
|

|
|
Tiếp theo Hành Trinh Về Phương Đông.
3
Babu gật đầu:
- Thật ra chu kỳ không hoàn toàn trùng hợp từng năm,
từng tháng v́ niên lịch thông thường không chính xác. Khoa Chiêm tinh xử dụng một
thứ lịch khác theo sự vận chuyển của các tinh tú. Tuy nhiên, để giản
dị hóa vấn đề này ta có thể nói rằng cứ 25 năm cuối của mỗi
thế kỷ là buổi giao thời có nhiều sự thay đổi mănh liệt.
Giáo
sư Mortimer buột miệng:
- Nhưng đă có bằng chứng nào rằng cuối
thế kỷ này sẽ có các thay đổi lớn?
Babu mỉm cười nh́n tất
cả mọi người:
- Các ông đều là người Âu, tôi xin dẫn chứng
bằng lịch sử Âu Châu cho dễ hiểu. Các ông có thể coi nó là sự trùng hợp ngẫu
nhiên cũng được:
Năm 1275, Roger Bacon phát động phong trào phục hưng
văn hóa rồi suốt 100 năm sau toàn thể Âu Châu đều thay đổi. Năm 1375,
Christian Rosenkreuz phổ biến nền văn hóa này khắp từng lớp dân chúng đưa
Âu Châu thoát khỏi nền tảng hắc ám của thời kỳ Trung Cổ. Năm 1275 và
1375 chả là 25 năm chót của thế kỷ 13 và 14 hay sao?
Giáo sư Mortimer, một
nhà bác học về Cổ ngữ và Lịch sử Âu Châu suy nghĩ:
- Quả thế,
phong trào phổ thông văn hóa bằng đường lối phục hưng đă cứu
nguy cho sự suy đồi của Âu Châu nhưng đó chỉ là hai trường hợp. Tôi
thiết nghĩ muốn kết luận ta cần nhiều dữ kiện rơ ràng hơn.
Babu
mỉm một nụ cười bí mật và xác định:
- Thế th́ ông nghĩ sao
về việc phát minh ra máy in, kỹ thuật ấn loát vào năm 1473? Nhờ thế tư
tưởng các triết gia, giáo sĩ mới phổ thông khắp quần chúng, nâng cao dân trí
Âu Châu? Ông nghĩ sao về Francis Bacon và cao trào nghiên cứu khoa học năm 1578, xử dụng
Anh Ngữ thay v́ Latin để phổ biến kiến thức khoa học. Có phải những
việc này đă đem khoa học vào xă hội để cải thiện cuộc sống
hay không? Việc này xẩy ra vào 25 năm cuối của thế kỷ 15 và 16.
Phải
phục hưng văn hóa, đưa Âu Châu khỏi các thành kiến bảo thủ đă rồi
cải cách, phát triển khoa học để mọi người biết suy luận sau đó,
mới thay đổi xă hội được chứ. Văn hóa đi trước phổ
biến tư tưởng để dọn đường cho các thay đổi chính trị,
xă hội về sau.
Năm 1675, các Hội kín bất đầu mọc lên kêu gọi san
bằng giai cấp, dẹp tan bất công xă hội gây nên bởi chế độ Bảo Hoàng.
Năm 1789, cuộc cách mạng Pháp đă bùng nổ và thay đổi hẳn lịch sử
Âu Châu. Hai biến cố này đều xẩy ra trong ṿng 25 năm cuối của thế kỷ
17 và 18. Từ đó đến nay chắc các ông đă thấy?
Giáo sư Mortimer toát mồ
hôi trán, lịch sử Âu Châu đối với ông nào có xa lạ ǵ nhưng sự giải thích
của Babu đă làm ông bừng tỉnh.
Toàn thể phái đoàn đều bàng hoàng khâm
phục Babu. Trong một buổi chiều nhà Chiêm Tinh xứ Ấn đă hùng biện dẫn
chứng về Toán Học, Sinh vật Học, Triết Học, Tôn Giáo và cả lịch sử
Âu Châu như một học giả uyên bác nhất. Kiến thức của y đă chinh phục
tất cả mọi người.
Giáo sư Mortimer run giọng:
- Vậy th́ theo
ông việc ǵ sẽ xẩy ra cho thế kỷ 20 này?
Babu im lặng suy nghĩ một
lúc rồi trả lời:
- Năm 1875 đánh dấu một bước tiến quan trọng,
đó là sự phát triển khoa học văn minh cơ giới cùng thuyết “Tiến Hóa”
của Darwin và phong trào Thiên Chúa giáo tự do. Từ đây bắt đầu một cuộc
tranh chấp giữa tinh thần và vật chất. Có hai mănh lực rất mạnh phát xuất
từ hai bầu tinh tú đói cực gây nên phong trào Duy Tâm và Duy Vật. Thế kỷ 20 bắt
đầu với sự phát triển cực thịnh của thuyết Duy Vật. Con người
sẽ bị thúc đẩy vào các sự kiện vật chất, họ sẽ gặp các thử
thách mà nhu cầu bao tử, khoái cảm xác thân tranh đấu với nhu cầu tâm linh một
cách mănh liệt. Đến khoảng 25 năm cuối, từ 1975 trở đi th́ phong trào Duy Tâm
sẽ phát triển mạnh mẽ và được phổ biến sâu rộng để thúc
đẩy sự tiến hóa tâm linh. Cuối thế kỷ 20 phong trào Duy Vật sẽ sụp
đổ, hiện tượng nghiên cứu các giáo lư bí truyền sẽ bắt đầu.
Này các ông bạn, các bạn đều là những người tiền phong. Trước
khi một sự phổ thông Bí Giáo được thực hiện phải có những hạt
giống gieo sẵn và nẩy mầm.
Đó là lư do các bạn được thúc đẩy
để nghiên cứu các hiện tượng huyền bí Phương Đông. Tôi không thể tiết
lộ thêm điều ǵ nhưng qua lá số tử vi của Olivers tôi quả quyết những
điều tiên đoán đều sẽ thành sự thật.
Chắc chắn trong 25 năm
cuối của thế kỷ này sẽ có nhiều thay đổi và có những cố gắng
giúp cho sự tiến bộ của nhân loại, giai đoạn này rất quan trọng. Có hai
loại người trên thế gian: Một loại đă thấy ánh sáng rực rỡ nơi
cuối chân trời và định hướng để tiến tới đó. Dĩ nhiên,
họ sẽ phải chiến đấu cam go với các cám dỗ, các hoàn cảnh bất lợi
xẩy ra chung quanh nhưng ở họ, hy vọng luôn luôn sáng rỡ. Hạng thứ hai không
cảm xúc được các tư tưởng thanh cao, không tin tưởng những điều
cao thượng. Họ là những người lạc lơng, đáng thương v́ họ sẽ
phải học các bài học hết sức đau khổ cho đến khi họ hiểu biết
và quay đầu về phía ánh sáng. Điều này đă và đang xẩy ra.
- Chuyện ǵ
sẽ xẩy ra cho những người không hiểu biết này?
Babu bật cười:
- Các ông nghĩ rằng Thượng Đế sẽ trừng phạt họ ư? Không đâu,
họ sẽ phải tự học lấy những bài học trong lầm lỗi, trong đau
khổ. Thí dụ như một người muốn đi từ quê lên tỉnh. Y có thể
đi theo các đường lộ xây cất sẵn sàng, theo bản đồ chỉ dẫn.
Nhưng có người cứ khăng khăng đi theo ư ḿnh bất tuân theo luật lệ,
đường dọn sẵn không đi, bản đồ có sẵn không thèm nh́n. Y sẽ
đi vào rừng, dẫm lên gai góc, đau đớn, lạc lối lung tung sau đó mới
ư thức sự ngu xuẩn của ḿnh. Đời là một bài học vô cùng quư giá mà ai cũng
phải học. Cơi đời đầy những vô thường, khi thế này, lúc thế
khác chứ đâu êm xuôi bằng phẳng.
Babu ngưng nói đưa mắt nh́n về
sông Hằng. Bên kia bờ sông là một câu lạc bộ với những ánh đèn màu cùng tiếng
nhạc dập d́u. Y thở dài:
- Đó là nơi hội họp của một hội đồng
thương mại. Hội này quy tụ toàn các thương gia, các bậc thượng lưu
trí thức giàu có bật nhất thành phố này. Tuần nào họ cũng hội họp ăn
uống. Đa số đều đă ngoài 60 mà vẫn c̣n ham vui. Cơ thể họ đă suy nhược
ngưng ḷng hưởng thụ vật chất c̣n mănh liệt. Họ tụ tập nhau để
nói chuyện mưa gió, thời tiết, thú vui đời người. Không ai ư thức được
rằng chỉ ít lâu nữa, ai cũng phải từ giă cơi trần. Nghe họ vui đùa, tưởng
như họ có thể lột da như giống rắn để sống măi măi như thế.
Babu nh́n lên bầu trời đầy sao trầm ngâm:
- Mọi vật trong vũ
trụ đều quân b́nh tuyệt đối, không dư, không thiếu, từ hạt bụi
bé nhỏ đến những dăy Thiên Hà vĩ đại. Đời người quá ngắn và
luôn bị lôi cuốn vào sinh hoạt quay cuồng. Đâu mấy ai ư thức được sự
phung phí hôm nay dọn đường cho sự đau khổ ngày mai. Tất cả chỉ là
những ảo ảnh chập chờn thế mà người ta cứ coi như thật. Nếu
biết thức tỉnh quan sát ta có thể học hỏi biết bao điều hay. Tiếc
rằng khi đắc thời người ta quên đi quá khứ rất nhanh, chỉ trong đau
khổ, nhục nhă ê chề mới chịu học. Có thể đó cũng là lư do luôn luôn có
các biến động vô thường, thúc dục con người học hỏi.
- Ông
nghĩ rằng con người sẽ học hỏi trong đau khổ?
Babu thở dài:
- Đúng thế, chúng ta có tính hay quên nên cứ phải học đi học lại các bài
học khổ. Chỉ khi bị khổ sở, bị đàn áp, tự do bị chà đạp
con người mới quay về với niềm hy vọng cuối cùng là đức tin. Khi
sung sướng ít ai nghĩ đến việc tu thân cầu giải thoát. Khi cơ thể
bệnh hoạn ta mới thấy khỏe mạnh là hạnh phúc. Khi bị tù đày ta mới
thấy giá trị của tự do. Tiếc rằng khi khỏi bệnh, ta không ư thức nguyên
nhân đă gây nên bệnh đó mà lại tiếp tục một đời sống như trước
do đó, ta cứ bị bệnh hoài.
- Nhưng con người cũng học hỏi
rất nhiều và đă có tiến bộ lớn lao.
Babu ngắt lời:
- Các ông
gọi như thế nào là tiến bộ? Trên phương diện vật chất con người
ta đă tiến bộ chút ít so với những thế kỷ trước nhưng phương
diện tinh thần vẫn nghèo nàn như xưa, chả tiến được chút nào, bằng
cớ là họ vẫn tiếp tục các lỗi lầm quá khứ.
- Ông muốn nói đến
chiến tranh ư?
Babu im lặng nh́n lên bầu trời đầy tinh tú ngẫm nghĩ
một điều ǵ. Toàn thể mọi người im lặng chờ dợi. Sau cùng, giáo
sư Allen lên tiếng:
- Theo ông th́ ḥa b́nh có thể thực hiện một ngày gần
đây không?
Babu mỉm cười trả lời:
- Các ông nghĩ rằng với
khả năng bé nhỏ của tôi mà có thể biết hết được ư? Từ
khi con người có mặt trên trái đất này đă có hết cuộc chiến này đến
cuộc chiến khác. Chiến tranh có bao giờ chấm dứt được? Thực ra chiến
tranh chỉ là sự biểu lộ trạng thái bên trong chúng ta, là sự phóng đại các
động tác hằng ngày của chúng ta. Sở dĩ mỗi ngày nó một trầm trọng
hơn là do kết quả các hoạt động kỹ nghệ và óc sáng tạo của con người.
Chiến tranh không thể chấm dứt nếu các nguyên nhân gây nên cuộc chiến vẫn
c̣n. Nếu có một cây cổ thụ thật lớn và ta muốn chặt nó. Ta không thể
leo lên vặt hết lá cây được, vặt lá này nó lại mọc lá khác phải không
các bạn? Cách duy nhất là đốn tận gốc rễ. Nguyên nhân chiến tranh bắt
nguồn từ các tham vọng, giận dữ, oán hận, đầu óc quốc gia, bộ lạc,
tinh thần phe phái, đố kỵ, ganh ghét. v. v... Tận diệt được các thói xấu
này là chấm dứt chiến tranh. Phương pháp duy nhất là làm một cuộc cách mạng
trong tâm hồn. Chỉ khi nào loài người ư thức điều này và thay đổi quan
niệm sống, xóa bỏ ḷng thù hận th́ họ sẽ thấy b́nh an. Tiếc rằng ai
cũng chỉ nh́n thấy sự sai quấy nơi người khác nên mới có t́nh trạng
ngày nay.
Ḥa b́nh và thiện chí cần đi đôi với nhau nên không ai có thể thực
hiện ḥa b́nh khi ḷng c̣n đầy oán thù, ghen ghét muốn bốc lột kẻ khác để
mưu lợi cho cá nhân ḿnh hay phe phái ḿnh. Tất cả các hội nghị, các mưu tính để
mang lại ḥa b́nh cho nhân loại đều thất bại v́ con người không chịu thực
hiện ḥa b́nh ở chính ḿnh.
Babu mỉm cười nh́n tất cả mọi người
một lúc rồi trầm giọng:
- Các ông đều biết Đại Đế Alexandre,
người đă chinh phục thế giới. Trong việc xây dựng ḥa b́nh cho Hy Lạp,
ông đă càn quét, tiêu diệt tất cả những nước láng giềng có thể đe
dọa xứ ông, rồi cứ thắng xong trận này lại phải lo đến trận
khác và cuộc chiến tranh để mang lại ḥa b́nh cứ thế kéo dài. Alexandre là một
người thông minh theo học với hiền triết Aristotle.
Khi lên ngôi Hoàng Đế
ông đă tâm sự với Thầy:
- Con sẽ chiến thắng Ai Cập và Thổ Nhĩ
Kỳ.
Aristotle hỏi:
- Rồi sao nữa?
Alexandre trả lời:
-
Rồi con sẽ đem binh đánh Ba Tư nêu cao ngọn cờ Hy Lạp. Sau đó con sẽ
đem quân chinh phục tất cả các quốc gia Trung Đông.
- Rồi sao nữa?
Alexandre
suy nghĩ:
- Sau đó th́ con có thể ngủ một cách b́nh an.
(Ghi chú: Thời đó
người Hy Lạp chỉ biết đến Ấn Độ mà thôi chưa biết đến
các nước khác ở Á Châu)
Aristotle mỉm cười:
- Con hỡi, tại sao
con không ngủ b́nh an ngay đêm nay có hơn không?
Babu kết luận:
- Tôi nghĩ
con người cần đặt cho ḿnh một câu hỏi tương tự. Hăy quan sát ḷng
ḿnh một cách thành thật xem ḿnh muốn ǵ? Chúng ta muốn b́nh an hay kích động? Phải
chăng chúng ta đều náo nức muốn cái ǵ? Mỗi buổi sáng, chúng ta vội vă cầm
lấy tờ báo để t́m các tin tức sôi nổi nhất. Nếu không có tin ǵ về chiến
tranh, thiên tai, xáo trộn, khó khăn kinh tế - th́ chúng ta vứt tờ báo xuống đất
và than rằng chả có ǵ đáng xem. Có phải thế không?
Chúng ta muốn sống yên
ổn, không thích xáo trộn nhưng rất thích thú nghe nói về các sự xáo trộn của
kẻ khác. Chúng ta dành nhiều giờ để bàn căi sôi nổi về người này, người
nọ, chê bai ông này, diễu cợt bà kia. Phải chăng chúng ta vẫn làm thế? Có bao giờ
