1lyhuonga.jpg



















1qphucdiendandongtiengif.gif








































Hành Tŕnh vê Phương Đông Tiếp theo :

 

5.

 

Trong suốt thời gian khủng hoảng, tôi tin rằng sự kiện này ắt phải có lư do nên hết ḷng cầu nguyện đức Mẹ. Trong một buổi cầu nguyện, câu trả lời đă đến với tôi qua một linh ảnh: Trong một tiền kiếp xa xôi, tôi là một y sĩ rất có tài nhưng tôi đă phủ nhận các quyền năng huyền bí và chê bai những kẻ có đức tin hay cầu nguyện đức Mẹ, đó là hậu quả mà tôi phải trả ngày nay...

Kể từ hôm nh́n thấy đức Mẹ, một sự thay đổi lớn đă diễn ra trong tâm hồn tôi. Từ nhỏ tôi không hề biết đến tôn giáo, tôi hấp thụ nền giáo dục Tây Phương nên tin tưởng tuyệt đối ở khoa học. Sự chứng kiến phép lạ thay đổi tất cả, như người mù bỗng sáng mắt, tâm hồn tôi hoàn toàn khác trước, tôi thấy thanh thản vô cùng và đủ sức chịu đựng sự chế diễu của mọi người. Tôi dành trọn thời giờ để cầu nguyện và phát nguyện đời đời, kiếp kiếp theo chân đức Mẹ, cứu giúp tất cả chúng sanh. Một hôm trong lúc cầu nguyện ngài bỗng hiện ra mỉm cười và từ đó tôi thấy ḿnh ngụp lặn trong một thế giới mới lạ. Tôi ư thức được các điều mà từ trước không bao giờ nghĩ đến, tôi chứng kiến rơ ràng các cơi giới khác cũng như sự hoạt động, tiến hóa không ngừng của muôn loài. Nói một cách giản dị hơn khả năng Thần Nhăn của tôi bỗng khai mở. Từ đó, tôi quan sát, học hỏi các cơi giới của Thiên Thần.

Diễn tả cơi giới vô h́nh bằng lời lẽ thông thường, không thêm bớt là điều rất khó v́ lời nói chỉ có thể diễn tả những ǵ hữu h́nh. Diễn tả những điều không thể diễn tả, dĩ nhiên rất vụng về nhưng bác sĩ Bandyo đă lưu loát, hoạt bát diễn tả thế giới này như một sự kiện khoa học và hiển nhiên.

Bác sĩ Bandyo nh́n toàn thể mọi người thản nhiên:

- Có lẽ các bạn không tin tưởng lắm, điều này không quan trọng. Tin hay không là quyền của các bạn. Tôi chỉ muốn chia sẽ với các bạn kinh nghiệm tâm linh này thôi. Nhờ khai mở Thần Nhăn, tôi biết chung quanh chúng ta có một thế giới vô h́nh rộng lớn và có những sinh vật khác sinh sống. Sở dĩ tôi gọi là vô h́nh v́ mắt thường không thể nh́n thấy được nhưng một ngày nào đó khoa học sẽ chứng minh được thế giới này. Các sinh vật vô h́nh thường được chúng ta gọi bằng danh từ như Ma, Quỷ, Tinh linh v. v... V́ không có một kiến thức rơ rệt về các sinh vật này, chúng ta đă gán ghép cho chúng nhiều điều không đúng. Thật ra, các sinh vật này cũng có thứ tốt, thứ xấu cũng như loài người cũng có kẻ xấu người tốt vậy. Một trong các sinh vật này hợp tác chặt chẽ với đức Mẹ trong các công việc của ngài. Danh từ đứng đắn nhất có lẽ là Thiên thần (Deva). Có nhiều loại Thiên thần, một loại phụ trách một công việc riêng. V́ lư do nghề nghiệp, tôi thường tiếp xúc với các Thiên thần chăm lo sức khỏe. Tôi xin thuật lại thế giới này cho các bạn:

Các thiên thần lo về sức khỏe thường liên lạc chặt chẽ với những người có trách nhiệm trong việc chăm sóc, chữa bệnh. Điển h́nh là các bác sĩ, y tá; một y sĩ có lương tâm chức nghiệp, làm việc để giúp đỡ người khác luôn luôn được một vị thiên thần hộ mạng. Vị này thường theo dơi, bao trùm chung quanh y sĩ bằng một hào quang sáng rơ và tác động vào trực giác ông này khi điều trị bệnh nhân.

Ngài trấn tĩnh vị y sĩ và không ngớt tuôn trào các hào quang mịn màng như tơ để chuyển sinh khí đến người bệnh. Công việc vị thiên thần h́nh như dung ḥa, pha trộn các sinh lực vô h́nh trong cơi siêu nhiên và sử dụng tư tưởng biến nó thành các sợi tơ ánh sáng tuôn trào vào bệnh nhân. Một bác sĩ tận tâm sẽ có các rung động cộng hưởng với ảnh hưởng này một cách vô h́nh, tự nhiên thu hút các từ điện tinh vi này vào ḿnh để nó toát ra ở mười đầu ngón tay và có thể hàn gắn vết thương một cách dễ dàng, mầu nhiệm. Người ta không giải thích tại sao một bác sĩ này lại giỏi hơn một bác sĩ nọ mặc dù họ cùng hấp thụ một nền giáo dục như nhau? Ta gọi là một bác sĩ “mát tay” nhưng thật ra đó là do tư tưởng vị y sĩ thanh cao, rung động với các luồng thần lực vũ trụ và trở thành một trung tâm vận hà các sinh lực này đến bệnh nhân.

Mặc dù y học tự hào đă chữa được nhiều thứ bệnh nhưng thực ra, trên địa hạt siêu h́nh c̣n nhiều vấn đề mà y giới phải bó tay. Một bác sĩ có thể ví như một công cụ của Thượng Đế cứu giúp chúng sinh nhưng nếu viên y sĩ không ư thức điều này mà làm các hành động bất nhân th́ y sẽ chịu các hậu quả rất nặng. Lẽ dĩ nhiên, ân phước dồi dào không thể đến với ông và v́ thế, các ảnh hưởng bất hảo sẽ kéo đến ảnh hưởng đến đời sống, chức nghiệp, khả năng vị này.

Nhờ có thần nhăn, tôi thấy các bác sĩ chuyên phá thai chẳng hạn, lúc nào quanh ông ta cũng có các oan hồn bu kín. Một bác sĩ bất cẩn cũng thế, ông đă lạm dụng quyền năng Thượng Đế ban cho làm thương tổn đến bệnh nhân th́ chắc chắn sẽ gặp những điều vô cùng bất hạnh. Từ ngàn xưa, người ta đă biết điều này nên mới đặt ra lời thề của Hippocrates, đến nay không mấy ai để ư đến chi tiết này.

Họ hành nghề như tất cả những nghề nghiệp thông thường khác, không ư thức chức vụ thiêng liêng của ḿnh. Là một bác sĩ chuyên về giải phẫu, tôi có thể lấy kinh nghiệm của ḿnh ra nói: trong cuộc giải phẫu, mạng sống của bệnh nhân hoàn toàn nằm trong tay viên y sĩ và các thiên thần hộ mạng. Một sơ ư, bất cẩn cũng có thể gây những hậu quả đáng tiếc. Do đó, việc hành nghề y sĩ là một bổn phận, chức vụ thiêng liêng, đ̣i hỏi một lương tâm, một ḷng bác ái và hy sinh lớn lao chứ không thể coi như một nghề nghiệp kiếm sống thông thường.

- Xin ông nói thêm về thế giới Thiên Thần, ông đă thấy những ǵ?

- V́ nghề nghiệp, tôi thường quan sát các hoạt động của thiên thần trong bệnh viện: thí dụ như pḥng hộ sinh, nơi các sản phụ chờ giây phút lâm bồn. Nơi đây có một không khí b́nh an, mát mẻ do các thiên thần tạo ra để chào đón linh hồn nhập thế. Đối với cơi vô h́nh, giờ phút này có tính cách vô cùng trang nghiêm như một cuộc lễ. Vị thiên thần trị bệnh bao trùm y sĩ, y tá trong hào quang và không ngớt di chuyển các sinh khí đến người mẹ để giúp bà trong lúc đau đớn. Mọi nghi thức diễn ra thật chính xác, rơ ràng cho đến khi đứa bé lọt ḷng. Khi linh hồn tái sinh, nó có cảm giác bỡ ngỡ như người mê mới tỉnh, linh hồn thấy ngộp thở, tối tăm, nặng nề. Nó cần được trấn an nên khi tiếng khóc chào đời vừa phát ra th́ trong cơi vô h́nh một ảnh hưởng thanh thoát cũng rung động vào tâm thức đứa bé khiến nó b́nh tĩnh hơn.

Vị thiên thần trông coi buổi lễ có một khuôn mặt uy nghi, tâm thức vị này luôn luôn liên kết chặt chẽ với trái tim Đức Mẹ. Một niềm ưu ái đối với sản phụ tỏa ra từ khuôn mặt ngài và chuyển cho sản phụ dưới h́nh thức một ân huệ để tán dương chức vụ sinh sản cao cả của bà. Lúc đó, tâm thức sản phụ được nâng lên cao ḥa với ân phước Đức Mẹ vinh quang...

Bác sĩ Bandyo ngưng nói một lúc rồi thong thả:

- Các ông đều thuộc nam phái nên không thể hiểu tâm trạng người mẹ lúc sinh con. Dù hoàn cảnh có khó khăn, đau đớn thế nào khi vừa nghe con khóc, tất cả người mẹ nào cũng thấy sung sướng vô biên v́ khi đó tâm thức họ đang ḥa hợp với ân phước của Đức Mẹ. Trong tim họ đang phản chiếu sự hiện diện linh động của ngài, chói ngời ḷng bác ái, yêu thương vô tả. Vào giờ phút đó, chính vị thiên thần trông coi buổi lễ cũng nhận đuợc một luồng hào quang. trong ánh sáng đó, người ta thấy một cái ǵ vinh quang, tươi đẹp, một nguồn an lạc tuyệt vời tuôn trào đến sản phụ và hài nhi. Khi đó vị thiên thần hộ mạng bắt đầu làm công việc giúp đỡ đứa bé, giúp nó điều sự sống đang bị xáo trộn. Ngài phát ra các từ điện bao quanh đứa nhỏ giống như các bọt xà bông để bảo vệ nó chống lại sự ồn ào bên ngoài. Nhờ đó, đứa bé sẽ thiếp đi trong giây lát, lúc đó vị thiên thần chú tâm điều ḥa tâm thức đứa nhỏ để nó thích hợp với hoàn cảnh mới.

Bác sĩ Bandyo im lặng như đắm ch́m vào một tư tưởng nào đó, sau cùng ông nói:

- Đối với một đứa bé vừa ra đời, khoa học chỉ lo cho chúng ăn uống, dinh dưỡng đầy đủ mà thôi chứ không hiểu chúng cần một yếu tố vô cùng quan trọng đó là t́nh thương. Khi thể xác được chăm sóc thế nào th́ các thể khác cũng phải được chăm lo y như vậy và món ăn cần thiết của các thể này là t́nh thương. Thiếu t́nh thương, đứa trẻ khó ḷng sống sót v́ nhu cầu t́nh cảm đôi lúc c̣n quan trọng hơn các nhu cầu khác. T́nh thương là một yếu tố dinh dưỡng cần thiết để trẻ em nẩy nở tâm lư, tinh thần và chính v́ cha mẹ không lo đủ nhu cầu này mà các đứa bé chậm lớn, thiếu phát triển. Các bệnh tâm lư, thần kinh đều trực tiếp phát nguồn từ đây. Lư do nầy cũng giản dị thôi, đứa bé h́nh dung vũ trụ theo lối cư xử của cha mẹ đối với nó. Tùy theo nó được yêu hay ghét mà cuộc đời hiện ra đáng ghét hay đáng yêu. Từ lúc sơ sinh, nó nhận đuợc tiềm lực yêu thương từ Đức Mẹ và nếu được yêu thương, năng lực này sẽ phát động mạnh mẽ và nó sẽ trở thành một trung tâm ban rải t́nh thương. Trái lại, nếu bị hất hủi nó sẽ trở nên hung hăn v́ mầm yêu thương đă bị dập tắt rồi. Bổn phận làm cha mẹ là một điều vô cùng thiêng liêng, một trách nhiệm vô cùng quan trọng hơn là việc chỉ lo cho nó đủ ăn, đủ mặc. T́nh thương là một năng lực sáng tạo khiến người thương và kẻ được thương đều trở nên phong phú. Trên thế gian này, t́nh thương là một thứ mà ai cũng có thể cho mà không sợ phung phí. Một t́nh thương chân thật có giá trị giao ḥa, không ǵ có thể thay thế được. Nó không bao giờ gây hư hại mà chỉ tạo ảnh hưởng tốt lành. T́nh thương là một sinh lực có thể chữa trị tất cả mọi bệnh tật và đây là điều khoa học cần chú trọng đến.

Bác sĩ Bandyo dẫn chứng:

- Sách Journal of Medecine có đề cập đến cuộc nghiên cứu của bác sĩ Rene Spitz thuộc đại học New York: Hai nhóm trẻ sơ sinh được nuôi dưỡng khác nhau. Nhóm thứ nhất được nuôi dưỡng bởi chính cha mẹ chúng, nhóm thứ hai được giao cho các cô y tá. Tất cả đều được nuôi nấng, ăn uống như nhau chỉ khác ở sự yêu thương. Chỉ vài tháng, nhóm trẻ thứ nhất phát triển mạnh mẽ, lên cân, khỏe mạnh khi nhóm thứ hai chậm ăn, chậm lớn và đau ốm lung tung. Bác sĩ Spitz kết luận rằng trẻ con cần t́nh thương để có thể phát triển b́nh thường.

Khoa học thực nghiệm đă chứng minh như thế nhưng bậc làm cha mẹ đâu mấy ai dành nhiều thời giờ cho các con? Họ chỉ lo cho chúng ăn mặc đầy đủ là cảm thấy đă làm tṛn bổn phận rồi. Cũng v́ thế, xă hội Âu Mỹ tuy vật chất đầy đủ, nền giáo dục rất cao mà lại phát sinh đủ các hiện tượng tội ác, thần kinh, vi phạm luật pháp một cách kỳ dị khác các xứ chậm tiến. Tại sao những nhà thông thái không đặt câu hỏi phải chăng bậc cha mẹ đă không dành đủ thời giờ cho con trẻ để nó phát triển b́nh thường?

