doichienbinh.jpg



















phucdiendandongtiengif.gif 
(Bắm vào các đề mục trên đe đọc nhiều bài  khác)
 




























Kỷ niệm ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu: Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa là lẽ sống của miền Nam tự do
Friday, June 13, 2008

Vann Phan

Có thể nói rằng, trong lịch sử thế giới hiện đại, không có quân đội của bất cứ một quốc gia nào đă thôi tồn tại từ cả mấy thập niên rồi mà vẫn được hằng triệu dân chúng của đất nước đó ngưỡng mộ và tôn sùng như trường hợp của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, một đội quân kiêu hùng, bất khuất nhưng đă phải buông súng tan hàng vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975 v́ bị Thế Giới Tự Do lầm mê và vô ơn bạc đăi cũng như bị chính người bạn đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi sau hơn hai thập niên chiến đấu trên tuyến đầu để ngăn chặn làn sóng xâm lăng của Cộng Sản Quốc Tế.

Cũng có thể nói rằng chưa có một quân đội nào mà, 33 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, lại có được tinh thần thượng vơ, t́nh huynh đệ chi binh và nhất là ḷng tưởng nhớ đến các đơn vị cũ, chiến trường xưa như những cựu chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Cũng chưa có một quân đội nào mà, trong hơn hai thập niên chiến tranh, đă có đến mười mấy vị tướng vị quốc vong thân, trong đó đến năm vị tướng tuẫn tiết v́ không chịu đầu hàng kẻ địch: Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai và Lê Nguyên Vỹ. Và cũng c̣n không biết bao nhiêu là cái chết v́ tổ quốc khác của những sĩ quan cấp tá, cấp úy, cùng các binh sĩ khi họ cùng với gia đ́nh hoặc đồng đội tự sát tập thể mà v́ hoàn cảnh nước đă mất, nhà đă tan nên không có con số thống kê nào được ghi lại. (1)

Tập thể những người lính Việt Nam Cộng Ḥa gồm nhiều thế hệ thanh niên không phân biệt Nam, Trung, Bắc trong các giai đoạn lịch sử cận đại từ 1954 tới 1975, qua các lần động viên từng phần thời Đệ Nhất Cộng Ḥa và cuộc tổng động viên sau Tết Mậu Thân 1968 thời Đệ Nhị Cộng Ḥa.

Dù bị giam cầm và ngược đăi cả chục năm hay lâu hơn nữa trong những trại tù khắc nghiệt - vẫn được gọi là “trại cải tạo” - đa số các cựu chiến binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vẫn c̣n giữ được tinh thần bất khuất, vẫn thiết tha với màu cờ vàng ba sọc đỏ của quê hương và sắc áo của binh chủng ḿnh từng phục vụ trước đây cũng như vẫn nghĩ đến anh em đồng ngũ đă vĩnh viễn ra đi hay c̣n lầm than, vất vưởng đâu đó nơi quê nhà. Tại những nơi đang sống cuộc đời lưu vong trên khắp thế giới, trong hầu hết các cuộc đấu tranh chống Cộng Sản và tranh thủ tự do, nhân quyền cho đất nước và dân tộc, những người lính cũ của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vẫn là những kẻ xướng xuất và đi đầu trong mọi hoạt động và phong trào.

Từ Quân Đội Quốc Gia tới Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa và từ “người lính Quốc Gia” tới “anh lính Cộng Ḥa”

Ở đây, tưởng cũng nên đề cập đôi chút đến lịch sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa từ ngày tập thể này được thành lập cho tới khi bị khai tử một cách tức tưởi vào Tháng Tư năm 1975, là lúc quân Cộng Sản Bắc Việt đạt chiến thắng sau cùng trong cuộc đánh chiếm toàn bộ lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa từ Bến Hải tới Cà Mau.

Vào ngày 8 Tháng Ba năm 1949, sau khi Thỏa Hiệp Eùlysée được kư kết giữa chính phủ Pháp và đại diện Quốc Gia Việt Nam, nước Việt Nam tự do trẻ trung dưới quyền lănh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại được Pháp công nhận là một quốc gia độc lập trong Liên Hiệp Pháp (Union Francaise), và Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập sau đó để chiến đấu bên cạnh Quân Lực Pháp chống lại các lực lượng Cộng Sản Việt Nam dưới quyền lănh đạo của ông Hồ Chí Minh và các đồng chí như Phạm Văn Đồng và Vơ Nguyên Giáp. Lực lượng mới được thành lập này mang danh xưng - “Quân Đội Quốc Gia Việt Nam” và, lúc đầu, được đặt dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Pháp cũng như Việt Nam có quốc tịch Pháp, nổi bật nhất là Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh.

Năm 1952, các lực lượng thuộc Quân Đội Quốc Gia Việt Nam gồm có tới 60 tiểu đoàn những “người lính Quốc Gia,” nhưng các chiến binh này chưa hề đóng vai tṛ đáng kể nào trong cuộc chiến tranh giữa Pháp và các lực lượng Việt Minh Cộng Sản. Người Pháp chỉ nhờ quân đội này làm lực lượng pḥng thủ diện địa để cho quân đội Liên Hiệp Pháp rảnh tay mở các cuộc hành quân chống đánh Việt Minh. Cụ thể, lực lượng quân sự non trẻ này đă được dùng để bảo vệ “Chiến Tuyến De Lattre” ở Bắc Việt trong thời gian quân đội Pháp được tạm thời đưa sang tham gia cuộc Chiến Tranh Cao Ly (Hàn Quốc) dưới lá cờ Liên Hiệp Quốc do nước đàn anh của Pháp là Mỹ cầm đầu trong những năm đầu thập niên 1950.

Đến năm 1954, lần đầu tiên, lực lượng Nhảy Dù trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam đă tham gia cùng với quân đội Liên Hiệp Pháp trong nỗ lực bảo vệ chiến tuyến Điện Biên Phủ. Trung Úy Phạm Văn Phú là một trong các sĩ quan ưu tú của lực lượng Quân Đội Quốc Gia tham dự các trận chiến vô cùng ác liệt tại đây, từng bị bắt làm tù binh rồi được trả về sau Hiệp Định Geneva 1954.

Vào ngày 26 Tháng Mười năm 1956, chính phủ Ngô Đ́nh Diệm khởi sự tái tổ chức các lực lượng thuộc Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, và quân đội này mang danh xưng mới là Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa. Các lực lượng chiến đấu trên không và trên biển được gọi là Không Quân Việt Nam và Hải Quân Việt Nam. (2) Và danh xưng “người lính Cộng Ḥa” hay “chiến sĩ Cộng Ḥa” hoặc, thân thương hơn, “anh lính Cộng Ḥa” ra đời từ đây. Sau cuộc đảo chánh của quân đội lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Ḥa dưới quyền Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, Hội Đồng Quân Nhân cầm quyền đă cải danh quân đội của Nam Việt Nam thành Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa khác xa các quân đội từng chiến bại của thế giới

Dù bại trận, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, thành lũy chống Cộng của Thế Giới Tự Do tại Đông Nam Á, lẽ sống của miền Nam Việt Nam từ 1954 tới 1975, vẫn khác xa các đội quân chiến bại khác, từ quân đội Đức Quốc Xă và Phát-xít Ư tới quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản và từ đạo quân Quốc Dân Đảng của Thống Chế Tưởng Giới Thạch đến đạo quân Cuba của Tổng Thống Batista.

- Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa là quân đội duy nhất trên thế giới vẫn sống c̣n trong ḷng dân tộc sau khi bị tan ră và sau khi quốc gia mà họ xả thân phục vụ bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Các quân đội của Quốc Xă Đức, Phát-xít Ư, Thiên Hoàng Nhật, và Cộng Ḥa Cuba đă biến mất ngay sau khi các quốc gia và thể chế chính trị đỡ đầu cho các quân đội ấy cáo chung. Ngược lại, 33 năm sau ngày Sài G̣n thất thủ, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vẫn c̣n được người Việt hải ngoại khắp nơi trên thế giới cùng với các đơn vị Đồng Minh từng tham chiến tại Việt Nam vinh danh trong những dịp lễ lạt hay tưởng niệm cựu chiến binh, đặc biệt là vào ngày 19 Tháng Sáu, ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

- Trong bối cảnh chính trị và quân sự tại Á Châu và Mỹ Châu La-tinh từ sau Đệ Nhị Thế Chiến (hồi hạ bán thế kỷ thứ 20), Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa là một trong số rất ít quân quân đội không biến thành những nhóm quân phiệt mà lại tự đặt ḿnh dưới quyền chỉ huy và sử dụng của một chính quyền dân sự. Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Ḥa, được khai sinh từ ngày lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm hồi năm 1963 và tái lập vào ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu năm 1965, đă tự ư trao quyền cho một thể chế dân sự hoặc xuyên qua các tuyên cáo và quyết định (như Quyết Định Số 4 ngày 16 Tháng Hai năm 1965 của Hội Đồng Quân Lực trao quyền quản trị hành chánh quốc gia lại cho phe dân sự tại miền Nam Việt Nam) hoặc qua các cuộc bầu cử tổng thống, Quốc Hội và các hội đồng tỉnh, thành tại miền Nam Việt Nam thời Đệ Nhị Cộng Ḥa. (3) Điều đáng chú ư là, cũng vào thời điểm đó, dù không trực tiếp nằm trong t́nh trạng chiến tranh, các nước bạn của Việt Nam tại Á Châu, như Đại Hàn Dân Quốc (Nam Hàn), Thái Lan, Indonesia... cũng như một số nước ở Mỹ Châu La-tinh đều nằm dưới quyền cai trị của các chính thể quân phiệt hoặc do phe quân nhân lănh đạo.

- Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Ḥa, trong đó có một số tướng lănh và sĩ quan quân đội tham chính, không tự phát sinh mà ra đời do những hoàn cảnh đặc biệt của đất nước. Ngay như cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm hồi năm 1963 để đưa Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng lên cầm quyền, dù vẫn bị coi là tai hại cho nền độc lập của đất nước (v́ do Mỹ giật dây) và làm suy yếu nỗ lực chiến đấu chống Cộng, vẫn có thể biện minh được v́ chế độ của ông Diệm có khuynh hướng kỳ thị Phật Giáo và không chịu triệt để đi theo đường lối của Hoa Kỳ là nước đang cung cấp kinh viện và quân viện cho miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Trái lại, các chế độ quân phiệt tồn tại mà không cần lư do chính đáng, phần lớn là do các lănh tụ quân sự tự tạo nên lư do tồn tại, như viện cớ phải bành trướng thế lực trên trường quốc tế (trường hợp quân phiệt Nhật Bản trước và trong Đệ Nhị Thế Chiến), chống xu hướng Cộng Sản (trường hợp Hy Lạp, Thái Lan và Indonesia thời Suharto), chống phiến quân tả phái (trường hợp Chile, El Salvador, Nicaragua...) hoặc chống tất cả các khuynh hướng đối lập (trường hợp Pakistan, Ai Cập, Libya, Myanmar...)

- Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, v́ xuất thân từ dân chúng mà ra, đă không hề gây tội ác nào với dân chúng, nếu không nói được là họ đă xả thân chăm lo bảo vệ hạnh phúc của dân chúng. Trong khi đó, uy tín của quân đội Trung Hoa Quốc Gia, một thời từng được coi là đàn anh và cố vấn của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, lại bị tổn thương v́ biến cố “28 Tháng Hai năm 1947” với vụ tàn sát hằng chục ngh́n thường dân vô tội trên đảo Đài Loan là lănh thổ mà, hai năm sau đó, chính phủ và quân đội của cố Thống Chế Tưởng Giới Thạch đă chọn làm chốn nương thân từ lúc Hoa Lục mất vào tay Cộng Sản cho tới bây giờ. Nền Đệ Nhị Cộng Ḥa tại miền Nam Việt Nam tuy cũng mang tiếng là có những thành phần tham nhũng, nhưng mức độ tham nhũng đó chẳng có ǵ đáng kể một khi đem so với các chế độ quân phiệt hay độc tài đương thời tại những nơi khác, từ Á Châu cho tới Mỹ Châu La-tinh và Phi Châu, đừng nói ǵ đến chuyện đem so sánh với mức đô tham nhũng hiện nay của các viên chức chế độ Cộng Sản tại Việt Nam bây giờ. Trong khi đó, các thành phần lănh đạo của những chế độ quân phiệt thường lạm quyền, tham nhũng và gây nhiều tội ác chống lại dân chúng cho nên sau khi các chế độ này sụp đổ th́ các lănh tụ thường bị các chế độ kế tiếp hay chính dân chúng tại các quốc gia đó xử tội. Đó là trường hợp của nhà độc tài Suharto bên Indonesia và Pinochet ở Chile.

Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, một quân đội ưu tú

- Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, thoát thai từ Quân Đội Quốc Gia Việt Nam -mà thời Đệ Nhất Cộng Ḥa được gọi là Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa- tuy không tự xưng ḿnh là “quân đội nhân dân” như các đạo quân cộng sản -trong đó có Trung Cộng, Liên Xô, Bắc Hàn, Cuba- từng là đối thủ của họ trên chiến trường, thật sự là một quân đội khai sinh từ nhân dân và v́ nhân dân mà phục vụ. Trong hơn hai thập niên chiến tranh chống Cộng khốc liệt, hầu như không có gia đ́nh nào tại miền Nam Việt Nam mà không có thân nhân phục vụ trong quân đội này. Họ có thể là chồng, là cha, là anh, là em, là con, cháu trong gia đ́nh. Hàng hàng, lớp lớp các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă cầm súng ra chiến trường để bảo vệ miền Nam tự do trước cuộc xâm lăng tàn bạo của Cộng Sản.

- Trong thời gian chiến tranh, phần lớn các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ đều có ư thức về t́nh h́nh chính trị, từ nền độc tài, gia đ́nh trị thời Đệ Nhất Cộng Ḥa cùng những chia rẽ tôn giáo và đảng phái cho đến nạn tham nhũng và bè phái cũng như tâm trạng hoài nghi lư tưởng Quốc Gia thời Đệ Nhị Cộng Ḥa, nhưng số lượng binh lính đào ngũ, quay súng đánh lại Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa không có là bao nhiêu, nhất là so với con số đáng kể các cán binh Việt Cộng trở về với chính nghĩa Quốc Gia qua con đường hồi chánh. Dù biết rơ rằng một số các cấp lănh đạo dân sự và quân sự trong chính quyền là bất xứng, nhưng ư chí chiến đấu của quân và dân miền Nam Việt Nam đă không v́ thế mà sút giảm, và tuyệt đại đa số người lính Cộng Ḥa đều giữ vững tay súng chiến đấu chống quân Cộng Sản. Điều này cho thấy người lính Cộng Ḥa vẫn nghĩ rằng cho dù tập thể quân đội và chế độ tự do, dân chủ mà họ đang phục vụ tại miền Nam Việt Nam không phải lúc nào cũng hoàn hảo, song nếu đem so với quân đội và chế độ Cộng Sản Bắc Việt đương thời th́ quân đội và nền Cộng Ḥa tại miền Nam tự do vẫn hơn rất xa. Điều này c̣n nói lên ư chí chống Cộng sắt đá của tập thể chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa, đặc biệt là nếu đem so sánh với các thành phần dân chúng khác trong xă hội miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, tiêu biểu là giới trí thức thân Cộng cà các phần tử trốn tránh nghĩa vụ cầm súng chống quân Cộng Sản xâm lược. Vai tṛ năng động và quyết định của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa sau khi quân đội Mỹ rút đi từ năm 1973 theo kế hoạch “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” đă chứng tỏ người lính Việt Nam Cộng Ḥa chiến đấu v́ ḷng thù ghét chủ nghĩa cộng sản và v́ lư tưởng tự do, dân chủ. Nói khác đi, đó là cuộc chiến đấu tự vệ chính đáng để sinh tồn, cuộc chiến đấu cho tự do, no ấm của chính ḿnh, của gia đ́nh, thân thuộc và của toàn thể dân chúng miền Nam Việt Nam.

- Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa tồn tại và chiến đấu v́ lư tưởng Quốc Gia chứ không phải là v́ quyền lợi của một đảng phái hay phe nhóm nào. Dù dưới danh xưng “người chiến sĩ Quốc Gia” hay “người lính Cộng Ḥa,” các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vẫn chỉ chiến đấu để bảo vệ cho đất nước Việt Nam, cho màu cờ vàng ba sọc đỏ và cho lư tưởng tự do dân chủ của dân chúng miền Nam Việt Nam. Điều này trái ngược một cách phũ phàng với cái gọi là “Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” -mà trước kia là của Cộng Sản Bắc Việt mà hiện nay là của Cộng Sản Việt Nam- bởi v́, trong thực chất, đội quân này chỉ chuyên tâm phục vụ cho cái phe đảng đang cầm quyền, đó là đảng Cộng Sản Việt Nam. Điều không thể chối căi là trong khi phương châm của người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa là “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm” th́ huấn lệnh cho các chiến binh cộng sản là “Trung với Đảng, Hiếu với Dân.” Bởi vậy, ngày nay, không ai lấy làm ngạc nhiên khi thấy các lực lượng quân đội và công an nhân dân của Cộng Sản Việt Nam đang được đảng và nhà nước hết sức o bế, cho hưởng nhiều bổng lộc cao trọng, không phải để bảo vệ lănh thổ Việt Nam, từ vùng đồng bằng cho tới biển cả, chống quân xâm lược Cộng Sản Trung Quốc mà chỉ là để bảo vệ cho đảng và nhà nước cai trị và bóc lột dân tộc Việt Nam dài lâu mà thôi.

- Trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, Việt Nam Cộng Ḥa chính là nạn nhân cuộc xâm lấn của Cộng Sản từ miền Bắc do tham vọng chiếm độc quyền cai trị đất nước của đảng Cộng Sản Việt Nam và theo lệnh của Cộng Sản Quốc Tế trong sách lược bành trướng chủ nghĩa cộng sản toàn thế giới. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ nền tự do, dân chủ tại miền Nam Việt Nam, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa chẳng những không đánh lại chính nhân dân ḿnh mà, trái lại, c̣n hy sinh xương máu để bảo vệ cuộc sống tự do và phúc lợi của dân chúng, cho nên người lính Cộng Ḥa luôn được đa số dân chúng -những thành phần không bị Cộng Sản mê hoặc- ủng hộ và đi theo (trong các cuộc di tản hoặc chạy loạn) cho đến khi bị địch pháo kích chết th́ thôi. Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, với sứ mạng “bảo quốc, an dân” - cho nên đi đến đâu đều được dân thương đến đó - đúng như lời ca trong bài “Anh Đi Chiến Dịch” ngày nào của Phạm Đ́nh Chương: “Anh đi chiến dịch xa vời. Ḷng súng nhân đạo cứu người lầm than... Thương dân nghèo, ruộng hoang cỏ cháy. Thấy nỗi xót xa của kiếp đọa đày... anh đi...” Những “Đại Lộ Kinh Hoàng” và “Quốc Lộ Máu” lừng danh trong lịch sử Chiến Tranh Việt Nam đă nói lên ḷng thương yêu, niềm tin tưởng và kỳ vọng lớn lao của toàn thể dân chúng miền Nam Việt Nam vào các anh chiến sĩ Cộng Ḥa: Dù gian nguy cách mấy, dân chúng cũng chạy theo các anh trên đường chạy giặc đầy những chết chóc kinh hoàng và hiểm nguy cùng cực. Dĩ nhiên là lịch sử thế giới từng cho thấy không có nhiều người chạy theo các đội quân Đức Quốc Xă, Phát-xít Ư, Thiên Hoàng Nhật, hay đạo quân Cuba của Batista khi các đạo quân này tan ră.

Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa là lẽ sống của miền Nam tự do

Đến đây, thiết tưởng cũng đă đủ để có thể khẳng định rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa là lẽ sống của miền Nam tự do. Kể từ khi giới lănh đạo độc tài của Cộng Sản Bắc Việt ngang nhiên xé bỏ Hiệp Định Ba Lê 1973 và mở đợt tổng tấn công cuối cùng để cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam -khởi đầu bằng cuộc đánh chiếm Ban Mê Thuột hồi Tháng Ba năm 1975-và kể từ khi Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa bắt đầu tan ră sau những đợt lui binh dưới áp lực cắt viện trợ của Đồng Minh Hoa Kỳ (v́ nước Mỹ nóng ḷng muốn đẩy nhanh mức độ bỏ rơi Việt Nam Cộng Ḥa trong sách lược toàn cầu của Nixon-Kissinger), chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa tại miền Nam Việt Nam đă phải rơi vào chỗ chiến bại. Là chiếc xương sống của công cuộc kháng chiến thần thánh của trên 20 triệu quân, dân miền Nam Việt Nam và cũng là tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do tại Đông Nam Á, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, lẽ sống của miền Nam tự do, khi sụp đổ, đă kéo theo sự sụp đổ của chính thể Việt Nam Cộng Ḥa và miền Nam tự do trước làn sóng xâm lược bạo tàn của Cộng Sản Bắc và tay sai là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam.

Là lẽ sống của miền Nam tự do, người chiến sĩ Cộng Ḥa đă nhận được sự ngưỡng mộ và khâm phục lớn lao của toàn thể dân chúng miền Nam Việt Nam, nhất là “trong ḷng muôn người biết yêu đời lính,” như từng được nói lên trong một bài hát về lính của Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh. Những bài hát làm rung động ḷng người và được khắc ghi sâu đậm trong tâm khảm dân chúng miền Nam Việt Nam trước đây, bây giờ và măi măi về sau, có lẽ chính là những nhạc phẩm viết về đời lính và về cuộc chiến đấu hào hùng của người chiến binh Việt Nam Cộng Ḥa, những ca khúc nói lên tấm ḷng của người em gái hậu phương yêu anh lính chiến xa nhà bằng giọng lời t́nh tứ, thiết tha: “Có ai biết không em yêu người lính...? Mỗi khi có ai muốn hỏi tên anh, em bảo tên anh là ‘lính’. Lính luôn đa t́nh đáng yêu...” hoặc “Gởi về anh một lá thư em viết bên đèn khuya... Anh biết không em chờ mà anh vẫn chưa về. Đêm này là bao đêm nhớ về anh...” Mới đây, trong chương tŕnh ca nhạc DVD “Lá Thư Từ Chiến Trường” do Trung Tâm ASIA sản xuất, h́nh ảnh thân thương của người lính Cộng Ḥa đă được làm sống lại qua những câu ca, điệu múa do hằng chục nam, nữ ca sĩ và nghệ sĩ Việt Nam tại hải ngoại tŕnh diễn, nói lên ḷng biết ơn và ngưỡng mộ không hề nhạt phai của người Việt khắp nơi đối với các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa hơn ba thập niên sau ngày miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản.

Ngày nay, 33 năm sau, khi hồi tưởng và suy nghiệm về biến cố mất nước ngày 30 Tháng Tư năm nào cùng những hậu quả của nó, những người Việt Nam b́nh thường -không bị mù quáng v́ các tư tưởng lệch lạc hay thành kiến bất công- có thể sẽ đi đến nhận định sau cùng rằng “chính những hy sinh lớn lao và cao cả của người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong cuộc chiến chống Cộng trước đây tại miền Nam Việt Nam đă tạo dựng mầm sống cho dân tộc Việt Nam hôm nay.”

Thật vậy, điều may mắn cho dân tộc Việt Nam, ở cả miền Nam lẫn miền Bắc, chính là sự kiện Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, lẽ sống của miền Nam tự do, đă thoát hiểm và sống c̣n đến trên hai thập niên, cũng vừa đủ thời gian cho mầm tự do, dân chủ đâm chồi và bén rễ trên quê hương Việt Nam. Chính cái mầm mống tự do, dân chủ ấy từ miền Nam Việt Nam đă làm băng hoại nền kinh tế và cả chế độ cộng sản từ Nam chí Bắc, khiến cho Cộng Sản Việt Nam ngày nay chỉ c̣n là một cái vỏ trống không, dù họ vẫn mang danh xưng là một nước “xă hội chủ nghĩa.” Cái gọi là nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện đang sống trong hoàn cảnh bi đát là tất cả những giáo điều cùng lư luận của chủ nghĩa cộng sản đều lâm vào ngơ bí sau khi các vị “thánh tổ” của chủ nghĩa này từ bên trời Âu, cụ thể là Liên Bang Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Xô Viết, đồng loạt lăn đùng ra chết.

Những ǵ sẽ xảy ra nếu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa và tiền thân của quân đội này không hiện hữu, hay quân đội này tan ră ngay vào thời điểm đất nước bị chia đôi năm 1954, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị ám sát năm 1963, quân chiến đấu Mỹ phải nhảy vào tham chiến năm 1965, cuộc Tổng Công Kích của Cộng Sản hồi Tết Mậu Thân năm 1968, hoặc ngay cả vào lúc diễn ra trận chiến một mất, một c̣n hồi “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 1972 khi các lực lượng Mỹ và Đồng Minh đă thôi chiến đấu bên cạnh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa?

Thay lời kết

Nghĩ cho cùng, trong suốt thời gian có cuộc chiến tranh kéo dài nhằm thôn tính miền Nam tự do của Cộng Sản Bắc Việt, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, hoặc ngay cả chế độ quân nhân có thời cầm quyền tại miền Nam Việt Nam, chính là thực thể phát sinh từ nhu cầu tất yếu của lịch sử. Nếu cuộc chiến tranh bảo vệ nền tự do, dân chủ tại miền Nam Việt Nam trước đây được coi là chính đáng th́ không có lư do ǵ mà người Việt Quốc Gia từ trong nước lẫn ở hải ngoại lại quên đi ngày Quân Lực19 Tháng Sáu hằng năm.

Ngày mai đây, khi Việt Nam trở thành một đất nước thật sự có tự do dân chủ, khi lịch sử cận đại và hiện đại của Việt Nam được viết lại một cách nghiêm chỉnh và khi cuộc chiến tranh Quốc-Cộng được đánh giá đúng mức, ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu phải được coi là một trong những ngày kỷ niệm huy hoàng cả trong quân sử lẫn trong lịch sử dân tộc Việt Nam bởi v́ một lư do đơn giản: Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa là lẽ sống của miền Nam Việt Nam, mà miền Nam Việt Nam chính là cái vườn ươm mầm tự do, dân chủ mà giờ đây đang đang đâm chồi, nẩy lộc trên quê hương Việt Nam để đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản độc tài, thối nát vào bóng tối của lịch sử. (V.P.)

Chú thích:

(1) Trong cuộc chiến đấu để bảo vệ tự do, dân chủ cho Miền Nam Việt Nam, các chiến sĩ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă cống hiến cho đất nước những hy sinh vô cùng to lớn và cao cả mà cho tới nay vẫn chưa có ǵ đền đáp nổi. Theo các con số phỏng định, vào lúc kết thúc cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1959-1975), Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa có 250,000 chiến sĩ bỏ ḿnh và Quân Đội Hoa Kỳ có 58,000 quân nhân hy sinh. (Wikipedia, 31 Tháng Năm, 2008)

(2) Trong bài viết nhan đề “Ngày Quân Lực” của Chinh Nhân (tức Bùi Đức Lạc) trên tuần báo Chuông Việt năm 1987, có đoạn sau đây đề cập tới lịch sử Quân Đội Quốc Gia Việt Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa:

“Cũng từ ngày 29 Tháng Mười Hai năm 1954, Bộ Tham Mưu Hỗn hợp Việt-Pháp được cải tổ và cải danh thành Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Vào đầu năm 1956, các Bộ Tư Lệnh Quân Khu được cải danh thành Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn. Vào đầu năm 1958, các đơn vị Sư Đoàn Khinh Chiến, Dă Chiến cũng dần đà được canh tân thành các Sư Đoàn Bộ Binh. Vào cuối năm 1965, các Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đoàn Nhảy Dù cũng theo đà canh tân quân đội được bành trướng thành các Sư Đoàn Tổng Trừ Bị, các Đại Đội Biệt Động Quân được thành lập thành Tiểu Đoàn rồi Liên Đoàn và rồi Sư Đoàn vào năm 1975. Các đơn vị thiết giáp, các Chi Đội, Chi Đoàn được canh tân, hiện đại hóa và trở thành các Thiết Đoàn. Các chiến hạm Hải Quân do Quân Đội Pháp để lại được thay thế bằng những chiến hạm tân tiến hơn, các Pḥng Hải Quân bên cạnh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn được lập thành các Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng. Các đơn vị Không Quân từ những khu trục cơ cánh quạt được thay thế bằng những phản lực cơ, rồi các Phi Đoàn, Sư Đoàn Không Quân ra đời. Các binh chủng, nha sở cũng được trang bị hiện đại hơn và tăng cường quân số cho phù hợp với nhu cầu của chiến trường và nhu cầu của các đơn vị không tác chiến...”

(3) Bản Tuyên Cáo của Quốc Trưởng, Chủ Tịch Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp và Thủ Tướng Chánh Phủ Việt Nam Cộng Ḥa, được công bố ngày 11 Tháng Sáu năm 1965, có đoạn viết:

“Sau khi duyệt lại t́nh trạng ngày một khẩn trương của đất nước, sau khi đă xét lại và xác nhận rằng: những vơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không c̣n phù hợp với t́nh thế... Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Ḥa, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Ḥa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa trách nhiệm và quyền lănh đạo quốc gia đă được Hội Đồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi... Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng, địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong việc lănh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1.11.1963.” (V.P.)

Giương cao Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Ḥa tại Hoa Kỳ
Sunday, June 15, 2008

Phạm Bá Hoa tổng hợp

“Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ” là một trong hai mặt trận quan trọng tại hải ngoại -mặt trận kia là “Trận Chiến Nhân Quyền”-góp phần phát huy sức mạnh cộng đồng Việt Nam tị nạn Cộng Sản và góp phần hỗ trợ mạnh mẽ công cuộc dân chủ hóa chính trị trên quê hương Việt Nam.

