1lyhuonga.jpg



















3qphucdiendandongtiengif.gif




























Con bướm đen

 và 12 nấm mộ vô danh
Monday, January 05, 2009

 

 

 

 

 

 

Chúng tôi vừa được lá thư của anh Nguyễn Quang Thành (Westminster, California) báo tin người anh ruột là Thiếu tá Nguyễn Quang Khóa, phi công khu trục, tù nhân tập trung sau ngày mất Đà Nẵng đă chết tại trại Kỳ sơn Số 3, Tam Kỳ, Quảng Nam. Anh Nguyễn Quang Thành đă t́m ra nơi chôn Thiếu tá Nguyễn Quang Khóa nhưng không biết đích xác ngôi mộ nào v́ ngôi mộ này nằm chung cùng với 11 nấm mộ vô danh khác.

Chúng tôi xin gởi đến quư độc giả và các chiến hữu bài viết của anh Nguyễn Quang Thành về cựu phi công VNCH Nguyễn Quang Khóa với lời kêu gọi thân nhân gia đ́nh các tử sĩ đă chết trong trại tù này với các lư do bị tử h́nh, hay bệnh tật... mà chưa t́m ra mộ chôn, xin liên lạc qua số điện thoại (714) 829-8264 để cùng nhau t́m cách đưa hài cốt các anh về với gia đ́nh. (Huy Phương)

Nguyễn Quang Thành

Chân thành cám ơn anh Phan Trừng, nguyên Trung tá phi công khu trục, bạn học cùng khóa 61/A của anh tôi, người đă gợi ư cho tôi viết bài này để t́m kiếm nấm mộ thật của anh.

Gia đ́nh tôi ít anh em. Không phải do ba mẹ tôi hiếm muộn mà do thời gian ba tôi ở Pháp khá lâu. Hơn mười năm từ khi mẹ tôi sinh ra anh, hai ông bà mới gặp lại nhau, nên tôi kém anh một con giáp. Mặc dù khoảng cách tuổi tác sai biệt khá nhiều, nhưng anh em tôi đều có điểm tương đồng là cùng yêu thích toán học, nhưng lại đam mê văn chương và ôm mộng viễn du. V́ thế mà chúng tôi đều học ban khoa học Toán và đăng kư gia nhập quân đội sau khi đậu tú tài toàn phần.

Mùa Hè 1960, anh tôi nhập học khóa 61/A SVSQ-KQ. Khoảng tháng sau lại có giấy báo nhập học ban Toán của trường ĐHSP gửi về nhà, ba tôi mở ra, đọc đi đọc lại nhiều lần, mặt đăm chiêu, ra chiều nghĩ ngợi nhiều lắm.

Mười năm sau, tôi cũng vừa thi vào ĐHSP đồng thời làm đơn xin gia nhập trường Vơ Bị Đà Lạt để được sống và học tập trong khung cảnh hào hùng và thơ mộng của vùng đất cao nguyên mà tôi đă bị quyến rũ trước đây qua bài Ai Lên Xứ Hoa Đào của nhạc sĩ Hoàng Nguyên và một số h́nh ảnh của người SVSQĐL trong đoạn phim giới thiệu về trường VBQG Đà Lạt đă chiếu tại trường vào dịp cuối năm lớp Đệ nhất (12) trường Quốc Học Huế.

Tôi đă trúng tuyển vào trường ĐHSP nhưng không thấy giấy báo nhập học trường VBQGĐL gửi về nhà. V́ thế, sau này tôi đă trở thành một giáo sư ban Khoa học tại một trường nữ trung học đúng theo ư nguyện của ba mẹ

tôi, nhưng không bao giờ quên h́nh ảnh hào hùng và lịch lăm của một người trai thế hệ mà ḿnh thường mơ ước.

Sau khi học ĐHSP được vài tháng, nhân một buổi ăn tối của gia đ́nh, ba tôi mới ôn tồn cho tôi biết là ông đă nhận được giấy báo của trường VBQGĐL gửi về nhà cho tôi, nhưng không cho tôi biết, v́ anh tôi đă là pilote de guerre (ba tôi mắc bệnh nói nửa Việt nửa Pháp như ông thường viết các đơn thuốc cho bệnh nhân) vào sinh ra tử trên bốn vùng chiến thuật. Anh tôi du học tại Hoa Kỳ năm 1961. Gia đ́nh tôi đều đặn nhận được thư từ và h́nh ảnh của anh tôi chụp tại các trường huấn luyện phi công, luôn luôn kèm bên chiếc phi cơ đă bay hoặc các h́nh ảnh chụp tại các tiểu bang đă đi qua nhân dịp cuối tuần hoặc các dịp lễ lạt. Tôi ước mơ một ngày nào đó ḿnh cũng được như vậy. Ngoài thư từ gửi cho gia đ́nh, anh c̣n gửi cho chị M.T., sinh viên trường Cán Sự Y Tế, con gái của một người bạn của ba tôi mà ba tôi đă chấm theo tiêu chuẩn: công dung ngôn hạnh cho anh trong lúc anh chưa một lần gặp gỡ. Nhiều lần tôi cảm thấy xót xa cho chị khi chị đưa lá thư anh gửi cho tôi xem:

Người ơi, gặp gỡ làm chi

Trăm năm biết có duyên ǵ hay chăng

Năm 1963, anh về nước. Hai câu thơ trên trích trong tập truyện Kiều của cụ Nguyễn Du mà anh đă lồng vào trong bức thư gửi cho chị như một định mệnh đă an bài. Ba tôi đă phải nói lời xin lỗi với cha mẹ chị, v́ việc đi hỏi chị là do ba tôi đơn phương quyết định. Dĩ nhiên, anh tôi từ đó không về nhà, cứ ở măi Sài g̣n. Lúc đầu, anh ở Liên phi đoàn 33 Vận tải tại căn cứ Tân sơn nhất, sau đó chuyển qua khu trục ở phi đoàn 516 tại căn cứ Biên Ḥa. Bộ áo bay của anh tôi màu đen với khăn choàng cổ màu tím, tôi thường thấy anh tôi mặc trong những phi vụ đặc biệt. Tự nhiên tôi có sự liên tưởng giữa hai h́nh ảnh này: tuy hai mà một, tuy một mà hai.

