phucdiendandongtiengif.gif














































ĐẠO LÀM CON TRONG CA DAO

 

 

Con người có bố có ông

Như cây có cội, như sông có nguồn.

 

Người Việt thường lấy chữ hiếu làm trọng. Đă có thời gọi là đạo hiếu hay đạo làm con. Đạo là một lối sống ngang hàng như khuôn phép của một tôn giáo. Nếu lấy việc thờ Trời là Đạo của người b́nh dân Việt Nam, th́ việc phụng dương cha mẹ và thờ cúng ông bà tổ tiên là thực hành phần h́nh nhi hạ của đạo thờ Trời. Đó là đặc điểm của văn hoá Việt. Ngày nay chúng ta c̣n giữ được đạo hiếu là c̣n giữ được một phần văn hóa dân tộc, c̣n giữ được nền tảng gia đ́nh Việt Nam.

 

Gần gủi nhất, hiếu là sự đối xử tốt đẹp của con cái đối với cha mẹ. Xa hơn hiếu c̣n là sự kính trọng biết ơn của con cháu đối với ông bà, tổ tiên.

Vua tôi sẳn có nghĩa đây,

Cha con thân lắm, đấng người nên trông.

Khi ấp lạnh, lúc quạt nồng.

Bữa dâng ngon ngọt, bữa dùng sớm trưa.

Ở cho thoả chí người xua,

Đền ơn trả nghĩa thuở xưa bế bồng.

 

Ca dao nh́n hiếu một cách thực tế và gắn liền với cuộc sống hàng ngày. Tuy chỉ là lời ca ngắn gọn, nhưng cũng bao gồm được nhiều vấn đề về hiếu rất thú vị.

 

I.                    HIẾU LÀ BIẾT CÔNG ƠN CHA MẸ SINH THÀNH :

 

Công ơn sinh ra và nuôi dưỡng từ ngày c̣n thơ :

Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,

Năm canh chầy thức đủ năm canh.

 

Ngày nào em bé con con,

Bây giờ em đă lớn khôn thế này:

Cơm cha, áo mẹ, công thầy

Nghĩ sao cho bỏ những ngày ước ao.

Nuôi con cho được vuông tṛn.

Mẹ thầy dầu dăi, xương ṃn gối long.

Con ơi, cho trọn hiếu trung,

Thảo ngây một dạ, kẻo luống công mẹ thầy

 

Ơn cha nặng lắm ai ơi,

Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang.

Công ơn cha mẹ mang mang cùng trời đất. Nh́n vào đâu con cái cũng thấy công ơn cao dày của cha mẹ :

Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá

Ngó ra ngoài biển thấy cặp cá đang đua

Đi về lập miễu thờ vua

Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

Đó là những lời ca mẹ ru con ngủ. Nghe măi nghe hoài con trẽ cũng nhớ vào ḷng. Lập trang ở trong nhà để được giữ h́nh ảnh mẹ bên cạnh. C̣n cha thờ chùa là nơi công cộng trong xóm làng, nơi làm sáng danh gia đinh và xă hội. Người Việt đi đâu cũng mang theo gia đinh. Ngày trước khi di cư vào nam, chúng ta mang theo cả gia đ́nh . Ngày nay di tản ra hải ngoại  chúng ta không ai mang theo vợ chồng con cái, mà c̣n mang theo cả ông bà, cha mẹ, nếu là căn bản của đời sống Việt Nam. Chính cha mẹ cũng luôn nhắc nhở con cái ḿnh về công ơn lớn lao như trời biển của đấng sinh thành dưỡng dục:

Mẹ nuôi con bấy lâu rồi,

Nuôi con cho đến thành người mới nghe.

 

Công cha như núi ngất trời,

Nghĩa mẹ như nưóc ở ngoài biển đông.

Núi cao biển rộng mênh mông,

Cù lao chín chữ, ghi ḷng con ơi ¡

 

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một ḷng thờ mẹ kính cha,

Cho tṛn chữ hiếu mới là đạo con.

 

 

  1.  HIẾU LÀ NHỚ THƯƠNG CHA MẸ KHI XA CÁCH.

 

Trong xă hội nông nghiệp, con cái khi trưởng thành, thường sống chung hoặc sống gần gủi với cha mẹ. Con trai thường xa nhà khi đi lính hoặc đi làm quan sau khi đỗ đạt. Con gái thường xa nhà khi phải lấy chồng xa. Ḷng hiếu được giải bày qua những lời tâm sự nhớ thương.

 

Ngó lên Ḥn Kẽm, Đá Dừng,

Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi.

Ngó lên ngó xuống th́ vui,

Ngó về quê mẹ ngậm ngùi nhớ thương.

 

Ngó lên dàng dạng da trời

Thương cha nhớ mẹ biết đời nào nguôi

Xót xa thay cho nỗi nhớ thương của người con phải ĺa xa cha mẹ.

Vẳng nghe chim vịt kêu chiều,

Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau.

