Nguyên Huy
Bốn người
ngồi trong một pḥng khách sang trọng. Họ vốn là sĩ quan đồng khóa 14 Thủ
Đức trước năm 1975. Ra trường người được chuyển về
Hải Quân, người Không Quân, người về Bộ Binh, Chiến Tranh Chính Trị. Những
năm tháng trong quân ngũ, họ vẫn gặp nhau thường xuyên do t́nh cờ cùng công tác
ở một Nha, Sở. Ba Mươi Tháng Tư Một Chín Bẩy Lăm, họ tan tác. Người
di tản được. Người vào tù. Người trốn tù, vượt biên. Ba Mươi
Tháng Tư năm nay họ gặp lại được nhau. Buổi gặp mặt hôm nay
là tiệc mừng đón kẻ sang Mỹ chậm nhất trong 4 người.
Người
ngồi trong góc tối mờ của pḥng khách bắt đầu kể lại một kỷ
niệm. Giọng anh b́nh thản, đều đều như đọc một trang sử
đă qua. Ba người ngồi nghe, nhạt nḥa trong ánh sáng của đèn pḥng khách.
Bên ngoài, trời
Cali đầu Hè, vẫn lạnh. Không gian tĩnh quá như muốn nhấn mạnh cái lẻ
loi, cô đơn của người xa xứ.
***
Vào những
ngày chộn rộn nhất của Tháng Tư năm ấy tôi lại phải ra công tác ngoài
Huế. Chả là vị Giám Đốc của tôi được lệnh cho thu dọn đài phát
tuyến để chuyển vào Nam v́ t́nh h́nh mất Huế kể như gần chắc rồi.
Ḷng không muốn, nhưng quân lệnh, khó mà cưỡng. Ở Huế, tôi vội vă cùng nhân
viên địa phương tháo gỡ hết và liên lạc xong với 1 đơn vị Hải
Quân, xin được 1 chuyến tàu chuyên chở. Nhưng chỉ vào tới Đà Nẵng thôi
v́ tàu c̣n phải trở lại để di chuyển cho nhiều cơ quan khác. Tôi đành đánh
điện về xin chỉ thị. Kết quả: bằng mọi giá, tôi phải giữ
được dụng cụ vật liệu của Trung Tâm đă tháo ra. Thế là tôi đành
ở lại Đà Nẵng để chờ Trung Ương liên lạc với bên Hải Quân xin
chuyên chở vật liệu vào Sài G̣n. Bắt đầu là những giờ phút kinh hoàng ập
đến. Huế đă thất thủ. Đà Nẵng lên cơn sốt di tản. Người
đổ ra cảng Đà Nẵng và suốt dọc bờ biển Sơn Trà hỗn loạn. Dân
lính ḥa nhau trong cuộc chạy đua ra biển. Một cuộc t́m sống hăi hùng. Pháo Cộng
Sản bắt đầu nă rải dọc bờ biển là lúc mà con người không c̣n đối
xử được với nhau 1 chút nhân ái nào nữa. “Panique” đă diễn ra. Tôi
phải làm sao? Bỏ của chạy lấy người? Để rồi vào Sài G̣n chắc là
sẽ bị ra ṭa án quân sự. Ở lại để chờ di chuyển vật liệu.
Chắc chết. Tôi không thể nào dứt khoát được. Không phải tôi có tinh thần
trách nhiệm cao đâu, mà chính v́ sợ phải ra ṭa án quân sự khi không hoàn tất được
nhiệm vụ. Lúc này, tôi mới thấy ḿnh ngu. Người ta th́ bỏ cả đơn
vị, công sở, thậm chí cả vợ con để chạy lấy người mà ḿnh
th́ không dứt khoát được. Tôi cố nhờ một vài đơn vị c̣n trụ
lại để liên lạc với thượng cấp của tôi mà không liên lạc được.
Vị Sĩ quan truyền tin bảo tôi, “Ông cứ xuống tầu đi, Trung Ương
phải biết t́nh thế này chứ. Chuyến tầu của đơn vị tôi sẽ nhổ
neo lúc 3 giờ. Nếu đi, 2 giờ 30 ông lại đây”. Tôi cảm ơn, chạy về
đơn vị ḿnh. Viên trung sĩ trực, đi cùng tôi vẫn b́nh tĩnh nằm chờ
ở bến. Tôi hỏi :
- Ḿnh tính sao
bây giờ ?
Hiểu ư tôi,
viên trung sĩ đáp.
- Tùy đại
úy quyết định.
- Vậy 2 giờ 30 ḿnh ghé tiểu đoàn truyền
tin đi cùng họ.
- Vâng.
Anh ta lặng
lẽ xếp lại tấm chăn dă chiến và cái ba lô anh lấy làm gối. Gấp chiếc
ghế bố nhà binh để góc tường, anh ngó căn nhà kho rộng chứa đầy
những vật liệu tháo gỡ từ một trung tâm phát tuyến, anh thẫn thờ:
- Bỏ lại
kể cũng tiếc thật. Cả chục triệu đô la chứ ít ǵ.
