thể th́ đừng nói đến khai mở bất cứ một giác quan nào.

- Vậy ta phải luyện các thể bằng cách nào?

- Tinh luyện thể Trí bằng sự suy tư chân chính. Trí tưởng tượng con người là một công cụ sáng tạo hữu hiệu, khi ta suy tư, tưởng tượng ta vô t́nh xây dựng thể Trí. Nếu ta chỉ suy tư những điều tốt lành, cao thượng th́ ta đă luyện trí rồi. Sau thể Trí là thể Vía, thể này chỉ luyện bằng các ham muốn chân chính. Hăy ham mê các điều cao thượng th́ tự khắc thể Vía sẽ phát triển.

- Ông nói nghe thật dễ dàng. Tư tưởng cao thượng và ham muốn chân chính là những điều trừu tượng, làm sao có thể làm được...

- Đa số mọi người quan niệm như thế nên chả khi nào tiến bộ được. Con người muốn quyền năng, giải thoát nhưng chỉ chờ đợi một phép lạ, một tha lực ngoại giới chứ không tự tin rằng ḿnh có khả năng làm những việc đó.

- Dù tôi muốn thanh lọc các thể th́ cũng phải có một phương pháp, một sự hướng dẫn, một kỹ thuật nào đó chứ nói một cách trừu tượng th́ ai nói chả được.

- Theo sự hiểu biết của tôi th́ Tôn giáo nào cũng dạy những điều cao đẹp và áp dụng những lời dạy này chả phải một phương pháp, kỹ thuật thanh lọc các thể hay sao?

- Như vậy ông theo phương pháp nào? Hăy nói về kinh nghiệm của ông đă...

Hamoud trầm ngâm rồi gật đầu:

- Được lắm, tôi được truyền thụ phương pháp này tại một tu viện ở Tây Tạng nên chịu ảnh hưởng Phật Giáo rất nhiều: Thứ nhứt là luyện thể xác, phải biết cách kiểm soát, kiềm chế thể xác hoàn toàn, quy định mọi hoạt động như ăn, uống, ngủ cho thật đúng. Thức ăn được phân làm ba loại: Tĩnh, Động và Điều Ḥa, người tập phải tránh đồ ăn “Tĩnh” v́ nó làm thể xác hôn mê, lười biếng, bất động. Các thức ăn có đặc tính “Tĩnh” là các món đang lên men, các thứ đồ khô, các loại rượu. Các món ăn có đặc tính “Động” như thịt, cá thường đem lại các kích thích hăng hái nhất thời, xác chết thú vật gồm nhiều nguyên tử nặng nề bởi các thú tính thấp hèn không thích hợp cho việc tu hành, thanh lọc. Chỉ có các món ăn “Điều Ḥa” như các thứ có khả năng tăng trưởng, chứa nhiều sự sống như ngũ cốc v́ nó sắp đâm mầm, nẩy lộc, các loại trái cây vốn tràn đầy nhựa sống, các loại rau cỏ vốn hấp thụ khí thái dương cần thiết cho một thể xác cường tráng, nhạy cảm.

Sau việc ăn uống c̣n phải thở hít, hô hấp cho đúng cách. Khoa học chứng minh con người sống được là nhờ hơi thở nhưng thật ra đó là nhờ Sinh khí (Prana).

Chính các sinh khí này thấm nhuần khắp cơ thể, mang sự sống đến khắp tế bào. Prana xuất phát từ ánh sáng mặt trời, nó rung động và pha trộn trong không khí. Bằng cách hô hấp thật sâu, thong thả, Prana sẽ thấm vào thần kinh hệ và lưu thông khắp châu thân mang sự sống khắp xác thể. Chính các Prana tích tụ trong hệ thần kinh tạo ra luồng “Nhân điện” một yếu tố quan trọng của sự sống.

Tóm lại, dinh dưỡng đúng cách bằng các món ăn có đặc tính điều ḥa, tập thở hít đúng cách là phương pháp tinh luyện thể xác vô cùng quan trọng. Như các ông thấy, phương pháp này không có ǵ trái với khoa học hiện tại, cách thực hành có thể khác nhau tùy cá nhân, người gọi nó là thể dục, người gọi nó là thiền định điều này không quan trọng v́ căn bản chính chỉ nhằm đem lại một thể xác lành mạnh, cường tráng. Người luyện thể xác cần sống nơi thoáng khí, nhiều ánh sáng mặt trời để đón nhận các sinh lực prana nhằm bổ túc luồng nhân điện. Các món ăn như thịt cá mang lại các rung động thô bạo khiến luồng nhân điện này chạy loạn lên khó kiểm soát gây nên các bệnh tật hoặc phá hoại hệ thần kinh. Các món ăn Tĩnh như rượu làm tê liệt bộ thần kinh khiến luồng nhân điện bị ngắt quăng không đều ngăn trở các sinh khí prana lưu thông mang sinh lực nuôi thể xác gây nên nhiều hậu quả không tốt.

Sau khi thanh lọc thể xác ta bắt đầu luyện đến thể Vía: Thể Vía là trung tâm của t́nh cảm, một khi t́nh cảm trong sạch, vị tha, bác ái đương nhiên các chất thanh nhẹ sẽ được hấp thụ vào và các chất nặng trọc, xấu xa sẽ bị đào thải ra ngoài theo một nguyên lư giống như sự thẩm máu (Osmosis). Khi thể Vía thanh cao nó sẽ rung động với các tư tưởng cao thượng mang tâm thức lên một b́nh điện cao hơn. Khi sự rung động (Vibration) đến một chu kỳ nào đó (In - phase) các giác quan thể vía bắt đầu khai mở và tự nhiên con người sẽ bắt đầu có quyền năng đặc biệt. Nói một cách khoa học hơn, các giác quan thể Vía chỉ hoạt động ở một chu kỳ và chỉ khi thể Vía rung động đúng chu kỳ này nó mới được đánh thức để hoạt động. Thể vía chỉ có thể rung động ở chu kỳ này khi nó được cấu tạo bằng những nguyên tử thật thanh, nhẹ khi những nguyên tử nặng trọc bị khu trục hết, điều này chỉ xẩy ra khi con người chỉ có các t́nh cảm cao thượng ḷng bác ái tốt lành bao trùm mọi vật. Đó là bí quyết cách luyện thể Vía.