Thời gian dần trôi, t́nh h́nh chiến sự ngày càng ác liệt, anh tôi được điều động ra căn cứ Đà Nẵng. Ác liệt nhất là trận đánh Tết Mậu Thân 1968 và sau đó là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Chiếc phản lực cơ A37 bị bắn rơi trên bầu trời Cổ Thành Quảng Trị, anh nhảy dù thoát hiểm và may mắn được một trực thăng cứu thoát, đưa về căn cứ Đà Nẵng an toàn. Năm đó, tôi đang học năm thứ hai. Vừa ra khỏi giảng đường, một con bướm đen to bằng bàn tay bay lởn vởn và đậu trên vai tôi vài tic tắc rồi biến mất. Sau đó tôi gặp một thiếu úy phi công trực thăng đến trường t́m một người bạn trai, vô t́nh kể lại chuyện anh ta vừa cứu thoát một thiếu tá phi công A37 bị bắn rơi tại Quảng trị, tôi nghe chuyện và hỏi tên của người phi công bị nạn, th́ ra người phi công khu truc đó chính là anh tôi. Sau này, trong tập san Lư Tưởng của binh chủng không quân có đăng bài “Cánh Thiên Thần Trên Bầu Trời Trời Cỗ Thành Quảng Trị” của kư giả L.R. viết về anh lúc cánh dù nở ra từ chiếc chiến đấu cơ lâm nạn trên vùng trời lửa đạn.

Bạn bè cùng khóa 61A và các khóa sau đă có một số người ra đi ra không bao giờ trở lại, như tráng sĩ Kinh Kha qua sông Dịch không hẹn ngày về. Chiến tranh đồng nghĩa với mất mát, đau thương, cô đơn, giá lạnh.

Một biến cố khó quên đối với gia đ́nh tôi xảy ra vào ngày 29/3/1975 sau khi tôi nhận bằng tốt nghiệp và sự vụ lệnh bổ nhiệm làm giáo sư tại trường trung học được vài tháng th́ Đà Nẵng ngày hôm ấy đang trong cơn hấp hối. T́nh h́nh chiến sự vô cùng căng thẳng. Anh tôi một ḿnh lái xe jeep ra nhà, hối hả chở cha mẹ tôi vào phi trường Đà Nẵng, c̣n tôi không liên lạc được phải chạy một ḿnh ra cảng Tiên Sa để mong thoát thân bằng đường biển. Vừa đến cảng th́ bị pháo kích cấp tập, tôi chỉ kịp nằm bẹp xuống một mương nước, c̣n chiếc valy trong tay rơi vào lúc nào, ở đâu th́ không c̣n biết nữa. Một quả đạn pháo kích rơi ngay trước mặt tôi chừng mươi thước, đúng lúc một chiếc xe jeep trờ tới. Mọi người trên xe bị hất tung lên và trở thành tro bụi trong phút chốc.

Quá hoảng sợ, tôi chạy lùi theo một số người t́m đường ra biển Sơn Trà. Một vài chiếc phi cơ bay vút qua, hướng về biển Đông. Tôi ngửa mặt lên trời, ước ǵ ở trên trời cao có anh tôi thấy, để cứu vớt tôi. Thế nhưng, tất cả đều đă bay xa cho đến khi chỉ c̣n là vài chấm đen trên nền trời ảm đạm. Lúc đó tôi đă ra đến bờ biển Sơn Trà và gặp được một chiếc tàu đánh cá đang đậu cách bờ chừng vài trăm thước. Mừng quá, tôi cởi vội quần áo và lao nhanh xuống biển. Lúc tay tôi chạm vào mạn tàu th́ cũng là lúc trên bờ xuất hiện một số người có vũ khí cầm tay, ra hiệu cho tàu vào bờ. Một số người trên tàu vội vă kéo tôi lên đồng thời tàu nổ máy chạy thẳng ra khơi. Nhóm người vơ trang nhắm thẳng vào tàu bắn liên tục, nhưng chỉ làm bị thương một người trên tàu, c̣n lại đều vô sự. Một tiếng sau, tàu này được tàu HQ VNCH cứu vớt và sau đó chuyển lên một chiếc tàu của HQ Hoa Kỳ.

Trên boong tàu, tôi hướng mắt nh́n vào phía đất liền. Mịt mù trùng khơi. Biển vây kín biển cả. Tiếng sóng vỗ ào ào. Tàu lắc lư chao đảo. Tôi ngửa mặt lên trời, tự nhủ: có phải đây là giờ phút vĩnh biệt của anh em tôi? Đột nhiên bầu trời trở nên u ám, vài hạt mưa đă rơi nhanh xuống sàn tàu.