Phái đoàn im lặng, họ thấy bác sĩ Bandyo quả rất có lư trong vấn đề này. Giáo sư Mortimer lên tiếng:

- Hăy trở lại vấn đề các thiên thần, họ c̣n ảnh hưởng ǵ đến đời sống con nguời nữa không?

- Các thiên thần ít khi nào can thiệp vào đời sống con người. Thật ra, họ vô cùng bận rộn với các sinh hoạt riêng biệt. Thế giới của họ cấu tạo bằng các nguyên tử thanh, nhẹ có sức rung động rất nhanh nên họ không thích dính dáng vào thế giới hữu h́nh vốn có các rung động thô kệch. Điều này có thể ví như các ông đang sống ở một nơi mát mẻ, sạch sẽ không lư nào lại chui vào chỗ hôi hám, nóng bức làm ǵ.

Bác sĩ Allen ṭ ṃ:

- Ông có thể sử dụng khả năng thần nhăn vào các việc khác như thế giới bên kia cửa tử được không?

Bác sĩ Bandyo mỉm cười:

- Bạn mến, trước hết tôi xin xác định rằng chết không phải là hết mà chỉ là một giai đoạn di chuyển từ kiếp sống này qua kiếp sống khác. Con người chỉ rời bỏ thể xác này thôi. Sự chết không có ǵ đáng sợ như người ta vẫn nghĩ.

- Như thế người chết có thấy chúng ta không?

- Họ nh́n thấy chúng ta qua thể vía mà thôi. Do đó, họ biết được t́nh cảm hoặc ư nghĩ, cảm xúc của ta mặc dù họ không c̣n nghe được lời nói, âm thanh cơi trần nữa.

- Như vậy họ vẫn ở gần người sống?

- Lúc mới từ trần c̣n quyến luyến, họ vẫn ở nguyên chốn cũ gần nhà cửa, gia đ́nh, những người thân. Theo thời gian, họ ư thức được cơi giới mới rồi siêu thoát nghĩa là ḥa nhập với cơi giới mới, không quanh quẩn ở cơi trần nữa.

Sự quyến luyến rất có hại cho người chết, nhất là những người chết bất đắc kỳ tử, họ c̣n nhiều dục vọng, ham muốn nên cứ quanh quẩn ở cơi trần, không chịu đi đâu hết.

- Số phận trẻ em khi chết ra sao?

- Chúng ít ham muốn, dục vọng nên thảnh thơi, tự tại hơn. Lúc đầu chúng vẫn quanh quẩn, nô đùa quanh cha mẹ và không ư thức sự chết của ḿnh. Chúng tái sinh rất mau lẹ và thường hay trở lại gia đ́nh cũ v́ các nhân duyên từ trước. Thí dụ như một bà mẹ xẩy thai do sự bất cẩn của bác sĩ chẳng hạn. Đứa bé vẫn tiếp tục quanh quẩn bên mẹ chúng và sẽ đầu thai trở lại khi có dịp. Trong trường hợp phá thai lại khác, đứa bé không hiểu tại sao mẹ chúng lại ghét chúng và làm hại chúng như thế? Nó quanh quẩn gần đó một cách rất đáng thương và t́m cách hỏi mẹ chúng nhưng dĩ nhiên không t́m được câu trả lời.

- Người Á Châu thường tin rằng các vong linh thân nhân có thể giúp đở người sống và có các quyền năng đặc biệt do đó, có tục lệ thờ cúng tổ tiên. Theo ông th́ điều này ra sao? Bác sĩ Bandyo cười lớn:

- Theo sự hiểu biết của tôi, con người khi sống ra sao th́ chết cũng thế thôi, không có ǵ thay đổi hết. Họ không thông minh hơn, hiểu biết hơn. Hơn nữa, âm dương cách trở, họ khó có thể giúp ǵ cho người cơi trần. Dĩ nhiên, họ rất muốn tiếp xúc với thân nhân c̣n sống nhưng người sống đâu ư thức ǵ đến sự hiện diện của họ. Đó cũng là lư do người chết rất đau khổ. Hơn nữa, người chết đọc được tư tưởng người sống qua thể vía và đôi lúc biết rơ sự thật c̣n làm họ đau khổ hơn nữa. Thử tưởng tượng cha mẹ đọc được tư tưởng đứa con mừng rỡ khi cha mẹ chết v́ được hưởng gia tài. Người chồng mừng rỡ v́ vợ chết từ nay tha hồ tự do, muốn làm ǵ th́ làm. Người chồng thấy vợ mừng chồng chết v́ đă trút được gánh nặng. Các ông nên biết, người đau khổ nhiều phần lớn là người chết chứ không phải người sống, do đó, họ cần an ủi, chỉ dẫn.

- Nhưng làm sao an ủi họ được? Ông vừa nói âm dương cách trở kia mà.

Bác sĩ Bandyo mỉm cười:

- Có nhiều cách giúp đỡ người chết, một cách tiêu cực và một cách tích cực. Đối với thân nhân người chết họ có thể làm một cách tiêu cực như giúp cho người chết thấy thoải mái, nhẹ nhàng để họ mau siêu thoát. Việc thứ nhất nên tránh than khóc, kêu gào, để người chết khỏi xúc động, thương tiếc và quyến luyến khó rời cơi trần đuợc. Việc thứ hai là tránh cỗ bàn, mổ gà, làm thịt v́ như thế chỉ kêu gọi các vong linh bất hảo, các cô hồn đói khát kéo đến đầy nhà gây ảnh hưởng xấu đến người chết. Nên cầu nguyện trong suốt 49 ngày liền v́ đây là lúc người chết đang ở trong trạng thái quan trọng, sự cầu nguyện khiến đầu óc họ trở nên sáng suốt, hiểu biết dễ siêu thoát. Nên thiêu xác thay v́ chôn cất để người chết không thấy đau khổ khi nh́n thể xác ḿnh hư thúi, bị ḍi bọ đục khoét, khi không c̣n lưu luyến thể xác họ dễ siêu thoát hơn. Tại Ấn Độ, tất cả người chết đều được hỏa táng, đó là phong tục rất tốt v́ không c̣n các vong hồn quanh quẩn các nghĩa địa nữa.

Việc tích cực giúp đỡ thường do các tu sĩ đảm trách, họ xuất vía sang cơi chết để an ủi, hướng dẫn vong linh. Tu sĩ đảm nhiệm việc này phải phát nguyện phụng sự hoàn toàn, trải qua một thời gian huấn luyện để giữ tâm trí luôn sáng suốt v́ cơi chết có nhiều cảnh ghê rợn với các sinh vật lạ lùng, một người thiếu kiến thức, hiểu biết có thể kinh hoàng ghê rợn. Chỉ khi nào có thể tự chủ hoàn hoàn, không bị ảnh hưởng bên ngoài làm giao động, tâm hồn luôn yên tĩnh không lo âu, sợ sệt và có một t́nh thương rộng răi hoàn toàn đến tất cả, không c̣n phân biệt th́ sự giúp đỡ mới kín đáo, vô tư và có hiệu quả. Các ông nên nhớ, qua cơi này, sinh vật có thể đọc được tư tưởng lẫn nhau nên một lời nói không chân thật, tinh khiết có thể mang đến các hậu quả không thể lường trước.

- Tại sao ông biết rơ như thế?

Bác sĩ Bandyo mỉm cười:

- Tại v́ tôi đang được huấn luyện để làm việc này. Sự khai mở thần nhăn giúp tôi thu tập kiến thức về cơi giới vô h́nh và từ đó, tôi nhận thức sứ mạng Đức Mẹ đă giao cho tôi. Tôi đă phát nguyện dành trọn đời để thực hiện thiên ư, đó là lư do tôi từ bỏ đời sống quay cuồng của đô thị để đến đây. Ban ngày, tôi là một bác sĩ chăm lo săn sóc những người bệnh. Thời giờ c̣n lại tôi phục vụ Đức Mẹ qua các công việc ngài giao phó. Các bạn thân mến, trọn cuộc đời, chưa lúc nào tôi sống thật trọn vẹn như bây giờ.


 

Chương 6: Vị Đạo Sĩ Có Thể Chữa Mọi Thứ Bệnh

Ram Gopal Mukundar là một đạo sĩ nổi tiếng có thể chữa trị mọi bệnh tật. Ông thành lập một đạo viện (Ashram) ở ngoại ô Rishikesh và có khá đông môn đệ.

Qua sự giới thiệu của bác sĩ Kavir, ông bằng ḷng tiếp xúc với phái đoàn. Ram Gopal có một thân thể cực kỳ tráng kiện trông như một lực sĩ, bước đi của ông vững chắc và uyển chuyển như một mănh hổ. Giọng nói của ông hùng tráng như một tiếng cồng. Hàng ngày, ông dành riêng một thời gian để tiếp xúc với bệnh nhân. Ông yêu cầu phái đoàn ngồi đó xem ông trị bệnh. Bệnh nhân gồm đủ hạng người, từ các bậc thượng lưu, quư phái ngồi trên kiệu đến các loại b́nh dân nghèo đói, lê lết. Họ mang đủ thứ bệnh từ các loại bất trị như ung thư, cùi hủi đến các chứng đau tim, phong thấp, tiểu đường v. v...

Một bệnh nhân ăn mặc sang trọng, khuôn mặt tái nhợt cho biết y là một phú ông giàu có tại Madras bị đau tim đă đến thời kỳ trầm trọng. Bác sĩ cho biết nếu lên cơn một lần nữa chắc chắn y không thể sống.

Ram Gopal yên lặng nghe bệnh nhân kể lể rồi cho biết:

- Hơi thở của ông bị đứt quảng nhiều, tôi nghĩ cơn đau tim sẽ tái phát trong một thời gian không lâu nữa.

Bệnh nhân xanh mặt quỳ mọp xin cứu mạng. Ram Gopal thong thả cho biết:

- Ông có thể sống thêm nhiều năm nữa nếu chịu khó điều trị. Chắc hẳn ông đă biết cách trị bệnh của tôi?

Bệnh nhân im lặng suy nghĩ. Ram Gopal giải thích cho phái đoàn:

- Bệnh tật là kết quả của những ǵ trái với thiên nhiên. Sống thuận theo thiên nhiên không thể có bệnh. Con người bẩm sinh đều khỏe mạnh, họ mắc bệnh v́ các thói quen, các lối sống không hợp tự nhiên rồi theo thời gian tiêm nhiễm vào cơ thể làm suy nhược. Khi bệnh mới phát ra, con người ỷ lại vào thuốc men các phát minh khoa học. Tiếc thay, lối này chỉ có thể tạm thời cầm giữ bệnh tật cho nó không phát lên chứ không trừ tuyệt căn. Y khoa Tây Phương chỉ ngăn chặn bệnh tật không làm nguy đến tính mạng được một thời gian rồi sau đó cũng bó tay.

Muốn trừ bệnh hoàn toàn chỉ có một cách duy nhất là cương quyết trừ tuyệt gốc và người duy nhất có thể chữa được là “chính ḿnh” mà thôi, ngoài ra không có ai khác. Một khi bệnh nhân ư thức được điều này, nhất định theo đuổi cách trị đến cùng th́ hầu như bệnh ǵ cũng có thể chữa khỏi.

Giáo sư Mortimer lên tiếng:

- Xin ông giải thích rơ ràng hơn nữa.

- Cách chữa cũng rất giản dị, việc đầu tiên bệnh nhân phải làm là quyết định xem có theo phương pháp này được không? Nếu nhất quyết th́ y lập tức từ bỏ tức khắc tất cả gia tài, sự nghiệp, hoàn cảnh gia đ́nh bên ngoài để gia nhập đạo viện cho đến khi hết bệnh.

- Ông muốn nói y phải trở nên một tu sĩ hay sao?

Ram Gopal bật cười:

- Không phải thế, đây không phải là một đạo viện có tính cách tôn giáo. Tôi không bao giờ bắt buộc ai phải học giáo lư, tin tưởng một giáo điều, nghi thức hay sùng kính một đấng vô h́nh nào hết. Đạo viện (Ashram) này chỉ có mục đích chữa bệnh. Điều tôi muốn thực hiện là để bệnh nhân phải rời bỏ cái nếp sống cũ, cái hoàn cảnh, nguyên nhân đă khiến y mắc phải căn bệnh đó. Lo nghĩ, phiền năo, dinh dưỡng không đúng cách là nguyên nhân chính của hầu hết các thứ bệnh. Phải dẹp bỏ, dứt sạch tất cả cho tâm hồn thật thảnh thơi, thoải mái rồi mới có thể chữa trị được. Đó là điều kiện quan trọng nhất của phương pháp này.

- Nhưng việc ǵ phải từ bỏ tất cả, đi dưỡng bệnh một nơi xa cũng có hiệu quả tương tự vậy.

Ram Gopal bật cười:

- Điều này không thể chữa tận gốc được, hoàn cảnh tuy có khác nhưng đầu óc bệnh nhân vẫn c̣n cố chấp, suy nghĩ, lo lắng th́ làm sao dứt được phiền năo? Chỉ có hoàn toàn dứt bỏ, để đầu óc không c̣n bận tâm một chút ǵ nữa, để trở nên một con người hoàn toàn mới th́ may ra mới có thể chữa hết bệnh được.

- Từ bỏ gia tài, nhà cửa, gia đ́nh đâu phải dễ dàng, mấy ai đă làm được như thế? Nói th́ thật giản dị nhưng nó là cả một vấn đề...

- Này ông bạn, nếu chết ông có mang mấy thứ đó đi theo được không? Ông cứ việc ôm chặt lấy những thứ giả tạo vật chất rồi để đau đớn dầy ṿ và cái chết quanh quẩn ám ảnh chăng? Trước sau cũng mất nó th́ thà bỏ quách đi có hơn không? Cách chữa này có thể coi như ta dă chết rồi, đă mất tất cả rồi và đi t́m cái sống trong cái chết. Nguyên lư của bệnh tật như sau: con người ch́m dắm trong danh lợi, lo quanh nghĩ quẩn, tích trữ tài sản mà quên sự vô thường ở đời. Họ chỉ thấy lợi nhỏ mà quên hại lớn. Lo làm giàu vật chất mà quên tu dưỡng tinh thần v́ thế thân thể suy đồi, tâm trí đảo điên, thần trí bất nhất lại thêm tửu sắc quá độ, hỉ nộ bất thường, dinh dưỡng coi thường, bệnh tật do đó sinh ra.