Tôi hỏi anh
là Trung Đội Địa Phương Quân được ṭa tỉnh Huế biệt phái cho đi
khuân vác theo đâu.
Anh rắn rỏi
đáp:
- Mạn phép
đại úy, tôi cho họ về Huế cả rồi.
Tôi trợn mắt:
- T́nh thế
này mà anh để họ về Huế.
- Họ nôn nóng
vợ con gia đ́nh. Biết làm sao.
Tôi định
la nhưng chợt nhận ra t́nh cảnh chung, đành lặng lẽ thu xếp hành trang.
Pháo địch
nă lên dữ dội hơn. Tiếng súng nhỏ râm ran khắp thành phố. Nhưng ḍng người
vẫn chật đầy phố phường. Như một cảnh hội pháo. Nhưng
là hội của quỷ v́ ai nấy mặt mũi xanh rờn, áo quần tơi tả.
Tôi ngó ra băi biển.
Như một cảnh tắm biển Mùa Hè ở các xứ người. Nhưng ở đây,
nơi quê hương khốn khổ này, người ra biển không phải là để tắm
mà để trốn chạy chính đồng bào của ḿnh. Không có cảnh áo tắm nào đâu.
Chỉ là một băi biển đen kịt những con người khốn khổ. Một
đám lính không c̣n vị chỉ huy nào, hùng hổ vừa bắn chỉ thiên vừa lao những
chiếc jeep, dodge ào ào xuống băi. Chúng gạt mọi người, cướp những chiếc
thuyền cao su, thuyền gỗ, hay bất cứ thứ ǵ nổi trên nước có thể
đưa chúng ra nơi tàu hải quân đậu. Tiếng người la ó, gào thét râm ran. Tiếng
đại pháo từng chập rộ lên và bây giờ th́ liên tục triền miên. Bỗng đám
đông xao động hẳn. Nhiều tiếng la thất thanh:
- Việt Cộng
đă vào thành phố rồi đấy.
Tôi hốt hoảng,
ngoắc viên trung sĩ chạy túa theo đoàn người quên cả ba lô hành trang.
Chạy dọc
theo băi Sơn Trà xuống phía Nam cùng ḍng người hỗn loạn, tranh cướp nhau lên
một chiếc đ̣ gỗ. Người lái đ̣ hét lớn:
- Mỗi người
một lạng vàng, tôi mới chở.
Ai nấy gật
đầu. Tôi cũng gật đầu.
- Chung vàng ra.
- Cứ cho đ̣
ra khơi đi. Chúng tôi sẽ chung đủ.
Tôi nh́n lại
người trên thuyền. Chiếc thuyền khoảng 5m dài hơn 1m rộng mà có tới gần
5 chục người. Nước mấp mé mạn thuyền. Tôi t́m viên trung sĩ. Không thấy.
Chúng tôi đă lạc nhau. Một ông trung niên, dáng như nhà buôn, đứng ra thu vàng cho tên lái
thuyền. Thôi th́ lại huyên náo. Người không có vàng, chỉ đưa tiền. Tiền
cả bịch lớn, chẳng biết là bao nữa. Người lột đồng hồ,
tư trang... C̣n tôi? lấy ǵ bây giờ. Tôi đành lắc đầu.
- Không có ǵ, lính
mà.
Ông thương
gia trừng mắt :
- Nhảy xuống
đi. Lính mà cũng chạy à.
Chợt ông nh́n
trên tay tôi, hỏi :
- Rolex hả.
Tôi chợt nhớ
chiếc đồng hồ đeo tay Rolex quí giá của tôi. Tôi lưỡng lự:
- Cũ rồi.
Ông thương
gia gay gắt:
- Tháo ra đi.
Mất th́ giờ quá.
Một bà dè
bỉu :
- C̣n tiếc
ǵ nữa cơ chứ. Sống là may.
Có tiếng la
lớn:
- Thuyền ch́m!
Thuyền ch́m!
Rồi hỗn
loạn. Tôi chỉ kịp cởi chiếc áo lính th́ nước đă tới cổ. Bản
năng sinh tồn đă đưa tôi tới mạn tầu hải quân lúc nào tôi cũng chẳng
biết. Lên tầu, vừa lạnh mệt tôi thiếp đi bao lâu để khi tỉnh dậy
thoáng nghe thấy tiếng reo:
- Cam Ranh.