Thương thay chín chữ cù lao,

Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu t́nh

 

Dù cha mẹ có già nua đi nữa, việc xa cha mẹ vẫn là một điều đau khổ cho con cái.

 

Cha già tuổi đă dư trăm.

Chạnh ḷng nhớ tới, đầm đầm châu sa.

 

Nuôi con mới biết sự t́nh

Cảm thương cha mẹ nuôi ḿnh ngày xưa.

 

Thương cha nhớ mẹ quay quắt trong ḷng, đôi khi xáo trộn cả sinh hoạt hàng ngày. Chỉ nghĩ đến cha mẹ không được săn sóc cho được ấm no, người con xa nhà khó ḷng vui thú sinh hoạt hiện tại dù là một bữa ăn hàng ngày.

 

Gió đưa cây cửu lư hương,

Giờ xa cha mẹ thất thường bữa ăn.

Sầu riêng bữa chẳng muốn ăn,

Đă bưng lấy bát lại dằn xuống mâm

Ngay cả khi đă lớn, thành vợ thành chồng mà cha mẹ chẳng c̣n th́ hàng ngày ḷng nhớ thương vẫn canh cánh bên ḷng :

Anh làm rể bên em, có cha mà không có mẹ,

Em làm dâu bên anh, có mẹ mà không có cha.

Bửa ăn nước mắt nhỏ sa,

Thân phụ ơi thân phụ hởi, đi đâu mà bỏ con.

Câu cuối nghe xót xa như tiếng khóc nỉ non trong một đám tang.

 

  1. HIẾU LÀ PHỤNG DƯỠNG MẸ CHA.

 

Ngồi buồn thương mẹ nhớ cha,

Gối loan ai đỡ kỷ trà ai nâng.

Không được gần gũi, kề cận với cha mẹ già tạo ra nhiều lo lắng nhớ thương.

Đi đâu mà bỏ mẹ già,

Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai dâng ¿

Không phụng dưỡng được cha me, xem như là bất hiếu :

Mẹ già ở tấm lều tranh,

Đói no không biết, rách lành chẳng hay.

Nuôi dưỡng săn sóc, săn sóc cha mẹ khi già yếu là h́nh thức hiếu căn bản trong đ̣i sống gia đ́nh. :

Mẹ già đầu bạc như tơ,

Lưng đau con đơ, mắt mờ con nuôi

 

Ngày đêm may vá kiếm tiền,

Trước nuôi cha mẹ sau tuyền đạo con

Sự phụng dưỡng không đ̣i hỏi phải cao sang. Cung cách phụng dưỡng mới nói lên được ḷng hiếu thảo :

Anh đi vắng cửa vắng nhà,

Giường loan gối quế, mẹ già ai nuôi ?

Cá rô anh chặt bỏ đuôi,

Tôm càng bóc vỏ, anh nuôi mẹ già.

 

Ba tiền một khứa cá buôi,

Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già

Người Huế có thêm một cách phụng dưỡng rất địa phương :

Tôm rằn lột vỏ bỏ đuôi

Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già.

Con cái ăn thứ ǵ th́ cha mẹ ăn thứ đó, không đ̣i hỏi phải cao sang, với gia đinh b́nh dân th́ cơm với cá là món ăn căn bản cho cha mẹ. Nếu có một chút hy sinh quyền lợi căn bản của chính ḿnh, như nhịn phần cơm của ḿnh để nuôi cha mẹ, th́ ḷng hiếu mới trọn vẹn :

Đói ḷng ăn hột chà là,

Để cơm nuôi mẹ,mẹ già yếu răng.

Đói ḷng ăn trái ổi non,

Nhịn cơm nuôi mẹ cho tṛn nghĩa xưa

Ngày nay chúng ta vẫn c̣n tiết kiệm từng miếng ăn, từng mảnh áo, để có ít tiền gởi về cho cha mẹ ở nơi xa. Đáng kính thay ḷng hiếu thảo của người con Việt Nam.

Ḷng hiếu của con nguời binh dân thiết tha, đậm đà và thực tế hơn cảnh cắt thịt của ḿnh cho cha mẹ ăn, hay ôm gốc măng mà khóc như trong nhị thập tứ hiếu cuả Nho gia.

Nếu phải xa nhà v́ công việc làm ăn, người chồng dặn ḍ người vợ trẻ một vài phương cách phụng dưỡng cha mẹ già thay ḿnh.

Liệu mà thờ kính mẹ già,

Đừng tiếng nặng nhẹ, người ta chê cười.

Dù no dù đói cho tươi,

Khoan ăn bớt ngủ, liệu bài lo toan.

 

4.  HIẾU LÀ THÀNH ĐẠT. :

 

Thành công trong việc làm ăn, đạt được công danh qua việc học hành thi cử cũng là một h́nh thức báo hiếu, tức là làm rạng rỡ danh giá tổ tiên, nhưng cũng là phương cách có nhiều tiền để giúp cho việc phụng dưỡng mẹ cha được chu đáo hơn, mới gọi là đền ơn cha mẹ cho tṛn chữ hiếu.