Khi bẩy giác quan của thể vía hoạt động, nó sẽ khai mở một số bí huyệt để luồng hỏa hầu Kundalini thức giấc, khi luồng hỏa hầu này chạy dọc theo xương sống lên đỉnh đầu, nó sẽ thúc đẩy, khai mở thể trí khiến nó khai triển để hợp nhất với chơn thần. Khi thể trí khai triển, mở lớn ra nó sẽ khởi sự tiêu diệt cái phàm ngă ích kỷ của con người để hướng lên các điều thánh thiện. Đây là một giai đoạn vô cùng khó khăn, rất ít ai vượt qua nổi: Danh từ Phật giáo gọi là Phật tánh biểu lộ, danh từ Thiên Chúa Giáo gọi là sự quên ḿnh để ḥa nhập với đấng Cứu Thế, danh từ Ấn Giáo gọi là sự hợp nhất với Chân Ngă. Nói một cách giản dị th́ đây là lúc trí tuệ quy kết các tư tưởng và hoạt động về t́nh huynh đệ, bác ái nhu thuận, từ bi, trí tuệ, vị tha, hỷ xả để kết tinh thành chân ngă. Khi phàm ngă hoàn toàn bị hủy diệt, các thể cũng hoàn toàn được thanh lọc th́ không c̣n sự phân biệt giữa ta và tha nhân, giữa chủ thể và đối tượng mà tất cả đều là một. Thể trí không c̣n tính cách cá nhân mà đă thành “Đại Trí” hay trí tuệ “Bát nhă”. Tâm thức cũng không c̣n là tâm cá nhân mà thành tâm thức “Bồ Đề” ḥa hợp hoàn toàn với tâm thức vũ trụ. Cả tâm lẫn trí mở rộng đón nhận ánh sáng chân lư mà không c̣n phải học hỏi, lư luận ǵ nữa. Đây chính là giai đoạn giác ngộ của người tu. Họ trở nên một đấng siêu nhân, một vị Tổ, một vị Thánh...

Giáo sư Evans - Wentz thắc mắc:

- Căn cứ vào đâu ta biết được như vậy? Phải có bằng chứng ǵ chứ?

Hamoud lắc đầu:

- Các kinh nghiệm quư báu, thiêng liêng đó chỉ có các bậc giác ngộ rồi mới hiểu được. Không một vị thánh nào vỗ ngực tự xưng đă đạt quả vị này hay quyền năng nọ. Khi đă giác ngộ th́ chức tước, danh vọng, địa vị đâu có nghĩa lư ǵ nữa v́ họ đâu c̣n bản ngă thấp hèn như chúng ta để phân biệt. Chỉ có các “bậc lừa bịp”, các tu sĩ giả mạo mới thích danh vọng, chức tước v́ bản ngă họ c̣n to lớn và cần các danh xưng, địa vị để lừa bịp tín đồ nhẹ dạ.

- Trên nguyên tắc th́ như vậy nhưng c̣n phương pháp, kỹ thuật th́ ra sao?

- Phương pháp, kỹ thuật th́ rất nhiều, con đường đến chân lư cũng thế tùy theo nhân duyên, căn cơ cá nhân không thể áp dụng một kỹ thuật nào cứng nhắc được. Phương pháp, kỹ thuật có thể khác nhau nhưng nguyên tắc chỉ có một. Sự thật là chân lư luôn luôn được truyền dạy dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác tùy theo điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện. Phương pháp tuy khác nhưng chân lư vẫn là một giống như nước suối hay nước sông th́ vẫn là nước mà thôi (Tùy duyên bất biến).

Chân lư có thể được truyền dạy bởi những thầy phù thủy trong các bộ lạc man dă hoặc các bậc giáo chủ trong kinh điển tôn giáo. Kinh điển hay tôn giáo có thể khác nhau về h́nh thức nhưng vẫn có những điểm tương đồng mà ta phải chấp nhận.

- Chấp nhận phải chăng là một h́nh thức của tin tưởng?

- Con đường đạo đ̣i hỏi một đức tin nhưng không phải nhắm mắt tin tưởng bừa băi. Đức tin chỉ đến sau khi người t́m đạo tự ḿnh nhận thức rơ ràng, sau khi hiểu biết chứng nghiệm nó một cách rốt ráo. Các ông là những khoa học gia, không đời nào các ông tin tưởng một sự kiện ǵ nếu không kiểm chứng rơ ràng, sự nghi ngờ là một điều cần thiết nhưng nếu có những sự kiện mà khoa học không thể chứng minh hay chưa thể chứng minh được các ông sẽ phải làm ǵ? Phủ nhận chăng? Nếu phủ nhận các ông đă bỏ qua một cơ hội t́m hiểu nghiên cứu. Nếu chấp nhận mà không kiểm chứng th́ các ông đă mù quáng tin tưởng bừa băi. Tôi không mong các ông phải tin tưởng những điều tôi tŕnh bày, nhưng mong các ông hăy suy gẫm, nghiên cứu nó, nếu chưa thể sử dụng các dụng cụ khoa học thực nghiệm để chứng minh th́ hăy sử dụng lư trí, trực giác v́ sự nghiên cứu cơi âm là một khoa học chứ không phải một sự tin tưởng bừa băi. Kiến thức về cơi giới này sẽ giúp đỡ nhiều người, tôi tin rẳng trong một ngày không xa sẽ có nhiều cuộc nghiên cứu về đối tượng này.

- Tại sao ông không công bố những điều t́m được cho mọi người? Tại sao ông lại ẩn thân một nơi hoang vu như thế này? Nếu ông muốn kiến thức về cơi giới này được nghiên cứu rộng răi th́ ông phải là người khởi xướng nó lên để mọi người được biết và biết đâu chẳng có những cuộc nghiên cứu theo sau?

Hamoud mỉm cười:

- Khi tŕnh độ con người chưa đến lúc, có những điều chưa thể công bố được. Các bậc giáo chủ ngày trước chẳng giảng dạy chân lư ra làm hai phần Công truyền và Bí truyền hay sao? Tại sao các ngài lại dạy riêng cho một thiểu số môn đồ môn giáo lư bí truyền? Phải chăng các ngài biết chỉ một thiểu số người có thể lĩnh hội những điều ngài giảng dạy. Khoa học nghiên cứu về cơi âm cũng có những sự nguy hiểm riêng của nó, không thể truyền dạy bừa băi cho tất cả mọi người.

- Xin ông giải thích rơ hơn về việc này, tại sao lại nguy hiểm?

- Tôi vừa tŕnh bày cho các ông một phương pháp tinh luyện các thể như tôi đă được truyền dạy. Dĩ nhiên, c̣n có nhiều phương pháp khác cũng mang lại các kết quả tương tự nhưng cứu cánh lại khác hẳn. Có hàng trăm phương pháp phát triển năng khiếu thần thông nhưng người tu phải hiểu rằng quyền năng chỉ là những phương tiện thấp thỏi, giúp ta mở rộng kiến thức. Quyền năng không bao giờ là một cứu cánh, một mục đích. Sự tham luyến, vọng tưởng sẽ đưa người có quyền năng vào ma đạo. Người tu hành cần ư thức rơ rệt rằng chỉ khi nào phàm ngă hoàn toàn bị tiêu diệt th́ con người mới thoát khỏi ảo ảnh của màn vô minh và thực sự chứng nghiệm chân lư. Quyền năng càng cao ta càng phải lập hạnh, nghiêm khắc giữ ǵn đề cao cảnh giác các ảo ảnh của vô minh...

- Ông nói đến vô minh như một cái ǵ trừu tượng, liệu ông có thể lấy một thí dụ dễ hiểu hơn không v́ danh từ này c̣n xa lạ với chúng tôi?