Cộng đồng người Việt Quốc Gia tại Hoa Kỳ, qua nhiều cuộc vận động ráo riết và bền bỉ, đang ngày càng đạt nhiều thắng lợi trong việc thuyết phục các địa phương tại Hoa Kỳ công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Ḥa, đồng thời hạ xuống lá cờ đỏ sao vàng của Cộng Sản Việt Nam. Bài tổng hợp này gồm hai phần: (1) Các địa phương tại Hoa Kỳ công nhận Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Ḥa và (2) Hạ cờ Cộng Sản.

Phần một: Các địa phương tại Hoa Kỳ công nhận quốc kỳ Việt Nam Cộng Ḥa

Với những chiến thắng trong 60 tháng qua, những phái đoàn cao cấp của cộng sản Việt Nam như phái đoàn Phan Văn Khải (Thủ Tướng, 2006), Phạm Gia Khiêm (Phó Thủ Tướng), nhất là phái đoàn Nguyễn Minh Triết (Chủ Tịch, 2007) và Nguyễn Tấn Dũng (Thủ Tướng, 2007) đến thành phố nào trên đất Mỹ mà có Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn, họ thấy cả rừng cờ vàng ba sọc đỏ của chúng ta. Cho nên lănh đạo cộng sản Việt Nam rất nhục. Thêm nữa, Cộng Đồng chúng ta khắp nơi liên tục vận động với các cơ quan chánh quyền địa phương, tin tưởng đến ngày nào đó, quốc kỳ Việt Nam chúng ta ngang hàng với quốc kỳ Hoa Kỳ, sẽ rực rỡ tung bay trên bầu trời của hầu hết các tiểu bang có Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn dư trú.

Khởi đi ngày 19 tháng 2 năm 2003 từ thành phố Westminster, tiểu bang California, ṿng qua các tiểu bang theo thứ tự mẫu tự sau đây: Colorado, Connecticut, Florida, Georgia, Hawaii, Indiana, Iowa, Kansas, Louisiana, Massachussetts, Michigan, Minnesota, Mississippi, Missouri, Nebraska, New Mexico, New York, New Jersey, North Carolina, Oklahoma, Ohio, Oregon, Pennsylvania, South Carolina, Texas, Utah, Virginia, và tiểu bang Washington (29 tiểu bang).

Đến ngày 6 tháng 1 năm 2008, quốc kỳ Việt Nam Cộng Ḥa của chúng ta đă được các đơn vị hành chánh địa phương chánh thức công nhận theo thứ tự thời gian, như sau:

1. Ngày 19/2/2003, thành phố Westminster, tiểu bang California. Nghị Quyết 3750.

2. Ngày 11/3/03, thành phố Garden Grove, tiểu bang California. Nghị Quyết 8486-03.

3. Ngày 14/4/03, thành phố Falls Church, tiểu bang Virginia. Nghị Quyết TR-03-07.

4. Ngày 5/5/03, thành phố Milpitas, tiểu bang California. Nghị Quyết 7300.

5. Ngày 3/6/03, quận hạt Santa Clara, tiểu bang California. Quận Hạt này bao gồm 15 thành phố, kể cả thành phố San Jose, với dân số toàn Quận khoảng 1,700,000 người.

6. Ngày 4/6/03, thành phố Hooland, tiểu bang Michigan.

7. Ngày 18/6/03, thành phố Houston, tiểu bang Texas. Nghị Quyết 17-2003.

8. Ngày 24/6/03, thành phố Saint Paul, tiểu bang Minesota. Nghị Quyết 03-502.

9. Ngày 7/7/03, thành phố Pomona, tiểu bang California. Nghị Quyết 2003-140.

10. Cùng ngày 7/7/03, quận hạt Fairfax, tiểu bang Virginia.

11. Ngày 15/7/03, tiểu bang Louisiana. Luật số 839. Đây là tiểu bang đầu tiên.

12. Ngày 30/7/03, thành phố Sacramento, thủ phủ tiểu bang California.

13. Ngày 30/7/03, thành phố Boston, tiểu bang Massachussetts. Nghị Quyết 03-1104.

14. Ngày 8/9/03, thành phố Springfield, tiểu bang Massachussetts.

15. Ngày 12/9/03, thành phố Oklahoma, thủ phủ tiểu bang Oklahoma.

16. Ngày 16/9/03, thành phố El Monte, tiểu bang California. Nghị Quyết 8384.

17. Ngày 16/9/03, thành phố Garland, ngoại ô thành phố Dallas, tiểu bang Texas.

18. Ngày 16/9/03, thành phố Tumwater, tiểu bang Washington. Nghị Quyết R2003-013.

19. Cũng cùng ngày 16/9/03, thành phố Malden, tiểu bang Massachussetts.

20. Ngày 17/9/03, thành phố Rowley, tiểu bang Massachussetts.

21. Ngày 30/9/03, thành phố Grand Rapids tiểu bang Michigan.

22. Ngày 9/10/03, thành phố Lacey, tiểu bang Washington

23. Ngày 8/10/03, thành phố Quincy, tiểu bang Massachussetts.

24. Ngày 20/10/03, thành phố Doraville, tiểu bang Georgia.

25. Ngày 21/10/03, thành phố Olympia, tiểu bang Washington.

26. Cùng ngày 28/10/03, thành phố Lowell, tiểu bang Massachussetts.

27. Ngày 3/11/03, thành phố Norcross, tiểu bang Georgia.

28. Cùng ngày 3/11/03, thành phố Clarkston, cũng tiểu bang Georgia.

29. Cùng ngày 3/11/03, thành phố Dekalb, tiểu bang Georgia.

30. Cũng ngày 3/11/03, thành phố Gwinnett, tiểu bang Georgia.

31. Ngày 4/11/03, thành phố Lawrence, tiểu bang Massachussetts.

32. Ngày 11/11/03, thành phố Arlington, tiểu bang Texas. Nghị Quyết 03-E-555.

33. Cùng ngày 11/11/03, thành phố Port Arthur, tiểu bang Texas.

34. Ngày 12/11/03, thành phố Rainer, tiểu bang Washington. Nghị Quyết 461.

35. Ngày 18/11/03, thành phố Marina, tiểu bang California. Nghị Quyết 2003.

36. Ngày 1/12/03, thành phố Puyallup, tiểu bang Washington. Nghị Quyết 1834.

37. Ngày 6/12/03, thành phố Worcester, tiểu bang Massachussetts.

38. Ngày 8/12/03, thành phố Lakewood, tiểu bang Washington. Nghị Quyết 2003-29.

39. Ngày 16/12/03, thành phố Fort Worth, tiểu bang Texas. Nghị Quyết 3017.

40. Ngày 13/1/2004, thành phố Lincoln, tiểu bang Nebraska.

41 Cùng ngày 13/1/04, thành phố Dupont, tiểu bang Washington. Nghị Quyết 04-279.

42. Cùng ngày 13/1/04, thành phố Wichita, tiểu bang Kansas.

43. Ngày 14/1/04, thành phố San Diego, tiểu bang California. Nghị Quyết R-2004-670.

44. Ngày 27/1/04, quận hạt Pierce, tiểu bang Washington.

45. Ngày 29/1/04, thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania.

46. Ngày 3/2/04, thành phố Grand Prairie, tiểu bang Texas. Nghị Quyết 3975.

47. Ngày 10/2/04, thành phố South El Monte, tiểu bang California.

48. Ngày 17/2/04, thành phố Stockton, tiểu bang California.

49. Trong cùng ngày 21/2/04, ba văn kiện Resolution của Hạ Viện, Resolution của Thượng Viện, và Proclamation của Thống Đốc tiểu bang New Jersey, công nhận và vinh danh quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ chúng ta. Đây là tiểu bang thứ hai.

50. Ngày 20/2/04, thành phố Hartfort, tiểu bang Connecticut. Nghị Quyết ngày 20/2/04.

51. Ngày 24/2/04, thành phố Centralia, tiểu bang Washington.

52. Cùng ngày 24/2/04, thành phố University Place, tiểu bang Washington.

53. Ngày 28/2/04, thành phố Jersey City, tiểu bang New Jersey.

54. Ngày 15/3/04, thành phố West Hartfort, tiểu bang Connecticut. NQ ngày 15/3/04.

55. Cùng ngày 15/3/04, thành phố Salina, tiểu bang Kansas.

56. Ngày 16/3/04, thành phố Biloxi, tiểu bang Mississippi.

57. Cùng ngày 16/3/04, thành phố Orlando, tiểu bang Florida.

58. Cũng cùng ngày 16/3/04, thành phố Fort Wayne, tiểu bang Indiana

59. Ngày 24/3/04, thành phố Honolulu, thủ phủ tiểu bang Hawaii. Nghị Quyết 04-72.

60. Ngày 1/4/04, thành phố Tampa, tiểu bang Florida.

61. Ngày 12/4/04, thành phố Syracure, tiểu bang New York.

62. Ngày 15/4/04, tiểu bang Virginia. Đây là tiểu bang thứ ba. Luật 1457 ER.

63. Ngày 16/4/04, thành phố Minneapolis, tiểu bang Minnesota. Nghị Quyết 2004R-155.

64. Ngày 20/4/04, thành phố Kent, tiểu bang Washingon. Nghị Quyết 1667.

65. Cùng ngày 20/4/04, thành phố Tacoma, tiểu bang Washington. Nghị Quyết 36154.

66. Ngày 24/4/04, quận hạt Thurston, tiểu bang Washington.

67. Ngày 30/4/04, thành phố Saint Louis, tiểu bang Missouri. Nghị Quyết 16.

68. Cùng ngày 30/4/04, quận hạt Camden, tiểu bang New Jersey.

69. Ngày 4/5/04, thành phố West Valley, tiểu bang Utah. Nghị Quyết 04.

70. Ngày 11/5/04, thành phố Bonney Lake, tiểu bang Washington.

71. Ngày 3/6/04, thành phố Seaside, tiểu bang California.

72. Ngày 7/6/04, thành phố Vancouver, tiểu bang Washington.

73. Ngày 12/6/04, tiểu bang Colorado. Đây là tiểu bang thứ tư.

74. Ngày 15/6/04, thành phố Coral Springs, tiểu bang Florida.

75. Cùng ngày 15/6/04, thành phố Carrollton, tiểu bang Texas.

76. Ngày 19/6/04, tiểu bang Georgia. Đây là tiểu bang thứ năm. Nghị Quyết 1866.

77. Ngày 28/6/04, thành phố Beaverton, tiểu bang Oregon.

78. Ngày 19/7/04, thành phố St. Cloud, tiểu bang Minnesota. Nghị Quyết 2004-7-180.

79. Ngày 20/7/04, thành phố Portland, thủ phủ tiểu bang Oregon.

80. Cùng ngày 20/7/04, thành phố Eagle Mountain, tiểu bang Utah.

81. Ngày 10/8/04, quận hạt Marin, tiểu bang California. Quận Marin có 10 thành phố.

82. Ngày 24/8/04, thành phố Sugar Land, tiểu bang Texas.

83. Ngày 7/9/04, thành phố Missouri, tiểu bang Texas.

84. Ngày 4/10/04, thành phố Indianapolis, tiểu bang Indiana. Nghị Quyết 70.

85. Ngày 29/10/04, tiểu bang Florida. Đây là tiểu bang thứ sáu.

86. Ngày 11/11/04, thành phố Austin, thủ phủ tiểu bang Texas.

87. Cùng ngày 11/11/2004, tiểu bang Texas. Đây là tiểu bang thứ bảy.

88. Ngày 22/11/04, thành phố Charlotte, tiểu bang North Carolina.

89. Ngày 13/12/04, thành phố Albuquerque, tiểu bang New Mexico. NQ R-04-156.

90. Ngày 6/2/2005, thành phố Reading, tiểu bang Pennsylvania.

91. Ngày 1/3/05, tiểu bang Oklahoma. Đây là tiểu bang thứ tám.

92. Ngày 3/3/05, thành phố Kansas, tiểu bang Kansas. Nghị Quyết 050233.

93. Ngày 11/5/05, tiểu bang Minnesota. Đây là tiểu bang thứ chín. Nghị Quyết SR0097 Thượng Viện kư ngày 10/5/05, và Nghị Quyết HR0017 Hạ Viện kư ngày 11/5/05.

94. Ngày 17/5/05, thành phố San Jose, tiểu bang California.

95. Ngày 18/5/05, thành phố San Antonio, tiểu bang Texas.

96. Ngày 10/6/05, thành phố Greenville, tiểu bang South Carolina.

97. Ngày 14/6/05, thành phố Columbus, tiểu bang Ohio. Nghị Quyết ngày 14/06/06.

98. Ngày 5/10/05, thành phố Greer, tiểu bang South Carolina. Trước đó, tuy chưa chánh thức, nhưng Quốc Kỳ Việt Nam chúng ta đă phép treo vĩnh viễn trên kỳ đài trong công viên Victor Memorial Veterans Park của thành phố Greer từ ngày 23/8/05.

99. Ngày 28/01/2006, thành phố Allentown, tiểu bang Pennsylvania.

100. Ngày 26/4/06, thành phố Pennsauken, tiểu bang New Jersey. Nghị Quyết 126-06.

101. Ngày 3/6/06, quận hạt San Diego, tiểu bang California.

102. Ngày 5/8/2006, tiểu bang California. Đây là tiểu bang thứ 10 Thống Đốc Arnolt Schwarzenegger đă kư Executive Order S-14-06 (Sắc Lệnh) tại khu Little Saigon, Nam California lúc 10 giờ 30 sáng.

103. Ngày 19/8/06, tiểu bang Ohio. Đây là tiểu bang thứ 11. Tiểu bang Ohio có hai Nghị Quyết do ông Thống Đốc kư ngày 30/7/05 và ngày 19/8/06. Được giải thích rằng, NQ 30/7/05 có sự chống đối nên tiểu bang giữ lại, măi đến ngày 19/8/06 ông Thống Đốc kư một NQ nữa, và tiểu bang phổ biến cả hai bản. Do vận động của Ủy Ban Bảo Vệ Cờ Vàng tiểu bang OHIO để nâng cao giá trị văn bản, Dự Luật ,mang kư hiệu HB 55 “Vietnam Heritage & Freedom Flag Day April 29” do Dân Biểu McGregor đệ nạp với đồng bảo trợ của 22 Dân Biểu, Hạ Viện OHIO đă thông qua ngày 30/1/2008. Sau đó, Dự Luật này có kư hiệu SB 163 được Thượng Viện thông qua ngày 29/4/2008 với số phiếu 32/32. Đến nay có hai tiểu bang (Louisiana và Ohio) công nhận quốc kỳ chúng ta bằng Luật. (trích bài của anh chị Phạm Ngọc Tấn, Dayton, Ohio)

104. Ngày 10/11/06, thành phố San Francisco, tiểu bang California. Nghị Quyết 642-06. Tổng Lănh Sự Cộng Sản Việt Nam tại San Francisco, đă chạy đôn chạy đáo vận động khắp nơi để ngăn chận Nghị Quyết này nhưng đă thất bại như đă từng thất bại khắp mọi nơi.