Ngó lên trời, trời cao lồng lộng,

Ngó xuống đất, đât rộng mênh mông.

Biết rằng chừ cá gáy hóa rồng,

Đền ơn thầy mẹ ẩm bồng ngày xưa.

Quan niệm này vẫn c̣n ảnh hưởng đến chúng ta cho đến ngày nay. Nhiều phụ huynh đă khuyến khích, đă hy sinh tốn kém cho con cái học xong bốn năm đại học. Phần lớn con chúng ta đạt được cấp bằng tiến sĩ, cử nhân đủ mọi ngành. Đó là thành quả đẹp, khởi đi từ lời ca văng vẳng từ ngàn xưa :

Con ơi muốn nên thân người,

Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha.

Gái thời dệt thấm thêu hoa,

Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa.

Trai thời đọc sách ngâm thơ,

Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa.

Mai sau nối được nghiệp nhà,

Trước là đẹp mặt, sau là ấm thân.

Cần cù chăm chỉ cấy cày cũng là hiếu, v́ hoa màu thu hoạch lại được dùng trong công việc phụng dưỡng mẹ cha :

Em th́ đi cấy ruộng bông,

Anh đi cắt lúa để chung một nhà.

Đem về phụng dưỡng mẹ cha,

Muôn đ̣i tiếng hiếu người ta c̣n truyền.

Làm ăn được mùa cùng dể dàng thực hiện ḷng hiếu thảo :

Trời cho cày cấy đầy đồng,

Xứ nào xứ ấy trong ḷng vui ghê.

Một mai gặt lúa mang về,

Thờ cha kính mẹ nhiều bề hiếu trung.

 

  1. HIẾU LÀ BIẾT PHỤNG THỜ TỔ TIÊN.

 

Thờ cha mệ, ở hết ḷng,

Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường

 

Phụ mẫu bên anh cũng nhu phụ mẫu bên nàng,

Lẽ thường anh cũng phải tạc đá bia vàng để thờ chung.

 

Một điểm đặc biệt trong văn hoá gia đ́nh Việt Nam là con rễ hay con dâu đều gọi cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ là cha mẹ. Cha mẹ hai bên là tứ thân phụ mẫu. Xem đó là liên hệ trực tiếp trong gia đ́nh. Cha mẹ chồng, cha mẹ vợ đều được gọi là cha mẹ, cùng một từ như cha mẹ ruột. Cha mẹ gọi con dâu hay con gái với một từ chung là con. Từ con do cha mẹ gọi ra không có sự phân biệt con trai hay con rể. Việc gọi chung từ con, cha, mẹ không thể là sự ngẩu nhiên của ngôn ngữ, mà là một điểm son của văn hoá gia đ́nh. Việt nam rất giàu từ ngữ để chỉ sự khác biệt về sự liên hệ gia đ́nh gián tiếp như : nội ngoại, bác bác, chú thím,cậu mợ, cô dượng, d́ dượng, anh chi …

Thực tế có sự khác biệt về t́nh cảm và huyết tộc giũa cha mẹ ruột với cha mẹ chồng, hoặc cha mẹ vợ, nhưng tập tục và đời sống khi thực hành chữ hiếu đă nâng tứ thân phụ mẫu ngang hàng với nhau :

 

Phụ mẫu thiếp cũng nhu phụ mẫu chàng

Hai bên phụ mẫu tạc bốn chữ vàng thờ chung.

Ngay cả khi vợ chồng xa nhau rồi, ḷng hiếu đối với cha mẹ đôi bên cũng không hề thay đổi. Đáng cảm phục thay t́nh gia đ́nh của người b́nh dân Việt Nam.

Phụ mẫu t́nh thâm,

Phu thê nhân ngăi trọng.

Một mai anh có xa em rồi, em thờ vọng mẹ cha

 

Anh đi ghe cá cao cờ

Ai nuôi cha mẹ ai thờ tở tiên ¿

Phụng thờ tổ tiên là điểm đặc biệt của văn hoá Việt Nam. Người b́nh dân sống tự nhiên thoải  mái với việc cầu Trời và thờ Ông Bà tổ tiên của ḿnh. Xem việc phụng thờ ông bà tổ tiên là lối sống tự nhiên, là một phương cách biểu lộ ḷng hiếu thảo với cha mẹ. Khi cha mẹ, ông bà đă qua đời, hiếu được bày tỏ qua sự tôn kính phụng thờ. :

Công danh hai chữ tờ mờ,

Lấy ǵ khuya sớm phụng thờ tổ tiên.

Khôn ngoan nhờ đức cha ông,

Làm nên phải nhớ tổ tông phụng thờ.