chúng ta đặt câu hỏi tại sao ta lại làm thế không?
Ḷng ta c̣n ham tiền bạc,
danh vọng, địa vị, sức khỏe và chỉ cầu b́nh an cho chính ḿnh thôi nên chẳng
bao giờ thỏa măn. Nếu ai có hỏi th́ ta cũng sẽ chối quanh như Đại Đế
Alexandre chỉ xin một giấc ngủ b́nh an mà thôi.
Giấc ngủ b́nh an nào có khó, nào
xa xôi diệu vợi, tốn công nhọc sức mới có. Làm sao ta có thể lao đầu
vào vật chất phù du, xây dựng dang vọng địa vị, thỏa măn cái phàm ngă hữu
h́nh hữu hoại đồng thời t́m sự b́nh an, êm tĩnh? Chính các điều trên đă
phá vỡ sự yên tĩnh xung măn của nội tâm ta. Phiền năo là do chính ta tạo nên chứ
đâu phải hoàn cảnh phải không các bạn?
Ngày hôm nay chúng ta đă nói chuyện
rất lâu rồi, các bạn sẽ c̣n trải qua một hành tŕnh dài, gặp gỡ nhiều
bậc danh sư, hiền triết. Tôi chúc các bạn t́m được niềm an tĩnh của
tâm hồn.
Babu mỉm cười dơ tay tiễn khách, vầng trăng đă lên cao,
lấp loáng phản chiếu trên sông Hằng.
Chương 3: Trên đường Thiên lư
Lawrence Keymakers là một Cuộc gặp gỡ
Brahmananda và Sudeih Babu đă thay đổi tất cả. Cho đến lúc đó phái đoàn mới
công nhận rằng đằng sau khu rừng mê tín dị đoan c̣n có những chân lư cao siêu
đáng học hỏi và nghiên cứu. Sự hiện diện của một vị Chân Sư
bí mật gửi thông điệp bằng tư tưởng cho Brahmananda và Sudeih Babu làm phái đoàn
phấn khởi tin tưởng rằng cuộc khảo cứu sẽ c̣n vượt xa hơn
điều họ dự tính.
Cuộc tiếp xúc với Sudeih Babu đă khiến mọi
người bắt đầu cởi bỏ các thành kiến dị biệt, các quan niệm
bảo thủ và ḷng tự hào của người Âu để bắt đầu quan sát, học
hỏi thêm về nền minh triết bí truyền của Á Châu.
Phái đoàn bắt đầu
cuộc hành tŕnh nhắm hướng Rishkesh trực chỉ. Lúc đầu, đường
sá c̣n tốt nên sự di chuyển c̣n nhanh chóng nhưng về sau có những đoạn đường
bị ngắt quăng, phái đoàn phải dùng lừa, ngựa hoặc đôi khi phải đi
bộ qua các eo núi. Sự kiện một nhóm người Âu di chuyển trên những con đường
độc đạo, hẻo lánh là một điều chưa hề xẩy ra. Các sĩ quan
quân lực Hoàng Gia đă hết sức ngăn cản v́ lư do an ninh. Mặc dù Ấn Độ
là thuộc địa của Anh nhưng nhiều địa phương vẫn không hợp
tác với chính quyền. Di chuyển qua đây đ̣i hỏi sự hộ tống của lực
lượng quân đội vơ trang đầy đủ. Có nhiều vùng ngay cả dân địa
phương cũng ít dám qua lại v́ có những đảng cướp hoạt động
mạnh mẽ. Để đề pḥng, phái đoàn đă vơ trang cẩn thận nhưng trong suốt
thời gian di chuyển không hề có một sự kiện đáng tiếc nào xẩy ra. Toàn
thể mọi người có cảm tưởng như được che chở bởi một
quyền năng mạnh mẽ vô h́nh.
Trên đường, phái đoàn đi qua một
đền thờ của đạo Jain. Căn bản của tôn giáo này xây dựng trên chủ
trương mở rộng ḷng thương (Ahimsa). Tín đồ đạo Jain thực hành
lư tưởng Ahimsa triệt để, đôi khi có vẻ quá khích:
Jainism được
thành lập hơn 2000 năm do đức Mahavira, một vị hoàng tử đă từ bỏ
cung vàng, điện ngọc vào rừng tu hành và đắc đạo. Ngay khi bước chân
vào đền, người ta đă thấy ngay pho tượng đức Mahavira ngồi thiền,
trên trán có gắn một viên kim cương lớn. Trước khi vào đây, du khách phải
cởi thắt lưng, giầy dép, nghững vật ǵ làm bằng da thú, sừng, ngà voi, v. v...
Tất cả các vật do sự giết chóc mà ra. Sở dĩ phải làm thế v́ giáo lư Ahimsa
dạy các tín đồ phái này không được sát sinh, ăn thịt cá mà ngay trong nhà cũng
không được chứa một thứ ǵ do sự giết chóc. Các giáo sĩ đạo
Jain mặc toàn đồ trắng trên mặt bịt một miếng vải thưa chỉ
chừa đôi mắt. Họ làm thế để tránh loài ruồi, muỗi khỏi bay lọt
vào mũi, miệng. V́ ḷng bác ái Ahimsa bao trùm tất cả, lỡ có sâu bọ nào vô phúc bay lọt
vào rồi nằm ĺ trong đó th́ phạm tội sát sinh. Không những thế, các giáo sĩ
đạo Jain mỗi năm phải nhập thất một lần trong suốt ba tháng hè v́
thời gian đó côn trùng sinh sản nhiều, nếu di chuyển sợ dẫm lên chúng.
Đối
với người Âu th́ việc thực hành Ahimsa có vẻ quá khích và vô lư nhưng đa số
phái này thực hành giới luật rất nghiêm chỉnh. Họ tin rằng nếu các giới
luật mà không giữ được th́ không hy vọng ǵ đi xa hơn trên đường
tu học.
Một số giáo sĩ đạo Jain c̣n “quá khích” hơn nữa.
Sau một thời gian tu ở trong đền, họ phát nguyện vào rừng tu và sống
lơa thể. Họ chỉ uống nước suối, ăn trái cây và dành trọn thời giờ
thiền định. Họ quan niệm rằng khi c̣n ăn cơm gạo, mặc y phục
là c̣n mang nợ xă hội. C̣n hưởng những vật dâng cúng của tín đồ là c̣n
mang nợ loài người. Khi tu là phải ly khai với đời, từ bỏ tất cả,
không bận tâm đến bất cứ chuyện ǵ của thế gian như của cải,
vật chất và ngay cả mảnh vải che thân. Đạo Jain cho rằng xuất gia phải
tuyệt tất cả ư niệm sở hữu v́ bất cứ ǵ sở hữu là ràng buộc,
níu kéo đưa đến sự quyến luyến gây chướng ngại cho việc tu hành
giải thoát. Ngay cả các đền thờ đẹp đẽ cũng phải từ bỏ
để vào rừng lấy đất làm giường, lấy trời làm nhà và thú rừng
làm bạn. Họ dành tất cả thời giờ để thiền định về ư
niệm mở rộng ḷng thương đến muôn loài. Nhiều tu sĩ ngồi thiền
mà thú rừng kéo đến quấn quít chung quanh, không hề sợ hăi. Các học giả người
Âu đă gọi tôn giáo này là phái “Lơa thể” v́ quan niệm từ bỏ triệt để
này. Điều đáng tiếc là danh từ “Lơa thể” thường bị đồng
hóa với các sự kiện xấu xa, mọi rợ, thiếu văn minh.
Khi người
Anh đến cai trị xứ này, rất nhiều tu sĩ đạo Jain đă bị bắt
giam v́ tội xâm phạm thuần phong mỹ tục, mặc dù họ chỉ sống trong rừng
không tiếp xúc với xă hội.
Khi gác bỏ các thành kiến dị biệt, phong tục
và tập quán, phái đoàn thấy đạo Jain chủ trương rất thực tế:
Giáo đồ phái này tin tưởng rằng sức mạnh của t́nh thương có thể
san bằng mọi khó khăn, trở ngại. Tuy nhiên, t́nh thương phải hết sức
tuyệt đối, mục đích của nó không giới hạn vào một hạng người
nào riêng biệt mà phải được ban rải đồng đều cho tất cả,
không phân biệt giai cấp, chủng tộc hay tín ngưỡng. Đây là một cải cách hết
sức lớn lao v́ phong tục Ấn Độ vốn rất thiên vị và chủ trương
dị biệt giai cấp. Tín đồ đạo Jain tin rằng con người dù mạnh
hay yếu, sang hay hèn, trung lưu hay hạ lưu, b́nh dân hay vua chúa đều được
thụ hưởng ḷng thương như nhau. Ḷng thương chẳng những phải bao
la mà c̣n nồng nàn như t́nh mẹ con, không quản ngại khó khăn, nguy hiểm. Ḷng thương
phải chân thành, thâm thúy phát ra từ đáy ḷng, không thể giả dối hay vị nể
một hoàn cảnh nào. Sau khi ban rải t́nh thương khắp đồng loại c̣n phải
ban rải đến loài vật từ con voi to lớn đến các côn trùng nhỏ nhen. Do
đó, họ tránh sát sinh đă đành mà c̣n không sử dụng bất cứ vật dụng
ǵ do sự giết chóc mà ra. Đạo Jain cho rằng chiến thắng kẻ thù bằng sức
mạnh là một thú tánh cần loại trừ nhưng chinh phục bằng t́nh thương
là đường lối duy nhất để giải quyết mọi việc.
Đạo
Jain có khá đông tín đồ, phát triển mạnh tại miền bắc Ấn Độ nhưng
không đi đến các nơi khác v́ gặp phải sức chống đối của Ấn
Độ Giáo và Hồi Giáo. Lịch sử Ấn Độ ghi nhận Hồi Giáo đă tiêu diệt
Phật Giáo và đạo Jain một cách hết sức dă man. Hơn nữa, quy luật khắt
khe của tôn giáo này không mấy ai theo nổi và các tu sĩ bịt mặt, lơa thể dễ
bị người đời ngộ nhận. Có lẽ thế, tôn giáo này chỉ bành trướng
trong các vùng hẻo lánh miền sơn cước.
Ashmah là một làng nhỏ, nằm sát chân núi. Phái đoàn dừng chân ở đây một
thời gian cho lừa, ngựa nghỉ ngơi. Một lư do nữa là gần đó có một
di tích lịch sử quan trọng: Ngôi đền yên lặng.
Đó là một ngôi đền
kiến trúc bằng đá trắng, xây cất hơn 4000 năm nay. Trong đền không có h́nh
tượng ǵ mà chỉ là một căn pḥng to lớn, trang nghiêm. Bước vào ngôi đền
yên tĩnh, tất cả mọi người đều thấy trong ḷng bỗng lắng xuống
một cảm giác b́nh an khôn tả. Tục truyền Hoàng đế Rapoor mang quân đi chinh
phục các nước láng giềng đă gặp một vị đạo sĩ nơi đây.
Đạo sĩ khuyên vua nên bỏ ư định chinh phục bằng sức mạnh mà chỉ
nên lấy nhân nghĩa mà đối xử với người. Nhà vua nghe theo ra lệnh băi binh,
khuyến khích dân chúng sống theo đạo hạnh. Từ đó vương quốc Rapoor
được hưởng một nền thái b́nh, tự trị.
Thời gian trôi qua,
đến nay chẳng c̣n mấy ai biết đến thời đại của Hoàng Đế
này nhưng ngôi đền xây cất để kỷ niệm sự tỉnh ngộ của
nhà vua vẫn c̣n tồn tại. Khi bước chân vào đây, không ai được nói một
lời nào mà phải tuyệt đối giữ yên lặng. Lư do ngôi đền không có h́nh tượng
ǵ là để nói đến cái chân lư tuyệt đối vốn vô h́nh, vô tướng. Vị
đạo sĩ giữ đền đă giải thích cho phái đoàn:
- Đền im lặng
là nơi chỗ của quyền năng v́ im lặng đồng nghĩa với quyền năng.
Khi con người đạt đến chỗ im lặng trong tư tưởng th́ họ
đă đến chỗ mà tất cả đều là sự hợp nhất với quyền
năng thiêng liêng. Con người có sức mạnh tư tưởng nhưng v́ vô ư thức
họ đă để cho nó hao tán. Quyền năng hao tán là Động c̣n tập trung là Tĩnh.
Khi tập trung mọi sức mạnh tư tưởng vào một trung tâm sinh lực duy nhất,
con người tiếp xúc với Thượng Đế. Khi hợp nhất với đấng
thiêng liêng ta hợp nhất với mọi quyền năng và đó là di sản tâm linh tối
hậu. Phương pháp duy nhất để ḥa hợp với đấng thiêng liêng là tiếp
xúc với ngài một cách ư thức, từ bỏ ngoại cảnh để quay về với
nội giới v́ đấng thiêng liêng ẩn tàng trong tâm con người. Khi con người
từ bỏ ảo giác của kiêu mạn, bản ngă, nhận thức sự vô minh, hèn kém của
ḿnh và sẵn sàng học hỏi, sửa đổi đó là tu thân. Người ta không thể
dạy bảo điều ǵ cho những cá nhân kiêu căng tự phụ v́ chỉ có người
khiêm tốn mới thấy được chân lư. Đấng thiêng liêng không nghe các lời cầu
xin ồn ào, lập đi lập lại mà chỉ nghe những lời cầu nguyện chân
thành của những kẻ đến với Ngài bằng trái tim, sùng kính Ngài bằng tâm hồn
và yên lặng. Kẻ nào tiếp xúc với Ngài trong âm thầm sẽ nhận biết quyền
năng của Ngài do sự thực hiện các điều mong muốn của họ.
-
Nhưng nếu không cầu nguyện theo một sách vở, Thánh Kinh làm sao tín đồ có thể
hiểu biết về tôn giáo mà họ đang theo đuổi?
- Minh triết phát sanh từ
yên lặng. Thượng Đế không cần ta phải tuyên dương Ngài một cách ồn
ào hay bằng một ngôn ngữ ǵ. Khi một tín đồ thành tâm trong tĩnh lặng, y sẽ
ḥa hợp tư tưởng với ảnh hưởng thiêng liêng và ảnh hưởng này
chỉ có thể nhận được khi ḷng ta vắng lặng. Khi tâm hồn hoàn toàn an tĩnh,
ta có thể tự phân tích ḿnh, trau dồi phẩm hạnh và đón nhận những mặc
khải từ cơi trên. Chỉ trong sự vắng lặng, con người mới ư thức
năng lực trong ḿnh và chung quanh ḿnh. Chỉ trong yên lặng các quyền năng tiềm ẩn
mới phát sinh và nẩy nở. Tâm có an th́ việc bên ngoài mới không vọng động,
dục vọng mới chịu yên tĩnh. Con người có giải thoát các ồn ào, náo nhiệt
bên ngoài th́ mới đón nhận các ḥa âm tuyệt diệu đến từ cơi vô biên. Con người
cần khám phá rằng hạnh phúc ở trong tâm ḿnh. Hiện nay phần lớn đều t́m
kiếm hạnh phúc bên ngoài nhưng ngoại cảnh chỉ đem lại các giải trí trong
chốc lát thay v́ hạnh phúc vô biên. Tất cả phương pháp t́m kiếm bên ngoài đều
vô vọng. Con người phải biết quay về nội tâm v́ mọi h́nh tướng,
nghi thức đều là sự áp chế.
- Nhưng làm sao t́m thấy điều ǵ khi
ngồi yên lặng?
- Con người sẽ dần dần ư thức được chính
ḿnh. Dĩ nhiên, điều này đ̣i hỏi một thời gian. Họ sẽ t́m thấy ở
ḿnh một thứ hạnh phúc không lệ thuộc ngoại vật cũng không lệ thuộc
tha nhân. Một tâm trạng giải thoát không ai có thể cướp được, đó là
tâm trạng “Tôn Giáo” kết tinh bởi sự nẩy nở, thăng hoa các ư thức
