hoanhac.jpg



















phucdiendandongtiengif.gif 

 

(Bắm vào các đề mục trên đe đọc nhiều bài  khác




























Phiếm Luận: Giọt Nước Tràn Ly

[31/05/2008 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]

Tưởng Năng Tiến
31-05-2008
Nguồn: Hoa Tự Do

Những trại trại cải tạo lao động, ở Việt Nam, thường không có điện.

Sinh hoạt, do đó, được phân chia rơ rệt: từ lúc mặt trời mọc cho đến khi lặn là thời gian dành cho “công tác.” Giữa khoảng thời gian đó, trại viên được “tùy nghi.”

Phải sống trong cảnh tối tăm mới thấy đêm dài, nhất là những đêm đông. Có đêm, tôi khều thằng bạn nằm bên - hỏi nhỏ:

- Theo mày th́ lúc nào, hay nơi nào, được coi là hạnh phúc nhất trên đời này?
- Bắc Mỹ Thuận.

Nó đáp nhẹ nhàng, và lẹ làng, không một giây do dự. Tôi ngớ người ra một lát – và chỉ một lát thôi – rồi nhớ ngay đến sông Tiền Giang, với những đám lục b́nh lơ lửng trên ḍng nước đẫm màu phù sa, đang cuồn cuộn trôi nhanh trong nắng chiều vàng rực, giữa bến bờ xanh um - xa ngút mắt.


Trong lúc cả đoàn xe xếp hàng dài, chờ đến luợt xuống phà, người ta tấp nập ra vào những quán ăn nằm san sát bên đường. Không khí thơm lừng mùi gà nuớng, tôm nướng, heo nướng, ḅ nướng, cá nướng, chuột nướng…Không gian rực rỡ màu sắc của đủ loại trái cây quen thuộc, của miền Nam: khóm, mận, ổi, nhăn, soài, măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, cam, quưt …

Duới phà chen lẫn với hành khách là những em bé bán hàng rong: xôi vị, cốm dẹp, nước dừa, bánh tằm b́, chuối nướng, chè đậu, gỏi gà, cháo vịt, nem nướng, chả chiên, mía hấp, b́ cuốn, bún mắm, chả gị, đậu phụng, cà rem, trà đá, ốc gạo hấp lá gừng, ốc leng xào dừa, chim mía rô ti…

Tôi nuốt nước miếng cùng với ư nghĩ rằng: thằng em này … đang đói, và đói lắm. Nói t́nh ngay, vào thời điểm đó (những năm đầu sau ngày “giải phóng,” và gần cả hai thập niên sau nữa) cả nước đều đói cả - và đói lả-chứ chả riêng ǵ mấy đứa chúng tôi.

Thời đó, may quá, đă qua rồi. Cái đói, cùng với miếng ăn, không c̣n là điều ám ảnh thường trực đối với - phần lớn - những người dân Việt.

Bắc Mỹ Thuận cũng không c̣n nữa. Thay vào đó là cây cầu Mỹ Thuận, tân kỳ và tráng lệ, một món quà tặng qúi báu và mắc giá của người dân Úc, đă lạnh lùng đưa những chuyến “đ̣ ngang” đi vào … lịch sử!

Đêm khác, tôi quay qua khều một thằng bạn khác, và cũng hỏi (nhỏ) một câu tương tự:

- Theo mày th́ lúc nào hay nơi nào được coi là hạnh phúc nhất trên đời này?
- Đó là lúc giữa khuya. Đang nằm ngủ bỗng ghe tiếng tiếng xe thắng gấp, tiếng súng đạn lách cách, tiếng chân người rầm rập xông vào đập cửa nhà … bên cạnh! Nằm co rúm người lại, chờ đến khi thằng cha hàng xóm bị lôi đi. Sau đó là tiếng thở phào nhẹ nhơm, không chỉ của riêng ḿnh mà (có lẽ) của cả hàng trăm người khác nữa, đang trú ngụ trong cùng khu phố. Rồi không khí yên ắng trở lại. Cứ y như thể là chưa hề có chuyện ǵ (đáng tiếc) xẩy ra, cho bất cứ ai. Thiệt là hú vía!

- Đ… mẹ, sao hạnh phúc của mày nghe kỳ cục và… thất đức dữ vậy?

Tôi chửi thề theo thói quen, và lên giọng đạo đức cho nó đă miệng, chớ thiệt t́nh khó chối được rằng hạnh phúc (theo như cách nói của thằng này) tuy có hơi …bất nhơn nhưng thực tế, và vừa trong tầm tay của mọi công dân - tại Việt Nam.

Ở xứ sở này - hơn nửa thế kỷ qua - mấy thế hệ kế tiếp nhau, đă sống dở (và chết dở) trong cái thứ niềm vui và hạnh phúc “đơn sơ” và "giản dị" như thế. Người Việt không c̣n ai dám ước ao được sống an lành, hay sung sướng nữa. Tất cả chỉ cầu mong được tạm yên thân, và đỡ khổ hơn tha nhân, là đă đủ lấy làm măn nguyện lắm rồi.

Đau khổ hay hạnh phúc, nghĩ cho cùng, vẫn thường tuỳ vào nhận thức (rất chủ quan và tương đối) của từng cá thể. Người ta có thể sống chui rúc trong một căn pḥng mỗi bề 3 thước mà cả nhà vẫn thấy thoải mái và no đủ chỉ v́ những người sống kề bên (cũng chừng đó nhân khẩu) nhưng chỉ đuợc phân cho có 2 mét ruỡi thôi, và tiêu chuẩn - thịt, mỡ, mắm, muối, gạo đường - của họ cũng ít hơn gia đ́nh ḿnh, chút xíu!