Khi cha mẹ già yếu thường ở chung với con cái. Khi cha mẹ ốm đau con cái tự tay săn sóc. Khi cha mẹ lâm chung con cái thường gần gủi bên cạnh. Nếu không được như vậy th́ ít nhất cũng phải chịu tang. Kim Trọng từ giả Thúy Kiều để về thọ tang cha, Nguyễn Đ́nh Chiểu bỏ thi để về chịu tang cha mẹ.

Chữ rằng : vẩn tổ tầm tông.

Cháu con nở bỏ cha ông sao đành.

Đau xót nhất là sự chia xa đôi ngă âm dương. Chúng ta thường biết nhiều bài điếu văn xót xa thấm thía giữa người ở lại khóc kẻ ra đi.  Trong văn chương b́nh dân cũng có vài bài văn tế. Đặc biệt nhất là bài ca dao tể mể : lời lẽ thiết tha, ư t́nh thống thiết :

 

Trời hỡi Trời ¡ sao dời vật đổi.

Nên chi cỏ héo hoa sầu ¡

Kể từ ngày nương tựa lều tranh

Công on mẹ kể không xiết kể!

Tuần cay đắng chín trăng có lẻ

Chữ sinh thành nghĩa mẹ tày non

Bên ướt mẹ nằm bên ráo phần con.

Mẹ nuôi con vuông tṛn khôn lớn

Cho con xin đền miếng ngọt mùi ngon

Nào hay đâu bóng xế đầu non

Trong phút chốc đă phân chia đôi ngă !

Đêm năm canh nghe con ve kêu giục giả

Ngày sáu khắc nh́n đèn hắt hiu !

Con đương mơ màng sực tiếng mẹ kêu

Muốn t́m mẹ, t́m sao đặng mẹ?

Ba tất đất táng an theo lệ

Tấm ḷng thành chưa thỏa ḷng con.

Chốn mộ phần con gởi nước non

Một chén rượu ngọt, giả từ thân mẹ.

Ô hô ! Ai tai ! Phục duy thượng hưởng !

Xa đồng mà không trông thấy ! U hu !

Mai đà hạc lánh h́nh du

Tây phưong đất phật mẹ đi không về !

 

Mồ yên mă đẹp cũng là một h́nh thức báo hiếu. Điều này vẫn c̣n ở trong ḷng những người con phải đi lập nghiệp phương xa. Khi điều kiện kinh tế cho phép, một trong những việc hiếu đầu tiên là chỉnh trang  nhà thờ và lăng mộ tổ tiên.

 

Công cha ba năm sinh thành tạo hóa,

Nghĩa mẹ chín tháng cưu  mang.

Hai đứa ḿnh lấy chi đền nghĩa báo ân,

Lên non cao gánh đá, xuống xây lăng phụng thờ.

 

Ơn cha ba năm cúc dục,

Nghĩa mẹ chín tháng cưu mang.

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn.

Biết lấy chi trả nghĩ khó khăn,

Đôi lứa ta lên non xắn đá, xây lăng phụng thờ.

Việc kỵ giỗ, chú trọng đến ḷng kính mến nhớ thương. Bàn thờ lạnh tanh, không hương khói ấm cúng, là điều đau ḷng cho con cái.

Ngó lên nhang tắt, đèn mờ,

Mẫu thân đâu vắng, bàn thờ lạnh tanh.

 

Ngay cả cổ bàn đang khi kỵ giỗ cũng đơn giản thôi. Đó là những món ăn thân thiết, b́nh dị, dân dă trong đời sống hàng ngày như rau muống, nước tương mà cô thôn nữ đă dùng để phụng dưỡng cha mẹ già.

Nhà em có vại cà đầy,

Có ao rau muống có đầy chum tương.

Dù không mỹ vị cao lương,

Trên thờ cha mẹ, dưới nhường anh em.

Một nhà vui vẻ êm đềm,

Đói no tùy cảnh, không thèm lụy ai.

Chỉ những người giàu sang, chỉ mới có cổ bàn đầy xôi thịt :

Cồng cọc bắt cá dưới bàu,

Cha mẹ mày giàu đám giỗ đầu heo.

 

Kỵ giỗ là một phương cách tuyệt vời để duy tŕ và phát huy tinh thần gia tộc.Trong mùi trầm hương lâng lâng ngào ngạt của một lễ giỗ rất dễ cho ta nhận ra tinh thần ông bà hiện hữu qua h́nh dặng qua phong cách của chúng ta và của đám con cháu đang quay quần trước bàn thờ. V́ tánh cách nhân bản và thiết thực của viêc thờ cúng ông bà tổ tiên, mà các tôn giáo khi du nhập vào Việt Nam đă dể dàng ḥa đồng với niềm tin này. Nho, Thích, Lăo đă được thờ chung với ông bà tổ tiên. Gần đây giáo quyền  công giáo đă có tông thư để giáo hữu tham dự hay tổ chức lễ giỗ ông bà tổ tiên. Dù theo tôn giáo nào, người Việt Nam cũng giữ việc thờ kính tổ tiên.