***
Ở lại
Cam Ranh chờ chuyến tầu Hải Quân để về Vũng Tầu cả tháng trời,
tôi không c̣n biết phải làm ǵ. Ngày ngày dạo quanh các khu tị nạn, ngóng chờ các chuyến
xe hàng từ Nha Trang vào để đọc nghiến ngấu những tin chiến sự trên
báo Chính Luận phối họp những tin tức nghe được trên đài BBC vào chiều
tối, thấy càng sốt ruột. Tôi đă thử lội bộ, t́m đường về
Nam nhờ các chuyến xe hàng. Nhưng một xu dính túi không có giữa lúc bạc tiền được
tung ra không tiếc để có được một chỗ trên xe hàng chạy về Nam. Vả
lại, trên đường bộ xuôi Nam, làm sao có an toàn. Mỗi lúc, câu chuyện di tản
chiến thuật của quân dân Miền Nam càng trở nên bi đát, đau thương, kinh
hoàng hơn. Đắn đo măi, tôi đành ở lại chờ đi bằng đường
thủy.
Buổi sáng
hôm xuống được chuyến chiến hạm HQ của Hải Quân Việt-Nam, cũng
là lúc mà mọi người được tin là Nha Trang đă mất. Khi vào đến Vũng
Tầu, tôi mới được biết là Nha Trang đă bỏ ngơ khi Cộng Quân c̣n ở
cách thành phố đến cả nửa ngày đường. Người ta bảo nhau chạy
v́ tối hôm trước đài BBC có loan tin Cộng Quân tiến vào thành phố Nha Trang.
Từ Vũng
Tầu về Sài G̣n chẳng c̣n bao xa nữa. Nhưng tôi vẫn nôn nóng. Trước cảnh
chiến địa tan hoang, người người ly tán ở miền Trung, tôi không c̣n ḷng
dạ nào ngoài ước muốn được ở bên gia đ́nh lo cho vợ dại con
thơ. Nhưng ở Vũng Tầu, ngoài các bến băi và những nơi tạm trú cho quân đội
và dân chúng, thành phố biển này cũng chỉ hơi xao động. Phố xá vẫn buôn
bán tấp nập, tầu bè san sát và băi biển th́ đông đặc người. Cũng có
người tắm, nhưng phần nhiều là ngóng chờ những chuyến ra khơi. Nghe
nói th́ tầu Mỹ đă bắt đầu đón người, nên ai nấy đều nh́n
ra biển chứ ít ai nghĩ đến trở vào đất liền.
Trong khi đó
chiến sự lan mạnh. Có tin Phan Rang đă mất và Cộng Quân đang dồn về Long
Khánh. Thoáng trong óc tôi, một h́nh ảnh một mạng lưới đang thu hẹp lại.
Tôi quyết định t́m mọi cách trở về Sài G̣n mà không lóng ngóng ở băi biển để
t́m cách ra đi như mọi người khác.
Khi men được
về đến Biên Ḥa th́ Biên Ḥa cũng thất thủ. Đó là sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975. Tôi
vội lội bộ băng ruộng cùng rất nhiều đồng bào, t́m về hướng
Thủ Đức. Nhiều tiếng miền Trung thốt lên, e ngại:
- Có ai biết đường về Thủ Đức-Sài
G̣n không?
- Cứ đi.
Qua các thôn xóm hỏi th́ rơ.
Tôi quan sát đám
người cùng đi. Bấy giờ tôi mới chợt nhận ra, phần lớn là anh em
trong quân đội. Có một vài phụ nữ, với con nhỏ, chắc là gia đ́nh của
quân nhân. Chúng tôi tập họp nhau lại khoảng 50 người. Một anh bạn trẻ,
mặc chiếc sơ mi rách nát nhầu, nhưng cái quần lại là quần “trây di”,
chân đi dép Nhật, hăng hái nói:
- Cứ theo
tôi.
Tôi hỏi anh.
- Anh biết
rơ lối đi không.
Nh́n kỹ tôi
một lát, anh mới nói:
- Cách đây 10 năm tôi có ở vùng này 8 tháng.
Hiểu ư anh
tôi hỏi:
- Tôi khóa 14. C̣n
anh.
Anh vui mừng
:
- Chúng ta cùng
khóa rồi. Vậy anh c̣n nhớ đêm di hành cuối khóa không?
Tôi ngần ngại
thú nhận:
- Đêm đó tôi
trốn hành quân.
Anh không nói ǵ,
quay nh́n bốn hướng. Rồi chợt nhận ra điều ǵ anh quả quyết.
- Ḿnh đi về
hướng này. Chỉ đến trưa là sẽ tới sân bắn mới Thủ Đức.
Tới đó ḿnh t́m xe lam về Sài G̣n được rồi. Bọn nó chưa ra khỏi được
Biên Ḥa đâu.
50 người
chúng tôi theo anh lội tắt các khu ruộng. Hết xóm đến thôn, lại đến ruộng,
rạch. Đâu đâu cũng thấy dân chúng nhớn nhác nên chẳng ai để ư đến
chúng tôi cả. Một vài nơi đă dám kéo cờ Giải Phóng Miền Nam, nửa xanh nửa
đỏ có ngôi sao vàng.