Sau này, được một người quen cho biết: vào khuya 29/3/1975 anh tôi đă lên được một chiếc A37 nhưng chiếc này đă bị phá hủy. Bay không được, nên phải ở lại, trở thành tù binh tại trại tù số 3 Kỳ Sơn, Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Hơn một năm sau, trong lúc gia đ́nh tôi đang ăn cơm trưa, bỗng nhiên có một con bướm đen to bằng bàn tay, bay ṿng ṿng trong pḥng và đậu lên vai từng người rồi cuối cùng đậu ngay chính giữa bàn thờ của gia đ́nh. Năm phút sau, có người đến nhà báo tin là anh tôi đă chết trong trại tù. Mọi người đều sửng sốt, nhưng không dám bật thành tiếng khóc. Đến khi b́nh tĩnh lại, nh́n về phía bàn thờ th́ con bướm đen cũng đă vỗ cánh bay ra khỏi nhà. Đêm hôm đó, tôi nằm mơ thấy anh tôi mặc bộ áo bay màu đen với khăn quàng màu tím, đang lái chiếc xe jeep về nhà nhưng máu đă đẫm ướt phi bào.

Hai mươi năm sau, một ḿnh tôi trở lại vùng rừng thiêng nước độc, nơi mà anh tôi đă bị lưu đày, khổ nhục. Trại tù giờ đây chỉ là một vùng lau lách và đầy cỏ dại, rất khó xác định. Nghĩ ḿnh đă vượt núi, băng rừng, lội qua nhiều con suối trong mùa nước lũ, chẳng lẽ bó tay trở về. Trời đă nhá nhem tối, tôi th́ thầm khấn nguyện anh tôi. Bỗng nhiên, từ đâu một con bướm đen to bằng bàn tay, bay đến trước mặt tôi, như có ư dẫn đường. Tôi tiếp tục khấn nguyện. Con bướm đen bay ṿng ṿng, tôi chạy theo và bị té sấp vào một bờ đất. Sau phút hoảng hốt, tôi lồm cồm ḅ dậy và nhận ra một số nấm mộ nho nhỏ nằm khuất dưới đám cỏ dại. Tất cả gồm 12 nấm mồ vô chủ. Hỏi người địa phương, họ bảo đó là mộ của số tù binh đă chết tại trại 3 Kỳ Sơn. Tôi vội vàng hốt 12 nắm đất bỏ vào 12 bao nilon nhỏ, đánh số thứ tự và cất cẩn thận vào túi xách rồi đi bộ đến nhà dân xin tạm trú qua đêm. Sáng hôm sau lại vội vă về Tam Kỳ, t́m đến nhà một thầy ngoại cảm. Thầy cho biết anh tôi nằm ở nấm mộ số 3. Tôi quay lại đặt bia ghi nhớ. Sau này cháu tôi tưởng đó là nấm mộ thật của ba cháu, nên đă xây cất và dựng lại bia mộ, đồng thời chụp ảnh để ghi nhớ và không quên xây thêm 11 ngôi mộ c̣n lại.

Cho đến nay, mặc dù đă định cư trên đất Hoa Kỳ, nhưng tôi vẫn mong một ngày nào đó trở về Việt nam để t́m ra nấm mộ chính xác của anh tôi bằng phương pháp khoa học, để đưa nấm tro tàn của anh tôi sang Hoa Kỳ, và hương linh anh tôi hưởng được một không gian tự do, no ấm, nhân bản và đầy ánh sáng văn minh nhân loại như trước đây anh đă từng du học.

Di ảnh của anh, tôi đă đưa vào thờ tại chùa Huệ Quang, góc Westminster- Euclid thuộc thành phố Westminster. Mă số di ảnh là 1572.

Mơ ước trên đây của tôi cũng không dễ dàng thực hiện, nếu không có sự hợp tác của thân nhân 11 nấm mộ khác cũng như sự giúp đỡ của quí bạn đồng khóa 61 A của anh tôi, hội không quân và quí tổ chức nhân đạo khác. Tôi hằng khấn nguyện linh hồn các người tù oan khuất này chỉ đường dẫn lối để những người thân yêu của các anh có thể có cơ hội đem hài cốt các anh về.

 

 

1lyhuonga.jpg






 

 

Cơn lốc thời gian

 

 

 

Phải! Anh là một người lính! Một người lính thật sự với đầy đủ mọi ư nghĩa giản dị và thuần túy của nó. Người lính của thập niên trước đây ở miền Nam, nơi mà tuổi thơ anh đă vươn ḿnh, lớn lên rồi trưởng thành ở đấy.

Làm sao mà anh có thể quên được từng ngôi trường mà trước đây anh thường ngồi, cho đến các bài học thuộc ḷng, cùng những bài lịch sử oanh liệt, ca tụng tinh thần đấu tranh bền bỉ của dân tộc ta. Từng bài công dân nồng nàn, dạt dào. Anh đều nhớ rơ tất cả. Chưa bao giờ anh quên! Chưa bao giờ! Từng khuôn mặt bạn bè cho đến các đồng đội đă sát cánh với anh trên cùng một trận tuyến trong cuộc chiến tranh vừa qua. Anh không khi nào phủ nhận, hoặc chối bỏ về quá khứ của chính ḿnh, mặc dù quá khứ đó không có ǵ đáng nói cho lắm. Lúc nào anh cũng tỏ ra hănh diện về con đường chông gai mà anh vừa đi qua. Lương tâm không bao giờ cho phép anh cầm bất cứ mũi dao nhọn nào để đâm lại bạn bè hoặc đồng đội anh trước đây, hầu mưu cầu lấy sự sống c̣n cho riêng chính bản thân ḿnh. Anh cho đấy là hành động đê hèn, bẩn thỉu và xấu xa nhất.