 

  1. PHÂN VÂN CHỮ HIẾU VÀ T̀NH

 

    Dù đă có nhiếu thiếu nữ quyết định không lập gia đ́nh riêng v́ muốn gần gủi cha mẹ để lo tṛn chữ hiếu. Thay cha mẹ để nuôi dưỡng em út cũng là một cách thực hiện chữ hiếu. Cũng có nhiều người chị cả không chịu lấy chồng, ở vậy nuôi nấng đàn em khi cha mẹ không may đă qua đ̣i sớm.

Ơn hoà́ thai như biển,

Ngăi dưỡng dục tợ sông

Em nguyền ở vậy pḥng không,

Lo đàng cha mẹ cho hết ḷng phận con.

Ơn mẹ như biển, nghĩa cha như sông. Biển bao la rộng lớn hơn sông. Ơn mẹ thật sự lớn hơn nghĩa cha.

Niềm kim thạch, nghĩa cù lao,

Bên t́nh bên hiếu ở sao cho tuyền.

Con trai mới lớn, c̣n ở với mẹ cha, dôi khi gặp khó khăn giữa việc : hiếu với mẹ cha hay trọn t́nh với người yêu :

Chim kêu ải Bác, non Tần,

Nửa phần thương me, nửa phần thương em?

Th́ người con gái thường giúp cho người yêu hoàn thành chữ hiếu để giữ trọn chữ t́nh :

Mẹ già anh ở nơi nao ¿

Để em t́m vào hầu hạ thay anh.

Người con trai muốn sống trọn hiếu và t́nh, thường đặt câu hỏi với người yêu thay cho lời trần t́nh, hay lời cầu xin :

Đèo nào cao cho bằng đèo Châu Đốc,

Đất nào dốc cho bằng đất Nam Vang.

Một tiếng em than : hàng lụy nhỏ,

Anh có mẹ già biết bỏ ai nuôi.

Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược,

Anh muốn thương nàng có được hay không ?

Các nàng này thực tế và khôn  ngoan, biết rằng con trai khi đă hiéu với mẹ th́ thường yêu thương chung t́nh với vợ, nên các nàng không ngần ngại trả lời :

Mẹ già là mẹ già chung,

Anh lo thuốc thang, em giùm cháo cơm

 

Mẹ già hai đứa nuôi chung,

Đứa lo cơm cháo, đứa giùm thuốc thang.

Tự Lực văn đoàn với chủ trương ‘hoàn toàn theo mới’ đă nặng tay đă kích cảnh mẹ chồng nàng dâu của ảnh hưởng nho giáo, mà bỏ qua những t́nh hiếu đẹp đẽ của nàng dâu và mẹ chồng trong nếp sống b́nh dân.

Trong ca dao t́nh và hiếu giao ḥa với nhau, tạo nên gia đ́nh triu mến hạnh phúc. Nhiều thiếu nữ cũng gặp khó khăn, Họ đ̣i hỏi người yêu phải thông cảm :

Chàng ơi : ơn thầy ba năm cúc dục,

Nghĩa mẹ chin tháng cưu mang.

Ai đền ơn cho thiếp.

Mà nhủ thiềp trao ân t́nh.

 

Chẳng lo thân bậu với qua,

Lo chút mẹ già đầu bạc tuổi cao.

Chim c̣n mến cội mến cành,

Anh cũng biết cho em,

C̣n mến nghĩa sinh thành của mẹ cha.

Cho đến ngày cưới, người con gái chính thức thưa tŕnh và tạ ơn cha mẹ trong khuôn phép lễ nghi của gia đ́nh.

Con lạy cha hai lạy một quỳ,

Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.

Nếu người con gái nhẹ dạ theo chàng,nàng phân vân đặt câu hỏi cho chính ḿnh hay cho chàng :

Nhớ hồi mẹ đẻ thiếp ra,

Nhai cơm sún nước lớn mà chừng ni.

Nghe lời chàng, bỏ mẹ ra đi,

Thất hiếu với phụ mẫu

Có hề chi không, hỡi chàng ¿

Th́ người thanh niên cũng nhẹ nhàng khuyên nhủ người yêu hăy lo công cha nghĩa mẹ trước :

Công cha nghĩa mẹ ai đền,

Mà em ôm áo, ôm mền theo anh ¿

Với người con gái chữ hiếu thường nặng hơn chữ t́nh :

Công sinh dục bằng công tạo hóa,

Có mẹ cha, sau mới có chồng .

Em nhớ khi d́u dắt ẫm bồng,

Nay em lao khổ năo nùng, không than.

Nếu t́nh duyên trắc trở, th́ phụng dưỡng mẹ già cũng là phương cách giải quyết tốt đẹp :

Nên th́ lập kiểng trồng hoa,

Chẳng nên đá kiểng trồng cà dái dê.