sâu kín trong nội tâm. Con người sẽ tự ḿnh t́m thấy câu giải đáp khi họ
ư thức thực chất của chính ḿnh và ảnh hưởng cao cả của Thượng
Đế. Chỉ khi đó, mọi sự t́m kiếm ở ngoại cảnh sẽ chấm dứt.
- Những điều ông nói rất hay nhưng nếu không có sách vở chỉ dẫn
làm sao con người biết đâu mà t́m để đạt đến trạng thái đó?
- Đa số người Âu chỉ quen hoạt động và ỷ lại vào một phương
pháp, giáo lư hướng dẫn cuộc đời; do đó, họ dễ bị hướng
dẫn lầm lẫn, sai lạc. Phải tự ḿnh suy gẫm và t́m lấy con đường
cho chính ḿnh mới là phương pháp đứng đắn.
Con đường giải
thoát đ̣i hỏi can đảm và nỗ lực cá nhân v́ không đường nào giống đường
nào. Lịch sử cho thấy có biết bao Tôn Giáo rao truyền các chân lư cực kỳ tốt
đẹp nhưng đă có mấy tín đồ nghiên cứu tường tận? Đa số
đều ỷ lại vào các giáo sĩ chỉ dẫn. Chính các giáo sĩ c̣n chưa giải
thoát chính ḿnh th́ c̣n cứu độ cho ai nữa? Đó là lư do Hoàng Đế Rapoor xây dựng ngôi đền
im lặng mà trong đó không có một pho tượng, một h́nh ảnh hay ngôn ngữ nào để
tránh đi vào con đường của các tông phái Ấn Giáo. Thượng Đế ở khắp
mọi nơi và tuyệt đối, ngôn ngữ, h́nh ảnh không thể diễn tả được.
Chỉ trong sự im lặng hoàn toàn phá bỏ tất cả h́nh tướng, nghi thức, con
người mới tự do sống b́nh an với nhau, hiểu sự liên quan giữa y và những
người đồng loại.
Con người thường suy tư về sự
liên hệ giữa người với người nhưng sự suy tư này ít nhiều đều
thiên vị. Nó luôn luôn sai lạc nếu nó khảo sát sự vật xuyên qua bản ngă. Tư
tưởng con người chỉ chân chính khi họ giải thoát khỏi các thành kiến,
điều kiện bao bọc bên ngoài. Tự do tư tưởng không phải chỉ là muốn
nghĩ thế nào th́ nghĩ mà c̣n là giải thoát ta ra khỏi các áp lực bắt ta phải
suy nghĩ theo một lề lối riêng. Đây là một chân lư chỉ t́m thấy trong sự yên
lặng, trong sự cởi bỏ mọi nghi thức, h́nh tướng, ngôn ngữ, các thành
kiến dị biệt, các cưỡng bách tư tưởng, các sợ hăi bắt nguồn
từ vô minh. Chỉ khi hoàn toàn tự do, con người mới thực sự b́nh an và giải
thoát.
Phái đoàn từ giă vị giáo sĩ coi ngôi đền. Cuộc viếng thăm
tuy ngắn ngủi nhưng đă gây một ấn tượng tốt đẹp với mọi
người. H́nh như có một luồng từ điện vô h́nh phảng phất quanh ngôi
đền khiến ai cũng thấy trong ḷng dào dạt một sự b́nh an khó tả. Lối
tu trong yên lặng không c̣n là một vấn đề trừu tượng, vô ích như họ
nghĩ. Quả thật xứ Ấn c̣n rất nhiều điều để cho người
Âu học hỏi và suy nghĩ.
Chương 4: Thành Phố Linh Thiêng
Rishikesh! Một tên gọi linh thiêng, thành phố của các vị thánh. Từ lâu nay người
ta đă coi thành phố này như một thánh địa mà tất cả những kẻ cầu
đạo đều phải đến để đắm ḿnh trong bầu không khí thiêng
liêng. Rishikesh nằm ở một vị trí đặc biệt và là cánh cửa vào rặng Hy
Mă Lạp Sơn. Từ đó đi lên hướng Bắc là rặng núi hùng vĩ, chứa
đựng những điều huyền bí. Phía nam là con sông Hằng, ḍng sông thiêng của Ấn
Giáo. Một người Ấn bất kể giai cấp, trí thức, đều ít nhất
một lần trầm ḿnh trong ḍng nước này để đón nhận những ân phước
mà ḍng sông mang lại.
Đúng như lời người Ấn bí mật thành Benares đă nói, khắp
nơi đâu đâu cũng có các đạo sĩ và tín đồ hành hương. Có những
đạo sĩ ḿnh hạc, xương mai vừa đi vừa tụng niệm các câu thần
chú. Có các đạo sĩ khổ hạnh chống gậy trầm tư bên ḍng nước
sông Hằng. Chen chúc bên các tín đồ huyên náo là các thuật sĩ quần áo sặc sỡ
biểu diễn những tṛ lạ lùng. Một đạo sĩ to lớn, lực lưỡng,
quấn khố bằng da cọp uốn ḿnh trong tư thế Yoga bên cạnh một thuật
sĩ gầy g̣ nằm lăn trên đất lâm râm cầu nguyện. Có các vị tăng sang
sảng đọc kinh bên cạnh những giáo sĩ vừa đánh trống vừa nhẩy
nhót, ca hát tên các vị thần. Có những tu sĩ thiền định trong những hang đá
đục sâu vào núi, không màng thế sự bên cạnh những đạo sĩ râu tóc xồm
xoàm, quấn ḿnh trong những mănh vải rách như một xác ướp. Có các tu sĩ nằm
yên lặng, hơi thở thoi thóp như sắp chết bên cạnh những thuật sĩ
say sưa gọi tên Thượng Đế một cách ồn ào. Trong làn khói hương nghi ngút,
các tín đồ hành hương chen vai thích cánh, trên mặt ai cũng một niềm thành kính
rơ rệt. Phái đoàn cảm tưởng như đang lạc vào một thế giới lạ
lùng, huyền ảo, với những nhân vật kỳ dị, khác thường.
Bác sĩ
Kavir, giám đốc viện nghiên cứu Phạn Ngữ của chính phủ là một học
giả nổi tiếng, có một kiến thức rộng và đă sống ở Rishikesh nhiều
năm. Theo ông ta th́ Rishikesh không c̣n là một thành phố của các bậc chân tu đạo
hạnh như xưa mà là một nơi quy tụ rất nhiều thành phần hỗn tạp.
Đa số là các đạo sĩ, tu sĩ nghèo nàn từ h́nh thức đến tinh thần. Họ
góp nhặt vài phép tu, vài phương pháp dưỡng sinh, vài câu thần chú rồi kiếm ăn
qua sự mê tín của dân chúng. Phần lớn những tu sĩ này đều là những kẻ
thất bại ngoài đời, lười biếng, không chịu làm việc. Đối với
một quốc gia chậm tiến như Ấn Độ th́ h́nh thức dễ nhất để
có cơm ăn, áo mặc và một mái nhà là trở nên một tu sĩ, sống trên ḷng sùng tín
của dân chúng. V́ không có một tiêu chuẩn kiểm soát nào nên bất cứ ai cũng có thể
trở thành tu sĩ, chỉ cần mặc áo tu sĩ, học thuộc vài câu kinh, vài h́nh thức
lễ nghi, cúng tế là có thể tự xưng Đạo Sĩ, Thánh Nhân được rồi.
Chính các tu sĩ, đạo sĩ giả mạo này là những kẻ đă làm hoen ố danh
dự tôn giáo, lợi dụng đức tin để làm chuyện sằng bậy, ích kỷ,
cá nhân. Đă thế, họ lại c̣n tụ tập phe nhóm, phong chức tước, ca tụng
lẫn nhau và đả kích những tu sĩ không cùng phe nhóm.
Đượn tin có phái đoàn
ngoại quốc đến nghiên cứu nền minh triết cổ truyền, rất đông
đạo sĩ, giáo sĩ t́m đến để tiết lộ những pháp môn huyền
bí, dĩ nhiên với một giá biểu. Khi bị từ chối lập tức họ sụt
giá như người mua bán. Một đạo sĩ đ̣i bán một cuốn sách bí truyền
với giá 50 đồng tiền vàng, sau nhiều lần sụt giá y bằng ḷng để
lại cuốn sách với giá một bữa ăn. Một nhóm tu sĩ danh xưng trọng
vọng, chức tước đầy người đ̣i đến thảo luận triết
lư với phái đoàn. Khi nghe họ giới thiệu về thành tích và đạo quả đạt
được, phái đoàn cực kỳ ngẫn ngơ v́ toàn các bậc thần thánh ǵ đâu
chứ không phải người. Ai cũng tu cả trăm năm đủ các phép thuật
thần thông biến hóa. Tuy nhiên, khi một viên cảnh sát ở đâu bước vào th́ các
bậc “thần tiên” mặt mày lơ láo, kéo nhau bỏ chạy hết.
Quanh các
chợ búa, có rất nhiều các tu sĩ khổ hạnh phô trương thân thể tàn phế
bị hủy hoại như một công tŕnh vĩ đại. Phái đoàn không hiểu họ
có thể đạt đến điều ǵ ngoài ít xu lẻ mà khách bộ hành ném cho.
Một
số các đạo sĩ sử dụng tà thuật công khai. Với một giá biểu, họ
sẵn sàng làm bùa chú, thư phù, nguyền rủa một kẻ thù của bạn, đem đến
cho bạn một cô gái đẹp hoặc giúp bạn thành công trên thương trường.
Đâu đâu cũng có các đạo sĩ rao bán bùa ngăi hoặc xưng là đấng này, đấng
nọ. Một tu sĩ đến gặp phái đoàn xưng là hậu thân của đấng
Krishna và đă từng là Phật Thích Ca trong một tiền kiếp. Bác sĩ Kavir nổi giận
ra lệnh tống giam ngay tu sĩ này. Khi cảnh sát đến c̣ng tay, tu sĩ thú nhận y
chỉ là một học sinh thi rớt Tiểu Học, không sao kiếm được việc
làm. Y đă lười biếng c̣n thích làm thầy kẻ khác nên làm ǵ một thời gian cũng
gặp khó khăn. Sau cùng, y cạo đầu, mặc áo tu và tự xưng là đấng Krishna
giáng thế, một số dân quê tin những lời tuyên bố của y. Họ quyên góp, xây
cho y một ngôi đền. Y sống trên phẩm vật dâng cúng của tín đồ một
cách ung dung chẳng tu hành ǵ hết. Đă thế, y c̣n đ̣i hỏi này nọ, chê ngôi đền
quá nhỏ bé không xứng với chức tước của y. Quen thói hống hách, lừa bịp,
khi nghe tin có phái đoàn ngoại quốc đến thăm viếng, y dở tṛ bịp bợm
để mong kiếm được món tiền nhỏ.
Lịch sử Ấn Độ
cho thấy khi xưa Rishikesh là một thánh địa thiêng liêng, một nơi các tu sĩ thánh
thiện đến để tu học. Sau này, khách hành hương quá đông, một số
hành khất kéo nhau đến đây hành nghề. Thấy làm đạo sĩ coi bộ dễ
kiếm ăn hơn nên nhiều hành khất đă “chuyển nghề” trở thành
các đạo sư, giáo sĩ chuyên làm tiền các tín đồ ngây thơ nhẹ dạ.
Dĩ
nhiên, Rishikesh vẫn c̣n các tu sĩ học thức, dành trọn đời cho việc đi
t́m chân lư. Họ vẫn tu hành quanh đó không để ư đến sự kiện các tu sĩ
giả lợi dụng sự có mặt của họ để mưu cầu lợi lộc.
Đó cũng là một nét đặc thù của nền văn hóa xứ này. Một người
Âu Mỹ chắc chắn không thể chấp nhận sự kiện như thế, họ sẽ
nhờ luật pháp can thiệp hoặc cảnh cáo những tu sĩ bất lương. Nhưng
Ấn Giáo không có một tổ chức chặt chẽ như Thiên Chúa Giáo. Các giáo sĩ quan
niệm có nhiều đường tu khác nhau, ai tu nấy chịu và những kẻ mạo
danh, lợi dụng sẽ phải chịu hậu quả ở một kiếp sau.
Giáo
sư Kavir cho biết theo thời gian, khi nền văn hóa suy đồi, cuộc sống trở
nên khó khăn, các bậc tu sĩ thánh thiện mỗi ngày mỗi hiếm th́ các đạo sĩ,
thuật sĩ giả mạo nổi lên mỗi ngày một nhiều. Hàng ngàn người dốt
nát, vô học đi lang thang với các chức tước rất lớn như Đạo Sư
(Guru), Giáo Sĩ (Yogi), Thánh Nhân (Bhagwan). Họ chỉ chờ những ngày hội, ngày lễ
là xuất hiện quanh các đền, chùa lên mặt này nọ để quyên tiền. Dĩ
nhiên họ là gáng nặng của xă hội v́ chỉ thụ hưởng mà không làm lợi ích
ǵ. Đó cũng là lư do nhiều người Âu Mỹ đă coi thường gia tài văn hóa xứ
Ấn. Xét cho cùng, một phần lỗi cũng là do sự tôn sùng tôn giáo quá mạnh của
dân chúng. Họ không phân biệt một đạo sư tu hành chân chính, ǵn giữ giới luật
trang nghiêm với những kẻ bịp đời. Ḷng sùng tín khiến họ trở nên ngây
thơ, nhẹ dạ sẵn sàng làm theo sự mách bảo của các bậc tu hành. Một lư
do nữa là sự ỷ lại vào sức mạnh thần quyền, đa số các tín đồ
mải mê với sinh kế, không có th́ giờ lo việc tinh thần nên họ ủy thác cho
các giáo sĩ cầu nguyện giùm và đồng hóa việc giải thoát với việc trung
thành vào một bậc giáo sĩ. Đa số các giáo sĩ lợi dụng vấn đề này
tối đa, hứa hẹn sẽ chăm lo tinh thần giáo dân bằng cách cầu nguyện
cho họ. Các giáo sĩ này tự hào đă tu hành đắc đạo, đă có thể nói chuyện
trực tiếp với Thượng Đế và là người trung gian giữa Trời và người.
Họ sống trong các đền đài đẹp đẽ, hưởng thụ vật dân
cúng và nhân danh Thượng Đế để đ̣i hỏi này nọ. Người Á Châu bản
tính không thích hoài nghi, chấp nhận việc các tu sĩ nói ra như ư muốn của Thượng
Đế và tuân theo triệt để. Cũng v́ thế, các tài liệu tôn giáo Ấn Độ đă
bị sửa đổi đi rất nhiều, không phân biệt điều có thật với
những sự kiện huyền hoặc. Các tu sĩ tha hồ trích dẫn những câu nói bí
ẩn và giảng ra theo ư nghĩa có lợi nhất cho họ. Xứ Ấn Độ phân biệt
giai cấp rơ ràng, tu sĩ luôn đứng hàng đầu trên cả vua chúa, quư phái. Giai cấp
tu sĩ không làn ǵ chỉ hưởng thụ và các giai cấp khác có bổn phận phải
cung cấp các nhu cầu đ̣i hỏi cho tu sĩ. Cũng v́ không làm ǵ, quá nhàn hạ, họ
đâm ra chống báng, đả kích lẫn nhau. Mỗi người tự lập một giáo
phái, môn phái, xưng hùng, xưng bá, giảng kinh điển theo quan niệm của ḿnh từ
cụ thể đến trừu tượng như Thời Gian Luận, Phương Hướng
Luận, Đa Nguyên Luận... không ai chịu theo ai và c̣n tranh luận lung tung khiến các tín đồ
không c̣n biết đâu mà tin.
Cũng v́ xă hội nghèo đói, rối ren, tinh thần lại
điên đảo bởi các tà thuyết nên từ bao năm nay, Ấn Độ không sao trở
nên một quốc gia hùng cường, thịnh vượng như các xứ khác. Tuy thế,
với gia tài minh triết lớn lao tiềm ẩn, vẫn có các bậc chân tu đạo hạnh,
