|
|
1.-
Vietnam's Forgotten Army: Heroism and
Betrayal in the ARVN By Andrew Wiest. New York University Press, 2007. 368 pages; $35.
Một Quân Đội Bị
Bỏ Quên: Anh Hùng và Bội Phản Trong Quân Đội VNCH, là một cuốn sách viết về
hai người lính và binh nghiệp của họ trong cuộc chiến Việt Nam. Hai người lính — trong trường
hợp này là hai sĩ quan — Trung tá Phạm Văn Đính và Thiếu tá Trần Ngọc Huế.
Trung tá Đính và Thiếu tá Huế, hai ngôi sao sáng đang lên của quân lực VNCH. Hai người
đang xă thân chiến đấu chống lại một chủ nghĩa mà họ thù ghét từ
lúc mới lớn. Nhưng vào những giờ cuối cùng trong đời binh nghiệp, hai
người chọn hai lối đi khác nhau: Thiếu tá Huế chiến đấu đến
viên đạn cuối cùng rồi bị bắt làm tù binh; Trung tá Đính, dưới áp lực
của địch, đầu hàng để khỏi bị bắt làm tù binh.
T́nh tiết trong Một Quân Đội Bị Quên giống như một cuốn tiểu thuyết,
nhưng tất cả đều sự thật; đều có thể kiểm chứng được.
Đường binh nghiệp của Tr/T Đính và Th/T Huệ gần như đi song song với nhau:
cả hai là sĩ quan tác chiến; đều là chỉ huy trưởng những đơn
vị vang tiếng của quân lực VNCH. Và đoạn cuối binh nghiệp của cả
hai cũng giống nhau, khi bị chấm dứt trong hai trận đánh khốc liệt nhất
của chiến tranh Việt Nam: Th/T Huế trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971; Tr/T
Đính vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972.
Tr/T Phạm Văn Đính tốt nghiệp khóa 9, Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức; T/T
Trần Ngọc Huế, khóa 18, Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam, Đà Lạt. Ra trường
hai người về phục vụ ở miền Trung — nơi sanh ra và lớn lên của
Huế và Đính. Đính phục vụ ở tiểu đoàn 3/trung đoàn 3/ sư đoàn 1 Bộ
Binh; Huế, TĐ1/ Tr.Đ1/ SĐ1BB. Sau vài năm nếm mùi binh lửa ở vị trí thấp nhất
của một sĩ quan mới ra trường, cả hai được hoán chuyển về
đơn vị mới, với nhiều cơ hội thăng tiến hơn. Đầu năm
1965, Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân, tư lệnh sư đoàn 1BB, quyết định
thành lập một đại đội xung kích, có khả năng phản ứng nhanh để
đáp ứng những trường hợp khẩn cấp ở Vùng I. Đại đội này
c̣n phải có khả năng trinh sát như một đại đội thám báo/ viễn thám
của sư đoàn. Đại đội tân lập đó được đặt tên Hắc
Báo, nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp của tư lệnh sư đoàn.
Và Trung úy (lên Đại úy vài tháng sau đó) Đính được danh dự chọn làm Đại
đội trưởng đầu tiên.
Đại đội Hắc Báo của sư đoàn 1BB có lẽ là một trong những đơn
vị cấp đại đội được nhắc đến tên nhiều nhất
trong quân lực VNCH. Thành h́nh vào tháng 2-1965, đại đội có năm trung đội tác
chiến (năm 1968 có sáu trung đội) ; có một đơn vị không vận cơ hữu
ứng trực 24 tiếng đồng hồ một ngày, gồm năm trực thăng chuyên
chở và hai trực thăng vơ trang yểm trợ. Đại đội có một toán cố vấn
Mỹ và Úc Đại Lợi đi kèm. Sự có mặt của các cố vấn ở cấp đại
đội cho thấy sự quan trọng của đơn vị này: thông thường cố
vấn chỉ có mặt ở cấp tiểu đoàn trở lên. Từ lúc thành h́nh cho đến
ngày VNCH thất thủ, đại đội Hắc Báo chưa bao giờ thất bại với
những công tác giao phó. Từ những công tác giải cứu phi công bị rớt trong ḷng đất
địch, cho đến những cuộc đột kích vào những binh trạm của CSBV
ở thung lũng A Shau, ở Co Roc, hay xa hơn bên kia biên giới Lào. Đại tướng Creighton
Abrams, tư lệnh MACV, nhiều lần nhắc đến tên đại đội Hắc
Báo trong những buổi họp tham mưu cuối tuần (ghi lại trong The Abrams Tapes, của
Lewis Sorley). Ít có một đại đội nào của quân lực VNCH có danh tiếng vang tận
đến Bộ Quốc Pḥng Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn như đại đội
Hắc Báo. Cuối năm 1971, trong cao điểm của chương tŕnh Việt Nam Hóa, phó
giám đốc Nha Nghiên Cứu và Biến Chế của Bộ Quốc Pḥng, Leonard Sullivan —