Chẳng nên thiếp trở lộn về,

Dưỡng nuôi từ mẫu trọn bề hiếu trung

 

  1. HIẾU VÀ BỎ NHÀ ĐI TU

 

Đi tu đối với người b́nh dân là cắt đút mọi liên lụy t́nh cảm, trong đó có t́nh gia đinh. Điều này không được chấp nhận. Đối :với họ : hiếu cũng là tu. Đạo hiếu thực tế hơn..

Tu đâu cho bằng tu nhà.

Thờ cha kính mẹ mới là chân tu.

Hiéu là đạo sống của người b́nh dân Việt Nam. Nếu phải lựa chọn, chắc chắn người con có hiếu sẽ chọn việc đền đáp công ơn cha mẹ trước khi bỏ nhà lên chùa với Phật.

Lên chùa thấy Phật muốn tu,

Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền.

Chính giáo lư nhà Phật cũng quan niệm : cha mẹ  ở nhà như là Phật ở trần thế.

Có hai Phật sống trong nhà :

Sớm hôm lễ niệm đi xa đâu cần.

Nếu phải lo tṛn chữ hiếu rồi mới được vào chùa, th́ việc tu hành sẽ khó đạt được với người có  lời cầu xin cha mẹ sống đời với con

Đêm thắp ngọn đèn trời,

Cầu cho cha mẹ sống đời với con

Và như vậy cha mẹ dù không sống đời với con th́ trách nhiệm với cha mẹ cũng c̣n măi cho đến ngày để chế mang tang cho cha mẹ.

Một mai bóng xế cội tùng,

Mũ rơm ai đội, áo thùng ai mang.

Và nếu đi tu rồi, th́ cũng khó tránh được, miệng tiếng của thế gian.

Tiểu kia đến ở chùa ta,

Một là giận mẹ hay là giận thân.

Đêm nằm mà nghĩ xa gần,

Con người như thế đem thân ở chùa,

Ở chùa ăn những tương chua.

Ăn rau muống héo ăn dưa cần già,

Sao không nghĩ đến cửa nhà,

Bát cơm manh áo, mẹ già ai nuôi ?

Có suy nghĩ xa gần đó, nhưng vẫn thấy việc lo bát cơm manh áo cho mẹ già là quan trọng hơn, là đáng làm trước khi đem thân gởi chùa.

 

  1. MỘT TRIẾT LƯ DÂN TỘC VIỆT TRONG CA DAO .

 

Trên đây chúng tôi chỉ sưu tập và tŕnh bày sơ lược một số câu ca dao theo chủ đề chữ hiếu, chưa đến lúc đi sâu vào nội dung từng bài để tổng hợp rồi tŕnh bày như là một quan điểm triết lư cho đời sống của người b́nh dân Việt Nam. Thật ra người b́nh dân không cần những điều tôi muốn làm. Họ chỉ cần những bài ca để ru con. Những bài ca chan chứa t́nh người, t́nh gia đ́nh. Họ hát lên như một lối tŕnh bày, như một lời cầu mong, như một sự gởi gấm. Họ mong rằng con cháu nghe qua, tự rút ra cho ḿnh những t́nh cảm, những phương cách sống và sự liên hệ giữa con cái với cha mẹ, ông bà.

 

Nhưng không phải v́ sự b́nh dị, đơn giản của người b́nh dân mà chúng ta lại cho rằng người Việt Nam không không có một nền triết học dân tộc nhu của Tàu, của Tây. Họ có đó, nhưng muốn hiểu được triết lư của họ, chúng ta phải trở về với họ bằng tâm t́nh, bằng hồn dân tộc, hơn là khoa học lư trí. Tôi cảm thấy vui lúc biết các cụ đồ Nho, đùa bởn văn học b́nh dân bàng câu : Nôm na là cha mách quẻ,Mách quẻ là mẹ nôm na.

 

Ngày nay chủ thuyết vô gia đinh và tự do cá nhân đưa đến cảnh con cái phê phán mẹ cha, hoặc thoát ly gia đ́nh quá sớm . Cả hai chủ thuyết trên đă làm tan ră gia đ́nh , gây nhiều khó khăn cho dời sống của con cái và làm lung lây ḷng hiếu thảo của người Viêt Nam.

                           

 Nguyễn văn Mỹ

Irvine, California

07,2007.

TÀI LIỆU THAM KHẢO :

Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao của Đào Văn Hội do nhà sách Khai Trí Sài g̣n 1961.

Việt nam thi văn hợp tuyển của Trần Trọng Kim do Bộ giáo dục tái bản, Sài g̣n 1968.

Kinh thi Việt Nam của Trương Tửu, do nhóm Xuânb Thu tái bản, Texas 1984.

Về với ca dao của Duyên Anh do Vũ Trung Hiếu xuất bản, California 1995.

Kho tàng ca dao người Việt của nhóm Nguyễn xuân Kính do văn hoá xuất bản, Hà nội 2001.

Hương Hoa Dân Việt của Lă Mộng Thường do Xuân Thu phát hành ,texas, không ngày tháng .