105. Ngày 3/12/06, thành phố Davenport, tiểu bang Iowa.

106. Ngày 16/12/06, tiểu bang Michigan. Nghị Quyết SA 148 ngày 16/12/07 của Thượng Viện và Nghị Quyết HR 16 ngày 21/3/07 của Hạ Viện. Đây là tiểu bang thứ 12.

107. Ngày 13/4/07, tiểu bang Oregon. Nghị Quyết kư ngày 13/4/07, chánh thức trao cho Cộng Đồng Việt Nam Oregon ngày 23/4/07 tại văn pḥng ông Thống Đốc. Đây là tiểu bang thứ 13.

108. Ngày 26/4/07, tiểu bang Nebraska. Tuyên Cáo của ông Thống Đốc ngày 25/4/07, và chánh thức trao cho ông Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam tại đây. Đây là tiểu bang thứ 14.

109. Ngày 30/4/07, tiểu bang Utah. Tuyên Cáo (Declaration) của Thống Đốc tiểu bang. Đây là tiểu bang thứ 15.

110. Ngày 29/5/07, thành phố Rosemead, tiểu bang California.

111. Và ngày 1/1/2008, thành phố Sunnyvale, tiểu bang California.

Sơ kết 111 địa phương đă công nhận quốc kỳ Việt Nam chúng ta, gồm: 15 tiểu bang, 7 quận hạt, 89 thành phố. Và 111 địa phương này thuộc 29 tiểu bang theo thứ tự mẫu tự sau đây: Tiểu bang California và 3 quận hạt (QH) với 15 thành phố (TP). Tiểu bang Colorado. Connecticut có TP. Tiểu bang Florida và 3 TP. Tiểu bang Georgia và 5 TP. Hawaii có 1 TP. Indiana có 2 TP. Iowa có 1 TP. Kansas có 3 TP. Tiểu bang Louisiana. Massachussetts có 8 TP. Tiểu bang Michigan và 2 TP. Tiểu bang Minnesota và 3 TP. Mississippi có 1 TP. Missouri có 1 TP. Tiểu bang Nebraska và 1 TP. New Mexico có 1 TP. New York có 1 TP. Tiểu bang New Jersey với 1 QH và 2 TP. North Carolina có 1 TP. Tiểu bang Oklahoma và 1 TP. Tiểu bang Ohio và 1 TP. Tiểu bang Oregon và 2 TP. Pennsylvania có 3 TP. South Carolina có 2 TP. Tiểu bang Texas và 11 TP. Tiểu bang Utah và 2 TP. Tiểu bang Virginia với 1 QH và 1 TP. Sau cùng là Washington State với 2 quận hạt và 13 thành phố.

Địa phương không sẵn ḷng đón Cộng Sản

Ngày 29/5/2004, Nghị viên thành phố Westminster và thành phố Garden Grove, tiểu bang California, đă thông qua hai Nghị Quyết với nội dung tương tự nhau là “không đón tiếp các viên chức hay các phái đoàn cộng sản Việt Nam đến thăm chánh thức thành phố này”. Thành phố Westminster được xem là “thủ đô” của Cộng Đồng Tị Nạn chúng ta, và Garden Grove là thành phố láng giềng thân thiết của Westminster.

Hai Nghị Quyết này càng tạo thêm niềm tin trong Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn cộng sản trên khắp thế giới và ngay cả dư luận trên quê hương Việt Nam. Ngược lại, lănh đạo cộng sản Việt Nam càng thêm tối tăm mặt mũi.

Những tổ chức công nhận quốc kỳ Việt Nam Cộng Ḥa

Những tổ chức không thuộc đơn vị hành chánh địa phương công nhận quốc kỳ Việt Nam chúng ta, nhưng dù sao th́ quốc kỳ chúng ta cũng được chánh thức ngang hàng với quốc kỳ Hoa Kỳ trong một khoảng không gian nhất định tại đó:

- Ngày 7/4/03, đảng Cộng Ḥa thuộc Khu Vực 48.

- Ngày 17/5/03, đảng Cộng Ḥa tiểu bang Washington.

- Ngày 9/6/03, đảng Cộng Ḥa quận hạt Pierce, tiểu bang Washington.

- Ngày 10/12/03, Trường Đại Học SPSCC, tiểu bang Washington.

- Ngày 28/3/05, khu học chánh Birdville, Fort Worth, Texas, nhận quốc kỳ Việt Nam chúng ta do Nhóm Vận Động trao tặng. Khu học chánh hứa sẽ treo quốc kỳ chúng ta tại tất cả các trường từ lớp 1 đến lớp 12 trực thuộc khu học chánh Birdville.

Phần hai: Hạ cờ Cộng Sản.

Theo gợi ư của Ủy Ban Chống Cờ cộng sản và Chống Tuyên Vận cộng sản Việt Nam tại tiểu bang Washington.

1. Bưu Chính Hoa Kỳ

Trong tập cẩm nang đa ngôn ngữ của Bưu Chính Hoa Kỳ “A World of Services to Meet Your Needs” phát hành tháng 8 năm 2001, nhằm quảng cáo những dịch vụ của cơ quan này trên thế giới, có trang tiếng Việt với lá cờ máu của cộng sản Việt Nam. Một cuộc phối hợp rộng khắp do nhiều tổ chức trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ, đă liên tục vận động với Bưu Điện Hoa Kỳ. Kết quả là Bưu Điện Hoa Kỳ đồng ư thu hồi toàn bộ tập cẩm nang đó.

2. Trường trung học Showalter ở Tukwila

Ủy Ban Chống Tuyên Vận Cộng Sản tiểu bang Washington, đă vận động thành công với Ban Giám Đốc trường “Showalter Middle School” tại thành phố Tukwila, thay thế lá cờ máu cộng sản Việt Nam bằng quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ ngày 19/12/2001.

3. Trường đại học ở Olympia

Ủy Ban Chống Cờ Cộng Sản tại Olympia, đă phối hợp nhiều tổ chức bạn của tiểu bang Washington, và nhiều tổ chức Cộng Đồng từ nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ cũng như từ nhiều quốc gia khác, đă vận động thành công với Ban Quản Trị trường đại học SPSCC, lá cờ máu của cộng sản đă bị hạ xuống ngày 3/3/2006. Ngoài ra, Ủy Ban Chống Cờ Cộng Sản cũng vận động thành công cho dự án xây dựng Vietnamese Garden với kỳ đài Việt - Mỹ tại trường đại học này. Hiện Ủy Ban đang thảo luận kế hoạch vận động gây quỹ 125.000 mỹ kim để thực hiện dự án.

4. Trường đại học Texas tại Arlington (UTA)

Biểu tượng của sinh viên Việt Nam trong trường đại học Texas tại Arlington (Dallas Forworth) là quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ, được treo trong Nedderman Hall từ 20 năm qua. Năm 2006, với sự vận động của một số du học sinh từ Việt Nam mà người đứng đầu (về mặt nổi) là du sinh Dung Nguyễn. Quốc kỳ Việt Nam chúng ta bị kéo xuống và lá cờ máu của cộng sản kéo lên ngày 11/4/2006. Cuộc đấu tranh quyết liệt về phía sinh viên Việt Nam với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Cộng Đồng tị nạn bắt đầu ngày 12 tháng 4, và liên tục sau đó v́ sự cứng rắn kỳ lạ của Tiến sĩ James Spaniolo, Viện Trưởng. Cao điểm của trận chiến hạ cờ máu là cuộc biểu dương lực lượng của khoảng 5,000 người vào ngày 30/4/2006. Về phía Việt Nam, ngoài số sinh viên Việt Nam hải ngoại tại trường UTA, c̣n có đông đảo đồng hương trong Cộng Đồng Việt Nam Dallas Forworth, Washington DC, California, Denver (Colorado), Houston, San Antonio, Austin tham dự. Và đặc biệt là sự góp mặt của Phong Trào Hưng Ca với Nguyệt Ánh và Việt Dũng. Về phía Hoa Kỳ có các Nghị Viên Lana Woff, Katherine Wilmon, và Robert Rivera của thành phố Arlington, Nghị Viên Clyde Pitch thành phố Forworth. Ngoài ra c̣n có ông Bill Laurie, cựu chiến binh từ Phoenix (tiểu bang Arizona) đến. Về truyền thông có các đài truyền h́nh số 4, số 5, số 8 Hoa Kỳ, và đài 2072 SBTN Việt Nam, các báo Dallas Morning News, The Star Telegram, và UTA Shorthorn. Phóng viên của Sở Cảnh Sát cũng đến thu h́nh làm tài liệu.

Cao điểm của trận chiến hạ cờ máu đă dẫn đến sự can thiệp và áp lực từ Thống Đốc Texas Rick Perry, Thượng Nghị Sĩ Cornyn, Jay Guerrero, bà Kate McArthur, và ông Scott Smith. Đặc biệt là Dân Biểu Toby Goodman và các đồng viện của ông đă áp lực với Tiến sĩ Spaniolo rằng: “Nếu không hạ lá cờ Việt Nam cộng sản xuống, sẽ có Nghị Quyết của Tiểu Bang ngưng ngay ngân khoản trợ cấp cho UTA xây dựng thêm cơ sở cho khu vực đào tạo Kỹ Sư. Mặt khác, một số vị thương gia Mỹ gốc Việt gởi thư cho một số Nghị Sĩ tiểu bang, yêu cầu tiền thuế đóng cho tiểu bang không được sử dụng trợ cấp cho trường UTA nếu trường này tiếp tục treo cờ cộng sản gây phương hại tinh thần con em họ đang theo học tại đây. Sau cùng, Tiến sĩ James Spaniolo, Viện Trưởng UTA, ngày 10/5/2006 quyết định hạ tất cả 123 quốc kỳ của các quốc gia xuống, và từ nay chỉ treo quốc kỳ Hoa Kỳ, cờ tiểu bang Texas, và cờ của trường UTA, trong khi chờ đợi Hội Đồng t́m một quyết định hợp lư. Vậy là trận chiến hạ cờ máu kết thúc với thắng lợi về phía sinh viên Việt Nam hải ngoại và Cộng đồng Việt Nam tị nạn tại Dallas Forworth.

Sinh viên Việt Nam hải ngoại tại UTA nhận thức rằng, thắng lợi này chưa hoàn toàn v́ ông Viện Trưởng Spaniolo dường như có thâm ư khi hạ tất cả 123 cờ thay v́ chỉ hạ lá cờ máu của cộng sản Việt Nam, để gây hiềm khích giữa sinh viên Việt Nam hải ngoại với du sinh từ các quốc gia khác. Các cháu sinh viên hải ngoại tại UTA lúc nào cũng chuẩn bị đối phó những bất trắc có thể xảy ra v́ thâm ư đó. Mong rằng, mọi nỗ lực của các cháu luôn nhận được sự hỗ trợ đúng lúc đúng mức của bậc cha ông, nhất là quí vị quí bạn trong tổ chức Cộng Đồng tại địa phương cùng với sự hỗ trợ mạnh mẽ của quí đồng hương, để chiến thắng của các cháu được tṛn vẹn.

5. Tại Stockton, Hoa Kỳ

Hằng năm, thành phố Stockton, tiểu bang California, Hoa Kỳ, có tổ chức Lễ Hội Măng Tây (The Stockton Asparagus Festival) vào hạ tuần tháng 4. Năm nay là lần thứ 22, diễn ra từ ngày 27 đến 29 tháng 4. Trong lễ hội này rất đông các tổ chức thuộc các sắc dân tham dự vui chơi, với sự có mặt của nhiều cơ quan truyền thông làm phóng sự. Không biết bằng cách nào mà cơ quan ngoại giao cộng sản đưa lá cờ máu của họ vào treo trước lều tiếp tân.

Được cung cấp tin tức này, ông Nguyễn Hữu Hiến, Chủ Tịch Ủy Ban Cờ Vàng của Stockton, hướng dẫn phái đoàn hùng hậu đến gặp bà Cathi McJilton, phụ tá Giám Đốc Điều Hành, tŕnh bày việc treo cờ cộng sản là không hợp lư. Lúc đầu bà Cathi có vẻ không bằng ḷng, nhưng sau khi ông Hiến trưng dẫn Nghị Quyết Cờ Vàng của thành phố Stockton ngày 17/2/2004, và Sắc Lệnh Cờ Vàng của tiểu bang California ngày 5/8/2006, bà Cathi đồng ư thay bằng quốc kỳ Việt Nam chúng ta ngay chiều hôm ấy.

6. Tại Sundre, Alberta, Canada

Năm 1984, vợ chồng anh Trần Nam, một gia đ́nh trong Cộng Đồng Việt Nam nhỏ bé tại thành phố Sundre, tỉnh bang Alberta, Canada, mua một trong số 11 cột cờ quốc tế trong công viên dẫn vào Sundre với giá 125 đồng Canada, và được phép của Hội Đồng thành phố treo quốc kỳ Việt Nam vĩnh viễn nơi đây. Ngày 11/10/1984, Cộng Đồng Việt Nam từ Calgary và Edmonton cùng với bà con tại Sundre, trong buổi lễ thượng kỳ rất trang nghiêm trọng thể. Cũng từ đó, quốc kỳ Việt Nam chúng ta phất phới cùng quốc kỳ Canada và các quốc gia khác. Vào ngày 1 tháng 7 hằng năm -ngày Quốc Khánh Canada- bà con từ các vùng lân cận kéo về Sundre làm lễ chào quốc kỳ, cũng là lúc anh Trần Nam thay lá cờ mới. Điều đặc biệt là anh Trần Nam, thay v́ mua món quà thông thường th́ anh lại mua cột cờ cao chót vót mừng sinh nhật vợ anh (năm 1984), và vợ chồng anh quyết định tặng Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại đó. Trên thế giới, có lẽ anh Trần Nam là người Việt Nam tị nạn duy nhất sở hữu chủ một cột cờ với lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ trên đỉnh, và rất có thể Sundre là thành phố đầu tiên tại hải ngoại từ sau 30/4/1975, quốc kỳ Việt Nam chúng ta chánh thức phất phới ngang hàng với các quốc gia khác.

Ngày 14/5/2007, do kẻ “nằm vùng” rỉ tai Nghị Viên thành phố là cờ vàng ba sọc đỏ không tiêu biểu cho Việt Nam. Sự việc đưa vào thảo luận, và v́ không t́m thấy văn kiện nào nói về quốc kỳ này nên Hội Đồng thành phố quyết định hạ xuống.

