
|

|
|
Hành tŕnh về Phương Đông tiếp theo :
7
- Các ông cứ cho rằng ma quỷ là một thực thể nào đó khác hẳn loài người,
thật ra phần lớn chúng là những vong linh sống ở cảnh giới thứ bẩy,
thứ sáu mà thôi. Chúng c̣n lưu luyến cơi trần, c̣n say mê dục vọng không sao thoát ra khỏi
cảnh giới này... Luật thiên nhiên không cho phép chúng trở lại cơi trần nhưng cũng
có những trường hợp đặc biệt khiến người cơi trần trong một
thoáng giây có thể nh́n thấy chúng... Khoan đă, các ông hăy xem ḱa, người bạn của
tôi đă làm xong việc.
Hamoud chỉ vào góc pḥng nơi ông ta để bó len và cây kim đan
áo. Mọi người bước đến gần và thấy một chiếc áo len đan
bằng tay đă thành h́nh từ lúc nào không ai rơ. Chiếc áo đan tay rất vụng, không khéo
léo nhưng trên ngực có thêu tên giáo sư Mortimer. Vị pháp sư giải thích:
- Con Ma
này rất nghịch và thường quanh quẩn ở đây, tôi yêu cầu hắn đan chiếc
áo len cho các ông để làm bằng chứng. Để tránh việc các ông cho rằng tôi đă
làm tṛ ảo thuật, tráo vào đó một chiếc áo len khác, tôi yêu cầu hắn thêu tên người
nào trong phái đoàn có nhiều nghi ngờ nhất. Các ông đều biết rằng từ khi
gặp gỡ tôi không hề hỏi tên các ông và nếu chiếc áo này không đan riêng cho các ông
th́ c̣n ai nữa?
Quả thế, vị pháp sư gầy g̣ không thể mặc chiếc
áo đan to tướng, rất vừa vặn cho giáo sư Mortimer, một người Âu mà
kích thước đă rất ư quá khổ so với những người Âu khác, đó là
chưa kể ṿng bụng khổng lồ rất hiếm có của ông này. Hơn nữa, áo
này cũng không thể may sẵn để bán v́ đường kim, mũi chỉ rất ư
vụng về nếu có bán cũng chả ai mua. Tại nơi hoang vu, không có ai ngoài vị Pháp
sư và phái đoàn sự kiện này quả thật rất lạ lùng.
Giáo sư Evans
- Wentz thắc mắc:
- Như vậy ông có thể sai khiến ma quỷ hay sao?
-
Tôi không phải là một phù thủy, lợi dụng quyền năng cho tư lợi mà chỉ
là một người có rất nhiều bạn hữu vô h́nh bên cơi âm. Tôi hiểu rơ các luật
thiên nhiên như Luân Hồi, Nhân Quả và hậu quả việc thờ cúng ma quỷ để
mưu cầu một cái ǵ.
Tôi chỉ là một khoa học gia nghiên cứu cơi vô h́nh một
cách đứng đắn. Sự nghiên cứu những hiện tượng siêu h́nh là một
khoa học hết sức đứng đắn chứ không phải mê tín dị đoan. Nhiều
người thường tỏ ư chê cười khi nói đến vấn đề ma quỷ
nên những ai có gặp ma cũng chả dám nói v́ sợ bị chê cười hay cho là loạn
trí. Nếu người nào không tin hăy nghiên cứu và chứng minh một cách khoa học rằng
ma quỷ chỉ là những giả thuyết tưởng tượng, c̣n như phủ nhận
không dám chứng minh chỉ là một cái cớ che dấu sự sợ hăi. Điều khoa học
chưa chứng minh được không có nghĩa điều này không có thật, v́ một
ngày nào đó khoa học sẽ tiến đến mức mà họ có thể chứng minh. Những
phương pháp thông thường như cầu cơ, đồng cốt thường gặp
nhiều sai lầm v́ như tôi đă tŕnh bày, các vong linh nhập vào phần lớn cũng có
các kiến thức giới hạn ở cảnh giới nào đó. Đôi khi họ cũng trích
dẫn vài câu trong “Thánh Kinh” hoặc sách vở, kinh điển để nâng cao giá
trị lời nói, điều này có khác nào những nhà chính trị khi diễn thuyết. Phương
pháp khoa học chính xác nhất là phải tự ḿnh qua hẳn thế giới đó nghiên cứu.
Các ông nên biết thân thể chúng ta không phải môi trường duy nhất của linh
hồn và giác quan của nó cũng không phải phương tiện duy nhất để nghiên
cứu ngoại cảnh.
Nếu ta chấp nhận rằng vũ trụ có nhiều cơi
giới khác nhau và mỗi thể con người tương ứng với một cơi th́ ta
thấy ngay rằng thể xác cấu tạo bằng nguyên tử cơi trần nên chỉ giới
hạn trong cơi này được thôi. Các thể khác cũng có giác quan riêng của nó và khi giác
quan thể Vía được khai mở ta có thể quan sát các cơi giới vô h́nh dễ dàng. Khi
từ trần, thể xác tiêu hao, các giác quan không c̣n sử dụng được nữa th́
linh hồn sẽ tập phát triển các giác quan thể Vía ngay. Nếu biết cách khai mở
các giác quan này khi c̣n sống, ta có thể nh́n thấy cơi âm một cách dễ dàng.
Giáo sư
Allen ngập ngừng:
- Nhưng có một quan niệm lại cho rằng sau khi chết
linh hồn sẽ lên Thiên Đàng hay xuống địa ngục vĩnh viễn, điều này
ra sao?
Hamoud lắc đầu:
- Đó là một quan niệm không hợp lư v́ điều
này cho rằng khi chết linh hồn sẽ đổi thay toàn diện: Sau khi chết, linh hồn
sẽ mất hết tính xấu để trở nên toàn thiện, trở nên một vị
thiên thần vào cơi thiên đàng hoặc là linh hồn có thể mất hết các tính tốt
để trở nên xấu xa, trở nên một thứ ma quỷ bị đẩy vào địa
ngục. Điều này vô lư v́ sự tiến hóa phải từ từ chứ không thể đột
ngột được, trên thế gian này không ai toàn thiện hay toàn ác. Trong mỗi chúng ta đều
có các chủng tử xấu, tốt do các duyên, nghiệp từ tiền kiếp để lại.
Tùy theo điều kiện bên ngoài mà những chủng tử này nẩy mầm, phát triển
hay thui chột, không thể phát triển. Một người tu thân là một người biết
ḿnh, lo vun xới tinh thần để các nhân tốt phát triển giống như một người
làm vườn lo trồng hoa và nhổ đi cỏ dại.
Thực ra khi sống và chết,
con người không thay đổi bao nhiêu. Nếu khi sống họ ăn tham th́ khi chết
họ vẫn tham ăn, chỉ có khác ở chỗ điều này sẽ không c̣n được
thỏa măn v́ thể xác đă hư thối, tan ră mất rồi. Sau khi chết, t́m về nhà
thấy con cháu ăn uống linh đ́nh mà họ th́ không sao ăn được, ḷng ham muốn
gia tăng cực độ như lửa đốt gan, đốt ruột, đau khổ
không sao tả được.
- Như ông đă nói loài ma đói thường rung động
theo không khí quanh đó như thế họ có thỏa măn không?
- Khi người sống
ăn ngon có các tư tưởng khoái lạc th́ loài ma đói xúm quanh cũng t́m cách rung động
theo tư tưởng đó nhưng không làm sao thỏa măn cho được. Điều này ví
như khi đói, nghĩ đến món ăn ngon ta thấy khoan khoái, ứa nước bọt
nhưng điều này đâu có thỏa măn nhu cầu bao tử đâu. Các loại ma hung dữ,
khát máu thường tụ tập nơi mổ xẻ súc vật, ḷ sát sinh để rung động
theo những không khí thô bạo ở đó. Những người giết súc vật trong nhà
vô t́nh mời gọi các vong linh này đến, sự có mặt của chúng nó có thể gây nhiều
ảnh hưởng xấu, nhất là cho những người dễ thụ cảm.
-
Đa số mọi người đều cho rằng ma quỷ thường xuất hiện
ở nghĩa địa, điều này ra sao?
- Sự hiện h́nh ở nghĩa địa
chỉ là h́nh thể của thể Phách đang tan ră chứ không phải ma quỷ, vong linh.
Khi ta chết, thể xác hư thối th́ thể phách vốn là thể trung gian giữa thể
xác và thể vía cũng tan ră theo. Thể phách được cấu tạo bằng những
nguyên tử tương đồng với nguyên tử cơi trần nhưng trong đó có nhiều
nguyên tử Dĩ Thái nên nhẹ hơn, nó thu thập các sinh lực c̣n rơi rớt trong thể
xác để cố gắng kéo dài sự sống thêm một thời gian nữa, v́ đang tan
ră nên thể Phách không hoàn toàn, do đó, đôi khi ta thấy trên nghĩa địa có những
h́nh ảnh người cụt đầu, cụt chân, bay là là trên các nấm mồ. Người
không hiểu gọi đó là ma.
Theo sự hiểu biết của tôi th́ việc Thiêu xác
tốt đẹp hơn việc chôn cất v́ để thể xác tan ră từ từ làm cho
linh hồn đau khổ không ít và thường ở trong một giai đoạn hôn mê, bất
động một thời gian rất lâu. Thiêu xác khiến vong linh thấy ḿnh không c̣n ǵ quyến
luyến nữa nên siêu thoát nhanh hơn nhiều.
- Ma quỷ thường thuộc thành
phần ǵ trong xă hội?
- Chúng thuộc đủ mọi thành phần, tùy theo dục
vọng khi c̣n sống. Người chết bất đắc kỳ tử thường lưu
lại cơi âm lâu hơn người chết già v́ c̣n nhiều ham muốn hơn. Những kẻ
sát nhân bị hành quyết vẫn sống trong cảnh tù tội, giận hờn và xó ư định
trả thù. Một người tự tử để trốn nợ đời cũng thế,
y sẽ hôn mê trong trạng thái khổ sở lúc tự tử rất lâu. Định luật cơi
âm xác nhận rằng: Chính cái dục vọng của ta quyết định cảnh giới
ta sẽ đến và lưu lại ở đó lâu hay mau.
- Số phận của những
người quân nhân tử trận th́ ra sao?
- Họ cũng không ra ngoài luật lệ
đó, tùy theo dục vọng từng cá nhân. Tuy nhiên, người hy sinh tính mạng cho một
lư tưởng có một tương lai tốt đẹp hơn v́ cái chết cao đẹp
là một bức thang lớn trong cuộc tíen hóa. Họ đă quên ḿnh để chết và sống
cho lư tưởng th́ cái chết đó có khác nào những vị Thánh tử đạo. Dĩ
nhiên không phải quân nhân nào cũng sống cho lư tưởng và những kẻ giết chóc
oán thù và chết trong oán thù lại khác hẳn.
- Như ông nói th́ người chết vẫn
thấy người sống?
- Thật ra phải nói như thế này, khi chết các
giác quan thể xác đều không sử dụng được nữa nhưng người
chết vẫn theo dơi mọi sự dễ dàng v́ các giác quan thể vía. Không những thế
họ c̣n biết rất rơ tư tưởng, t́nh cảm liên hệ là đằng khác mặc
dù họ không c̣n nghe thấy, nh́n thấy như chúng ta. Nhờ đọc được tư
tưởng họ vẫn hiểu điều chúng ta muốn diễn tả.
- Như
vậy th́ họ ở gần hay ở xa chúng ta?
- Khi mới từ trần, người
chết luôn quanh quẩn bên gia đ́nh, bên những người thân nhưng theo thời gian,
khi ư thức hoàn cảnh mới họ sẽ tách rời các ràng buộc gia đ́nh để
sống hẳn ở cơi giới của họ.
- Như thế có cách nào người
sống tiếp xúc được với thân nhân quá cố không?
- Điều này không có ǵ
khó, hăy nghĩ đến họ trong giấc ngủ. Thật ra nếu hiểu biết th́ ta
không nên quấy rầy, v́ làm thế chỉ gây trở ngại cho sự siêu thoát.
Sự
chết là bước vào một đời sống mới, các sinh lực từ trước
vẫn hướng ra ngoài th́ nay quay vào trong, linh hồn từ từ rút khỏi thể xác
bằng một bí huyệt trên đỉnh đầu. Do đó, hai chân từ từ lạnh
dần rồi đến tay và sau cùng là trái tim. Lúc này người chết thấy rất an
tĩnh, nhẹ nhàng không c̣n bị ảnh hưởng vật chất. Khi linh hồn rút lên
óc, nó sẽ khơi động các kư ức, cả cuộc đời sẽ diễn lại
như cuốn phim. Hiện tượng này gọi là “Hồi quang phản chiếu”
(Memory Projection) đây là một giây phút hết sức quan trọng v́ nó ảnh hưởng
rất lớn đến đời sống cơi bên kia. Sợi dây từ điện liên hệ
giữa thể xác và thể Phách sẽ đứt hẳn. Đây là lúc người chết hoàn
toàn hôn mê, vô ư thức để linh hồn rút khỏi thể Phách và thể Vía bắt đầu
lo bảo vệ sự sống của nó bằng cách xếp lại từng lớp nguyên tử,
lớp nặng bọc ngoài và lớp thanh nhẹ ở trong. Sự thu xếp này ấn định
cơi giới nào vong linh sẽ đến.
- Ông du hành sang cơi âm thế nào?
- Nói như
thế không đúng lắm v́ ám chỉ một sự di chuyển từ nơi này đến
nơi khác. Các cơi thật ra ở cùng một nơi chỉ khác nhau ở chiều không gian và
thời gian (Time, Space dimension). Sang cơi âm là sự chuyển tâm thức, sử dụng giác quan
thể Vía để nhận thức chứ không phải đi đến một nơi nào
hết. Sở dĩ cơi trần không thấy cơi âm v́ nguyên tử cấu tạo nó quá nặng
nề, rung động quá chậm không thể đáp ứng với sự rung động nhanh
của cơi âm. Quan niệm về không gian cũng khác v́ đây là cơi tư tưởng, nghĩ
đến đâu là ta đến đó liền, muốn gặp ai chỉ cần giữ h́nh
ảnh người đó trong tư tưởng ta sẽ gặp người đó ngay. Khi
di chuyển ta có cảm giác như lướt trôi, bay bổng v́ không c̣n đi bằng hai chân
như thể xác.
|
Những
người chết nhận thức về đời sống mới ra sao?
- Trừ
những kẻ cực kỳ hung dữ, ghê gớm đa số mọi người thức
tỉnh trong cảng giới thứ năm hoặc thứ sáu vốn có rung động không
khác cơi trần là bao. Lúc đầu họ c̣n bỡ ngỡ, hoang mang nhưng sau sẽ quen đi.
Tùy theo t́nh cảm, dục vọng mà họ hành động. Tôi đă gặp vong linh của
một Thương gia giàu có, ông này cứ quanh quẩn trong ngôi nhà cũ nhiều năm, ông
cho tôi biết rằng ông rất cô đơn và đau khổ. Ông không có bạn và cũng chả
cần ai, ông trở về căn nhà để sống với kỷ niệm xưa nhưng
ông buồn v́ vợ con ông vẫn c̣n đó nhưng chả ai để ư đến ông. Họ
tin rằng ông đă lên Thiên Đàng v́ họ đă bỏ ra những số tiền, tổ chức
các nghi lễ tôn giáo rất lớn, một tu sĩ đă xác nhận thế nào ông cũng được
lên Thiên Đàng. Tôi khuyên ông ta nên cởi bỏ các quyến luyến để siêu thoát nhưng ông
ta từ chối. Một vài người thân đă qua đời cũng đến t́m gặp
nhưng ông cũng không nghe họ. Có lẽ ông ta sẽ c̣n ở đó một thời gian lâu
cho đến khi các lưu luyến phai nhạt hết. Tôi đă gặp những vong linh quanh
quẩn bên cạnh cơ sở mà họ gây dựng nên, họ vô cùng đau khổ và tức
giận v́ không c̣n ảnh hưởng được ǵ, họ rất khổ sở khi người
nối nghiệp, con cháu có quyết định sai lầm, tiêu phá cơ nghiệp.
Tôi
đă gặp những người chôn cất của cải, phập phồng lo sợ có kẻ
t́m ra, họ vẫn quanh quẩn gần đó và đôi khi t́m cách hiện về dọa nạt
những người bén mảng đến gần nơi chôn dấu. Vong linh ghen tuông c̣n khổ
sở hơn nữa, họ không muốn người họ yêu mến chia sẻ t́nh yêu với
kẻ khác. Đôi khi họ điên lên khi chứng kiến sự âu yếm của người
họ yêu mến và người khác. Dĩ nhiên họ không thể làm ǵ được nên vô
cùng khổ sở. Những nhà lănh đạo, những vua chúa, những người hống
hách quyền uy th́ cảm thấy bất lực khi không c̣n ảnh hưởng ǵ được
nữa, họ hết sức đau khổ.
Đôi lúc tư tưởng oán hờn có thể
tạo nên những h́nh tư tưởng có sự sống riêng biệt và có tác dụng mạnh
mẽ ở cơi vô h́nh. Cách đây vài năm, một người bạn ở Calcutta
cho tôi biết có một con dao cán ngà rất đẹp mà hễ ai cầm lên cũng có ư định
giết người. Tôi bèn t́m đến và cầm thử th́ quả nhiên trong người
bị kích động lạ thường. Nhờ đă mở giác quan thể Vía nên tôi thấy
một vong linh hung tợn đang giận dữ v́ tôi chống lại y, nhờ các bạn bè
cơi âm tôi tiếp xúc được với tư tưởng vong linh đó: Vợ y đă ngoại
t́nh với người bạn thân nên y sử dụng con dao này đâm chết cả hai. Sau
đó y c̣n đâm chết hai người em vợ và bị một người khác dùng chính
con dao đó đâm chết y. Sau khi chết, ḷng oán hận khôn nguôi nên y quanh quẩn bên con dao
này và ảnh hưởng đến bất cứ ai sử dụng nó. Nhiều người
đă bị y xúi dục giết người, y rất thành công cho đến khi gặp tôi.
Phải mất một thời gian lâu tôi mới thuyết phục được y, tôi bèn bẻ
gẫy con dao đó đem chôn.
Một trường hợp khác tôi gặp một vong linh
say rượu bị xe đụng chết. Y rất oán hận nên cứ vẩn vơ nơi
ngă tư đường, hướng dẫn những người lái xe cho họ gặp tai
nạn. Rất nhiều người bị chết ở đó. Tôi mất nhiều thời
gian khuyên giải nên y mới bỏ đi nơi khác. Dĩ nhiên, sớm muộn ǵ các vong linh
cũng tỉnh ngộ nhưng việc làm của y là nhưng nguyên nhân xấu sẽ tạo
những nghiệp quả mà y sẽ phải trả v́ ở bất cứ cơi nào, luật thiên
nhiên cũng không thay đổi.
Trong một trường hợp khác, có hai người
bạn rất thân thiết nhưng cùng yêu một cô gái. Để chiếm đoạt cô này, một
người đă âm mưu khiến bạn ḿnh bị t́nh nghi có dính dáng vào một tổ chức
chính trị, anh này bị bắt và bị thủ tiêu. Người kia chinh phục cô gái nhưng
không thành công và ít lâu sau cô này lấy chồng khác. Anh đau khổ bèn tự tử. Thế
là cả hai người bạn đều sang cơi bên kia nhưng người bị thủ
tiêu không biết ḿnh là nạn nhân của bạn, vẫn mến bạn nên đi t́m gặp.
Trái lại, anh kia lúc nào cũng bị lương tâm dằn vặt, thường trốn tránh,
ẩn náu. Sự t́m gặp này kéo dài rất lâu khiến người bạn tội lỗi