Đó là chuẩn tắc sinh hoạt, theo mô h́nh của một cái thang lật ngược, vào Thời Đại Hồ Chí Minh Quang Vinh.

Cái thời đại thổ tả này, may thay, cũng đă qua luôn.

Nó qua đúng vào ngày 12 tháng 5 năm 2008. Hôm đó hai công dân Việt Nam (ông Nguyễn Việt Chiến và ông Nguyễn Văn Hải) bị công an đến lục nhà, rồi mang vào trại giam.

Trong một xă hội mà bất cứ ai cũng đều có thể là một tù nhân dự khuyết th́ một thường dân (khi khổng khi không) bị nhốt vô tù là chuyện b́nh thường - như vẫn xẩy ra hàng ngày, ở huyện - từ hơn nửa thế kỷ qua. Chỉ có điều đáng nói là diễn biến của vụ bắt bớ, vào ngày 12 tháng 5 năm 2008, đă xẩy ra (hoàn toàn) khác trước.

Khi hai ông Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải bị lôi ra xe - tuyệt nhiên - không có ông (hay bà) hàng xóm nào cảm thấy … hạnh phúc, chỉ v́ nạn nhân không phải là chính họ. Cũng không có người bạn đồng nghiệp nào - của hai nhân vật này - đă co rúm người lại v́ sợ hăi, rồi thở phào nhẹ nhơm v́ thấy ḿnh vẫn c̣n được yên thân. Và mọi người đă không chịu sống “yên ắng”, cứ như thể là không có chuyện ǵ đáng tiếc xẩy ra, y như trước nữa.

Sự hoang mang, sợ hăi cố hữu đă - đột ngột- biến mất. Đồng loạt, người dân - thuộc nhiều thành phần khác nhau - đều công khai bầy tỏ sự bất b́nh và giận dữ v́ sự bạo ngược của nhà đương cuộc Việt Nam.

Báo Thanh Niên, số ra ngày 14 tháng 5 năm 2008, có bài “Phải Trả Tự Do Cho Các Nhà Báo Chân Chính”, xin được trích dẫn nhập đoạn mở đầu:

“Đă có hàng ngàn bạn đọc gửi thư về tịa soạn Thanh Niên phản đối việc bắt giam hai phóng viên Nguyễn Việt Chiến của Báo Thanh Niên, Nguyễn Văn Hải của Báo Tuổi Trẻ. Các đường điện thoại của Báo Thanh Niên tại Hà Nội, TP.HCM và các địa phương khác trên cả nước gần như bị nghẽn liên tục bởi ‘cơn băo’ điện thoại của bạn đọc bức xúc gọi tới. Tất cả đều toát lên một đ̣i hỏi: việc khởi tố, bắt tạm giam hai nhà báo là không có đầy đủ căn cứ xác đáng, không có lợi cho sự nghiệp chung, và cần trả lại tự do cho các anh càng sớm càng tốt…”

Cùng lúc, báo Tuổi Trẻ - số ra ngày 17 tháng 5 năm 2008 - cũng ngỏ lời “Cảm Ơn Bạn Đọc”, như sau:

“Bạn đọc thân mến, chúng tôi, những người làm báo Tuổi Trẻ, rất xúc động trước sự quan tâm của bạn đọc trước sự việc liên quan tới nhà báo Nguyễn Văn Hải. Hơn 2.000 cuộc điện thoại và mail tiếp tục gửi tới ṭa soạn Tuổi Trẻ vào hai ngày 15 và 16-5 đă nói lên điều đó…”

“Và ngoài sự quan tâm chia sẻ, nhiều bạn đọc đă đến ṭa soạn và các văn pḥng đại diện báo Tuổi Trẻ đề nghị góp tiền để giúp gia đ́nh nhà báo Nguyễn Văn Hải. Thay mặt những người làm báo Tuổi Trẻ và gia đ́nh nhà báo Nguyễn Văn Hải, chúng tôi chân thành cảm ơn tấm ḷng bạn đọc. Nhưng, chúng tôi xin phép được từ chối các khoản quyên góp của bạn đọc. Tập thể cán bộ, phóng viên báo Tuổi Trẻ đă, đang và sẽ có trách nhiệm hỗ trợ gia đ́nh nhà báo Nguyễn Văn Hải một cách chu đáo nhất…”

Có lẽ đây cũng là lần đầu tiên, giới luật sư - những người tưởng như đă “tuyệt chủng” ở Viêt Nam - bỗng hồi sinh. Báo Thanh Niên, số thượng dẫn, đă tường thuật như sau:

“… luật sư Phan Trung Hồi (Đoàn Luật sư TP.HCM); luật sư Nguyễn Bảo Trâm, Giám đốc Công ty Luật TNHH Sài G̣n Luật và Luật sư Hồng Huy Được, Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư Hà Nội cùng cho biết rất quan tâm đến trường hợp của nhà báo Nguyễn Việt Chiến. Cả 3 luật sư đều sẵn sàng tham gia tố tụng vụ án này ngay từ giai đoạn điều tra để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà báo Nguyễn Việt Chiến không lấy thù lao…”

Mọi người đồng t́nh lên tiếng về cái thái độ luật sư Lê Công Định gọi là sự “nhạo báng công lư” của nhà cầm quyền Hà Nội. Tôi không tin là ở VN cũng có công lư để bị nhạo báng. Có chăng chỉ là một thứ “hệ thống luật pháp nhợt nhạt” (theo như cách nói của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư) và thường xuyên bị chà đạp, hay dầy xéo.