Thế là Cộng Đồng Việt Nam từ Sundre, Calgary, Edmonton thuộc tỉnh bang Alberta, và Liên Hội Người Việt từ Ottawa, qui tụ lại cơ quan Hội Đồng thành phố Sundre khiếu nại, với số người đông đến nỗi đứng đầy ngoài hành lang. Trong buổi họp 16/7/2007 chưa xong. Buổi họp 23/7/2007, h́nh ảnh và ư nghĩa cao cả của bức ảnh “Vá Cờ” cùng với hỗ trợ của cư dân Canada đă đem lại hy vọng thành công, nhưng ông Thị Trưởng hẹn lại kỳ họp tới. Buổi họp ngày 27/8/2007, kết quả bỏ phiếu 5 thuận/1 chống với những tràng pháo tay kéo dài. Và ngày 30/8/2007, quốc kỳ Việt Nam chúng ta đă phất phới trên đỉnh cột cờ như đă phất phới trên đó từ 23 năm qua. (trích bài của ông Nguyễn Ngọc Bích).

7. Tại Kansas City

Được tin trường Đại Học Cộng Đồng Penn Valley, thành phố Kansas, tiểu bang Missouri, treo cờ máu của cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Cộng Đồng Kansas City & Vùng Phụ Cận họp phiên khẩn cấp vào ngày 8/9/2007 để lấy quyết định chung. Một phái đoàn Cộng Đồng đến trường đại học ngày 11/9/2007 tiếp xúc với các viên chức thẩm quyền, tŕnh bày ư nghĩa giữa cờ máu của cộng sản độc tài với quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ của Cộng Đồng Việt tị nạn cộng sản trên thế giới nói chung và tại Hoa Kỳ nói riêng. Ngày 15/9/2006, Tiến sĩ Al Dimit kư văn thư chấp nhận ư kiến của Cộng Đồng Việt Nam, và cho biết sẽ thượng kỳ Việt Nam trong buổi lễ được tổ chức ngày gần đây, với sự tham dự Cộng Đồng Việt Nam, sinh viên, Ban Giám Đốc trường, và quan khách. (trích e-mail của ông Triệu H. Nguyễn)

Phần kết

Nh́n lại lịch sử thế giới, hầu như hiếm có trường hợp một quốc gia không tồn tại mà quốc kỳ của quốc gia đó vẫn tồn tại trong những trường hợp khác nhau trên thế giới như quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ của chúng ta.

Vậy, với đà chiến thắng này, mong rằng Cộng Đồng chúng ta khắp nơi liên tục vận động với chánh quyền địa phương, để nhanh chóng mở rộng diện tích mà quốc kỳ chúng ta chánh thức tung bay trên bầu trời liên bang Hoa Kỳ. Và những chiến thắng trong trận chiến này, trong một mức độ nào đó, đă thể hiện nhăn quan của những nhà chính trị trong những cơ quan lập pháp và hành pháp Hoa Kỳ cấp địa phương, v́ những bài học kinh nghiệm trong sinh hoạt chính trường cho thấy sự kiện chính trị nào cũng mang theo nét nh́n riêng của nó.

Người tổng hợp xin được góp lời vinh danh và cám ơn quí vị cùng quí bạn trẻ, đă vận động thành công với các cơ quan chánh quyền địa phương cho “Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ” của Cộng Đồng chúng ta, và hành động đó đă góp phần tạo nên bản tổng hợp này.

Houston, 30 tháng 4 năm 2008

Nhật tu mới nhất: 2/5/2008

Phạm Bá Hoa tổng hợp

hoanhac.jpg






Ngày Quân Lực, Vinh danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
Friday, June 13, 2008

Vann Phan

Lời Tác Giả: Bài viết sau đây có mục đích làm sáng tỏ chính nghĩa của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong suốt giai đoạn lịch sử bi tráng vừa qua của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, khẳng định rằng chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Ḥa là nhu cầu tất yếu của lịch sử, là lẽ sống c̣n của một đất nước đang đấu tranh cho sự sống c̣n của ḿnh và chỉ là một hiện tượng tạm thời chứ không mang tính lâu dài. Và dĩ nhiên là chế độ quân nhân cai trị tại miền Nam Việt Nam không hề là chế độ quân trị (military rule) hay chế độ quân phiệt (militarism).

Có thể nói rằng, so sánh với các quân đội khác trên toàn thế giới thời cận đại, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, trong gần hết thời gian có cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1960-1975), là lực lượng quân sự duy nhất mang trên vai hai trọng trách cùng một lúc: bảo vệ an ninh quốc gia và quản trị hành chánh đất nước.

Việc thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ nặng nề này, tức là việc các thành viên thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vừa đánh giặc vừa trị nước, có vẻ như đă đặt chế độ quân nhân (military regime) tại miền Nam Việt Nam vào vị thế của những chế độ quân phiệt (militarism, militaristic regime) cùng thời hay sau này trên khắp thế giới, đặc biệt là tại những quốc gia kém mở mang ở Nam Mỹ (Argentina [Á Căn Đ́nh], Brazil [Ba Tây], Chile [Chí Lợi], El Salvadore, Haiti, Nicaragua, Panama, Peru...), Á Châu (Bangladesh [Đông Hồi cũ], Indonesia [Nam Dương], Iraq, Myanmar [Miến Điện cũ], Nam Hàn, Pakistan [Hồi Quốc, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ...) hay Phi Châu (Algeria, Cộng Ḥa Trung Phi, Congo- Brazaville và Congo-Kinshasa, Ai Cập, Ethiopia, , Ghana, Libya, Niger, Nigeria, Somalia, Sudan, Uganda...) và ngay cả tại những quốc gia không Cộng Sản và tân tiến ở Âu Châu như Hy Lạp (1967-1974), Bồ Đào Nha (1926-1974) và Tây Ban Nha (1923-1975).

Nhưng sự thật th́ không phải như vậy. Dù miền Nam Việt Nam luôn nằm trong t́nh trạng chiến tranh -đất nước đă được Bộ Trưởng Quốc Pḥng Nguyễn Đ́nh Thuần thời Đệ Nhất Cộng Ḥa tuyên bố nằm trong “t́nh trang lâm nguy” từ năm 1963- chế độ quân nhân dưới quyền các sĩ quan cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vẫn đem lại nhiều tự do, dân chủ hơn so với các quốc gia cùng thời nằm dưới các chế độ quân phiệt trên toàn thế giới và vẫn được đại đa số dân chúng kính trọng và thương yêu, đi đâu theo đó, từ trong nước ra tới hải ngoại. C̣n nếu có một số thành phần dân chúng tại Việt Nam Cộng Ḥa lên tiếng chỉ trích quân đội này trong nhiệm vụ vừa chiến đấu vừa tham gia quản trị đất nước th́ đó cũng chỉ là chuyện b́nh thường trong một quốc gia thực sự có tự do, dân chủ. Riêng trong hoàn cảnh đặc biệt của miền Nam Việt Nam, những lời chỉ trích nào nhắm vào tập thể chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa mà không nằm trong xu hướng tự do, dân chủ tự nhiên kia của dân chúng th́ đều phát xuất từ luận điệu tuyên truyền của phe Cộng Sản -mà vào lúc đó đang là kẻ thù nỗ lực thôn tính miền Nam tự do-hay từ những lời chỉ trích đầy ác ư và mang tính đạo đức giả của phe tả trên toàn thế giới chỉ mong sao Cộng Sản sớm chiến thắng tại Việt Nam rồi hậu quả ra sao th́ cũng mặc kệ, bởi v́ chính dân chúng miền Nam Việt Nam, chứ không phải họ, là kẻ phải hứng chịu tai họa-như thực tế đă chứng minh từ hơn ba thập niên qua- trong khi họ th́ bất quá chỉ việc chịu khó lên báo, lên đài đặng biểu tỏ ḷng ăn, năn hối hận qua quưt cho việc làm xuẩn động của ḿnh trước kia là xong (như Joan Baez -và cả Jane Fonda nữa- đă làm, chứ John F. Kerry th́ chưa).

* Vai tṛ vừa quân sự vừa hành chánh của Quân Lực Việt Nam có tự bao giờ?

Những người miền Nam Việt Nam trong nước cũng như ở hải ngoại, trước và sau năm 1975 vẫn coi ngày 19 Tháng Sáu năm 1965, ngày Quân Lực của miền Nam Việt Nam, là ngày tập thể chiến sĩ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa chính thức đảm nhiệm vai tṛ lịch sử điều khiển đất nước và chỉ huy nỗ lực chiến đấu tự vệ của miền Nam tự do chống lại cuộc chiến tranh thôn tính của Cộng Sản Bắc Việt, có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại miền Nam Việt Nam hỗ trợ. Sự thực th́ thời điểm kể trên không phải là ngày quân đội bắt đầu đảm đương cùng một lúc cả nhiệm vụ quân sự lẫn vai tṛ hành chánh tại miền Nam Việt Nam mà chỉ là ngày mà tập thể chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa chính thức lên nắm giữ vai tṛ đó qua buổi lễ ra mắt trước quốc dân và quốc tế Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia (do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch) và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch) tại thủ đô Sài G̣n. (Trước đó, vào ngày 11 Tháng Sáu năm 1965, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Ḥa Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát đă ra tuyên cáo “long trọng trao trả lại cho Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa trách nhiệm và quyền hành lănh đạo quốc gia đă được Hội Đồng Quân Lực ủy thác” cho chính quyền dân sự dưới quyền lănh đạo của hai vị chiếu theo quyết định ngày 5 Tháng Năm năm 1965, tức là cách đó hơn một tháng)

Cái ngày mà giới quân nhân trong quân đội bắt đầu đảm đương cả nhiệm vụ quân sự lẫn vai tṛ hành chánh tại miền Nam Việt Nam thật ra đă xảy ra từ sáu, bảy năm trước đó, dưới thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, sau khi Cộng Sản Bắc Việt chính thức cho ra đời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, 20 Tháng Mười Hai năm 1960, để làm b́nh phong che đậy việc họ xua quân quyết đánh chiếm miền Nam Việt Nam để đặt miền đất tự do này dưới quyền cai trị độc tài của đảng Cộng Sản Việt Nam. Trước t́nh h́nh Việt Cộng (Mặt Trận Giải Phóng) ngày càng gia tăng các vụ ám sát viên chức xă, ấp rồi đánh chiếm các làng mạc và cả các quận lỵ tại miền Nam Việt Nam, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trong vai tṛ tổng tư lệnh quân đội chiếu theo hiến pháp Đệ Nhất Cộng Ḥa, đă phải thay thế các chức vụ quận trưởng và tỉnh trưởng tại những vùng chiến sự đang sôi động do các viên chức dân sự (ngạch phó đốc sự hành chánh trở lên) đảm nhận sang cho các sĩ quan quân đội, với các sĩ quan cấp Đại úy đảm nhiệm chức vụ quận trưởng và sĩ quan cấp Đại Tá làm tỉnh trưởng (Vị Đại Uùy Quận Trưởng danh tiếng nhất thời đó là Đại Uư Bùi Thụ, Quận Trưởng Quế Sơn tại Quảng Nam, đă tử trận sau khi ông t́nh nguyện ở lại tử thủ với vị đại úy quận trưởng kế nhiệm trong đêm Việt Cộng tấn công tràn ngập quận lỵ Quế Sơn vào đầu năm 1962, chỉ mấy tháng trước khi chính vị tổng tư lệnh quân đội bị quân đảo chánh hạ sát). Phải biết rằng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu rất cảnh giác trong chuyện trao cho giới quân nhân quyền hành lớn trong một đất nước mà hai nhà lănh đạo này đang muốn chuyển đổi từ một quốc gia bất an về chính trị sau năm 1954 để trở thành một nền dân chủ trẻ trung tại Đông Nam Á. Nhưng chuyện chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă phải chấp nhận giao quyền hành chính và quân sự cho giới quân nhân cho thấy vai tṛ của quân đội từ những năm đầu thập niên 1960 đă trở nên vô cùng thiết yếu cho sự sống c̣n của miền Nam tự do giữa lúc các lực lượng Cộng Sản từ miền Bắc đang gia tăng nỗ lực thôn tính Miền Nam. (1)

Cuộc đảo chánh chống chính quyền của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu vào ngày 1 Tháng Mười Một năm 1963 do Trung Tướng Dương Văn (Big) Minh -người “anh hùng Rừng Sát” năm 1955- và các tướng lănh trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng thực hiện -có sự yểm trợ của Chính Quyền Kennedy từ Hoa Kỳ thông qua Ṭa Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam- và những năm tháng sau đó có thể được coi là thời điểm duy nhất mà Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa đă tóm thâu mọi quyền hành chánh và quân sự vào trong tay họ và đặt Miền Nam Việt Nam dưới một chế độ quân trị (milirary rule) mang tính cách quân phiệt (militarist) trong ư nghĩa đầy đủ nhất. T́nh thế hỗn quân, hỗn quan lúc bấy giờ tại Miền Nam Việt Nam (đảo chánh và chỉnh lư liên tiếp ngay bên trong hàng ngũ các tướng lănh đă lật đổ Tổng Thống Diệm, với quyền lănh đạo phe quân nhân cầm quyền từ tay Trung Tướng Dương Văn Minh chuyển sang Trung Tướng Nguyễn Khánh rồi sau cùng là Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu) cộng với các cuộc tấn công dồn dập về mặt chính trị (Cộng Sản xúi giục dân chúng biểu t́nh gây rối loạn trên đường phố, tại các học đường và trong các chùa chiền...) và quân sự (với những vụ ám sát các viên chức xă, ấp cùng những cuộc tấn công tràn ngập các tiền đồn hẻo lánh, xă ấp riêng rẽ và cả những quận lỵ và tỉnh lỵ pḥng thủ yếu kém...) là động cơ chính yếu buộc Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa phải nắm quyền cả về mặt quân sự lẫn mặt hành chánh.

Nhưng sau thời gian xáo trộn và náo loạn ngoài ư muốn của tất cả các thành phần quân sự cũng như dân sự tại miền Nam Việt Nam, Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa, ít nhất cũng đă một lần, chứng tỏ thiện chí muốn trao trả quyền hành lại cho phe dân sự để dành th́ giờ chiến đấu chống cuộc xâm chiếm miền Nam Việt Nam của Cộng Sản Bắc Việt từ Hà Nội (mà vào lúc đó đă trở thành công khai với việc Cộng Sản Bắc Việt thiết lập Đường Ṃn Hồ Chí Minh chạy dọc theo sườn phía Tây của dăy Trường Sơn đặng đưa người và vũ khí xâm nhập vào Nam, yểm trợ tối đa cho các lực lượng du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mở những cuộc tấn công quy mô vào các làng mạc và thành thị tại Miền Nam Việt Nam). Đó là vào ngày 5 Tháng Năm năm 1965 khi Hội Đồng Quân Lực (trước đó là Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng) dưới quyền các tướng lănh trong Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa đă trao quyền cai trị đất nước về cho các chính trị gia thuộc phe dân sự tại Miền Nam Việt Nam với một chính phủ dân sự dưới quyền Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát. Điều không may là, phe dân sự tại Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, dù gồm nhiều chính trị gia nổi tiếng, nhiều chuyên gia lỗi lạc và nhiều nhà khoa bảng từ ngoại quốc trở về, đă không thể nào vừa điều hành đất nước một cách hữu hiệu vừa bảo vệ sự toàn vẹn của lănh thổ, bởi v́ t́nh trạng “thù trong, giặc ngoài” chẳng những đă không giảm bớt mà ngày một gia tăng, với t́nh h́nh quân sự lúc đó được mô tả là hết sức nguy ngập khi cường độ tấn công, phá hoại của Cộng quân tại các địa phương đă gia tăng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính quyền và các lực lượng an ninh tại chỗ. Việc ǵ phải đến, đă đến. Sau mới ba tháng đứng ra “lèo lái con thuyền quốc gia” mà không xong, vào ngày 11 Tháng Sáu năm 1965, phe dân sự, dưới quyền của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát, đành phải ra tuyên cáo trao trả lại quyền cai trị đất nức lại cho Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa. (2)

* Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong vai tṛ lănh đạo đất nước chiến đấu chống Cộng Sản Bắc Việt xâm lược

Sau khi được trao quyền, vào ngày 12 Tháng Sáu năm 1963, trong một cuộc họp quy tụ tất cả những tướng lănh đang nắm các trọng trách trong quân đội từ cấp Tổng Tham Mưu Trưởng, tư lệnh các Vùng Chiến Thuật cho đến các tư lệnh quân, binh chủng, Hội Đồng Quân Lực đă đề cử Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đảm nhiệm chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia (tương đương tổng thống), và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (tương đương thủ tướng).

Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia, trong vai tṛ mới được giao, đă tiến hành thiết lập thể chế và các cơ cấu quốc gia cùng lập nên một Nội Các Chiến Tranh để thực hiện việc tiếp tục cuộc chiến đấu chống Cộng Sản xâm lược và phát triển đất nước.

Ngày 19 Tháng Sáu năm 1965, trong một buổi lễ ra mắt được long trọng tổ chức tại thủ đô Sài G̣n, các thành phần trong Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương đă tuyên thệ trung thành với tổ quốc, nhận trách nhiệm làm thành phần tiền phương của quân, dân Miền Nam Việt Nam trong vai tṛ chỉ huy Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa bảo vệ đất nước và điều khiển chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa thực hiện các mục tiêu kinh tế, xă hội, văn hóa và giáo dục để xây dựng Miền Nam Việt Nam thành một quốc gia phú cường có thể sánh vai cùng các quốc gia khác trong cộng đồng thế giới.

Trong vai tṛ mới, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ở hậu phương th́ lo xây dựng nền độc lập, tự do và dân chủ, diệt trừ những mầm mống nằm vùng bạo loạn và phát triển kinh tế, ngoài tiền tuyến th́ chỉ huy quân đội ngăn chống những đợt sóng xâm lăng của Cộng Sản ngày càng mănh liệt từ Miền Bắc tràn vào. Như vậy, ngày 19 Tháng Sáu năm 1965 là ngày đánh dấu sự kiện Quân Lực Việt Nam Cộn Ḥa đứng lên gánh vác trách nhiệm lớn là bảo vệ nền tự do và độc lập của Miền Nam Việt Nam đồng thời làm tiền đồn ngăn chặn làn sóng Cộng Sản tại Đông Nam Á.

Nhưng giới lănh đạo quân sự tại Miền Nam Việt Nam, tức Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, v́ ư thức cao độ rằng cuộc chiến đấu tự vệ chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng Sản từ ngoài Bắc vào không phải là một cuộc chiến đơn thuần về quân sự mà là một trận chiến phối hợp giữa các mặt trận quân sự và chính trị cũng như kinh tế, đồng thời c̣n cảnh giác cao độ về vai tṛ sinh tử của một chế độ tự do, dân chủ tại Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến tranh một mất, một c̣n với phe Cộng Sản quốc tế, đă phải t́m cách chuyển đổi chế độ hội đồng quân nhân cầm quyền (military junta) hiện có sang một thể chế dân chủ hợp hiến và hợp pháp mới mong nâng cao uy tín của Việt Nam Cộng Ḥa trên trường quốc tế.

Từ 1966 tới 1967, mặc dù chiến sự vẫn tiếp tục diễn ra vô cùng ác liệt trên kắp các mặt trận tại Miền Nam Việt Nam -với sự can dự trực tiếp của quân đội Hoa Kỳ và các lực lương Đồng Minh như Đại Hàn, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, và Thái Lan- chính quyền Miền Nam Việt Nam dưới quyền của các Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, với sự hỗ trợ của chính phủ, dân chúng và quân đội Đồng Minh Hoa Kỳ, quyết tâm tổ chức các cuộc tuyển cử tự do để thành lập nền Đệ Nhị Cộng Ḥa thay thế cho nền Đệ Nhất Cộng Ḥa của cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă cáo chung sau cuộc đảo chánh đẫm máu năm 1963.

Với các chủ trương và đường lối đúng đắn đó, lần lượt các cuộc bầu cử tổng thống, Quốc Hội và hội đồng tỉnh, thành được mở ra trên toàn lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa để bầu ra, trước hết, một Quốc Hội, rồi sau đó là một vị tổng thống dân cử đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng Ḥa. Trong nền Đệ Nhị Cộng Ḥa của Miền Nam Việt Nam, mặc dù các chức vụ quan trọng như tổng thống, bộ trưởng quốc pḥng, tư lệnh cảnh sát, đại biểu chính phủ tại các vùng chiến thuật, tỉnh trưởng và quận trưởng... đều do giới quân nhân nắm giữ, nhưng nhờ có bộ mặt dân sự hợp pháp và hợp hiến, nước Việt Nam Cộng Ḥa mới thời hậu Tổng Thống Diệm đă lần lượt có được sự thừa nhận của nhiều quốc gia thân hữu trên trường quốc tế, trong đó phải kể tới một số nước Ả Rập mà tiêu biểu là Vương Quốc Ả Rập Saudi kiên quyết chống Cộng ở Trung Đông.

Tháng Mười Một năm 1967, sau khi đắc cử vào chức vụ tổng thống đầu tiên của Đệ Nhị Cộng Ḥa, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, trong vai tṛ tổng thống kiêm tổng tư lệnh quân đội, tiếp tục cho tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm hàng năm Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu với những cuộc diễn binh của tất cả các đơn vị và quân, binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa để biểu dương sức mạnh và ư chí quyết thắng của dân chúng Miền Nam Việt Nam chống lại cuộc xâm lược kéo dài của Cộng Sản Bắc Việt từ miền Bắc vào. Trong khi đó, tiến tŕnh dân chủ hóa Miền Nam Việt Nam vẫn đều đặn diễn ra, với những cuộc bầu cử từ tổng thống cùng phó tổng thống và các đại biểu lưỡng viện Quốc Hội cho tới các nghị viên hội đồng thành phố và tỉnh trên toàn cơi Miền Nam Việt Nam. Cho dù Miền Nam Việt Nam vẫn đang đắm ch́m trong khói lửa chiến chinh -với những trận chiến ác liệt như chiến dịch bắc phạt của Không Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1966-1967), cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân của Cộng Sản (1968), cuộc hành quân đánh sang Căm Bốt của Quân Đoàn 3 (1970), cuộc hành quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đánh sang Hạ Lào (1971), cuộc tổng tấn công của Cộng Sản vào Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), cuộc không tập và phong tỏa Bắc Việt của Hoa Kỳ vào Giáng Sinh 1972... và với những biến cố chính trị lớn lao như cuộc Ḥa Đàm Ba Lê (1968-1972), việc kư kết Hiệp Định Ba Lê 1973, cuộc trao trả tù binh các bên lâm chiến (1973), những vụ Cộng Sản lấn đất, giành dân, vi phạm hiệp Định Ba Lê mà cao điểm là cuộc tấn công đánh chiếm Phước Long (1974)... tiến tŕnh dân chủ hóa Miền Nam Việt Nam đă diễn ra khá tốt đẹp dưới quyền lănh đạo của một chính quyền mà đa số các giới chức cao cấp đều là sĩ quan hiện dịch trong quân đội hoặc có gốc nhà binh.

Mấy ai có thể tưởng nghĩ được rằng, vào năm tồn tại cuối cùng của ḿnh là 1975, guồng máy chính quyền Miền Nam Việt Nam, tuy do các “chính trị gia” gốc quân nhân lănh đạo, lại có thể bao gồm một quốc hội với sự hiện diện của không ít các nghị sĩ và dân biểu đối lập (như Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu, Trần Văn Đôn, Lư Quư Chung...) và vô số các đảng phái cũng như chính trị gia đối lập (cỡ Linh Mục Trần Hữu Thanh và nhà báo Ngô Công Đức) ngày đêm chỉ trích và “mắng mỏ” từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho tới Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Phụ Tá An Ninh Tổng Thống là Trung Tướng Đặng Văn Quang?

* Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vừa đánh giặc vừa tham chính

Vào ngày 26 Tháng Mười năm 1956, chính phủ Ngô Đ́nh Diệm khởi sự tái tổ chức các lực lượng thuộc Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập từ lúc Quốc Gia Việt Nam (Eùtat du Vietnam) ra đời ngày 8 Tháng Ba năm 1949 theo Thỏa Hiệp Eùlysée giữa Pháp và Việt Nam, và quân đội này mang danh xưng mới là Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa. Các lực lượng chiến đấu trên không và trên biển được gọi là Không Quân Việt Nam và Hải Quân Việt Nam. Trong những năm tháng đầu của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, đối tượng giao tranh của quân đội này là các lực lượng du kích thuộc Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, một tổ chức bung xung được Cộng Sản Bắc Việt dựng lên vào Tháng Mười Hai năm 1960 và được dùng làm công cụ xúc tiến việc lật đổ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và đánh chiếm Miền Nam tự do bằng vũ lực cho ra cái điều là chính dân chúng tại Miền Nam Việt Nam đă tự ḿnh nổi dậy chống lại chính phủ của Tổng Thống Diệm -mà Cộng Sản vẫn coi là bù nh́n của Mỹ-chứ không phải là do quân Cộng Sản từ ngoài Bắc tiến vào tấn công, v́ làm như vậy là vi phạm nặng nề Hiệp Định Genève 1954 về “chấm dứt chiến tranh, lập lại ḥa b́nh tại Đông Dương” mà chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (Cộng Sản Bắc Việt) của ông Hồ Chí Minh đă kư kết.

Dưới thời Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy, nhiều cố vấn quân sự và một số đáng kể kinh viện và quân viện của Hoa Kỳ đă được đổ vào Miền Nam Việt Nam để yểm trợ cho chính phủ và Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa trong nỗ lực tiễu trừ du kích quân Cộng Sản, thường được gọi là Việt Cộng, cùng với quân chính quy Bắc Việt từ Miền Bắc xâm nhập vào đánh phá Miền Nam. Có thể nói rằng vai tṛ vừa đánh giặc -tức là chiến đấu chống quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược-và vừa tham chính -tức là tham gia công cuộc quản trị guồng máy hành chánh đất nước- của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă khởi đầu kể từ cuộc đảo chánh của quân đội, vào ngày 1 Tháng Mười Một năm 1963, lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Ḥa của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, rồi lên cao điểm vào ngày 19 Tháng Sáu -là Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-khi chính quyền dân sự trao trách nhiệm lănh đạo đất nước cho quân đội, và c̣n tiếp tục dưới h́nh thức quân đội tham chính trong các chính phủ dân sự thời Đệ Nhị Cộng Ḥa.

Những xáo trộn chính trị xảy ra tại Miền Nam Việt Nam sau cuộc đảo chánh và lật đổ Tổng Thống Diệm đă làm lung lay gần như tận gốc rễ cấu trúc xă hội tại Miền Nam Việt Nam sau chín năm dài miền đất này được sống trong ổn định về kinh tế và tương đối an ninh v́ chính quyền cũng như quân đội c̣n đang kiểm soát được đất nước. Giờ đây, nương vào những xáo trộn này, Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam liền gia tăng các cuộc tấn công, phá hoại tại Miền Nam Việt Nam, khởi đầu là những vụ tấn công vào các đồn bót và tiền đồn hẻo lánh tại các vùng quê, kèm theo là những vụ ám sát các viên chức xă, ấp, sau lan dần tới việc Cộng quân dùng những đơn vị lớn đánh úp hoặc chiếm đóng các quận lỵ (chi khu) và tỉnh lỵ (tiểu khu) trên bốn vùng chiến thuật của Miền Nam Việt Nam. Các cuộc đảo chánh và phản đảo chánh -mà Tướng Nguyễn Khánh gọi là “chỉnh lư”- cùng những cuộc biểu t́nh “hoan hô, đả đảo” do các giáo phái và các phe nhóm chính trị khác nhau -hầu hết đều có sự giật dây của Cộng Sản để thủ lợi-liên tục xảy ra khiến t́nh h́nh quân sự tại Miền Nam Việt Nam ngày càng suy đồi, kéo theo nạn kinh tế khủng hoảng, vật giá gia tăng không kềm chế nổi, giáo dục học đường chểnh mảng, thế đạo ngă nghiêng, nhân tâm ly tán... Vào cuối năm 1964, tức là chỉ một năm sau cuộc đảo chánh, Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa, đang nắm quyền điều khiển guồng máy hành chánh và quân sự trong nước, cũng đă thật sự phải đối diện với nguy cơ sụp đổ trước các cuộc tấn công gia tăng ác liệt của Cộng quân. Các bản tin chiến sự lúc bấy giờ cho hay Cộng quân, lợi dụng t́nh trạng hỗn quan, hỗn quân tại Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, đă gia tăng các cuộc tấn công lấn chiếm trên toàn quốc, khiến cho lănh thổ quốc gia tại Miền Nam Việt Nam ngày càng bị thu hẹp, với nhịp độ thất thủ có lúc lên đến chóng mặt là mỗi tuần mất đi một quân lỵ và mỗi tháng mất đi một tỉnh lỵ.

Tháng Ba năm 1965, trước nguy cơ chẳng sớm th́ muộn Miền Nam Việt Nam có thể mất vào tay Cộng Sản, chính quyền của Tổng Thống Lyndon Johnson, nhân vật kế nhiệm Tổng Thống Kennedy bị ám sát hồi Tháng Mười Một năm 1963, đă phải quyết định “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh tại Việt Nam bằng cách đổ hằng trăm ngh́n quân Mỹ vào Miền Nam Việt Nam, thiết lập các căn cứ quân sự, đồn bót, phi trường và hải cảng trên toàn lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa và mở những cuộc hành quân lớn “lùng và diệt” các lực lượng du kích địa phương và chính quy xâm nhập từ Miền Bắc vào Miền Nam. Các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến, Không Vận, Bộ Binh, Không Quân và Hải Quân Mỹ cùng quân đội các nước đồng minh khác như Đại Hàn Dân Quốc, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan... tham gia chiến đấu chống lại Cộng quân. Vào lúc cao điểm của cuộc chiến, tổng số quân nhân Mỹ phục vụ trên các chiến trường tại Việt Nam lên tới 500,000 người. Với hằng trăm cuộc hành quân tiễu trừ Cộng sản lớn, nhỏ từ cao nguyên xuống đồng bằng và từ Khu Phi Quân Sự (DMZ) giáp Sông Bến Hải ở phía Bắc cho đến vùng kênh rạch ở Cà Mau, Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, trên thực tế, hoàn toàn nắm quyền kiểm soát cuộc chiến tranh chống Cộng, và vai tṛ của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trở nên thứ yếu.