lúc nào cũng đau khổ, hối hận.
Hamoud lắc đầu:
- Các ông nên
biết, ở cơi trần có thể trốn tránh được chứ ở cơi âm làm sao trốn
đi đâu? Đây là cơi của tư tưởng chỉ cần nghĩ đến nhau là đă
gặp nhau rồi...
Mọi người im lặng, cảm thấy thấm thía điều
vị pháp sư Ai Cập diễn tả. Giáo sư Mortimer lên tiếng:
- Xin ông giải
thích thêm về h́nh tư tưởng...
- Khi ta phát ra một tư tưởng th́ ở
cơi trung giới một h́nh tư tưởng được tạo ra. Nếu tư tưởng
đó có tính cách cá nhân th́ chúng bay vơ vẩn quanh ta, dĩ nhiên khi c̣n sống, ta không ư thức
điều này nhưng khi ta chết ta thấy nó rơ ràng. Nhờ thế ta có thể biết
tư tưởng của ḿnh tốt đẹp hay xấu xa. Cũng như thế, khi ghen
ghét oán hận ai, ta cũng tạo các h́nh tư tưởng bao quanh người đó. V́ khả
năng tập trung tư tưởng của con người rất yếu nên h́nh tư tưởng
cũng chỉ phất phơ rồi tan biến, không để lại dấu vết. Tuy nhiên,
khi đă có thành kiến với ai, ta tạo nên một h́nh tư tưởng có thể sống
lâu hơn và tư tưởng này bao quanh kẻ đó. Luật thiên nhiên đă định “Đồng
thanh tương ứng” nghĩa là tư tưởng chỉ có tác dụng khi đối
tượng có rung động tương tự. Một kẻ xấu xa sẽ trở nên
xấu xa hơn, nhưng tư tưởng xấu không thể hại người lương
thiện. Do đó, vấn đề kiểm soát tư tưởng, tránh các thành kiến là một
vấn đề quan trọng v́ ta có trách nhiệm với tư tưởng của ḿnh. |
|
|
Tôi
đă gặp một thiếu nữ nhan sắc diễm lệ, cô này rất kiêu căng thường
quyến rủ các thanh niên háo sắc rồi phụ bạc họ. Nhiều người đă
tán gia, bại sản về tay cô, có kẻ đau khổ tự tử. Các tư tưởng
giận hờn, oán ghét của nhiều người cấu tạo nên một h́nh tư tưởng
hết sức dữ tợn. Khi cô này vừa chết, h́nh tư tưởng này bám cô bén gót,
cô càng chạy trốn, nó càng theo đến cùng. Các bạn hăy tưởng tượng một
quái vật theo ḿnh như bóng với h́nh th́ sao?
Hamoud ngưng nói đưa mắt nh́n
mọi người. Phái đoàn im lặng nh́n nhau, họ đă nghe nói về cơi âm nhưng chưa
ai giải thích rơ rệt, khoa học và cụ thể như vị pháp sư này. Có nên tin hay
không? Làm sao kiểm chứng đây? Việc chứng minh bằng chiếc áo len đă làm mọi
người kinh ngạc nhưng cả một thế giới vô h́nh lại là một đề
tài quá rộng răi, bao quát, vượt khỏi tầm hiểu biết của mọi người.
Phải chăng đó chỉ là một sự tưởng tượng hết sức dồi
dào và chu đáo? Dù cho Hamoud là một Tiến sĩ, tốt nghiệp Oxford nhưng không có nghĩa ông ta có đủ thẩm quyền để
tŕnh bày sự kiện không chứng minh.
Hamoud mỉm cười như đọc tưởng
mọi người:
- Nhờ khai mở các giác quan đặc biệt, tôi có thể thấy
cơi vô h́nh trực tiếp mà không phải qua bất cứ trung gian nào. Thay v́ nói rằng sách vở
này nói thế hoặc tài liệu kia chỉ dẫn vậy. Tôi dám quả quyết rằng điều
tŕnh bày là kinh nghiệm mà tôi đă trải qua, đă nghiên cứu trong nhiều năm. Dĩ
nhiên, tôi không mong các ông chấp nhận, tôi mong các ông hăy suy nghĩ cẩn thận, hăy t́m hiểu
và nếu c̣n thắc mắc hăy đặt vấn đề thảo luận. Tôi mong các ông lấy
tinh thần khoa học suy xét, lấy lư luận làm căn bản để cùng nhau đặt
lại vấn đề. Sự nghiên cứu không thể giản dị, dễ dàng được
mà c̣n rất nhiều khúc mắc, rắc rối nhưng có thế th́ mới có những thích
thú...
Mọi người nh́n nhau, nhà Pháp sư này đă dám đưa một vấn đề
trừu tượng như cơi siêu h́nh ra để thảo luận. Giáo sư Allen lên tiếng:
- Từ trước đến nay, người Âu không bao giờ chấp nhận sự
hiện hữu của một thế giới bên kia cửa tử. Họ chỉ có thể
nh́n nhận điều ông nói như một “Tin tưởng” nào thôi thay v́ một dữ
kiện khoa học có thể kiểm chứng.
Vị pháp sư mỉm cười:
-
Các ông gọi nó là tin tưởng cũng được, thật ra sự hiện hữu về
cơi vô h́nh đă được truyền dạy từ lâu trong các giáo điều, kinh điển
nhưng nó được nói đến dưới h́nh thức biểu tượng hay ư nghĩa
bóng bẩy mà theo thời gian các giáo sĩ thiếu kinh nghiệm tâm linh không thể hiểu
thấu đáo. Do đó, họ đă nói sai lạc đi nhiều. Dần dần, những
điều này trở nên mê tín dưới ánh sáng khoa học. Đây là một điều hết
sức đáng tiếc, khoa học thật ra chỉ là một phần rất nhỏ của
Huyền Bí Học đă được truyền bá rộng răi mà thôi. Nếu các ông muốn
có một chứng minh cụ thể cũng được, tôi sẵn sàng tiết lộ một
ch́a khóa vào cơi âm. Điều tôi sắp tŕnh bầy là căn bản môn H́nh Học Ai Cập hiện
đă thất truyền:
Ở cơi trần, tâm thức con người bị giới hạn
bởi ba chiều không gian. Thật ra có nhiều chiều nữa mà ta không nh́n thấy. Khối
óc của ta chỉ chấp nhận chiều dài, chiều ngang và chiều đứng mà thôi.
Dĩ nhiên, mọi sự đi đứng, di chuyển cũng chỉ giới hạn trong
ba chiều này. Nếu tôi nói có một chiều đo thứ tư thẳng góc với ba chiều
này th́ các ông sẽ không thể tưởng tượng nổi. Nhưng không thấy được
đâu có nghĩa là nó không hiện hữu có phải không? Muốn t́m hiểu chiều đo
thứ tư này ta cần dùng đến sự so sánh. Thí dụ có một con kiến đang
ḅ trên một tờ giấy phẳng. Giả thuyết rằng con kiến không thể rời
khỏi tờ giấy này được nên thế giới của nó chỉ là một mặt
phẳng giới hạn trong hai bề đo. Dù nó biết suy luận nó cũng không thể
quan niệm được bề đo thứ ba tức là bề đứng. Từ không gian
ba chiều của chúng ta, ta có thể làm nhiều điều tầm thường mà con kiến
cho là một phép lạ thí dụ như ta để một hạt thóc lên tờ giấy. Con
kiến không thể hiểu hạt thóc từ đâu xuất hiện v́ giới hạn trong
hai bề đo của tờ giấy, nó nghĩ rằng mọi vật phải đến
từ tờ giấy chứ không thể ở một cơi nào đó. Nếu con kiến muốn
đi từ đầu giấy đến cuối, nó phải ḅ suốt chiều dài tấm
giấy. Đối với chúng ta, v́ biết chiều đo thứ ba, ta có thể gấp tờ
giấy lại để hai góc tờ giấy chạm vào nhau, con kiến chỉ cần nhúc
nhích đă đi đến cuối tờ giấy. Nó không thể hiểu tại sao quăng đường
dài bỗng biến mất, dĩ nhiên đối với ta việc này đâu có ǵ lạ. Vấn
đề này có thể dùng để diễn tả thuật “Rút đất” của
các Lạt Ma Tây Tạng. Một khi đă hiểu chiều đo thứ tư, mọi hiện
tượng cơi âm đều có thể giải thích hết sức dễ dàng, khoa học.
Phái
đoàn nh́n nhau thán phục vị Pháp sư Ai Cập đă diễn tả một ư niệm
phức tạp bằng một thí dụ giản dị, dễ hiểu. Nhưng c̣n bề đo
thứ tư?
Hamoud mỉm cười:
- Các ông đều biết đường
thẳng được tạo ra bởi một điểm kéo dài theo một chiều nhất
định. Nếu ta di chuyển một cái chấm khoảng 2 thước th́ ta có đường
thẳng dài 2 thước. Nếu ta tiếp tục di chuyển chấm ấy một khoảng
cách 2 thước nhưng thẳng góc với đường cũ cho đến khi trở
về khởi điểm th́ ta sẽ có một h́nh vuông có đúng không? H́nh vuông có thể diễn
tả bằng con số 2 b́nh phương theo toán học. Đây là h́nh học mặt phẳng
chứ không có ǵ lạ. Nếu ta tiếp tục di chuyển theo chiều đứng, thẳng
góc với h́nh vuông cũ th́ ta sẽ có một khối vuông (Cubic). Khối vuông có thể diễn
tả bằng con số 2 tam thừa. Tóm lại ta có 3 h́nh: Đường thẳng, h́nh vuông và
khối vuông tương ứng với số 2, 2 b́nh phương, 2 tam thừa.
H́nh học
không gian ngừng ở đây, không đi xa nữa v́ ta chỉ biết có 3 chiều mà thôi, nhưng
toán học cho biết có thể có 2 tứ thừa, 2 lũy thừa năm, 2 lũy thừa
sáu và nhiều nữa. Các con số toán học này đều có h́nh tương ứng trên phương
diện h́nh học và tương ứng với 2 lũy thừa bốn hay bề đo thứ
tư là ch́a khóa vào cơi âm. Khoa H́nh học cổ của Ai Cập không những chứng minh được
mà c̣n có các dụng cụ để đo lường chiều thứ tư này. Trở về
h́nh học phẳng, ta sử dụng thước kẻ để đo chiều dài. Để
đo h́nh vuông ta sử dụng một thước khác gọi là thước vuông v́ loại
thước kẻ không thể đo góc vuông được. Cũng thế khi bước
sang h́nh học không gian ta không thể dùng thước vuông v́ h́nh vuông theo định nghĩa
không có bề đứng, không thể đo h́nh khối được. Nếu di chuyển
h́nh khối theo chiều đo thứ tư ta sẽ có h́nh ǵ? Dĩ nhiên ta không tưởng
tượng được. H́nh học Ai Cập cho biết nó là một h́nh bốn bề,
có 16 góc, 32 cạnh và 24 mặt được giới hạn bởi 8 h́nh khối (H́nh khối
chỉ có 6 mặt 12 cạnh và 8 góc). Ngày nào khoa học chứng minh được h́nh này là
họ mở cửa vào được chiều đo thứ tư. Toán học cho biết
2 lũy thừa bốn rất dễ chứng minh và từ toán học áp dụng để
xây Kim Tự Tháp, đem các tảng đá vạn cân lên cao. Môn học này đă thất truyền
trong quá khứ nhưng di tích của nó vẫn được ghi khắc trên những biểu
tượng tại Kim Tự Tháp đấy chứ.
Hamoud im lặng như thả hồn
vào một kư ức xa xăm rồi nói tiếp:
- Khi vén màn vào chiều đo thứ tư,
sự phát minh khoa học ngày nay chỉ là mảnh vụn, không đáng kể. Con người
có thể du lịch khắp không gian và có quyền năng ngoài sự hiểu biết của
người hiện tại. Trong thời buổi vàng son, dân Ai Cập đă đi khắp không
gian, đến những giải ngân hà xa lạ nhưng tiếc thay sự giao tiếp với
cơi âm của chiều đo thứ tư đem lại các hiểm nguy mà họ không biết.
Chính v́ thế nền văn minh này đă sụp đổ, biến mất trên mặt địa
cầu chỉ v́ thiếu một nền tảng trí tuệ sáng suốt, không biết phân biệt
chân giả. Từ ngàn xưa, các bậc trưởng lăo đă nhắn nhủ rằng sự
tiến bộ phải song song với trí tuệ và chỉ khi trí tuệ khai mở con người
mới đủ khả năng phân biệt hư thực, xé bỏ các mê lầm của vô
minh. Tiếc thay các nhà lănh đạo Ai Cập không nhận thức điều này nên mới
xẩy ra những điều đáng tiếc.
- Ông muốn nói rằng dân Ai Cập đă
tiến bộ như vậy sao?
- Dĩ nhiên, khoảng tám ngàn năm trước họ
đă ở những xă hội hơn hẳn những xă hội tân tiến, văn minh nhất
bây giờ bằng cớ là ngày nay, đă ai xây nổi Kim Tự Tháp chưa? C̣n nhiều vấn
đề thần bí khác mà một ngày nào đó các ông sẽ hiểu.
Này các ông bạn,
Ai Cập đă để lại những Kim Tự Tháp hùng vĩ, kiến thức vĩ đại
vào mục đích ǵ? Đa số người Âu cho rằng đó là một tàng trữ thi hài những
vua Pharaoh, có như vậy chăng? Tại sao triều đại Pharaoh có cả trăm vua
chúa mà chỉ có vài vị cho xây Kim Tự Tháp? Nhưng người ta đâu có t́m thấy thi
thể vua chúa nào trong Kim Tự Tháp đâu? Hơn nữa, trong Kim Tự Tháp làm ǵ có ám tự
hay tranh ảnh nói về một cá nhân ông vua nào đâu? Chỉ có những nấm mồ đào
được chôn sâu dưới đất mới có các xác ướp và tranh vẽ thôi, điều
này thế nào? Tại sao các nấm mồ trong ḷng đất có khắc kư hiệu, ám tự,
h́nh vẽ mà trong Kim Tự Tháp lại trống trơn? Dĩ nhiên quan niệm thông thường
không thể hiểu nổi, nếu các ông hiểu chiều đo thứ tư th́ các ông sẽ
không nh́n Kim Tự Tháp như một h́nh khối ba chiều.
- Ông muốn nói là nó c̣n chiều
đo nữa hay sao?
- Đúng thế nhưng đó là bí mật của Kim Tự Tháp, đây
không phải một vấn đề ta có thể dem ra bàn luận trong một thời gian giới
hạn. Các ông đang muốn chứng minh về thế giới vô h́nh kia mà. Tôi hy vọng dẫn
chứng về Toán học vừa qua sẽ giúp các ông một ch́a khóa, một căn bản
mới trong tiến tŕnh nghiên cứu...
Giáo sư Evans - Wentz rụt rè:
- Nhưng
chúng tôi vẫn chưa có bằng chứng nào rằng sự chết không phải là chấm
dứt...
Hamoud bật cười:
- Từ bao lâu nay, chết vẫn là một điều
mơ hồ, đáng sợ ám ảnh mọi người. Dù ai cũng trước sau phải
chết nhưng hầu như tất cả đều cố gắng không nghĩ đến
nó. Ngay cả những người già yếu, liệt giường, liệt chiếu, đầy
bệnh hoạn đớn đau cũng hăi hùng khi giáp mặt tử thần. Tất cả
tựu chung v́ họ không hiểu sự chết, không biết chuẩn bị, không biết
đối đầu hay chấp nhận nó. Trong cuộc đời đầy rẫy vô thường,
sự chết có thể đến bất cứ lúc nào, thế mà con người cứ lẫn
tránh nó như khất nợ vậy. Sự hiểu biết về cơi vô h́nh giúp ta chấp nhận
sự thật hiển nhiên này. Hăy đặt câu hỏi nếu sự chết là hết th́
cuộc đời có ư nghĩa ǵ? Tại sao ta lại sinh ra đời, có mặt trên trái đất
này? Tại sao có sự khác biệt giữa các cá nhân dù cùng huyết thống, điều kiện
sinh sống, có kẻ khôn, người dại, kẻ thông minh tuyệt đỉnh, người
ngu xuẩn khù khờ? Từ chối sự chết là từ chối một sự thật
tại sao ta cứ phải trốn tránh một sự thật? Tại sao không t́m hiểu nó
và chuẩn bị khi nó đến có hơn không?
- Phải chuẩn bị như thế
nào? Làm sao có thể giải thích cho những người Âu vốn hết sức đa nghi
và không chấp nhận những ǵ viễn vông rằng có một đời sống khác bên kia
cửa tử
- Th́ đó là việc của họ, tin tưởng hay phủ nhận hoàn
toàn tùy theo cá nhân, việc ǵ các ông cứ phải thắc mắc về vấn đề giải
thích. Điều quan trọng là tự các ông có tin hay không mà thôi. Nếu các ông tin rằng sự
chết chỉ là việc cởi bỏ một cái áo cũ, khi c̣n sống ra sao th́ khi chết
cũng thế thôi, vấn đề thiên thần trên thiên đường hay ác quỷ dưới
địa ngục hoàn toàn vô lư th́ mọi việc sẽ khác hẳn. Nếu nói một cách hết
sức khoa học, lư luận th́ tùy theo dục vọng, tư tưởng của con người
ra sao mà họ đến những cơi giới tương ứng, ta sẽ thấy rơ rằng
con người có toàn quyền định đoạt số phận của họ khi sống
cũng như khi chết. Đó không phải là một vinh dự lớn cho loài người hay
sao? Nếu ta chấp nhận rằng các dục vọng tư tưởng khi c̣n sống tạo
ra sẽ bay vẫn vơ tác động lên vong linh cho đến khi sinh lực chúng hao ṃn, tan
ră th́ ta thấy vấn đề chuẩn bị tư tưởng cũng như lối sống
hết sức cần thiết, quan trọng. Nếu các tư tưởng này hoàn toàn nhắm
về vật chất th́ dĩ nhiên hoàn cảnh cá nhân hết sức bi đát v́ vong linh không
c̣n thỏa măn chúng được nữa. Vong linh sẽ đau khổ và sẽ học được
bài học về sự chế ngự dục vọng để áp dụng trong một kiếp
sống tương lai. Dĩ nhiên khi dục vọng trên tiêu tan hết th́ y mới siêu thoát
được.
Nếu trong đời sống hàng ngày, con người không có một
đời sống tinh thần th́ khi chết họ sẽ ở một cảnh giới hết
sức buồn nản, vô tri bất động rất lâu cho đến khi họ ư thức
sự thiếu hoạt động này và có những tâm nguyện hăng hái hơn ở một
kiếp khác. Thảm kịch lớn nhất là khi con người chết đột ngột,
không chấp nhận rằng ḿnh đă chết nên cố gắng bám lấy sự sống.
V́ không chấp nhận rằng ḿnh đă chết nên họ cứ ở nguyên t́nh trạng khi
c̣n sống nghĩa là t́nh trạng chuyển tiếp, không có ǵ rơ ràng hết. Hồn ở cơi
âm nhưng đầu óc tư tưởng vẫn ở cơi trần, họ cần được
hướng dẫn, khuyên bảo.
Hăy lấy trường hợp một vong linh chết
đuối, v́ y không tin ḿnh đă chết nên cứ ở trong tŕnh trạng lúc chết nghĩa
là ngộp nước. V́ đầu óc hôn mê nên y không nh́n thấy cơi âm mà giữ nguyên h́nh ảnh
cơi trần, dĩ nhiên nó chỉ nằm trong tư tưởng của y mà thôi. Nói một cách
khác, thời gian như ngừng lại, y cứ thế hôn mê trong nhiều năm. Tôi đă
cố gắng thuyết phục nhưng nói ǵ y cũng không nghe, tôi bèn yêu cầu y trở về
nhà, đầu óc y hôn mê quá rồi nên cũng không sao trở về được. Nhờ các
bạn bè cơi vô h́nh, tôi t́m được tên tuổi và địa chỉ thân nhân vong linh. Tôi
tiếp xúc với họ và yêu cầu lập một nghi lễ cầu siêu để cảnh
tỉnh vong linh. Nhờ sức chú nguyện mănh lực của buổi cầu siêu, tôi thấy
vong linh từ từ tỉnh táo ra, nghe được lời kinh. Y trở về nhà và chứng
kiến buổi cầu siêu của con cháu gần 60 năm sau khi y qua đời. Sau đó y