Ngược lại, ngay chính em cũng vậy. Em sinh ra rồi lớn lên ngay trên mảnh đất thân yêu miền Nam này. Nó gắn bó, ăn sâu vào tiềm thức em bằng các h́nh ảnh thân thuộc, cùng mọi diễn biến về t́nh cảm, thể hiện trong đời sống hằng ngày, đúc kết thành chuỗi xâu lụa là của kỷ niệm. Anh nghĩ rằng: Không khi nào em có thể quên được, mặc dù em cố t́nh lẩn trốn hoặc chối bỏ, khước từ dĩ văng. Từ con đường ngày xưa mà em thường đi qua, cho đến người t́nh xa xăm đă gục ngă, vùi thây trong khoảnh rừng già âm u, ngút ngàn, tận vùng cao nguyên hẻo lánh, nơi anh đồn trú trước đây. Tín chết! Chết một cách khủng khiếp trong trận đánh khốc liệt, dữ dội. Chính anh chứng kiến tận mắt nó chết. Chết vội vă, tức tưởi. Trong khóe mắt sâu hút, anh đọc thấy được nỗi khắc khoải, băn khoăn c̣n đọng lại, phảng phất ở nơi đấy. Nó chết đi và cuốn theo mộng ước b́nh dị, dở dang vào không gian bất tận. Chính anh đành phải bất lực trước sức phản kháng dữ dội của địch quân. Với biết bao nhiêu đợt xung phong để rồi cuối cùng, anh vẫn không tài nào lấy được xác nó. V́ thế mà đơn vị anh phải hứng chịu lấy những trận mưa pháo kinh hoàng cùng các cuộc tấn công ồ ạt, điên cuồng, tơi tả, thê thảm như chiếc áo rách rưới, loang lổ bám trên thân h́nh tiều tụy của người dân vùng kinh tế mới.

Anh thoát chết trong trận đánh ấy là nhờ vào bản tính liều lĩnh, nẩy sinh ra ư định táo bạo, mở đường máu t́m sự sống. Anh đánh điện tín về Sài G̣n, báo tin cho em hay. Vài ngày sau, anh nhận được thư em với đầy rẫy lời lẽ đay nghiến, trách cứ anh thậm tệ. Anh im lặng, sững sờ nghe ḷng ḿnh tê buốt. Anh tưởng rằng sau cái chết của Tín sẽ làm cho em chua xót, sống âm thầm bên các công thức, phương tŕnh cũng mọi khuôn mặt ngây dại đóng khung ở lớp học. Anh vẫn c̣n nhớ câu mà em thường nói với anh:

"Đời em chỉ có Tín là tuyệt đối. Nói dại, ngộ nhỡ sau này Tín có mất đi, em sẽ trở thành vô nghĩa giữa ḍng đời rộng lớn này."

Nhưng rồi em đă quên! Quên đi một cách vội vă, nhanh chóng. Anh phân vân tự hỏi: "Sao vậy?" Phải chăng đó là phương tiện, cứu cánh để chạy trốn dĩ văng. Anh t́m đủ mọi lư do để biện minh cho em. Em c̣n trẻ. Trẻ thật sự. Anh biết điều ấy. Em bước lên xe về nhà chồng vỏn vẹn sau bốn tháng Tín mất. Anh nhớ, đă có lần em khoe với anh vào dịp phép ngắn hạn:

"Bây giờ th́ em đầy đủ quá rồi. Em chẳng c̣n thiếu bất cứ thứ ǵ, từ tinh thần cho đến vật chất."

Em ngừng lại trầm ngâm giây lát rồi nói tiếp:

"Anh Ngữ mỗi ngày hai buổi đi làm. Em cũng thế. Cháu Lan th́ c̣n nhỏ, ở nhà với bà ngoại. Cháu rất ngoan anh ạ! Như vậy, em c̣n đ̣i hỏi ǵ nữa bây giờ? Em măn nguyện lắm rồi. Chân lư về hai chữ hạnh phúc là ǵ hở anh? Phải chăng đó là thành tựu của mọi cố gắng mà ḿnh đă xây dựng được. Có phải đúng như vậy không anh?"

Anh lưỡng lự, suy nghĩ về câu nói ấy. Nó như thứ âm hưởng, vương vấn thường xuyên nơi đầu óc anh, cũng giống như món hành trang đem theo anh trên những chặng đường hành quân diệu vợi. Thời gian cứ lạnh lùng trôi qua. Anh vẫn chỉ là người lính không hơn không kém. Anh giẫm chân xuôi ngược trên các khoảnh rừng già biên giới Tây Nguyên, cho đến miền śnh lầy của vùng bốn chiến thuật. Anh vẫn là anh. Miệt mài và thầm lặng. Từ chiến trường Ben Hét nẩy lửa. Chư Pa heo hút. Daksan ngùn ngụt khói súng. Căn cứ hỏa lực năm kinh hoàng trong mưa pháo của địch quân. Chính anh nằm trên ngọn đồi ấy ṛng ră suốt ba ngày đêm không ngủ. Với ba ngày đêm khiến cho thần kinh anh bị căng thẳng tột cùng. Mọi tế bào trên thân thể anh hầu như muốn vỡ tung ra. Anh cùng đồng đội phải nằm dưới giao thông hào, chăm chú, quan sát, hầu đối phó với từng đợt tấn công điên cuồng, liên tục. Đầu óc anh lúc bấy giờ bị quay cuồng trước các tọa độ phản pháo, các hỏa tập cận pḥng cùng mọi từ ngữ quân sự quen thuộc để điều chỉnh những phi tuần oanh kích. Anh tưởng rằng, ḿnh sẽ chết trong trận đánh ấy! Nhưng anh vẫn sống và trở về Tân Cảnh để nhận sự vụ lệnh thuyên chuyển về miền Tây śnh lầy. Trong lần này, anh lại có dịp gặp em ở Sài G̣n. Em với Ngữ mời anh ăn cơm, với dụng ư là mừng anh thoát nạn. Dí dỏm hơn nữa, em c̣n xin lễ tạ ơn cho anh. Anh vô cùng cảm động trước tấm thịnh t́nh đó và đóng khung nó vào cái vị trí đặc biệt trong toa tàu kỷ niệm ở trong anh.