Khi bệnh c̣n nhẹ, ta không để ư chữa trị đến khi nó phát ra đe dọa trực tiếp vào đời sống, ta mới hoảng hốt tin tưởng vào các phát minh khoa học chữa trị. Thuốc men chỉ tạm thời ngăn chặn khiến cho bệnh chậm tái phát, kéo dài thêm cuộc sống để ta tiếp tục đắm ch́m trong dục vọng, phiền toái một thời gian nữa. Đến khi thuốc men trở nên vô hiệu, bệnh tái phát thật mạnh th́ khoa học bó tay và con người chấp nhận sự phải đến sẽ đến và coi như đó là số mạng. Đây là một lầm lẫn rất lớn mà ít ai để ư. Nguyên chính các bệnh là do sự bận rộn với đời sống hàng ngày, nếp sống càng tiện nghi th́ họ lại càng hết sức lao tâm, lao lực để đạt đến cái tiện nghi hơn nữa. Thêm vào ḷng tham lam muốn chiếm đoạt, đua tranh để thỏa măn cái dục vọng nhất thời khiến cơ thể trở nên mất quân b́nh, phá hoại cơ quan thần kinh. Cơ quan nầy là đầu mối của mọi thứ bệnh nên theo thời gian, bệnh từ từ ngấm vào tạng phủ khiến con người càng ngày càng lệch lạc, sống ngược với thiên nhiên, mất đi sự an lạc sẵn có, nói một cách khác họ mất đi chính ḿnh.

Sự xả ly, dứt bỏ tất cả là bước đầu để trở lại cái tinh thần nguyên thủy, nó là điều kiện cần thiết để dứt căn bệnh trầm kha của loài người. Có thế đầu óc mới lấy lại sự thăng bằng để họ có thể điều trị...

- Nhưng bệnh tật có nhiều nguyên nhân chứ, ông nghĩ sao về các bệnh do vi trùng gây ra?

Ram Gopal lắc đầu:

- Trong người khỏe mạnh, vi trùng xâm nhập thế nào được? Người sống theo thiên nhiên không thể có bệnh. Vi trùng th́ chỗ nào chả có nhưng đâu phải ai cũng mắc bệnh như nhau. Nếu vi trùng là nguyên nhân chính th́ tại sao có kẻ mắc bệnh và có người lại không mắc bệnh? Ngay cả những lúc có bệnh thời khí khiến hàng trăm, hàng ngàn người lăn ra chết nhưng vẫn có những kẻ sống sót đấy chứ, tóm lại, thân thể khỏe mạnh có thể chống mọi thứ bệnh.

Ngay lúc đó bệnh nhân ngửng mặt nói vài câu, Ram Gopal lắc đầu và quay sang phái đoàn cho biết:

- Bệnh nhân này muốn trở về nhà thu xếp công việc khoảng vài tháng đến một năm rồi sau đó mới đến đây chữa bệnh. Lúc này đang là mùa dệt sợi mà y lại là chủ nhân nhiều hăng dệt. Tôi cho y biết không chịu chữa trị y khó ḷng sống qua một tháng nữa.


Giáo sư Allen kêu lên:

- Nhưng nếu bắt từ bỏ tất cả ngay th́ làm sao y có thể thu xếp kịp?

- Chữa bệnh không phải việc đi chơi. Tôi quan sát thần sắc bệnh nhân rất kỹ và thấy y khó sống lắm rồi. Nếu y mê muội trở về lo thu xếp công việc th́ đầu óc đă lệch lạc lại càng lo âu thêm, thế nào cũng lên cơn đau tim mà chết. Như các ông thấy điều kiện tiên quyết để chữa bệnh là trị tận gốc và đây là giây phút quyết định sự sống chết. Chỉ có y mới tự chữa lấy cho ḿnh mà thôi. Con người phải hiểu biết để đoạn tuyệt với quá khứ, không thể có lối chữa trị lưng chừng kéo dài thời gian được. Thật ra khoa học đă làm việc này, kéo dài thêm thời gian rồi bó tay. Đây không phải là lối chữa của tôi.

Bệnh nhân đắn đo suy nghĩ một lúc, y ngập ngừng nói vài câu rồi đứng lên bước vội ra khỏi cửa không dám nh́n ai. Giây phút quyết định đă trôi qua, Ram Gopal thở dài rồi gọi một bệnh nhân khác vào. Sau buổi khám bệnh, chỉ có một số chấp nhận theo lối chữa lạ lùng này và được các đệ tử của đạo sĩ đưa vào đạo viện.

Ram Gopal cho phái đoàn biết bệnh nhân chỉ được mang theo một bộ quần áo và tuyệt đối không được tiếp xúc với ai trong thời gian điều trị. Dĩ nhiên, khi hoàn tất việc chữa trị, y có thể rời nơi này theo ư muốn. Một số người sau khi vào đây không từ bỏ việc đời lại bỏ ra về và số này không phải ít.

Giáo sư Allen thắc mắc:

- Nhưng sau khi vào đây họ sẽ phải làm ǵ? Ông chữa trị ra sao?

- Như các ông đă biết, yếu tố đầu tiên là cương quyết chữa bệnh cho đến khi tuyệt căn mới thôi. Yếu tố này đ̣i hỏi việc xả ly, dứt bỏ tất cả mọi sự. Yếu tố thứ hai là tự ḿnh chữa trị lấy cho ḿnh v́ không ai có thể chữa bệnh cho ai cả. Yếu tố này đ̣i hỏi việc làm chủ các cảm giác của ḿnh để chữa bệnh. Tại đây, bệnh nhân ăn rất ít, thời gian đầu y chỉ uống nước suối và ăn cơm nhạt thôi. Phương pháp này nhằm việc tẩy uế các chất độc trong cơ thể. Một lư do quan trọng gây nên nhiều chứng bệnh là sự ăn uống bừa băi, không tiết độ. Để giúp cơ thể loại bỏ các độc tố đă nhiễm từ lâu, bệnh nhân chỉ ăn thật nhạt nghĩa là không một chút gia vị, đường hay muối nào (Ghi chú: Người Ấn ăn rất nhiều gia vị và rất mặn). Mỗi ngày, bệnh nhân chỉ ăn một lần trước buổi trưa và uống nước vài lần thôi. Uống ít nước giúp cho tim đập chậm lại v́ dung lượng nước qua tim sẽ ít đi. Tim và thận được nghĩ ngơi sẽ giúp cơ thể lấy lại quân b́nh mau chóng, đây là hai cơ quan thiết yếu giữ các vai tṛ quan trọng cho việc phục hồi sức khỏe. Ăn nhạt khiến gan và dạ dày thải bỏ các độc tố tích tụ trong đó, cứ thế trong khoảng hai tuần lễ là đa số độc tố đă bị khu trục cả. Nếu muốn các ông cứ thử ăn nhạt ít tuần lễ là thấy cơ thể đổi khác ngay.

Ngoài việc dưỡng sinh đúng cách, bệnh nhân dành trọn thời giờ tập Yoga để lấy lại quân b́nh cho cơ quan thần kinh, khối óc. Tư thế đầu phải tập là cách ngồi cho ngay ngắn, lưng thật thẳng để luồng hỏa hầu di chuyển không gặp khó khăn. Hai tay buông thơng trên đầu gối và thở thật tự nhiên không cố gắng thái quá. Trong khi tập tư thế này, không để tâm xáo động, lo nghĩ việc ǵ, phải “vô cầu, vô niệm” mới là đúng cách. Không sử dụng thần chú hay xin xỏ một đấng thần linh ǵ mà chỉ cần hết sức tự nhiên, theo thời gian bệnh sẽ từ từ thuyên giảm.

Giáo sư Mortimer thốt lên:

- Chỉ có thế thôi ư? Như vậy giản dị quá có khó ǵ đâu?

Ram Gopal thản nhiên:

- Dĩ nhiên, nhưng phải làm thật chuyên cần không gián đoạn trong suốt thời gian tại đây cho đến khi khỏi bệnh.

Mọi người nh́n nhau, họ nghĩ đạo sĩ này phải có một phương pháp ǵ ghê gớm hoặc sử dụng thuốc men ǵ đó để chữa trị chứ phương pháp ông nói thật tầm thường và có vẻ hoang đường khó tin.

Ram Gopal hiểu ư:

- Khi trở về với chính ḿnh, với con người nguyên thủy, ḥa hợp với thiên nhiên th́ bệnh tật và sức khỏe chỉ là những ǵ tương đối, không c̣n tranh chấp nữa. Con người thật của ta vốn sẵn có kia mà việc ǵ phải g̣ bó, khó khăn mới t́m được. Khi dứt bỏ tất cả, ta trút được một gánh nặng ở tâm hồn. Khi ăn uống đúng cách, ta loại bỏ yếu tố gây nên bệnh tật và cách tập yoga giúp ta lấy lại quân b́nh nguyên thủy, trở về với con người thật của ḿnh như thế là “tự ḿnh chữa cho ḿnh” không ỷ lại vào một tha lực hay một yếu tố bên ngoài nào hết.

- Nhưng ngoài ra c̣n phải uống thuốc men ǵ nữa chứ?

Ram Gopal lắc đầu:

- Phương pháp này không sử dụng thuốc men ǵ cả, đó là một phương pháp hết sức tự nhiên và khoa học. Dĩ nhiên, nếu ông chở đến một người bệnh sắp chết hay một kẻ gẫy chân, gẫy tay th́ tôi không thể chữa như thế được. Nói khác đi nếu một kẻ mắc bệnh thời khí hay các bệnh thông thường th́ họ đă đi kiếm các bác sĩ chữa trị chứ việc ǵ phải đến đây? Hầu hết các bệnh nhân đến tận rừng hoang núi thẳm này chỉ là những kẻ đă tuyệt vọng hoặc gặp các chứng nan y mà y sĩ đă bó tay. Các ông nên biết cơ thể con người có khả năng làm hồi phục rất mầu nhiệm. Sở dĩ cơ thể suy yếu, bệnh hoạn v́ họ sống không tự nhiên có thế thôi. Sống tự nhiên không những giúp thể xác kháng kiện mà c̣n mục đích tối hậu đó là sự dẹp bỏ cái “phàm ngă” trở về cái “chân ngă” của ḿnh. Khi từ bỏ được bản ngă thấp hèn th́ ta ung dung, tự tại, thảnh thơi, tiêu diêu cùng trời đất, thiên nhiên c̣n lo lắng chi nữa? Trên lư thuyết th́ thật dễ dàng nhưng thực hành lại là cả một vấn đề. Con người quen sống bừa băi, nô lệ dục vọng, xác thân quá lâu, đến nổi sinh bệnh rồi, muốn cởi bỏ tất cả đâu có dễ. Quen ăn ngon, mặc đẹp bây giờ ăn vài nắm cơm nhạt, uống vài gáo nước suối đâu phải ai cũng làm được ngay lập tức. Khốn nỗi muốn trừ tận gốc phải uống thuốc đắng và thuốc đắng chính là lối sống tự nhiên này.

- Nhưng đă có những bằng chứng ǵ về phương pháp này? Làm sao biết được nhờ thực hành như vậy mà bệnh nhân khỏi bệnh, kéo dài đời sống?

Ram Gopal không tỏ vẻ giận dữ về câu nói bất kính:

- Tôi có hơn ba ngàn môn đệ, tất cả đều là người mắc bệnh nan y sống tại đây. Đa số đă bị các bệnh viện từ chối v́ không chữa được nữa. Họ vẫn sống nhiều năm nay, hàng ngày cả trăm người đến xin gia nhập đạo viện và chỉ một thiểu số cương quyết mới được chấp nhận. Đă thế, nhiều người không qua kỳ thử thách cũng bỏ đi rất nhiều nhưng trong số những người ở lại, tất cả đều hết bệnh, tuyệt căn. Các ông nên nhớ tôi không nhận một thù lao hay đ̣i hỏi một ân huệ ǵ, tôi cũng không tự xưng một danh vọng, chức tước nào hết. Đời sống ở đây hoàn toàn tự túc và kẻ khỏe mạnh phải lo trồng tỉa, gặt hái thực phẩm. Quy luật đạo viện không nhận tặng vật dù bất cứ thứ ǵ, nhiều kẻ tỏ ư muốn dâng tài sản, sự nhgiệp khi đến đây với hy vọng sẽ được đối xử đặc biệt. Tôi yêu cầu một khi đă dứt bỏ tất cả th́ hăy bố thí cho gười nghèo hoặc để lại cho con cháu, thân nhân rồi đến đây với bộ quần áo trên người. Dù bệnh nhân là Tiểu Vương hay kẻ hành khất tôi cũng coi như nhau, mục đích của họ là chữa bệnh và chỉ có họ mới có thể chữa cho ḿnh. Đạo viện thành lập ra chỉ để thực hành việc chữa bệnh mà thôi chứ không phải một nơi giam cầm hay có tính cách tôn giáo. Muốn gia nhập phải tuân theo các điều kiện nhưng muốn rời đây th́ tùy ư, không hề có sự ngăn cản.

Nhưng ông có dạy các phương pháp yoga?

- Đúng thế, nhưng Yoga là một khoa học, không phải tôn giáo như nhiều người đă hiểu lầm. Ngoài ra tôi chủ trương một lối tu thân cho những người muốn vào cửa đạo nhưng đây cũng không phải là một tôn giáo.

- Xin ông vui ḷng giải thích phương pháp tu hành này.

Ram Gopal mỉm cười:

- Như các ông thấy, phương pháp dưỡng sinh và tập Yoga có thể giúp con người vượt qua các bệnh tật. Cũng như thế, phương pháp tu thân sẽ giúp con người vượt qua các trở ngại để tiến vào cửa đạo. Có rất nhiều phương pháp tu hành tùy theo quan niện cá nhân, hoàn cảnh xă hội chung quanh, tôn giáo... nhưng tất cả đều nhằm một mục đích chung là giải thoát. Tôi không quan niệm một phương pháp nào mà để mỗi cá nhân tùy theo sở thích lựa chọn. Tôi chỉ khuyên họ nên sáng suốt kiểm soát cách thức tu hành để tránh các sai lầm thông thường.

Như các ông thấy, trên các con tầu lướt sóng ngoài biển khơi bao la, cứ khoảng nửa giờ, vị thuyền trưởng phải nh́n vào bản đồ, xem địa bàn, đo phương hướng để xác định vị trí con tàu. Biết ḿnh ở đâu và đi đến đâu là câu hỏi quan trọng của mọi người trên đường đạo. Công việc tu hành cũng thế, người tu lúc nào cũng phải luôn luôn tự hỏi về ḿnh để kịp thời sửa sai các lỗi lầm thông thường v́ sai một ly đi một dặm. Khi con tàu rời bến, một lỗi lầm nhỏ từ khởi điểm có thể làm con tàu đi xa mục tiêu vài chục hải lư. Đường tu cũng thế, một ư niệm sai lầm có thể khiến ta đi vào tà đạo lúc nào không hay.