chấp nhận việc ḿnh đă chết và siêu thoát...
- Ông cho rằng sự cầu
nguyện có lợi ích đến thế sao?
- Cầu siêu cho vong linh là một điều
hết sức quan trọng và ích lợi v́ nó chứa đựng một sức mạnh tư
tưởng vô cùng mănh liệt. Oai lực lời kinh và âm hưởng của nó thật là vô
cùng ở cơi âm nếu người ta tụng niệm chú tâm, sử dụng hết cả tinh
thần. Tiếc thay, người đời chỉ coi tụng niệm như một h́nh thức.
Họ chỉ biết đọc các câu kinh trên đầu môi, chót lưỡi chứ không biết
tập trung tinh thần nên mất đi phần nào hiệu nghiệm. Sự cầu nguyện
có một sức mạnh kinh khủng, có thể dời núi lấp sông, đó là bí quyết khoa
“Mật Tông” Tây Tạng.
- Như ông nói th́ tôn giáo Tây Tạng có hiệu nghiệm
nhiều hay sao?
- Vấn đề cầu nguyện cho người chết không phân biệt
tôn giáo và cũng không cần theo một nghi thức, nghi lễ nào nhất định mà chỉ
cần tập trung tư tưởng, hết sức chú tâm cầu nguyện. Theo sự hiểu
biết của tôi th́ tôn giáo nào cũng có những nghi lễ riêng và nghi lễ nào cũng tốt
nếu người thực hành thành tâm.
- Như vậy nghi lễ rửa tội trước
khi chết có ích lợi ǵ không?
- Một số người tin rằng hạnh phúc vĩnh
cửu của con người tùy thuộc tâm trạng y lúc từ trần. Nếu lúc đó
y tin rằng ḿnh được cứu rỗi th́ như được một vé phi cơ
lên Thiên Đàng c̣n không y sẽ xuống địa ngục. Điều này gây nhiều sợ hăi, lo
âu vô ích. Nếu một người chết th́nh ĺnh th́ sao? Phải chăng họ sẽ xuống
địa ngục? Nếu một tín đồ hết sức ngoan đạo nhưng chết
ngoài trận mạc th́ sao? Họ đâu được hưởng nghi lễ rửa tội?
Sự chuẩn bị hữu hiệu nhất là có một đời sống thanh cao, nếu
ta đă có một đời sống cao đẹp th́ tâm trạng khi chết không quan trọng.
Trái lại, ta không thể ao ước một tương lai tốt đẹp dù khi chết
được cử hành bằng các nghi lễ to lớn, linh đ́nh nhất. Dù sao, tư tưởng
chót trước khi ĺa đời cũng rất hữu ích cho cuộc sống mới bên kia
cửa tử, nó giúp vong linh tỉnh táo, dễ thích hợp với hoàn cảnh mới hơn.
Một cái chết thoải mái, ung dung phải hơn một cái chết quằn quoại, chết
không nhắm mắt được. Theo tôi th́ sự hiểu biết về cơi vô h́nh, sự
chuẩn bị cho sự chết là điều hết sức quan trọng, cần được
phổ biến rộng răi nhưng tiếc là ít ai chú ư đến việc này.
- Vậy
theo ông chúng ta cần có thái độ ǵ?
- Đối với người Âu Tây, đời
sống bắt đầu khi lọt ḷng mẹ và chấm dứt lúc chết đó là một
quan niệm cần thay đổi. Đời sống cơi trần chỉ là một phần nhỏ
của chu kỳ kiếp sống. Chu kỳ này được biểu
hiện bằng một ṿng tṛn mà sự sống và chết là những nhịp cầu chuyển
tiếp giữa hai cơi âm và dương, giữa thế giới hữu h́nh và vô h́nh. Trên con đường
tiến hóa c̣n hằng hà sa số các chu kỳ, các kiếp sống cho mỗi cá nhân. Linh hồn
từ cơi Thượng giới chuyển kiếp xuống cơi Hạ giới qua cơi Trung giới
và sau đó trở về Thượng giới cũng phải qua cơi Trung giới. Phần ở
cơi trần chỉ là một phần nhỏ của một kiếp sống mà thôi. Trong chu kỳ
này phần quan trọng ở chỗ ṿng tṛn tiến sâu vào cơi trần và bắt dầu chuyển
ngược trở lên đó là lúc linh hồn hết tha thiết với vật chất mà có
ư hướng về tâm linh. Các cổ thư đă vạch ra một đời sống ở
cơi trần như sau: 25 năm đầu để học hỏi, 25 năm sau để lo
cho gia đ́nh đây là giai đoạn tiến sâu vào trần thế, 25 năm sau nữa phải
từ bỏ việc đời để lo cho tâm linh, đó là thời diểm quan trọng
để đi ngược lên, hướng về tâm linh và 25 năm chót phải từ bỏ
tất cả, chỉ tham thiền, quán tưởng ở nơi rừng sâu, núi thẳm. Đối
với người Á châu th́ 50 tuổi là lúc từ bỏ vật chất để hướng
về tâm linh nhưng người Âu châu lại khác hẳn, họ ham mê làm việc đến
độ mù quáng, cho đến già vẫn tranh đấu hết sức vất vả, cho
dục vọng, cho bản ngă, cho sự sống c̣n, cho sự thụ hưởng do đó,
đa số mất quân b́nh và khi chết hay gặp các nghịch cảnh không tốt. Theo ư tôi,
chính v́ sự thiếu hiểu biết về cơi âm nên con người gây nhiều tai hại
ở cơi trần. Chính v́ không nh́n rơ mọi sự một cách tổng quát, nên họ mới gây
lầm lỗi chứ nếu biết tỷ lệ đời sống cơi trần đối
với toàn kiếp người th́ không ai dồn sức để lo cho 1/3 kiếp sống
mà sao lăng các cơi trên. Nếu con người hiểu rằng quăng đời ở cơi trần
rất ngắn ngủi đối với trọn kiếp người và đời sống
các cơi khác c̣n gần với chân lư, sự thật hơn th́ có thể họ đă hành động
khác đi chăng? Có lẽ v́ quá tin tưởng vào giác quan phàm tục nên đa số coi thế
giới hư ảo này là thật và cơi khác là không có thật...
- Nhưng nếu ông cho
rằng các cơi kia c̣n gần với sự thật hơn th́ tại sao ta lại kéo lê kiếp
sống thừa ở cơi trần làm ǵ? Tại sao không rủ nhau đi sang cơi khác có tốt
hơn không?
Hamoud mỉm cười:
- Tuy cơi trần hư ảo nhưng nó có những
lợi ích của nó v́ con người chỉ có thể t́m hiểu, phát triển xuyên qua các rung
động thô thiển này thôi. Cơi trần có các bài học mà ta không t́m thấy ở đâu
được. Chính các bậc chân tiên, Bồ Tát trước khi đắc quả vị đều
phải chuyển kiếp xuống trần, làm các công việc vĩ đại như một
thử thách cuối cùng. Muốn khai mở quyền năng, con người phải tiếp
nhận các bài học ở cơi trần mà thôi, nhờ học hỏi những bài học này họ
mới trở nên nhạy cảm với các rung động cơi trên.
- Ông muốn nói
sự nhạy cảm thế nào?
- Sự mở mang trí tuệ giống như một
máy thu thanh (Radio) và các rung động ví như các tần sóng. Một người không hiểu
biết ví như máy thu thanh không bắt trúng đài, không thay đổi băng tần. Họ
sinh ra sao th́ chết cũng vậy, chả học được điều ǵ v́ như máy
không bắt trúng đài chỉ kêu rè rè. Một người hiểu biết là người biết
thay đổi con người của ḿnh để bắt trúng những làn sóng, dĩ nhiên
có nhiều làn sóng, băng tầng khác nhau và con người sẽ bị tràn ngập bởi
các làn sóng này cho đến khi họ điều ḥa, phân biệt điều hay, lễ dở
để chọn những băng tầng thích hợp. Khi đó họ bắt trúng những
đài phát thanh, nghe được điệu nhạc họ muốn. Huyền âm của Thượng
Đế lúc nào cũng vang lừng vũ trụ cho những ai muốn nghe, biết chuyển tâm
thức để nghe, biết thay đổi tâm hồn để bắt được làn
sóng thanh cao, tế nhị đó.
Mọi người gật đầu thán phục vị
pháp sư Ai Cập đă dùng những thí dụ cụ thể để giải thích một
điều phức tạp. Giáo sư Mortimer thắc mắc:
- Ngoài việc khai mở
giác quan để nghiên cứu cơi âm ông c̣n làm ǵ nữa?
- Việc nghiên cứu sẽ không
có ư nghĩa ǵ nếu ta chỉ quan sát như một khách bàng quang, đứng ngoài nh́n ngắm.
Con người cần học hỏi những điều ǵ xẩy ra khi họ từ trần
để thay đổi, thích hợp với cuộc sống mới, không những cho họ
mà c̣n cho những người thân. Càng hiểu biết bên kia cửa Tử họ càng dễ
dàng hướng dẫn các vong linh khác.
- Nói một cách khác ông hay giúp đỡ những
vong linh vừa từ trần?
- Chính thế, đó là công việc của tôi. Phần lớn
người chết thường xúc động và không chấp nhận rằng họ đă
chết, họ muốn bám víu lấy cơi trần và trở nên các loài ma vất vưởng.
Công việc của tôi là trấn an họ, giải thích cho họ rằng ở cơi âm nếu
muốn siêu thoát cần thay đổi trọn vẹn lối sống. Việc này dĩ nhiên
rất khó v́ các vong linh không chịu nghe, hơn nữa nhiều người luyến tiếc
cơi trần v́ họ có những việc chưa giải quyết xong, tâm hồn họ chưa
được an để siêu thoát. V́ thế sự hiện diện của một người
c̣n sống như tôi rất hữu ích, tôi có thể giúp họ hoàn tất các tâm nguyện để
họ siêu thoát...
- Công việc này có kết quả ǵ không?
- Đây là một việc
hết sức khó khăn nên tôi phải kết thân với một số bạn bè bên cơi âm.
Nếu vong linh u mê nhất định không nghe th́ tôi phải nhờ những bạn bè, người
thân của họ thuyết phục, giúp đỡ. Thí dụ như một vong linh bị chết
trong một trận hỏa hoạn tại Luân - Đôn. Y bị kẹt trong ṭa nhà ba từng, không
sao thoát nên chết ngộp bởi khói. Y không tin ḿnh đă chết nên thần thức vẫn
vùng vẫy, t́m chỗ thoát thân. Tôi khuyên bảo nhưng y quá lo sợ chết cháy nên không chịu
tin lời tôi. Sau tôi phải nhờ mẹ y đă từ trần nhiều năm trước
đến khuyên bảo th́ y mới chấp nhận và siêu thoát.
- Ông muốn nói rằng
thân quyến có thể làm việc đó dù họ chết đă lâu?
- Dĩ nhiên, sự
liên hệ giữa con người với nhau đâu phải t́nh cờ mà do nhiều duyên nghiệp
từ trước. Nếu sợi dây thân ái vẫn c̣n th́ dù qua đời họ vẫn để
ư lưu tâm đến những người họ yêu mến nhau. Dù đă siêu thoát lên cảnh
giới trên nhưng họ vẫn sẵn sàng trở lại khuyên bảo, giúp đỡ con
cháu của họ.
- Như vậy sau khi chết ta có thể gặp lại cha mẹ,
ông bà, họ hàng thân thích hay sao?
- Dĩ nhiên, như tôi vẫn nói con người khi sống
ra sao th́ chết vẫn vậy, đâu có đổi thay ǵ nhiều. Nếu t́nh cảm vẫn
c̣n th́ họ vẫn t́m đến gặp nhau là thường. Thật ra nếu ta xem sự
chết như đi du lịch qua một thế giới mới, quang đăng, sáng sủa hơn
th́ chúng ta sẽ không có cảm tưởng như xa người quá cố. Sự thật là
không có điều ǵ chia cách linh hồn cả, khi ta yêu mến ai bằng những rung động
chân thành, ta yêu mến họ qua linh hồn của họ chứ đâu phải chỉ xác thân.
Xác tuy hư hại nhưng hồn họ vẫn ở quanh ta, tuy ta không thấy họ nhưng
họ vẫn cảm xúc được t́nh thương của ta. Họ c̣n biết các đau
buồn, cảm giác của ta v́ họ đọc được tư tưởng. Dĩ
nhiên, nếu họ vẫn theo dơi th́ khi ta chết đi, họ sẽ đón tiếp để
trấn an ta là đằng khác. Đây là một vấn đề cần được lănh hội
cẩn thận v́ khi hiểu biết ta sẽ không c̣n sợ hăi, ta chấp nhận sự chết
như một việc hiển nhiên. Bên kia cửa tử cũng như cơi trần, luật thiên
nhiên luôn luôn biểu hiện và hết sức công bằng.
- Làm sao chúng tôi có thể biết
chắc rằng khi chết ta sẽ gặp người thân?
- Như tôi đă tŕnh bày,
có bẩy cảnh ở cơi Trung giới và sự thức tỉnh ở cảnh nào hoàn toàn tùy
theo tâm thức con người rung động với nhịp rung của cảnh đó. Con
người chỉ có thể tiếp xúc với vong linh ở cảnh đó hoặc cảnh
thấp hơn mà thôi. Đa số những người qua đời đă lâu, thể Vía đă
được thanh lọc nên thường sống ở cảnh giới cao hơn, do đó
họ có thể tiếp xúc với những người ở cảnh giới thấp hơn
nếu họ muốn. Ngược lại những kẻ thức tỉnh ở cảnh giới
thấp rất ít khi biết đến các cảnh giới cao hơn, những kẻ thức
tỉnh ở cảnh thứ bẩy hay thứ sáu chỉ muốn t́m về cơi trần mà thôi
ít khi ư thức cảnh giới khác. Có nhiều vong linh sau khi đă lên đến cảnh giới
cao lại t́m về những cảnh thấp hơn, không phải họ ham mê ǵ cơi này nhưng
v́ ḷng thương người, bác ái mà họ muốn giúp đỡ những người cùng
cảnh ngộ, những kẻ lạc lỏng, bơ vơ không ư thức ǵ.
Hamoud im
lặng một lúc rồi thong thả:
- Cứu trợ, giúp đỡ các vong linh bên kia
cửa tử là một điều hết sức cần thiết v́ người chết th́
nhiều mà người hiểu biết lại chẳng có là bao nhiêu...
- Nhưng đâu
phải ai cũng làm được việc này, phải có các quang năng đặc biệt
như ông hay đợi lúc chết mới giúp đỡ được chứ...
Hamoud
lắc đầu:
- Không phải khi từ trần mới làm được việc
này, khi c̣n sống ta vẫn có thể làm được mà cũng không cần phải khai mở
quang năng nào cả. Bất cứ ai biết suy nghĩ đều có thể làm được.
Các ông nên hiểu rằng khi ngủ, thể Vía của ta được tự do có thể
hoạt động bên cơi âm. Nếu ta tập trung tư tưởng trước khi ngủ
vào một sự giúp đỡ, an ủi nhằm mục đích hướng dẫn, cứu
trợ tất cả mọi người không phân biệt th́ điều này sẽ được
thực hiện.
- Chỉ thế thôi ư? Như vậy ai làm chả được.
- Dĩ nhiên, điều này không nguy hiểm ǵ hết v́ tư tưởng có một sức
mạnh thần giao đặc biệt và có một mănh lực phi thường ở cơi âm.
Nếu ta tập làm những việc này khi c̣n sống, ta sẽ không bỡ ngỡ, ngạc
nhiên khi qua cơi bên kia v́ ta đă quen thuộc với nó rồi. Ta c̣n gặp những người
nhờ tư tưởng của ta mà được giúp đỡ là đằng khác, dĩ
nhiên họ sẽ đón tiếp ta nồng hậu và từ đó sẽ tiếp tục làm
những công việc này...
- Làm sao có thể dễ dàng như thế được?...
Hamoud mỉm cười:
- Nghe th́ dễ thật nhưng nó đ̣i hỏi một
sự quyết tâm. Thứ nhất việc làm của ta phải bất vụ lợi, vị
tha, vô tư v́ cơi âm là cơi tư tưởng. Nếu ta có ư định mưu đồ một
việc ǵ, những người khác biết ngay và hậu quả lại chưa biết thế
nào mà lượng được. Thứ hai, đa số các vong linh đều u mê, ngoan cố
rất khó thuyết phục v́ các nghiệp quả trói buộc hoặc lưu luyến cơi trần
v́ con cháu khóc than, thương tiếc quá họ đâm ra xúc động khó siêu thoát. Do đó,
công việc này đ̣i hỏi sự tế nhị, khéo léo và một tâm hồn an tĩnh, không
bối rối, xúc động. Nhưng khi ta đă phát tâm th́ tư tưởng này sẽ là
một khí cụ rất tốt giúp đỡ ta rất nhiều. Theo ư kiến của tôi th́
việc có một kiến thức rộng răi về cơi âm là căn bản đầu tiên...
Giáo sư Allen lắc đầu:
- Nếu nói rằng khi ngủ ta qua cơi âm, tại
sao tôi không ư thức một tí ǵ cả? Phải có một bằng chứng nào rơ rệt mới
tin như vậy được.
- Các ông nên hiểu về sự cấu tạo của
con người: Trong lúc thức tỉnh, thể Vía là cây cầu cho tâm thức. Mọi sự
va chạm, rung động, cảm xúc bên ngoài do hệ thần kinh giao cảm được
thể Vía chuyển vào tâm thức sau đó mới ghi nhận ở khối óc. Bằng chứng
là ta suy nghĩ trước khi ta hành động có phải không? Nguyên nhân giấc ngủ là
sự mệt mỏi của thể xác, nó cần phục hồi sức khỏe nên nằm
yên nhưng thể Vía lại khác, nó vẫn hoạt động v́ bằng chứng là đôi
khi ngủ say nhưng ta vẫn ư thức mọi việc xẩy ra chung quanh có đúng như
thế không? Thể Vía luôn rung động để đáp ứng với hoàn cảnh chung
quanh, v́ tính chất này nó rất mẫn cảm với các rung động của bản năng,
ham muốn, dục vọng. Các tính xấu như giận hờn, oán ghét chẳng qua là sự
cô đọng của tư tưởng mà thôi. Sự cô đọng này tạo thành một lớp
vỏ bao trùm lên thể Vía và ảnh hưởng của nó. Do đó, tính t́nh con người
chỉ là một thói quen của tư tưởng. Như tôi đă tŕnh bày, tư tưởng
thanh cao cũng như hèn hạ đều bị thu hút vào thể vía và trực tiếp ảnh
hưởng đến t́nh cảm con người. Bằng chứng là một người
có tâm hồn thanh khiết không thể hợp với những nơi ồn ào náo nhiệt, ngược
lại kẻ có tâm hồn náo động không thể chịu nơi vắng vẻ, êm đềm.
Có người tự hỏi tại sao họ không thể ngồi yên một chỗ, không thể
tu tập các pháp môn thiền quán? Ấy v́ thể Vía họ lao chao, muốn động. Họ
cần biết cách chủ trị t́nh cảm, thanh lọc thể vía. Các món đồ ăn
nặng trọc như thịt cá, rượu các chất kích thích cũng đem vào thể Vía
các đối phần nặng trọc. Người tu phải triệt để từ bỏ
các món ăn này v́ nó rất có hại cho việc tham thiền, quán tưởng. Thể xác và
thể vía liên lạc với nhau qua bẩy trung tâm giao điểm sinh lực gọi là Luân
Xa, tại đây có một tấm màn cấu tạo bẳng nguyên tử cơi trần để
ngăn chặn ảnh hưởng cơi âm. V́ thế, kư ức và sinh hoạt lúc ngủ không chuyển
sang khối óc vật chất tuy nhiên, đôi khi ngủ dậy ta vẫn mường tượng
có một cái ǵ mà không sao nhớ được. Đối với một người b́nh thường
th́ luân xa không thức động nên tấm màn này khép chặt nhưng rượu, thịt,