sống kín đáo để giữ cho ngọn lửa tâm linh luôn cháy sáng và vẫn có những
người tha thiết mong cầu chân lư, sẵn sàng từ bỏ tất cả để
đi t́m chân lư.
Sự kiện từ bỏ tất cả để đi t́m đạo
cũng là một nét rất đặc biệt của Á Châu v́ người Âu Mỹ khó có thể
chấp nhận vấn đề từ bỏ của cải, vật chất để chạy
theo một viễn ảnh trừu tượng, viễn vông, không thiết thực. Người
Âu cả quyết rằng sự t́m kiếm chân lư là vô ích, hạnh phúc là hưởng thụ
tất cả những ǵ cuộc đời có thể mang lại v́ chết là hết. Tuy nhiên,
vẫn có những người Âu đă tự đặt câu hỏi phải chăng chết
là hết? Nếu như thế th́ mục đích cuộc đời là ǵ? Tại sao chúng ta
lại sinh ra để chết? Văn hóa Âu Tây đă không giải thích được vấn
đề này một cách rốt ráo. Biết bao nhà triết học nổi danh đă nhứt
óc về đề tài này nhưng đa số đều chỉ nói một cách quanh co, không
đi đến một kết luận nào chắc chắn. Họ chỉ nói rằng có thể
như thế này hay cũng có thể như thế khác mà thôi. Cho đến khi người
Âu thực sự giao tiếp với người Á Châu th́ họ bỗng bật ngửa v́ tất
cả những ǵ họ thắc mắc th́ người Á đă có những câu trả lời
từ nhiều ngàn năm trước.
Lịch sử đă ghi nhận có những người
Âu đến viếng thăm Á Châu và say mê nền minh triết xứ này đến nỗi
quên cả mục đích chính của chuyến đi. Điển h́nh là Đại Đế Alexandre xứ
Hy Lạp, vị hoàng đế bách chiến, bách thắng đă chinh phục thế giới,
dẹp tan Ai Cập, quét sạch Ba Tư mở rộng bờ cơi đến tận Ấn
Độ Dương.
Khi đến Ấn Độ, ông là một kẻ chinh phục oai danh
lừng lẫy nhưng khi trở về nước, ông đă trở nên một triết gia
khiêm tốn, nhă nhặn. Hoàng Đế Alexandre, học tṛ của hiền triết Aristotle đă
bị các bậc hiền giả xứ Ấn chinh phục. Khi dẹp tan các đạo binh
của Hoàng Đế Ấn Độ, Alexandre cho mang tất cả những tướng chỉ huy
xứ Ấn đến hạch hỏi. Ông Vua kiêu căng lớn tiếng “Thua trận
như vậy, các người đă chịu phục ta chưa?”
Nếu là trường
hợp các quốc gia khác, th́ vua chúa đều quỳ mọp xin tha tội và xin thần phục
trước sức mạnh của Hy Lạp. Nhà chỉ huy xứ Ấn đă dơng dạt trả
lời: “Nhà ngươi chỉ là một kẻ vũ phu, tàn ác làm sao ta phục cho được.
Ngươi có thể thắng bằng quân sự nhưng cai trị thế nào nổi dân của
ta?” Alexandre nổi giận: “Ta đă cai trị toàn thể thế giới, có nước
nào không phục tài ta, nơi nào làm phản ta giết trọn cả nước, ngươi
không thấy các đại cường quốc như Ai Cập, Ba Tư c̣n xin thần phục
huống chi Ấn Độ yếu đuối?” Vị chỉ huy xứ Ấn bật cười:
“Chinh phục bằng sức mạnh quân sự th́ dễ chứ chinh phục nhân tâm c̣n
khó gấp trăm ngàn lần, một kẻ vũ phu như ngươi làm sao có thể cai trị
được Ấn Độ?” Câu nói bất ngờ làm Đại Đế Alexadre giựt ḿnh.
Nên nhớ, ông là một hoàng đế văn vơ toàn tài chứ không phải một kẻ chỉ
ỷ vào sức mạnh. Từ nhỏ, ông đă được giáo dục bởi các bậc
hiền triết Hy Lạp và năm 14 tuổi đă đem quân chinh phạt khắp Địa
Trung Hải tạo các chiến công hiển hách. Ông theo học với triết gia Aristotle và
lúc nào cũng có vài chục hiền giả chung quanh để thảo luận. Câu nói của
vị tướng lănh chỉ huy xứ Ấn làm ông suy nghĩ. Thay v́ ra lệnh giết ngay
viên tướng này để làm gương, ông đă không giận dữ lại c̣n mang ngay
đề tài chinh phục nhân tâm ra thảo luận với y. Trong suốt lịch sử Âu
Châu, chỉ có Alexandre là hoàng đế duy nhất đă tranh luận ôn tồn cho đến
khi kẻ thù kính phục mới thôi.
Chi tiết cuộc thảo luận này ra sao không
thấy lịch sử ghi chép nhưng chỉ ít lâu sau, Hoàng Đế Alexandre đă cho mời các
bậc hiền triết xứ Ấn đến thảo luận với các học giả
Hy Lạp vẫn tháp tùng theo đoàn quân viễn chinh. Chỉ một thời gian ngắn, Alexandre
nhận thấy các triết gia Hy Lạp không thể sánh kịp với các hiền giả Ấn
Độ. Nhà vua bèn đổi thái độ, lấy lễ nghĩa đối xử với các
vị này. Thay v́ cai trị bằng sức mạnh như vẫn làm với các quốc gia khác,
ông ghi nhận những lời khuyên của các bậc hiền triết, tôn trọng quyền
lợi dân chúng xứ này.
Đoàn quân viễn chinh ngưng lại không đi sâu vào nội
địa xứ Ấn để ông có th́ giờ học hỏi, đàm đạo với
các bậc thánh nhân, hiền triết. Các cuộc thảo luận nhiều khi kéo dài đến
cả tuần lễ, có khi cả tháng. Sau đó, ông đă ra lệnh rút binh trở về Hy
Lạp v́ giấc mộng bá vương không c̣n nữa. Ông dự định sẽ cải
tổ lại guồng máy cai trị thế giới theo gương Ấn Độ. Tiếc thay,
nhà vua lại chết sớm khi chưa đầy ba mươi tuổi. Một sử gia đă
than: Nếu Alexandre sống lâu thêm ít năm nữa th́ biết đâu lịch sử Tây Phương
đă khác hẳn.
Trong các vị hiền triết nổi danh, Ramakrisna được
coi như một vị Thánh của Ấn Giáo. Danh tiếng ông này đă vang sang tận Âu Châu.
Phái đoàn t́m đến đức Mahayasa, môn đệ của ông này đang tu ở một
ngôi đền gần đó.
Ngang qua một khoảng sân nhỏ đến một căn
pḥng kiến trúc kiểu xưa cổ kính, mọi người được mời ngồi
xuống thảm. Khoảng vài phút sau, một tiếng chân người chậm răi bước
lại: đó là một ông lăo khỏe mạnh, râu dài trắng phếu, dung mạo nghiêm trang
và đôi mắt chói sáng tỏa ra một cái ǵ thánh thiện khiến mọi người có
cảm giác rung động lạ thường.
Giáo sư Evans - Wentz lên tiếng bầy
tỏ mục đích của phái đoàn, Mahayasa mỉm cười: “Ơn trên đă dẫn
dắt các ông đến đây, các ông sẽ có dịp tiếp xúc nhiều với những
bậc hiền triết xứ này. Ơn trên có một mục đích rơ ràng rồi các ông sẽ
thấy.”
- Chúng tôi nghe nói nhiều về đạo sư Ramakrishna, ông có thể
cho chúng tôi biết thêm về ngài không?
- Tôi rất thích nói về ngài, ngài mất đă
nửa thế kỷ rồi nhưng vẫn c̣n lưu lại nhiều kỷ niệm linh động
trong ḷng tôi. Tôi gặp ngài hồi 27 tuổi và luôn luôn ở bên ngài cho đến những ngày
cuối cùng. Nhờ ngài, tôi đă trở thành một con người mới và quan niệm của
tôi đối với cuộc đời cũng thay đổi hẳn. Ảnh hưởng
của ngài rất sâu đậm, ai đến với ngài cũng được cảm hóa
như vậy kể cả những kẻ hoài nghi, chế nhạo...
- Nhưng nếu
người ta không tin, làm sao người ta có thể được cảm hóa?
Đức
Mahayasa mỉm cười:
- Trước ảnh hưởng an lành tỏa ra từ con
người thánh thiện của đức Ramakrishna dù có hoài nghi thế nào, người ta
cũng thấy thanh thoát.
Giáo sư Allen rụt rè:
- Chúng tôi được biết
ngài rất ít học.
- Đúng thế, ngài là con người đơn giản, biết ít,
học ít nhưng ngay cả những bậc học rộng, tài cao của Ấn Độ đều
ngưỡng mộ ngài. Họ cúi đầu trước hào quang tâm linh của ngài. Ngài vẫn
dạy rằng tiền bạc, chức tước, địa vị chẳng qua chỉ là
phù vân, hư ảo trước các giá trị tâm linh...
- Nhưng người Âu không thể
hiểu tại sao những vua chúa, học giả nổi tiếng lại có thể cúi đầu
trước một người không học hết bậc trung học...
Đức Mahayasa
mỉm cười:
- Sở dĩ họ không hiểu được v́ họ quan niệm
đạo sư phải là người có bằng cấp, tốt nghiệp những đại
học nổi tiếng, có tài ăn nói hấp dẫn. Quan niệm người Ấn không như
vậy, một đạo sư không nhất thiết phải tốt nghiệp trường
học chuyên môn, viết những sách vở cao siêu, mà ở những điều ngài khêu gợi,
thức tỉnh tâm thức được cho ḿnh, có gần ngài mới hiểu thế nào là
b́nh an. Những ngày bên ngài tốt đẹp biết bao, ngài thường đắm ḿnh trong
những cơn thiền định sâu xa khiến chúng tôi có cảm tưởng như tiếp
xúc với một vị Thánh hơn một người phàm. Tôi xin kể cho các ông về cảm
tưởng của tôi: Tôi được giáo dục theo phương pháp Âu Tây, tôi rất tự
đắc được học nhiều biết rộng hơn những người chung
quanh. Khi đó tôi là giáo sư dạy Anh Ngữ cho trường Trung Học ở Calcutta, đức
Ramakrishna tu ở đạo viện Dakshinewar cách đó không xa. Một hôm, tôi theo các bạn
đến nghe ngài thuyết giảng, thực ra tôi có ư muốn biện luận với một
vị được dân chúng coi là Thánh Nhân hơn là nghe giảng nhưng một sự lạ
lùng đă xẩy ra. Khi vừa nghe những lời nói của ngài, tôi thấy trong ḷng rộn
ră một cảm giác lạ lùng, yên tĩnh. Ngài không nói bằng ngôn ngữ thông thường,
sử dụng các danh từ bóng bẩy như tôi nghĩ mà bằng tiếng nói của trái tim.
Tôi say mê uống những lời giảng giản dị, chân thành như người khát nước
lâu ngày, sau đó, tuần nào tôi cũng đến nghe giảng. Một thời gian sau, tôi được
ngài thu nhận làm đệ tử, chính ngài khuyên tôi:
- Xem tướng, thầy biết
con sẽ trở nên một tu sĩ (Yogi). Con hăy làm tṛn công việc hàng ngày của ḿnh với
đời, nhưng tâm hồn lúc nào cũng tưởng nhớ đến Thượng Đế.
- Chúng tôi nghe nói về Ramakrishna ngay từ khi c̣n ở Âu Châu nhưng dư luận người
Anh có lẽ không hiểu rơ về ngài ngoại trừ việc ngài là một người không
có học...
Mahayasa gật đầu mỉm cười:
- Theo sự hiểu biết
của tôi, sở dĩ ngài không thích học v́ bản tánh ngài thiên hẳn về vấn đề
tâm linh. Một người như thế tất nhiên không để ư đến những từ
chương, bằng cấp hay quyền quí, danh lợi. Năm ngài bắt đầu vào tuổi
thanh niên một sự lạ xẩy ra: Tuổi 16, 17 là lúc đứa trẻ thường bị
khủng hoảng hoặc thay dổi tâm tính nhất là trên phương diện t́nh ái. Đối
với người cao thượng, đó là lúc mở màn cho một đời sống thật
sự với sự phát triển các năng khiếu tâm linh siêu việt: sự mở màn ấy
bắt đầu với sự hoảng hốt trước cái chết. Đa số con người
ít nhiều cũng đă nghĩ đến sự chết nhưng họ chỉ nghĩ một
lát rồi quên ngay ít ai chịu t́m hiểu sâu xa. Các bậc hiền triết th́ khác, họ tận
lực t́m hiểu thế nào là sự chết, đức Ramakrishna cũng phản ứng như
vậy, ngài suy gẫm: Cái ǵ là Chết? Thể xác này chết nhưng c̣n tôi, tôi có chết không?
Nếu tôi là thể xác này, tôi chết nhưng tôi có phải là thể xác này không? Nếu tôi
không là thể xác này, tôi sẽ không chết nhưng làm sao t́m ra điều này? Chỉ có một
cách là kinh nghiệm sự chết.
Sau đó, ngài quyết tâm tham thiền, suy gẫm về
đề tài này, ngài tưởng tượng thân thể ngài đă chết, không c̣n thở,
không c̣n cảm xúc. Với một ư chí mănh liệt, ngài rút hết sinh lực ra khỏi thể
xác và một ngày kia ngài thành công. Thân thể ngài cứng đơ, bất động như
người chết nhưng ngay lúc đó một quyền lực khôn tả phát ra từ đáy
ḷng và tràn ngập tâm tư ngài. Chuyện ǵ xẩy ra sau đó, không thấy ngài nói đến
nhưng chúng ta có thể đoán ra, xuyên qua lời dạy bảo của ngài. Chúng ta có thể
nghĩ rằng quyền lực ấy là cái mà ta gọi Ân Huệ và khi được mặc
khải đó th́ ta tiến sâu vào nguồn sống để ḥa hợp với đấng
vô cùng: ngài đă hợp nhất với chân ngă. Từ đó, ngài kinh nghiệm rằng chân ngă
ngự sâu trong ḷng nhưng ngài chưa kinh nghiệm được một chân lư khác: chân ngă
là sự thật duy nhất, ngoài sự thật đó không có ǵ nữa cả. Khi tiến sâu
vào nội tâm, ngài thấy sự b́nh an nhưng khi ngài tỉnh dậy ngài vẫn không thỏa
măn v́ điều ngài mới đạt đến chỉ là sự b́nh an của các vị Thánh.
Ngài ra tâm suy gẫm về cảm giác thiếu thốn này, thân thể ngài khi đó thường
nóng hực kéo dài trong nhiều tháng Dĩ nhiên, những người chung quanh không hiểu và cho rằng
ngài mắc bệnh. Ngài đắm ḿnh trong trạng thái vô ngă rất lâu, không màng ǵ đến
những việc chung quanh. Chú của ngài không hiểu nên thường trách mắng ngài lười
biếng không chịu học hành. Một hôm, ngài nghe nói đến ngôi đền Dakshiniwar,
danh từ này có một sức hấp dẫn lạ lùng thế là ngài quyết định đến
đó. Đến nơi, ngài bước ngay đến trước tượng Shiva và nói: “Hỡi
cha, cha đă gọi, nay con đến với cha.” Ngay lúc đó các cảm giác nóng hực,
thiếu thốn hoàn toàn biến mất. Ngài chứng nghiệm được một chân lư
mới: cha ta và ta là một. Từ đó ngài không cần tĩnh tâm mới có cảm giác an lạc
mà lúc nào cũng ở tràng thái này.