Sau lần gặp gỡ ấy, anh lại tiếp tục lầm lũi, âm thầm đi vào chiến trường mới. Từ Chương Thiện, U Minh, Cam Bốt, Cà Mau, Kiến Phong, Kiến Tường, Cô Tô, Ḥn Me, Ḥn Sóc. Nơi nào anh cũng đến rồi đi. Máu cùng mồ hôi anh từng nhỏ xuống đấy, thấm luồn vào mạch đất. Đă bốn lần trực thăng đưa anh từ chiến trường về quân y viện điều trị. Bốn lần xuất viện, nghỉ dưỡng bệnh rồi quay đầu trở lại chiến trường.

"Đời anh là cả một chuỗi ngày dài sương gió." Chính em thốt lên cân nói ấy. Phải! Đúng thế! Đời anh gắn liền với mặt trận, đối diện trực tiếp với sự chết. Anh không thích sống ở văn pḥng. Kiểu cách và khúm núm. Điều đó anh không thích. Anh không muốn luồn cúi và nịnh bợ. Chính v́ điểm này mà đời anh mới khổ.

Anh lầm lũi trong đời sống tác chiến, để rồi trong thoáng giây ngơi nghỉ, chuếnh choáng trong cơn say, hầu tạm quên đi nỗi xót xa, nhọc nhằn, nghiệt ngă khoác lên trong cuộc sống. Chưa bao giờ anh khước từ bất cứ mục tiêu nguy hiểm nào! Anh vẫn là người lính có kỷ luật với đầy đủ mọi ư nghĩa thầm kín của nó. Quân đội chỉ có kỷ luật. Bởi v́ điều dễ hiểu: Kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Trong binh thư cũng chưa hề dạy anh đầu hàng một cách nhục nhă như vậy. Cuối cùng rồi bài toán cũng dẫn tới đáp số chua chát bằng cả sự thất bại toàn diện ở miền Nam. Anh cùng đồng đội đành phải miễn cưỡng buông súng, để rồi nhận lănh cái hậu quả ê chề đè nặng xuống người anh.

Thấp thoáng mà mười năm qua đi. Mười năm trôi qua đời anh chẳng khác nào cơn ác mộng hăi hùng. Anh vẫn là anh. Anh vẫn sống, thở đều đặn, đi, đứng, ngồi, ngủ như mọi người khác. Với mười năm cuốn trọn nơi tâm tư anh, vỏn vẹn có mỗi một điều duy nhất, là không khi nào anh quên được cái biến cố của mười năm trước đây. Nó ghi lại trong kư ức anh bằng những đắng cay, ê chề mà theo anh nghĩ, khó có thể nào nhạt phai ở cuộc đời c̣n lại. Anh cố gắng quên đi tất cả để sống im lặng với chuỗi ngày tháng hờ hững trước mặt. Anh ráng t́m cách xua đuổi, tẩy uế các vết thương ấy ra ngoài tâm thức, nhưng ngược lại, nó chẳng khác nào như chứng bệnh nan y, lở loét, ung thối, bám cứng thường xuyên ở tim anh. Chưa bao giờ anh xây dựng bất cứ ước vọng to lớn nào cả! Chưa bao giờ! Anh muốn sống b́nh thường, giản dị như mọi người khác, hầu tích lũy vốn liếng căn bản cho tương lai những đứa con anh đương sống ở Việt Nam. Chúng đang đi trên vỉa hè thối tha ở Sài G̣n. Chúng đương ngủ chập chờn hoặc suy nghĩ về thân phận mơ hồ của người cha chúng nó trước đây. Chúng đương bị tiêm nhiễm, đầu độc bởi cái lư thuyết mù quáng, vong bản, đi ngược lại với những nguyện vọng thiết tha của dân tộc. Chúng sẽ bị lôi cuốn, nhập cuộc vào các cuộc chiến tranh phi lư, vô nghĩa. Anh không biết phải làm ǵ bây giờ! Thất vọng, anh phác lên cử chỉ yếu ớt. Hằng bao nhiêu người chôn vùi tuổi xuân vào chiến trường Campuchia. Bao nhiêu người ra đi vĩnh viễn để xây dựng lư tưởng hăo huyền, mù quáng. C̣n bao nhiêu người nữa để chuẩn bị lấp vào cái khoảng trống rộng thênh thang đó! Chán nản, anh cất nhẹ lên tiếng thở dài, buông thả niềm suy tư, nổi trôi về quá khứ của giai đoạn lịch sử tang thương nhất. Lịch sử sau này sẽ viết ǵ về thời điểm ấy! Viết ǵ! Cho đến bây giờ anh mới nhận chân ra rằng: Chính biến cố năm một ngh́n chín trăm bảy mươi lăm mới phơi bày, lột tả hết được từng góc cạnh về chữ "trung", chữ "tín" cùng mọi thái độ hèn nhát, đê tiện váng lên tại cái trại tù được mang tên là cải tạo. Cũng chính cái biến cố đó mới chứng minh được những người đàn bà can đảm, sống v́ chồng và tận tụy với chồng. Nhờ đấy mới nhận ra được chân tướng của những kẻ bội bạc, phũ phàng. Họ quên đi nhanh chóng, vùi dập quá khứ một cách trắng trợn, trơ trẽn. Điển h́nh ngay chính em cũng nằm trong cái hàng ngũ xấu xa, nhơ nhớp đó. Em đang tâm xoay lưng, chối bỏ cả quá khứ để chung sống với kẻ thù địch của chồng ḿnh. Hoàn cảnh ư? Điều ấy anh không bao giờ tin! Em đoạn tuyệt với tất cả mọi kỷ niệm vàng son, óng ả của một thời dĩ văng. Chính em là tên hung thủ giết Ngữ không gươm giáo. Cuối cùng nó phải chết tức tưởi trong nhà tù. Nó chết đi mà tâm tư nó c̣n đem theo niềm uất hận. Sao em lại quá nhẫn tâm như vậy? Sự thật ngay chính anh cũng không có thể nào ngờ được. Những sợi mưa đầu mùa tiễn đưa Ngữ đến nơi an nghỉ quạnh hiu. Đêm hôm ấy, anh cảm thấy ray rứt, buồn rũ rượi. Cuộc đời là những dấu chấm, dấu hỏi cùng chuỗi chán trường dài lê thê. Em thật sự là kẻ đă lột xác, thay đổi toàn diện từ thể chất đến đời sống tâm linh chính ḿnh. Em cố t́nh quên đi tất cả góc trời vàng son ở dĩ văng, để đuổi theo rượt bắt những ảo tưởng phù phiếm trước mặt. Em tung hô, đề cao những kẻ xấu xa, phản bội lại dân tộc. Nghĩ đến đấy, anh phân vân tự hỏi: Anh không biết tại nguyên nhân hoặc động lực nào đă thúc đẩy em xoay chiều trên lănh vực tư tưởng! Bao nhiêu đêm anh trằn trọc suy nghĩ. Bao nhiêu đêm anh vẫn chẳng t́m ra được câu trả lời thích đáng. "Chính các anh là những kẻ có tội với tổ quốc và nhân dân." Anh nhớ măi câu nói ấy mà em nói với anh vào lần gặp gỡ đầu tiên, kể từ ngày anh ra tù, và đấy cũng là lần anh chuẩn bị giă từ Sài G̣n.