- Hăy lấy thí dụ một người tu hành công phu khổ luyện đă bắt đầu khai mở vài quyền năng thô thiển như Thần Nhăn chẳng hạn. V́ số người có quyền năng này ở cơi trần rất ít, người đó đă tưởng ḿnh tiến bộ vượt bực, đă trở nên một đấng này, đấng nọ. Ḷng kiêu căng phát triển xúi dục họ nghĩ rằng ḿnh đă đắc quả vị lớn lao, đă được giao phó các sứ mạng cao cả. Họ tự phong cho ḿnh những chức tước, danh vọng hoặc đôi khi tín đồ xưng tụng cho họ là đấng này, đấng nọ th́ họ cũng chấp nhận tuốt, họ nghĩ ḿnh đă sáng suốt, cao cả th́ c̣n lầm lạc thế nào được nữa... Họ đâu hiểu rằng trong cơi âm có rất nhiều vong linh bất hảo hay t́m cách hướng dẫn sai lạc những người non nớt vừa bắt đầu khai mở quyền năng. Dĩ nhiên với trí tuệ nông cạn, họ không có một tiêu chuẩn nào để xét đoán, hiểu biết những hiện tượng, những điều họ nh́n thấy và trắc nghiệm xem điều đó có hợp với chân lư hay không? Bởi thế họ dễ bị lung lạc để trở nên một tay sai đắc lực của các vông linh, ma quỷ, các sinh vật vô h́nh. Như các ông đă thấy những pháp sư, thầy phù thủy, các tu sĩ thiếu sáng suốt, thiếu công phu tu hành, thiếu tŕ giới đều rơi vào cạm bẫy của vô minh cả. Họ có một vài quyền năng thật nhưng không sử dụng nó vào mục đích giúp đời mà sử dụng vào các việc ích kỷ hại nhân...

- Nhưng làm sao tránh được các điều này? Làm sao một người mới bắt đầu có quyền năng biết được những điều ḿnh nh́n thấy không phải là một ảo ảnh của vô minh, những điều ḿnh chứng nghiệm không phải một sự truyền dạy vu vơ của loài sinh vật vô h́nh?

Hamoud nghiêm trang tuyên bố:

- Người nào sống một đời tinh khiết về tư tưởng và hành động, không bị ô nhiểm bởi ích kỷ th́ sẽ được che chở. V́ các rung động thanh cao, các ảnh hưởng xấu không thể xâm nhập, các vong linh bất hảo thấy người đó không có ǵ để chúng lợi dụng được. Trái lại, một người c̣n nhiều tham vọng, thiếu công phu tŕ giới th́ chính sự rung động bất thiện phát xuất từ nội tâm người đó sẽ hấp dẫn các vong linh, ma quái đến quanh. Trong họ c̣n đầy đủ các khí cụ như Tham, Sân, Si hay ích kỷ, mê muội th́ quá dễ dàng để các vong linh lợi dụng. Một tu sĩ bất cứ tôn giáo nào cũng đều phải giữ giới, tuân các điều răn v́ các bậc giáo chủ sáng lập tôn giáo đă đi qua con đường đó, đă biết các hiểm nguy và đặt ra cấm điều để cho người theo sau biết đường mà tránh.

- Nhưng các lối tu luyện thần thông vào mục đích nhất định như chữa bệnh th́ sao?

- Điều này tùy tâm thức người luyện nhưng theo sự hiểu biết của tôi bất cứ lối tập luyện nào thiếu sự đứng đắn đều đưa vào con đường nguy hiểm. Các ông nên biết một khi có quyền năng, dù là một quyền năng hạ cấp rất thô thiển, kẻ sử dụng nó đều có thể làm nhiều việc mà người b́nh thường cho là “Phi thường” v́ đa số nhân loại chưa có khả năng đó. Điều này khiến kẻ luyện dễ trở nên kiêu căng và nếu không trong sạch, y có thể sử dụng quyền năng vào các điều tà muội.

Giáo sư Allen lắc đầu:

- Ông nói điều xấu, điều tốt như có một tiêu chuẩn rơ ràng vậy. Tại sao ông không nghĩ xấu hay tốt chỉ là những điều tương đối, một điều người Âu cho là vô lư có thể người Á lại chấp nhận như một sự kiện hữu lư...

Hamoud gật đầu:

- Đúng thế, quan niệm xấu tốt, thiện ác ít nhiều chịu ảnh hưởng xă hội nhưng vượt lên cao hơn nữa chúng ta vẫn có luật vũ trụ kia mà. Theo sự hiểu biết của tôi th́ có hai con đường: Chính đạo và Tà đạo.

Con người làm chuyện tà đạo là khi y dùng quyền năng tiềm tàng của ḿnh để mưu lợi riêng cho sự phát triển cá nhân và sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của kẻ khác. Phát triển cá nhân ở đây có nghĩa là sự bành trướng về giác quan, cảm xúc hay tri thức của cá nhân mà không đếm xỉa đến sự thiệt hại cho kẻ khác. Một người lợi dụng sự ngu dốt, yếu đuối của kẻ khác để thu lấy ít lợi lộc về tiền bạc hay thỏa măn tham vọng cá nhân tức là đang đi trên con đường tà đạo. Nếu y có chút quyền năng y sẽ trở nên ghê gớm như thế nào?

Chánh đạo cũng là việc sử dụng những quyền năng của ḿnh nhưng để phụng sự nhân loại. Trong khi phụng sự, con người sẵn sàng hy sinh mọi tiện nghi, tham vọng cá nhân ḿnh để làm việc hữu ích cho kẻ khác. Kẻ phụng sự dứt tuyệt các thú vui về giác quan, từ bỏ mọi tôn kính chính đáng mà y có quyền hưởng thụ, dẹp bỏ cái phàm ngă cá nhân mà chỉ chú trọng đến mục đích là đạt đến sự toàn thiện.

Tà đạo là sử dụng quyền năng qua các h́nh thức lễ nghi, cúng bái trợ lực để tạo nên các đoàn thể, h́nh thức, các h́nh thức này có thể là vật chất hay một tổ chức mà công cụ của nó không phải lo cho đời sống chúng hay một lư tưởng cao thượng mà chỉ là một h́nh thức cho quan niệm riêng của ḿnh phát biểu.

Chánh đạo là sử dụng các quyền năng cố hữu của bản chất con người để vượt qua mọi hạn định của h́nh thức, để giải thoát tâm hồn khỏi các trói buộc của cảm giác, sự tưởng tượng hay xu hướng nhất thời, để tránh các cám dỗ, lừa gạt của vô minh để phục vụ cái phần bất tử thiêng liêng của bản thể, chân như.