các chất kích thích có thể phá hoại tấm màn này khiến nó bị rách và ảnh hưởng
cơi âm có thể chuyển qua cơi trần khiến y bị điên khùng hay rối loạn hệ
thần kinh. Có khi cá nhân mất tự chủ, bị các loài ma quỷ nhập vào sai khiến.
Giáo sư Allen lên tiếng:
- Những điều ông tŕnh bày rất lạ lùng, nhưng
cũng có lư. Tuy nhiên, theo sự hiểu biết của chúng tôi th́ khoa học không thể chứng
minh điều này. Liệu có cách nào khiến chúng tôi cũng khai mở các quang năng để
nghiên cứu cơi giới vô h́nh như ông không? |
|
|
|
|
|
|
|
Hamoud gật đầu:
- Sự khai mở quyền năng thuộc phạm vi tâm
thức, trước khi mở tâm phải tinh luyện các thể đă. Nếu chưa thanh
lọc được các thể th́ đừng nói đến khai mở bất cứ một
giác quan nào.
- Vậy ta phải luyện các thể bằng cách nào?
- Tinh luyện
thể Trí bằng sự suy tư chân chính. Trí tưởng tượng con người là một
công cụ sáng tạo hữu hiệu, khi ta suy tư, tưởng tượng ta vô t́nh xây dựng
thể Trí. Nếu ta chỉ suy tư những điều tốt lành, cao thượng th́ ta
đă luyện trí rồi. Sau thể Trí là thể Vía, thể này chỉ luyện bằng các
ham muốn chân chính. Hăy ham mê các điều cao thượng th́ tự khắc thể Vía sẽ
phát triển.
- Ông nói nghe thật dễ dàng. Tư tưởng cao thượng và ham muốn
chân chính là những điều trừu tượng, làm sao có thể làm được...
-
Đa số mọi người quan niệm như thế nên chả khi nào tiến bộ được.
Con người muốn quyền năng, giải thoát nhưng chỉ chờ đợi một
phép lạ, một tha lực ngoại giới chứ không tự tin rằng ḿnh có khả năng
làm những việc đó.
- Dù tôi muốn thanh lọc các thể th́ cũng phải có
một phương pháp, một sự hướng dẫn, một kỹ thuật nào đó
chứ nói một cách trừu tượng th́ ai nói chả được.
- Theo sự
hiểu biết của tôi th́ Tôn giáo nào cũng dạy những điều cao đẹp và
áp dụng những lời dạy này chả phải một phương pháp, kỹ thuật
thanh lọc các thể hay sao?
- Như vậy ông theo phương pháp nào? Hăy nói về kinh
nghiệm của ông đă...
Hamoud trầm ngâm rồi gật đầu:
- Được
lắm, tôi được truyền thụ phương pháp này tại một tu viện ở
Tây Tạng nên chịu ảnh hưởng Phật Giáo rất nhiều: Thứ nhứt là luyện
thể xác, phải biết cách kiểm soát, kiềm chế thể xác hoàn toàn, quy định
mọi hoạt động như ăn, uống, ngủ cho thật đúng. Thức ăn
được phân làm ba loại: Tĩnh, Động và Điều Ḥa, người tập phải
tránh đồ ăn “Tĩnh” v́ nó làm thể xác hôn mê, lười biếng, bất
động. Các thức ăn có đặc tính “Tĩnh” là các món đang lên men, các thứ
đồ khô, các loại rượu. Các món ăn có đặc tính “Động” như
thịt, cá thường đem lại các kích thích hăng hái nhất thời, xác chết thú
vật gồm nhiều nguyên tử nặng nề bởi các thú tính thấp hèn không thích hợp
cho việc tu hành, thanh lọc. Chỉ có các món ăn “Điều Ḥa” như các thứ
có khả năng tăng trưởng, chứa nhiều sự sống như ngũ cốc
v́ nó sắp đâm mầm, nẩy lộc, các loại trái cây vốn tràn đầy nhựa
sống, các loại rau cỏ vốn hấp thụ khí thái dương cần thiết cho một
thể xác cường tráng, nhạy cảm.
Sau việc ăn uống c̣n phải thở
hít, hô hấp cho đúng cách. Khoa học chứng minh con người sống được
là nhờ hơi thở nhưng thật ra đó là nhờ Sinh khí (Prana).
Chính các sinh khí
này thấm nhuần khắp cơ thể, mang sự sống đến khắp tế bào.
Prana xuất phát từ ánh sáng mặt trời, nó rung động và pha trộn trong không khí. Bằng
cách hô hấp thật sâu, thong thả, Prana sẽ thấm vào thần kinh hệ và lưu thông
khắp châu thân mang sự sống khắp xác thể. Chính các Prana tích tụ trong hệ thần
kinh tạo ra luồng “Nhân điện” một yếu tố quan trọng của sự
sống.
Tóm lại, dinh dưỡng đúng cách bằng các món ăn có đặc tính
điều ḥa, tập thở hít đúng cách là phương pháp tinh luyện thể xác vô cùng
quan trọng. Như các ông thấy, phương pháp này không có ǵ trái với khoa học hiện
tại, cách thực hành có thể khác nhau tùy cá nhân, người gọi nó là thể dục,
người gọi nó là thiền định điều này không quan trọng v́ căn bản
chính chỉ nhằm đem lại một thể xác lành mạnh, cường tráng. Người
luyện thể xác cần sống nơi thoáng khí, nhiều ánh sáng mặt trời để
đón nhận các sinh lực prana nhằm bổ túc luồng nhân điện. Các món ăn như
thịt cá mang lại các rung động thô bạo khiến luồng nhân điện này chạy
loạn lên khó kiểm soát gây nên các bệnh tật hoặc phá hoại hệ thần kinh. Các
món ăn Tĩnh như rượu làm tê liệt bộ thần kinh khiến luồng nhân điện
bị ngắt quăng không đều ngăn trở các sinh khí prana lưu thông mang sinh lực nuôi
thể xác gây nên nhiều hậu quả không tốt.
Sau khi thanh lọc thể xác ta bắt
đầu luyện đến thể Vía: Thể Vía là trung tâm của t́nh cảm, một khi
t́nh cảm trong sạch, vị tha, bác ái đương nhiên các chất thanh nhẹ sẽ được
hấp thụ vào và các chất nặng trọc, xấu xa sẽ bị đào thải ra ngoài
theo một nguyên lư giống như sự thẩm máu (Osmosis). Khi thể Vía thanh cao nó sẽ rung
động với các tư tưởng cao thượng mang tâm thức lên một b́nh điện
cao hơn. Khi sự rung động (Vibration) đến một chu kỳ nào đó (In - phase)
các giác quan thể vía bắt đầu khai mở và tự nhiên con người sẽ bắt
đầu có quyền năng đặc biệt. Nói một cách khoa học hơn, các giác quan
thể Vía chỉ hoạt động ở một chu kỳ và chỉ khi thể Vía rung động
đúng chu kỳ này nó mới được đánh thức để hoạt động.
Thể vía chỉ có thể rung động ở chu kỳ này khi nó được cấu tạo
bằng những nguyên tử thật thanh, nhẹ khi những nguyên tử nặng trọc bị
khu trục hết, điều này chỉ xẩy ra khi con người chỉ có các t́nh cảm
cao thượng ḷng bác ái tốt lành bao trùm mọi vật. Đó là bí quyết cách luyện thể
Vía.
Khi bẩy giác quan của thể vía hoạt động, nó sẽ khai mở một
số bí huyệt để luồng hỏa hầu Kundalini thức giấc, khi luồng hỏa
hầu này chạy dọc theo xương sống lên đỉnh đầu, nó sẽ thúc đẩy,
khai mở thể trí khiến nó khai triển để hợp nhất với chơn thần.
Khi thể trí khai triển, mở lớn ra nó sẽ khởi sự tiêu diệt cái phàm ngă ích
kỷ của con người để hướng lên các điều thánh thiện. Đây là một
giai đoạn vô cùng khó khăn, rất ít ai vượt qua nổi: Danh từ Phật giáo gọi
là Phật tánh biểu lộ, danh từ Thiên Chúa Giáo gọi là sự quên ḿnh để ḥa nhập
với đấng Cứu Thế, danh từ Ấn Giáo gọi là sự hợp nhất với
Chân Ngă. Nói một cách giản dị th́ đây là lúc trí tuệ quy kết các tư tưởng
và hoạt động về t́nh huynh đệ, bác ái nhu thuận, từ bi, trí tuệ, vị
tha, hỷ xả để kết tinh thành chân ngă. Khi phàm ngă hoàn toàn bị hủy diệt,
các thể cũng hoàn toàn được thanh lọc th́ không c̣n sự phân biệt giữa ta
và tha nhân, giữa chủ thể và đối tượng mà tất cả đều là một.
Thể trí không c̣n tính cách cá nhân mà đă thành “Đại Trí” hay trí tuệ “Bát nhă”.
Tâm thức cũng không c̣n là tâm cá nhân mà thành tâm thức “Bồ Đề” ḥa hợp hoàn
toàn với tâm thức vũ trụ. Cả tâm lẫn trí mở rộng đón nhận ánh sáng
chân lư mà không c̣n phải học hỏi, lư luận ǵ nữa. Đây chính là giai đoạn giác ngộ
của người tu. Họ trở nên một đấng siêu nhân, một vị Tổ, một
vị Thánh...
Giáo sư Evans - Wentz thắc mắc:
- Căn cứ vào đâu ta biết
được như vậy? Phải có bằng chứng ǵ chứ?
Hamoud lắc đầu:
- Các kinh nghiệm quư báu, thiêng liêng đó chỉ có các bậc giác ngộ rồi mới
hiểu được. Không một vị thánh nào vỗ ngực tự xưng đă đạt
quả vị này hay quyền năng nọ. Khi đă giác ngộ th́ chức tước, danh
vọng, địa vị đâu có nghĩa lư ǵ nữa v́ họ đâu c̣n bản ngă thấp
hèn như chúng ta để phân biệt. Chỉ có các “bậc lừa bịp”, các tu
sĩ giả mạo mới thích danh vọng, chức tước v́ bản ngă họ c̣n to lớn
và cần các danh xưng, địa vị để lừa bịp tín đồ nhẹ dạ.
- Trên nguyên tắc th́ như vậy nhưng c̣n phương pháp, kỹ thuật th́ ra sao?
- Phương pháp, kỹ thuật th́ rất nhiều, con đường đến
chân lư cũng thế tùy theo nhân duyên, căn cơ cá nhân không thể áp dụng một kỹ
thuật nào cứng nhắc được. Phương pháp, kỹ thuật có thể khác
nhau nhưng nguyên tắc chỉ có một. Sự thật là chân lư luôn luôn được truyền
dạy dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác tùy theo điều kiện, hoàn cảnh
và phương tiện. Phương pháp tuy khác nhưng chân lư vẫn là một giống như
nước suối hay nước sông th́ vẫn là nước mà thôi (Tùy duyên bất biến).
Chân lư có thể được truyền dạy bởi những thầy phù thủy trong
các bộ lạc man dă hoặc các bậc giáo chủ trong kinh điển tôn giáo. Kinh điển
hay tôn giáo có thể khác nhau về h́nh thức nhưng vẫn có những điểm tương
đồng mà ta phải chấp nhận.
- Chấp nhận phải chăng là một
h́nh thức của tin tưởng?
- Con đường đạo đ̣i hỏi một
đức tin nhưng không phải nhắm mắt tin tưởng bừa băi. Đức tin chỉ
đến sau khi người t́m đạo tự ḿnh nhận thức rơ ràng, sau khi hiểu
biết chứng nghiệm nó một cách rốt ráo. Các ông là những khoa học gia, không đời
nào các ông tin tưởng một sự kiện ǵ nếu không kiểm chứng rơ ràng, sự
nghi ngờ là một điều cần thiết nhưng nếu có những sự kiện
mà khoa học không thể chứng minh hay chưa thể chứng minh được các ông sẽ
phải làm ǵ? Phủ nhận chăng? Nếu phủ nhận các ông đă bỏ qua một
cơ hội t́m hiểu nghiên cứu. Nếu chấp nhận mà không kiểm chứng th́ các
ông đă mù quáng tin tưởng bừa băi. Tôi không mong các ông phải tin tưởng những
điều tôi tŕnh bày, nhưng mong các ông hăy suy gẫm, nghiên cứu nó, nếu chưa thể
sử dụng các dụng cụ khoa học thực nghiệm để chứng minh th́ hăy
sử dụng lư trí, trực giác v́ sự nghiên cứu cơi âm là một khoa học chứ không
phải một sự tin tưởng bừa băi. Kiến thức về cơi giới này sẽ
giúp đỡ nhiều người, tôi tin rẳng trong một ngày không xa sẽ có nhiều
cuộc nghiên cứu về đối tượng này.
- Tại sao ông không công bố
những điều t́m được cho mọi người? Tại sao ông lại ẩn
thân một nơi hoang vu như thế này? Nếu ông muốn kiến thức về cơi giới
này được nghiên cứu rộng răi th́ ông phải là người khởi xướng
nó lên để mọi người được biết và biết đâu chẳng có những
cuộc nghiên cứu theo sau?
Hamoud mỉm cười:
- Khi tŕnh độ con người
chưa đến lúc, có những điều chưa thể công bố được. Các bậc
giáo chủ ngày trước chẳng giảng dạy chân lư ra làm hai phần Công truyền và
Bí truyền hay sao? Tại sao các ngài lại dạy riêng cho một thiểu số môn đồ
môn giáo lư bí truyền? Phải chăng các ngài biết chỉ một thiểu số người
có thể lĩnh hội những điều ngài giảng dạy. Khoa học nghiên cứu về
cơi âm cũng có những sự nguy hiểm riêng của nó, không thể truyền dạy bừa
băi cho tất cả mọi người.
- Xin ông giải thích rơ hơn về việc
này, tại sao lại nguy hiểm?
- Tôi vừa tŕnh bày cho các ông một phương pháp
tinh luyện các thể như tôi đă được truyền dạy. Dĩ nhiên, c̣n có nhiều
phương pháp khác cũng mang lại các kết quả tương tự nhưng cứu
cánh lại khác hẳn. Có hàng trăm phương pháp phát triển năng khiếu thần thông
nhưng người tu phải hiểu rằng quyền năng chỉ là những phương
tiện thấp thỏi, giúp ta mở rộng kiến thức. Quyền năng không bao giờ
là một cứu cánh, một mục đích. Sự tham luyến, vọng tưởng sẽ
đưa người có quyền năng vào ma đạo. Người tu hành cần ư thức
rơ rệt rằng chỉ khi nào phàm ngă hoàn toàn bị tiêu diệt th́ con người mới thoát
khỏi ảo ảnh của màn vô minh và thực sự chứng nghiệm chân lư. Quyền năng
càng cao ta càng phải lập hạnh, nghiêm khắc giữ ǵn đề cao cảnh giác các ảo
ảnh của vô minh...
- Ông nói đến vô minh như một cái ǵ trừu tượng,
liệu ông có thể lấy một thí dụ dễ hiểu hơn không v́ danh từ này c̣n xa
lạ với chúng tôi?
- Hăy lấy thí dụ một người tu hành công phu khổ luyện
đă bắt đầu khai mở vài quyền năng thô thiển như Thần Nhăn chẳng
hạn. V́ số người có quyền năng này ở cơi trần rất ít, người
đó đă tưởng ḿnh tiến bộ vượt bực, đă trở nên một đấng
này, đấng nọ. Ḷng kiêu căng phát triển xúi dục họ nghĩ rằng ḿnh đă
đắc quả vị lớn lao, đă được giao phó các sứ mạng cao cả.
Họ tự phong cho ḿnh những chức tước, danh vọng hoặc đôi khi tín đồ
xưng tụng cho họ là đấng này, đấng nọ th́ họ cũng chấp nhận
tuốt, họ nghĩ ḿnh đă sáng suốt, cao cả th́ c̣n lầm lạc thế nào được
nữa... Họ đâu hiểu rằng trong cơi âm có rất nhiều vong linh bất hảo hay
t́m cách hướng dẫn sai lạc những người non nớt vừa bắt đầu
khai mở quyền năng. Dĩ nhiên với trí tuệ nông cạn, họ không có một tiêu
chuẩn nào để xét đoán, hiểu biết những hiện tượng, những điều
họ nh́n thấy và trắc nghiệm xem điều đó có hợp với chân lư hay không?
Bởi thế họ dễ bị lung lạc để trở nên một tay sai đắc
lực của các vông linh, ma quỷ, các sinh vật vô h́nh. Như các ông đă thấy những
pháp sư, thầy phù thủy, các tu sĩ thiếu sáng suốt, thiếu công phu tu hành, thiếu
tŕ giới đều rơi vào cạm bẫy của vô minh cả. Họ có một vài quyền
năng thật nhưng không sử dụng nó vào mục đích giúp đời mà sử dụng
vào các việc ích kỷ hại nhân...
- Nhưng làm sao tránh được các điều
này? Làm sao một người mới bắt đầu có quyền năng biết được
những điều ḿnh nh́n thấy không phải là một ảo ảnh của vô minh, những
điều ḿnh chứng nghiệm không phải một sự truyền dạy vu vơ của
loài sinh vật vô h́nh?
Hamoud nghiêm trang tuyên bố:
- Người nào sống một
đời tinh khiết về tư tưởng và hành động, không bị ô nhiểm bởi
ích kỷ th́ sẽ được che chở. V́ các rung động thanh cao, các ảnh hưởng
xấu không thể xâm nhập, các vong linh bất hảo thấy người đó không có ǵ
để chúng lợi dụng được. Trái lại, một người c̣n nhiều
tham vọng, thiếu công phu tŕ giới th́ chính sự rung động bất thiện phát xuất
từ nội tâm người đó sẽ hấp dẫn các vong linh, ma quái đến quanh.
Trong họ c̣n đầy đủ các khí cụ như Tham, Sân, Si hay ích kỷ, mê muội th́
quá dễ dàng để các vong linh lợi dụng. Một tu sĩ bất cứ tôn giáo nào cũng
đều phải giữ giới, tuân các điều răn v́ các bậc giáo chủ sáng lập
tôn giáo đă đi qua con đường đó, đă biết các hiểm nguy và đặt ra
cấm điều để cho người theo sau biết đường mà tránh.
-
Nhưng các lối tu luyện thần thông vào mục đích nhất định như chữa
bệnh th́ sao?
- Điều này tùy tâm thức người luyện nhưng theo sự hiểu
biết của tôi bất cứ lối tập luyện nào thiếu sự đứng đắn
đều đưa vào con đường nguy hiểm. Các ông nên biết một khi có quyền
năng, dù là một quyền năng hạ cấp rất thô thiển, kẻ sử dụng
nó đều có thể làm nhiều việc mà người b́nh thường cho là “Phi thường”
v́ đa số nhân loại chưa có khả năng đó. Điều này khiến kẻ luyện
dễ trở nên kiêu căng và nếu không trong sạch, y có thể sử dụng quyền
năng vào các điều tà muội.
Giáo sư Allen lắc đầu:
- Ông nói điều
xấu, điều tốt như có một tiêu chuẩn rơ ràng vậy. Tại sao ông không nghĩ
xấu hay tốt chỉ là những điều tương đối, một điều
người Âu cho là vô lư có thể người Á lại chấp nhận như một sự
kiện hữu lư...
Hamoud gật đầu:
- Đúng thế, quan niệm xấu tốt,
thiện ác ít nhiều chịu ảnh hưởng xă hội nhưng vượt lên cao hơn
nữa chúng ta vẫn có luật vũ trụ kia mà. Theo sự hiểu biết của tôi th́
có hai con đường: Chính đạo và Tà đạo.