Bây giờ th́ anh đương đứng ở bên đây bờ đại dương. Một vùng đất hứa xa lạ với anh về tất cả mọi phương diện. Quê hương chỉ c̣n là h́nh ảnh lung linh, mờ ảo, tiềm ẩn ở tâm trí. Ở đây, hai chữ tự do được tôn trọng triệt để. Anh không c̣n cái cảm giác hoang mang, hồi hộp trước bóng dáng công an đứng lầm ĺ trên đường phố Sài G̣n trước đây. Anh chiêm nghiệm về ư nghĩa cao quí, đích thật của hai chữ tự do. Chỉ có tự do mới là hạt giống vô giá nhất để ươm lên cái thảm nhung mượt mà, bóng bẩy của hạnh phúc. Hành trang mà anh mang đến đây chỉ c̣n lại có số kỷ niệm và mọi h́nh ảnh thân thuộc. Vỏn vẹn thật đơn giản mà anh cũng vẫn sống. Sống để hun đúc niềm hy vọng về một ngày nào đó, anh sẽ trở lại và đi trên từng con đường quen thuộc xưa cũ. Ghé vào các quán cóc bên vỉa hè mà trước đây anh thường ngồi. Anh tin chắc rằng, ngày đó sẽ đến và phải đến. Lịch sử sẽ quay đều, liên tục vào không gian lẫn thời gian bất tận. Lịch sử sẽ chẳng bao giờ ngừng lại. Đấy là điều khẳng định chắc chắn. Làm sao mà em có thể biết được những ǵ sẽ xảy ra ở hôm nay lẫn ngày mai! Làm sao mà em có thể quả quyết rằng, chế độ Cộng Sản hiện nay sẽ tồn tại, bất diệt! Theo anh, rồi đến một ngày nào đó, chế độ ấy sẽ phải đi xuống và tuần tự ră ra, cũng giống như những tảng băng trên vùng Bắc Cực bắt đầu chuyển ḿnh vào một ngày Hạ nắng ấm. Đấy! Em cũng thấy: Chiến thắng Mùa Xuân năm một ngh́n chín trăm bảy mươi lăm đưa bạo quyền miền Bắc lên đến đỉnh cao của vinh quang, th́ cũng chính chiến thắng ấy đă đánh dấu sự phân hóa, lũng đoạn trên bề mặt của hệ thống tư tưởng. Nhờ vào năm bảy mươi lăm nhân dân miền Bắc mới nh́n thấy rơ được đời sống của nhân dân miền Nam. Từ đó họ mới có ư niệm sâu sắc về hai chữ tự do, để rồi dẫn tới thái độ đánh giá và so sánh, đồng thời mới thấy được dă tâm thâm độc của chế độ. Nhân dân trở nên mất niềm tin vào tập đoàn thống trị. Trong khi ấy, trên cơ cấu thượng tầng kiến trúc, thường xuyên diễn ra những tần bi kịch tranh chấp v́ ảnh hưởng, quyền lợi. Đấy là anh chưa đề cập tới các tệ trạng thối nát đương bành trướng, hoành hành, thao túng dưới hàng ngũ của hạ tầng cơ sở. Phải chăng đó là hiện tượng mở màn dẫn đến con đường suy thoái cho cả một chế độ. Bao nhiêu mâu thuẫn, hoài nghi đương thấm dần, đục khoét, xoáy ṃn nơi tâm năo người cán binh Cộng Sản. Họ được bù đắp ǵ sau khi toàn thắng ở miền Nam? Trong khi đó, chế độ lại theo đuổi tham vọng mù quáng là xô đẩy nhân dân vào cuộc chiến tranh phi lư ở Campuchia. Chính họ là những tay đồ tể khát máu và hung bạo nhất trong lịch sử của dân tộc. Họ chà đạp lên nhân dân Việt Nam, lợi dụng xương máu của đồng bào để mưu cầu những tham vọng điên cuồng, bất chánh. Lịch sử sau này sẽ gay gắt lên án họ. Họ mới chính là những kẻ phản bội lại tổ quốc.