***
Chúng tôi tới
được bờ Nam sông Sài G̣n th́ cũng vừa lúc tiếng súng lớn nhỏ nổ rộ
bốn chung quanh. Anh bạn trẻ nói cho cả bọn:
- Ḿnh đang
ở giữa một mặt trận rồi.
- Sao anh biết.
- Kinh nghiệm
chiến trường lâu nay.
Một người
trong bọn lắng nghe rồi nói:
- Phía này là quân
bạn.
Rồi anh kéo
một số người đi tiếp. Tôi đắn đo. Anh bạn trẻ lôi tôi đi:
- Phải đi
thôi.
- Nhưng lỡ
lọt vào trận tuyến địch th́ sao.
- Anh quên tiếng M1 nổ rồi à.
Tôi chợt tỉnh,
yên tâm đi theo.
Nắng chiều
gắt gao. Đồng cỏ hừng hực hơi nóng. Cỏ lút đầu người. Mới
đó mà không hiểu mọi người đă tản đi đâu hết. Tôi đành nhắm
hướng các ngọn cỏ lau xao động phía trước mà tiến tràn. Lúc này tiếng
súng nổ ran như pháo Tết ở sau lưng, càng khiến bước chân tôi lội nhanh
về phía trước. Có lẽ tôi đă lạc bọn rồi. Phía trước chỉ là
những làn cỏ lướt trong gió. Không một dấu hiệu nào chứng tỏ đồng
bọn tôi đang trú ẩn. Có tiếng đạn réo trên đầu. Tôi cúi xuống chạy
lúp xúp. Những ngày ở quân trường năm xưa tôi đă quên hết. Bốn tháng giai
đoạn 1 học chiến thuật, 4 tháng sau đó về ngành CTCT rồi ra trường,
chỉ ở văn pḥng. Bỗng tôi thấy 1 người nằm vắt qua bờ mương
nhỏ. Một chiến binh. Bên nào? Bộ quân phục dă chiến đầy bùn quen thuộc,
nhưng đôi giầy “saut” lại bằng vải. Quân đội ḿnh làm ǵ có giầy
nầy. Chợt tôi thấy cái nón cối cách xa đó. Tôi hốt hoảng, rẽ về lối
khác. Thế là ḿnh đang ở trong chiến tuyến của Cộng Quân rồi. Phải ra
thoát. Lúc này 1 cây súng trên tay chắc có ích. Tôi quay lại, nhặt lấy khẩu A.K. bên xác chết.
H́nh như đâu đó có tiếng nói. Tôi lắng tai cố nghe nhưng không thấy ǵ. Chỉ
là tiếng gió rào rạt làm nền cho những tiếng súng từng hồi rộ lên.
Chiều xuống
thấp lắm. Cơn gió đồng mát mẻ thổi trên người bắt đầu
se khô mồ hôi đẫm áo. Phía trước mặt tôi, h́nh như là một thôn xóm. Đă thấy
một lối đi ṃn giữa một băi tha ma trống. Tôi không dám tiến đến băi tha
ma v́ sợ làm đích cho cả hai bên. Lại phải đi ṿng. H́nh như thấp thoáng có một
mái tranh. Và những nóc nhà tranh, nhà ngói hiện ra. Một địa danh chợt đến:
Linh Xuân Thủ Đức ư. Không. Đây phải là Cát Lái rồi. Cánh đồng cỏ lút đầu
vẫn trải dài trong bóng chiều thật nhạt. Tiếng súng vẫn từng chập, ở
mọi phía. Lúc này, h́nh như tôi không phải là tôi nhút nhát, mà lại quen được tiếng
súng nổ. Thỉnh thoảng có vài phút yên tĩnh trên cánh đồng, tôi lại sợ cái yên
tĩnh ấy.
***
Bây giờ th́
tôi khá b́nh tâm. Một vài dấu hiệu quen thuộc trong cảnh chiều đă xuống thấp.
Rơ rồi. Đây là Ngă Ba Cát Lái. Đúng con sông này và con đường nhựa nhỏ tôi đang băng
qua đây. Kư ức chợt hoạt động mạnh mẽ. Biết bao nhiêu chiều Chủ
Nhật tôi đă cùng N. tới nơi này. Dựng xe bên bờ đường, ngồi trên bờ
cỏ, ngắm chiều xuống rồi trở về thành phố ăn một bữa cơm
tây và chia tay. Chả có ǵ nhưng đă là những h́nh ảnh làm tôi nuối tiếc, thèm khát
biết bao khi vào quân trường phải thực tập những bài học lính gác giặc
tại các khu vực này. Bây giờ, cả chục năm đă qua, trở lại chốn cũ
giữa hoàn cảnh khó tả này, h́nh ảnh người yêu cũ lại hiện ra và cũng
cùng lúc h́nh ảnh gia đ́nh ập đến. Bước chân tôi lại dồn dập. Tiếng
súng vẫn ở sau lưng rộ lên nhiều hơn phía trước mặt. Tôi đoán, quân
bạn đang rút về thành phố. Cuộc chiến này sắp chấm dứt rồi sao.