|
|

|

|

|

|

|
|
8.
Con người làm chuyện tà đạo là khi y dùng quyền
năng tiềm tàng của ḿnh để mưu lợi riêng cho sự phát triển cá nhân và sẵn
sàng hy sinh hạnh phúc của kẻ khác. Phát triển cá nhân ở đây có nghĩa là sự
bành trướng về giác quan, cảm xúc hay tri thức của cá nhân mà không đếm xỉa
đến sự thiệt hại cho kẻ khác. Một người lợi dụng sự
ngu dốt, yếu đuối của kẻ khác để thu lấy ít lợi lộc về
tiền bạc hay thỏa măn tham vọng cá nhân tức là đang đi trên con đường
tà đạo. Nếu y có chút quyền năng y sẽ trở nên ghê gớm như thế nào?
Chánh đạo cũng là việc sử dụng những quyền năng của ḿnh
nhưng để phụng sự nhân loại. Trong khi phụng sự, con người sẵn
sàng hy sinh mọi tiện nghi, tham vọng cá nhân ḿnh để làm việc hữu ích cho kẻ
khác. Kẻ phụng sự dứt tuyệt các thú vui về giác quan, từ bỏ mọi tôn
kính chính đáng mà y có quyền hưởng thụ, dẹp bỏ cái phàm ngă cá nhân mà chỉ
chú trọng đến mục đích là đạt đến sự toàn thiện.
Tà
đạo là sử dụng quyền năng qua các h́nh thức lễ nghi, cúng bái trợ lực
để tạo nên các đoàn thể, h́nh thức, các h́nh thức này có thể là vật chất
hay một tổ chức mà công cụ của nó không phải lo cho đời sống chúng hay
một lư tưởng cao thượng mà chỉ là một h́nh thức cho quan niệm riêng của
ḿnh phát biểu.
Chánh đạo là sử dụng các quyền năng cố hữu của
bản chất con người để vượt qua mọi hạn định của
h́nh thức, để giải thoát tâm hồn khỏi các trói buộc của cảm giác, sự
tưởng tượng hay xu hướng nhất thời, để tránh các cám dỗ, lừa
gạt của vô minh để phục vụ cái phần bất tử thiêng liêng của bản
thể, chân như.
Một người nghiên cứu huyền môn có thể đi trên đường
chính cũng như tà, họ có thể t́m cách phát triển cá nhân qua sự tự chủ gắt
gao để khai mở các quyền năng, thu thập kiến thức. Họ cũng có thể
ao ước cơi thiên đàng mở rộng trong ḷng mọi người và chính trong họ qua
các hành động bác ái, vị tha. Trong hai trường hợp, hạng đầu cầu
mong kiến thức, quyền năng khi hạng sau muốn trở nên người hữu dụng.
Càng đi xa th́ sự tiến bộ càng khác biệt. Người sử dụng kiến thức,
quyền năng để phụng sự, sẽ trở nên một bậc “Bồ Tát”
và chỉ có trái tim Bồ Tát mới là ánh sáng soi đường, chỉ lối giúp họ đi
trọn vẹn con đường đạo. Người cầu trí thức cho ḿnh chỉ
quanh quẩn trong phạm trù cá nhân một lúc, thiếu từ bi trí tuệ y rất dễ bị
sa ngă vào ma đạo lúc nào không hay. Không có trí tuệ bát nhă soi đường y dễ trở
thành nạn nhân của vô minh. Điều này cũng như một người đi biển mà
không có bản đồ, la bàn định hướng mà đi bừa băi th́ làm sao đến
nơi được. Đường đạo cũng thế, một tu sĩ phải tŕ giới
nghiêm minh để tu thân nhưng thế vẫn chưa đủ mà c̣n phải lập những
hạnh nguyện, xác định mục đích rơ ràng để hành động, có tu th́ phải
có hành, phải biết đem kiến thức của ḿnh ra để giúp ích cho những người
khác. Trí tuệ phải đi đôi với Bác ái, có “Trí” mà thiếu cái “Tâm”
chỉ là mớ kiến thức vô dụng, một cái xác không hồn. Có “Tâm” mà thiếu
“Trí” cũng không được v́ sẽ dễ sa ngă, đi lầm vào tà đạo.
Đó là điều đă xẩy ra trong quá khứ, các tu sĩ thiếu kiến thức, trí tuệ
đă bị vô minh che phủ, họ coi Thượng Đế như một đấng thần
linh để thờ phụng, tách ngài ra khỏi tín đồ và dạy bảo rằng ngài
cao siêu quá, không thể nói chuyện với những người tầm thường được
mà phải qua sự trung gian của giới tăng lữ. Họ đặt đủ các ngôn
từ hoa mỹ, thêu gấm dệt hoa vào giáo điều để tín đồ quay cuồng
trong ngôn ngữ mà xa lánh chân lư thực tế. Dần dần các chân lư cao đẹp bị bao
phủ bằng các h́nh thức mê tín dị đoan, các điều sằng bậy và đưa
nó vào chỗ suy tàn... Đó là điều đă xẩy ra cho tôn giáo Ai Cập.
Giáo sư Wentz
ngắt lời:
- Xin ông nói rơ hơn về sự suy tàn của nền văn minh Ai Cập,
lịch sử vẫn chưa hiểu tại sao nền văn minh này lại suy tàn nhanh chóng
như vậy?
Hamoud im lặng như hồi tưởng một kư ức xa xôi nào đó,
một lúc sau y gật đầu:
- Có nhiều giả thuyết về sự suy tàn của
nền văn minh Ai Cập, đa số đổ lỗi cho chiến tranh, bệnh dịch,
thiên tai nhưng ít ai biết rơ nguyên nhân sâu xa. Tôi không có ư muốn tiết lộ những điều
này v́ mục đích buổi tiếp xúc hôm nay là nói chuyện, tham khảo về cơi giới
vô h́nh. Tuy nhiên, tôi sẵn sàng tiết lộ những điều thầm kín như một nhân
duyên đặc biệt với các ông, điều này không phải tự ư tôi nhưng do một
thông điệp tư tưởng của một vị chân sư chuyển giao. Tôi muốn
tiết lộ những điều này như một cảnh cáo đối với thế giới
ngày nay để họ không đi vào vết xe những việc xẩy ra trong qua khứ...
Một lần nữa, sự hiện diện của một vị chân sư bí mật
lại được nhắc đến khiến mọi người vô cùng cảm kích. Vị
pháp sư Ai Cập ngửa mặt nh́n lên trời như ôn lại dĩ văng:
- Trong thời
buổi vàng son, nền văn minh Ai Cập đến lúc cực thịnh. Các đạo viện
với những minh sư truyền dạy khoa học huyền môn, đưa dân trí đến
một mức tiến bộ vượt xa thời buổi hiện nay. Tuy nhiên, theo thời
gian nhiều tu sĩ đă không giữ ǵn giới luật khắc khe hoặc thấu hiểu
các giáo điều cao siêu. Họ bèn t́m một lối đi ngắn hơn và dễ hơn,
chú trọng về phương pháp kỹ thuật (techniques) để đạt đến
quyền năng. Thần thông trở nên mục đích chứ không phải phương tiện
nữa. Để đạt mục đích, họ không ngần ngại hy sinh quyền lợi
tôn giáo, quốc gia... Thiếu sáng suốt nên họ đi vào ma đạo và chịu sự
sai khiến của các động lực bất hảo. Các tăng lữ này lập thành phe
nhóm, liên kết lẫn nhau để tạo một ảnh hưởng cực mạnh đến
nỗi các vua Pharaoh hách dịch cũng phải kiêng dè. Họ lạm dụng danh từ tôn giáo,
thần linh, truyền bá các tà thuật, phù phép, thần chú hắc ám để lôi cuốn tín
đồ. Dĩ nhiên với các tà thuật, họ có thể làm mọi thứ mà một người
b́nh thường vô phương chống lại. Chỉ một thời gian ngắn, dân chúng
đều trở nên nạn nhân của một thứ Tà giáo. Các vị pháp sư trở nên
sứ giả của cơi âm, một thứ quỷ sống đội lốt người, họ
c̣n kêu gọi những âm binh hung ác nhất đến giúp họ đạt các mục đích
tà muội.
Trong đền thờ, khoa phù thủy thay thế sinh hoạt tâm linh và các
tu sĩ chân chính bị loại trừ, đào thải nhanh chóng. Cũng v́ thế, khoa huyền
môn chân chính trở nên thất truyền v́ không người tu học, nghiên cứu. Các tu sĩ
chân chính phải trốn tránh, từ bỏ các giáo đường uy nghiêm. Nền văn minh
đặt căn bản trên kiến thức huyền môn cũng tàn lụi khi cánh cửa huyền
môn chân chính khép chặt. Các ông nên rơ, trong thời cổ, hầu hết các khoa học gia, y sĩ,
các nhà toán học kiến trúc đều xuất thân từ giới tu sĩ hoặc học
hỏi trong các tu viện v́ thời đó không có trường học hay một nền giáo
dục như bây giờ. Khi bùa chú, phép thuật mê hoặc nhân tâm, thúc đẩy con người
tư bỏ Thượng Đế để tôn thờ các loài ma quái th́ các thứ như Chiêm
tinh, Toán học, Kiến trúc không c̣n lư do để tồn tại.
Thời gian trôi qua,
nền văn minh Ai Cập huy hoàng đă xuống dốc cực kỳ thảm hại. Chính
các tu sĩ lầm lạc, ích kỷ đầy tham vọng đă là nguyên nhân gây nên hoàn cảnh
trên, họ lợi dụng danh nghĩa “Tôn giáo”, một thứ tôn giáo ma quái, xa ĺa Thượng
Đế để đưa Ai Cập vào con đường thoái hóa. Thay v́ lo giải thoát cho
chính ḿnh khỏi mê lầm th́ họ lại hướng dẫn quần chúng vào ma đạo.
Thay v́ tuân theo các giới luật th́ họ lại phá giới, ngụy biện bằng các danh
từ hoa mỹ, tốt đẹp. Thay v́ kiểm thảo nội tâm họ lại lập
phe nhóm bênh vực lẫn nhau để che dấu các hành vi tà muội. Khoa nghi thức hành lễ
mất hết các tính cách thiêng liêng mà chỉ c̣n h́nh thức bề ngoài, kêu gọi một năng
lực ngoại giới đến trợ giúp quyền uy giáo sĩ. Sự hiến dâng biến
thành hối lộ, tu sĩ lựa chọn các thứ ḿnh thích nhất như món ăn, thiếu
nữ xinh đẹp để Tế Thần và sau đó đem chia chác lẫn nhau cùng hưởng
thụ. Thượng Đế nhân từ bác ái bỗng biến thành một thần linh toàn lực,
toàn uy, trọn quyền thưởng phạt mà giới giáo sĩ là trung gian. Để lung lạc
nhân tâm, khoa bùa chú, thôi miên được sử dụng tối đa như một phương
tiện cần thiết để thỏa măn tham vọng cá nhân.
Để tránh các tinh túy huyền môn không lọt vào tay giới
bàn môn tà đạo, các tu sĩ chân chính đă sử dụng khoa Ám Tự (Hierograph). Đây là một
văn tự huyền bí ẩn dấu nhiều ư nghĩa tâm linh mà chỉ các tu sĩ chân chính
sau khi vượt qua các thử thách mới được tiết lộ. Sự sử dụng
ư nghĩa tượng trưng (Symbol) hoặc tỷ dụ (Parapol) được sử dụng
tối đa. Chính Moses về sau đă sử dụng ngôn ngữ này trong các cuốn sách của
Do Thái (Bộ sách Pentateuque).
Sự bành trướng của nhóm Tà đạo quá mạnh,
các tu sĩ chân chính phải rút vào rừng sâu núi thẳm và cuối cùng th́ khoa Huyền môn chân
chính cũng thất truyền. Một số giáo sĩ, khoa học gia, các nhà Toán học, kiến
trúc trốn sang Hy Lạp và truyền dạy các khoa này tại đây, mở đầu cho một
nền văn minh mới. Trong khi đó, để lôi cuốn phe đảng, vấn đề
truyền giáo được đặt ra và giới tăng lữ buộc các vua Pharaoh phải
gây chiến tranh truyền bá tôn giáo. Các cuộc “Thánh Chiến” này đă đem lại
một giai cấp mới: Nô lệ.
Giáo sư Mortimer ngạc nhiên:
- Như vậy
trước đó không có nô lệ hay sao?
Hamoud lắc đầu:
- Nền văn
minh cổ đặt căn bản trên sự bác ái, hoàn hảo của từng cá nhân làm ǵ có
vấn đề nô lệ. Hiện tượng nô lệ chỉ bắt đầu khi văn
hóa suy đồi, giới tu sĩ lộng hành và sau các cuộc chiến tranh. Lúc đầu
họ là tù binh chiến tranh về sau họ trở thành nô lệ. Sau đó các giáo sĩ đặt
ra luật những ai không cùng tôn giáo đều bị coi là nô lệ. Dân Do Thái v́ khác tôn giáo
nên trở thành nạn nhân đầu tiên. T́nh trạng nô lệ thay đổi xă hội rất
nhiều, các giáo sĩ không cần sử dụng bùa chú, thôi miên để thỏa măn dục
vọng nữa, các nô lệ đương nhiên phải làm tất cả những ǵ giới
chủ nhân muốn. Theo thời gian, pháp môn phù thủy, bùa chú cũng thất truyền v́ giới
tu sĩ không cần đến nó nữa. Khi các phép thuật biến mất th́ uy tín các giáo
sĩ cũng giảm theo và các vua Pharaoh bắt đầu hạn chế quyền lực các
giáo sĩ. Khi nền văn minh xuống dốc, các chân lư tốt đẹp biến mất,
đời sống hưởng thụ của tiện nghi vật chất khiến các vua chúa
trở nên ích kỷ, chỉ muốn kéo dài đời sống nên phong tục xây cất nhà mồ,
ướp xác trở nên thịnh hành v́ nó hứa hẹn một đời sống vĩnh
cửu. Công cuộc xây cất những ngôi mộ vĩ đại đă khánh kiệt tài sản
quốc gia, đưa xă hội Ai Cập vào một t́nh trạng suy thoái... Do đó, Ai Cập
trở nên một miếng mồi ngon cho Ba Tư và Hy Lạp... Lịch sử đă ghi chép
khá rơ ràng từ lúc này, tôi chắc các ông đă biết rơ...
Phái đoàn im lặng nh́n nhau,
sự suy yếu của Ai Cập sau khi bị Ba Tư, Hy Lạp cai trị không phải là
một điều xa lạ ǵ, nhưng tại sao một nền văn minh như Ai Cập
đă xây cất những Kim Tự Tháp hùng vĩ, đă sản xuất biết bao nhân tài, ảnh
hưởng rộng đến toàn cơi Trung Đông lại suy sụp mau chóng vẫn c̣n là một
câu hỏi lịch sử. Lời giải thích của Hamoud là một ch́a khóa vô giá về lịch
sử xứ này.
Nhà pháp sư Ai Cập mỉm cười nh́n tất cả mọi người:
- Lịch sử nhân loại luôn luôn biến đổi theo chu kỳ, nhiều việc
xẩy ra trong quá khứ sẽ tiếp diễn lại. Có sống trong thời buổi đen
tối, hỗn loạn, đầy đau khổ hoang mang nhân loại mới ao ước
cơi tâm linh cao thượng. Nhu cầu này sẽ được đáp ứng và một đấng
thánh nhân sẽ chuyển kiếp xuống trần, mở rộng cánh cửa tâm linh, hướng
dẫn nhân loại thoát khỏi dưới một h́nh thức, phương tiện thích hợp
với hoàn cảnh thời gian và không gian khi đó.
Điều này đă xẩy ra nhiều
lần tại các nơi khác nhau trên thế giới từ Trung Hoa qua Ấn Độ và đến
Trung Đông. Các bậc thánh nhân đều rao truyền những chân lư cao siêu, đẹp đẽ
nhưng v́ nhân loại cứ u mê, thiếu hiểu biết nên chỉ ít lâu sau tất cả
lại quay cuồng vào vết xe cũ. Các chân lư cao đẹp bị xuyên tạc, sửa dổi,
giảng giải sai lạc bởi các giáo sĩ mê tín, thành kiến đầy cuồng tín.
Dù
sao chăng nữa bánh xe tiến hóa vẫn quay đều và trong mọi hoàn cảnh, thời
đại nào cũng có các cá nhân cố gắng vượt mức để tự giải
thoát ra khỏi ảo ảnh của màn vô minh để nhận định chân lư...
Hamoud
im lặng một lúc rồi thong thả:
- Tôi muốn các ông ghi nhận một điều
này, các ông có thể coi đó như một lời tiên đoán hay cảnh cáo trước cũng
được:
Thời gian sắp đến sẽ là một giai đoạn cực
kỳ tiến bộ về tri thức nhưng thoái bộ về tâm linh. Moi sự hiểu
biết chỉ nhằm vào hiện tượng (Phenomenon) thay v́ nguyên nhân, bản chất do
đó, nền khoa học tương lai không thể chuyển biến được ḷng người
hoặc giúp cho họ một cái nh́n sáng suốt, một tâm hồn b́nh an.
Nền “khoa
học hiện tượng” chỉ kích thích giác quan, cảm xúc hướng ngoại sẽ
khiến con người cực kỳ bất măn, lo âu và trở nên hoang mang phiêu bạt. Thêm
vào đó nữa, sự khai quật các ngôi cổ mộ Ai Cập sẽ tháo cữi sổ lồng
cho vô số âm binh, các động lực cực kỳ hung dữ. Như tôi vừa kể cho
các ông, thời kỳ chót của nền văn minh Ai Cập các giáo sĩ đă thực hành
tà thuật tối đa mà khoa ướp xác là một bí thuật mang sự liên lạc của
cơi vô h́nh vào cơi trần. Tất cả ngôi cổ mộ đều là nơi giam giữ các động
lực vô h́nh để canh giữ, duy tŕ ảnh hưởng tà môn.
Khi được
tháo cũi, chúng sẽ mang nền Tà giáo cổ Ai Cập trở lại thế kỷ này, dĩ
nhiên dưới một h́nh thức nào nó hợp thời hơn. Một số pháp sư vốn
là sứ giả cơi âm sẽ đầu thai trở lại hoặc nhập xác để tác
oai, tác quái tái tạo một xă hội tối tăm, sa đọa đi ngược trào lưu
tiến hóa của Thượng Đế. Thế giới sẽ trở thành nạn nhân của
thứ Tôn giáo ma quái này... Chiến tranh, đau khổ, bất an cùng các kích thích cảm giác mới
lạ do nền “khoa học hiện tượng” mang lại sẽ thúc đẩy
con người vào các cùng cực của cuộc sống.
Trong thời buổi này, khối
óc lư trí không giúp được ǵ mà chỉ có sự hiểu biết và ư thức bản chất
thầm lặng của nội tâm mới đáp ứng được. Đó là lối thoát duy
nhất mà thôi.
Giáo sư Allen ngắt lời:
- Nhưng đă có bằng chứng
ǵ về sự hiện diện của các động lực vô h́nh này, làm sao có thể cảnh
cáo mọi người về sự trở lại của các pháp sư thời cổ?
Người
Âu Mỹ sẽ chả bao giờ chấp nhận một điều hoang đường,
vô lư nếu không có bằng chứng rơ rệt.
Hamoud mỉm cười bí mật:
-
Cơi âm là đối tượng nghiên cứu của tôi nên tôi có thể tŕnh bày một vài dữ
kiện để các ông suy nghiệm như một bằng chứng. Chuyện xẩy ra đă
bắt đầu xẩy ra, theo thời gian các ông sẽ thấy. Dù các pháp sư tà đạo
thời cổ này có khéo léo dẫn dụ con người bằng những danh từ hoa mỹ,
những chủ thuyết đẹp đẽ thế đâu đi nữa th́ họ vẫn
chỉ có thể sống như một con người. Dù thế nào họ cũng không thể
bỏ qua các thói quen cũ của quá khứ, họ sẽ đội lốt tôn giáo, họ
sẽ kêu gọi sự hợp tác của Thần quyền, họ sẽ đặt ra các giáo
điều mới thay thế các chân lư cao đẹp để lôi kéo con người từ
bỏ Thượng Đế. Họ sẽ sử dụng danh từ, ngôn ngữ để đánh
lạc hướng mọi người, tuy nhiên trước sau ǵ họ cũng phải chết
và trước khi chết họ sẽ di chúc yêu cầu ướp xác họ và xây dựng những
nhà mồ vĩ đại bằng đá như họ đă từng làm trong quá khứ...
Giáo
sư Allen bật cười:
- Như vậy th́ nhận diện họ quá dễ, nhưng
tôi không tin thời buổi này c̣n ai ướp xác, xây cất nhà mồ như vậy, ông nên
nhớ chúng ta đă bắt đầu vào thế kỷ hai mươi, không phải tám ngàn năm
trước...
Hamoud mỉm cười:
|
-Nghe
th́ dễ thật nhưng nó đ̣i hỏi một sự quyết tâm. Thứ nhất việc
làm của ta phải bất vụ lợi, vị tha, vô tư v́ cơi âm là cơi tư tưởng.
Nếu ta có ư định mưu đồ một việc ǵ, những người khác biết