|
|

|

|

|

|

|
|
4.
Ramakrishna bị rất nhiều thử thách. Bị trẻ con chọc phá và các tu sĩ
khác dèm pha, gây hấn nhưng ḷng ngài lúc nào cũng b́nh thản, lặng yên không một chút vọng
động. Kinh Gita dạy rằng một khi đă đạt dến trạng thái vô ngă ḷng
người không c̣n bị xao động bởi các sự kiện bên ngoài dù khắc khe, đau
khổ đến đâu. Một sự an lạc tràn ngập thân ngài lôi cuốn những người
chung quanh khiến họ khâm phục, kính mến và số người này mỗi ngày một
đông.
Một điều đặc biệt cần lưu ư là ngài không học hay đọc
những sách vở ǵ về trạng thái vô ngă mà ngài đạt được lúc thanh xuân.
Cũng không ai chỉ dẫn ngài về trạng thái siêu việt này. Nhưng mỗi khi tín đồ
nhờ ngài giảng giải một đoạn kinh sách ǵ, ngài mới đọc và thông hiểu
nó một cách đẽ dàng. Các sách vở đó rất ư khó hiểu, nhưng ngài chỉ
đọc lướt qua đă quán triệt được ngay v́ ngài dă chứng nghiệm
được những điều nói trong sách đó. Ngài dạy đạo bằng sự
lặng thinh hơn là lời nói, nhiều người đến với ngài để chất
vấn nhưng khi vừa gặp ngài th́ mọi thắc mắc tự nhiên tiêu tan như đă
được phúc đáp. Nếu một câu hỏi đặt ra ngài thường trả lời
một cách dịu dàng, vắn tắc, dễ hiểu. Ngài không viết sách như những đạo
sư khác mà chỉ dạy đạo qua cữ chỉ yên lặng hay vài câu nói giản dị.
Môn đệ của ngài đến từ khắp xứ và tùy theo căn cơ lănh hội ít
hay nhiều. Ư kiến của họ về ngài tuy khác nhau nhưng ai cũng nh́n nhận ngài
là một đạo sư vào bậc nhất và hết sức kính mến ngài. V́ đă đạt
trạng thái vô ngă, Ramakrishna không phân biệt giữa ngài và những người khác, giữa
người giàu, kẻ nghèo hay nam nữ. Đối với ngài tất cả đều b́nh đẳng
tuyệt đối kể cả những loài thú cầm.
V́ Ramakrishna không hề để lại sách vở, giáo lư nên người Âu không hiểu
tại sao ngài lại nổi tiếng như vậy? Ông có thể cho chúng tôi biết một
chút về giáo lư của ngài không?
Mahayasa mỉm cười:
- Sau khi ngài qua đời,
nhiều đệ tử đă xuất gia để truyền bá giáo lư, riêng tôi vẫn c̣n là
cư sĩ, hàng ngày tôi vẫn đi làm nhưng sống giữa cơi đời mà tôi không c̣n
tùy thuộc vào đời. Tôi c̣n nhớ rơ một lần ngài đă dạy như sau: Chúng ta
xông pha trong cuộc đời với ư niệm cho rằng ta có thể t́m hạnh phúc trong cơi
đời và nhờ cơi đời. Cho đến lúc gần đất, xa trời, nhiều
người cũng không buồn hỏi rằng ư niệm đó có đúng không? Thật sự
là chúng ta chả bao giờ chịu ngừng lại để suy nghĩ, lúc nào chúng ta cũng
nghĩ rằng ḿnh gần đạt được những điều ḿnh mong mỏi. Chúng
ta chỉ chịu dừng chân khi nào bị cuộc đời hắt hủi, giày ṿ.
Ramakrishna
cho rằng đó là việc dĩ nhiên và giải thích bằng giấc mộng: Trong giấc
mộng, nếu ta chỉ gặp những điều thích thú, chúng ta vẫn mơ mộng
măi và chỉ giật ḿnh, tỉnh giấc khi gặp những chuyện đau buồn. Một
cuộc đời êm đẹp không tiện cho sự suy tư về các vấn đề
quan trọng nhưng nếu là mộng th́ chắc chắn cũng phải có lúc tỉnh.
Trong
nhiều năm ṛng ră, chúng ta cố t́m hạnh phúc và nhiều lần tưởng đă đạt
được nó để hưởng một cách lâu bền, nhưng lần nào ta cũng
thất vọng. Sau đó ta lại tiếp tục chạy theo ảo ảnh đó như trước.
Nếu biết dừng chân suy nghĩ, ta sẽ thấy chúng ta đuổi theo hạnh phúc nhưng
không hề biết đến bản chất thật sự của nó và không biết phải
dùng phương tiện nào để đạt nó. Hăy thử t́m hiểu thế nào là hạnh
phúc. Ai cũng biết đặc tính của hạnh phúc là Thường Hằng nghĩa là
nó phải ở măi với ta, suốt đời ta lúc nào cũng vui sướng, tươi
tắn. Nhưng tất cả những ǵ cuộc đời mang lại cho ta đều là
vô thường, chỉ có những khoái cảm nhất thời chứ có ǵ lâu bền đâu.
V́ khoái cảm nhiều và đến với ta như ḍng nước chảy, chúng ta tưởng
nó là hạnh phúc và kết luận rằng bao giờ gịng khoái cảm đó c̣n tiếp tục
đến với ta, chúng ta được hưởng hạnh phúc. Suy gẫm kỹ khoái
cảm chẳng qua chỉ là phản ứng của ḷng ta trước sự vật bên ngoài,
nó lôi cuốn chúng ta. Các sự vật này khi th́ tạo vui, lúc th́ gây khổ, hơn nữa cùng
một sự vật mà có thể tạo vui hay gây khổ tùy lúc bởi thế ta phải nhận
thức rằng Hạnh Phúc không có ở sự vật bên ngoài. Nếu nó là sự vật bên
ngoài, chúng ta phải càng có hạnh phúc khi càng có nhiều sự vật mới đúng chứ.
Thật sự, người giàu có, lắm sự vật chưa chắc đă hạnh
phúc hơn kẻ nghèo. Nói cách khác, kẻ nghèo ít của cải chưa chắc thiếu hạnh
phúc hơn người giàu. Tóm lại, chúng ta hấy rơ rằng ḿnh theo đuổi hạnh
phúc nhưng không biết thế nào là hạnh phúc và cũng chả biết phải dùng cách nào
để đạt được nó.
Những người t́m hiểu một cách chân
thành sớm muộn ǵ cũng thấy rằng hạnh phúc nằm ở ngay nội tâm ta. Các
khoái cảm không có tính cách tư hữu mà chỉ là một tia nhỏ của hạnh phúc chân
thật thuộc bản tính tự nhiên của con người và bị che lấp bởi vô
minh. Một con chó gậm xương bị trầy miệng, chảy máu nó lại tưởng
rằng máu phát xuất từ khúc xương, chúng ta cũng thế cứ tưởng sẽ
được hạnh phúc khi chạy theo những vật ngoại giới.
Có lẽ
các ông khó chấp nhận quan niệm này nhưng ít ra cũng tin rằng những nổi vui
hay buồn tùy ở chúng ta nhiều hơn là sự vật bên ngoài. Dù sao, sự chấp nhận
này chưa đủ đem lại cho ta hạnh phúc v́ có hai nỗi de dọa: sự ham muốn
và sợ hăi. Chúng ta càng ham muốn th́ càng sợ hăi và càng sợ hăi lại càng đau khổ,
thay v́ diệt trừ những đe dọa này chúng ta lại quỵ lụy chúng. Khi ham muốn
lên tiếng: Hăy đạt được vật dó đi rồi sẽ sung sướng th́
chúng ta tin tưởng và t́m mọi cách đạt kỳ được vật đó, nếu
chúng ta không đạt được th́ chúng ta đau khổ mà nếu đạt được
th́ ham muốn lại thúc dục ta t́m đến một vật khác nữa. Thế mà chúng ta
vẫn không thấy ḿnh bị lừa gạt chút nào mới lạ, quả là ham muốn như
lửa đỏ, càng cháy dữ khi càng đổ thêm dầu. Bao giờ chúng ta là nô lệ của
dục vọng, chúng ta không sao đạt được hạnh phúc. Nếu đạt được
lại sợ mất đi, càng có nhiều càng lo sợ nhiều, có đúng thế không?
Tóm
lại, muốn có hạnh phúc thật sự phải vượt lên khỏi sợ hăi và ham
muốn.
Đức Mahayasa im lặng như đắm ch́m vào một quá khứ rồi tiếp
tục:
- Đến đây chúng ta cần được một vị thầy hướng
dẫn thêm. Người này phải hiểu rơ hạnh phúc ở đâu, phải theo đường
lối nào. Người này phải thắng được các đe dọa như sợ hăi,
ham muốn và thật sự đạt được đến niềm hạnh phúc vô biên
đó mới có đủ kinh nghiệm d́u dắt chúng ta. Như con bệnh phải đi t́m
danh y th́ kẻ cầu đạo cần một vị thầy. Ramakrishna chính là vị thầy
mà tôi gặp. Kinh sách xưa xác nhận sự minh triết có thể giúp con người thoát
khỏi khổ đau nhưng ta không thể t́m nó bằng lư luận hay trong sách vở. Trong
quá khứ đă có những bậc đạo sư như Đức Phật, Đức Christ đă
t́m được hạnh phúc và hướng dẫn những kẻ khác, sau khi các ngài tịch
diệt môn đệ có tŕnh bày giáo lư của các ngài trong kinh sách nhưng dù sao chăng nữa,
kinh sách cũng có những khiếm khuyết, ngôn ngữ làm sao diễn tả hết được,
làm sao bằng lời những vị đạo sư hăy c̣n sống bên cạnh chúng ta.
Ramakrishna
đă dạy rằng nguyên nhân các đau khổ đều ở trong ta chứ không phải
ở bên ngoài. Có người hỏi thế giới chúng ta đang sống có điều ǵ
xấu xa không th́ ngài đă trả lời rằng nó rất tốt đẹp, có xấu xa
chăng là ḷng người, v́ con người đă hiểu sai nó. Công việc của chúng ta
hiện nay là phải đi ngược ḍng t́m cho ra sự sai lầm nguyên thủy để
diệt trừ nó th́ mọi việc sẽ tốt đẹp...
Phát giác và trừ tuyệt
cái sai lầm căn bản là phương thuốc chánh, tất cả phương tiện
khác đều chỉ là tạm bợ, nhiều lắm là chúng giúp ta t́m ra phương thuốc
nói trên. Đó là giá trị của các tôn giáo, các nghi lễ, tiếc thay tôn giáo hay gây sự chia rẽ,
đôi khi c̣n làm cho tâm trí suy kém, cản trở bước tiến của giáo đồ.
Có
người đă hỏi tại sao con người luôn luôn đau khổ, sợ hăi th́ ngài
trả lời rằng sự kiện đó là do lầm lạc phát sinh từ sự thiếu
hiểu biết chính ḿnh.
Có nhiều người họ biết ḿnh rất rơ ràng hoặc
lại cho rằng điều này không cần thiết v́ trong đời sống hàng ngày đầy
rẫy những phức tạp, điều ta cần khai thác là làm ǵ cho có lợi, kiếm
được thật nhiều. Để khai thác, con người gán cho kiến thức một
giá trị quá mức như bắt mọi người phải đến trường. Từ
xưa đến nay nhân loại thu tập biết bao kiến thức nào là sử kư, địa
dư, thiên văn, vật lư, triết học và siêu h́nh học nữa. Nếu những kiến
thức này là sự hiểu biết đứng đắn th́ nó phải đem lại hạnh
phúc cho nhân loại chứ. Sự thật lại khác hẳn, chúng ta học cách chế ngự
quyền lực thiên nhiên, đi ngược luật tạo hóa, khiến cho xă hội càng ngày
càng đau khổ, bất măn thêm. Sự chế ngự này, con đẻ của khoa học
chỉ đem lại lợi ích cho một thiểu số thôi. Do đó, lắm kẻ giàu sang
sung sướng nhưng vẫn không sao hạnh phúc được trước khổ đau
của đa số. Tóm lại, khoa học đă tạo cho con người nhiều khó khăn
hơn là giải quyết các điều kiện căn bản của cuộc sống.
Đức
Mahayasa nh́n mọi người trong phái đoàn rồi tiếp tục:
- Đă có một giáo
sư đại học hỏi Ramakrishna về bức tường vô minh mà khoa học không
sao vượt qua được. Họ biết các vật vi tế như nguyên tử, điện
tử nhưng đó cũng chỉ qua sự ức đoán thôi chứ không phải biết
một cách trực tiếp. Họ cũng biết các vật vĩ đại như các giải
thiên hà nhưng cũng chỉ ngưng ở đây thôi. Ngài đă trả lời rằng ngoại
cảnh chỉ đưa con người tới chỗ vô minh mà thôi. Theo ngài, nếu nhân loại
cố t́m ṭi những ǵ khác hơn là bản chất con người th́ những kiến thức
ấy không phải sự hiểu biết thật sự. Lời nói này có vẻ làm giảm
giá trị của khoa học nhưng nếu suy nghĩ kỹ ta thấy ngài rất có lư. Sự
hiểu biết về khoa học hiện nay c̣n nhiều điểm đáng nghi, các khoa học
gia vẫn c̣n bất đồng ư kiến về nhiều vấn đề. Sự bất
đồng ư kiến này ít ai biết đến v́ khi đa số bác học đồng ư về
một chuyện ǵ th́ quần chúng đă lên tiếng ủng hộ, do đó những người
bất đồng ư kiến cũng phải im, dù có thể họ rất có lư và số đông
đă sai.
Trong phạm vi khoa học cũng như triết học và tôn giáo, ư kiến
thường sai biệt nhiều tùy tâm trí nhà bac học. Sự t́m hiểu chân lư bắt buộc
một học giả phải có những đức tính cao quư v́ tâm trí học giả có một
ảnh hưởng to lớn trong sự t́m hiểu và sự hiểu biết chỉ có thể
xem như một chánh kiến khi người t́m kiếm có đủ tư cách v́ thế khoa
học đă vấp nhiều lỗi lầm khó sửa. Sự thất bại của khoa học
phát sinh từ một lầm lỗi nguyên thủy là các bác học tưởng ḿnh đă biết
ḿnh hay không cần sự tự biết ḿnh. Trong cả hai trường hợp, họ bắt
đầu cuộc đi t́m với những thành kiến sai lầm về bản chất họ
do đó, những điều họ t́m ra dù có giá trị vẫn bắt đầu từ những
sai lầm căn bản, hậu quả là khoa học ngày nay đă đưa nhân loại đến
những hố thẳm thay v́ chân trời sáng lạng.
Một hôm có tín đồ đến
hỏi Ramakrishna về các thần tượng mà họ không thích. Họ muốn ngài chấp
nhận ư kiến của họ là không nên thờ Thượng Đế dưới h́nh thức
thần tượng. Một người hỏi ngài:
- Thượng Đế có sắc
tướng không?
Ngài đáp:
- Ai nói rằng Thượng Đế có sắc tướng?
- Nếu Thượng Đế không có sắc tướng th́ tại sao lại thờ ngài
trong các h́nh tượng làm ǵ?