Con giun xéo măi cũng oằn. Giọt nước cuối cùng đă tràn ly. Dân Việt đă thẳng thắn lên tiếng đ̣i hỏi được sống một cuộc đời b́nh thường, trong một xă hội (cũng) b́nh thường – như đa phần nhân loại. Cái kiểu sống theo mô h́nh cái thang chổng ngược, từ đây, sẽ bị khước từ (vĩnh viễn) ở Việt Nam.

TRỞ VÊ ĐẦU TRANG




hoanhac.jpg






Chuyn K Hành Tŕnh Bin Đông: Đôi Bông Tai  

NGUYN SƯƠNG 

LTS: Trong suốt 8 thập niên kể từ khi thành lập vào năm 1930, CSVN đă gieo rắc không biết bao nhiêu tội ác trên quê hương Việt Nam. Có thể nói, trên từng tấc đất, ngọn cây, ḥn đá... của quê hương Việt Nam, dưới mỗi mái gia đ́nh, trong mỗi thân phận người Việt, đều có những dấu ấn ghi lại những tội ác kinh tâm động phách do người cộng sản gây ra. Đặc biệt, sau khi ngang nhiên vi phạm Hiệp Định Geneva, xâm lăng và chiếm đóng Miền Nam kể từ 30 tháng 4 năm 1975, CSVN đă thực hiện hàng loạt chiến dịch đàn áp, khủng bố, thủ tiêu, bắt bớ... dă man trên khắp lănh thổ Miền Nam, để một mặt ăn cướp trắng trợn tài sản của người dân, mặt khác nghiền nát mọi sức đề kháng, chống đối của những người yêu nước, khiến hàng triệu người dân Miền Nam phải vượt biển, vượt biên t́m tự do. Hậu quả, trong thời gian hơn hai thập niên kể từ sau 1975, hàng trăm ngàn người Việt, trong đó phần lớn là phụ nữ, trẻ em, ông bà già,... đă bị thảm tử trên biển cả, trong rừng sâu, ngoài hoang đảo.... sau khi phải trải qua những bi kịch kinh tâm động phách, muôn vạn phần đau đớn. Không những thế, ngay cả với những người sống sót, những bi kịch kinh tâm động phách đó vẫn c̣n măi măi tiếp tục ám ảnh, giầy ṿ, tra tấn họ, cho dù họ có sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, có đi đến bất cứ chân trời góc biển nào... Để có thể tái tạo một trong muôn vàn tội ác của cộng sản Việt Nam đối với người vượt biên t́m tự do, Sàig̣n Times trân trọng giới thiệu cùng quư độc giả những đoạn hồi kư trích trong "Chuyện Kể Hành Tŕnh Biển Đông". Hy vọng, qua những ḍng chữ được viết bằng máu và nước mắt của chính những người trong cuộc, qúy độc giả, với tấm ḷng xót xa và những giọt nước mắt đau đớn của những người tỵ nạn cộng sản cùng cảnh ngộ, sẽ hiểu được, tội ác của chánh phạm CSVN đằng sau muôn ngàn bi kịch rùng rợn của người vượt biển. Qua đó, chúng ta sẽ thức ngộ được, lần đầu tiên trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc VN, và có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tội ác của một chế độ đối với chính người dân của chế độ, như chế độ CSVN, quả thực đă vượt khỏi biên cương quốc gia, tung hoành trong mỗi gia đ́nh, mỗi cuộc đời, để rồi tiếp tục tràn lan trên khắp bề mặt địa cầu...

*

Một hai ba, nhứt nhựt quá tam, đă hai lần rồi ra đi không thoát, lấn thứ ba này không thoát có nước về nhà đi ăn mày, rồi đời sống sẽ ra sao, ngủ đ́nh ngủ chợ, tương lai của đám con về đâu, bạn bè ngoảnh mặt người thân lánh xa, sống vô gia cư như vậy một ngày sẽ bị ruồng bỏ, không may mà bị bắt trở lại đưa về vùng kinh tế mới th́ sẽ làm ma mới rừng thiêng nước độc đó mà thôi.

Đă nhiều người lắm tiền nhiều của năm bẩy lần ra đi thất bại c̣n tiền về mua chuộc phường ấp cho dù hồn ma cũng sống lại như chơi, c̣n bốn mẹ con chúng tôi kể từ ngày trở về thành phố, sống coi như đă chết bởi v́ không c̣n hậu khẩu, tên tuổi đă bị cướp đi vào một đêm tối trời áp giải lên xe đưa đến một nơi không thể sống được, đào tẩu trở về không nơi nương tựa, tôi đă cắm lều che vải sống như kẻ du mục rày đây mai đó trong cảnh màn trời chiếu đất làm bạn với đám cô hồn uổng tử trong các băi tha ma, đêm nào mưa gió nhiều tạt ướt đành phải ôm con ngồi chờ đến sáng. Rồi không biết từ đâu đổ về càng ngày càng nhiều người đến ở, cho nên đêm đêm thấy chập chờn thấp thoáng ở băi tha ma nhiều oan hồn sống lang thang giữa đêm trường đói rét.

Hồi chiều, người chủ tàu báo cho tôi biết không c̣n chờ đợi được nữa, phải ra đi trước Tết, sẽ khởi hành vào đêm ba mươi mà hôm nay đă là hai mươi tám Tết rồi, vỏn vẹn chỉ c̣n hai ngày nữa là tôi sẽ rời bỏ nơi này, tự nhiên tôi cảm thấy bùi ngùi không như những lần ra đi trước kia, ḷng nôn nao man mác không biết nên buồn hay vui, mười phần chết chỉ c̣n một phần sống, giao sinh mạng cả bốn mẹ con cho biển cả hỏi sao không hồi hộp, phần lo đi không suông bị bắt nhưng thôi đến nước này th́ đành phải đưa chân, biết đâu trong cái chết t́m ra con đường sống.