Chấm dứt ngắn gọn như thế sao. Chúng tôi sẽ c̣n lại ǵ. Không thể thế
được. Mậu Thân 1968 chúng tôi đă phản công và chỉ sau 2 tuần, lại làm chủ
t́nh thế suốt từ Nam ra đến Thạch Hăn.
Nhưng bây giờ,
chúng đang đẩy lùi chúng ta. Cuộc chiến bây giờ là trận địa chiến
không phải du kích, đánh lẻ như phần lớn các cuộc đụng độ hồi
1968.
Vậy sẽ
thua sao? Tương lai rồi sẽ thế nào cho một Việt-Nam?
- Đứng lại.
Một tiếng
quát nhỏ đưa tôi về thực tại. Tôi bàng hoàng nh́n trong đêm, phía có tiếng quát,
và đứng sững người, bỏ khẩu A.K. xuống đất.
- Đơn vị?
Tiếng nói
dịu đi. Tôi vội trả lời v́ đoán là quân bạn.
- Chiến Tranh
Chính Trị.
- Ở đâu.
- Sài G̣n.
Một thân người
nhô ra khỏi bức tường. Trong ánh sáng mờ của đêm sao, tôi thấy rơ một
chiến binh Việt-Nam Cộng-Ḥa v́ dáng đứng của anh. Anh ngoắc tay cho tôi lại
gần:
- Di tản miền
Trung vào hả.
Tôi gật đầu,
giải thích:
- Đang công tác
th́ chiến sự lan đến.
- Bỏ chạy
cả phải không.
Anh chiến
binh cười lớn, ngạo nghễ. Một tràng tiểu liên réo trên đầu. Lửa
đạn nhoang nhoáng. Anh đẩy tôi ngă sấp, miệng chửi tục. Cùng lúc, phía bức
tường, từng tràng trung liên khạc lửa, đinh tai nhức óc.
Anh chiến
binh bảo tôi:
- Lấy súng
rồi t́m chỗ nấp. Chúng đă ḍ ra bọn ḿnh rồi đó.
Có tiếng gọi
chiêu hàng xa xa:
- Các anh hăy bỏ
súng xuống. Ḥa b́nh đă tới rồi. Cách Mạng sẽ khoan hồng cho các anh. Đừng
ngu xuẩn điên cuồng chống lại Cách Mạng, chống lại nhân dân.
Lại một
tràng trung liên xuyên về hướng đó. Anh chiến binh chửi tục. Anh nói với tôi:
- Anh rút theo đồng
bào hay ở lại chiến đấu với tụi tôi.
Tôi vội vàng:
- Tôi phải
về Trung Ương báo cáo công tác ngay không thể ở lại với các bạn được.
Bạn có thể cho biết đơn vị nào đang chặn địch ở đây không.
Anh lẩm bẩm
:
- Đơn vị.
Chính tôi cũng không c̣n biết nữa. Rút chạy từ Qui Nhơn, tôi đă lạc đơn
vị.
- Vậy anh
đang chiến đấu với ai.
Anh hất đầu
về phía bức tường.
- Tổ trung
liên kia gồm một Dù, một Biệt Động Quân và một Bộ Binh. Họ không nói nhưng
nh́n quân phục và huy...
Tiếng nổ
chát chúa ngay bên tai, khói mù mịt. Tiếng những bước chân chạy và tiếng vũ
khí va đập. Thoáng có tiếng gọi:
- Rút vào trong
thôn đi các bạn.
Thấp thoáng
tôi thấy cả chục bóng đen di chuyển. Tôi cố gắng len lỏi theo họ, qua
các hàng rào tre, gỗ, kẽm gai, tường gạch. Vẫn là tiếng anh chiến binh lúc
đầu:
- Nếu anh
không ở lại th́ nên đi phía này ra xa lộ mà kiếm xe về Sài G̣n. Bọn tôi sẽ
về chân cầu xa lộ...
Tiếng súng
chợt nổ rền 4 phía. Chúng tôi đang ở trong một thôn xóm. H́nh như chúng tôi đă
bị bao vây tứ phía. Anh chiến binh kéo tôi chạy vào trong 1 căn nhà gạch. Có tiếng
nói gằn giọng:
- Chạy đâu nữa, kiếm 1 vị trí chiến
đấu đi.
Tôi chợt nhận
ra quanh tôi có rất nhiều người. Phần lớn là chiến binh. Tôi không rơ họ thuộc
đơn vị nào. Nhưng tất cả, quân phục đều tả tơi, nhưng vũ
khí lại rất đầy đủ. Một người trong nhóm nói:
- Chúng ta không
thể tụ cả lại đây được. Phải phân tán ra.
- Ai chỉ huy
ở đây.