- Chúng ta hăy để Thượng Đế sang một bên
và xin anh cho tôi biết anh có sắc tướng không?
- Dĩ nhiên là có chứ, hăy nh́n thân
thể này...
- Nhưng anh có phải cái xác thân đen xám, râu tóc xồm xoàm này không?
-
Dĩ nhiên tôi là xác thân này chớ c̣n ǵ nữa.
- Trong lúc ngủ say, không mơ mộng,
anh có phải là nó không?
- Có chứ, v́ khi thức dậy tôi thấy tôi đâu thay đổi
ǵ.
- Và rồi khi anh chết?
- Th́ tôi cũng c̣n là nó.
- Vậy tại sao khi
người ta hỏa thiêu nó, nó không nói nó không chịu đi và muốn ở lại nhà?
Khi
đó người này ư thức rằng ḿnh đă sai và đáp rằng:
- Tôi không phải
là thể xác này mà là sự sống trong nó.
- Anh hăy suy gẫm kỹ điều này. Hồi
nẫy anh nói rằng anh là thể xác này bây giờ anh lại nói rằng không phải. Cho ḿnh
là xác thân này là một lỗi lầm nguyên thủy. Bao giờ sự sai lầm này c̣n, dù anh nói
Thượng Đế có sắc tướng hay không cũng không ăn thua ǵ. Khi sự sai lầm
được đánh tan th́ mọi việc sẽ sáng tỏ. Tóm lại, theo Ramakrishna th́ nguyên
nhân của sợ hăi, dục vọng, ham muốn là do sai lầm đầu tiên: tự cho ḿnh
là xác thân này v́ sợ hăi hay ham muốn đều bắt đầu từ thể xác này. Dĩ
nhiên, rất nhiều người cũng đồng ư như thế và tin rằng con gười
không phải thể xác mà là một sự sống trường cửu. Sách vở cũng nói
như thế rất nhiều nhưng trong đời sống thực tế, họ có làm ǵ
khác đâu. Lúc đầu họ nghĩ rằng nhờ kiến thức thu tập, hiểu
biết các chân lư cao siêu họ sẽ khác người thường nhưng tại sao họ
vẫn hành động y như họ là thể xác nầy vậy? Nếu xác thân họ nhỏ
bé, họ cho rằng ḿnh bé nhỏ. Nếu xác thân họ to lớn, đẹp đẽ họ
cho rằng ḿnh lớn đẹp. Nếu xác thân họ ốm đau, họ cho rằng ḿnh
bệnh hoạn. Nếu tư tưởng họ phong phú, họ cho rằng ḿnh thông minh... Tóm
lại, sự sợ hăi và dục vọng vẫn y như xưa, có thể lại c̣n gia tăng
hơn v́ họ hănh diện về ḿnh hiều hơn xưa. Nói một cách khác, sở dĩ
họ làm thế v́ chưa chứng nghiệm được con người thật của
ḿnh, sự sai lầm nguyên thủy vẫn c̣n tác động mạnh mẽ nơi họ. Kiến
thức của họ chưa tạo một sự biến chuyển thật sự...
Ramakrishna
đă dạy rằng kiến thức (về tâm linh) thu tập qua sách vở thường tai
hại hơn là một người thất học, dốt nát. Những người kiến
văn quảng bác, lịch thiệp, bằng cấp, danh vọng thường ích kỷ lại
c̣n ngạo mạn, họ cho rằng ḿnh biết nhiều, hiểu nhiều và không chịu
t́m hiểu, thực hành đào sâu vào thêm nữa. Đó là sự hiểu biết hời hợt
qua sách vở chứ đâu đâu phải là một chứng nghiệm nội tâm. Sách vở
chỉ là la bàn hướng dẫn chứ đâu phải minh triết thật sự. Sự
thu tập kiến thức kiểu này tạo nên tŕnh trạng hỗn độn trong triết
lư và thần học. Các triết gia và nhà thần học đă thảo luận không ngừng
về những vấn đề khó khăn như nguyên nhân đầu tiên, sự thật cuối
cùng, bản chất thời gian, định mệnh con người, tự do, giải thoát
v. v... và chả đạt đến một kết quả ǵ hết. Các bậc hiền triết
đứng bên ngoài cuộc thảo luận đó v́ họ có lối giải quyết riêng,
trái với các giải pháp trí thức. Thay v́ thảo luận họ cố khám phá lấy sự
thật và khi t́m ra sự thật, các vấn đề trên sẽ đương nhiên được
giải quyết.
Nói đến đây Đức Mahayasa lặng yên ch́m đắm trong một
không khí êm đềm nào đó. Giáo sư Evanz - Wentz cố gắng:
- Nhưng con người
không thể sống bằng đức tin mà c̣n phải thỏa măn lư trí nữa chứ, đối
với những người thiên về lư trí, không biết ngài nghĩ sao?
Mahayasa mỉm
cười:
- Nếu thầy tôi Ramakrishna c̣n sống có lẽ ngài sẽ khuyên ông nên cầu
nguyện.
- Tại sao như vậy?
- Cầu nguyện là phương tiện
cuối cùng của con người. Khi nào lư luận tỏ ra bất lực th́ sự cầu
nguyện sẽ bổ sung, phù tŕ, cứu độ.
- Nhưng nếu tôi không thể
cầu nguyện th́ phải làm sao?
Đức Mahayasa nh́n giáo sư Wentz, ánh mắt ngài long
lanh một niềm ưu ái:
- Ông nên tiếp xúc với các bậc chân tu, các vị này sẽ
hướng dẫn tâm hồn ông lên cơi thiêng liêng và thức động các khả năng thiêng
liêng nhất của ông. Có lẽ ông cần một vị thầy.
Chương 5: Những Sự Kiện Huyền Bí
Bác sĩ Kavir cho biết nếu phái đoàn muốn nghiên cứu
những sự kiện huyền bí, những phép thuật lạ lùng th́ phải đến gặp
pháp sư Vishudha.
Vị pháp sư này có lệ không bao giờ tiếp khách, ngay cả những
tín đồ thuần hành sùng kính nhất. Ông sống trong một căn nhà nhỏ với một
vài đệ tử thân tín và rất ít khi nào ra ngoài. Các đệ tử cho biết thầy
họ không bao giờ biểu diễn phép thuật dù ở nơi kín đáo và không chịu cho
phái đoàn vào. Bác sĩ Kavir mang hết tài dẫn dụ ngoại giao cũng như quyền
lực hăm dọa nhưng họ vẫn khăng khăng.
Sự hiện diện của
một nhóm người Âu gây nhiều chú ư của dân chúng và tín đồ hành hương nên
chỉ một lúc, một đám đông đă vây kín phái đoàn. Có lẽ tiếng động
ồn ào này tạo sự chú ư của vị pháp sư nên ông ra lệnh cho đệ tử
mời Bác sĩ Kavir vào nói chuyện.
Một lúc sau, Kavir bước ra nét mặt hân hoan:
- Đạo sư Vishudha không tiếp khách lạ nhưng ngài đặc biệt tiếp
phái đoàn như một ngoại lệ đấy.
Đó là một ông lăo to lớn, tóc bạc
trắng như cước ngồi trên tấm bồ đoàn kết bằng cỏ, nét mặt
ông lạnh như băng và đôi mắt như nh́n vào khoảng không như không thèm chú ư ǵ
đến phái đoàn. Một đệ tử lên tiếng:
- Các ông đến đây
với mục đích ǵ?
Giáo sư Allen lên tiếng:
- Chúng tôi được biết
đạo sư có các quyền năng phi thường. Mục đích chuyến đi này của
chúng tôi là nghiên cứu những sự kiện huyền bí, ghi nhận một cách khoa học
những điều mắt thấy, tai nghe...
- Như vậy các ông muốn xem một
vài pháp thuật?
- Nếu đạo sư vui ḷng..
Vishudha nghe thông ngôn xong mỉm
cười yêu cầu giáo sư Olivers cho mượn một cái khăn tay và một chiếc
kính loupe. Ông ta dơ chiếc kính lên ánh sáng mặt trời cho nó chiếu lên chiếc khăn
tay và tuyên bố:
- Tôi sẽ thu hút các mùi hương trong không khí, các ông thích mùi ǵ?
-
Tôi thích mùi hoa lài.
Vishudha mỉm cười trao trả chiếc khăn cho giáo sư Olivers,
một mùi thơm phảng phất khắp pḥng và ai cũng biết đó là mùi hoa lài. Mọi
người quan sát kỹ chiếc khăn, nó không hề ướt hay có dấu hiệu ǵ
rằng người ta đă nhỏ vào đó một chút dầu thơm. Như đoán được
ư nghĩ mọi người, Vishudha yêu cầu giáo sư Mortimer đưa ra một chiếc
khăn tay khác. Giáo sư Kavir thông dịch:
- Bây giờ các ông hăy chọn một mùi hoa
ǵ đặc biệt của xứ các ông mà không hề có tại xứ Ấn Độ...
-
Được lắm, tôi muốn mùi hoa Tullip.
Vishudha mỉm cười dơ chiếc kính
Loupe lên ánh sáng mặt trời cho nó chiếu vào chiếc khăn và lần này mùi hoa Tullip lại
thơm nồng khắp pḥng. Phái đoàn vội vă yêu cầu những mùi hương lạ
lùng và lần nào ông cũng làm hài ḷng. Thậm chí đến cả những mùi thuốc hóa học,
những mùi acid trong pḥng thí nghiệm ông cũng có thể làm được. Mọi người
quan sát kỹ xem ông ta có dấu ǵ dưới lớp áo choàng không. Vishudha mỉm cười
vén cao tay áo để chứng tỏ ông không hề làm tṛ ảo thuật hay cất dấu
hương liệu ǵ đặc biệt trong người.
Giáo sư Mortimer buột miệng:
- Xin ông giải thích việc này?
Mọi người giựt ḿnh v́ phong tục xứ
Ấn, chất vấn một đạo sư là điều bất kính. Vishudha quay sang giáo
sư Kavir nói vài lời, ông này thông dịch:
- Đó chỉ là một khoa học nhỏ gọi
là Thái Dương Học. Ánh sáng mặt trời chứa đựng một năng lực
rất mạnh, nếu biết chọn lựa và cô lập nó ta có thể tạo mọi vật
theo ư muốn.
Giáo sư Mortimer giựt ḿnh:
- Thái Dương Học, phải chăng
nó là một khoa học của dân Atlantic?
- Đó là một khoa học đă một thời thịnh
hành tại châu Atlantic nhưng không phải riêng của giống dân Atlante.
- Như thế
châu Atlantic là có thật... châu này đă ch́m xuống biển từ lâu và chỉ có Plato ghi nhận
lại trong tập sách của ông... chuyện này ra sao?
Vishudha trầm ngâm:
- Tin hay
không là tùy các ông, người Âu lúc nào cũng đ̣i hỏi bằng chứng nầy nọ,
nếu các ông muốn gọi nó là truyền thuyết cũng chẳng sao... Khoa học nơi
đâu cũng có nguồn gốc, khi tiến đến một tŕnh độ cao xa th́ thời
gian hay không gian đâu có nghĩa lư ǵ nữa. Khoa Thái Dương Học thật ra xuất xứ
từ Tây Tạng ở một thời đại xa xôi khi Ấn Độ c̣n là một ḥn đảo
và rặng Hy Mă Lạp Sơn c̣n là một bờ biển... nhưng điều này đâu có
ích ǵ cho việc nghiên cứu của các ông?
- Ông có thể làm ǵ với môn này?
- Các
ông c̣n muốn ǵ? Như vậy chưa thỏa măn sao?
Vishdha đứng dậy bước
đến bên một chậu hoa gần đó. Mặc dù chậu nở đầy hoa nhưng
trong đó cũng có một số bông đă tàn. Vishudha dơ chiếc kính loupe chiếu lên các
bông hoa này. Trước cặp mắt kinh ngạc của mọi người, những bông
hoa khô héo bỗng trở nên tươi tốt, thơm tho. Mọi người nín thở, không
ai nói nên lời. Vishudha dơ chiếc kính lên chiếu vào ḷng bàn tay ông. Một chùm nho tươi
tốt bỗng xuất hiện. Nên nhớ Ấn Độ là xứ nhiệt đới đâu
trồng được nho, hơn nữa lúc đó đang vào mùa Đông, các cây nho bên Âu Châu đều
khô héo. Có được chùm nho tươi tốt là một việc vô lư, lạ lùng. Vishudha
đưa chùm nho cho giáo sư Allen xem và thản nhiên tuyên bố:
- Đây là giống nho Pajouti
chỉ mọc ở miền Nam nước Ư, không hề được xuất cảng. Mùi
của nó thơm nhưng vị hơi chát.
Mọi người xúm lại xem chùm nho, có
người ngắt vài quả bỏ vào miệng ăn như sợ rằng đó chỉ
là một ảo tưởng. Chờ mọi người ăn xong, Vishudha trịnh trọng:
- Đây đâu phải lần đầu các ông thấy một sự lạ xuất hiện.
Các ông đă nghe nói về chuyện này rồi đấy chứ. Các ông không nhớ chuyện
đức Jesus hỏi thánh Philip ở thành Galilee: “Chúng ta sẽ
mua bánh ḿ ở đâu?” Ngài biết rơ rằng bánh ḿ mà đám quần chúng đang cần
dùng không phải mua ngoài chợ. Ngài muốn dịp đó để chỉ cho các tín đồ
rằng người ta có thể tạo ra bánh ḿ bằng sức mạnh của tinh thần.
Thông thường mọi người chỉ nghĩ rằng ta có bao nhiêu bánh ḿ hay bao nhiêu tiền
bạc và chỉ giới hạn trong một khuôn khổ nào đó thôi. Điều đức Jesus
muốn nói là khi ta đă sống với tâm thức của chân ngă th́ người ta không c̣n
thiếu sót hay g̣ bó vào một giới hạn nào nữa. Ngài nh́n về Thượng Đế
là nguồn gốc sáng tạo ra muôn loài và tạ ơn ngài đă luôn luôn đặt vào tay loài
người cái quyền năng và chất liệu cần thiết để thỏa măn tất
cả nhu cầu của họ.
Đức Jesus đă bẻ bánh ḿ và bảo tông đồ
hăy phân phát cho mọi người. Khi tất cả ăn no rồi mà vẫn c̣n dư đến
10 rổ bánh. cũng bằng cách đó mà Elisee đă làm cho người quả phụ thành Jerusalem có dầu ăn thừa thăi không bao giờ hết.
Ngài không hỏi đến kẻ có dư thừa dầu trong nhà v́ như thế số dầu
chỉ giới hạn mà thôi. Những câu chuyện trong Kinh Thánh đă dạy ta điều
ǵ? Phải chăng các khoa học đời nay không thể giải thích vấn đề này?
Phải chăng có kẻ cho đó chỉ là một chuyện thần thoại? Có lẽ các
ông cho rằng những chuyện này được ghi chép từ lâu rồi nên có phần nào
sai lạc đi?
Mọi người trong phái đoàn giựt ḿnh v́ câu hỏi bất
ngờ. Thánh Kinh đối với họ không phải quyển sách nào xa lạ. Phần lớn
đều thuộc ḷng nhưng ít ai suy nghĩ cặn kẽ về những sự kiện
xẩy ra trong đó.
Vishudha mỉm cười nh́n từng người rồi tiếp
tục:
- Đức Jesus đă dạy rằng trong thiên nhiên có chất liệu để
làm đủ mọi vật và người ta có thể t́m lương thực của ḿnh trong