Ông ta nói, "Vợ chồng tôi thương hoàn cảnh lam lũ của chị cho mẹ con chị theo chúng tôi, nhưng lương thực chị phải lo phụ với chúng tôi, chúng tôi cũng đă hết sạch bởi những lần đi thất bại, chúng đă nhớ mặt, nếu không may cho chuyến đi này tôi bị bắt lại th́ tôi chỉ có con đường chết, cho nên mọi việc chị phải cẩn thận, ngày mai thực phẩm và con trai lớn của chị theo tôi nằm dưới ghe trước, c̣n vợ tôi sẽ đón chị theo điểm hẹn..." Nói xong ông ta vội lẩn nhanh vào bóng đêm. C̣n lại ḿnh tôi tần ngần giữa trời tối. Mùi rong biển theo gió thoảng đưa vào bờ, tôi hít vô ḷng phổi để nghe mát rượi ngọt ngào yêu thương, nơi đây là quê hương nơi tôi đă được sinh ra và lớn lên với những hàng tre già cao ngất, thân thương những buổi hẹn ḥ đầu đời khi vừa tuổi trăng tṛn 16, bao dấu yêu với kỷ niệm thời thơ dại, yêu đương nồng thắm người chồng mà hằng đêm thường thức trắng gh́m tay súng dơi mắt với quân thù, bao nhiêu thương nhớ có lúc xót xa với kỷ niệm, mà ngày mai tôi sẽ rời xa, trong một chuyến ra đi vô định chỉ có trời xanh mây nước, trong sự sống chết may rủi để t́m một con đường sống cho bốn mẹ con chúng tôi.

Sống dưới chế độ Cộng Sản không có con đường nào khác hơn để lựa chọn biết rằng cầm chín phấn chết trong tay nhưng cũng phải ra đi, nước mất nhà tan, bao nhiêu con rồng cháu tiên phải bồng bế nhau chạy ngược xuôi để t́m con đường sống trong cái chết, mà loài vô thần đang chực vây quanh để thiêu hủy nó đi, nghĩ đến điều đau thương đó tôi thầm th́ khấn nguyện xin ơn trên hăy che chở cho chúng con, Chúa hăy ban phước lành nâng đỡ chúng con qua vùng bóng tối đau thương này, tôi là người ngoại đạo nhưng tôi tin có Chúa hằng cứu giúp, Chúa là đấng toàn năng, nếu trên con đường con đi chẳng may có mệnh hệ nào, xin Chúa hăy ra ơn d́u dắt những đứa con của con được b́nh yên đến bến bờ tự do.

Người bán hàng rong khuya đánh thức tôi trở về thực tế, th́ ra tôi ngồi nơi này đă lâu, đứng dậy phủi hết lớp đất cát dính trên người, trở về túp lều mà bốn mẹ con tôi tạm sống, đứa con trai lớn vẫn c̣n thao thức chờ tôi, nó nói hôm nay con không bán được hết vé số nên không có tiền cho mẹ mua gạo, con đă nấu mấy củ khoai ngày qua c̣n lại mẹ hăy ăn đi, tôi nức nở, tội nghiệp con tôi, ôm nó vào ḷng nghe mùi khét nắng trong tóc, đôi chân nhỏ bé của nó đă phải lang thang khắp trong cùng ngơ hẻm để kiếm sống, tuổi thơ của "Nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ nghĩa" đây sao? Đâu đâu cũng giăng đầy biểu ngữ nào ḥa b́nh tự do hạnh phúc mà con tôi, đứa con đầu đời với t́nh yêu tuyệt vời của tôi, nó đă khổ sở như thế này đây ! Tôi thầm nói, không nhất định là không, ngày mai con sẽ không khổ nữa, mẹ phải tranh đấu để không thể lùi bước cho dù sự sống ra đi là rất mong manh, nhưng cũng phải đi.

Nhớ người chủ tàu nói phải lo giúp lương thực với ông, nhưng tôi lấy tiền đâu ra mua thực phẩm đây, tất cả có cái ǵ cũng đă bán hết rồi từ hai đợt đi kỳ trước, chỉ ngoại trừ đôi bông c̣n sót lại là chưa bán, đă có nhiều lần định bán để cho đám con no ḷng trong những ngày đói kém, nhưng tôi đă cố giữ nó lại không bán đi, bởi lẽ t́nh yêu kỷ niệm của người chồng thân yêu, mà măi sau ngày cưới anh mới kể cho tôi nghe rằng gia đ́nh anh nghèo cưới em anh phải bán chiếc xe đạp cộng thêm tiền dạy kèm mỗi đêm mới đủ mua đôi bông cho tôi trong ngày cưới, cho nên đă bao nhiêu năm tháng với đời sống khó khăn tôi cũng không nỡ bán nó, tôi trân trọng tấm t́nh yêu của anh đă chắt chiu cho tôi, nhưng đến hôm nay tôi không thể giữ nó được nữa, phải bán nó đi để cho cục diện ngày mai, ít nhiều ǵ có c̣n hơn không, đám con anh cần sống, em phải bán nó đi, kỷ niệm của t́nh anh, làm sao em không khỏi đau ḷng xót xa nhớ đến ngày anh phải cuốc bộ nhiều cây số để làm thêm mới đủ. Bởi v́ vườn hồng vừa hé nụ đơm hoa kết trái, rồi thời gian thấm thoát chưa được bao lâu, đứa con đầu ḷng chưa ra đời, th́ có lệnh tổng động viên, anh phải lên đường nhập ngũ. T́nh yêu của chúng ḿnh ngày ấy chưa thấm mầu th́ đă phải chia xa, anh vào Thủ Đức, t́nh yêu cũng xa dần từ dạo đó. Rồi sau đó một năm họa hoằn về phép được vài ngày lại vội vă ra đi khi mà cuộc chiến ngày càng khốc liệt. Anh nói anh không thể bỏ bạn bè chiến đấu cho dù ngày mai anh không biết sự sống c̣n ra sao, cho nên anh vội vă.