Một người nghiên cứu huyền môn có thể đi trên đường chính cũng như tà, họ có thể t́m cách phát triển cá nhân qua sự tự chủ gắt gao để khai mở các quyền năng, thu thập kiến thức. Họ cũng có thể ao ước cơi thiên đàng mở rộng trong ḷng mọi người và chính trong họ qua các hành động bác ái, vị tha. Trong hai trường hợp, hạng đầu cầu mong kiến thức, quyền năng khi hạng sau muốn trở nên người hữu dụng. Càng đi xa th́ sự tiến bộ càng khác biệt. Người sử dụng kiến thức, quyền năng để phụng sự, sẽ trở nên một bậc “Bồ Tát” và chỉ có trái tim Bồ Tát mới là ánh sáng soi đường, chỉ lối giúp họ đi trọn vẹn con đường đạo. Người cầu trí thức cho ḿnh chỉ quanh quẩn trong phạm trù cá nhân một lúc, thiếu từ bi trí tuệ y rất dễ bị sa ngă vào ma đạo lúc nào không hay. Không có trí tuệ bát nhă soi đường y dễ trở thành nạn nhân của vô minh. Điều này cũng như một người đi biển mà không có bản đồ, la bàn định hướng mà đi bừa băi th́ làm sao đến nơi được. Đường đạo cũng thế, một tu sĩ phải tŕ giới nghiêm minh để tu thân nhưng thế vẫn chưa đủ mà c̣n phải lập những hạnh nguyện, xác định mục đích rơ ràng để hành động, có tu th́ phải có hành, phải biết đem kiến thức của ḿnh ra để giúp ích cho những người khác. Trí tuệ phải đi đôi với Bác ái, có “Trí” mà thiếu cái “Tâm” chỉ là mớ kiến thức vô dụng, một cái xác không hồn. Có “Tâm” mà thiếu “Trí” cũng không được v́ sẽ dễ sa ngă, đi lầm vào tà đạo. Đó là điều đă xẩy ra trong quá khứ, các tu sĩ thiếu kiến thức, trí tuệ đă bị vô minh che phủ, họ coi Thượng Đế như một đấng thần linh để thờ phụng, tách ngài ra khỏi tín đồ và dạy bảo rằng ngài cao siêu quá, không thể nói chuyện với những người tầm thường được mà phải qua sự trung gian của giới tăng lữ. Họ đặt đủ các ngôn từ hoa mỹ, thêu gấm dệt hoa vào giáo điều để tín đồ quay cuồng trong ngôn ngữ mà xa lánh chân lư thực tế. Dần dần các chân lư cao đẹp bị bao phủ bằng các h́nh thức mê tín dị đoan, các điều sằng bậy và đưa nó vào chỗ suy tàn... Đó là điều đă xẩy ra cho tôn giáo Ai Cập.

Giáo sư Wentz ngắt lời:

- Xin ông nói rơ hơn về sự suy tàn của nền văn minh Ai Cập, lịch sử vẫn chưa hiểu tại sao nền văn minh này lại suy tàn nhanh chóng như vậy?

Hamoud im lặng như hồi tưởng một kư ức xa xôi nào đó, một lúc sau y gật đầu:

- Có nhiều giả thuyết về sự suy tàn của nền văn minh Ai Cập, đa số đổ lỗi cho chiến tranh, bệnh dịch, thiên tai nhưng ít ai biết rơ nguyên nhân sâu xa. Tôi không có ư muốn tiết lộ những điều này v́ mục đích buổi tiếp xúc hôm nay là nói chuyện, tham khảo về cơi giới vô h́nh. Tuy nhiên, tôi sẵn sàng tiết lộ những điều thầm kín như một nhân duyên đặc biệt với các ông, điều này không phải tự ư tôi nhưng do một thông điệp tư tưởng của một vị chân sư chuyển giao. Tôi muốn tiết lộ những điều này như một cảnh cáo đối với thế giới ngày nay để họ không đi vào vết xe những việc xẩy ra trong qua khứ...

Một lần nữa, sự hiện diện của một vị chân sư bí mật lại được nhắc đến khiến mọi người vô cùng cảm kích. Vị pháp sư Ai Cập ngửa mặt nh́n lên trời như ôn lại dĩ văng:

- Trong thời buổi vàng son, nền văn minh Ai Cập đến lúc cực thịnh. Các đạo viện với những minh sư truyền dạy khoa học huyền môn, đưa dân trí đến một mức tiến bộ vượt xa thời buổi hiện nay. Tuy nhiên, theo thời gian nhiều tu sĩ đă không giữ ǵn giới luật khắc khe hoặc thấu hiểu các giáo điều cao siêu. Họ bèn t́m một lối đi ngắn hơn và dễ hơn, chú trọng về phương pháp kỹ thuật (techniques) để đạt đến quyền năng. Thần thông trở nên mục đích chứ không phải phương tiện nữa. Để đạt mục đích, họ không ngần ngại hy sinh quyền lợi tôn giáo, quốc gia... Thiếu sáng suốt nên họ đi vào ma đạo và chịu sự sai khiến của các động lực bất hảo. Các tăng lữ này lập thành phe nhóm, liên kết lẫn nhau để tạo một ảnh hưởng cực mạnh đến nỗi các vua Pharaoh hách dịch cũng phải kiêng dè. Họ lạm dụng danh từ tôn giáo, thần linh, truyền bá các tà thuật, phù phép, thần chú hắc ám để lôi cuốn tín đồ. Dĩ nhiên với các tà thuật, họ có thể làm mọi thứ mà một người b́nh thường vô phương chống lại. Chỉ một thời gian ngắn, dân chúng đều trở nên nạn nhân của một thứ Tà giáo. Các vị pháp sư trở nên sứ giả của cơi âm, một thứ quỷ sống đội lốt người, họ c̣n kêu gọi những âm binh hung ác nhất đến giúp họ đạt các mục đích tà muội.

Trong đền thờ, khoa phù thủy thay thế sinh hoạt tâm linh và các tu sĩ chân chính bị loại trừ, đào thải nhanh chóng. Cũng v́ thế, khoa huyền môn chân chính trở nên thất truyền v́ không người tu học, nghiên cứu. Các tu sĩ chân chính phải trốn tránh, từ bỏ các giáo đường uy nghiêm. Nền văn minh đặt căn bản trên kiến thức huyền môn cũng tàn lụi khi cánh cửa huyền môn chân chính khép chặt. Các ông nên rơ, trong thời cổ, hầu hết các khoa học gia, y sĩ, các nhà toán học kiến trúc đều xuất thân từ giới tu sĩ hoặc học hỏi trong các tu viện v́ thời đó không có trường học hay một nền giáo dục như bây giờ. Khi bùa chú, phép thuật mê hoặc nhân tâm, thúc đẩy con người tư bỏ Thượng Đế để tôn thờ các loài ma quái th́ các thứ như Chiêm tinh, Toán học, Kiến trúc không c̣n lư do để tồn tại.

Thời gian trôi qua, nền văn minh Ai Cập huy hoàng đă xuống dốc cực kỳ thảm hại. Chính các tu sĩ lầm lạc, ích kỷ đầy tham vọng đă là nguyên nhân gây nên hoàn cảnh trên, họ lợi dụng danh nghĩa “Tôn giáo”, một thứ tôn giáo ma quái, xa ĺa Thượng Đế để đưa Ai Cập vào con đường thoái hóa. Thay v́ lo giải thoát cho chính ḿnh khỏi mê lầm th́ họ lại hướng dẫn quần chúng vào ma đạo. Thay v́ tuân theo các giới luật th́ họ lại phá giới, ngụy biện bằng các danh từ hoa mỹ, tốt đẹp. Thay v́ kiểm thảo nội tâm họ lại lập phe nhóm bênh vực lẫn nhau để che dấu các hành vi tà muội. Khoa nghi thức hành lễ mất hết các tính cách thiêng liêng mà chỉ c̣n h́nh thức bề ngoài, kêu gọi một năng lực ngoại giới đến trợ giúp quyền uy giáo sĩ. Sự hiến dâng biến thành hối lộ, tu sĩ lựa chọn các thứ ḿnh thích nhất như món ăn, thiếu nữ xinh đẹp để Tế Thần và sau đó đem chia chác lẫn nhau cùng hưởng thụ. Thượng Đế nhân từ bác ái bỗng biến thành một thần linh toàn lực, toàn uy, trọn quyền thưởng phạt mà giới giáo sĩ là trung gian. Để lung lạc nhân tâm, khoa bùa chú, thôi miên được sử dụng tối đa như một phương tiện cần thiết để thỏa măn tham vọng cá nhân.