Kể từ cuối năm 1965 trở đi, nhờ sự kiện Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa có được chính danh sau khi được chính phủ dân sự của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát chính thức trao quyền cai trị đất nước và điều khiển quân đội (ngay trước Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu), mọi xáo trộn chính trị trong nước lần lượt qua đi và quân đội Miền Nam Việt Nam khởi sự phục hồi lại phần lớn năng lực đă mất để có thể nới rộng vai tṛ chống du kích sang vai tṛ căn bản là bảo vệ lănh thổ trước các cuộc tấn công quấy rối và lấn đất, giành dân của Cộng quân. Dần đà, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă có đủ khả năng mở các cuộc hành quân tảo thanh Việt Cộng trên bốn vùng chiến thuật song song với các lực lượng Hoa Kỳ và Đồng Minh đang có mặt trên khắp các chiến trường.

Nhưng vai tṛ của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa chỉ nổi bật trở lại sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 khi hằng chục sư đoàn Cộng quân gồm bộ đội chính quy Cộng Sản Bắc Việt và quân du kích của mật Trận Giải Phóng Miền Nam đồng loạt mở cuộc “tổng tấn công, tổng nổi dậy” bất ngờ trong thời gian hưu chiến nhân dịp Tết, đánh vào nhiều tỉnh lỵ và thành phố tại Miền Nam Việt Nam, kể cả thủ đô Sài G̣n và cố đô Huế. Nhưng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă đứng vững và lần lượt tái chiếm hết những phần đất bị Cộng quân tạm chiếm, kể cả cố đô Huế, và xóa tên nhiều đại đơn vị của Cộng quân. Cũng kể từ năm 1968, Miền Nam Việt Nam khởi sư tổng động viên nhân lực tham gia quân đội, khiến cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đạt tới mức có sẵn 1 triệu binh sĩ chiến đấu dưới cờ vào năm 1972.

Quân đội này lại c̣n hùng mạnh hơn lên khi đồng minh Hoa Kỳ quyết định tăng cường vơ trang các chiến cụ tối tân cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa để họ có thể tự ḿnh chiến đấu bảo vệ Miền Nam Việt Nam đặng quân Mỹ có thể yên ḷng và có thêm chính danh mà rút về nước trong một chiến lược mới được gọi là kế hoạch “Việt Nam Hóa” chiến tranh (Vietnamization of the war) do Tổng Thống Richard Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia lúc bấy giờ là Tiến Sĩ Henry Kissinger đề xướng. (3) Chính nhờ công cuộc “Việt Nam Hóa” chiến tranh này mà Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ngày càng có đủ khả năng chiến đấu hữu hiệu chống các lực lượng thuộc Quân Đội Nhân Dân của Cộng Sản Bắc Việt xâm nhập vào Miền Nam cũng như các lực lượng địa phương của mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trên thực tế, vào thời điểm này, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă thực hiện nhiều gấp ba lần các cuộc hành quân so với thời gian quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh đảm nhiệm vai tṛ chính trong các chiến dịch tấn công Cộng quân trước đây, đáng kể nhất là cuộc “Hành Quân Toàn Thắng 43” năm 1970 vượt biên tấn công các căn cứ hậu cần của Cộng Sản Bắc Việt tại Căm Bốt và cuộc “Hành Quân Lam Sơn 719” năm 1971 tấn công vào hệ thống Đường Ṃn Hồ Chí Minh tại Nam Lào, ngay dưới Khu Phi Quân Sự (DMZ), mặc dù các cuộc hành quân do Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vẫn phải trông cậy nhiều vào hỏa lực yểm trợ của phi pháo từ các phản lực chiến đấu cơ và từ những trực thăng vơ trang Hoa Kỳ. (4)

Năm 1972, Tướng Vơ Nguyên Giáp của Cộng Sản Bắc Việt mở cuộc tấn công lớn trong “Mùa Hè Đỏ Lửa” -mà người Mỹ gọi là “Cuộc Tấn Công Mùa Lễ Phục Sinh” (Easter Offensive)-cuộc tấn công toàn diện đầu tiên do tất cả các đại đơn vị thiện chiến của Cộng Sản Bắc Việt và các lực lượng du kích địa phương phối hợp thực hiện đánh vào các quận lỵ và tỉnh lỵ có tầm vóc quan trọng về mặt chiến lược tại Miền Nam Việt Nam. Trong giai đoạn đầu, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, v́ yếu tố bất ngờ, đă phải chịu tổn thất khá nặng nề, nhưng vẫn giữ vững được hầu hết các pḥng tuyến trên toàn lănh thổ. Cộng Quân chiếm được phần lớn tỉnh địa đầu giới tuyến Quảng Trị và một số khu vực dọc theo vùng biên giới với Lào và Căm Bốt.

Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, ngay sau đó, đă khởi sự những cuộc phản công quyết liệt và hữu hiệu trên khắp các mặt trận chính yếu. Nhờ sức chiến đấu kiên cường và anh dũng của các đơn vị tinh nhuệ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa cùng sự yểm trợ bằng phi pháo và hải pháo hùng hậu của Hoa Kỳ tại các mặt trận từ An Lộc (ở Vùng 3 Chiến Thuật) cho tới Quảng Trị (thuộc Vùng 1 Chiến Thuật) và Kon Tum (tại Vùng 2 Chiến Thuật), cuộc tổng công kích Mùa Hè 1972 của Cộng quân đă bị bẻ găy. Các cuộc phản công của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, đặc biệt là tại các mặt trận An Lộc gần thủ đô Sài G̣n và tại Cổ Thành Quảng Trị gần Khu Phi Quân Sự, đă đánh bật được các lực lượng Cộng Sản ra khỏi những vị trí mà họ đă vây hăm hoặc cố thủ.

Cho tới đầu năm 1974, Hoa Kỳ hầu như đă rút hết các lực lượng chiến đấu của họ ra khỏi Miền Nam Việt Nam, và Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa từ nay đă phải đơn độc chiến đấu cho sự sống c̣n của Miền Nam Việt Nam trong khi các lực lượng Cộng Sản vẫn tiếp tục nhận được những khoản viện trợ dồi dào về vũ khí, đạn dược và tiếp liệu từ các nước đàn anh Trung Quốc và Liên Xô để kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Cộng Ḥa mặc dù họ đă hạ bút kư tên vào bản Hiệp Định Ba Lê, chấm dứt chiến tranh và lập lại ḥa b́nh tại Miền Nam Việt Nam.

Mùa Thu năm 1974, Tổng Thống Richard Nixon đă phải từ chức v́ vụ tai tiếng chính trị Watergate, và Tổng Thống Gerald Ford lên thay. Nóng ḷng muốn rút chân ra khỏi Việt Nam, Quốc Hội Hoa Kỳ do đảng Dân Chủ kiểm soát khởi sự cắt bớt các khoản viện trợ quân sự và kinh tế dành cho Việt Nam Cộng Ḥa, từ 1 tỷ đô-la mỗi năm xuống c̣n 700 triệu đô-la. Lịch sử coi sự sụp đổ của Sài G̣n vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975 là hậu quả của việc Hoa Kỳ giảm thiểu rồi cắt đứt quân viện và kinh viện cho Việt Nam Cộng Ḥa. Không có viện trợ của Hoa Kỳ, Miền Nam Việt Nam cảm thấy, về mặt tiếp vận và tài chánh, không thể nào tiếp tục cuộc chiến tranh để đánh bại quân Cộng Sản xâm lược được. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, việc cắt giảm rồi chấn dứt viện trợ của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam Cộng Ḥa, chủ yếu là vũ khí và đạn dược cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa tiếp tục chiến đấu, đă khuyến khích các nhà lănh đạo Cộng Sản tại Hà Nội tiến hành cuộc tổng tấn công sau cùng để đánh chiếm toàn bộ Miền Nam Việt Nam. (5)

Đầu năm 1975, sau khi Hoa Kỳ đă hầu như hoàn toàn kết thúc việc can thiệp vào và giúp đỡ cho chính phủ và các lực lượng quân sự Việt Nam Cộng Ḥa, Cộng Sản Bắc Việt đă quyết định mở cuộc tổng tấn công sau cùng để thanh toán một mục tiêu mà họ đă tiên liệu là thế nào cũng rơi vào tay họ trước t́nh trạng nước đồng minh chính yếu của Miền Nam Việt Nam, sau hơn một thập niên can dự vào cuộc Chiến Tranh Việt Nam, mất đi 58,000 chiến binh và hao tổn đến hằng trăm tỷ Mỹ kim, đă tiêu tan hết mọi ư chí chiến đấu để chiến thắng trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam.

Các lực lượng Cộng Sản đă lần lượt đánh chiếm Ban Mê Thuột ở Vùng 2, tràn xuống Khánh Ḥa-Nha Trang ở vùng duyên hải, rồi ngược lên phía Bắc đánh chiếm Huế và Đà Nẵng tại Vùng 1 Chiến Thuật. Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, mất tinh thần v́ rơ ràng là đă bị Đồng Minh bỏ rơi nửa chừng, cứ tiếp tục lui binh măi về hướng thủ đô Sài G̣n ở phía Nam, thuộc Vùng 3 Chiến Thuật, và chỉ kháng cự bằng một trận đánh quan trọng tại Xuân Lộc, nơi đây Sư Đoàn 18 Bộ Binh dưới quyền Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, cùng với các lực lượng Nhảy Dù và Biệt Động Quân, đă bẻ găy tất cả các mũi dùi tấn công của Cộng quân và gây thiệt hại rất nặng nề về nhân mạng cho quân tấn công. Các cấp chỉ huy quân sự Cộng Sản đành phải lặng lẽ rời bỏ mặt trận này, đi ṿng về phía Tây qua vùng giáp ranh giữa Quân Khu 2 và Quân Khu 3 mà tiến xuống phía Nam đặng thực hiện kế hoạch bao vây thủ đô Sài G̣n.

Trận chiến dứt điểm thủ đô của Miền Nam tự do không kéo dài như các quan sát viên quân sự từng dự đoán, bởi v́ các nhà lănh đạo Cộng Sản từ Hà Nội kéo vào đă khéo léo phối hợp các nỗ lực quân sự với những đ̣n chính trị có tính cách vừa dụ dỗ những thành phần nhẹ dạ và thân Cộng vừa ly gián các lực lượng của người Quốc Gia chân chính vẫn muốn chiến đấu tới cùng trong một trận sống mái với Cộng Sản rồi ra sao th́ ra, trong đó phải kể tới những đơn vị lớn thuộc các quân, binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, đặc biệt là Sư Đoàn Nhảy Dù tinh nhuệ và được coi là bách chiến, bách thắng của Miền Nam Việt Nam. Vào sáng ngày 30 Tháng Tư năm 1975, Tổng Thống Dương Văn Minh -lên kế nhiệm Tổng Thống Trần Văn Hương, nhà lănh đạo luống tuổi từng thay thế Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và bỏ nước đi lưu vong vào chiều ngày 21 Tháng Tư, 1975-đă phải công bố lệnh đầu hàng không điều kiện trước các lực lượng Cộng Sản và Sài G̣n chính thức rơi vào tay Cộng quân. Điều cần ghi nhận là, sau khi chính quyền trung ương của Việt Nam Cộng Ḥa tại thủ đô hoàn toàn tan ră, hầu như toàn thể Vùng 4 Chiến Thuật dưới quyền của vị Tư Lệnh Quân Khu 4, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, vẫn c̣n nguyên vẹn, v́ Cộng quân không có đủ lực lượng để tiến vào nơi đây. Các danh tướng và cấp chỉ huy ưu tú của Quân Lực Việt Nam Việt Nam Cộng Ḥa như Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, và Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn... đều tự vẫn hoặc chiến đấu cho đến chết để chứng tỏ khí phách anh hùng của giới sĩ quan cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa chủ trương “thành mất th́ chết theo thành,” một truyền thống mà trong lịch sử cận đại của Việt Nam, Kinh Lược Sứ Phan Thanh Giản và Tổng Đốc Hoàng Diệu đă nêu gương sáng sau khi sáu tỉnh Nam Kỳ và Thành Hà Nội rơi vào tay quân xâm lược Pháp hồi cuối thế kỷ 19. (6)

Sau hơn hai thập niên chiến đấu kiên cường -trong đó có gần một thập niên nằm dưới quyền điều khiển của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Việt Nam Cộng Ḥa và Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, v́ bị Hoa Kỳ bỏ rơi nửa chừng, đành phải bại trận một cách tức tưởi vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975 trước những nhà chinh phục Cộng Sản từ miền Bắc tiến vào. Cái chết của Miền Nam Việt Nam và cái chết của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa là hậu quả tất yếu của một cuộc chiến tranh trong đó cả hai bên lâm chiến đều không ai có đủ điều kiện -quân sự, kinh tế và chính trị- một ḿnh đứng ra đảm đương cuộc chiến mà phải nhờ đến các thế lực bên ngoài. Rồi khi một trong hai bên nào đó th́nh ĺnh bị đồng minh bỏ rơi -như trường hợp của Việt Nam Cộng Ḥa- th́ kẻ bị bỏ rơi đương nhiên phải thua trận.

* Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Ḥa không phải là chế độ quân phiệt, Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu phải được tôn vinh

Như đă t́nh bày ở trên, chế độ quân nhân tại Miền Nam Việt Nam, thoạt tiên tuy do các thành phần sĩ quan cao cấp của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa giữ vai tṛ lănh đạo, đă khác biệt gần như hoàn toàn với các chế độ quân phiệt đương thời trên toàn thế giới. Các lư do sau đây làm sáng tỏ nhận định này:

- Chế độ quân phiệt tồn tại mà không cần lư do chính đáng, phần lớn là do các lănh tụ quân phiệt tự tạo nên lư do tồn tại, như viện cớ phải bành trướng thế lực trên trường quốc tế (trường hợp quân phiệt Nhật Bản trước và trong Đệ Nhị Thế Chiến), chống xu hướng Cộng Sản (trường hợp Hy Lạp, Thái Lan và Indonesia thời Suharto), chống phiến quân tả phái (trường hợp Chile, El Salvador, Nicaragua...) hoặc chống tất cả các khuynh hướng đối lập (trường hợp Pakistan, Ai Cập, Libya, Myanmar...)

Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Ḥa không tự phát sinh mà ra đời do những hoàn cảnh đặc biệt của đất nước. Ngay như cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm hồi năm 1963 để đưa Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng lên cầm quyền, dù vẫn bị coi là tai hại cho nền độc lập của đất nước (v́ do Mỹ giật dây) và làm suy yếu nỗ lực chiến đấu chống Cộng, vẫn được biện minh v́ chế độ của ông Diệm có khuynh hướng kỳ thị Phật Giáo và không chịu triệt để đi theo đường lối của Hoa Kỳ là nước đang cung cấp kinh viện và quân viện cho Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.