ngay và hậu quả lại chưa biết thế nào mà lượng được. Thứ
hai, đa số các vong linh đều u mê, ngoan cố rất khó thuyết phục v́ các nghiệp
quả trói buộc hoặc lưu luyến cơi trần v́ con cháu khóc than, thương tiếc
quá họ đâm ra xúc động khó siêu thoát. Do đó, công việc này đ̣i hỏi sự tế
nhị, khéo léo và một tâm hồn an tĩnh, không bối rối, xúc động. Nhưng khi
ta đă phát tâm th́ tư tưởng này sẽ là một khí cụ rất tốt giúp đỡ
ta rất nhiều. Theo ư kiến của tôi th́ việc có một kiến thức rộng răi
về cơi âm là căn bản đầu tiên...
Giáo sư Allen lắc đầu:
-
Nếu nói rằng khi ngủ ta qua cơi âm, tại sao tôi không ư thức một tí ǵ cả? Phải
có một bằng chứng nào rơ rệt mới tin như vậy được.
- Các
ông nên hiểu về sự cấu tạo của con người: Trong lúc thức tỉnh,
thể Vía là cây cầu cho tâm thức. Mọi sự va chạm, rung động, cảm xúc bên
ngoài do hệ thần kinh giao cảm được thể Vía chuyển vào tâm thức sau đó
mới ghi nhận ở khối óc. Bằng chứng là ta suy nghĩ trước khi ta hành động
có phải không? Nguyên nhân giấc ngủ là sự mệt mỏi của thể xác, nó cần
phục hồi sức khỏe nên nằm yên nhưng thể Vía lại khác, nó vẫn hoạt
động v́ bằng chứng là đôi khi ngủ say nhưng ta vẫn ư thức mọi việc
xẩy ra chung quanh có đúng như thế không? Thể Vía luôn rung động để đáp
ứng với hoàn cảnh chung quanh, v́ tính chất này nó rất mẫn cảm với các rung
động của bản năng, ham muốn, dục vọng. Các tính xấu như giận
hờn, oán ghét chẳng qua là sự cô đọng của tư tưởng mà thôi. Sự cô
đọng này tạo thành một lớp vỏ bao trùm lên thể Vía và ảnh hưởng
của nó. Do đó, tính t́nh con người chỉ là một thói quen của tư tưởng.
Như tôi đă tŕnh bày, tư tưởng thanh cao cũng như hèn hạ đều bị
thu hút vào thể vía và trực tiếp ảnh hưởng đến t́nh cảm con người.
Bằng chứng là một người có tâm hồn thanh khiết không thể hợp với
những nơi ồn ào náo nhiệt, ngược lại kẻ có tâm hồn náo động
không thể chịu nơi vắng vẻ, êm đềm. Có người tự hỏi tại
sao họ không thể ngồi yên một chỗ, không thể tu tập các pháp môn thiền quán?
Ấy v́ thể Vía họ lao chao, muốn động. Họ cần biết cách chủ trị
t́nh cảm, thanh lọc thể vía. Các món đồ ăn nặng trọc như thịt cá,
rượu các chất kích thích cũng đem vào thể Vía các đối phần nặng trọc.
Người tu phải triệt để từ bỏ các món ăn này v́ nó rất có hại
cho việc tham thiền, quán tưởng. Thể xác và thể vía liên lạc với nhau qua bẩy
trung tâm giao điểm sinh lực gọi là Luân Xa, tại đây có một tấm màn cấu
tạo bẳng nguyên tử cơi trần để ngăn chặn ảnh hưởng cơi âm.
V́ thế, kư ức và sinh hoạt lúc ngủ không chuyển sang khối óc vật chất tuy
nhiên, đôi khi ngủ dậy ta vẫn mường tượng có một cái ǵ mà không sao nhớ
được. Đối với một người b́nh thường th́ luân xa không thức động
nên tấm màn này khép chặt nhưng rượu, thịt, các chất kích thích có thể phá hoại
tấm màn này khiến nó bị rách và ảnh hưởng cơi âm có thể chuyển qua cơi trần
khiến y bị điên khùng hay rối loạn hệ thần kinh. Có khi cá nhân mất tự
chủ, bị các loài ma quỷ nhập vào sai khiến.
Giáo sư Allen lên tiếng:
-
Những điều ông tŕnh bày rất lạ lùng, nhưng cũng có lư. Tuy nhiên, theo sự hiểu
biết của chúng tôi th́ khoa học không thể chứng minh điều này. Liệu có cách
nào khiến chúng tôi cũng khai mở các quang năng để nghiên cứu cơi giới vô h́nh
như ông không? |
|
|
|
|
|
|
|
Hamoud gật đầu:
- Sự khai mở quyền năng thuộc phạm vi tâm
thức, trước khi mở tâm phải tinh luyện các thể đă. Nếu chưa thanh
lọc được các thể th́ đừng nói đến khai mở bất cứ một
giác quan nào.
- Vậy ta phải luyện các thể bằng cách nào?
- Tinh luyện
thể Trí bằng sự suy tư chân chính. Trí tưởng tượng con người là một
công cụ sáng tạo hữu hiệu, khi ta suy tư, tưởng tượng ta vô t́nh xây dựng
thể Trí. Nếu ta chỉ suy tư những điều tốt lành, cao thượng th́ ta
đă luyện trí rồi. Sau thể Trí là thể Vía, thể này chỉ luyện bằng các
ham muốn chân chính. Hăy ham mê các điều cao thượng th́ tự khắc thể Vía sẽ
phát triển.
- Ông nói nghe thật dễ dàng. Tư tưởng cao thượng và ham muốn
chân chính là những điều trừu tượng, làm sao có thể làm được...
-
Đa số mọi người quan niệm như thế nên chả khi nào tiến bộ được.
Con người muốn quyền năng, giải thoát nhưng chỉ chờ đợi một
phép lạ, một tha lực ngoại giới chứ không tự tin rằng ḿnh có khả năng
làm những việc đó.
- Dù tôi muốn thanh lọc các thể th́ cũng phải có
một phương pháp, một sự hướng dẫn, một kỹ thuật nào đó
chứ nói một cách trừu tượng th́ ai nói chả được.
- Theo sự
hiểu biết của tôi th́ Tôn giáo nào cũng dạy những điều cao đẹp và
áp dụng những lời dạy này chả phải một phương pháp, kỹ thuật
thanh lọc các thể hay sao?
- Như vậy ông theo phương pháp nào? Hăy nói về kinh
nghiệm của ông đă...
Hamoud trầm ngâm rồi gật đầu:
- Được
lắm, tôi được truyền thụ phương pháp này tại một tu viện ở
Tây Tạng nên chịu ảnh hưởng Phật Giáo rất nhiều: Thứ nhứt là luyện
thể xác, phải biết cách kiểm soát, kiềm chế thể xác hoàn toàn, quy định
mọi hoạt động như ăn, uống, ngủ cho thật đúng. Thức ăn
được phân làm ba loại: Tĩnh, Động và Điều Ḥa, người tập phải
tránh đồ ăn “Tĩnh” v́ nó làm thể xác hôn mê, lười biếng, bất
động. Các thức ăn có đặc tính “Tĩnh” là các món đang lên men, các thứ
đồ khô, các loại rượu. Các món ăn có đặc tính “Động” như
thịt, cá thường đem lại các kích thích hăng hái nhất thời, xác chết thú
vật gồm nhiều nguyên tử nặng nề bởi các thú tính thấp hèn không thích hợp
cho việc tu hành, thanh lọc. Chỉ có các món ăn “Điều Ḥa” như các thứ
có khả năng tăng trưởng, chứa nhiều sự sống như ngũ cốc
v́ nó sắp đâm mầm, nẩy lộc, các loại trái cây vốn tràn đầy nhựa
sống, các loại rau cỏ vốn hấp thụ khí thái dương cần thiết cho một
thể xác cường tráng, nhạy cảm.
Sau việc ăn uống c̣n phải thở
hít, hô hấp cho đúng cách. Khoa học chứng minh con người sống được
là nhờ hơi thở nhưng thật ra đó là nhờ Sinh khí (Prana).
Chính các sinh khí
này thấm nhuần khắp cơ thể, mang sự sống đến khắp tế bào.
Prana xuất phát từ ánh sáng mặt trời, nó rung động và pha trộn trong không khí. Bằng
cách hô hấp thật sâu, thong thả, Prana sẽ thấm vào thần kinh hệ và lưu thông
khắp châu thân mang sự sống khắp xác thể. Chính các Prana tích tụ trong hệ thần
kinh tạo ra luồng “Nhân điện” một yếu tố quan trọng của sự
sống.
Tóm lại, dinh dưỡng đúng cách bằng các món ăn có đặc tính
điều ḥa, tập thở hít đúng cách là phương pháp tinh luyện thể xác vô cùng
quan trọng. Như các ông thấy, phương pháp này không có ǵ trái với khoa học hiện
tại, cách thực hành có thể khác nhau tùy cá nhân, người gọi nó là thể dục,
người gọi nó là thiền định điều này không quan trọng v́ căn bản
chính chỉ nhằm đem lại một thể xác lành mạnh, cường tráng. Người
luyện thể xác cần sống nơi thoáng khí, nhiều ánh sáng mặt trời để
đón nhận các sinh lực prana nhằm bổ túc luồng nhân điện. Các món ăn như
thịt cá mang lại các rung động thô bạo khiến luồng nhân điện này chạy
loạn lên khó kiểm soát gây nên các bệnh tật hoặc phá hoại hệ thần kinh. Các
món ăn Tĩnh như rượu làm tê liệt bộ thần kinh khiến luồng nhân điện
bị ngắt quăng không đều ngăn trở các sinh khí prana lưu thông mang sinh lực nuôi
thể xác gây nên nhiều hậu quả không tốt.
Sau khi thanh lọc thể xác ta bắt
đầu luyện đến thể Vía: Thể Vía là trung tâm của t́nh cảm, một khi
t́nh cảm trong sạch, vị tha, bác ái đương nhiên các chất thanh nhẹ sẽ được
hấp thụ vào và các chất nặng trọc, xấu xa sẽ bị đào thải ra ngoài
theo một nguyên lư giống như sự thẩm máu (Osmosis). Khi thể Vía thanh cao nó sẽ rung
động với các tư tưởng cao thượng mang tâm thức lên một b́nh điện
cao hơn. Khi sự rung động (Vibration) đến một chu kỳ nào đó (In - phase)
các giác quan thể vía bắt đầu khai mở và tự nhiên con người sẽ bắt
đầu có quyền năng đặc biệt. Nói một cách khoa học hơn, các giác quan
thể Vía chỉ hoạt động ở một chu kỳ và chỉ khi thể Vía rung động
đúng chu kỳ này nó mới được đánh thức để hoạt động.
Thể vía chỉ có thể rung động ở chu kỳ này khi nó được cấu tạo
bằng những nguyên tử thật thanh, nhẹ khi những nguyên tử nặng trọc bị
khu trục hết, điều này chỉ xẩy ra khi con người chỉ có các t́nh cảm
cao thượng ḷng bác ái tốt lành bao trùm mọi vật. Đó là bí quyết cách luyện thể
Vía.
Khi bẩy giác quan của thể vía hoạt động, nó sẽ khai mở một
số bí huyệt để luồng hỏa hầu Kundalini thức giấc, khi luồng hỏa
hầu này chạy dọc theo xương sống lên đỉnh đầu, nó sẽ thúc đẩy,
khai mở thể trí khiến nó khai triển để hợp nhất với chơn thần.
Khi thể trí khai triển, mở lớn ra nó sẽ khởi sự tiêu diệt cái phàm ngă ích
kỷ của con người để hướng lên các điều thánh thiện. Đây là một
giai đoạn vô cùng khó khăn, rất ít ai vượt qua nổi: Danh từ Phật giáo gọi
là Phật tánh biểu lộ, danh từ Thiên Chúa Giáo gọi là sự quên ḿnh để ḥa nhập
với đấng Cứu Thế, danh từ Ấn Giáo gọi là sự hợp nhất với
Chân Ngă. Nói một cách giản dị th́ đây là lúc trí tuệ quy kết các tư tưởng
và hoạt động về t́nh huynh đệ, bác ái nhu thuận, từ bi, trí tuệ, vị
tha, hỷ xả để kết tinh thành chân ngă. Khi phàm ngă hoàn toàn bị hủy diệt,
các thể cũng hoàn toàn được thanh lọc th́ không c̣n sự phân biệt giữa ta
và tha nhân, giữa chủ thể và đối tượng mà tất cả đều là một.
Thể trí không c̣n tính cách cá nhân mà đă thành “Đại Trí” hay trí tuệ “Bát nhă”.
Tâm thức cũng không c̣n là tâm cá nhân mà thành tâm thức “Bồ Đề” ḥa hợp hoàn
toàn với tâm thức vũ trụ. Cả tâm lẫn trí mở rộng đón nhận ánh sáng
chân lư mà không c̣n phải học hỏi, lư luận ǵ nữa. Đây chính là giai đoạn giác ngộ
của người tu. Họ trở nên một đấng siêu nhân, một vị Tổ, một
vị Thánh...
Giáo sư Evans - Wentz thắc mắc:
- Căn cứ vào đâu ta biết
được như vậy? Phải có bằng chứng ǵ chứ?
Hamoud lắc đầu:
- Các kinh nghiệm quư báu, thiêng liêng đó chỉ có các bậc giác ngộ rồi mới
hiểu được. Không một vị thánh nào vỗ ngực tự xưng đă đạt
quả vị này hay quyền năng nọ. Khi đă giác ngộ th́ chức tước, danh
vọng, địa vị đâu có nghĩa lư ǵ nữa v́ họ đâu c̣n bản ngă thấp
hèn như chúng ta để phân biệt. Chỉ có các “bậc lừa bịp”, các tu
sĩ giả mạo mới thích danh vọng, chức tước v́ bản ngă họ c̣n to lớn
và cần các danh xưng, địa vị để lừa bịp tín đồ nhẹ dạ.
- Trên nguyên tắc th́ như vậy nhưng c̣n phương pháp, kỹ thuật th́ ra sao?
- Phương pháp, kỹ thuật th́ rất nhiều, con đường đến
chân lư cũng thế tùy theo nhân duyên, căn cơ cá nhân không thể áp dụng một kỹ
thuật nào cứng nhắc được. Phương pháp, kỹ thuật có thể khác
nhau nhưng nguyên tắc chỉ có một. Sự thật là chân lư luôn luôn được truyền
dạy dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác tùy theo điều kiện, hoàn cảnh
và phương tiện. Phương pháp tuy khác nhưng chân lư vẫn là một giống như
nước suối hay nước sông th́ vẫn là nước mà thôi (Tùy duyên bất biến).
Chân lư có thể được truyền dạy bởi những thầy phù thủy trong
các bộ lạc man dă hoặc các bậc giáo chủ trong kinh điển tôn giáo. Kinh điển
hay tôn giáo có thể khác nhau về h́nh thức nhưng vẫn có những điểm tương
đồng mà ta phải chấp nhận.
- Chấp nhận phải chăng là một
h́nh thức của tin tưởng?
- Con đường đạo đ̣i hỏi một
đức tin nhưng không phải nhắm mắt tin tưởng bừa băi. Đức tin chỉ
đến sau khi người t́m đạo tự ḿnh nhận thức rơ ràng, sau khi hiểu
biết chứng nghiệm nó một cách rốt ráo. Các ông là những khoa học gia, không đời
nào các ông tin tưởng một sự kiện ǵ nếu không kiểm chứng rơ ràng, sự
nghi ngờ là một điều cần thiết nhưng nếu có những sự kiện
mà khoa học không thể chứng minh hay chưa thể chứng minh được các ông sẽ
phải làm ǵ? Phủ nhận chăng? Nếu phủ nhận các ông đă bỏ qua một
cơ hội t́m hiểu nghiên cứu. Nếu chấp nhận mà không kiểm chứng th́ các
ông đă mù quáng tin tưởng bừa băi. Tôi không mong các ông phải tin tưởng những
điều tôi tŕnh bày, nhưng mong các ông hăy suy gẫm, nghiên cứu nó, nếu chưa thể
sử dụng các dụng cụ khoa học thực nghiệm để chứng minh th́ hăy
sử dụng lư trí, trực giác v́ sự nghiên cứu cơi âm là một khoa học chứ không
phải một sự tin tưởng bừa băi. Kiến thức về cơi giới này sẽ
giúp đỡ nhiều người, tôi tin rẳng trong một ngày không xa sẽ có nhiều
cuộc nghiên cứu về đối tượng này.
- Tại sao ông không công bố
những điều t́m được cho mọi người? Tại sao ông lại ẩn
thân một nơi hoang vu như thế này? Nếu ông muốn kiến thức về cơi giới
này được nghiên cứu rộng răi th́ ông phải là người khởi xướng
nó lên để mọi người được biết và biết đâu chẳng có những
cuộc nghiên cứu theo sau?
Hamoud mỉm cười:
- Khi tŕnh độ con người
chưa đến lúc, có những điều chưa thể công bố được. Các bậc
giáo chủ ngày trước chẳng giảng dạy chân lư ra làm hai phần Công truyền và
Bí truyền hay sao? Tại sao các ngài lại dạy riêng cho một thiểu số môn đồ
môn giáo lư bí truyền? Phải chăng các ngài biết chỉ một thiểu số người
có thể lĩnh hội những điều ngài giảng dạy. Khoa học nghiên cứu về
cơi âm cũng có những sự nguy hiểm riêng của nó, không thể truyền dạy bừa
băi cho tất cả mọi người.
- Xin ông giải thích rơ hơn về việc
này, tại sao lại nguy hiểm?
- Tôi vừa tŕnh bày cho các ông một phương pháp
tinh luyện các thể như tôi đă được truyền dạy. Dĩ nhiên, c̣n có nhiều
phương pháp khác cũng mang lại các kết quả tương tự nhưng cứu
cánh lại khác hẳn. Có hàng trăm phương pháp phát triển năng khiếu thần thông
nhưng người tu phải hiểu rằng quyền năng chỉ là những phương
tiện thấp thỏi, giúp ta mở rộng kiến thức. Quyền năng không bao giờ
là một cứu cánh, một mục đích. Sự tham luyến, vọng tưởng sẽ
đưa người có quyền năng vào ma đạo. Người tu hành cần ư thức
rơ rệt rằng chỉ khi nào phàm ngă hoàn toàn bị tiêu diệt th́ con người mới thoát
khỏi ảo ảnh của màn vô minh và thực sự chứng nghiệm chân lư. Quyền năng
càng cao ta càng phải lập hạnh, nghiêm khắc giữ ǵn đề cao cảnh giác các ảo
ảnh của vô minh...
- Ông nói đến vô minh như một cái ǵ trừu tượng,
liệu ông có thể lấy một thí dụ dễ hiểu hơn không v́ danh từ này c̣n xa
lạ với chúng tôi?
- Hăy lấy thí dụ một người tu hành công phu khổ luyện
đă bắt đầu khai mở vài quyền năng thô thiển như Thần Nhăn chẳng
hạn. V́ số người có quyền năng này ở cơi trần rất ít, người
đó đă tưởng ḿnh tiến bộ vượt bực, đă trở nên một đấng
này, đấng nọ. Ḷng kiêu căng phát triển xúi dục họ nghĩ rằng ḿnh đă
đắc quả vị lớn lao, đă được giao phó các sứ mạng cao cả.
Họ tự phong cho ḿnh những chức tước, danh vọng hoặc đôi khi tín đồ
xưng tụng cho họ là đấng này, đấng nọ th́ họ cũng chấp nhận
tuốt, họ nghĩ ḿnh đă sáng suốt, cao cả th́ c̣n lầm lạc thế nào được
nữa... Họ đâu hiểu rằng trong cơi âm có rất nhiều vong linh bất hảo hay
t́m cách hướng dẫn sai lạc những người non nớt vừa bắt đầu
khai mở quyền năng. Dĩ nhiên với trí tuệ nông cạn, họ không có một tiêu
chuẩn nào để xét đoán, hiểu biết những hiện tượng, những điều
họ nh́n thấy và trắc nghiệm xem điều đó có hợp với chân lư hay không?
Bởi thế họ dễ bị lung lạc để trở nên một tay sai đắc
lực của các vông linh, ma quỷ, các sinh vật vô h́nh. Như các ông đă thấy những
pháp sư, thầy phù thủy, các tu sĩ thiếu sáng suốt, thiếu công phu tu hành, thiếu
tŕ giới đều rơi vào cạm bẫy của vô minh cả. Họ có một vài quyền
năng thật nhưng không sử dụng nó vào mục đích giúp đời mà sử dụng