Ngôn xứ Thời đại của Nguyễn Chính Kết do hy vọng xuất bản, Hoa Kỳ 2001.

dienhanh.jpg






NỢ ĐỜI MỘT NỬA,

C̉N MỘT NỬA ƠN EM

Ngày 7/12/2007 - Phạm Tín An Ninh


 

( Viết cho em và những người vợ lính trung hậu )

Thời c̣n đi học, lang thang từ Nha Trang đến Sài G̣n, dù con nhà nghèo, học tàm tạm, và nhan sắc dưới trung b́nh, tôi cũng đă mang tiếng đào hoa. Cho nên có muốn kéo dài thêm cái đời học tṛ để được mơ mộng đủ thứ chuyện dưới biển trên trời thiên hạ cũng đâu có cho. Rồi có phải thuộc gịng hào kiệt ǵ đâu, tôi cũng xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. Nói kiếm cung cho nó vẻ văn chương và lăng mạn, chứ thực ra tôi vào lính, mà lại là thứ lính hạng bét th́ làm ǵ có kiếm với cung. Có phải lính tàu bay tàu thủy ǵ đâu, mà là lính đi bộ. Lúc băng rừng lội suối, mặc bộ đồ trận hôi hám cả tuần không tắm, tôi ghét cay ghét đắng cái ông nào là tác giả cái câu "Bộ Binh là nữ hoàng của chiến trường" mà tôi đă đọc được ngay từ khi mới vào quân trường, đếm bước một hai để hát bài "đường trường xa". Khổ th́ khổ vậy, chứ mấy cô gái bé bỏng hậu phương lại mê lính trong mấy bản nhạc của ông Nhật Trường. V́ "nếu em không là người yêu của lính, ai thương nhớ em chiều rừng hành quân, ai băng gió sương cho em đợi chờ, và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng ? .. ". Nhờ vậy, trong mấy năm đóng quân dọc đường số 1, nơi nào tôi cũng để lại vài mối t́nh con. Tôi nghĩ đời lính như vậy mà vui, th́ thôi chớ tính chuyện vợ con làm ǵ cho nó vướng chân vướng cẳng. Hơn nữa tôi cũng hiên ngang với đám con gái lắm, th́ làm ǵ có chuyện "chết trong mắt em". Vậy rồi trời xuôi đất khiến thế nào, sau mấy năm đánh đấm ở Quảng Đức, Ban Mê Thuột rồi B́nh Định, Phú Yên, đơn vị tôi được mấy cái tàu há mồm chở vào bỏ xuống băi biển Nha Trang vào lúc đường phố mới lên đèn. Tôi thấy ḷng lâng lâng sung sướng v́ không khí yên b́nh của thành phố biển, mà cũng v́ tưởng ḿnh đă được trở về với những "hang động tuổi thơ" của ông Nguyễn Xuân Hoàng. Nào ngờ, khi c̣n mải mê với mộng mị, tôi bị đánh thức lúc nửa đêm cùng đơn vị leo lên một đoàn xe mấy chục chiếc để tiếp tục "hát khúc quân hành". Đoàn xe ra khỏi thành phố, qua Ty Thông Tin, ra quốc lộ 1, trực chỉ hướng bắc. Tôi lại mừng thầm, nghĩ là sẽ được về dưỡng quân ở huấn khu Dục Mỹ. Nhưng tôi đă "ước tính t́nh h́nh" sai bét. Đoàn xe dừng lại tại bùng binh, ngă ba Ninh Ḥa. Một tiểu đoàn lính đổ xuống cái thị trấn c̣n đang say ngủ. Đại đội tôi nhận lệnh vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau tôi rủ mấy thằng bạn, quần áo chỉnh tề, ra phía trước "thăm dân cho biết sự t́nh".

Thấy một ngôi nhà mở cửa, bọn tôi bước vào làm quen. Chủ nhà là một cô gái nho nhỏ dễ thương, mời đón mấy thằng lính trời ơi đất hởi mà miệng vui cười, e thẹn nh́n tôi bằng cặp mắt nai tơ. Vậy mà thằng lính ngang tàng như tôi lại chết trong đôi mắt ấy. Bắt đầu từ một chuyện t́nh cờ như vậy đó, mà tôi trở thành chú rể của Ninh Ḥa hơn một năm sau. Trường Trần B́nh Trọng cũng vừa có một cô học tṛ bỏ trường, bỏ lớp, bỏ bạn bè và bỏ cả đội múa "Trăng Mường Luông ".

Bây giờ cứ mỗi lần đọc bài thơ của ông nhà thơ Quan Dương, người Ninh Ḥa, là tôi nh́n thấy có tôi trong đó :

Hồi nhỏ tôi rất anh hùng

Một ḿnh dám nhảy cái đùng xuống sông

Bơi nghiêng, bơi ngửa giữa ḍng

Hiên ngang trấn giữ một vùng tuổi thơ ....