Bao nhiêu năm rồi! Bao nhiêu năm đưa họ đạt tới mục đích cuối cùng, đó là chiến thắng ở miền Nam, đồng thời đề ra chính sách cải tạo xă hội ở miền Nam lên ngang hàng với xă hội miền Bắc, theo chiều hướng đi lên của chủ nghĩa xă hội. Thử hỏi, với công cuộc xây dựng xă hội, họ đă đạt đến được những thành quả nào rực rỡ, ngơ hầu kiến thiết tương lai hứa hẹn, ngời sáng đến với đất nước. Anh không đồng ư với em về quan điểm lẫn lập luận cho cho nhân sinh quan theo chiều hướng của Marx. Giữa lúc mọi người đang thức tỉnh nh́n thấy mọi sai lầm, nằm trơ trẽn trên b́nh diện của lư thuyết đó, th́ ngược lại ngay chính em lại cuồng tín, ca tụng, cổ vơ cho đường lối phi nghĩa, vô nhân đạo. Nghĩ đến đấy, anh cảm thấy tâm tư ḿnh đau nhói, buồn rũ rưỡi.

Anh vẫn đi! Đi miệt mài, phiêu lăng trên khoảnh trời xa lạ. Cuộc đời chẳng khác nào v́ sao đổi ngôi, phải không em? Anh chính là tên lăng tử, lê gót trên nẻo đường vô định. Trong thoáng giây dừng bước, anh chạnh nhớ về em, về các con cùng mọi khuôn mặt đăm chiêu trên vỉa hè Sài G̣n. Anh đem niềm nhung nhớ về thành phố ấy, về mảnh đất điêu tàn, nhục nhằn, về thân phận làm người như em cùng mọi người khác nữa, đang bị bao vây, bưng bít bởi những bất công, nghiệt ngă. Trời Tháng Tư chói chang khiến anh có cảm giác như ḿnh đang đi dưới sức nóng cay nghiệt của những ngày Tháng Tư năm nào. Tháng Tư nặng nề, tang tóc, cuốn theo những sự kiện bất hạnh đến với đất nước. Pḥng tuyến Phan Rang thất thủ, tiếp nối đến Long Khánh ngùn ngụt khói sung và cuối cùng rơi vào sự kiểm soát của địch quân. Sài G̣n lên cơn sốt tột cùng. Sài G̣n lo âu, hớt hải, chen chúc nhau chờ di tản. Tháng Tư diễn ra với những cuộc bàn giao vội vàng, hấp tấp. Tháng Tư đau nhói trong bản tin cay đắng đầu hàng. Tháng Tư buông súng. Tháng Tư hạ màn, kết thúc. Tháng Tư ảm đạm, thê lương. Ngay buổi chiều hôm ấy, địch pháo kích vào bệnh viện nhằm cảnh cáo, uy hiếp tiểu khu. Tướng Hưng tự sát. Tướng Nam cũng t́m cái chết để đền nợ nước. Nghe đâu cả Tướng Hai ở căn cứ Đồng Tâm cũng kết liễu cuộc đời bằng viên độc dược oán hờn. Một người bạn cùng đơn vị nói với anh như thế. Anh nghiêng ḿnh đem niềm kính phục về ba vị tướng tuẫn tiết này. Những vị tướng noi gương Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản. Những vị tướng đi vào lịch sử. Những vị tướng đă nêu cao tinh thần bất khuất của dân tộc. Anh liên tưởng đến buổi sáng thật u ám hơn bao giờ hết. Buổi sáng mà người dân tỉnh lỵ đứng ngơ ngác, hoang mang trước các đơn vị địa phương, xốc xếch trong bộ đồng phục nylon dầu cùng chiếc nón tai bèo, lác đác vào tiếp quản thành phố. Anh nhớ đến cánh cửa sắt nặng nề của khám đường từ từ mở ra và mọi người đều sững sờ nh́n nhau thầm hiểu. Từng bài học chính trị nhạt nhẽo cho đến cái chính sách lật lọng, bịp bợm đă chôn vùi tuổi trẻ ở trong anh xuống tận cùng của hố thẳm đen tối, của ngục tù, của nông trường lầm than, đọa đầy, bỏng cháy. Anh vẫn c̣n nhớ câu mà anh nói với em vào lần gặp mặt đầu tiên kể từ ngày anh bước chân vào trong tù:

"Anh chẳng khác nào một tên nô lệ thời trung cổ. Một tên nô lệ không hơn không kém trước những hành động thô bạo, dă man của những kẻ chiến thắng hung tàn, bạo ngược."

Nói xong, anh nhếch miệng cười chua chát. Em thỏ thẻ bên tai anh:

"Chừng nào th́ anh được trả tự do! Em nghe nói là không lâu đâu anh ạ! Nhưng vấn đề đặt ra là ḿnh phải kiên tŕ để đạt tới sự tiến bộ thật sự về cả hai lănh vực tư tưởng lẫn lao động."