Rồi những đứa con t́nh yêu của chúng tôi cũng vội vă theo thời gian lần lượt ra đời. Anh nhớ ngày đó chỉ c̣n kỷ niệm đôi bông ngày cưới và cuối cùng là chiếc áo, với tấm thẻ bài mà người bạn cùng khóa mang về, ngày ấy tôi đă khóc ngất lên ngất xuống. Thế là hết! Anh đă chối bỏ cuộc sống xa ĺa t́nh yêu của tôi, của người vợ trẻ đang độ tuổi thanh xuân đương độ, mà đêm đêm với giấc ngủ chập chờn khi nghe tiếng súng xa vọng về.
Ngày đó tôi c̣n nhớ lần về phép cuối cùng như một điều chẳng lành báo trước, đêm cuối cùng của ngày phép. Tay gối đầu, hai đứa tôi yên lặng bên nhau, qua khung cửa ánh trăng buồn treo lơ lửng soi xuống trần thế đau thương như cuộc t́nh sắp chia xa của chúng tôi, chiến tranh thật là tàn ác, nó làm chia ĺa và ly tan, tang thương dày xéo đổ lên đầu người dân Việt từ đời này qua đời khác. Nằm trong ṿng tay êm ấm của anh tôi ấm ức, anh dỗ dành nói chiến tranh là vậy, ḿnh phải hy sinh không thể sống riêng tư cho ḿnh được, rồi tiếp tục nói: “Lỡ mai anh không về, em hăy đem con về quê nhờ mẹ mà nuôi con cho khôn lớn”. Đó là lời cuối cùng anh để lại cho tôi. Nhưng anh biết không lời của anh khi miền Nam vẫn c̣n là miền Nam, chứ Cộng Sản chiếm cứ rồi th́ thôn quê hay thành thị đều đau khổ tủi nhục giống nhau.

Rồi không như anh tưởng, miền Nam thật sự thất thủ. Người dân biết được mặt thật của Cộng Sản th́ đă quá trễ v́ cá đă vào rọ. Đêm đêm loa phóng thanh hội họp người dân rời thành phố để đi xây dựng vùng đất "hứa hẹn" nơi chó ăn đá gà ăn sỏi ở vùng kinh tế mới. Mang danh là vợ Ngụy quân cộng thêm tội buôn bán trái phép, tên tôi đứng đầu sổ để ra đi đến vùng kinh tế mới mà thời gian ở đó tôi c̣n nhớ là một vùng khô cằn sỏi đá cây c̣n mọc không được th́ làm sao khoai có củ. Nhà ở th́ không ra nhà, lá th́ không ra lá, tôi c̣n nhớ tôi chắp vá bất cứ thứ ǵ có thể chắn gió che mưa, đêm nào trời giông gió nhiều, thổi lạnh buốt xương không tài nào chịu được. Phần bụng đói, nh́n con trong giấc ngủ hồn nhiên, ḷng tôi quặn thắt, tôi muốn khóc nhưng không sao khóc được, mà nếu có khóc có lẽ sẽ là máu trong nước mắt. Tôi thấy ḿnh nhỏ bé và cô thế quá, biết về đâu, biết ai đây, không ai cả. Tôi nghĩ đến Chúa, chỉ có Chúa mới có quyền năng dắt mẹ con chúng tôi ra khỏi địa ngục đoạ đầy này, cho nên ngày ấy tôi đă cầu nguyện hàng giờ khi cảnh vật im ĺm ch́m vào giấc ngủ, chỉ c̣n nghe xa xa tiếng chim rừng vọng đến trong đêm trường cô tịch năo nùng cho những kẻ đang đói ḷng.

Rồi ngày ấy, trời bắt đầu chuyển sang mùa đông, mưa phùn lất phất, tôi nhớ đă đếm đầu ngón tay gần một tháng hơn chờ tiếp tế lương thực nhưng vẫn chưa thấy, như lời hứa suông, không khác nào đem con bỏ chợ. Tôi suy nghĩ măi làm cách nào đây, bốn mẹ con chúng tôi không thể chết nơi rừng núi hoang vu này, rồi tôi tự nói với chính ḿnh phải can đảm rời bỏ nơi này cho dù lưỡi lê hay búa ŕu cũng không sợ, và không thể để yếu hèn mà ngă quỵ th́ không bao giờ có cơ hội mà đứng dậy. Cho nên tôi rất cần tinh thần minh mẫn trong lúc này và tôi gọi thầm tên người chồng thân yêu nơi nào đó một góc trời hoang vu của núi đồi: “Nếu hồn thiêng anh c̣n hiển linh hăy giúp em nhiều nghị lực để vượt qua cơn sóng dữ này.” Và tôi gọi tên anh với những lời thân thương nhất: “Anh biết không. V́ t́nh yêu của anh, em phải sống.” Tôi nhớ lúc đó thật là đau thương, tôi ôm tấm áo của chồng tôi, chiếc áo cũ rích, rách nhiều chỗ chàm vá và đă bạc màu cùng với ngày tháng cực khổ, tôi đă mặc nó trong những ngày trời đông rét mướt, nó đă theo tôi khắp nông trường đó.