Để tránh các tinh túy huyền môn không lọt vào tay giới bàn môn tà đạo, các tu sĩ chân chính đă sử dụng khoa Ám Tự (Hierograph). Đây là một văn tự huyền bí ẩn dấu nhiều ư nghĩa tâm linh mà chỉ các tu sĩ chân chính sau khi vượt qua các thử thách mới được tiết lộ. Sự sử dụng ư nghĩa tượng trưng (Symbol) hoặc tỷ dụ (Parapol) được sử dụng tối đa. Chính Moses về sau đă sử dụng ngôn ngữ này trong các cuốn sách của Do Thái (Bộ sách Pentateuque).

Sự bành trướng của nhóm Tà đạo quá mạnh, các tu sĩ chân chính phải rút vào rừng sâu núi thẳm và cuối cùng th́ khoa Huyền môn chân chính cũng thất truyền. Một số giáo sĩ, khoa học gia, các nhà Toán học, kiến trúc trốn sang Hy Lạp và truyền dạy các khoa này tại đây, mở đầu cho một nền văn minh mới. Trong khi đó, để lôi cuốn phe đảng, vấn đề truyền giáo được đặt ra và giới tăng lữ buộc các vua Pharaoh phải gây chiến tranh truyền bá tôn giáo. Các cuộc “Thánh Chiến” này đă đem lại một giai cấp mới: Nô lệ.

Giáo sư Mortimer ngạc nhiên:

- Như vậy trước đó không có nô lệ hay sao?

Hamoud lắc đầu:

- Nền văn minh cổ đặt căn bản trên sự bác ái, hoàn hảo của từng cá nhân làm ǵ có vấn đề nô lệ. Hiện tượng nô lệ chỉ bắt đầu khi văn hóa suy đồi, giới tu sĩ lộng hành và sau các cuộc chiến tranh. Lúc đầu họ là tù binh chiến tranh về sau họ trở thành nô lệ. Sau đó các giáo sĩ đặt ra luật những ai không cùng tôn giáo đều bị coi là nô lệ. Dân Do Thái v́ khác tôn giáo nên trở thành nạn nhân đầu tiên. T́nh trạng nô lệ thay đổi xă hội rất nhiều, các giáo sĩ không cần sử dụng bùa chú, thôi miên để thỏa măn dục vọng nữa, các nô lệ đương nhiên phải làm tất cả những ǵ giới chủ nhân muốn. Theo thời gian, pháp môn phù thủy, bùa chú cũng thất truyền v́ giới tu sĩ không cần đến nó nữa. Khi các phép thuật biến mất th́ uy tín các giáo sĩ cũng giảm theo và các vua Pharaoh bắt đầu hạn chế quyền lực các giáo sĩ. Khi nền văn minh xuống dốc, các chân lư tốt đẹp biến mất, đời sống hưởng thụ của tiện nghi vật chất khiến các vua chúa trở nên ích kỷ, chỉ muốn kéo dài đời sống nên phong tục xây cất nhà mồ, ướp xác trở nên thịnh hành v́ nó hứa hẹn một đời sống vĩnh cửu. Công cuộc xây cất những ngôi mộ vĩ đại đă khánh kiệt tài sản quốc gia, đưa xă hội Ai Cập vào một t́nh trạng suy thoái... Do đó, Ai Cập trở nên một miếng mồi ngon cho Ba Tư và Hy Lạp... Lịch sử đă ghi chép khá rơ ràng từ lúc này, tôi chắc các ông đă biết rơ...

Phái đoàn im lặng nh́n nhau, sự suy yếu của Ai Cập sau khi bị Ba Tư, Hy Lạp cai trị không phải là một điều xa lạ ǵ, nhưng tại sao một nền văn minh như Ai Cập đă xây cất những Kim Tự Tháp hùng vĩ, đă sản xuất biết bao nhân tài, ảnh hưởng rộng đến toàn cơi Trung Đông lại suy sụp mau chóng vẫn c̣n là một câu hỏi lịch sử. Lời giải thích của Hamoud là một ch́a khóa vô giá về lịch sử xứ này.

Nhà pháp sư Ai Cập mỉm cười nh́n tất cả mọi người:

- Lịch sử nhân loại luôn luôn biến đổi theo chu kỳ, nhiều việc xẩy ra trong quá khứ sẽ tiếp diễn lại. Có sống trong thời buổi đen tối, hỗn loạn, đầy đau khổ hoang mang nhân loại mới ao ước cơi tâm linh cao thượng. Nhu cầu này sẽ được đáp ứng và một đấng thánh nhân sẽ chuyển kiếp xuống trần, mở rộng cánh cửa tâm linh, hướng dẫn nhân loại thoát khỏi dưới một h́nh thức, phương tiện thích hợp với hoàn cảnh thời gian và không gian khi đó.

Điều này đă xẩy ra nhiều lần tại các nơi khác nhau trên thế giới từ Trung Hoa qua Ấn Độ và đến Trung Đông. Các bậc thánh nhân đều rao truyền những chân lư cao siêu, đẹp đẽ nhưng v́ nhân loại cứ u mê, thiếu hiểu biết nên chỉ ít lâu sau tất cả lại quay cuồng vào vết xe cũ. Các chân lư cao đẹp bị xuyên tạc, sửa dổi, giảng giải sai lạc bởi các giáo sĩ mê tín, thành kiến đầy cuồng tín.

Dù sao chăng nữa bánh xe tiến hóa vẫn quay đều và trong mọi hoàn cảnh, thời đại nào cũng có các cá nhân cố gắng vượt mức để tự giải thoát ra khỏi ảo ảnh của màn vô minh để nhận định chân lư...

Hamoud im lặng một lúc rồi thong thả:

- Tôi muốn các ông ghi nhận một điều này, các ông có thể coi đó như một lời tiên đoán hay cảnh cáo trước cũng được:

Thời gian sắp đến sẽ là một giai đoạn cực kỳ tiến bộ về tri thức nhưng thoái bộ về tâm linh. Moi sự hiểu biết chỉ nhằm vào hiện tượng (Phenomenon) thay v́ nguyên nhân, bản chất do đó, nền khoa học tương lai không thể chuyển biến được ḷng người hoặc giúp cho họ một cái nh́n sáng suốt, một tâm hồn b́nh an.

Nền “khoa học hiện tượng” chỉ kích thích giác quan, cảm xúc hướng ngoại sẽ khiến con người cực kỳ bất măn, lo âu và trở nên hoang mang phiêu bạt. Thêm vào đó nữa, sự khai quật các ngôi cổ mộ Ai Cập sẽ tháo cữi sổ lồng cho vô số âm binh, các động lực cực kỳ hung dữ. Như tôi vừa kể cho các ông, thời kỳ chót của nền văn minh Ai Cập các giáo sĩ đă thực hành tà thuật tối đa mà khoa ướp xác là một bí thuật mang sự liên lạc của cơi vô h́nh vào cơi trần. Tất cả ngôi cổ mộ đều là nơi giam giữ các động lực vô h́nh để canh giữ, duy tŕ ảnh hưởng tà môn.