Phương pháp tại đạo viện đây không chú trọng đến h́nh thức mà chỉ nhằm kiểm soát thường xuyên quan niệm của người tu đối với bản thân ḿnh, với mọi người chung quanh. Phải tự xét ḿnh, kiểm soát tư tưởng của ḿnh từng ngày, từng giờ, rồi suy ngẫm về bản ngă, chân ngă. Kinh Veda đă dạy: “Ta không phải là xác thân vật chất này mà là một linh hồn cao quư, trường tồn, một điểm linh quang của Thượng Đế.” Nói một cách khác, con người là một linh hồn bất diệt c̣n thể xác chỉ là một dụng cụ thô sơ, tạm thời. Người hiểu đạo là người ân cần lo lắng cho linh hồn hơn là cái xác thân tạm bợ. Chân lư này giúp cho người tu tránh các tội ác, các phiền năo v́ đa số người đời đều lầm tưởng ḿnh là xác thân nên lo lắng, chiều chuộng nó đủ điều. Để cho xác thân được sung sướng họ đă không ngần ngại giết nhau, làm hại nhau, lừa bịp lẫn nhau, tóm lại tất cả những ǵ xấu xa, tồi bại.

Nếu ư thức được chân lư này th́ ai lại c̣n vơ vét của cải, vật chất làm ǵ v́ các thứ đó đâu có ích lợi ǵ cho linh hồn. Người hiểu biết đường đạo ư thức linh hồn là ta, là người làm chủ, c̣n xác thân chỉ là con ngựa để ta cưỡi đi trên đường. Người chưa hiểu biết nhận ḿnh làm con ngựa và cố gắng thỏa măn các nhu cầu của họ. Họ không ư thức ḿnh là tay kỵ mă kiêu hùng bất diệt mà cam chịu thân phận con vật yếu hèn chịu sự chi phối của thời gian và không gian. Căn bản đầu tiên của người đi trên đường đạo là ư thức ḿnh, duyệt xét đường đi của ḿnh để t́m một lối tu thân hợp lư.

Kinh Veda lại dạy rằng: “Ta và người tuy bề ngoài khác biệt nhưng thực sự bên trong lại như nhau, bởi tất cả đều cùng chung một nguồn gốc mà ra.” Chân lư này cho thấy chúng ta đều là hoa lá trái của một cái cây, cùng chung một gốc, bề ngoài tuy khác nhưng bề trong tất cả đều là con của Thượng Đế.

Nếu ư thức được chân lư này th́ ai lại c̣n giận hờn, oán thù, ghen ghét nhau. Có khi nào tay mặt lại cầm dao chém tay trái, có khi nào anh em lại thù nghịch hăm hại lẫn nhau. Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hóa khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta đâu? Suy luận rằng “vạn vật đồng nhất thể” ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác v́ họ không hiểu biết, không ư thức hành động của ḿnh, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu. Khi hiểu rằng “nhất bổn tám vạn thù” ta nh́n vạn vật như chính ḿnh, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch và ư thức rằng mội vật đều có sự sống, đều có Thượng Đế ngự ở trong. Ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng ḷng thương đến muôn loài.

Người tu là người sống thuận ḥa với ḿnh và mọi người, sống an lạc với vạn vật trong vũ trụ, sống ḥa hợp với thiên nhiên một cách ung dung tự tại. Đó là con đường tu đứng đắn nhất theo sự hiểu biết của tôi.

Ram Gopal nh́n mọi người rồi mỉm cười:

- Nếu chúng ta tu một thời gian mà thấy ḷng không vui vẻ, phấn khởi, gương mặt không thoải mái, cử chỉ không dịu dàng, lời nói không ôn tồn, tâm hồn không thương mến th́ chắc là ta đă không sống thuận lẽ đạo. Có lẽ ta đă đi vào tà đạo lúc nào mà không hay. Khi tu hành mà tâm thần rối loạn, thần trí đảo điên, tham lam, sân hận, oán thù th́ đó là triệu chứng đă đi lạc đường rồi. Nếu biết thế phải lập tức kiểm điểm lại phương pháp tu hành để sửa đổi và quyết tâm trở lại khởi điểm để bắt đầu lại con đường đạo. Nếu không làm như thế th́ vô phương cứu chữa, cũng như bệnh đă nhập tâm mà c̣n mê say luyến tiếc vật chất, không cương quyết dứt bỏ th́ làm sao c̣n chữa trị được.

Này các bạn, giáo lư nào cũng dạy phải thương yêu, tha thứ và giúp đỡ đồng loại nhưng tại sao xă hội lại không như vậy? Tại sao giữa cái tri và hành lại có sự trái ngược? Phải chăng ḷng con người c̣n ham mê vật chất, tuy nghe điều hay lẽ thiệt nhưng ta vẫn để đó, tiếp tục làm các điều càn rỡ. Người bệnh cũng thế, khi mới mắc bệnh không lo chạy chữa mà chờ khi mạng sống bị đe dọa mới cuống lên thuốc ǵ cũng uống, ai nói ǵ cũng làm, cố sao kéo dài đời sống. Tại sao lại có các điểm tương đồng như thế?

Khoa học công nhận rằng ăn uống điều độ có thể tránh bệnh tật nhưng biết rồi để đó chứ có mấy ai theo? H́nh như chúng ta vẫn thèm miếng ngon, vật lạ dù biết nó là chất độc. Nếu chúng ta chấp nhận tất cả đều là con Thượng Đế tại sao ta vẫn đâm chém, làm hại lẫn nhau? Nếu chúng ta chấp nhận các loài cầm thú là đàn em bé bỏng th́ ta phải tránh sát sinh chứ. Tại sao ta vẫn giết hại “đàn em” qua các bữa ăn thịnh soạn? Phải chăng miếng ăn, vị béo đă làm ta quên hết rồi?

Vấn đề của cải cũng thế, ta biết chúng chỉ là vật tạm bợ, vô thường khi chết nào có mang theo được nhưng thực tế, hễ đâu có của cải là đó có tranh chấp lẫn nhau. Hăy nh́n đàn gà trong sân, chúng đang vui vẻ nô đùa nhưng hễ có ném cho nắm thóc là có xô xát ngay. Hăy nh́n bầy chó cùng cha, cùng mẹ âu yếm liếm nhau kia nhưng chủ ném cho cục xương là cắn nhau tức th́. Loài người thông minh hơn loài vật nhưng của cải, danh vọng, vật chất đă làm họ bất ḥa có khác chi loài thú?

Từ mấy ngàn năm nay, con người luôn được hướng dẫn bởi các chân lư cao đẹp. Tôn giáo nào cũng dạy những điều thật tốt lành nhưng tại sao vẫn không thấy có sự tiến bộ mấy? Phải chăng chúng ta chỉ nói chân lư ở đầu môi, chót lưỡi? Ta đến các thánh đường tôn nghiêm với y phục sang trọng nhất, các lễ vật đẹp đẽ nhất, đọc thuộc ḷng các lời răn chân chính nhất nhưng chúng ta vẫn làm các điều xấu xa, bỉ ổi nhất. Có bao giờ các ông nghĩ về những điều này không?

Mọi người im lặng nh́n nhau không ai thốt lên lời nào, Ram Gopal mỉm cười:

- Hăy dở Thánh Kinh mà xem, đức Jesus đă dạy: “Các người đừng quá lo về y phục hay thức ăn. Đời sống không quư báu hơn thức ăn và thân thể không quư báu hơn y phục hay sao? Các người hăy nh́n loài chim bay trên trời, chúng không hề gieo cũng không hề gặt, không chứa chấp thực phẩm trong bồ nhưng cha của các ngươi trên trời vẫn lo cho chúng chu đáo. Các ngươi không quư hơn chim muông hay sao?” Lời dạy thật rơ ràng, giản dị và chắc chắn các ông đă nghe nói qua nhiều lần rồi nhưng có lẽ không mấy người hoàn toàn tin tưởng nên thế giới mới có những cảnh chém giết v́ miếng ăn, manh áo.

Một lần nữa, phái đoàn lại ngạc nhiên v́ một tu sĩ Ấn Độ sống nơi hoang vu, hẻo lánh dưới chân núi Tuyết Sơn lại trích dẫn Thánh Kinh một cách rành mạch cho thính giả người Âu.

Ram Gopal im lặng như suy nghĩ một điều ǵ sau cùng ông lên tiếng:

- V́ biết rằng của cải, vật chất là nguồn gốc của tội lỗi, cám dỗ nên tại đạo viện này mọi người chỉ được giữ một bộ quần áo trên ḿnh và phải đoạn tuyệt với vật chất hoàn toàn. C̣n lo giữ của tức là c̣n lo mất, quyến luyến vật chất như vậy th́ làm sao giải thoát được. Giữ tiền bạc, của cải hay danh vọng có thể ví như đeo gông vào người rồi nhẩy xuống sông, chắc chắn sẽ ch́m chứ làm sao bơi lội cho được. Phải như thế không các bạn?

Giáo sư Mortimer lên tiếng:

- Ông nói cũng có lư nhưng không hẳn tôn giáo nào cũng lánh xa của cải, vật chất. Đôi lúc họ cần những thứ này để làm các công việc như mua thực phẩm, xây cất thánh đường v. v... Tiền bạc có công dụng riêng của nó.

Ram Gopal gật đầu:

- Sử dụng tiền bạc đúng cách là một vấn đề c̣n để nó cám dỗ lại là một vấn đề khác. Chính đức Jesus đă dạy: “Kẻ giàu có tu hành chẳng khác con lạc đà chui qua lỗ kim, một người không thể thờ hai vua, hoặc ngươi thờ Chúa hay thờ tiền bạc.” Một người tu hành chân chính không thể nô lệ bạc tiền dưới bất cứ một h́nh thức nào. Các ông chắc thắc mắc tại sao tôi cương quyết chủ thương tuyệt sở hữu, gặp nhau hôm nay cũng là một nhân duyên tôi xin kể một câu chuyện để các ông hiểu tại sao con đường tu hành cho rằng tiền bạc, vật chất là trở lực lớn cho người tu. Câu chuyện như sau:

Một đệ tử quyết tâm cầu đạo, xin học với một vị đạo sư. Sau thời gian học hành chăm chỉ, một hôm sư phụ có việc phải đi xa nên dặn học tṛ ở lại chăm lo tu hành. Học tṛ nghe theo lời thầy, thiền định sớm hôm không hề bê trễ. V́ nếp sống tu hành thanh bần, tu sĩ chỉ có độc một miếng khố che thân, nhưng chiếc khố cứ bị chuột cắn rách hoài nên vị tu sĩ cứ lâu lâu lại phải đi xin một mảnh vải che thân khác. Dân làng thấy vậy bèn biếu tu sĩ một con mèo để trừ lũ chuột.

Tu sĩ đem con mèo về nuôi, từ đó chuột không dám lộng hành nữa nhưng tu sĩ lại phải lo thêm một phần ăn. Ngoài thực phẩm chay tịnh, tu sĩ phải xin sữa để nuôi con mèo. Một ín đồ thấy vậy bèn t́nh nguyện dâng cúng tu sĩ một con ḅ cái để vắt sữa nuôi mèo. Tu sĩ vui vẻ nhận con ḅ nhưng nuôi được mèo lại không có rơm cho ḅ ăn. Do đó, ngoài đồ ăn khất thực tu sĩ lại phải đi xin rơm nuôi ḅ. Dân làng thấy vậy bèn biếu tu sĩ một mảnh đất và dụng cụ canh nông để tu sĩ trồng rau, nuôi ḅ. Tu sĩ ra công cầy cấy nên rau trổ thật nhiều, ḅ ăn hoài không hết phải mang bán ngoài chợ. Miếng đất thật mầu mỡ sinh hoa lợi quá nhiều, tu sĩ làm không xuể phải gọi người đến làm giúp. Lạ thay, miếng đất cứ thế sinh sôi nẩy nở, trồng ǵ cũng tươi tốt và chả mấy chốc trở nên một đồn điền trù phú. Tu sĩ có nhiều hoa lợi bèn xây một đền thờ to lớn, đẹp dẽ, thuê thợ khắc tượng, đúc chuông thật vĩ đại nhưng thời gian tu hành không c̣n là bao v́ tu sĩ phải lo trông nom đồn điền, lo sổ sách giao dịch buôn bán, kiểm soát nhân công trồng tỉa và rồi có tiền bạc phải lo đầu tư, bỏ vốn mua thêm đất đai, khai khẩn thêm nữa.

Một hôm, sư phụ trở về không trông thấy túp lều đơn sơ nữa mà thay vào đó là một ngôi đền tráng lệ, nô nức khách hành hương, trong đền ồn ào những tín đồ vừa cúng bái vừa buôn bán. Trông thấy sư phụ, tu sĩ mừng rỡ chạy ra chào. Sư phụ ôn tồn hỏi tạo sao lại có sự thay đổi như thế. Tu sĩ trả lời: “Thưa thầy thật tâm con muốn tu hành nhưng tại lũ chuột cứ cắn rách áo hoài. Để bảo vệ cái áo con nuôi mèo. Để có sữa cho mèo ăn, con phải nuôi ḅ và để có rau nuôi ḅ con phải trồng rau. Rồi th́ trúng mùa liên tiếp, sức con làm không xuể nên phải gọi thêm người làm giúp rồi th́ buôn bán thành công, tiền bạc nhiều không xuể. Con phải đích thân trông nom mọi việc. Sau đó con cho xây cất đền thờ to tát, đúc tượng thật vĩ đại, con c̣n mướn người lo việc cúng vái, nhang đèn cẩn thận.”

Sư phụ thở dài: “Xây cất đền thờ thật to chỉ là trói buộc, nào phải giải thoát. Tụ tập tín đồ cho đông, ồn ào phức tạp chỉ gây trở ngại cho việc thanh tu. Chỉ v́ một cái khố rách mà con đă đi thật xa, xa hẳn con đường mà ta đă chỉ dạy nhằm việc giải thoát. Con chỉ lầm lẫn một chút mà đă đi lệch lúc nào không hay, trói buộc vào các thứ đó rồi làm sao có thể thoát được?”