Rồi ngày đó trong sự chờ đợi, càng ngày càng tuyệt vọng, lương thực như một cái bóng mờ trong sa mạc mà chúng đă hứa cả mấy tháng hơn rồi, không thể ngồi chờ được nữa, nên trong một đêm kiên quyết tôi phải rời bỏ nơi này nhanh chừng nào hay chừng nấy, vẫn biết ngày mai rồi sẽ ra sao, có ra sao cũng mặc, khuya đêm nay phải ra đi tôi không hề chợp mắt, cầu nguyện và cầu nguyện, Chúa hăy giúp con, kẻng vừa đổ canh tư là tôi lặng lẽ dắt con tôi xuống đồi. May mắn làm sao, đêm ấy, sương khuya vẫn c̣n dầy đặc cho nên mẹ con tôi qua cổng trại mà đám lính canh không ai hay biết ǵ, có lẽ nhờ ơn Chúa nên đêm ấy sương khuya dầy đặc hơn mọi khi, nghĩ đến điều được ơn Chúa, nước mắt tôi tuôn rơi mà những ngày đó tôi lại không có giọt nước mắt để mà khóc.

Thế là thoát nạn, người dân ngày đó biết được bốn mẹ con chúng tôi từ kinh tế mới trở về, họ thương cảm giúp đỡ nên cũng no ḷng. Để rồi về đến quê nhà, tưởng mẹ già ra đón nào ngờ cửa đóng then cài, nhà đă bị tịch biên sang chủ mới. Người hàng xóm nhanh miệng cho tôi biết, mẹ già không chống chọi được. Ruộng vườn chia cắt, bao nỗi ưu phiền, mẹ đă nằm xuống không người thân bên cạnh, khi những chiếc lá vàng cuối sắp sửa ĺa cành là lúc mẹ ĺa đời. Mộ mẹ bên đồi hoang vắng, hàng xóm đắp sơ sài. Lúc dó tôi c̣n nhớ đă khóc như một đứa trẻ ngày nào c̣n nhỏ cần mẹ, đắp thêm mộ phần mẹ khắc chữ dựng bia để thương nhớ. Tưởng đâu tuổi già bóng xế được nương cậy, nhờ thời son trẻ mẹ đă một đời lặn lội lên non, xuống đoài, nuôi con không lớn, vứt tuổi xuân bên đường chồng chất đôi vai không một ngày vui hạnh phúc. Chiến tranh như hung thần, tôi thù ghét nó, nó đă giết đi bao cuộc đời son trẻ của người đàn bà Việt nam. Nh́n đám con tủi phận cho ḿnh, niềm hy vọng cuối cùng đă tan về đâu đêm nay, con sáo trên cành như cám cảnh tiếng hót như thương xót cho đời người sao lắm đau thương.

Thế rồi sau ngày đó, ngày mới bắt đầu. Ngày ngày lội sâu bới từng đống rác t́m bao bịch nylon, mùi hôi thối xông lên nồng nặc nhưng biết làm sao hơn. Những đứa con cần sống nên tôi đă không nan từ với công việc ǵ, buôn bán mánh mung giành giựt với những tên quản lư thị trường, mà ngày đó tôi c̣n nhớ tôi không c̣n sợ báng súng là ǵ.

Những ngày đêm mưa nắng, đêm về th́ ngủ dưới gầm cầu hoặc băi tha ma, đêm nào nghe động tĩnh th́ ba hồn bảy vía chạy cho nhanh kẻo để chúng bắt được trả về kinh tế mới th́ có nước chết. Cho nên tôi phải tranh đấu, tôi lúc đó như con hổ đói, lúc nào cũng chực sẵn giành mồi nuôi con, để sau đó một ḿnh trong đêm vắng, tôi thổn thức, tôi không c̣n là người vợ xinh đẹp ngày xưa của anh nữa, của người chồng thân yêu, của những lúc hẹn ḥ... anh thường vuốt tóc tôi rồi khen mái tóc tôi dài như bóng dừa quê anh. “Anh biết không, mái tóc ngày xưa anh yêu quư không c̣n nữa, em đă cắt mái tóc đó kể từ ngày Cộng Sản chiếm miền Nam, thay vào đó em đă cột từ trước ra sau gáy nhiều khi nh́n gương, em không c̣n nghĩ là em nữa. Tại thời thế tạo em như vậy. T́nh của em đă theo anh chết từ ngày hay tin anh nằm xuống, không một lời từ giă với em, với người mẹ già hằng đêm cầu kinh khi hỏa châu rơi. Ai đă vuốt mắt cho anh, bạn bè có c̣n không hay họ cũng đă nằm xuống bên anh, để dành từng tất đất hơi thở cho miền Nam thân yêu trong lửa bỏng dầu sôi? Anh nằm xuống một nơi nào đó trong chốn rừng thiêng mà chỉ có tiếng chim buồn tiễn đưa anh. Cho nên em phải sống, sống cho những đứa con t́nh yêu của chúng ḿnh ắt đến bờ Tự Do”. Nh́n con trong giấc ngủ mê say, chúng đâu biết rắng mẹ chúng ngày mai bán đôi bông kỷ niệm, để dọn cho chúng một lối đi đầy hứa hẹn.