Khi được tháo cũi, chúng sẽ mang nền Tà giáo cổ Ai Cập trở lại thế kỷ này, dĩ nhiên dưới một h́nh thức nào nó hợp thời hơn. Một số pháp sư vốn là sứ giả cơi âm sẽ đầu thai trở lại hoặc nhập xác để tác oai, tác quái tái tạo một xă hội tối tăm, sa đọa đi ngược trào lưu tiến hóa của Thượng Đế. Thế giới sẽ trở thành nạn nhân của thứ Tôn giáo ma quái này... Chiến tranh, đau khổ, bất an cùng các kích thích cảm giác mới lạ do nền “khoa học hiện tượng” mang lại sẽ thúc đẩy con người vào các cùng cực của cuộc sống.

Trong thời buổi này, khối óc lư trí không giúp được ǵ mà chỉ có sự hiểu biết và ư thức bản chất thầm lặng của nội tâm mới đáp ứng được. Đó là lối thoát duy nhất mà thôi.

Giáo sư Allen ngắt lời:

- Nhưng đă có bằng chứng ǵ về sự hiện diện của các động lực vô h́nh này, làm sao có thể cảnh cáo mọi người về sự trở lại của các pháp sư thời cổ?

Người Âu Mỹ sẽ chả bao giờ chấp nhận một điều hoang đường, vô lư nếu không có bằng chứng rơ rệt.

Hamoud mỉm cười bí mật:

- Cơi âm là đối tượng nghiên cứu của tôi nên tôi có thể tŕnh bày một vài dữ kiện để các ông suy nghiệm như một bằng chứng. Chuyện xẩy ra đă bắt đầu xẩy ra, theo thời gian các ông sẽ thấy. Dù các pháp sư tà đạo thời cổ này có khéo léo dẫn dụ con người bằng những danh từ hoa mỹ, những chủ thuyết đẹp đẽ thế đâu đi nữa th́ họ vẫn chỉ có thể sống như một con người. Dù thế nào họ cũng không thể bỏ qua các thói quen cũ của quá khứ, họ sẽ đội lốt tôn giáo, họ sẽ kêu gọi sự hợp tác của Thần quyền, họ sẽ đặt ra các giáo điều mới thay thế các chân lư cao đẹp để lôi kéo con người từ bỏ Thượng Đế. Họ sẽ sử dụng danh từ, ngôn ngữ để đánh lạc hướng mọi người, tuy nhiên trước sau ǵ họ cũng phải chết và trước khi chết họ sẽ di chúc yêu cầu ướp xác họ và xây dựng những nhà mồ vĩ đại bằng đá như họ đă từng làm trong quá khứ...

Giáo sư Allen bật cười:

- Như vậy th́ nhận diện họ quá dễ, nhưng tôi không tin thời buổi này c̣n ai ướp xác, xây cất nhà mồ như vậy, ông nên nhớ chúng ta đă bắt đầu vào thế kỷ hai mươi, không phải tám ngàn năm trước...

Hamoud mỉm cười:

- Rồi các ông sẽ thấy, tôi mong các ông ghi chép những điều này cẩn thận rồi đúng hay sai thời gian sẽ trả lời.


 

Chương 9: Hành tŕnh về Phương Đông


“Yêu cầu chấm dứt cuộc du khảo. Mọi tài trợ cắt đứt. Trở về Luân Đôn ngay.” Bức điện tín đến bất ngờ làm phái đoàn hết sức sửng sốt, Bác sĩ Kavir cho biết một tờ báo ở Luân Đôn đă ghi nhận rằng phái đoàn Khoa học gia ưu tú nhất Anh quốc đă quỳ mọp bên cạnh những đạo sĩ “Trần Truồng” xứ Ấn để nghe dạy bảo.

Dư luận quần chúng hết sức phẫn nộ, đ̣i Đại Học Oxford phải ngưng ngay các cuộc du khảo và triệu hồi phái đoàn trở về để giải thích. Phái đoàn lập tức lấy xe lửa trở về Bombay.

(Ghi chú: Khi đó Ấn Độ c̣n là thuộc địa của Anh và vấn đề kỳ thị chủng tộc, giai cấp c̣n mạnh).

Nhật kư của giáo sư Spalding:

- Thật là bất ngờ khi chúng tôi nhận được bức điện tín, kèm theo đó là một bức thư của Lănh sự quán Bombay cùng những mẫu báo nói về những Giáo sư Đại học của Hoàng Gia “quỳ mọp” bên cạnh những Phù Thủy Ấn man rợ nghe dạy bảo. Lời tường thuật đầy thành kiến, ác ư của một kư giả thiếu sáng suốt đă phá hoại công tŕnh sưu tầm, nghiên cứu đang diễn ra tốt đẹp. Làm sao có thể giải thích cho quần chúng hiểu rằng ngoài các phong tục, tôn giáo hỗn độn, phức tạp, hoang đường, mê tín dị đoan c̣n ẩn dấu các chân lư cao đẹp mà người Âu cần nghiên cứu. Đành rằng Ấn Độ đă ngủ say trong bao thế kỷ nay, nhưng trong sự suy đồi vật chất vẫn tiềm tàng một sinh lực tâm linh mănh liệt đang chờ đợi được đánh thức.

Chúng tôi đă học hỏi nhiều trong cuộc du khảo này, bài học đầu tiên do một người Anh, thương gia Keymakers đă dạy:

- Để nghiên cứu một cách vô tư và khoa học, người Âu cần gạt bỏ ḷng tự kiêu, thành kiến văn hóa chỉ giữ ǵn một đầu óc khoa học, phê b́nh chặt chẽ để có thể xuyên qua rừng người mê tín t́m đến sự thật. Như một viên ngọc quư cần phải được mài dũa, cuộc đi t́m chân lư cũng thế, chúng tôi đă mất mấy năm trời t́m ṭi, gạn lọc mới gặp được các vị đạo sư tiêu biểu cho đời sống tâm linh thực sự của xứ Ấn. Nhờ những may mắn t́nh cờ, chúng tôi đă gặp các sinh hoạt tâm linh cao thượng mà ít người Âu nào có diễm phúc khám phá. Tất cả những chân lư từ trước đến nay chỉ được truyền bá một cách hết sức bí mật, thận trọng, đă được tiết lộ cho chúng tôi. Là một phái đoàn khoa học, chúng tôi đă phân tích kỹ lưỡng, kiểm soát cẩn thận, phê b́nh chặt chẽ và đặt câu hỏi cho đến khi thật rơ ràng.

Mỗi người chúng tôi đều ghi chép vào sổ tay cá nhân riêng những sự kiện quan sát, sau đó chúng tôi cùng nhau kiểm điểm, bàn luận và kiểm chứng lại tài liệu này cho đến khi tất cả đồng ư là chính xác mới ghi vào hồ sơ chính. Nhờ phương thức này, chúng tôi quả quyết rằng tài liệu ghi nhận hoàn toàn đặt căn bản trên nền tảng khoa học chứ không phải sự tin tưởng hay hiểu biết của một cá nhân.