- Tôi.
Mọi người
đều dồn mắt nh́n về phía tiếng người vừa xưng “tôi” dơng
dạc. Nền trời đêm qua khung cửa mở rộng soi rơ một dáng người nhỏ
nhắn nhưng vững chăi. Tự nhiên tôi thấy vững tin và có lẽ những người
chung quanh tôi cũng vậy. Nhiều tiếng nói:
- Chúng tôi sẵn
sàng.
Bỗng có tiếng
một người:
- Chiến đấu
ǵ nữa. T́m đường mà rút thôi.
Người
nhỏ nhắn đanh giọng:
- Đó là ư kiến
của một ḿnh anh. Anh có quyền làm như vậy. Và xin anh ra khỏi căn nhà này ngay.
Rồi với
một giọng cao hơn, người nhỏ nhắn cương quyết:
- Ai muốn
rút cứ việc bỏ vũ khí lại, nhất là đạn và lựu đạn.
Không khí chợt
im lặng, làm tiếng súng bên ngoài càng rơ hơn. Không một ai có cử động bỏ ra
ngoài. Người nhỏ nhắn bắt đầu phân công tác:
- Hai bạn
nào ra nhận định hướng tiến của địch?
Hai bóng người
vụt đứng lên, lẻn qua cửa rất nhanh.
- Tổ trung
liên án ngữ đường vào thôn.
- Rơ.
Ba người
vác súng và đạn chuyền qua cửa sổ ra sau vườn căn nhà.
- Các bạn
c̣n lại, vũ khí đạn dược c̣n được bao nhiêu?
Nhiều tiếng
nói lao xao. Người nhỏ nhắn tiếp:
- Không sao. Chúng
ta cố gắng cầm cự, rút đến chân cầu xa lộ là có đủ đạn
dược rồi. Ở đó có một đơn vị Dù đang trấn cầu. Bây giờ
tôi chia như sau, 3 người một nhóm. Nhóm 1, bên phải căn nhà chế ngự hướng
xa lộ. Nhóm 2, bên trái, cũng vậy. Nhóm 3 phía sau nhà, kiểm soát các nhà lân cận. C̣n lại
là nhón 4 trừ bị tại đây. Chúng ta chờ “tiền sát” về sẽ t́m đường
rút ra khỏi thôn.
Mọi người
im lặng thi hành nhiệm vụ. Bây giờ th́ mọi người đều không cần biết
đến địch ở bên ngoài là bao nhiêu, nhưng cứ nghe tiếng súng th́ không thể
nào nghĩ là quân số 2 bên ngang nhau được. Nhưng tất cả đều như
nhớ lại những bài học chiến thuật xưa và văng vẳng câu nói của cán
bộ dạy chiến thuật “phải biết lao vào chỗ chết để t́m ra
đường sống khi bị địch vây hăm hay phục kích”.
Tiếng súng
bên ngoài thưa thớt. Đêm h́nh như đă khuya. Đă nghe rơ tiếng côn trùng rỉ rả khắp
khu vườn tối.
Hai tiền sát
viên trở lại. Tôi nghe rơ từng giọng hổn hển:
- Chúng không vào
thôn. Chúng đang tiến về cầu xa lộ. Chúng đi từng đoàn nghênh ngang. Dân nói,
chúng đông lắm...
Vị “chỉ
huy” của chúng tôi ra lệnh:
- Vậy ta rút.
Bây giờ để toán 3 rút trước, rồi toán 2 và toán 1. Trung liên sau cùng với tôi và
nhóm trừ bị. Thôi, Chúng ta bắt đầu.
Tự nhiên tôi
cảm thấy yên tâm ghê gớm. H́nh như tôi đă trút bỏ được hết nỗi
lo lắng về gia đ́nh. Trước mặt tôi bây giờ chỉ là một cuộc chiến
đấu không cân sức mà chúng tôi phải chấp nhận.
Khi chúng tôi ra
khỏi thôn th́ trời hửng sáng. Phía chân trời một vài vệt đỏ rơ ràng. Một
vài ngọn gió mát lướt trên cánh đồng không xua đuổi được hết
cái oi bức của đêm qua.
Tôi quay nh́n vị
“chỉ huy”. Anh thấp hơn tôi chút ít, da ngâm đen v́ sương gió chiến trường.
Dưới chiếc mũ sắt mà chiếc quai vải bỏ không cài, gương mặt
anh rắn đanh. Đôi mắt thật sáng. Dưới bộ quân phục hoa Dù, vẻ người
của anh vẫn không hết những nét chân chất của người nông dân miền Nam.
Tôi chợt nhận ra nơi ve áo ngực anh cái lon Thượng Sĩ Nhất. Vội sờ
lên cổ áo, tôi mừng thầm nhớ ra là đă tháo bỏ lon Đại Úy của ḿnh. Ṭ ṃ tôi
nhận xét người chiến binh đi cạnh tôi. Trên ve áo ngực anh có 2 lỗ thủng
nơi chỗ thường gắn cấp bực. Phải là một Sĩ quan. Tôi tin thế
và hỏi:
- Anh ở đơn
vị nào?