Anh ngước lên dằn từng tiếng:

"Cho đến giờ này em c̣n tin tưởng ở nơi họ hay sao? Tiến bộ! Thế nào gọi là tiến bộ? Chẳng qua đấy chỉ là tấm vải thưa để che đậy dă tâm quỉ quyệt, xảo trá ở bên trong. Anh không tin! Không khi nào anh tin! Ngay từ khi anh bước chân vào khám đường Vĩnh Long, anh mới thấy rơ được sự sai lầm của chính ḿnh. Anh đă quyết định vạch sẵn cho ḿnh một con đường để đi. Một con đường mà theo anh nghĩ, khó có thể nào thành tựu được, nhưng anh vẫn phải theo đuổi nó! Bởi v́ anh không c̣n giải pháp nào khác để lựa chọn. Anh sẽ trốn, từ giă khỏi nơi này. Không có lư do nào trói buộc anh phải chôn vùi cuộc đời ở nơi đây. Anh biết rằng, đây là quyết định táo bạo, rủi nhiều, may ít, nhưng anh vẫn phải chấp nhận nó, bởi v́ lư do như anh đă tŕnh bày với em ở phần trên."

Ngừng lại vài giây, anh đổi giọng chán trường:

"Anh chán quá rồi. Chán thật sự. Chưa bao giờ anh nghĩ đến ngày về! Bởi v́ nó c̣n xa lắm, mù mịt ở măi tận cuối chân trời."

Em dơm dớm nước mắt:

"Đừng! Anh! Đừng bao giờ dại dột! Trốn ra trong lúc này th́ chỉ có mỗi con đường duy nhất là dẫn đến sự chết."

*

Thoắt chốc mà mười năm qua đi. Tốc độ thời gian thật quá nhanh em nhỉ? Mười năm làm cho chúng ta già hẳn đi. Mười năm c̣n đọng lại nơi kư ức của chúng ḿnh được những ǵ! Đau đớn, tủi nhục cùng nỗi băn khoăn về tương lai đục tối của đàn con chúng ḿnh. Có phải đúng như vậy không em?

Mười năm đi qua đời anh bằng cả chặng đường dài nhục nhằn, gian khổ. Mười năm kéo lê thân xác héo gầy qua các nhà tù Tri Tôn, Tịnh Biên, Long Xuyên, Châu Đốc, Tà Đảnh, Chí Ḥa với chuỗi ngày tháng dài hồi hộp, lo âu. Suối Máu cùng năm tháng khổ sai lao động trên nông trường Đồng Ḥa hẻo lánh. Rốt cuộc, anh cũng vẫn sống, rồi trở về nh́n lại em cùng các con, nh́n lại Sài G̣n với nỗi xót xa gợn nhăn ở tâm thức. Sài G̣n tiều tụy hẳn đi từ khuôn mặt cho đến chiều sâu của nó. Anh có cảm giác như ḿnh đang đứng trên một thành phố xa lạ nào khác. Sài G̣n hôm nay khác hẳn với Sài G̣n ngày xưa. Một Sài G̣n lạc quan biến mất, nhường bước cho Sài G̣n của lo âu, của khắc khoải, của đăm chiêu, tư lự cùng những khuôn mặt cằn cỗi, nhăn nheo, già nua đi trước tuổi.

Anh gửi về em nỗi nhớ nhung thầm kín hôm nay, cùng những ưu tư, khắc khoải, phiền toái đang âm ỉ, gậm nhấm trong tâm linh anh nơi chân trời mới này. Anh mơ về ngày nào đó, một ngày thật đẹp trời, chan ḥa với đầy đủ mọi ư nghĩa sâu sắc, trọn vẹn về hai chữ tự do cùng nền ḥa b́nh đích thực trải rộng trên quê hương ḿnh. Quê hương là tiếng gọi thiêng liêng, cao cả, là nơi mà anh được sinh ra, uống từng ḍng sữa mẹ ngọt ngào ở nơi đấy. Nó có hấp lực đặc biệt gắn bó anh vào từng con đường quen thuộc, cho đến từng cánh đồng phẳng ĺ, mượt mà thẳng tắp. Từng ngôi làng thân yêu cho đến các cụm rừng già ngút ngàn và những ḍng sông hiền ḥa, rực rỡ. Từ đấy, nó gói ghém, chắt chiu thành những tháp ngà vàng óng của kỷ niệm. Anh có bổn phận ôm ấp, nâng niu nó như một thứ kỷ vật ngà ngọc, vô giá khó quên ở tại đời sống này.

Anh mang nỗi uẩn khúc tới một thành phố xa lạ. Thành phố mà anh mới đặt chân đến được mấy hôm nay. Chung quanh anh, mọi người đương xôn xao, náo nức, chuẩn bị đón mừng mùa Giáng Sinh bừng đến cùng một năm mới Dương lịch tràn đầy hy vọng. Thành phố rực sáng với những ánh đèn màu lấp lánh về đêm cùng những trận mưa tuyết âm thầm, mịt mùng rơi xuống. Thành phố mà ai nấy đều sống b́nh thản, lạc quan về tương lai đất nước họ. Họ sống với đầy đủ ư nghĩa sống. Anh buông ư nghĩ về quê hương đọa đầy, về bóng tối đương trùm kín trên mọi nẻo đường đất nước hôm nay, về đám bạn bè đang tuyệt vọng trong phạm vi hạn hẹp của bốn bức tường thối tha, đen tối. Tự nhiên anh muốn thắp lên điếu thuốc. Anh tḥ tay vào túi quần, lấy ra điếu thuốc cài lên môi, rồi bằng động tác khoan thai, bật hộp quẹt châm lửa. Anh cố rít hơi cay xé xuống buồng phổi rồi ngước lên thở ra nhè nhẹ. Từng lọn khói no tṛn uốn éo tỏa ra, cuốn theo biết bao nhiêu nỗi phiền muộn, đắng cay, tê tái của người dân tỵ nạn. 

Trang Luân

 

1lyhuonga.jpg