Ram Gopal yên lặng như đắm ch́m vào quá khứ, một lúc sau ông nói thật khẽ:

- Các ông thấy câu chuyện thật khôi hài không? Nhưng đó là chuyện thật, v́ tôi chính là vị tu sĩ trẻ đó. Sau khi nghe thầy nói xong, tôi tỉnh ngộ và hiểu con đường tu hành giải thoát chân chính là thế nào. Tôi lập tức rời bỏ tất cả để theo thầy lên Tuyết Sơn học đạo. Suốt mấy chục năm tu hành tinh tấn, sư phụ mới sai tôi đến đây thành lập đạo viện này để chữa bệnh và chỉ dạy đệ tử phương pháp tu thân. V́ kinh nghiệm quá khứ, tôi cương quyết chủ trương kẻ đă tu hành phải tuyệt sở hữu và lúc nào cũng phải tự ḿnh kiểm thảo hàng giờ, hàng phút v́ sai một ly là đi một dậm.

Mọi người ngồi yên tưởng tượng ra cảnh một đạo sĩ trẻ tuổi trước sự cám dỗ của thành công vật chất, giáo sư Mortimer lên tiếng:
 

1lyhuonga.jpg






6.

 

- Theo ông th́ ngoài vấn đề vật chất, người tu c̣n gặp những khó khăn ǵ nữa? Từ bỏ vật chất có đem lại giải thoát không?

- Bất cứ một sự cởi bỏ nào cũng làm nhẹ gánh chứ, vật chất là một nô bộc tốt nhưng là một chủ nhân rất xấu. Nhiều người tu vô t́nh quá chú trọng đến tiền bạc mà quên rằng đồng tiền có hai mặt. Nhiều người cho rằng sử dụng vật chất là để phát huy tôn giáo, giúp đỡ các tín đồ có nơi tu học. Dĩ nhiên, mục đích rất tốt đẹp nhưng nếu quá chú trọng vào các h́nh tướng sẽ đưa đến sự xao lăng vấn đề tinh thần. Một tu sĩ cần phải ư thức rằng ḿnh vẫn là kẻ đang đi trên đường, đang cố gắng t́m kiếm chân lư ḥng giải thoát chứ chưa đi trọn con đường mà đ̣i làm những việc to lớn. Họ chỉ nên làm việc một cách nhiệt thành nhưng không nên làm nô lệ cho những công việc này. Một trở ngại lớn trên đường đạo là sự thiếu nhiệt thành, đa số chúng ta đều quen buông thả, do dự, không đủ cương quyết nên sẽ phải trải qua những kinh nghiệm chua cay, khổ sở để học hỏi các bài học quư giá này. Tất cả chúng ta vẫn đồng ư rằng cuộc đời là ảo mộng, phù du, vô thường, giả tạo chỉ có con đường tu hành mới là giải thoát thế nhưng tại sao chúng ta vẫn chạy theo vật chất, chả chịu tu tâm dưỡng tánh?

Giáo sư Mortimer phản đối:

- Người tu hành và kẻ thường khác nhau nhiều chứ, chúng tôi c̣n phải lo sinh kế, kiếm ăn...

Ram Gopal mỉm cười:

- Một ngày có 24 giờ, có lư nào v́ sinh kế mà các ông phải dành trọn để lo việc kiếm ăn. Tại đạo viện này, mọi người chỉ bỏ ra một giờ để trồng trọt các thực phẩm mà vẫn đủ kia mà. Ta dư ăn th́ lại muốn ăn ngon, đủ sống th́ lại muốn sống cho sang giàu, được giàu sang lại muốn hơn thế nữa, rồi ta lại ngụy biện rằng phải lo kiếm ăn, sinh kế có phải thế không? Người Âu Mỹ hoạt động không ngừng, coi sự làm việc là nguồn vui do đó mới sinh lắm bệnh tật, phiền năo, thần kinh suy nhược v́ nhu cầu tâm linh không thỏa măn. Tại sao ta không hoạt động như thế cho nhu cầu tâm linh?

- Người âu không thể chấp nhận vấn đề làm việc cho một cái ǵ mơ hồ, cho một viễn ảnh tâm linh không thực tế.

Ram Gopal lắc đầu:

- Khi nào đời sống vật chất trở nên cực kỳ phức tạp, phiền năo th́ con người sẽ ư thức đến vấn đề tâm linh. Đă có nhiều vị tiểu vương, triệu phú từ bỏ tất cả tài sản để vào đây tu hành khi mạng sống của họ bị đe dọa bởi bệnh tật v́ họ biết không thể ôm lấy tài sản rồi chết. Sau khi từ bỏ tất cả, đầu óc thoải mái thanh thản, họ lại thấy việc trau dồi tâm linh là quư, thế là họ phát nguyện tu hành, sống một cuộc đời trong sạch, ung dung, tự tại. Nếu chỉ là miếng ăn th́ chỉ cần làm việc khoảng một giờ là đủ rồi nhưng v́ không biết an phận nên mới có các trói buộc vào vật chất, không lối thoát. Các ông cho rằng tu hành chỉ cần ăn mặc đẹp đẽ, đi đến các đền thờ dâng cúng phẩm vật, tiền bạc, đọc vài câu kinh là đă đủ hay sao? Những cái đó chỉ là h́nh tướng bên ngoài, không có nghĩa chi hết. Ngay cả việc trở nên một tu sĩ mà không chịu tu thân, trau dồi tâm linh cũng vô ích thôi v́ các phiền muộn, đau khổ vẫn c̣n kia mà.

- Như thế th́ thế nào mới là tu hành thật sự?

- Bước vào con đường đạo là tự sửa ḿnh, thấy ǵ ác không làm, thấy ǵ thiện th́ nhất định làm cho đến cùng. Luôn luôn tự giác, kiểm thảo lấy ḿnh và quan sát, học hỏi không ngừng. Nếu các ông buôn bán, thấy có lợi các ông có dồn sức ra buôn bán nữa không? Dĩ nhiên là có th́ việc tu hành cũng thế, tại sao ta không lo cho nhu cầu tinh thần như ta đă lo cho vật chất? Tại sao ta cứ hứa hẹn nay mai sẽ sửa tánh, tu thân như người khất nợ vậy? Tu hành không phải một việc chơi mà làm một cách cẩu thả được, đó là một quyết định quan trọng vô cùng. Đừng nghĩ bộ áo có thể làm nên nhà tu, đừng nghĩ ḿnh sẽ được một đấng nào giúp đở, đó là một sự hiểu lầm tai hại. Đa số các tín đồ đều mong chờ sự giúp đở của đấng ḿnh tôn thờ. Họ cho rằng thuộc ḷng các câu kinh, thi hành vài nghi lễ, dâng cúng các phẩm vật là đă làm tṛn bổn phận và sẽ được cứu rỗi. Nếu điều này đúng th́ các bậc vua chúa đă lên Thiên Đàng hết cả v́ họ dâng cúng nhiều hơn mọi người kia mà. Tu hành đ̣i hỏi sự tận tâm, tận lực cải thiện con người của ḿnh để xứng đáng là con của Thượng Đế chứ không phải dựa vào vài h́nh thức bên ngoài. Đa số tín đồ coi việc tu như đi xe bus, muốn đến đâu chỉ việc mua vé rồi leo lên xe ngồi, ngắm cảnh vật hai bên đường, ung dung cho tài xế lái. Khi đến nơi là họ xuống xe không chút mệt nhọc ǵ hết.

Tu hành chân chính là tự ḿnh cất bước, Thiên Đàng không phải nơi mà ta có thể mua vé đến, cũng không thể mong dâng cúng vài thứ mà được các vị thần linh che chở. Giải thoát chỉ đến với sự tinh tấn riêng của từng người. Khi hiểu như thế ta cần lập tức lên đường không chậm trễ. Hăy lấy niềm tin làm bạn đồng hành tận dụng các cơ hội sẵn có để sửa ḿnh hầu giải thoát cho chính ḿnh.

Con đường tu có trăm nẻo đi, không nẻo nào giống nẻo nào nhưng tất cả đều đưa đến mục đích. Sự chọn lựa con đường hoàn toàn do cá nhân nhưng họ cần suy gẫm cẩn thận để khỏi lầm đường, lạc nẻo. Tu hành chân chính dựa trên căn bản “tự biết ḿnh” v́ trên đường đạo không có vấn đề vinh hay nhục mà chỉ có sự tiến bộ, do đó, người tu phải dẹp bỏ tự ái, ngă măn, mặc cảm, không hổ thẹn, ngă ḷng để tinh tấn tiến bước. Nếu sa ngă lại đứng dậy và tiếp tục, lúc nào cũng định hướng không để cho lầm đường, lạc lối. Những kẻ tự cao, tự đại không chịu tu thân sửa ḿnh thật đáng thương v́ họ giống như người bệnh sắp chết mà không chịu uống thuốc xả ly, dứt bỏ cho khỏi bệnh.

Ram Gopal ngừng nói, chiều xuống đă lâu chỉ c̣n vài tia nắng vương vấn trên thân thể cực kỳ lực lưỡng của vị đạo sĩ xứ Ấn. Phái đoàn yên lặng bái phục sự giải thích chân lư thật giản dị, khiêm tốn của người mà dân chúng coi là “vị đạo sĩ có thể chữa mọi thứ bệnh”.


 

Chương 7: Đời Sống Siêu Nhân Loại

Cuộc gặp gỡ những đạo sư đại diện cho nền minh triết cổ truyền xứ Ấn đă làm cho phái đoàn phấn khởi nhưng c̣n các bậc Chân Sư (Rishi), những vị này như thế nào? Tại sao một vị chân sư bí mật gửi thông điệp cho các đạo sư yêu cầu giúp đỡ phái đoàn? Đây là một dấu hỏi lớn mà mọi người hết sức thắc mắc.

Liệu chúng tôi có thể gặp các bậc chân sư không? Những vị này ở đâu? Giáo sư Mortimer đă hỏi giáo sư Kavir. Ông này cho biết có quen một đạo sĩ tu hành tên Akila Bakhtir vốn thường qua lại nhiều trong dẫy Tuyết Sơn và có kiến thức rộng về những hiền triết ẩn tu nơi đây. Phái đoàn bèn t́m đến đạo sĩ này, đó là một ông lăo gầy như hạc, vẻ mặt lúc nào cũng tươi cười.

Giáo sư Mortimer nôn nóng:

- Theo lời truyền tụng th́ ông đă có dịp tiếp xúc với các đạo sĩ Tuyết Sơn?

Đạo sĩ xác nhận:

- Đúng thế, tôi đă có dịp gặp gỡ các bậc thánh nhân đó.

- Ông tin rằng họ là những thánh nhân?

- Dĩ nhiên, không những tôi tin mà c̣n biết rơ họ là những bậc hiền giả.

- Dựa vào tiêu chuẩn nào mà ông quả quyết như vậy? Họ có biểu diễn quyền năng hay làm ǵ khác người không? Liệu có thể có những bậc siêu nhân như vậy không?

Đạo sĩ gật đầu:

- Sự có mặt trên thế gian của những bậc thánh nhân là điều hợp lư nếu ta tin các luật như Luân Hồi, Quả Báo, Tiến Hóa và Nhân Quả. Nếu quan sát, ta sẽ thấy con người đều có các tŕnh độ khác nhau. Có người kém ta rất xa, có người lại hơn ta rơ rệt. Nếu nhân loại tuần tự tiến hóa th́ trải qua nhiều kiếp sống và thời gian tất phải có những người đă tiến bộ rất xa chứ.

Theo tôi biết th́ đă có những người tiến xa hơn hàng ngũ nhân loại hiện nay, đă khai mở một vài giác quan thượng đẳng, quyền năng siêu việt mà ta gọi là bậc Thánh Nhân. Sự thực, các quyền năng này đều tiềm tàng trong mọi người chúng ta, chờ đợi cơ hội khai mở. Khi khai mở các quyền năng này, ta sẽ thấy rơ các nấc thang tiến hóa của nhân loại và nhận định rằng ở mỗi nấc thang đều đă có kẻ đạt đến. Lịch sử các quốc gia đều chứa đựng công tŕnh vĩ đại của các bậc vĩ nhân trên mọi lănh vực hoạt động. Những người này, trong phạm vi riêng biệt của họ đă vượt xa quần chúng và tầm hiểu biết của những người đương thời. Thí dụ như các bác học, các nhà tư tưởng lớn. Sự tiến hóa chẳng qua chỉ là biểu lộ của sự sống thiêng liêng, con người càng ngày càng trở nên tốt đẹp, tế nhị v́ sự sống vô cùng cần biểu lộ qua h́nh thể đó. Một bậc toàn thiện là việc tự nhiên, hợp lư do sự kết tinh đến mức tuyệt đích của một con đường tiến hóa dài và liên tục. Tất cả kinh điển mọi tôn giáo đều chứng minh sự hiện diện của các bậc siêu nhân.

Mọi tôn giáo khi thành lập đều có các bậc thánh nhân xuất hiện. Người Ấn có các thần linh như Brahma, Vishnu, Shiva hoặc các đấng cao cả như Krishna, Sancharacharya, tín đồ Phật giáo có đấng Thích Ca, đức Quan Thế Âm, tín đồ Thiên Chúa có đấng Jesus, các nhà tiên tri, các bậc thánh, các bộ lạc man dă cũng có các thần linh riêng của họ.

- Xin ông giải thích rơ hơn về sự tiến hóa này

- Luật tiến hóa vũ trụ định rằng mọi vật đều thay đổi theo thời gian để tiến trên những con đường định sẵn. Dĩ nhiên, đi nhanh hay chậm c̣n tùy cá nhân và hoàn cảnh chung quanh. Loài thảo mộc là kết tinh của loài kim thạch, loài cầm thú sau thảo mộc và loài người tiếp theo loài cầm thú. Cũng như thế, loài người có một cứu cánh nhất định, một giới hạn mà khi họ vượt qua th́ họ sẽ bước vào một giai đoạn mới. Nói một cách khác, trên loài người là đời sống Siêu Nhân Loại.

Trong mỗi con người có ba phần chính: Xác thân, linh hồn và tinh thần. Tinh thần là điểm linh quang tiềm tàng trong mọi con người mà ta gọi bằng nhiều danh từ khác nhau như Phật tính, Chân ngă, Thần tính v. v...

- Bằng chứng vào đâu mà ông đưa ra thuyết này?