- Chế độ quân phiệt thường tự ḿnh gây ra chiến tranh chống một nước khác hoặc chống lại chính nhân dân của đất nước ḿnh. Đó là trường hợp của quân phiệt Nhật Bản trước và trong Đệ Nhị Thế Chiến (dưới thời Thủ Tướng Hideki Tojo [Đông Điều]) và các chế độ quân phiệt tại Chile hay Myanmar khi chính quyền do các hội đồng quân nhân tại các nước đó gây chiến tranh chống lại các dân tộc khác hay chống lại chính dân chúng của ḿnh mà họ gọi là loạn quân hay quân nổi dậy. Một số tài liệu lịch sử mới được tiết lộ cho thấy rằng, vào Tháng Hai năm 1947, quân đội Trung Hoa Quốc Gia của Thống Chế Tưởng Giới Thạch đă phạm tội tàn sát hằng chục ngh́n thường dân vô tội trên Đảo Đài Loan khi các lực lượng Quốc Dân Đảng Trung Hoa được phái sang hải đảo này để chống lại cuộc nổi dậy của dân chúng địa phương.

Trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, Việt Nam Cộng Ḥa là nạn nhân của cuôc xâm lấn của Cộng Sản từ miền Bắc, và chế độ quân nhân tại đây chẳng những không đánh lại chính nhân dân ḿnh mà, trái lại, c̣n hy sinh xương máu để bảo vệ cuộc sống tự do và thanh b́nh của dân chúng, cho nên người lính Cộng Ḥa luôn được đa số dân chúng -những thành phần không bị Cộng Sản mê hoặc-ủng hộ và đi theo (trong các cuộc di tản hoặc chạy loạn) cho đến khi bị địch pháo kích chết th́ thôi.

- Chế độ quân phiệt tồn tại măi cho tới khi nào bị dân chúng trong nước hoặc các thế lực goại bang dẹp bỏ mới thôi. Điều này đúng cho hầu hết các chế độ quân nhân tại Nam Mỹ, Đông Nam Á và Phi Châu. Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Ḥa, được khai sinh từ ngày lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm hồi năm 1963 và tái lập vào ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu năm 1965, đă tự ư trao quyền cho một thể chế dân sự hoặc xuyên qua các tuyên cáo và quyết định (như Quyết Định Số 4 ngày 16 Tháng Hai năm 1965 của hội Đồng Quân Lực trao quyền quản trị hành chánh quốc gia lại cho phe dân sự tại Miền Nam Việt Nam) hoặc qua các cuộc bầu cử tổng thống, Quốc Hội và các hội đồng tỉnh, thành tại Miền Nam Việt Nam thời Đệ Nhị Cộng Ḥa.

- Các thành phần lănh đạo của những chế độ quân phiệt thường lạm quyền, tham nhũng và gây nhiều tội ác chống lại dân chúng cho nên sau khi các chế độ này sụp đổ th́ các lănh tụ của chế độ thường bị các chế độ kế tiếp hay chính dân chúng tại các quốc gia đó xử tội. Đó là trường hợp của nhà độc tài Suharto bên Indonesia và Pinochet ở Chile. Riêng chế độ quân nhân tại Miền Nam Việt Nam, v́ xuất thân từ dân chúng mà ra, đă không hề gây tội ác nào với dân chúng, nếu không nói được là họ đă xả thân chăm lo bảo vệ hạnh phúc của dân chúng. Nền Đệ Nhị Cộng Ḥa tại Miền Nam Việt Nam tuy cũng mang tiếng là có những thành phần tham nhũng, nhưng mức độ tham nhũng đó chẳng có ǵ đáng kể một khi đem so với các chế độ quân phiệt hay độc tài đương thời tại những nơi khác, từ Á Châu cho tới Mỹ Châu La-tinh và Phi Châu, đừng nói ǵ đến chuyện đem so sánh với mức đô tham nhũng hiện nay của các viên chức chế độ Cộng Sản tại Việt Nam bây giờ.

Điều độc đáo và quan trọng nhất là chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Ḥa có lư do hết sức chính đáng để tồn tại, dù chỉ trong ngắn hạn, trong khi các chế độ quân nhân và quân phiệt cũng như các chế độ độc tài, độc đảng tại những nơi khác th́ không. Ngoại trừ Nam Hàn là nước đang gặp hiểm họa bị xâm lấn một lần nữa từ phía Cộng Sản Bắc Hàn -chứ không thực sự bị xâm lấn kể từ sau khi cuộc Chiến Tranh Triều Tiên chấm dứt vào năm 1953 và sau khi quân đội Mỹ đă lập nên tuyến thép ngăn chặn Cộng Sản Bắc Hàn ngay tại phía Nam vĩ tuyến 38- không có một chế độ quân nhân hay quân phiệt nào tại các nơi khác trên thế giới phải đối phó với một cuộc chiến tranh xâm lược cấp bách mang tính quy mô và được nửa kia của thế giới hết ḷng cổ xúy và yểm trợ. Các chế độ quân phiệt tại Thái Lan, Indonesia, Chile, El Salvadore, Nicaragua... bất quá chỉ bị phiến quân và quân nổi dậy đe dọa mà thôi -mà lư do chính yếu của các cuộc nổi dậy tại những nơi đó đôi khi lại nảy sinh từ chính sự hiện hữu của các chế độ độc tài, áp bức đó, v́ thế, khi các chế độ đó thôi không hiện hữu th́ những cuộc bạo loạn tại các nơi đó cũng tự dưng mất đi. Đó là chưa kể những chế độ độc tài (dictatorship) tại những nơi như Phi Luật Tân -thời Ferdinand Marcos-là nơi mà chính quyền chỉ cần viện cớ là đất nước đang bị bị phiến quân Cộng Sản (Huks) đe dọa thôi cũng đủ cho chính quyền ra lệnh thiết quân luật, ngưng thi hành mọi quyền tự do, dân chủ trong nước, và cai trị dài dài bằng sắc lệnh.

* Lời cuối

Nghĩ cho cùng, chế độ quân nhân tại Miền Nam Việt Nam trong thời điểm có cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ miền Bắc là chế độ nếu không hoàn toàn chính đáng trên danh nghĩa th́ cũng là một sự cần thiết của lịch sử. Phải biết rằng, xuyên suốt lịch sử Việt Nam, hầu như tất cả các chế độ cai trị ban đầu của các triều đại có trước các nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa tại Miền Nam Việt Nam -từ thời các Vua Hùng dựng nước (với các Lạc hầu, Lạc tướng), thời Trưng Nữ Vương, các triều đại của Ngô Vương Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lư Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Lợi, Nguyễn Quang Trung, và Nguyễn Gia Long- đều là những chế độ quân nhân, ít nhất cũng dưới thời các vị vua khai sáng triều đại để dựng nước hoặc để giành lại độc lập cho Việt Nam khỏi tay kẻ thù phương Bắc là Trung Hoa. Và dĩ nhiên là các đấng tiên vương của Việt Nam đều không hề là những thành phần quân phiệt mà chính là những vị anh hùng hết sức xứng đáng được toàn dân muôn đời ngưỡng mộ và tôn thờ.

V́ các lẽ ấy, nếu cuộc chiến tranh bảo vệ nền tự do, dân chủ tại Miền Nam Việt Nam trước đây được coi là chính đáng th́ không có lư do ǵ mà người Việt Quốc Gia từ trong nước lẫn ở hải ngoại lại quên đi Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu hằng năm. Ngày mai đây, khi Việt Nam trở thành một đất nước thật sự có tự do dân chủ, khi lịch sử cận đại và hiện đại của Việt Nam được viết lại một cách nghiêm chỉnh và khi cuộc chiến tranh Quốc-Cộng được đánh giá đúng mức, Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu phải được coi là một trong những ngày kỷ niệm huy hoàng cả trong quân sử lẫn trong lịch sử dân tộc Việt Nam, không ai hoặc không một thế lực nào có thể làm khác đi được. (V.P.)

Ghi chú:

(1) Ngay từ dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, bên cạnh các Ṭa Đại Biểu Chính Phủ tại Trung Nguyên Trung Phần, Cao Nguyên Trung Phần và Nam Phần Việt Nam do các nhân vật dân sự cầm đầu, vị tổng tư lệnh Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa (kiêm Bộ Trưởng Quốc Pḥng) cũng đă phải chỉ định các tướng lănh quân đội làm tư lệnh các quân khu liên hệ tại các vùng để trực tiếp điều hành công cuộc bảo vệ trị an trước nguy cơ Cộng Sản Bắc Việt quyết tâm thôn tính Miền Nam tự do sau khi cuộc tổng tuyển cử để thống nhất hai miền đất nước được dự trù mở ra tại Bắc và Nam Việt Nam vào năm 1956 đă không được thực hiện. Trên thực tế, Tổng Thống Diệm đă giao toàn quyền quyết định về quân sự cho các vị tư lệnh quân khu liên hệ v́ ông biết rơ các nhân vật dân sự trong chính phủ không đủ khả năng thi hành sứ mạng này.

(2) Bản Tuyên Cáo của Quốc Trưởng, Chủ Tịch Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp và Thủ Tướng Chánh Phủ Việt Nam Cộng Ḥa, được công bố ngày 11 Tháng Sáu năm 1965, có đoạn viết:

“Sau khi duyệt lại t́nh trạng ngày một khẩn trương của đất nước, sau khi đă xét lại và xác nhận rằng: những vơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không c̣n phù hợp với t́nh thế... Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Ḥa, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Ḥa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa trách nhiệm và quyền lănh đạo quốc gia đă được Hội Đồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi... Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng, địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong việc lănh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1.11.1963.”

(3) Theo các số liệu chính thức, sau khi công cuộc “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” hoàn tất vào cuối năm 1973, Hoa Kỳ đă cung cấp cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa 640,000 khẩu súng trường M-16, 34,000 súng phóng lựu M-79, 40,000 máy truyền tin, 20,000 xe vận tải và 56 chiến xa hạng trung M-48. Không Lực Việt Nam Cộng Ḥa nhận được 200 khu trục và oanh tạc chiến đấu cơ, bao gồm khu trục cơ A-1 Skyraider, oanh tạc cơ A-37 và phản lực chiến đấu cơ F-5 cùng với 30 phi cơ vơ trang AC-47 và 6,000 vận tải cơ -trong số đó mộ số được biến cải thành phi cơ “Hỏa Long” như AC-119 và AC-123- cộng với 500 trực thăng các loại cùng một số phi cơ thám thính gồm loại OV-10 Bronco và các “máy bay bà già“L-19 (Vào lúc cao điểm của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, khi có khoảng 500,000 binh sĩ Mỹ tham chiến tại Miền Nam Việt Nam, các lực lượng Hoa Kỳ đă sử dụng tới 3,000 trực thăng đủ loại). Mặc dù số lượng vũ khí nhận được có vẻ lớn lao như thế, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, về mặt trang bị, vẫn c̣n kém thua quân đội Hoa Kỳ nhiều lắm, và nhất là quân số bị thiếu hụt so với quân số của Cộng Sản Bắc Việt là đạo quân đông đảo đứng vào hàng thứ 5 trên thế giới lúc bấy giờ -chưa kể số quân du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vẫn cùng họ tham gia tấn công tại Miền Nam Việt Nam (Wikipedia, June 8, 2007).

(4) Tháng Năm năm 1970, các lực lượng thuộc Quân Đoàn 3 của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa chiến thắng lớn trong cuộc hành quân “Toàn Thắng 43,” vượt biên tấn công vào Căm Bốt, phá hủy nhiều kho vũ khí, đạn dược và lương thực cùng thuốc men của các lực lượng Cộng Sản từ Miền Bắc đưa vào cất giấu tại vùng biên giới Việt-Miên nhằm tiếp trợ cho nỗ lực chiến tranh đánh chiếm Miền Nam Việt Nam của họ. Một cuộc hành quân quy mô khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vào Tháng Giêng năm 1971, mệnh danh Lam Sơn 719, tấn công thẳng vào hệ thống Đường Ṃn Hồ Chí Minh ngay dưới Khu Phi Quân Sự và trên Đường Số 9 tại Nam Lào, tuy phải chịu nhiều tổn thất nhân mạng do gặp địch kháng cự mạnh, vẫn hoàn thành mục tiêu phá vỡ hệ thống hậu cần tiếp tế cho các lực lượng Cộng Sản đang mở các cuộc tấn công phá hoại tại Miền Nam Việt Nam. Điều hiển nhiên là các thành tựu này của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă khiến cho các lực lượng Cộng quân đang tham chiến bắt đầu nao núng, và họ thấy cần phải có thêm thời gian để tái bổ sung quân số cũng như tiếp liệu cho các lực lượng đang dần dần bị kiệt quệ của họ. Hệ quả chính trị trông thấy của các chiến thắng quân sự mới do Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa tạo nên là giới lănh đạo Cộng Sản tại Hà Nội đă phải khởi sự đàm phán nghiêm chỉnh hơn trong cuộc Ḥa Đàm Ba Lê lúc gió đang diễn tiến tại thủ đô của Pháp nhằm t́m kiếm một giải pháp ḥa b́nh cho cuộc Chiến Tranh Việt Nam.

(5) Tháng Mười Hai năm 1974, sau khi Hoa Kỳ đă hoàn tất việc rút lui về mặt quân sự ra khỏi Miền Nam Việt Nam, Tổng Bí Thư Lê Duẩn của Đảng Cộng Sản Việt Nam tuyên bố: “Bọn Mỹ đă rút đi... đây là biến chuyển đánh dấu thời cơ của chúng ta.”

(6) Theo Wikipedia, truy cập ngày 14 Tháng Sáu năm 2008, trong cuộc chiến đấu để bảo vệ tự do, dân chủ cho Miền Nam Việt Nam, các chiến sĩ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă cống hiến cho đất nước những hy sinh vô cùng to lớn và cao cả mà cho tới nay vẫn chưa có ǵ đền đáp nổi. Theo các con số phỏng định, vào lúc kết thúc cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1959-1975), Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa có 250,000 chiến sĩ bỏ ḿnh và Quân Đội Hoa Kỳ có 58,000 quân nhân hy sinh. Không có con số chính thức cho biết có bao nhiêu chiến binh Cộng Sản đă tử trận trong cuộc chiến, mặc dù con số này ít nhất cũng phải cao hơn gấp ba lần con số tử sĩ Việt Nam Cộng Ḥa, bởi v́ họ thường phải hứng chịu hỏa lực ghê gớm của các lực lượng Đồng Minh và Việt Nam Cộng Ḥa, trong đó phải kể tới những cuộc giội bom trải thảm của các pháo đài bay chiến lược B-52, và cũng v́ các cấp chỉ huy của họ, kể cả danh Tướng Vơ Nguyên Giáp, vẫn ưa dùng chiến thuật biển người có tính cách thí quân trong những cuộc tấn công. (V.P.)

hoanhac.jpg