Thế rồi ngày ra đi đă đến. Từ chiều giờ nằm ở điểm hẹn vẫn không thấy động tĩnh ǵ cả, chẳng lẽ có chuyện ǵ không may xẩy ra? Canh một qua rồi, bụng nghe cồn cào bởi lúc chiều lo quá nên quên ăn, phần th́ bị muỗi cắn. Đêm ba mươi sao tối đen như vậy, xoè bàn tay trước mặt không thấy, xa xa nghe sóng vỗ vô bờ ḷng nôn nao, rồi tôi lại bắt đầu cầu nguyện để lấy lại tinh thần. Tôi rất hy vọng ở một đấng tối cao, ngài sẽ không bỏ rơi mẹ con tôi. Đang miên man suy nghĩ chợt nghe tiếng chim rú ba lần, tôi biết giờ đi đă đến, mạnh dạn cơng đứa con nhỏ trên lưng với chiếc đai cột từ sau ra trước thật chặt, và tôi thầm nói với chính ḿnh, phải bảo vệ những đứa con của tôi, kỷ niệm t́nh yêu cuối cùng này của tôi. Con hăy ngủ yên nhé, ngày mai b́nh minh sẽ đến với con, đứa con kế nó như hiểu biết lặng lẽ đi theo tôi...

Mọi việc êm xuôi, đúng ngay mai có b́nh minh nhưng bến bờ là mênh mông, nhưng dầu sao cũng đă thoát khi đă định thần lại mới biết tàu dài độ 20 m, người th́ lố nhố khoảng bẩy tám chục, phần nhiều là đàn bà và con nít, có những người chưa bao giờ biết biển là ǵ nên say sóng nằm như chết, riêng mẹ con chúng tôi tuy ốm nhưng dai sức bởi v́ năm tháng dăi dầu lăn lộn với cuộc sống sương gió nên tôi cũng khoẻ hơn mấy người đàn bà cùng chuyến tầu.

Đi đă ba ngày hai đêm, tàu nhẹ nhàng lướt theo ánh trăng im ĺm mà đi. Biển êm trời êm sương lạnh rồi tôi nghe mặn ở bờ môi th́ ra tôi đă khóc mà những ngày gian khổ với bọn vô thần tôi đă khô cằn chai ĺ để bây giờ nước mắt cứ trào dâng. Tôi không buồn lâu, thương người chống xấu số, thương cho dân Việt đau thương muôn đời bị trị trong thống khổ đành bỏ nước ĺa xứ xa quê, nơi chôn nhau cắt rún bao giờ trở về được hát khúc hoan ca.

Thuyền vẫn êm đềm trôi đi hy vọng được tàu vớt. Trong niềm hy vọng mong manh bất chợt từ xa nhón lên một chấm đen tiến lần lần lại chúng tôi. Chúng tôi mừng quá đỗi hy vọng gặp được tàu vớt bởi v́ trên tàu của chúng tôi vài người bắt đầu yếu sức v́ thiếu nước, lúc đó chúng tôi dùng hết khả năng để báo hiệu. Dần dần sự báo hiệu đó tiến lại gần, th́ ra lũ đầu trâu mặt ngựa, hai tàu chúng ép thuyền chúng tôi vào giữa và bắt đầu lục soát . Sau là đến đàn bà con gái, khi chúng trả những người đàn bà về chỉ c̣n nằm lả đi v́ phần bị sóng, bị đói mấy ngày qua. Tôi may mắn không bị chúng để ư đến, có lẽ mặt mày tôi bôi đầy dầu mỡ, tóc tai rối bù. Sau khi chúng nhổ neo không quên mang theo 3 em gái khoảng 14 đến 17. Tôi ứa nước mắt không biết các em có c̣n sống để rồi biệt mù tăm cá, tội nghiệp các em quá hay sau cơn dục vọng chúng quăng các em xuống biển để làm mồi cho cá.

Tàu lại tiếp tục đi độ nửa ngày đường nữa th́ gặp thêm một bọn quỷ dạ xoa, lần này không c̣n ǵ nữa th́ chúng hung dữ dă man hơn hết. Bắt đàn bà con gái sang tàu chúng hăm hiếp hơn nửa ngày, có người đàn ông nóng ḷng cứu vợ, chúng đập đầu ngay và liệng xuống biển. Nên sau đó không ai c̣n dám hó hé, tụi nó muốn làm ǵ th́ làm. Thực ra đói quá c̣n hơi sức đâu nữa mà chống cự nổi những tên hải tặc dă man cầm thú.

Sao trời lại để cho những tên gian ác sống, c̣n những người vô tội phải chết oan trong đau đớn? Khi chúng thả neo trong đó có người đàn bà về đến tàu chỉ thều thào mấy câu nhờ giúp đỡ con của chị, rồi chị nắm tay tôi gửi gấm nhẹ nhàng ra đi. Dù không quen biết nhưng mấy ngày qua nằm gần bên nhau trên tàu sống chết này tôi cũng buồn rưng rức thương cho số phận không may của chị trên bước đường t́m tự do chưa tới đích th́ chị đă nằm xuống.

Bây giờ th́ ḷng biển cả tiếp nhận chị, chúng tôi cầu nguyện và đưa xác chị xuống ḷng biển, tôi thầm khấn vái hồn chị linh thiêng hăy giúp chúng tôi đến được bến bờ tự do . Đă hai lần tàu bị cướp tôi đều thoát nạn như lời cầu xin của tôi được Chúa ban ơn, tôi nghĩ như vậy v́ dù tôi có dơ dáy cỡ nào cũng khó ḷng thoát với lũ man rợ. Đêm lại xuống, tàu chúng tôi bây giờ như bóng con tàu ma, tất cả nằm như chết muốn ra sao th́ ra, tàu bây giờ thả trôi theo sóng biển chỉ c̣n tôi và một vài người đàn bà là c̣n chút sức v́ vậy chúng tôi mới giúp đỡ cho những người bên cạnh.