- Đây không phải là một giả thuyết, trong sự tu luyện tôi ư thức được điều này. Các tôn giáo lớn cũng nói như thế. Đức Phật đă nói: “Mọi chúng sanh đều có Phật Tính”. Thánh Paul định nghĩa con người gồm ba phần: Xác (Body), Hồn (Soul) và Thần (Spirit)... Sự tiến hóa là sự trở về với Thượng Đế, trở về với con người thật của ḿnh, phát triển Phật tính của ḿnh trọn vẹn để giác ngộ. Danh từ tuy khác nhưng nội dung đều giống nhau, tôi cố gắng giải thích theo quan niệm mà người Âu có thể hiểu được, sự hợp nhất với Thượng Đế nghĩa là trở về với ngài v́ chúng ta đều là một phần của ngài.

Theo sự hiểu biết của tôi về luật tiến hóa th́ với con người, thể xác họ đă phát triển khá hoàn hảo nhưng đa số vẫn chưa chủ trị được xác thân. Một người tiến cao là người đă chủ trị được xác thân, đặt nó dưới sự kiểm soát của lư trí và linh hồn. Một người kém tiến hóa là người c̣n nhều thú tánh, chỉ lo nghĩ đến các đ̣i hỏi của thể xác như ăn uống, ngủ nghê, dục tính. Chính v́ thế họ sẽ gặp nhiều đau khổ để học lấy sự chủ trị xác thân. Thế gian là một trường học mà trong đó có yếu tố đau khổ. Sau khi chủ trị được xác thân là việc kiềm chế thể Vía. Thể Vía hay tư tưởng là điều rất khó kiểm soát, chinh phục. Ta thấy nhiều người tuy đă kiểm soát hành động của xác thân nhưng vẫn c̣n để tư tưởng chạy lung tung như ngựa bất kham, không theo một đường hướng nào nhất định. Sự định trí, bắt tư tưởng phải theo một đường lối suy nghĩ sẽ đưa ta đến sự kiểm soát thể Vía. Sau đó là sự kiểm soát thể Trí nghĩa là sử dụng trí tuệ để suy nghĩ, phân biệt, phá tan các tà kiến, các màng che phủ của vô minh. Định trí suy nghĩ là một việc nhưng suy nghĩ chân chính, đứng đắn lại là một việc khác. Chỉ khi nào cả ba thể Xác, Vía và Trí hoàn toàn được kiểm soát th́ ta sẽ ḥa hợp với Chân ngă. Từ đó, phàm nhân và Chân nhân ḥa hợp làm một và con người sẽ tiến đến một giai đoạn mới, trở nên một bậc chân tiên. Khi đó, con người bước vào một đời sống trường cửu của tinh thần, đời sống của đấng “Christ”. Đó là một đời sống huy hoàng, tốt đẹp, vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta và không thể diễn tả bằng ngôn ngữ.

- Nhưng ông tin rằng tất cả đều tiến đến đời sống đó?

- Dĩ nhiên, tiến hóa là một định luật vũ trụ và rồi ai cũng sẽ phải đi trọn con đường đó. Ta có thể làm ác, ích kỷ, đi ngược ḍng tiến hóa nhưng làm thế ta chỉ làm chậm trễ sự tiến bộ của ḿnh nhưng không thể chặn đứng được ḍng tiến hóa của nhân loại. Vấn đề đặt ra là thời gian, con người có thể đi đến mục đích trong thời gian ngắn nhất hoặc dài nhất. Thí dụ như ta có thể bơi xuôi ḍng, ngược ḍng hay chơi vơi ở một chỗ nhưng ḍng nước vẫn chảy và dù muốn hay không trước sau ta cũng trôi từ nguồn đến biển cả. Sống thuận theo Thiên Ư là bơi xuôi ḍng, nghịch thiên ư là ngược ḍng. Đa số con người thường chơi vơi, không nhất quyết, lúc ch́m đắm, khi nổi trôi, có lúc ngược ḍng, có khi lại xuôi ḍng v́ chưa ư thức sáng suốt để nhận định con đường phải theo.

- Nhưng làm sao biết đường nào là đường phải theo?

- Chính v́ con người bơ vơ, lạc lối nên mới có các bậc Thánh Nhân chỉ bảo hướng dẫn. Sự hiện diên của các bậc như đức Phật, đức Chúa, đức Krishna... và các vị giáo chủ khác là để hướng dẫn cho nhân loại. Tiếc thay, con người chỉ thích ai nói ǵ thuận ư ḿnh, đúng với điều ḿnh mong ước chứ không thích những điều “Đúng sự thật”, không thích bị đánh thức...

- Làm sao ḿnh có thể biết được đâu là “Đúng sự thật”?

- Con người có trí khôn, có óc phân biệt để làm ǵ? Tại sao không chịu sử dụng chúng để lựa chọn một con đường tốt đẹp?

- Ông muốn nói đến con đường đạo? Làm sao ta có thể bước vào cửa đạo?

Đạo sĩ vuốt bộ râu mỉm cười:

- Có bốn nhân duyên đưa ta đến cửa đạo. Nhân duyên thứ nhất là gần gũi, tiếp xúc, thân cận với những bậc Thiện Trí Thức, những người đang đi trên đường đạo. Thí dụ như trong một tiền kiếp ta có dịp tiếp xúc với một vị đạo sư, giám mục, một mẹ bề trên đă có kinh nghiệm tâm linh sâu xa. Chúng ta hết sức khâm phục và thiết tha mong rằng ta sẽ có các kinh nghiệm như vậy. Một hoài băo như thế chắc chắn sẽ giúp ta gặp đạo trong kiếp sau. Nhân duyên thứ hai là nghiên cứu các sách vở, nghe giảng giải về đạo lư. Càng ham nghiên cứu ta càng muốn t́m hiểu và đi sâu vào đạo nhiều hơn và dĩ nhiên khi hiểu biết ta sẽ thay đổi đời sống để cho nó có ư nghĩa hơn và đó là bước chân vào đường đạo. Nhân duyên thứ ba là sự mở mang trí tuệ, v́ một lư do ǵ đó, ta nhận thức những sự việc xẩy ra rồi phân vân, đặt câu hỏi tại sao nó lại xẩy ra như vậy? Từ sự hoài nghi ta suy gẫm, quan sát, học hỏi bằng sức mạnh của tư tưởng và có thể khám phá ra ch́a khóa mầu nhiệm, các nguyên tắc đạo lư. Đây là con đường tu Thiền Định mà các ông đă nghe nói đến. Nhân duyên thứ tư là sự trau dồi hạnh kiểm, tu thân, làm các việc thiện, mở rộng ḷng bác ái, quên ḿnh để giúp đỡ mọi người và dần dần ánh sáng tâm linh sẽ soi sáng hồn ta.

- Xin ông cho biết thêm về các bậc siêu nhân mà ông đă từng tiếp xúc.

Bakhir mỉm cười vuốt nhẹ chùm râu bạc:

- Tôi đă gặp nhiều đạo sư có quyền năng siêu việt, có vị đă sống nhiều thế kỷ và đạt quả vị rất cao. Điều đặc biệt là các ngài xét mọi sự vật với một quan niệm khác hẳn chúng ta v́ trong tư tưởng các ngài không c̣n một chút ích kỷ như đa số chúng ta. Các ngài đă loại trừ bản ngă thấp hèn, không c̣n sống cho ḿnh mà cho tất cả. Ngoài đặc tính đó, các ngài c̣n phát triển hoàn toàn về mọi phương diện. Đa số chúng ta đều bất toàn, không mấy ai đạt đến tŕnh độ cao tột. Ngay cả các nhà thông thái, bác học cũng chỉ đạt đến tŕnh độ cao tột trên một phương diện nào đó thôi và c̣n nhiều khía cạnh khác chưa hoàn toàn. Chúng ta đều có mầm mống của mọi đặc tính, nhưng chỉ một vài phần thức động và phát triển không đồng đều. Các bậc siêu nhân là người đă phát triển toàn vẹn mọi đặc tính trên một phương diện ngoài tầm hiểu biết của chúng ta.

Phần lớn các vị siêu nhân đều có h́nh dáng bề ngoài tốt đẹp. Xác thân các ngài đều hoàn toàn về mọi phương diện và ít chịu ảnh hưởng của thời gian, có vị đă sống nhiều thế kỷ mà trông vẫn khỏe mạnh như một người ngũ tuần. Tôi đă gặp một vị đạo sư sống hơn 2000 năm nay, ngài cai quản một viện cổ tàng trong ḷng núi. Viện cổ tàng này chứa đựng rất nhiều tài liệu dồi dào, phong phú dường như để ghi lại đấu tích toàn thể lịch sử tiến hóa của nhân loại. Trong đó có chứa đựng các h́nh thể của nhiều giống người đă sống trên mặt địa cầu, từ giống dân Lemurians đến các loài người khổng lồ từ thời xa bây giờ nhiều lắm. Có các mô h́nh diễn tả sự biến đổi của lớp vỏ địa cầu sau các thiên tai cũng như sự di chuyển của các giống dân trên các lục địa. Có các bản thảo bút tự rất cổ của các bậc đạo sư, giáo chủ như một bản viết của chính đức Phật khi ngài c̣n là thái tử Tất Đạt Đa. Có các ngăn tủ bằng gỗ lim kiên cố chứa các tài liệu giáo lư nhiệm mầu, có thứ viết bằng các văn tự lạ lùng của những nền văn minh đă biến mất từ lâu. Ngoài ra c̣n có các bản đồ, mô h́nh các thành phố cổ xưa của quá khứ cũng như các di tích động vật rất xưa...

Giáo sư Mortimer lên tiếng:

- Ông có nhớ chỗ đó không? Làm sao có thể đến nơi đó được?

Đạo sĩ nghiêm nghị:

- Dăy Hy Mă Lạp Sơn không phải nơi ai muốn đi, muốn đến dễ dàng được v́ nó chứa đựng nhiều bí mật huyền bí và có các Tinh Linh canh giữ, phải có một nhân duyên lớn mới có thể đến các thánh địa đó được.

- Nhưng tại sao các bậc siêu nhân lại cứ ẩn lánh, không ra mặt giúp đỡ nhân loại, không công bố các tài liệu mầu nhiệm đó cho mọi người? Cất dấu như thế có lợi ǵ đâu?

- Các ngài lúc nào cũng giúp đỡ nhân loại bằng cách ban rải các luồng thần lực xuống trần gian để muôn loài có thể hưởng thụ chả khác nào ánh sáng mặt trời đối với cây cỏ. Sự giúp đỡ của các ngài hết sức rộng lớn, ngoài sự tưởng tượng và tầm hiểu biết của con người. Việc công bố hay cất dấu các tài liệu đó đều có lư do mà ta không thể nghĩ bàn được...

- Theo thuyết tiến hóa ông vừa tŕnh bày th́ trên con người có một đời sống siêu nhân loại và như thế nữa hẳn c̣n các bậc cao cấp nữa?

Bakhir bật cười một hồi rồi mới trả lời:

- Các ông vẫn c̣n quan niệm cấp bậc, hơn kém, chức tước... Một khi đă giải thoát khỏi luân hồi, sinh tử trở nên một bậc chân tiên (Asekha) th́ Thánh đạo chia ra làm bẩy con đường cho các ngài chọn lựa. Dĩ nhiên, sự hiểu biết của tôi c̣n nông cạn và thiếu sót nên tôi chỉ có thể cắt nghĩa một cách sơ lược:

Các ngài có thể bước vào những cảnh giới vượt xa tầm hiểu biết của chúng ta, các cảnh giới này có tên gọi như: Thượng Thiên, Phi tưởng phi phi tưởng xứ hay Niết bàn... v. v... Sau khi bước vào các cơi này, một ngày nào đó các ngài sẽ chuyển kiếp xuống trần trong bầu thế giới tương lai như một bậc giáo chủ. Đây là con đường Dharmakaya.

Các ngài có thể bước vào “Trạng thái tâm linh” với một ư nghĩa huyền bí mà tôi không biết rơ, đây là con đường Sambhogakya. Các ngài có thể ḥa hợp với kho thần lực vũ trụ để làm các ông việc hợp với các định luật vũ trụ, đây là con đường Nirmanakya.

Các ngài có thể ở lại thế gian, giúp đỡ nhân loại, dưới h́nh tức một vị Bồ Tát đây là con đường Bồ Tát Đạo (Boshivartakya).

Ngoài những con đường khác ra sao tôi không được biết rơ. Theo sự hiểu biết của tôi th́ số người giải thoát đă ít mà số người ở lại để giúp đỡ thế gian c̣n ít hơn. Hiện nay, tất cả đang chuẩn bị cho một vận hội mới, đó là sự lâm phàm của một đức chưởng giáo tương lai mà danh từ chính xác nhất gọi là Di Lặc Bồ Tát.

Bakhir im lặng một hồi rồi tuyên bố:

- Một ngày nào đó các ông sẽ hiểu biết rơ hơn điều tôi muốn nói. Thật ra các điều này đă được tiên doán từ lâu và lưu trữ trong một viện cổ tàng ngầm dưới ḷng núi xứ Tây Tạng. Các tài liệu này được các đức Lạt Ma giữ ǵn rất cẩn thận.

- Làm sao chúng tôi có thể xem các tài liệu vô giá đó. Xứ Tây Tạng vẫn có chính sách bế môn tỏa cảng, không giá tiếp với ai, nhất là người da trắng.