Lớn lên trở chứng ngu khờ

Mắt em nào phải bến bờ sông sâu ?

Cớ sao chưa kịp lộn nhào

Đành chịu chết đuối, thiệt đau đúng là..

Nàng làm vợ lính đúng tám năm. Tám năm khốn khổ lo âu. V́ lúc nào cũng có thể trở thành góa phụ. Đă vậy đứng ở Ninh Ḥa lúc nào nàng cũng nh́n thấy ḥn núi Vọng Phu sừng sững cuối chân trời! Nhưng rồi nàng không trở thành góa phụ mà lại trở thành tù phụ. Cơn sóng bất ngờ phủ xuống miền Nam, cuốn nàng theo cùng những người có chung số phận. Thân phận bọt bèo với một đàn con dại, cô học tṛ Trần B́nh Trọng bé nhỏ ngày nào bây giờ phải một ḿnh chống chọi với phong ba.

Riêng tôi, một thằng lính bất ngờ thua trận th́ chuyện tù đày nào có than chi. Chỉ tội nghiệp cho "người t́nh bé nhỏ" ngày xưa. Tôi tự trách ḿnh, giá mà ngày đó tôi đừng ra khỏi cái sân vận động, không gặp nàng, th́ biết đâu nàng chẳng t́m lại một cố nhân nào đó - mà tôi thường nghe nàng nhắc đến với ḷng ngưỡng mộ - bây ǵờ đă là một ông quan hải quân, sẽ đưa nàng xuống tàu ra khơi đi t́m vùng đất hứa.

Rồi nàng bỗng dưng trở thành con c̣ lặn lội bờ sông của ông Trần Tế Xương, để nuôi đủ sáu con với một chồng - ông chồng gần tám năm biền biệt ở các trại tù Lào Cai, Yên Bái.

Tôi c̣n nhớ lúc ở trong tù, tôi may mắn nằm bên cạnh nhà thơ lớn Tô Thùy Yên. Tôi rất quư anh v́ anh là một người tù có tư cách. Thấy tôi dốt nát mà cũng thích thơ văn, anh làm tặng tôi một bài thơ khá dài và hay lắm. Nhưng lúc bị cai tù kiểm tra, tôi nhát gan nên bỏ cả bài thơ vào miệng nhai nát rồi nuốt vào cái dạ dày đang đói. V́ vậy tôi không c̣n nhớ hết mà chỉ thuộc ḷng mấy câu viết về nàng:

Tám năm áo rách bao nhiêu lượt

Em vá chồng lên những nỗi niềm

Từ thuở anh đi nhà tróc nóc

Con thơ đâu c̣n biết vui cười .....

Cô gái Ninh Ḥa, thương quá đỗi

Một ḿnh chèo chống giữa phong ba

Ra khỏi trại tù, dường như tôi chỉ đem về cho nàng thêm những đắng cay. Với một người chồng c̣n mang đầy những vết thương cả trên thể xác lẫn tâm hồn, cùng một đàn con thơ dại, giữa một xă hội chất chồng thù hận, nàng biết xoay xở làm sao ? Cuối cùng, nàng phải cùng chồng con, đem sanh mạng đánh một canh bạc cuối cùng.

Có lẽ ông trời không phụ ḷng nàng. Chuyến đi vội vă, chuẩn bị chưa xong, rồi cũng đến được bến bờ. Trong lúc bao nhiêu người t́m cách tận hưởng hạnh phúc của một điều tưởng chừng may mắn nhất của con người, hoặc ít ra cũng ngơi nghỉ để hoàn hồn từ cơi chết, nàng lại tiếp tục làm kiếp con c̣ trong một vùng băng tuyết mênh mông, lo lắng cho con, để cho chồng học thêm vài ba chữ và vác ngà voi chạy đủ thứ chuyện bao đồng.

Bây giờ những đứa con đă trưởng thành. Nàng chiều chồng để cho mỗi đứa tự chọn đất nước nào nó thích mà dung thân. Mỗi đứa một phương trời. Nàng lại là một hậu phương cho các con đi vào trận mới. Ngôi nhà trở nên trống vắng. Cuối cùng nàng cũng ch́ c̣n có tôi, người lính thất trận năm nào, đă mang đến cho nàng biết bao là hệ lụy. Dư âm cuồng nộ của những cơn dông băo năm nào dường như vẫn c̣n đâu đó trong giấc ngủ của riêng nàng.

Tuổi sắp già, mà tôi c̣n mang nhiều món nợ. Biết làm sao trả cho xong. Nợ núi sông, nợ máu xương bè bạn. Mà khổ thay, tôi th́ cứ măi là thằng lính hèn mọn, bạc t́nh. Và tôi c̣n nợ nàng, nợ Ninh Ḥa. Mảnh đất hiền ḥa đă cho tôi một người vợ chung t́nh, cùng tôi qua bao cuộc biển dâu.

 

dienhanh.jpg