đó. Chúng ta chỉ cần rút các chất liệu nầy để tạo ra mọi thứ
cần dùng. Nhưng con người hèn nhát và thiếu đức tin đă không nghĩ rằng
họ có thể thực hiện được những việc này. Nhu cầu phải chăng
cũng là ư muốn sáng tạo? Thay v́ vươn lên để thực hiện ư muốn, để
sáng tạo th́ con người lại thu hẹp ḿnh lại và nghĩ rằng họ không thể
làm được những việc đó. V́ thế con người càng ngày càng rời xa Thượng
Đế. Đến nay con người tin rằng họ là một thực thể cách biệt với
Thượng Đế. Họ đă đi lệch hẳn con đường toàn vẹn, bỏ
lỡ cái mục đích cao đẹp. Họ đă không để Thượng Đế biểu
lộ xuyên qua họ như ngài muốn. Chính đức Jesus đă nói rằng: “Những
ǵ mà ta làm được th́ các ngươi cũng sẽ làm được và các ngươi
sẽ c̣n làm được những việc lớn lao hơn nữa.” Ngài muốn nói
điều ǵ đây? Phải chăng con người trong cương vị chân thật chính
là con của Thượng Đế? Sứ mạng đức Jesus trên thế gian chính là chứng
tỏ rằng trong cương vị nào đó, con người cũng có thể sáng tạo
một cách hoàn toàn tốt đẹp như Thượng Đế. Khi ngài ra lệnh cho người
mù hăy ra ao Siloe rửa mắt phải chăng ngài đă chứng tỏ cho quần chúng biết
rằng ngài được Thượng Đế gửi xuống để sáng tạo cũng
như Thượng Đế vậy?
Vishudha ngừng nói đưa tay ra, một ổ bánh
ḿ to lớn bỗng xuất hiện trên tay y từ hồi nào. Tất cả mọi người
im lặng, nín thở không ai thốt nên lời.
Sự kiện một đạo sư
xứ Ấn không nói ǵ về truyền thống, tôn giáo xứ này mà lại nói về Thánh Kinh
như một vị mục sư làm mọi người kinh ngạc. Bỗng nhiên ổ bánh
ḿ biến mất như bị thiêu hủy. Vishudha mỉm cười thong thả:
- Các
ông đă thấy, tôi đă lạm dụng các định luật huyền bí giúp tôi thực
hiện ư muốn. Tôi vừa đốt cháy đồ vật mà tôi tạo nên. Làm như thế
tôi đă lạm dụng một điều luật bất di bất dịch của thiên nhiên.
Nếu tôi tiếp tục làm thế th́ không những món đồ bị đốt cháy mà chính
kẻ sáng tạo là tôi cũng chịu chung số phận. Các ông đă thấy mùi hương
và việc tôi làm chậu hoa hồi sinh cũng như chùm nho xuất hiện... Tôi có thể
sử dụng quyền năng này khi làm một việc có ích cho nhân loại hoặc với
một ḷng bác ái thanh cao v́ đó là hợp với luật vũ trụ, hợp với thiên
ư. Trái lại, chỉ với một ư định xấu xa như khoe trương bản ngă,
tôi sẽ đi lệch đường và chịu trách nhiệm về việc làm của ḿnh
nghĩa là sẽ gặp ngay phản động về hành động của ḿnh. Tôi đốt
cháy một vật th́ tôi cũng có thể cháy ra than tức khắc. Nếu con người
phụng sự Thượng Đế, hành động đúng theo thiên ư, hợp luật trời
th́ y đă bước chân vào cơi trời rộng mở c̣n ngược lại th́ y đang bước
vào cánh cửa của địa ngục rồi đó...
Vishudha nh́n thẳng vào mặt
mọi người:
- Này các ông, những nhà thông thái, thế đă thỏa măn các mong ước,
hiếu kỳ của các ông chưa? Nếu các ông c̣n mê man trong các cuộc khảo cứu, ghi
nhận các hiện tượng lạ lùng mà khoa học chưa giải thích được
th́ khắp thành phố này có hàng trăm đạo sĩ, pháp sư có thể làm những chuyện
đó. Điều đáng tiếc rằng rất ít người hiểu biết về cái hậu
quả họ sẽ phải gánh chịu. Các ông muốn ghi nhận những phép thuật thần
thông để làm ǵ? Phải chăng ông sẽ công bố cho mọi người Âu Tây biết
hay sao? Như thế có ích lợi ǵ? Liệu đă có mấy ai tin tưởng rằng những
điều các ông nói không phải là một sự tưởng tượng? Có thể họ
sẽ lên án các ông là đằng khác. Có bao giờ các ông nghĩ rằng ḿnh đang làm một
chuyện vô ích hay không? Có lẽ các ông sẽ làm những phúc tŕnh về các hiện tượng
lạ lùng nhưng rồi sẽ đi đến đâu? Cuộc đời đâu phải
chỉ quan sát ghi nhận rồi làm những thống kê, có phải không?
Này các nhà thông
thái, các ông đă khám phá thế nào là mục đích cuộc đời chưa? Nếu các ông
chưa tự hỏi mục đích cuộc đời ḿnh để làm ǵ th́ ghi nhận, nghiên
cứu có ích lợi ǵ đâu? Khi chưa t́m được giải đáp cho chính ḿnh th́ các
phúc tŕnh, thống kê cũng vô ích thôi, có phải như thế không?
Một sự im lặng
bao trùm căn pḥng. Vishudha thong thả ngồi trên tấm bồ đoàn không nói thêm điều
ǵ nữa. Bác sĩ Kavir vội ra hiệu cho phái đoàn rút lui.
Rời khỏi căn
nhà đá, toàn thể mọi người đều xúc động, không ai nói lên một lời
nào. Những sự kiện xẩy ra đă làm đảo lộn mọi quan niệm thông thường
về vật lư, hóa học... Đúng như nhà đạo sĩ đă nói, làm sao chứng minh một
phép lạ đây?
Làm sao có thể cho những người Âu đang bận rộn với
mưu sinh tại New York hay Luân Đôn biết rằng ở phương Đông có những bí mật
vô tận, những triết lư cao cả mà người Tây Phương không thể hiểu.
Tư tưởng Đông phương đă vượt xa, rất xa những tư tưởng
tiến bộ nhất của Tây Phương. Có lẽ các nhà hiền triết xứ này đă
mỉm cười trước những ngông cuồng, hỗn tạp của cái gọi là khoa
học tiến bộ. Câu hỏi của Vishudha khiến mọi người suy nghĩ rất
nhiều. Lúc đầu, ai cũng mong ghi nhận những điều lạ lùng để
nghiên cứu nhưng trước những sự kiện mà khoa học không thể giải
thích, toàn thể mọi người đâm ra bối rối không biết phải làm ǵ.
Giáo
sư Spalding nhớ lại câu nói của người Ấn thành Benares: Nếu các ông chỉ
muốn nghiên cứu các hiện tượng thần thông, các quyền năng lạ lùng th́
hăy đến Rishikesh, các ông sẽ không thất vọng. Nhưng nếu các ông muốn đi
xa hơn để có thể gặp các bậc Chân Sư th́ các ông cần một thời gian
nữa. Sự gặp gỡ các vị Chân Sư thánh triết có một sức hấp dẫn
lạ lùng đối với phái đoàn nhưng tại sao phải chờ đợi thêm một
thời gian nữa? H́nh như có một nguyên nhân sâu xa nào đó mà phái đoàn không thể giải
thích, mọi người linh cảm như đă có những sự xếp đặt huyền
bí cho việc du khảo tại phương Đông này.
Harishchandra là một đạo sĩ
gịng tu Swami thường đi khắp nơi, ít khi nào ở một chỗ. Lần này ông ghé
thăm bác sĩ Kavir ít hôm nên phái đoàn có cơ hội gặp gỡ. Ông trạc 60, thân h́nh
cao lớn, có một đôi mắt sáng ngời. Sau vài câu xă giao ông cho phái đoàn biết tuổi
thật của ông đă quá 100 và tin rằng ông sẽ c̣n sống ít ra vài chục năm nữa.
- Tại sao ông nghĩ ḿnh sống lâu như thế?
- Tại v́ lúc này khả năng
sáng tạo của tôi rất mạnh, tôi tin rằng với bộ óc c̣n linh hoạt như một
thanh niên, tôi có thể sống khá lâu nữa.
Bác sĩ Kavir mỉm cười tiếp
lời:
- Harishchandra không những là một đạo sư Yoga mà c̣n là một nghệ
sĩ. Ông ta có thể sử dụng tất cả nhạc khí cổ điển cũng như
tân tiến, ông c̣n vẽ tranh, nặn tượng, làm thơ... Tóm lại, chả có bộ môn
nghệ thuật nào mà ông ta không biết.
Bác sĩ Mortimer ṭ ṃ:
- Ông theo học ở
đâu và làm sao có thể biết nhiều thứ như vậy?
Hashichandra cười
lớn:
- Bác sĩ Kavir nói không đúng đâu, tôi chỉ biết chút đỉnh về
vài bộ môn nghệ thuật. Tôi không hề được đi học nhưng Yoga đă
giúp tôi...
Bác sĩ Mortimer hấp tấp:
- Ông muốn nói đến phương
pháp khí công hay các tư thế?
Đạo sĩ bật cười lớn:
- Không phải
thế, tôi ư thức được sự sáng tạo trong một buổi thiền định
và từ đó tôi có thể làm được nhiều thứ. Đa số con người đều
coi nghệ thuật như một phương tiện giải trí, họ sử dụng nghệ
thuật như một cái ǵ giúp họ trốn thoát hoàn cảnh con người của họ.
Nghe một bài ca, một câu hát họ quên đi các ưu phiền hiện tại... Đó không phải
là sự thưởng thức cái Chân, Thiện, Mỹ của nghệ thuật. Nghệ thuật
mà tách khỏi cuộc sống th́ chỉ là một kỹ thuật phô diễn những cái ǵ
hời hợt, các ước vọng nông cạn. Nguồn cảm hứng không phải mời
gọi mà được mà là một rung động tự nhiên. Tất cả cố gắng
chiếm đoạt cảm hứng qua bất cứ một h́nh thức nào chỉ là những
ảo tưởng. Tài năng, thiên tư chỉ giúp ta nhận thấy bản ngă, giúp ta thỏa
măn các ước vọng thấp hèn và làm thui chột sự sáng tạo. Một nghệ sĩ
chân chính là người thực sự vượt qua các hư ảo của bản ngă, của
danh vọng và ư thức cái đẹp của nghệ thuật như một thực tại.
Nh́n thấy mọi người có vẻ ngơ ngác, Harishchandra mỉm cười giải
thích:
- Nội tâm con người là một băi chiến trường luôn luôn xung đột
giữa các quan niệm, h́nh thức, lư thuyết, thực hành. Sự tranh chấp này thường
gây lầm lỗi. Khi ta nghe một bản nhạc, thưởng thức một bức tranh
ta rung động theo cảm nhận của ta. Rung cảm này mỗi cá nhân một khác v́ nó
dựa theo các quan niệm, thành kiến sẵn có. Nếu tôi thích nhạc Mozart th́ tất cả
các nhạc sĩ khác đều khó có thể so sánh với ông này. Dĩ nhiên người mê Beethoven
không đồng ư như thế. Tóm lại, sự rung động của tôi đă có thành kiến
v́ như thế tôi mất đi nhạy cảm đối với sự sáng tạo. Một
người nghệ sĩ sẽ trở nên một cái máy nếu y chỉ biết phục vụ
cho bản ngă, làm việc để phô trương cá nhân, để thỏa măn dục vọng
thay v́ để sáng tạo. Y chỉ biết “Tôi viết”, “Tôi soạn nhạc”,
“Tôi vẽ”, “Tôi sáng tác” v. v... Từ phút đó, y mất đi khả năng
sáng tạo tuyệt vời mà chỉ c̣n một cái xác không hồn. Sự thành công, lời khen
tặng làm căng phồng bản ngă của y và làm lu mờ sự rung động với
cái đẹp thật sự. Cái tinh thần ham lợi, háo danh đó không phải là tinh thần
yêu cái đẹp mà bắt nguồn từ sự khao khát dục vọng. Dục vọng đ̣i
hỏi một sự bảo đăm an toàn do đó, người nghệ sĩ đâm ra sợ
hăi. Từ đó, y xây một bức rào ngăn cách với mọi sự vật khác. Y không c̣n
chiêm ngưỡng những cái đẹp nữa. Dĩ nhiên, cái đẹp vẫn c̣n đó
nhưng ḷng y đă khô héo v́ thành kiến và xu hướng biệt lập. Thay v́ nh́n sự vật
như một thực tại, y lại nh́n nó qua một h́nh thức sưu tập, chiếm
hữu biến nó thành một đồ vật.
Người nghệ sĩ chân chính chỉ
biết sáng tạo, chúng ta chỉ biết thưởng thức.
Chúng ta đọc sách,
nghe nhạc, ngắm các tác phẩm nghệ thuật nhưng chúng ta không hề có cái rung động
sâu xa của người sáng tạo. Muốn ca hát ta cần có một bản nhạc nhưng
v́ không có bản nhạc tuyệt diệu chúng ta đâm ra theo đuổi ca sĩ. Thiếu
sự trung gian này, ta thấy mất mát. Trước một vẻ đẹp ta lại có ư
so sánh nó với một bức tranh, trước một âm thanh nthiên nhiên ta lại chỉ tưởng
tượng đến một bản nhạc nào đó. Ta chỉ c̣n biết rung động
qua sự rung động của kẻ khác. Đó không phải là sáng tạo...
Giáo sư Mortimer
lắc đầu:
- Muốn sáng tạo, ta cần một tài năng, thiên tư chứ
đâu phải ai cũng có thể sáng tạo, đâu phải ai cũng có tài...
Harishchandra
lắc đầu:
- Không phải thế, ai cũng có thể sáng tạo mà không cần
tài năng đặc biệt v́ sự sáng tạo là trạng thái tuyệt vời của nghệ
thuật, không bị ảnh hưởng của bản ngă. Sáng tạo không có nghĩa là “soạn
nhạc”, “làm thơ”, “vẽ tranh” nhưng là một trạng thái mà trong
đó Sự Thật có thể biểu hiện. Sự Thật chỉ có thể biểu hiện
khi tư tưởng ngưng đọng lại và tư tưởng chỉ ngưng lại
khi bản ngă vắng mặt. Khi tâm hồn hoàn toàn tĩnh lặng không bị thôi thúc bởi
dục vọng, khả năng sáng tạo sẽ tự biểu lộ. Khi “cái ta” không
c̣n nữa th́ tất cả là một sự hợp nhất thiêng liêng. Cái đẹp có thể
được diễn tả trong một bài thơ, bản nhạc, nụ cười hay
trong sự im lặng. Phần lớn con người không có khuynh hướng yên lặng. Chúng
ta không có thời giờ quan sát đám mây trời, buổi hoàng hôn, một ngọn núi hùng vĩ,
một bông hoa hé nở v́ đầu óc chúng ta quá bận rộn, quay cuồng.
Mắt
ta nh́n thấy những cảnh đó nhưng ḷng ta không rung động chút nào v́ c̣n mải