- Sư Đoàn 1.
Anh tiếp luôn:
- Sư đoàn
tập trung ở Vũng Tầu nhưng tôi bỏ, tính về Sài G̣n t́m xem vợ con ra sao th́
lại kẹt. C̣n anh?
- Tôi đang
công tác ở Đà Nẵng.
Anh giải thích
thêm:
- Anh em ở
đây đủ sắc phục, đủ các đơn vị. Chiều qua tụi tôi t́nh
cờ tụ lại với nhau khi chiến đấu ở dọc xa lộ. Trên cùng một
chiến tuyến mà tôi chẳng biết thuộc đơn vị nào. Đến lúc thưa tiếng
súng, hỏi nhau mới rơ chẳng có ai biết đơn vị ḿnh đang chiến đấu
là đơn vị nào và cũng chẳng có ai là chỉ huy cả. Thế nhưng, anh em vẫn
cứ tiếp tục cầm súng mà không ai bỏ hàng ngũ cả. Thật lạ.
- Bây giờ
th́ có “chỉ huy” rồi đó.
Người
chiến binh đi bên tôi, nghiêm chỉnh trả lời:
- Rất tiếc
là anh không dự 1 trận phá ṿng vây chiều qua của tụi tôi ở Ngă Ba Long Thành. Vị
“chỉ huy” này đă một ḿnh ôm cây Trung liên yểm trợ cho mười mấy
anh em vượt ngă ba phía Bắc xuống phía Nam v́ bên quận Tân Uyên chúng dầy đặc
không c̣n lối nào thoát. Ai cũng sợ phải vượt Ngă Ba v́ lộ trống quá mà. Nhưng
nhờ có khẩu trung liên mà 1 đơn vị có dễ đến cả đại đội
địch không tiến lên được. Có nh́n thấy anh nằm khơi khơi ôm khẩu
trung liên ở bến xe đầu ngă ba mới thấy phục. Ai cũng lên tinh thần cả
nên mới cùng nhau tiếp tục chiến đấu đấy chứ.
Một chiến
binh đi phía sau cũng góp tiếng:
- Chiến đấu không phải để chạy
đâu mà chiến đấu để t́m 1 đơn vị bạn, rồi sẽ nhập
vào chiến đấu qui mô.
Tôi quay lại.
Người vừa nói hất đầu hỏi tôi.
- Phải vậy
không?
Tôi gật, Anh
định nói tiếp vừa lúc vị “chỉ huy” reo khẽ:
- Cầu xa lộ.
Chúng tôi theo “lệnh”,
đi về hướng bờ sông Sài G̣n tránh hướng cầu. Dự định tới
bờ sẽ đi ngược lên tới chân cầu để t́m 1 đơn vị lớn
nào đó đang trấn cầu ngăn đà tiến của địch.
Buổi sáng
một ngày như mọi ngày. Hướng xa lộ vẫn có tiếng xe chạy rào rạt.
Người đi lại có vẻ đông đúc. Có lẽ dân chạy di tản về Sài G̣n.
Vậy chúng sẽ tiến quân lối nào, chúng có dùng xa lộ không. Anh em chúng tôi đang bàn hỏi
nhau th́ chợt nghe tiếng máy nổ dồn dập rồi chiếc T.54 đầu tiên nhô cái
ṇng lên trước. Mạch máu anh em chúng tôi căng thẳng. Ôi! Chúng kiêu ngạo quá! Chúng dám
tiến quân lẫn trên đường di tản của dân. Vị “chỉ huy” thúc
chúng tôi tiến nhanh về phía cầu, bỏ không đi về hướng bờ sông nữa.
Trên xa lộ, một chiếc T.54 bắt đầu rẻ xuống bên đường quay
ṇng về cánh đồng. Chúng đang yểm trợ cho bộ binh qua cầu.
Một tiếng
nổ từ phía cầu. Một cụm khói bốc lên từ chiếc T.54. Thế là đạn
trên tăng vă ra như mưa rào về phía cầu. Chúng tôi quan sát trên cầu. Từng ụ
cát trải dài nhưng tiếng súng vẫn không có. Quân bạn đă rút rồi chăng. Trên mặt
lộ lúc này vắng tanh. Phía sau 3 chiếc T.54 là từng đoàn địch quân đang mở
rộng ṿng tiến lên cầu. Bọn chúng chạy lúp xúp. Có đứa chạy rơi cả
mũ, vội quay lại nhặt. Những chiếc nón cối mới tinh và những bộ
quân phục cũng mới tinh. Chúng tự tin là vào Sài G̣n tiếp thu ư ? Có thế, chúng mới
mặc quân phục mới khi c̣n phải chiến đấu.