Chúng tôi hy vọng khi công bố các kết quả này, nó sẽ là một nhịp cầu thông cảm giữa hai văn hóa và thúc đẩy những cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn. Sự kiện vừa qua đă thay đổi tất cả và làm sụp đổ mọi kỳ vọng khiêm tốn nhất. Giáo sư Allen tin rằng nếu chúng tôi trở lại Luân Đôn tuyên bố những điều khám phá và giải thích lư do một cách rơ ràng có thể quần chúng sẽ có thiện cảm hơn chăng? Tôi không nghĩ như thế, hiện tại c̣n quá sớm để thay đổi một dư luận bắt nguồn từ những quan niệm hẹp ḥi, những thành kiến và tự hào mù quáng.

Người Âu chỉ nh́n Ấn Độ như một xứ chậm tiến, một thuộc địa dốt nát, mê tín đầy những kẻ thất học, chứ nào thấy được những giá trị tinh vi, những khoa học tiến bộ được che dấu cẩn thận dưới ánh nắng thiêu đốt miền nhiệt đới.

Giáo sư Mortimer và nhóm khoa học gia Hoa Kỳ có ư muốn tách riêng và tiếp tục cuộc nghiên cứu v́ xứ Hoa Kỳ dù sao cũng ít thành kiến hơn. Đại học Yale và Harvard sẵn sàng bảo trợ cuộc du khảo, nhất là khi nó đă có kết quả. Với tư cách Trưởng phái đoàn, tôi không muốn thấy công tŕnh tốt đẹp bị gián đoạn nhưng cũng không muốn đại học Hoa Kỳ hưởng kết quả, dù sao tôi cũng là một người Anh với mọi tự hào về truyền thống, Oxford đă đào tạo ra chúng tôi và chúng tôi muốn tên tuổi nó trong cuộc khảo cứu tiền phong này.

Viên lănh sự lạnh nhạt tiếp đăi phái đoàn trong căn pḥng nhỏ. Y chỉ mẫu báo nói về cuộc nghiên cứu đang trở nên một đề tài hấp dẫn, được báo chí khai thác triệt để:

- Các ông nên biết điều một chút, dù sao các ông cũng là những Khoa học gia, giáo sư đại học lừng lẫy, có chân trong hội Khoa Học Hoàng Gia. Các ông là đại diện cho thành phần danh dự, ưu tú nhất nước Anh... Các ông đă làm mất uy tín Hoàng Đế, tại sao các ông không chịu ngồi yên ở Oxford? Cái xứ nóng bức này có ǵ đâu để khảo cứu...

Giáo sư Oliver nổi nóng:

- Đó là việc riêng của chúng tôi, anh biết ǵ mà nói...

Viên lănh sự nhếch miệng cười nhạt:

- Đó không phải việc riêng của các ông nữa, nó liên quan đến danh dự Hoàng Gia, danh dự Oxford. Các ông nên biết tôi cũng xuất thân từ Oxford...

Giáo sư Oliver buột miệng:

- Nếu anh xuất thân từ Oxford th́ anh phải biết cuộc khảo cứu này sẽ làm rạng danh đại học của chúng ta, một ngày nào đó người ta sẽ nói rằng chính Oxford đă tiền phong trong việc khảo cứu các hiện tượng huyền bí, các môn Yoga...

- Yoga? Yoga là cái ǵ? Ông muốn nói đến một loài thú nào chăng?

Giáo sư Oliver há hốc miệng không nói thêm lời nào, một sự ngờ nghệch như vậy có thể tha thứ được đối với một công dân tầm thường, vô học, chỉ quanh quẩn nơi xó nhà, chưa hề ra khỏi tầm chuông nhà thờ Westminster... Đằng này y là một lănh sự, đại diện cho Hoàng Gia, xuất thân từ Oxford và đă sống ở Ấn Độ hơn 6 năm nay. Viên Lănh sự xem xét thông hành và cho biết Phái đoàn phải rời Ấn Độ ngay trong tuần lễ sau.
o0o

Nhật kư của giáo sư Spalding:

Trong khi mọi người trở về khách sạn, chờ đợi ngày lên tàu trở về Luân Đôn. Tôi vẫn linh cảm sẽ có một chuyện ǵ xẩy ra, tôi lang thang trong khu phố Bombay đông đúc, đầu óc mơ hồ, không biết phải làm ǵ. Tôi cố ôn lại những việc xẩy ra trong ṿng nửa năm qua. Quả thế, từ hôm thất vọng đi lang thang như thế này trong thành Benares, tôi gặp một người Ấn cao lớn, khác thường đă chuyển giao thông điệp của một Chân Sư. Từ đó khắp nơi, phái đoàn luôn luôn được che chở và may mắn gặp gỡ những người dành trọn đời cho việc đi t́m chân lư, những người đă thắng đoạt thiên nhiên, đă chinh phục được các sức mạnh vô h́nh trong trời đất, đă có quyền năng phi thường... Đúng như lời người đó nói, sự nghiên cứu đă vén mở được những điều phái đoàn muốn t́m kiếm nhưng mọi người vẫn chưa hài ḷng. Chúng tôi ao ước được gặp vị chân sư bí mật, một người mà tôi có cảm giác đă quen, đă biết từ một tiềm thức xa xôi nào. Trong giây phút đó, tôi bỗng có một ư tưởng lạ lùng, bằng tất cả sức mạnh tư tưởng tôi ao ước vị chân sư bí mật này hăy giúp đỡ chúng tôi, hay cho chúng tôi gặp mặt.

Đang đắm ch́m trong ḍng tư tưởng triền miên bỗng tôi giật ḿnh, một cảm giác lạ lùng như một luồng điện chạy dọc theo xương sống khiến tôi mở choàng mắt ra:

Dưới chân một cây cổ thụ cao lớn, cành lá xum xuê, một người Ấn Độ khuôn mặt phương phi, quai hàm rộng, trán cao, một con mắt tinh anh có khả năng thu hút người khác. C̣n ai vào đây nữa, chính người Ấn lúc đầu mà tôi đă gặp tại thành Benares, chính người này đă mang thông điệp đầu tiên cho phái đoàn. Tôi vội vă chạy đến mừng như gặp bạn cố tri. Người Ấn mỉm cười:

- Thế nào? Việc nghiên cứu của các ông tốt đẹp chứ? Tôi hy vọng Brahmananda, Sudeih Babu, Mahasaya, Harishinanda, Hamoud El Sari... Không làm các ông thất vọng.

Tôi há hốc miệng, không nói được câu nào. Tại sao người này dường như biết tất cả? Người Ấn mỉm cười:

- Bạn mến, cách đây nửa năm bạn có hỏi tôi rằng các bậc chân sư có thật hay không? Nếu có thật tại sao các ngài không xuất hiện dậy dỗ quần chúng? Sự ẩn dật đâu có lợi ích ǵ? Lúc đó, trong ḷng bạn thật sự không lấy ǵ tin tưởng về sự hiện hữu của những cá nhân đă tiến xa trên con đường đạo. Tôi đă trả lời rằng, v́ không biết rơ các ngài nên quan niệm thông thường không thể xét đoán các ngài một cách đứng đắn. Thực ra các bậc toàn thiện luôn luôn xuất hiện để giúp đỡ thế gian một cách lặng lẽ, âm thầm. Đa số mọi người tin rằng các ngài phải hiện ra trong hào quang rực rỡ, với các phép thần thông biến cơi trần đau khổ này thành một cơi thiên đàng. Điều này sẽ không bao giờ xẩy ra...