mê theo đuổi những ảo ảnh. Đôi khi ta cũng có cảm giác rung động khi nghe
một bản nhạc hay, nhưng nếu ta cứ nghe đi, nghe lại bản nhạc đó
để t́m lại cảm giác ban đầu th́ ta đă vô t́nh giết chết sự sáng tạo.
Người nghệ sĩ chân chính là người mở rộng tấm ḷng để cảm
hứng đến một cách tự nhiên, là người nh́n thấy Chân, Thiện, Mỹ ở
khắp tất cả mọi nơi chứ không phải qua khả năng hồi tưởng
hoặc qua một chất kích thích. Người nghệ sĩ chân chính sáng tạo v́ ḷng yêu
cái đẹp chứ không phải v́ tác phẩm sẽ đem lại cho y tên tuổi, tiền
bạc, địa vị. Làm thế là đồng hóa cá nhân ḿnh vào đối tượng.
Bất cứ ai biết rung động trước cái đẹp đều là nghệ sĩ,
đều là người sáng tạo v́ cái cảm giác chân thật, tuyệt vời đó chính
là một sự “giác ngộ”, một sự hợp nhất. Cái cảm giác đó không
thể tự tạo hay t́m được mà đến và đi một cách tự nhiên...
-
Phải chăng ông đă có kinh nghiệm đó?
- Trong một buổi tham thiền, tôi
ư thức được điều này và từ đó tôi nh́n thấy cái đẹp ở bất
cứ mọi nơi. Tôi sống trong tâm thức này và có thể sáng tạo mănh liệt qua bất
cứ một phương diện hay h́nh thức nào... âm nhạc, hội họa, thơ phú
v. v...
- Ông có thể cho chúng tôi nghe một bài nhạc không?
Harishchandra mỉm cười
rút trong áo ra một cây sáo trúc rất dài, y đưa sáo lên miệng nhưng rất lâu không một
âm thanh nào phát ra. Giáo sư Mortimer sốt ruột:
- Chúng tôi không nghe thấy ǵ cả, ông
có thổi sáo hay không đó?
Đạo sĩ ung dung:
- Các ông chưa biết thưởng
thức âm nhạc v́ ḷng các ông c̣n đầy thành kiến, hăy im lặng v́ âm thanh của tôi
là sự b́nh an...
Giáo sư Mortiner toan căi nhưng đạo sĩ đă đưa một
ngón tay lên miệng làm hiệu để ông im lặng. Bất chợt giáo sư Mortimer rùng ḿnh,
một âm thanh kỳ lạ ở đâu bỗng phát ra. Một cảm giác b́nh an từ từ
thấm nhẹ trong cơ thể và ông thấy ḿnh đắm ch́m trong một niềm hoan lạc
khó tả, trong một thế giới lạ lùng của âm thanh.
Âm thanh thật chậm,
thật êm, nhỏ như tiếng gió th́ thào các ngọn cây, như tiếng nước róc rách
qua khe suối. Thời gian như ngưng đọng lại.
Khi giáo sư Mortimer giựt
ḿnh tỉnh lại th́ âm thanh đă chấm dứt từ lâu. Đạo sĩ vẫn ngồi yên
khẽ mỉm cười, cây sáo trúc đặt trước mặt. Toàn thể phái đoàn
ngây ngô nh́n nhau không nói nên lời. Giáo sư Mortimer lắc đầu thắc mắc:
-
Âm thanh ǵ kỳ vậy? Liệu ông có thể giải thích được không?
Đạo sĩ mỉm cười:
- Các ông nên biết con người có nhiều thể
bao quanh xác thân như thể Phách, thể Vía, thể Trí... Các thể này được cấu
tạo bằng những nguyên tử rất nhẹ rất thanh gần như vô h́nh. Âm nhạc
tự nó đă có các rung động cùng nhịp với sự rung động của các thể
nên ảnh hưởng rất nhiều đến con người. Âm thanh vừa qua căn
bản trên “Phần tư Âm” (Quart de Ton) có tác động lên thể Trí các ông. Các loại
âm thanh dựa trên “Phần ba Âm” (Tiers de Ton) tác động lên thể Vía và “Phân
nửa Âm” tác động lên thể xác. Điều này cũng dễ hiểu thôi v́ Phần
tư Âm thanh hơn nên ảnh hưởng đến các thể nhẹ hơn. Con người
chỉ biết tác động của âm nhạc ở cơi vật chất nhưng không hiểu
ảnh hưởng của chúng ở các cơi trên. Âm nhạc lưu một dấu vết trên
thân thể con người và trực tiếp ảnh hưởng đến tính t́nh, hành động.
Điều này có thể ví như khi ta ném một ḥn đá xuống ao. Khi ḥn đá ch́m nhưng làn
sóng vẫn gợn và lan rộng ra. Một cái lá nổi trên mặt nước chắc chắn
sẽ chịu nhiều ảnh hưởng. Hậu quả của âm nhạc c̣n mạnh hơn
như vậy. Do đó, việc chọn nhạc để nghe rất quan trọng. Kinh Veda
đă nói: “Vũ trụ tạo lập do sự phối hợp các âm thanh”. Thánh Kinh
cũng ghi nhận: “Huyền âm xuất hiện trước nhất và huyền âm ở
với Thượng Đế, Huyền âm là Thượng Đế.”
Phái đoàn nh́n nhau,
một lần nữa tu sĩ Ấn Giáo đă giải thích một đề tài mới lạ
và trích dẫn Thánh Kinh, quyển sách không xa lạ với người Âu.
- Nhờ âm thanh
mà các sinh vật thông cảm với nhau. Quyền năng này rất đơn giản ở
loại thú cầm và dần dần trở nên phức tạp ở loài người. Từ
ngôn ngữ đến tiếng hát thô sơ chỉ có vài bước và bước này tạo
nên âm nhạc.
Âm nhạc là một công thức tế nhị, kín đáo để truyền
thông nhưng có một tác dụng cực mạnh có thể làm thay đổi quốc gia, xă
hội, truyền thống. Nó c̣n mạnh mẽ hơn các giáo điều, triết lư v́ nó ảnh
hưởng đến các thể vô h́nh. Con người chỉ hiểu rằng khi nghe nhạc
buồn lâu ngày ta sẽ trở nên u sầu. Khi nghe nhạc vui ḷng ta thấy phấn khởi.
Thật sự ḷng ta chỉ phản ảnh một cách vô thức những đổi thay trong
các thể. Từ ngàn xưa, âm nhạc đă giữ một địa vị quan trọng
và ảnh hưởng rất lớn từ vua chúa đến thứ dân. Các ông không thấy
thời đại nào âm nhạc càng thay đổi, biến chuyển nhiều th́ thuần
phong, mỹ tục càng suy giảm và xă hội càng đảo lộn hay sao? Trái lại khi âm
nhạc bị hạn chế th́ xă hội đâm ra bảo thủ.
Các ông cho rằng âm
nhạc là sản phẩm văn hóa, tiêu biểu cho từng thời kỳ. Điều này không
đúng lắm v́ lịch sử cho thấy mỗi khi âm nhạc thay đổi là chính trị,
văn hóa thay đổi theo sau. Âm nhạc có tính cách xây dựng cũng như hủy hoại,
chỉ có các âm thanh tinh vi do sự sáng tạo chân thành của ḷng vô ngă mới đưa ta trở
về quê hương của linh hồn. Muốn sáng tạo các loại nhạc này con người
cần phải để cho chân ngă sáng chói, cần trau dồi cho tâm hồn tĩnh lặng
để ḥa đồng với vũ trụ. V́ âm thanh của vũ trụ lúc nào cũng vang
lừng cho những người thức tỉnh, những kẻ biết thưởng thức,
biết yêu cái đẹp, biết nghe những huyền âm cao cả trong yên tĩnh vô biên. Hăy
yên lặng, các ông sẽ học hỏi nhiều điều mới lạ. Hăy cố gắng
nh́n mọi vật như một thực tại, các ông sẽ sáng tạo và khi sống trong
tâm thức sáng tạo các ông đều là những nghệ sĩ, những người biết
yêu cái đẹp, biết rung động với Chân, Thiện, Mỹ. o0o
Bác sĩ
Bandyo, cựu giám đốc bệnh viện Calcutta, một giáo sư đại học nổi
tiếng về khoa giải phẩu. Ông là một bác học Ấn Độ đă được
đề nghị trao giải thưởng Nobel về y học. Sau một biến cố,
ông từ chức, lui về ẩn cư tại một làng nhỏ gần Rishikesh để
săn sóc sức khỏe cho dân chúng tại đây. Ông là người thương gia Keysmaker
ca tụng và hết sức giới thiệu nên phái đoàn t́m đến gặp.
Sau vài
câu chuyện xă giao, giáo sư Mortimer lên tiếng:
- Chúng tôi nghe nói ông đă từ chức
trong trường hợp hết sức đặc biệt. Thương gia Keysmaker dặn
chúng tôi nên hỏi ông về việc này. Xin ông vui ḷng cho biết lư do.
Bác sĩ Bandyo im
lặng một lúc và trả lời:
- Đây là một câu chuyện đáng lư không bao giờ
tôi nói cho ai biết nhưng v́ có lời giới thiệu của Keysmaker nên tôi sẵn sàng: Như
các ông biết, tôi là một khoa học gia nổi tiếng, trọn đời hiến dâng cho
khoa học. Tôi không biết ǵ về Yoga cũng như không hề tin tưởng các sự
kiện vô h́nh, huyền bí mà chỉ tin những ǵ khoa học có thể chứng minh một
cách rơ ràng thôi.
Là một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh tật miền nhiệt đới,
tôi có thói quen là rất thích nghiên cứu các chứng bệnh lạ lùng, khó chữa. Tôi đă
điều trị hơn 100 trường hợp lạ lùng mà bác sĩ khác đă bó tay. Tôi ghi
nhận rất kỹ triệu chứng bệnh lư cũng như phương pháp chữa trị
và viết vào tài liệu y học để giảng dạy trong các trường y khoa thế
giới. Tôi đă nhiều lần đi diễn thuyết về bệnh miền nhiệt đới
và được đề nghị trao giải thưởng Nobel. Dĩ nhiên đó là một
vinh dự lớn cho cá nhân tôi và xứ Ấn Độ.
Một hôm, người ta đưa
vào bệnh viện một cô bé chừng mười ba, mười bốn tuổi ǵ đó.
Cô bé mắc một chứng bệnh hết sức lạ lùng, chưa từng nghe nói đến.
Tôi rất thích thú, dành trọn thời gian nghiên cứu căn bệnh này. Một hội đồng
Y khoa gồm các bác sĩ danh tiếng nhất được thành lập để nghiên cứu,
suốt mấy tháng liền chúng tôi ra công chữa trị nhưng bệnh nhân vẫn không thuyên
giảm. Cuối cùng th́ mọi người đành bó tay. Tôi tuyệt vọng ngồi cạnh
bệnh nhân chờ em bé trút hơi thở cuối cùng. Chưa bao giờ tôi thấy ḿnh bất
lực trước sự sống chết vô thường như vậy. Bất chợt trong
giây phút đó, tôi bỗng ư thức một điều lạ lùng là sự hiện diện của
một bầu không khí tươi mát và êm ái không thể tả.
Khắp pḥng bỗng rực
rỡ một mầu sắc chói sáng và tôi thấy một người đàn bà hiện ra ngay
bên cạnh giường cô bé. Thân thể ngài sáng chói hào quang như gịng nước lấp lánh
dưới ánh mặt trời.
Trong giây phút đó, tôi bỗng nhận thức ra ngài là
đức Mẹ thế gian. Ngài mang nhiều danh hiệu khác nhau như Đức Mẹ Maria
của Thiên Chúa Giáo, đức Quán Thế Âm Bồ Tát của Phật Giáo, Đức Avalokiteshvara
của Ấn Giáo. Ngài thuộc ngôi hai của Thượng Đế và biểu hiệu cho ḷng
Từ bi, Bác ái, luôn luôn đáp lại những lời cầu sinh của chúng sanh.
Trong
giây phút, ḷng tôi bỗng hoàn toàn thay đổi. Tôi quỳ sụp xuống đất mặc
dù suốt đời tôi chưa bao giờ biết cầu nguyện là ǵ. Tôi cầu xin với
tất cả ḷng thành kính xin đức Mẹ cứu chữa cho bệnh nhân. Tôi phát nguyện
trọn đời tôn vinh hoạt động của đức Mẹ và theo ngài vĩnh viễn.
Bác sĩ Bandyo im lặng như ôn lại quá khứ. Giáo sư Mortimer sốt ruột:
- Rồi sao nữa, cô bé đó ra sao?
- Các bạn mến, c̣n sao nữa khi đức
Mẹ hành động th́ có bệnh ǵ mà không khỏi. Ngày hôm sau, cả bệnh viện xôn xao
v́ tôi đă chữa khỏi bệnh cho cô bé. Tất cả bạn hữu xúm vào trách tôi đă
t́m ra cách chữa nhưng dấu kỹ, chờ mọi người bó tay rồi mới trổ
tài. Trường Y khoa yêu cầu tôi công bố phương pháp chữa trị và đ̣i đặt
tên tôi vào căn bệnh đó. Họ tin rằng với phát minh này, chắc chắn giải
Nobel sẽ về tay tôi. Các công ty thuốc cũng ồn ào đ̣i tôi công bố loại thần
dược, chẳng những công ty xứ Ấn mà ngay các công ty ngoại quốc cũng nhất
định đ̣i mua trọn bản quyền. Dĩ nhiên tôi không thể trả lời và dù
có nói cũng không ai tin. Hội đồng Y khoa cực kỳ giận dữ tin rằng tôi
dấu nghề, các bạn thân cũng nhất định chất vấn kỳ được
phương pháp chữa trị và kịch liệt công kích thái độ bất hợp tác của
tôi. Bộ trưởng Y tế tiếp xúc với tôi và cho biết có mười bác sĩ khắp
thế giới được đề nghị lănh giải Nobel nhưng chỉ một người
trúng giải, nếu phát minh của tôi được công bố th́ chắc chắn tôi sẽ
lănh giải này. Tôi trả lời rằng chính đức Mẹ hiện ra và chữa cho bệnh
nhân, tất cả đều cho rằng tôi điên. Sau cùng, giải Nobel năm đó được
trao tặng cho một bác sĩ quốc gia khác. Hội đồng Y khoa Ấn Độ vô cùng
tức giận đ̣i trục xuất tôi, các bạn đồng nghiệp cũng xa lánh và báo
chí xúm vào chỉ trích tôi như một “thầy phù thủy”. Các ông thử tưởng
tượng đang là một bác sĩ danh giá nhất xứ, bỗng trở nên một “lang
băm hạ cấp” ra sao? Lúc đó tôi hiểu thế nào là vô thường. Tôi không biết
phải làm ǵ hơn là cầu nguyện đức Mẹ giúp cho tôi đủ can đảm
để chịu đựng sự bất hạnh này. Tất cả mọi người
đều nguyền rủa, chế diễu, chỉ có một người duy nhất tin ở
tôi đó là thương gia Keysmakers. Ông này dùng thế lực bênh vực cho tôi, áp lực Hội
đồng Y khoa phải phục hồi danh dự cho một bác sĩ bị vu cáo oan ức.
Nhờ ông tung tiền mua chuộc báo chí nên dư luận lắng dịu đần và rồi
người ta không c̣n chú ư đến tôi nữa.
TRở về đâu trang.

|
|

|

|

|

|

|
|

|

|