Nh́n những v́ sao đêm rời rạc cũng như chúng tôi đang lạc loài cô đơn trong đêm đen, chưa thấy đâu bến bờ. Lần này chúng tôi không c̣n hơi sức đâu làm hiệu nữa, hai lần tín hiệu để tàu tới cứu là hai lần mất mát, may mắn lắm mới được từ cơi chết trở về, cho nên lần này phó mặc cho trời đất.
Rồi lần thứ ba lại đến, thằng đầu sỏ không qua, nó sai đàn em bắt hết đàn bà con gái lớn nhỏ qua tàu hắn, lần này coi như chết nắm phần chắc trong tay. Những bước chân đi xiêu vẹo đến từng người một bước qua, lúc này tâm trí tôi không c̣n nghĩ ǵ hơn tại sao có loại người dă man vô cùng tận giống như loài quỷ, không phải con người. Chúng tôi vừa thoát khỏi loài vô thần quỷ đỏ th́ lại gặp phải những con thú dữ không c̣n tánh người, những đứa nhỏ đáng tuổi con cháu, chúng cũng không từ. Đứng trước mặt nó lúc đó tôi không biết một động cơ nào thúc đẩy. Tôi quắc mắt nh́n nó một cách không sợ hăi hầu như thách thức tụi nó.

Và tôi cũng không c̣n nghĩ điều ǵ hơn thiệt nữa, ba bẩy cũng phải liều. Nh́n đứa con gái mà tôi vuốt mắt cho mẹ nó lúc sáng hứa sẽ bảo vệ... tôi nỡ ḷng nào để cho nó rơi vào tay ác quỷ. Nghĩ đến điều đó tôi bước mạnh dạn ra khỏi hàng như người hùng sẵn sàng lâm trận. Tôi giơ tay dùng hết mọi khả năng để cho nó biết rằng không c̣n ai có thể sống nổi nếu nó tiếp tục cướp và hăm hiếp. Tôi chỉ trời đất nguyền rủa nó chứ không van xin, cho nên lúc đó tôi không c̣n đếm xỉa đến hắn. Biết chống là chết nhưng tôi nghĩ lúc đó có chết cũng phải vùng lên dù là một khoảng khắc để rồi sau đó tắt lịm c̣n hơn cứ để chúng vời chơi như mèo vờn chuột, trước sau ǵ cũng chết. Nghĩ đến điều đó tôi quỳ xuống trong thư thái b́nh thản, mặc cho bọn chúng reo ḥ, tôi bắt đầu cầu nguyện. Tôi gọi Chúa, chỉ có Chúa mới cứu được chúng con trong lúc này thôi, bởi cái chết như sợi chỉ treo, lương thực đă hết, nước khô cạn. Hôm qua có người đàn ông không chịu nổi khát uống chai dầu gió bứt ruột mà chết, khi cơn đói khát làm hoa mắt chẳng c̣n biết cái ǵ nữa.

Nếu một người như tôi có chết đi mà đoàn tầu trong đó có những đứa con thân yêu của tôi được đến bến bờ, được quỳ dưới chân Nữ Thần Tự Do th́ cái hy này không c̣n ǵ sung sướng bằng, tôi cứ nghĩ miên man và điềm tĩnh nhắm mắt cầu nguyện không c̣n sợ hăi nữa, đón nhận những ǵ đưa đến cho ḿnh. Rồi trong khoảng khắc không biết bao nhiêu lâu đứa con tôi lay vai tôi gọi: “Mẹ, chúng nó cho nước rồi thả hết người rồi mẹ, mẹ đứng dậy đi nó không bắt mẹ đâu.” Tôi như từ một vùng cơn mơ bước ra, không thể nào tin được những tên hải tặc bôn ba khắp vùng biển cả để săn mồi lẽ nào bỏ qua con mồi ở trong tay chúng. Về đến tàu, tôi vẫn chưa hoàn hồn, Chúa đă giúp chúng tôi, tôi ôm đứa con nhỏ nước mắt ràn rụa. Chúa đă cứu mẹ mặc dù mẹ chưa hề sức dầu là con chiên của Chúa. Chỉ có Chúa tối cao mới có quyền năng biến một con sư tử, trở thành một con nai hiền lành, cho nên tàu chúng tôi mới thoát nạn. Bây giờ cả tầu lấy lại được chút niền tin và sức sống nhờ có chút nước cầm hơi. Một ngày sau chúng tôi được tầu Đức vớt. Thế là cuộc hành tŕnh trong nỗi kinh hoàng biển đông mà người Việt đi t́m tự do phải gánh chịu mọi gian nan trong cái chết t́m con đường sống, bao nỗi dày ṿ đói khát cướp bóc hăm hiếp, làm mồi cho cá, giữa trời nước mênh mông không thấy đâu là bờ bến mà ngày ấy đă mang may mắn cho tôi gió lặng sóng êm, những cơn sóng ngủ vùi dưới ḷng biển cả nên đă bỏ quên chúng tôi.

Bây giờ nhiều khi trong giấc ngủ chợt giật ḿnh nhớ lại ngày ấy tại sao tôi có thể can đảm liều mạng đem sinh mạng mấy mẹ con mà giỡn với tử thần. Bây giờ nơi miền đất tự do, năm đứa con, hai đứa của người đàn bà xấu số, cũng đă nên người . Mùa xuân lại về, đêm ba mươi ngồi một ḿnh trong căn nhà vắng vẻ ôn lại chuyện cũ đă qua, mới ngày nào thoáng chốc đă hai mươi năm, tóc bây giờ đă ngả mầu, đă có biết bao điều thay đổi, nhưng quê nhà vẫn lầm than. Bao giờ người dân Việt mới được hưởng mùa xuân thật sự không bị CS cai trị và kềm kẹp, để cùng nhau hát khúc thanh b́nh trong những đêm trăng sáng quê nhà?...

 NGUYỄN SƯƠNG

Trở về đầu trang

hoanhac.jpg