Bakhir mỉim cười bí mật:

- Này các ông bạn, tôi chỉ có thể nói như thế này thôi: Sự hiện diện của các ông tại xứ Ấn Độ không phải một việc ngẫu nhiên. Các ông tốn suốt mấy năm đi sưu tầm chân lư mà có thấy ǵ đâu, có đúng không? Đó chẳng qua chỉ là một thử thách mà thôi. Các ông không thấy chỉ một thời gian ngắn mà các ông đă tiếp xúc các đạo sư minh triết nổi tiếng nhất Ấn Độ và được tiết lộ những điều chưa từng công bố cho một người Âu nào hay sao? Nếu không có thông điệp của một vị Chân Sư th́ là sao các đạo sư đó tiếp đăi các ông? Tại sao họ lại sẵn sàng chỉ bảo, giải đáp các thắc mắc một cách tận t́nh như thế? Nếu không có một sắp đặt huyền bí th́ dễ ǵ các ông gặp được những người mà ngay cả các tín đồ thuần hành nhất xứ Ấn cũng không dễ ǵ t́m gặp được. Trong một xă hội đầy dị đoan, mê tín, h́nh bóng chân lư gần như phai mờ, người dân xứ này muốn có c̣n phải mất công thế mà các ông được chỉ dẫn những điều vô giá một cách dễ dàng không chút mệt mỏi. Có bao giờ các ông tự hỏi tại sao không? Một người Âu chả bao giờ chịu ngồi chung chiếu với người Ấn v́ hệ thống dị biệt, nhưng các ông đă gác bỏ thành kiến đó, dẹp bỏ tự hào dân tộc để ngồi cạnh những đạo sư rách rưới, đó là một cố gắng không nhỏ. Các ông đă vạch qua rừng người mê tín, các đạo sĩ giả mạo, bịp bợm, các tu sĩ không chân chính để t́m gặp những người đáng gặp gỡ và chăm chú nghe dạy bảo. Đó không phải một việc dễ dàng, có thể các ông không biết nhưng các ông đă vượt qua những thử thách phi thường. Tây tạng không bao giờ đón nhận một du khách bên ngoài, nhưng với các ông sẽ là một ngoại lệ v́ các ông đă được che chở của một vị chân sư. Các ông sẽ lănh một sứ mạng lớn là kêu gọi thế giới bên ngoài hăy quay về phương đông, với quê hương tinh thần của họ. Quay về không phải để t́m kiếm một chân lư mới, một tôn giáo mới hay một kiến thức ǵ mới lạ nhưng để hiểu biết rằng chân lư luôn luôn ẩn tàng khắp nơi, tôn giáo chỉ là những con đường khác nhau đưa đến chân lư và không một tôn giáo nào qua chân lư.

Toàn thể phái đoàn yên lặng nh́n nhau, quả thế chỉ một thời gian ngắn họ đă gặp biết bao đạo sư, được chỉ dạy những chân lư quư báu. Đó không phải một may mắn t́nh cờ mà như có sự sắp đặt trước.

- Ông biết rằng có một vị chân sư muốn giúp đỡ chúng tôi?

- Đúng thế, tôi biết rơ chuyện này nên các ông mói có thể gặp tôi hôm nay. Tôi biết các ông đang khao khát sự hiểu biết, thật ra một số trong các ông đă từng học đạo từ tiền kiếp, nay trở lại Ấn Độ dưới bộ da người ngoại quốc. Tuy nhiên các ông không nhớ những điều đă học. Nhưng khi nhân duyên đến, các ông sẽ phục hồi kư ức. Định mạng đă dẫn dắt các ông trở lại Á Châu để hoàn tất một sứ mạng cao cả...

Toàn thể mọi người ngạc nhiên và xúc động vô cùng. Ḷng ao ước gặp vị chân sư bí mật gia tăng, giáo sư Mortimer cố gắng thốt lên vài câu:

- Nhưng đến bao giờ chúng tôi mới có thể gặp ngài?

- Thời gian không c̣n lâu nữa đến khi đó các ông sẽ biết. Tôi chỉ có thể nói đến đây thôi.

Phái đoàn im lặng hồi lâu, sau cùng giáo sư Wentz lên tiếng:

- Chúng tôi nghe nói ông biết thuật khinh công?

Đạo sĩ bật cười:

- Điều này đâu có ǵ lạ, đó chỉ là một phương tiện di chuyển tầm thường, nhỏ mọn mà thôi.

- Nhưng điều này phản khoa học, làm sao có thể chứng minh được?

Bakhir mỉm cười gơ nhẹ lên chiếc gậy trúc, bất ngờ thân h́nh ông ta nhấc bổng lên không trung như có một sợi dây vô h́nh kéo lên. Ông ta vẫn ngồi yên trong tư thế liên hoa không cử động. Toàn thể mọi người sửng sốt, tuy họ đă chứng kiến nhiều phép lạ nhưng sự kiện bay bổng lên không trung (levitation) là một điều lạ lùng, ngoài sự tưởng tượng. Đạo sĩ bỗng xoay ḿnh, thân thể ông bỗng như một cơn lốc bay vọt ra xa với một tốc độ rất nhanh, chỉ trong chớp mắt ông đă xa cách phái đoàn đến mấy chục thước.

Đạo sĩ nói vọng lại:

- Này các ông, tại sao con người lại phải ḅ lết trên mặt đất? Nếu loài người có quyền năng hơn loài thú th́ y phải bay cao hơn chim, lội nhanh hơn cá chứ? Tại sao y không làm được như vậy? Phải chăng đó là quan niệm duy vật về bản chất của ḿnh? Tư tưởng y chỉ nghĩ rằng ḿnh chỉ có thể đi được mà thôi. Tùy cảm nghĩ mà con người bị giới hạn hay không giới hạn, tự do hay nô lệ. Nếu biết rơ ḿnh và phát triển khả năng của ḿnh một cách đứng đắn, họ có thể làm hầu như mọi chuyện...

Đạo sĩ lao ḿnh vùn vụt trên con đường đất ngoằn ngoèo, chỉ mấy phút ông đă mất hút chỉ để lại phía sau một đám bụi mờ. Tất cả mọi người xúc động, không ai nói nên lời, giáo sư Mortimer cầm máy ảnh nhưng không sao chụp được.

 

Chương 8: Cơi Giới Vô H́nh

Hamoud là một pháp sư có kiến thức rất rộng về cơi vô h́nh. Khác với những đạo sĩ phái đoàn đă gặp, ông này không phải người Ấn mà là một người Ai Cập.

Ông ta sống một ḿnh trong căn nhà nhỏ, xây dựa vào vách núi. Hamoud không hề tiếp khách nhưng trước sự giới thiệu của bác sĩ Kavir, ông bằng ḷng tiếp phái đoàn trong một thời gian ngắn. Vị pháp sư có khuôn mặt gầy g̣, khắc khổ và một thân h́nh mảnh mai. Ông ta khoác áo choàng rộng và quấn khăn theo kiểu Ai Cập.

Giáo sư Evans - Wentz vào đề:

- Chúng tôi được biết ông chuyên nghiên cứu các hiện tượng huyền bí...

Pháp sư thản nhiên:

- Đúng thế, tôi chuyên nghiên cứu về cơi vô h́nh.

- Như thế ông tin rằng có ma...

Vị pháp sư nói bằng một giọng chắc chắn, quả quyết:

- Đó là một sự thật không những ma quỷ hiện hữu mà chúng c̣n là đối tượng nghiên cứu của tôi.

- Bằng cớ nào ông tin rằng ma quỷ có thật?

- Khắp nơi trên thế giới đều có các giai thoại về ma. V́ con người sợ hăi một cái ǵ mà họ không thể nhận thức bằng các giác quan thông thường nên họ đă phủ nhận nó. Sự phủ nhận này mang đến niềm sợ hăi, từ đó họ thêu dệt các giai thoại rùng rợn, ly kỳ, không đúng sự thật. Nếu chúng ta chấp nhận ma quỷ hiện hữu như một con voi hay con ngựa th́ có lẽ ta sẽ không c̣n sợ hăi. Các ông đ̣i hỏi một chứng minh cụ thể chăng?

- Dĩ nhiên, chúng tôi cần một bằng chứng hiển nhiên...

- Được lắm, các ông hăy nh́n đây.

Vị pháp sư mở ngăn kéo lấy ra một cặp que đan áo, một bó len và mang ra góc pḥng để xuống đất. Ông ta thong thả:

- Chúng ta tiếp tục nói chuyện rồi các ông sẽ thấy.

Mọi người ngơ ngác, không hiểu ông muốn nói ǵ, giáo sư Mortimer nóng nẩy:

- Nếu ông nghiên cứu về cơi vô h́nh xin ông giải thích về quan niệm Thiên Đàng Địa ngục cũng như đời sống sau khi chết ra sao?

Vị pháp sư nghiêm giọng:

- Đó là một quan niệm không đúng, sự chết chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là hết. Vũ trụ có rất nhiều cơi giới chứ không phải chỉ có một cơi này.

- Khi chết, ta bước qua cơi trung giới và cơi này gồm có bẩy cảnh khác nhau: Mỗi cảnh được cấu tạo bằng những nguyên tử rất thanh mà ta gọi là chất “Dĩ thái.” Tùy theo sự rung động (vibration) khác nhau mà mỗi cảnh giới (Astral plane) một khác. Tùy theo vía con người có sự rung động thanh cao hay chậm đặc mà mỗi người thích hợp với một cảnh giới, đây là hiện tượng “Đồng thanh tương ứng” mà thôi. Khi vừa chết, thể chất cấu tạo cái vía được sắp xếp lại, lớp thanh nhẹ nằm trong và lớp nặng trọc bọc phía ngoài, điều này cũng giống như một người mặc nhiều áo khác nhau vào mùa lạnh, áo lót mặc ở trong, áo choàng dầy khoác ngoài.

V́ lớp vỏ bọc bên ngoài cấu tạo bằng những nguyên tử rung động chậm và nặng nề, nó thích hợp với các cảnh giới tương ứng ở cơi âm và con người sẽ đến với cảnh giới này. Sau khi ở đây một thời gian, lớp vỏ bao bọc bên ngoài dần dần tan ră giống như con người trút bỏ áo khoác bên ngoài ra, tùy theo các lớp nguyên tử bên trong mà họ thích ứng với một cảnh giới khác. Cứ như thế, theo thời gian khi các áp lực vật chất tan ră hết th́ con người tuần tự tiến lên những cảnh giới cao hơn. Điều này cũng giống như một quả bóng bay bị cột vào đó những bao cát mỗi lần cởi bỏ được một bao th́ quả bóng lại bay cao hơn một chút cho đến khi không c̣n bao cát nào th́ nó sẽ tự do bay bổng. Trong bẩy cảnh giới của cơi âm th́ cảnh thứ bẩy có rung động nặng nề, âm u nhất, nó là nơi chứa các vong linh bất hảo, những kẻ sát nhân, người mổ xẻ súc vật, những cặn bă xă hội, những kẻ tư tưởng xấu xa, c̣n đầy thú tánh. V́ ở cơi âm, không có thể xác, h́nh dáng thường biến đổi theo tư tưởng nên những kẻ thú tánh mạnh mẽ thường mang các h́nh dáng rất ghê rợn, nửa người, nửa thú. Những người thiếu kiến thức rơ rệt về cơi này cho rằng đó là những quỷ sứ. Điều này cũng không sai sự thật là bao nhiêu v́ đa số những vong linh này luôn oán hận, ham muốn, thù hằn và thường t́m cách trở về cơi trần. Tùy theo dục vọng riêng tư mà chúng tụ tập quanh các nơi thích ứng, dĩ nhiên người cơi trần không nh́n thấy chúng được.

Những loài ma đói khát quanh quẩn bên các chốn trà đ́nh tửu quán, các nơi mổ xẻ thú vật để t́m cách rung động theo những khoái lạc vật chất tại đây. Khi một người ăn uống ngon lành họ có các rung động, khoái lạc và loài ma t́m cách hưởng thụ theo tư tưởng này. Đôi khi chúng cũng t́m cách ảnh hưởng, xúi dục con người nếu họ có tinh thần yếu đuối, non nớt. Những loài ma dục t́nh th́ quanh quẩn nơi buôn hương bán phấn rung động theo những khoái lạc của người chốn đó và t́m cách ảnh hưởng họ. Nếu người sống sử dụng rượu, các chất kích thích th́ ngay trong giây phút mà họ không c̣n tự chủ được nữa, các loài ma t́m cách nhập vào trong thoáng giây để hưởng một chút khoái lạc vật chất dư thừa.

V́ không được thỏa măn nên theo thời gian các dục vọng cũng giảm dần, các nguyên tử nặng trọc cũng tan theo, vong linh sẽ có các rung động thích hợp với một cảnh giới cao hơn và y sẽ thăng lên cơi giới tương ứng.

Dĩ nhiên, một người có đời sống trong sạch, tinh khiết sẽ không lưu ở cơi này mà thức tỉnh ở một cơi giới tương ứng khác. Tùy theo lối sống, tư tưởng khi ta c̣n ở cơi trần mà khi chết ta đến những cảnh giới tương ứng, đây chính là định luật “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.”

Toàn thể phái đoàn im lặng nh́n nhau, vị pháp sư Ai Cập đă diễn tả bằng những danh từ hết sức khoa học, chính xác chứ không mơ hồ, viễn vông. Dù sao đây vẫn là một lư thuyết rất hay nhưng chưa chứng minh được. Có thể đó là một giả thuyết của những dân tộc nhiều tưởng tượng như người Á Châu chăng?

Hamoud mỉm cười như đọc được tư tưởng mọi người:

- Nếu các ông biết rằng tôi cũng là một tiến sĩ Vật Lư Học (Physics) tốt nghiệp tại Đại học Oxford...

Giáo sư Harding giựt ḿnh kêu lên:

Oxford ư? Ông đă từng du học bên xứ chúng tôi sao?

- Chính thế, tôi tốt nghiệp năm 1864 và là người Ai Cập đầu tiên tốt nghiệp về ngành này.

(Ghi chú của giáo sư Spalding: Phái đoàn đă phối kiểm chi tiết này và hố sơ Đại học Oxford ghi nhận một Tiến sĩ người Ai Cập tên Hamoud El Sarim nhập học năm 1856 và tốt nghiệp năm 1864 với bằng Tiến Sĩ Vật Lư).

- Nhưng làm sao ông biết rơ được cơi giới này? Ông đă đọc sách vở hay dựa trên những bằng chứng ở đâu?

- Tôi đă khai mở các giác quan thể Vía nhờ công phu tu hành trong nhiều năm. Ngay khi c̣n là sinh viên tôi đă say mê môn Vật Lư Siêu H́nh (Metaphysics).

Tôi dành nhiều thời giờ nghiên cứu sách vở khoa học nhưng đến một lúc th́ khoa học phải bó tay. Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi đến khoa Huyền Bí Học, tôi học hỏi rất kỹ về môn này, khi trở về Ai Cập tôi may mắn gặp được các vị đạo sư uyên bác nên sự nghiên cứu càng ngày càng tiến bộ. Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi sang Ấn Độ và Tây Tạng, tại đây tôi gặp một Lạt Ma chuyên nghiên cứu về cơi âm. Tôi đă học hỏi rất nhiều với vị này, sau đó, tôi tu nhập thất trong 10 năm liền và khai mở được một vài giác quan đặc biệt. Từ đó, tôi tha hồ nghiên cứu cơi âm v́ tôi có thể sang tận đây học hỏi và cơi nầy trở nên quen thuộc, tôi kết bạn với rất nhiều sinh vật siêu h́nh, chúng giúp đỡ tôi rất nhiều...

Giáo sư Evans - Wentz ngập ngừng:

- Ông muốn nói rằng ông kết bạn với ma?