vào các việc ích kỷ hại nhân...
- Nhưng làm sao tránh được các điều
này? Làm sao một người mới bắt đầu có quyền năng biết được
những điều ḿnh nh́n thấy không phải là một ảo ảnh của vô minh, những
điều ḿnh chứng nghiệm không phải một sự truyền dạy vu vơ của
loài sinh vật vô h́nh?
Hamoud nghiêm trang tuyên bố:
- Người nào sống một
đời tinh khiết về tư tưởng và hành động, không bị ô nhiểm bởi
ích kỷ th́ sẽ được che chở. V́ các rung động thanh cao, các ảnh hưởng
xấu không thể xâm nhập, các vong linh bất hảo thấy người đó không có ǵ
để chúng lợi dụng được. Trái lại, một người c̣n nhiều
tham vọng, thiếu công phu tŕ giới th́ chính sự rung động bất thiện phát xuất
từ nội tâm người đó sẽ hấp dẫn các vong linh, ma quái đến quanh.
Trong họ c̣n đầy đủ các khí cụ như Tham, Sân, Si hay ích kỷ, mê muội th́
quá dễ dàng để các vong linh lợi dụng. Một tu sĩ bất cứ tôn giáo nào cũng
đều phải giữ giới, tuân các điều răn v́ các bậc giáo chủ sáng lập
tôn giáo đă đi qua con đường đó, đă biết các hiểm nguy và đặt ra
cấm điều để cho người theo sau biết đường mà tránh.
-
Nhưng các lối tu luyện thần thông vào mục đích nhất định như chữa
bệnh th́ sao?
- Điều này tùy tâm thức người luyện nhưng theo sự hiểu
biết của tôi bất cứ lối tập luyện nào thiếu sự đứng đắn
đều đưa vào con đường nguy hiểm. Các ông nên biết một khi có quyền
năng, dù là một quyền năng hạ cấp rất thô thiển, kẻ sử dụng
nó đều có thể làm nhiều việc mà người b́nh thường cho là “Phi thường”
v́ đa số nhân loại chưa có khả năng đó. Điều này khiến kẻ luyện
dễ trở nên kiêu căng và nếu không trong sạch, y có thể sử dụng quyền
năng vào các điều tà muội.
Giáo sư Allen lắc đầu:
- Ông nói điều
xấu, điều tốt như có một tiêu chuẩn rơ ràng vậy. Tại sao ông không nghĩ
xấu hay tốt chỉ là những điều tương đối, một điều
người Âu cho là vô lư có thể người Á lại chấp nhận như một sự
kiện hữu lư...
Hamoud gật đầu:
- Đúng thế, quan niệm xấu tốt,
thiện ác ít nhiều chịu ảnh hưởng xă hội nhưng vượt lên cao hơn
nữa chúng ta vẫn có luật vũ trụ kia mà. Theo sự hiểu biết của tôi th́
có hai con đường: Chính đạo và Tà đạo.
Con người làm chuyện
tà đạo là khi y dùng quyền năng tiềm tàng của ḿnh để mưu lợi riêng
cho sự phát triển cá nhân và sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của kẻ khác. Phát triển
cá nhân ở đây có nghĩa là sự bành trướng về giác quan, cảm xúc hay tri thức
của cá nhân mà không đếm xỉa đến sự thiệt hại cho kẻ khác. Một
người lợi dụng sự ngu dốt, yếu đuối của kẻ khác để
thu lấy ít lợi lộc về tiền bạc hay thỏa măn tham vọng cá nhân tức là
đang đi trên con đường tà đạo. Nếu y có chút quyền năng y sẽ trở
nên ghê gớm như thế nào?
Chánh đạo cũng là việc sử dụng những
quyền năng của ḿnh nhưng để phụng sự nhân loại. Trong khi phụng
sự, con người sẵn sàng hy sinh mọi tiện nghi, tham vọng cá nhân ḿnh để
làm việc hữu ích cho kẻ khác. Kẻ phụng sự dứt tuyệt các thú vui về giác
quan, từ bỏ mọi tôn kính chính đáng mà y có quyền hưởng thụ, dẹp bỏ
cái phàm ngă cá nhân mà chỉ chú trọng đến mục đích là đạt đến sự
toàn thiện.
Tà đạo là sử dụng quyền năng qua các h́nh thức lễ
nghi, cúng bái trợ lực để tạo nên các đoàn thể, h́nh thức, các h́nh thức
này có thể là vật chất hay một tổ chức mà công cụ của nó không phải
lo cho đời sống chúng hay một lư tưởng cao thượng mà chỉ là một h́nh
thức cho quan niệm riêng của ḿnh phát biểu.
Chánh đạo là sử dụng các
quyền năng cố hữu của bản chất con người để vượt
qua mọi hạn định của h́nh thức, để giải thoát tâm hồn khỏi
các trói buộc của cảm giác, sự tưởng tượng hay xu hướng nhất
thời, để tránh các cám dỗ, lừa gạt của vô minh để phục vụ
cái phần bất tử thiêng liêng của bản thể, chân như.
Một người
nghiên cứu huyền môn có thể đi trên đường chính cũng như tà, họ có
thể t́m cách phát triển cá nhân qua sự tự chủ gắt gao để khai mở các
quyền năng, thu thập kiến thức. Họ cũng có thể ao ước cơi thiên đàng
mở rộng trong ḷng mọi người và chính trong họ qua các hành động bác ái, vị
tha. Trong hai trường hợp, hạng đầu cầu mong kiến thức, quyền năng
khi hạng sau muốn trở nên người hữu dụng. Càng đi xa th́ sự tiến
bộ càng khác biệt. Người sử dụng kiến thức, quyền năng để
phụng sự, sẽ trở nên một bậc “Bồ Tát” và chỉ có trái tim Bồ
Tát mới là ánh sáng soi đường, chỉ lối giúp họ đi trọn vẹn con đường
đạo. Người cầu trí thức cho ḿnh chỉ quanh quẩn trong phạm trù cá nhân
một lúc, thiếu từ bi trí tuệ y rất dễ bị sa ngă vào ma đạo lúc nào không
hay. Không có trí tuệ bát nhă soi đường y dễ trở thành nạn nhân của vô minh.
Điều này cũng như một người đi biển mà không có bản đồ, la bàn
định hướng mà đi bừa băi th́ làm sao đến nơi được. Đường
đạo cũng thế, một tu sĩ phải tŕ giới nghiêm minh để tu thân nhưng
thế vẫn chưa đủ mà c̣n phải lập những hạnh nguyện, xác định
mục đích rơ ràng để hành động, có tu th́ phải có hành, phải biết đem
kiến thức của ḿnh ra để giúp ích cho những người khác. Trí tuệ phải
đi đôi với Bác ái, có “Trí” mà thiếu cái “Tâm” chỉ là mớ kiến
thức vô dụng, một cái xác không hồn. Có “Tâm” mà thiếu “Trí” cũng
không được v́ sẽ dễ sa ngă, đi lầm vào tà đạo. Đó là điều đă
xẩy ra trong quá khứ, các tu sĩ thiếu kiến thức, trí tuệ đă bị vô minh
che phủ, họ coi Thượng Đế như một đấng thần linh để thờ
phụng, tách ngài ra khỏi tín đồ và dạy bảo rằng ngài cao siêu quá, không thể
nói chuyện với những người tầm thường được mà phải qua
sự trung gian của giới tăng lữ. Họ đặt đủ các ngôn từ hoa mỹ,
thêu gấm dệt hoa vào giáo điều để tín đồ quay cuồng trong ngôn ngữ
mà xa lánh chân lư thực tế. Dần dần các chân lư cao đẹp bị bao phủ bằng
các h́nh thức mê tín dị đoan, các điều sằng bậy và đưa nó vào chỗ
suy tàn... Đó là điều đă xẩy ra cho tôn giáo Ai Cập.
Giáo sư Wentz ngắt lời:
- Xin ông nói rơ hơn về sự suy tàn của nền văn minh Ai Cập, lịch sử
vẫn chưa hiểu tại sao nền văn minh này lại suy tàn nhanh chóng như vậy?
Hamoud im lặng như hồi tưởng một kư ức xa xôi nào đó, một lúc sau
y gật đầu:
- Có nhiều giả thuyết về sự suy tàn của nền
văn minh Ai Cập, đa số đổ lỗi cho chiến tranh, bệnh dịch, thiên tai
nhưng ít ai biết rơ nguyên nhân sâu xa. Tôi không có ư muốn tiết lộ những điều
này v́ mục đích buổi tiếp xúc hôm nay là nói chuyện, tham khảo về cơi giới
vô h́nh. Tuy nhiên, tôi sẵn sàng tiết lộ những điều thầm kín như một nhân
duyên đặc biệt với các ông, điều này không phải tự ư tôi nhưng do một
thông điệp tư tưởng của một vị chân sư chuyển giao. Tôi muốn
tiết lộ những điều này như một cảnh cáo đối với thế giới
ngày nay để họ không đi vào vết xe những việc xẩy ra trong qua khứ...
Một lần nữa, sự hiện diện của một vị chân sư bí mật
lại được nhắc đến khiến mọi người vô cùng cảm kích. Vị
pháp sư Ai Cập ngửa mặt nh́n lên trời như ôn lại dĩ văng:
- Trong thời
buổi vàng son, nền văn minh Ai Cập đến lúc cực thịnh. Các đạo viện
với những minh sư truyền dạy khoa học huyền môn, đưa dân trí đến
một mức tiến bộ vượt xa thời buổi hiện nay. Tuy nhiên, theo thời
gian nhiều tu sĩ đă không giữ ǵn giới luật khắc khe hoặc thấu hiểu
các giáo điều cao siêu. Họ bèn t́m một lối đi ngắn hơn và dễ hơn,
chú trọng về phương pháp kỹ thuật (techniques) để đạt đến
quyền năng. Thần thông trở nên mục đích chứ không phải phương tiện
nữa. Để đạt mục đích, họ không ngần ngại hy sinh quyền lợi
tôn giáo, quốc gia... Thiếu sáng suốt nên họ đi vào ma đạo và chịu sự
sai khiến của các động lực bất hảo. Các tăng lữ này lập thành phe
nhóm, liên kết lẫn nhau để tạo một ảnh hưởng cực mạnh đến
nỗi các vua Pharaoh hách dịch cũng phải kiêng dè. Họ lạm dụng danh từ tôn giáo,
thần linh, truyền bá các tà thuật, phù phép, thần chú hắc ám để lôi cuốn tín
đồ. Dĩ nhiên với các tà thuật, họ có thể làm mọi thứ mà một người
b́nh thường vô phương chống lại. Chỉ một thời gian ngắn, dân chúng
đều trở nên nạn nhân của một thứ Tà giáo. Các vị pháp sư trở nên
sứ giả của cơi âm, một thứ quỷ sống đội lốt người, họ
c̣n kêu gọi những âm binh hung ác nhất đến giúp họ đạt các mục đích
tà muội.
Trong đền thờ, khoa phù thủy thay thế sinh hoạt tâm linh và các
tu sĩ chân chính bị loại trừ, đào thải nhanh chóng. Cũng v́ thế, khoa huyền
môn chân chính trở nên thất truyền v́ không người tu học, nghiên cứu. Các tu sĩ
chân chính phải trốn tránh, từ bỏ các giáo đường uy nghiêm. Nền văn minh
đặt căn bản trên kiến thức huyền môn cũng tàn lụi khi cánh cửa huyền
môn chân chính khép chặt. Các ông nên rơ, trong thời cổ, hầu hết các khoa học gia, y sĩ,
các nhà toán học kiến trúc đều xuất thân từ giới tu sĩ hoặc học
hỏi trong các tu viện v́ thời đó không có trường học hay một nền giáo
dục như bây giờ. Khi bùa chú, phép thuật mê hoặc nhân tâm, thúc đẩy con người
tư bỏ Thượng Đế để tôn thờ các loài ma quái th́ các thứ như Chiêm
tinh, Toán học, Kiến trúc không c̣n lư do để tồn tại.
Thời gian trôi qua,
nền văn minh Ai Cập huy hoàng đă xuống dốc cực kỳ thảm hại. Chính
các tu sĩ lầm lạc, ích kỷ đầy tham vọng đă là nguyên nhân gây nên hoàn cảnh
trên, họ lợi dụng danh nghĩa “Tôn giáo”, một thứ tôn giáo ma quái, xa ĺa Thượng
Đế để đưa Ai Cập vào con đường thoái hóa. Thay v́ lo giải thoát cho
chính ḿnh khỏi mê lầm th́ họ lại hướng dẫn quần chúng vào ma đạo.
Thay v́ tuân theo các giới luật th́ họ lại phá giới, ngụy biện bằng các danh
từ hoa mỹ, tốt đẹp. Thay v́ kiểm thảo nội tâm họ lại lập
phe nhóm bênh vực lẫn nhau để che dấu các hành vi tà muội. Khoa nghi thức hành lễ
mất hết các tính cách thiêng liêng mà chỉ c̣n h́nh thức bề ngoài, kêu gọi một năng
lực ngoại giới đến trợ giúp quyền uy giáo sĩ. Sự hiến dâng biến
thành hối lộ, tu sĩ lựa chọn các thứ ḿnh thích nhất như món ăn, thiếu
nữ xinh đẹp để Tế Thần và sau đó đem chia chác lẫn nhau cùng hưởng
thụ. Thượng Đế nhân từ bác ái bỗng biến thành một thần linh toàn lực,
toàn uy, trọn quyền thưởng phạt mà giới giáo sĩ là trung gian. Để lung lạc
nhân tâm, khoa bùa chú, thôi miên được sử dụng tối đa như một phương
tiện cần thiết để thỏa măn tham vọng cá nhân.
Để tránh các tinh túy
huyền môn không lọt vào tay giới bàn môn tà đạo, các tu sĩ chân chính đă sử dụng
khoa Ám Tự (Hierograph). Đây là một văn tự huyền bí ẩn dấu nhiều ư nghĩa
tâm linh mà chỉ các tu sĩ chân chính sau khi vượt qua các thử thách mới được
tiết lộ. Sự sử dụng ư nghĩa tượng trưng (Symbol) hoặc tỷ dụ
(Parapol) được sử dụng tối đa. Chính Moses về sau đă sử dụng
ngôn ngữ này trong các cuốn sách của Do Thái (Bộ sách Pentateuque).
Sự bành trướng
của nhóm Tà đạo quá mạnh, các tu sĩ chân chính phải rút vào rừng sâu núi thẳm
và cuối cùng th́ khoa Huyền môn chân chính cũng thất truyền. Một số giáo sĩ,
khoa học gia, các nhà Toán học, kiến trúc trốn sang Hy Lạp và truyền dạy các khoa
này tại đây, mở đầu cho một nền văn minh mới. Trong khi đó, để
lôi cuốn phe đảng, vấn đề truyền giáo được đặt ra và giới
tăng lữ buộc các vua Pharaoh phải gây chiến tranh truyền bá tôn giáo. Các cuộc “Thánh
Chiến” này đă đem lại một giai cấp mới: Nô lệ.
Giáo sư Mortimer
ngạc nhiên:
- Như vậy trước đó không có nô lệ hay sao?
Hamoud lắc
đầu:
- Nền văn minh cổ đặt căn bản trên sự bác ái, hoàn hảo
của từng cá nhân làm ǵ có vấn đề nô lệ. Hiện tượng nô lệ chỉ
bắt đầu khi văn hóa suy đồi, giới tu sĩ lộng hành và sau các cuộc
chiến tranh. Lúc đầu họ là tù binh chiến tranh về sau họ trở thành nô lệ.
Sau đó các giáo sĩ đặt ra luật những ai không cùng tôn giáo đều bị coi là
nô lệ. Dân Do Thái v́ khác tôn giáo nên trở thành nạn nhân đầu tiên. T́nh trạng nô lệ
thay đổi xă hội rất nhiều, các giáo sĩ không cần sử dụng bùa chú, thôi
miên để thỏa măn dục vọng nữa, các nô lệ đương nhiên phải làm
tất cả những ǵ giới chủ nhân muốn. Theo thời gian, pháp môn phù thủy, bùa
chú cũng thất truyền v́ giới tu sĩ không cần đến nó nữa. Khi các phép thuật
biến mất th́ uy tín các giáo sĩ cũng giảm theo và các vua Pharaoh bắt đầu hạn
chế quyền lực các giáo sĩ. Khi nền văn minh xuống dốc, các chân lư tốt
đẹp biến mất, đời sống hưởng thụ của tiện nghi vật
chất khiến các vua chúa trở nên ích kỷ, chỉ muốn kéo dài đời sống nên
phong tục xây cất nhà mồ, ướp xác trở nên thịnh hành v́ nó hứa hẹn một
đời sống vĩnh cửu. Công cuộc xây cất những ngôi mộ vĩ đại
đă khánh kiệt tài sản quốc gia, đưa xă hội Ai Cập vào một t́nh trạng
suy thoái... Do đó, Ai Cập trở nên một miếng mồi ngon cho Ba Tư và Hy Lạp...
Lịch sử đă ghi chép khá rơ ràng từ lúc này, tôi chắc các ông đă biết rơ...
Phái
đoàn im lặng nh́n nhau, sự suy yếu của Ai Cập sau khi bị Ba Tư, Hy Lạp
cai trị không phải là một điều xa lạ ǵ, nhưng tại sao một nền văn
minh như Ai Cập đă xây cất những Kim Tự Tháp hùng vĩ, đă sản xuất
biết bao nhân tài, ảnh hưởng rộng đến toàn cơi Trung Đông lại suy sụp
mau chóng vẫn c̣n là một câu hỏi lịch sử. Lời giải thích của Hamoud là một
ch́a khóa vô giá về lịch sử xứ này.
Nhà pháp sư Ai Cập mỉm cười
nh́n tất cả mọi người:
- Lịch sử nhân loại luôn luôn biến đổi
theo chu kỳ, nhiều việc xẩy ra trong quá khứ sẽ tiếp diễn lại. Có sống
trong thời buổi đen tối, hỗn loạn, đầy đau khổ hoang mang nhân loại
mới ao ước cơi tâm linh cao thượng. Nhu cầu này sẽ được đáp ứng
và một đấng thánh nhân sẽ chuyển kiếp xuống trần, mở rộng cánh
cửa tâm linh, hướng dẫn nhân loại thoát khỏi dưới một h́nh thức,
phương tiện thích hợp với hoàn cảnh thời gian và không gian khi đó.
Điều
này đă xẩy ra nhiều lần tại các nơi khác nhau trên thế giới từ Trung Hoa
qua Ấn Độ và đến Trung Đông. Các bậc thánh nhân đều rao truyền những chân
lư cao siêu, đẹp đẽ nhưng v́ nhân loại cứ u mê, thiếu hiểu biết nên
chỉ ít lâu sau tất cả lại quay cuồng vào vết xe cũ. Các chân lư cao đẹp
bị xuyên tạc, sửa dổi, giảng giải sai lạc bởi các giáo sĩ mê tín, thành
kiến đầy cuồng tín.
Dù sao chăng nữa bánh xe tiến hóa vẫn quay đều
và trong mọi hoàn cảnh, thời đại nào cũng có các cá nhân cố gắng vượt
mức để tự giải thoát ra khỏi ảo ảnh của màn vô minh để nhận
định chân lư...
Hamoud im lặng một lúc rồi thong thả:
- Tôi muốn
các ông ghi nhận một điều này, các ông có thể coi đó như một lời tiên đoán
hay cảnh cáo trước cũng được:
Thời gian sắp đến sẽ
là một giai đoạn cực kỳ tiến bộ về tri thức nhưng thoái bộ
về tâm linh. Moi sự hiểu biết chỉ nhằm vào hiện tượng (Phenomenon) thay
v́ nguyên nhân, bản chất do đó, nền khoa học tương lai không thể chuyển
biến được ḷng người hoặc giúp cho họ một cái nh́n sáng suốt, một
tâm hồn b́nh an.
Nền “khoa học hiện tượng” chỉ kích thích giác
quan, cảm xúc hướng ngoại sẽ khiến con người cực kỳ bất măn,
lo âu và trở nên hoang mang phiêu bạt. Thêm vào đó nữa, sự khai quật các ngôi cổ
mộ Ai Cập sẽ tháo cữi sổ lồng cho vô số âm binh, các động lực cực
kỳ hung dữ. Như tôi vừa kể cho các ông, thời kỳ chót của nền văn
minh Ai Cập các giáo sĩ đă thực hành tà thuật tối đa mà khoa ướp xác là
một bí thuật mang sự liên lạc của cơi vô h́nh vào cơi trần. Tất cả ngôi cổ
mộ đều là nơi giam giữ các động lực vô h́nh để canh giữ, duy
tŕ ảnh hưởng tà môn.
Khi được tháo cũi, chúng sẽ mang nền Tà giáo
cổ Ai Cập trở lại thế kỷ này, dĩ nhiên dưới một h́nh thức
nào nó hợp thời hơn. Một số pháp sư vốn là sứ giả cơi âm sẽ đầu