Khi đó bạn không hoàn toàn đồng ư, là một người Công Giáo bạn vẫn nghĩ rằng đức “Christ” vẫn hứa sẽ trở lại để cứu rỗi tất cả... Thực ra đức “Christ” (Chúa) có bao giờ rời bỏ chúng ta đâu, lúc nào ngài chả luôn luôn bên cạnh ta, giúp đỡ chúng ta. Sự tin tưởng rằng ngài sẽ trở về trong một vầng hào quang sáng chói là một điều không đúng. Chúng ta chỉ quen t́m kiếm Thượng Đế bên ngoài như một đấng toàn năng có thể giúp ta thỏa măn những điều mong ước chứ không chịu t́m kiếm ở nội tâm, nơi ngài luôn ngự trị. Tôi hy vọng sự tiếp xúc với các đạo sĩ trong thời gian qua sẽ giúp bạn một căn bản vững chắc, một niềm tin mănh liệt để có thể tiếp tục việc nghiên cứu.

Tôi kinh ngạc đến sững người, không những người Ấn này biết rơ tất cả mà dường như c̣n đọc được tư tưởng người khác. Người Ấn mỉm cười hiểu ư:

- Các bạn đă được chỉ dẫn về khoa Yoga, các phương pháp dưỡng sinh, cơi giới vô h́nh, môn chiêm tinh bí truyền, các luật vũ trụ, quan niệm về Phàm Ngă và Chân Ngă... Các bạn đă tỏ ra say mê, thích thú v́ đó là điều khao khát bấy lâu nay, có đúng không?

- Tại sao... Tại sao ông lại biết rơ như vậy?

Người Ấn dịu dàng:

- V́ tôi là người được chỉ thị phải giúp đỡ các bạn. Chính tôi đă theo dơi tư tưởng các bạn từ khi phái đoàn vừa đặt chân đến xứ này. Tôi hết sức thông cảm sự bất măn, buồn phiền, chán nản suốt hai năm đầu khi các bạn đến thăm các đền đài nguy nga, tiếp xúc với các đạo sĩ nổi tiếng nhưng không học hỏi được điều ǵ mới lạ. Thay v́ gặp các bậc hiền triết, các bạn gặp toàn những kẻ bịp đời, những người chức tước, địa vị thật cao mà công phu tu hành, tŕ giới lại thật thấp. Thay v́ gặp những đạo sư có kinh nghiệm tâm linh, các bạn gặp những tu sĩ miệng nói thao thao như nước chảy mà chả biết ḿnh đang nói ǵ, h́nh như chân lư cao siêu mà y trích dẫn từ kinh điển không dính dáng ǵ đến đời sống an nhàn, sung sướng trong các đền chùa đồ sộ của y cả. Tất cả đều là những thử thách cho sự nghiên cứu của các bạn. Một chân lư có giá trị thực sự phải chịu nổi các thử thách của thời gian. Cuộc đi t́m chân lư cũng thế, nó đ̣i hỏi một sự cố gắng và một tinh thần khoa học, suy xét để gạt bỏ các điều mê tín, các thành kiến. Các bạn đă xứng đáng được truyền dạy những chân lư cao đẹp đó, tôi mới đến gặp bạn tại Benares và chuyển giao thông điệp của một vị chân sư. Nhờ thế các bạn mới thực sự gặp được những người tiêu biểu cho nền minh triết của Á Châu. Tuy nhiên, như tôi đă nói nếu bạn muốn đi xa hơn để gặp các bậc chân sư th́ lại khác...

- Ông tin rằng chúng tôi có thể gặp các ngài?

- Dĩ nhiên, nếu các bạn chọn con đường này, nó sẽ là một cuộc hành tŕnh khác hẳn cuộc hành tŕnh vừa qua. Các bạn sẽ không thể đứng bên ngoài mà nh́n vào, để nghiên cứu, ghi nhận như một khách bàng quang.

Cuộc hành tŕnh này phải là một kinh nghiệm cá nhân. Một sự hiểu biết mà không do ḿnh t́m ra, kinh nghiệm ra chỉ là một hiểu biết hời hợt, nông cạn.

Một sự hiểu biết do người khác bằng bất cứ phương tiện nào mang lại cũng chỉ là kinh nghiệm của người đó. Ta không thể trông đợi một chân lư đến từ bên ngoài mà phải biết thế nào là đủ để dừng lại, để trở về. Đi xa tức là trở về, đó mới là con đường đứng đắn.

Cuộc hành tŕnh này không như lần trước “đi ra ngoài”, tiếp xúc với các đạo sư, ghi nhận những tinh hoa, soạn thảo tài liệu mà phải là một cuộc hành tŕnh “trở về”, một cuộc hành tŕnh “về” phương đông. Các bạn không thể nhân danh phái đoàn đi quan sát, ghi nhận nữa mà phải là một nhóm người đi t́m chân lư và sống với chân lư đă học được. Trong cuộc hành tŕnh này, các bạn sẽ không được công nhận bởi các đại học, dư luận quần chúng. Danh vọng của bạn có thể bị xuyên tạc, điều bạn học hỏi có thể bị chế nhạo, nghi ngờ. Các bạn sẽ hết sức cô đơn, nản ḷng, thối chí, có lúc bạn sẽ sợ hăi và đâm ra nghi ngờ những điều đă xẩy ra.

Tóm lại, các bạn cần suy nghĩ cho kỹ trước khi quyết định. Nếu trở về Luân Đôn một thời gian, đợi dư luận lắng dịu, các bạn có thể công bố những điều ghi nhận, nhưng mọi người có tin hay không lại là chuyện khác. Nếu muốn tiếp tục, các bạn phải rời bỏ tất cả để làm một cuộc hành tŕnh lên Tuyết Sơn. Đây chính là giây phút quyết định.

- Nếu chúng tôi muốn tiếp tục cuộc hành tŕnh th́ phải làm thế nào?

Người Ấn mỉm cười:

- Tại sao bạn cứ hỏi tôi phải làm ǵ? Tôi phải làm thế nào? Nếu muốn các bạn chỉ việc lên đường, có thế thôi.

Định mệnh con người luôn luôn có những thay đổi lớn, mặc dù không thấy rơ nhưng chúng ta vẫn vô t́nh tiến đến mục tiêu đă vạch sẵn. Không đầy hai tuần lễ sau, chúng tôi đă đứng trong làng Potar, ngay sát chân dẫy Hy Mă Lạp Sơn hùng vĩ. Chúng tôi đă bỏ lại tất cả, danh vọng, địa vị, đoạn tuyệt với thành kiến, tự ái cố hữu của người Tây Phương.

Cuộc hành tŕnh về phương Đông của chúng tôi bắt đầu...


HẾT

1lyhuonga.jpg