- Dĩ nhiên, v́ tôi dành trọn thời giờ hoạt động bên cơi này nên tôi có rất đông bạn bè, phần lớn là vong linh người quá cố nhưng cũng có một vài sinh vật có đường tiến hóa riêng, khác hẳn loài người, có loài khôn hơn người và có loại không thông minh hơn loài vật là bao...

- Giao thiệp với chúng có lợi ích ǵ không?

- Các ông nên biết cơi âm là một thế giới lạ lùng, phức tạp với những luật thiên nhiên khác hẳn cơi trần. Sự đi lại giao thiệp giúp ta thêm kiến thức rơ ràng...

Như thế có nguy hiểm không?

- Dĩ nhiên, có nhiều sinh vật hay vong linh hung ác, dữ tợn... Một số các Thầy phù thủy thường liên lạc với nhóm này để mưu cầu lợi lộc, chữa bệnh hoặc thư phù, nguyền rủa...

- Ông có thể làm như vậy không?

Vị pháp sư nghiêm mặt:

- Tất cả những việc ǵ có tính cách phản thiên nhiên, ngược luật tạo hóa đều mang lại hậu quả không tốt. Mưu cầu lợi lộc cho cá nhân là điều tối kỵ của ai đi trên đường đạo. Tôi không giao thiệp với những loại vong linh này v́ chúng rất nguy hiểm, hay phản phúc và thường giết chết kẻ lợi dụng chúng bất cứ lúc nào. Các ông nên nhớ tôi là một khoa học gia chứ không phải một thầy pháp hạ cấp hay một phù thủy chữa bệnh.

- Xin ông nói rơ hơn về những cảnh giới cơi âm.

- Các ông nên biết dù ở cơi nào, tất cả cũng không ra ngoài các định luật khoa học. Thí dụ như vật chất có ba thể: Thể lỏng, thể đặc và thể hơi th́ bên cơi này cũng có những thể tương tự. Luật thiên nhiên cho thấy vật nặng sẽ ch́m xuống dưới và vật nhẹ nổi lên trên th́ cơi vô h́nh cũng thế. Nguyên tử cơi âm rung động với một nhịp độ khác với cơi trần, các nguyên tử rung động thật nhanh dĩ nhiên phải nhẹ hơn các nguyên tử nặng trọc. Tóm lại, tùy theo nhịp độ rung động mà tạo ra những cảnh giới khác nhau, có bẩy loại rung động nên có bẩy cơi giới. Các nguyên tử rung động chậm chạp phải ch́m xuống dưới v́ nếu ta mang nó lên cao, sức ép sẽ làm nó tan vỡ ngay. Thí dụ như ta đặt một quả bóng xuống nước nếu đến một độ sâu nào đó sức ép của nước sẽ làm nó vỡ tan. Loài cá cũng thế, có loại sống gần mặt nước, có loại sống tận đáy đại dương. Nếu loại sống gần mặt biển bị mang xuống đáy nó sẽ bị sức ép mà chết, ngược lại loài sống ở dưới đáy cũng không thể lên sát mặt nước v́ đă quen với sức ép khác nhau. Cảnh giới thứ bẩy lúc nào cũng tối tăm, nặng nề với các vong linh h́nh dáng ghê rợn nhưng hoàn toàn không có vụ quỷ sứ tra tấn tội nhân. Bị lưu đầy ở đây đă là khổ sở lắm rồi, các ông hăy thử tưởng tượng bị dục vọng hành hạ mà không thể thỏa măn th́ c̣n khổ gấp trăm lần bị tra tấn. Vong linh thèm muốn nhưng không sao thỏa măn được, như đói mà không thể ăn, khát nhưng không thể uống do đó, theo thời gian y sẽ học bài học chịu đựng, nhẫn nhục cho đến khi dục vọng giảm bớt và tan ra th́ y sẽ thăng lên cảnh giới thứ sáu.

Cơi giới thứ sáu có sự rung động rất giống như cơi trần, tại đây các vong linh ít c̣n thèm muốn vật chất như ăn uống, dục t́nh nhưng bận tâm với những nhỏ nhen của cuộc sống như thỏa măn bản ngă, ích kỷ, ghen tuông, hờn giận v. v...

Đa số có h́nh dáng giống như người cơi trần nhưng lờ mờ không rơ. V́ sự rung động của nguyên tử gần giống như cơi trần nên họ hay trở về cơi này, họ thường nhập vào đồng cốt, các buổi cầu cơ, cầu hồn để chỉ dẫn bậy bạ, nó chuyện vu vơ nhằm thỏa măn tự ái, bản ngă cá nhân. V́ đa số vong linh khi c̣n sống rất ham mê danh vọng, chức tước, uy quyền nên khi họ nhập vào đồng cốt họ thường tự xưng là các đấng nầy, đấng nọ. Theo thời gian, các rung động ham muốn, các cố chấp về bản ngă, danh vọng cũng tan biến nên họ thăng lên cảnh giới thứ năm.

Cơi thứ năm có sự rung động thanh nhẹ hơn cơi trần nên vong linh có thể biến đổi sắc tướng rất nhanh chóng. Đây là một thế giới với những âm thanh màu sắc lạ lùng dễ bị mê hoặc. Các vong linh ở đây đă bớt ham muốn về cá nhân nhưng c̣n ham muốn về tư tưởng, kiến thức. Đây là nơi cư ngụ của những kẻ đạo đức giả, những kẻ bảo thủ nhiều thành kiến, những người trí thức tự phụ v. v...

Đây cũng là cơi có những sinh hoạt của loài Tinh Linh: Những sinh vật vô h́nh có h́nh dáng hao hao giống như người mà ta thường gọi là Thiên Tinh (Sylphes), Thổ Địa (Gnomes), Phong Tinh (Elfs). v. v... Một số bị thu phục bởi các phù thủy, pháp sư để làm ảo thuật hay luyện phép. Cơi này c̣n có sự hiện diện của những “H́nh tư tưởng” (Artificial Elements).

Các ông nên biết, khi một tư tưởng hay dục vọng phát sinh th́ chúng sử dụng tinh chất (Essence) cơi này tạo nên một h́nh tư tưởng thích hợp. Đời sống của chúng tùy theo sức mạnh của tư ưởng mạnh hay yếu. V́ đa số tư tưởng con người c̣n mơ hồ nên h́nh tư tưởng chỉ tạo ra ít lâu là tan ră ngay. Một người tập trung tư tưởng có thể tạo ra một h́nh tư tưởng sống lâu trong vài giờ hay vài ngày. Một pháp sư cao tay có thể tạo ra các h́nh tư tưởng sống đến cả năm hay thế kỷ, không những thế h́nh tư tưởng này c̣n chịu sự sai khiến của ông ta. Các phù thủy luyện thần thông đều dựa trên nguyên tắc cấu tạo một sinh vật vô h́nh để sai khiến. H́nh tư tưởng không chỉ phát sinh từ một cá nhân mà c̣n từ một nhóm người hay một quốc gia, dân tộc. Khi một đoàn thể, dân tộc cùng một ư nghĩ, họ sẽ tạo ra một h́nh tư tưởng của đoàn thể, quốc gia đó. H́nh tư tưởng này sẽ tạo một ảnh hưởng vô cùng rộng lớn đối với t́nh cảm, phong tục, thành kiến của quốc gia, dân tộc. Ta có thể gọi đó là “Hồn thiêng sông núi” hay “dân tộc tính”.

Khi sinh ra tại một quốc gia, ta ít nhiều chịu ảnh hưởng của h́nh tư tưởng này, dĩ nhiên chúng chỉ ảnh hưởng lên thể vía nghĩa là t́nh cảm của dân tộc đó chứ không ảnh hưởng đến lư trí. Một người sống nhiều bằng lư trí sẽ ít chịu ảnh hưởng như người b́nh thường. Điều này giải thích tại sao một dân tộc có tâm hồn mơ mộng như thi sĩ khi dân tộc khác lại có đầu óc thực tế mặc dù trên phương diện địa lư, họ không ở cách xa nhau mấy và ít nhiều chia sẻ một số quan niệm về tôn giáo, phong tục, tập quán.

Cảnh giới cơi thứ tư sáng sủa hơn và dĩ nhiên nguyên tử cơi này rung động rất nhanh. Phần lớn những vong linh tiến hóa, thánh thiện, những nhà trí thức trầm mặc nhưng c̣n quyến luyến một ít dục vọng khi chết đều thức tỉnh ở cảnh giới này.

Đa số đều ư thức ít nhiều nên họ bắt đầu cởi bỏ những ham muốn, quyến luyến. Đây cũng là chỗ họ học hỏi và ảnh hưởng lẫn nhau và đôi khi kết những liên hệ để cùng nhau tái sinh trong một gia đ́nh hay quốc gia.

Cơi gới thứ ba chói sáng, có những rung động nhẹ nhàng, tại đây có những linh hồn từ tâm nhưng vụng về, những tu sĩ thành tâm nhưng thiếu trí tuệ, những nhà lănh đạo anh minh nhưng thành kiến. Đây cũng là một cảnh giới của một số thần linh (Devas) như Cảm - dục thiên thần (Kamadeva), Hữu sắc thiên thần (Roupadeva) và Vô sắc thiên thần (Aroupadeva). Các thần linh này có đời sống và tiến hóa cao hơn tŕnh độ của nhân loại.

Cơi giới thứ hai và thứ nhất cấu tạo bằng những nguyên tử hết sức thanh thoát rung động rất nhanh và tràn đầy ánh sáng. Đây là cơi giới mà những người tiến hóa rất cao, rất tế nhị không c̣n dục vọng, ham muốn lưu lại để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, phát triển các đức tính riêng trước khi siêu thoát lên cảnh giới cao hơn.

- Như thế người chết thường lưu lại ở cơi Trung giới bao nhiêu lâu?

- Thời gian lưu lại đây hoàn toàn tùy thuộc vào dục vọng con người, có người chỉ ghé lại đây vài giờ lập tức đầu thai trở lại. Có kẻ ở đây hàng năm và có kẻ lưu lại đây hàng thế kỷ... Để siêu thoát, thể Vía phải hoàn toàn tan ră hết th́ mới lên đến cơi Thượng Thiên (Devakhan) hay siêu thoát. Giống như một quả bóng bay bị cột vào đó nhiều bao cát, chỉ khi nào cởi bỏ tất cả bao cát th́ nó mới tự do tung bay được. Tóm lại danh từ như Thiên đàng hay Địa ngục chỉ là những biểu tượng của những cảnh ở cơi Trung Giới (Kamaloka). Tùy theo sự sắp xếp của thể Vía khi chết mà ta thức tỉnh trong một cảnh giới tương ứng...

Mọi người im lặng nh́n nhau, những điều Hamoud giải thích hoàn toàn hợp lư và hết sức khoa học, không hoang đường chút nào. Nhưng làm sao chứng minh những điều mà khoa học thực nghiệm không thể nh́n thấy được? Dù sao Hamoud cũng là một Tiến sĩ Vật Lư tốt nghiệp tại Đại Học nổi tiếng nhất Âu Châu chứ không phải một phù thủy vô học chốn hoang vu, ít nhiều ông ta cũng có một tinh thần khách quan vô tư của một khoa học gia chứ không mê tín dễ chấp nhận một lư thuyết vu vơ, không kiểm chứng. Nhưng làm sao có thể thuyết phục những người Âu Mỹ vốn rất tự hào, nhiều thành kiến và tin tưởng tuyệt đối ở khoa học?

Hamoud mỉm cười tiếp tục:

- Sự hiểu biết về cơi vô h́nh rất quan trọng v́ khi hiểu rơ những điều xẩy ra sau khi chết, ta sẽ không sợ chết nữa. Nếu có chết chỉ là h́nh hài, xác thân chứ không phải sự sống, và h́nh hài có chết đi th́ sự sống mới tiếp tục tiến hóa ở một thể khác tinh vi hơn. Đây là một vấn đề hết sức hợp lư và khoa học cho ta thấy rơ sự công b́nh của vũ trụ. Khi c̣n sống, con người có dục vọng nầy nọ, khi dục vọng được thỏa măn nó sẽ gia tăng mạnh mẽ đồng thời các chất thô kệch, các rung động nặng nề sẽ bị thu hút vào thể vía. Sau khi chết, dục vọng này trở nên mạnh mẽ v́ không c̣n lư trí kiểm soát nữa, chính thế nó sẽ đốt cháy con người của ta. Sự nung đốt của dục vọng chẳng phải địa ngục là ǵ?

Giống như đức tính, phẩm hạnh khi c̣n trẻ quyết định điều kiện sinh sống lúc tuổi già, đời sống cơi trần quyết định đời sống bên kia cửa tử. Luật này hết sức hợp lư và dễ chứng minh: Khi c̣n trẻ ta tập thể thao, giữ thân thể khỏe mạnh th́ khi về già ta sẽ ít bệnh tật, khi c̣n trẻ ta chịu khó học hỏi, có một nghề nghiệp vững chắc th́ khi về già đời sống được bảo đảm hơn, có đúng thế không?

Những người nào chế ngự được dục vọng thấp hèn, làm chủ được đ̣i hỏi thể xác, th́ các dục vọng này không thể hành hạ khi ta chết. Luật thiên nhiên định rằng khi về già thể xác yếu dần, đau ốm khiến cho ta bớt đi các ham muốn và nhờ thế, dục vọng cũng giảm bớt rất nhiều nên thể Vía cũng thanh lọc bớt các chất nặng nề, ô trượt để khi chết sẽ thức tỉnh ở cảnh giới cao thượng hơn. Trái lại những người c̣n trẻ, ḷng ham muốn c̣n mạnh mẽ nếu chết bất đắc kỳ tử thường đau khổ rất nhiều và phải lưu lại cơi Trung giới lâu hơn. Nếu hiểu biết như thế ta cần phải duyệt xét lại đời sống của ḿnh ở cơi trần để khỏi lưu lại những cảnh giới thấp thỏi, nặng nề bên cơi âm. Những người lớn tuổi cần chuẩn bị để dứt bỏ các quyến luyến, ràng buộc, các lo lắng ưu phiền, các tranh chấp, giận hờn, phải biết xả ly, dứt bỏ mọi phiền năo để mau chóng siêu thoát.

Một sự chuẩn bị ở cơi trần sẽ rút ngắn thời gian bên cơi âm và chóng thúc đẩy thời gian lên cơi thương giới.

- Nhưng c̣n các ma quỷ th́ sao?

 

Trở về đâu trang

Tiếp theo hành trinh ve Phuong Đông 7 & 8




1lyhuonga.jpg