Bây giờ th́
chúng đang mở rộng trận tuyến. Có thể như 1 trung đội đang tiến
về phía chúng tôi. Vị “chỉ huy” làm hiệu tay triển khai chiến tuyến.
Chúng tôi, 3 người một, nhanh chóng t́m các ụ chiến đấu. Chúng đă tới gần.
Chúng định làm 2 gọng ḱm bẻ vào chân cầu tiêu diệt quân bạn trên cầu. Vị
“chỉ huy” khai hỏa. Chúng tôi đồng loạt nổ ṛn vào những cái bia sống
rất rơ. Lúng túng mất một lúc tôi mới sử dụng được khẩu A.K. Tôi
cố điều chỉnh để đạn không ra liên thanh, quên hẳn nút điều
chỉnh. Từng loạt người đổ rập, nhưng vẫn là những bóng người
nhấp nhô tiến lại. Có một lúc tôi tự hỏi không biết chúng có được
học chiến thuật không mà chúng - chiến đấu kỳ lạ thế. Cứ xồng
xộc xông vào lưới đạn, đội h́nh lung tung. Tôi chợt nhận ra qui luật
của chúng. Cứ khoảng 5 phút là một đợt tiến lên rồi lại nằm xuống
ngay giữa cánh đồng. Như một cái máy. Khẩu trung liên của chúng tôi như cũng
t́m ra được khuyết điểm đó của chúng nên cũng cứ 5 phút một lại
quạt một tràng. Cuộc chiến đấu căng thẳng. Sức tiến của địch
chậm hẳn lại. Trên cầu súng của bạn lúc này cũng nă xuống như mưa.
Hai chiếc T.54 đă bốc cháy. Nhấp nhô trùng điệp phía xa, địch quân đang
dồn lên. Trên tuyến chiến đấu của chúng tôi đă thủng, cắt rời ba
chúng tôi với anh em cùng vị “chỉ huy”.
Khẩu A.K.
của tôi đă hết đạn. Tôi quăng súng nh́n 2 chiến hữu. Một người
ngoắc đầu bảo tôi rút. Tôi thấy anh nạp băng đạn kép vào khẩu M.16
của anh và say sưa bắn tỉa như muốn yểm trợ cho tôi rút xuống bờ
sông.
Không để
lỡ cơ hội. Tôi lăn ḿnh vào 1 bụi rậm sau lưng rồi cứ len theo các bụi
lau sậy trườn xuống. Tiếng súng mỗi lúc mỗi xa dần. Đến khi nh́n thấy
bờ nước th́ tôi đă cách xa hẳn tuyến chiến đấu rồi. T́m được
một bụi lau lớn, tôi để ngập ḿnh trong làn nước, nh́n trở lại phía
các bạn đang chiến đấu. Phía đó, không c̣n tiếng súng nữa. Phía cầu, khói
bốc mù mịt. Nhiều tiếng nổ lớn dội lên. Tôi mong chiếc cầu sập
xuống. Nhưng không, nó vẫn đó, vẫn vắt qua hai bờ, lưng cầu uốn lên
vạch một đường cong trên bầu trời xanh ngắt. Mặt trời đă cao.
Nước trên mặt đă ấm nhưng ở dưới chân vẫn c̣n buốt. Tôi nh́n
về phía bờ bên kia. Tân Cảng - New Port. Hai chiếc tầu Hải Quân nhỏ vẫn c̣n
đó. Tầu thuyền san sát. Người đen nghẹt trên bến.
Tôi ước
ao bơi được qua sông. Sông quá rộng.
Lúc này tiếng
súng phía cầu chỉ c̣n thưa thớt. Nhưng bầu trời bỗng rền vang tiếng
trực thăng. Tôi mừng thầm. Quân ta đang được trực thăng vận phản
công. Một chiếc Chinook rồi 2, rồi 3 lượn ṿng về phía thành phố. Không có
1 cuộc đổ quân nào cả. Trên cầu đă có bóng nón cối qua lại.
Tôi ngậm ngùi
nhớ vị “chỉ huy”, nhớ các chiến hữu trong mấy tiếng đồng
hồ vừa qua. Họ c̣n sống không.
Bây giờ, 18 năm sau, tôi vẫn nghĩ họ c̣n sống,
những người chiến binh không c̣n binh chủng.
***
Người
kể chuyện vuốt mặt, đứng dậy đi về phía cửa sổ pḥng khách.
Anh kéo cánh cửa kính. Tiếng rào rạt liên tu bất tận của ḍng xe cộ trên đường
phố Cali ào vào pḥng phá vỡ cái không khí trầm mặc của câu chuyện anh vừa kể.
Cả 4 người
chợt nghĩ “Sắp hết ngày Chủ Nhật. Lại sắp bắt đầu một
tuần lễ “đi cầy”.
Một ngày Tháng
Tư
Nguyên Huy
(BÁO Người
Việt)