thai trở lại hoặc nhập xác để tác oai, tác quái tái tạo một xă hội tối
tăm, sa đọa đi ngược trào lưu tiến hóa của Thượng Đế. Thế
giới sẽ trở thành nạn nhân của thứ Tôn giáo ma quái này... Chiến tranh, đau
khổ, bất an cùng các kích thích cảm giác mới lạ do nền “khoa học hiện
tượng” mang lại sẽ thúc đẩy con người vào các cùng cực của
cuộc sống.
Trong thời buổi này, khối óc lư trí không giúp được ǵ mà
chỉ có sự hiểu biết và ư thức bản chất thầm lặng của nội
tâm mới đáp ứng được. Đó là lối thoát duy nhất mà thôi.
Giáo sư
Allen ngắt lời:
- Nhưng đă có bằng chứng ǵ về sự hiện diện
của các động lực vô h́nh này, làm sao có thể cảnh cáo mọi người về
sự trở lại của các pháp sư thời cổ?
Người Âu Mỹ sẽ
chả bao giờ chấp nhận một điều hoang đường, vô lư nếu không
có bằng chứng rơ rệt.
Hamoud mỉm cười bí mật:
- Cơi âm là đối
tượng nghiên cứu của tôi nên tôi có thể tŕnh bày một vài dữ kiện để
các ông suy nghiệm như một bằng chứng. Chuyện xẩy ra đă bắt đầu
xẩy ra, theo thời gian các ông sẽ thấy. Dù các pháp sư tà đạo thời cổ
này có khéo léo dẫn dụ con người bằng những danh từ hoa mỹ, những chủ
thuyết đẹp đẽ thế đâu đi nữa th́ họ vẫn chỉ có thể
sống như một con người. Dù thế nào họ cũng không thể bỏ qua các thói
quen cũ của quá khứ, họ sẽ đội lốt tôn giáo, họ sẽ kêu gọi
sự hợp tác của Thần quyền, họ sẽ đặt ra các giáo điều mới
thay thế các chân lư cao đẹp để lôi kéo con người từ bỏ Thượng
Đế. Họ sẽ sử dụng danh từ, ngôn ngữ để đánh lạc hướng
mọi người, tuy nhiên trước sau ǵ họ cũng phải chết và trước
khi chết họ sẽ di chúc yêu cầu ướp xác họ và xây dựng những nhà mồ
vĩ đại bằng đá như họ đă từng làm trong quá khứ...
Giáo sư
Allen bật cười:
- Như vậy th́ nhận diện họ quá dễ, nhưng
tôi không tin thời buổi này c̣n ai ướp xác, xây cất nhà mồ như vậy, ông nên
nhớ chúng ta đă bắt đầu vào thế kỷ hai mươi, không phải tám ngàn năm
trước...
Hamoud mỉm cười:
- Rồi các ông sẽ thấy, tôi mong các
ông ghi chép những điều này cẩn thận rồi đúng hay sai thời gian sẽ trả
lời.
Chương 9: Hành tŕnh về Phương Đông
“Yêu
cầu chấm dứt cuộc du khảo. Mọi tài trợ cắt đứt. Trở về
Luân Đôn ngay.” Bức điện tín đến bất ngờ làm phái đoàn hết sức
sửng sốt, Bác sĩ Kavir cho biết một tờ báo ở Luân Đôn đă ghi nhận rằng
phái đoàn Khoa học gia ưu tú nhất Anh quốc đă quỳ mọp bên cạnh những
đạo sĩ “Trần Truồng” xứ Ấn để nghe dạy bảo.
Dư
luận quần chúng hết sức phẫn nộ, đ̣i Đại Học Oxford phải ngưng
ngay các cuộc du khảo và triệu hồi phái đoàn trở về để giải thích.
Phái đoàn lập tức lấy xe lửa trở về Bombay.
(Ghi chú: Khi đó Ấn Độ
c̣n là thuộc địa của Anh và vấn đề kỳ thị chủng tộc, giai
cấp c̣n mạnh).
Nhật kư của giáo sư Spalding:
- Thật là bất ngờ
khi chúng tôi nhận được bức điện tín, kèm theo đó là một bức thư
của Lănh sự quán Bombay cùng những mẫu báo nói về những Giáo sư Đại học
của Hoàng Gia “quỳ mọp” bên cạnh những Phù Thủy Ấn man rợ nghe
dạy bảo. Lời tường thuật đầy thành kiến, ác ư của một kư giả
thiếu sáng suốt đă phá hoại công tŕnh sưu tầm, nghiên cứu đang diễn ra
tốt đẹp. Làm sao có thể giải thích cho quần chúng hiểu rằng ngoài các phong
tục, tôn giáo hỗn độn, phức tạp, hoang đường, mê tín dị đoan
c̣n ẩn dấu các chân lư cao đẹp mà người Âu cần nghiên cứu. Đành rằng Ấn
Độ đă ngủ say trong bao thế kỷ nay, nhưng trong sự suy đồi vật chất
vẫn tiềm tàng một sinh lực tâm linh mănh liệt đang chờ đợi được
đánh thức.
Chúng tôi đă học hỏi nhiều trong cuộc du khảo này, bài học
đầu tiên do một người Anh, thương gia Keymakers đă dạy:
- Để
nghiên cứu một cách vô tư và khoa học, người Âu cần gạt bỏ ḷng tự
kiêu, thành kiến văn hóa chỉ giữ ǵn một đầu óc khoa học, phê b́nh chặt
chẽ để có thể xuyên qua rừng người mê tín t́m đến sự thật.
Như một viên ngọc quư cần phải được mài dũa, cuộc đi t́m chân
lư cũng thế, chúng tôi đă mất mấy năm trời t́m ṭi, gạn lọc mới gặp
được các vị đạo sư tiêu biểu cho đời sống tâm linh thực
sự của xứ Ấn. Nhờ những may mắn t́nh cờ, chúng tôi đă gặp các sinh
hoạt tâm linh cao thượng mà ít người Âu nào có diễm phúc khám phá. Tất cả những
chân lư từ trước đến nay chỉ được truyền bá một cách hết
sức bí mật, thận trọng, đă được tiết lộ cho chúng tôi. Là một
phái đoàn khoa học, chúng tôi đă phân tích kỹ lưỡng, kiểm soát cẩn thận,
phê b́nh chặt chẽ và đặt câu hỏi cho đến khi thật rơ ràng.
Mỗi
người chúng tôi đều ghi chép vào sổ tay cá nhân riêng những sự kiện quan sát,
sau đó chúng tôi cùng nhau kiểm điểm, bàn luận và kiểm chứng lại tài liệu
này cho đến khi tất cả đồng ư là chính xác mới ghi vào hồ sơ chính. Nhờ
phương thức này, chúng tôi quả quyết rằng tài liệu ghi nhận hoàn toàn đặt
căn bản trên nền tảng khoa học chứ không phải sự tin tưởng hay hiểu
biết của một cá nhân.
Chúng tôi hy vọng khi công bố các kết quả này, nó
sẽ là một nhịp cầu thông cảm giữa hai văn hóa và thúc đẩy những
cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn. Sự kiện vừa qua đă thay đổi tất
cả và làm sụp đổ mọi kỳ vọng khiêm tốn nhất. Giáo sư Allen tin rằng
nếu chúng tôi trở lại Luân Đôn tuyên bố những điều khám phá và giải thích lư
do một cách rơ ràng có thể quần chúng sẽ có thiện cảm hơn chăng? Tôi không nghĩ
như thế, hiện tại c̣n quá sớm để thay đổi một dư luận
bắt nguồn từ những quan niệm hẹp ḥi, những thành kiến và tự hào mù
quáng.
Người Âu chỉ nh́n Ấn Độ như một xứ chậm tiến, một
thuộc địa dốt nát, mê tín đầy những kẻ thất học, chứ nào thấy
được những giá trị tinh vi, những khoa học tiến bộ được
che dấu cẩn thận dưới ánh nắng thiêu đốt miền nhiệt đới.
Giáo sư Mortimer và nhóm khoa học gia Hoa Kỳ có ư muốn tách riêng và tiếp tục cuộc
nghiên cứu v́ xứ Hoa Kỳ dù sao cũng ít thành kiến hơn. Đại học Yale và Harvard
sẵn sàng bảo trợ cuộc du khảo, nhất là khi nó đă có kết quả. Với
tư cách Trưởng phái đoàn, tôi không muốn thấy công tŕnh tốt đẹp bị
gián đoạn nhưng cũng không muốn đại học Hoa Kỳ hưởng kết
quả, dù sao tôi cũng là một người Anh với mọi tự hào về truyền thống,
Oxford đă đào tạo ra chúng tôi và chúng tôi muốn tên tuổi nó trong cuộc khảo cứu
tiền phong này.
Viên lănh sự lạnh nhạt tiếp đăi phái đoàn trong căn pḥng
nhỏ. Y chỉ mẫu báo nói về cuộc nghiên cứu đang trở nên một đề
tài hấp dẫn, được báo chí khai thác triệt để:
- Các ông nên biết
điều một chút, dù sao các ông cũng là những Khoa học gia, giáo sư đại học
lừng lẫy, có chân trong hội Khoa Học Hoàng Gia. Các ông là đại diện cho thành phần
danh dự, ưu tú nhất nước Anh... Các ông đă làm mất uy tín Hoàng Đế, tại
sao các ông không chịu ngồi yên ở Oxford?
Cái xứ nóng bức này có ǵ đâu để khảo cứu...
Giáo sư Oliver nổi
nóng:
- Đó là việc riêng của chúng tôi, anh biết ǵ mà nói...
Viên lănh sự nhếch
miệng cười nhạt:
- Đó không phải việc riêng của các ông nữa, nó liên
quan đến danh dự Hoàng Gia, danh dự Oxford.
Các ông nên biết tôi cũng xuất thân từ Oxford...
Giáo sư Oliver buột miệng:
- Nếu anh xuất thân từ Oxford th́ anh phải biết cuộc khảo cứu này
sẽ làm rạng danh đại học của chúng ta, một ngày nào đó người ta sẽ
nói rằng chính Oxford đă tiền phong trong việc khảo cứu các hiện tượng
huyền bí, các môn Yoga...
- Yoga? Yoga là cái ǵ? Ông muốn nói đến một loài thú nào chăng?
Giáo sư Oliver há hốc miệng không nói thêm lời nào, một sự ngờ nghệch
như vậy có thể tha thứ được đối với một công dân tầm thường,
vô học, chỉ quanh quẩn nơi xó nhà, chưa hề ra khỏi tầm chuông nhà thờ
Westminster... Đằng này y là một lănh sự, đại diện cho Hoàng Gia, xuất thân từ
Oxford và đă sống ở Ấn Độ hơn
6 năm nay. Viên Lănh sự xem xét thông hành và cho biết Phái đoàn phải rời Ấn Độ
ngay trong tuần lễ sau. o0o
Nhật kư của giáo sư Spalding:
Trong khi mọi
người trở về khách sạn, chờ đợi ngày lên tàu trở về Luân Đôn. Tôi
vẫn linh cảm sẽ có một chuyện ǵ xẩy ra, tôi lang thang trong khu phố Bombay đông
đúc, đầu óc mơ hồ, không biết phải làm ǵ. Tôi cố ôn lại những việc
xẩy ra trong ṿng nửa năm qua. Quả thế, từ hôm thất vọng đi lang thang
như thế này trong thành Benares, tôi gặp một người Ấn cao lớn, khác thường
đă chuyển giao thông điệp của một Chân Sư. Từ đó khắp nơi, phái
đoàn luôn luôn được che chở và may mắn gặp gỡ những người dành
trọn đời cho việc đi t́m chân lư, những người đă thắng đoạt
thiên nhiên, đă chinh phục được các sức mạnh vô h́nh trong trời đất,
đă có quyền năng phi thường... Đúng như lời người đó nói, sự nghiên
cứu đă vén mở được những điều phái đoàn muốn t́m kiếm nhưng
mọi người vẫn chưa hài ḷng. Chúng tôi ao ước được gặp vị
chân sư bí mật, một người mà tôi có cảm giác đă quen, đă biết từ một
tiềm thức xa xôi nào. Trong giây phút đó, tôi bỗng có một ư tưởng lạ lùng, bằng
tất cả sức mạnh tư tưởng tôi ao ước vị chân sư bí mật
này hăy giúp đỡ chúng tôi, hay cho chúng tôi gặp mặt.
Đang đắm ch́m trong ḍng tư
tưởng triền miên bỗng tôi giật ḿnh, một cảm giác lạ lùng như một
luồng điện chạy dọc theo xương sống khiến tôi mở choàng mắt
ra:
Dưới chân một cây cổ thụ cao lớn, cành lá xum xuê, một người
Ấn Độ khuôn mặt phương phi, quai hàm rộng, trán cao, một con mắt tinh anh có
khả năng thu hút người khác. C̣n ai vào đây nữa, chính người Ấn lúc đầu
mà tôi đă gặp tại thành Benares, chính người này đă mang thông điệp đầu
tiên cho phái đoàn. Tôi vội vă chạy đến mừng như gặp bạn cố tri.
Người Ấn mỉm cười:
- Thế nào? Việc nghiên cứu của các ông
tốt đẹp chứ? Tôi hy vọng Brahmananda, Sudeih Babu, Mahasaya, Harishinanda, Hamoud El Sari...
Không làm các ông thất vọng.
Tôi há hốc miệng, không nói được câu nào. Tại
sao người này dường như biết tất cả? Người Ấn mỉm cười:
- Bạn mến, cách đây nửa năm bạn có hỏi tôi rằng các bậc chân sư
có thật hay không? Nếu có thật tại sao các ngài không xuất hiện dậy dỗ quần
chúng? Sự ẩn dật đâu có lợi ích ǵ? Lúc đó, trong ḷng bạn thật sự không
lấy ǵ tin tưởng về sự hiện hữu của những cá nhân đă tiến
xa trên con đường đạo. Tôi đă trả lời rằng, v́ không biết rơ các ngài
nên quan niệm thông thường không thể xét đoán các ngài một cách đứng đắn.
Thực ra các bậc toàn thiện luôn luôn xuất hiện để giúp đỡ thế gian
một cách lặng lẽ, âm thầm. Đa số mọi người tin rằng các ngài phải
hiện ra trong hào quang rực rỡ, với các phép thần thông biến cơi trần đau khổ
này thành một cơi thiên đàng. Điều này sẽ không bao giờ xẩy ra...
Khi đó bạn
không hoàn toàn đồng ư, là một người Công Giáo bạn vẫn nghĩ rằng đức
“Christ” vẫn hứa sẽ trở lại để cứu rỗi tất cả...
Thực ra đức “Christ” (Chúa) có bao giờ rời bỏ chúng ta đâu, lúc nào ngài
chả luôn luôn bên cạnh ta, giúp đỡ chúng ta. Sự tin tưởng rằng ngài sẽ
trở về trong một vầng hào quang sáng chói là một điều không đúng. Chúng ta chỉ
quen t́m kiếm Thượng Đế bên ngoài như một đấng toàn năng có thể giúp
ta thỏa măn những điều mong ước chứ không chịu t́m kiếm ở nội
tâm, nơi ngài luôn ngự trị. Tôi hy vọng sự tiếp xúc với các đạo sĩ
trong thời gian qua sẽ giúp bạn một căn bản vững chắc, một niềm
tin mănh liệt để có thể tiếp tục việc nghiên cứu.
Tôi kinh ngạc
đến sững người, không những người Ấn này biết rơ tất cả
mà dường như c̣n đọc được tư tưởng người khác. Người
Ấn mỉm cười hiểu ư:
- Các bạn đă được chỉ dẫn
về khoa Yoga, các phương pháp dưỡng sinh, cơi giới vô h́nh, môn chiêm tinh bí truyền,
các luật vũ trụ, quan niệm về Phàm Ngă và Chân Ngă... Các bạn đă tỏ ra say mê,
thích thú v́ đó là điều khao khát bấy lâu nay, có đúng không?
- Tại sao... Tại
sao ông lại biết rơ như vậy?
Người Ấn dịu dàng:
- V́ tôi là
người được chỉ thị phải giúp đỡ các bạn. Chính tôi đă theo
dơi tư tưởng các bạn từ khi phái đoàn vừa đặt chân đến xứ
này. Tôi hết sức thông cảm sự bất măn, buồn phiền, chán nản suốt hai
năm đầu khi các bạn đến thăm các đền đài nguy nga, tiếp xúc với
các đạo sĩ nổi tiếng nhưng không học hỏi được điều
ǵ mới lạ. Thay v́ gặp các bậc hiền triết, các bạn gặp toàn những kẻ
bịp đời, những người chức tước, địa vị thật cao
mà công phu tu hành, tŕ giới lại thật thấp. Thay v́ gặp những đạo sư
có kinh nghiệm tâm linh, các bạn gặp những tu sĩ miệng nói thao thao như nước
chảy mà chả biết ḿnh đang nói ǵ, h́nh như chân lư cao siêu mà y trích dẫn từ kinh
điển không dính dáng ǵ đến đời sống an nhàn, sung sướng trong các đền
chùa đồ sộ của y cả. Tất cả đều là những thử thách cho sự
nghiên cứu của các bạn. Một chân lư có giá trị thực sự phải chịu nổi
các thử thách của thời gian. Cuộc đi t́m chân lư cũng thế, nó đ̣i hỏi một
sự cố gắng và một tinh thần khoa học, suy xét để gạt bỏ các điều
mê tín, các thành kiến. Các bạn đă xứng đáng được truyền dạy những
chân lư cao đẹp đó, tôi mới đến gặp bạn tại Benares
và chuyển giao thông điệp của một vị chân sư. Nhờ thế các bạn mới
thực sự gặp được những người tiêu biểu cho nền minh triết
của Á Châu. Tuy nhiên, như tôi đă nói nếu bạn muốn đi xa hơn để gặp
các bậc chân sư th́ lại khác...
- Ông tin rằng chúng tôi có thể gặp các ngài?
-
Dĩ nhiên, nếu các bạn chọn con đường này, nó sẽ là một cuộc hành
tŕnh khác hẳn cuộc hành tŕnh vừa qua. Các bạn sẽ không thể đứng bên ngoài
mà nh́n vào, để nghiên cứu, ghi nhận như một khách bàng quang.
Cuộc hành tŕnh
này phải là một kinh nghiệm cá nhân. Một sự hiểu biết mà không do ḿnh t́m ra, kinh
nghiệm ra chỉ là một hiểu biết hời hợt, nông cạn.
Một sự
hiểu biết do người khác bằng bất cứ phương tiện nào mang lại
cũng chỉ là kinh nghiệm của người đó. Ta không thể trông đợi một
chân lư đến từ bên ngoài mà phải biết thế nào là đủ để dừng
lại, để trở về. Đi xa tức là trở về, đó mới là con đường
đứng đắn.
Cuộc hành tŕnh này không như lần trước “đi
ra ngoài”, tiếp xúc với các đạo sư, ghi nhận những tinh hoa, soạn thảo
tài liệu mà phải là một cuộc hành tŕnh “trở về”, một cuộc hành
tŕnh “về” phương đông. Các bạn không thể nhân danh phái đoàn đi quan
sát, ghi nhận nữa mà phải là một nhóm người đi t́m chân lư và sống với
chân lư đă học được. Trong cuộc hành tŕnh này, các bạn sẽ không được
công nhận bởi các đại học, dư luận quần chúng. Danh vọng của bạn
có thể bị xuyên tạc, điều bạn học hỏi có thể bị chế nhạo,
nghi ngờ. Các bạn sẽ hết sức cô đơn, nản ḷng, thối chí, có lúc bạn
sẽ sợ hăi và đâm ra nghi ngờ những điều đă xẩy ra.
Tóm lại,
các bạn cần suy nghĩ cho kỹ trước khi quyết định. Nếu trở về
Luân Đôn một thời gian, đợi dư luận lắng dịu, các bạn có thể công
bố những điều ghi nhận, nhưng mọi người có tin hay không lại là chuyện
khác. Nếu muốn tiếp tục, các bạn phải rời bỏ tất cả để
làm một cuộc hành tŕnh lên Tuyết Sơn. Đây chính là giây phút quyết định.
-
Nếu chúng tôi muốn tiếp tục cuộc hành tŕnh th́ phải làm thế nào?
Người
Ấn mỉm cười:
- Tại sao bạn cứ hỏi tôi phải làm ǵ? Tôi phải
làm thế nào? Nếu muốn các bạn chỉ việc lên đường, có thế thôi.
Định
mệnh con người luôn luôn có những thay đổi lớn, mặc dù không thấy rơ nhưng
chúng ta vẫn vô t́nh tiến đến mục tiêu đă vạch sẵn. Không đầy hai
tuần lễ sau, chúng tôi đă đứng trong làng Potar, ngay sát chân dẫy Hy Mă Lạp Sơn
hùng vĩ. Chúng tôi đă bỏ lại tất cả, danh vọng, địa vị, đoạn
tuyệt với thành kiến, tự ái cố hữu của người Tây Phương.
Cuộc
hành tŕnh về phương Đông của chúng tôi bắt đầu...
HẾT

|
|

|

|

|

|

|
|

|

|