đang làm việc trực tiếp cho Bộ trưởng quốc pḥng Melvin Lair — sang Việt
Nam nghiên cứu một kế hoạch ít tốn kém để ngăn chận đường
xâm nhập Hồ Chí Minh. Trong lần viếng thăm Trung tướng Hoàng Xuân Lăm và Thiếu
tướng Phạm Văn Phú vào trung tuần tháng 10-1971, Sullivan cho biết Bộ trưởng
đă Laird thông báo là Không Quân Hoa Kỳ sẽ không c̣n tài chánh để tiếp tục dội
bom ngăn chận bằng B-52 vào năm tới. Thay vào đó, bộ quốc pḥng Mỹ đề
nghị một phương cách ngăn chận khác là dùng những đại đội như
đại đội … Hắc Báo để đột kích những binh trạm của
CSBV trên đuờng ṃn Hồ Chí Minh! Tiếp theo, Sullivan đề nghị quân đoàn I nên
lập thêm vài đại đội Hắc Báo nữa và đưa vào Vùng II để đột
kích những binh trạm ở vùng ba biên giới Việt-Miên-Lào. Nhưng hai vị tư lệnh
quân đoàn và sư đoàn cho biết họ chỉ có thể thực hiện lời yêu cầu
nếu có lệnh từ Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Hơn nữa, nhân sự của đại
đội Hắc Báo không phải dể có. Trung tá Nguyễn Xuân Lộc, trưởng Pḥng 2
Sư Đoàn 1BB, cho biết nhân sự của Hắc Báo đến từ hai đại đội
thám báo của trung đoàn 3 và 54. Nghĩa là hai trung đoàn này không có đại đội thám
báo như hai trung đoàn 1 và 2 của SĐ 1BB, để có chổ cho nhân sự của đại
đội Hắc Báo. Tóm lại, lập ra một đại đội như đại
đội Hắc báo không phải là chuyện đơn giản (Đọc thêm: Điện tín của
Trung tướng Welborn G. Dolvin, tư lệnh Quân Đoàn XXIV, gởi Đại tướng Creighton
Abrams, tư lệnh MACV. Secret DNG 2997 Eyes Only, 20 October 1971. Subject: Visit to MR 1 of Mr. Leonard Sullivan;
về vai tṛ của Phó giám đốc Leonard Sullivan, đọc Bernard C. Nalty, The War Agaisnt Truck.).
Liên hệ và thành tích của Đính với đại đội thiện chiến và lừng danh
như Hắc Báo, làm độc giả khó giải thích được hành động đầu
hàng CSBV sau này của ông.
Trong thời gian Đính chỉ huy đại đội Hắc Báo, Trung úy Huế, sau khi tốt
nghiệp khoá śnh lầy ở Mă Lai Á, được về làm sĩ quan tùy viên cho Tướng
Chuân ở Sư Đoàn 1BB. Cùng phục vụ cho một vị tư lệnh, Đính và Huế thường
gặp nhau, t́m hiểu về nhau. Sau những biến động liên tục ở miền
Trung năm 1966; sau nhiều lần tư lệnh của Quân Đoàn I và Sư Đoàn 1 BB bị thay
đổi, nhiệm sở của Đính và Huế cũng bị thay đổi theo, nhưng thay
đổi theo chiều hướng khả quan. Khi Chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng
về coi SĐ 1 BB, ông đề bạt Đính về làm tiểu đoàn trưởng TĐ 2/ Tr.Đ 3, kiêm
luôn quận trưởng Quảng Điền. Nhiệm vụ của Th/T Đính lúc đó là vừa
đáng giặc, vừa b́nh định. Về phần Huế, dù có chọn lựa để
được thuyên chuyển một đơn vị không tác chiến, để hưởng
thụ một đời sống gia đ́nh (vừa mới lấy vợ), anh xin đổi
về một đơn tác chiến: đại đội Hắc Báo. Về làm Đại
đội phó Hắc Báo được chừng hai tháng th́ Tướng Trưởng bổ
nhiệm Huế làm Đại đội trưởng, thay vào chổ của Đính. Một lần
nữa, Huế và Đính lại làm việc chung cho một ông thầy, cùng ở chung một sư
đoàn. Sự liên hệ, quen biết liên tục đó làm tăng thêm ngỡ ngàng về sau,
sau khi hai người trở thành kẻ thù — dù kẻ thù trong yên lặng.
Trong hai năm 1968 và 1969, phục vụ ở Sư Đoàn 1BB, đường binh nghiệp
của Tr/T Đính và Th/T Huế được thăng hoa. Hai đơn vị của Huế
và Đính có công tiếp cứu bộ tư lệnh sư đoàn 1 BB của Tướng Trưởng,
và một phần nào đó, có công giải tỏa thành nội và dựng lại lá cờ VNCH
ở kỳ đài Đại Nội vào trận Mậu Thân 1968. Dựa vào những ǵ hai nhân vật
chánh trong tác phẩm kể lại, TĐ2/ 3 của Đính là đơn vị triệt tiêu những
điểm kháng cự cuối cùng của cộng sản ở kỳ đài; và đại
đội Hắc Báo là đơn vị bảo vệ bộ tư lệnh Sư Đoàn 1 BB trong
giờ phút kịch liệt nhất của trận Mậu Thân. Cũng trong trận này, liên
hệ của hai người gắn chặc nhau hơn khi tiểu đoàn 2/3 và đại
đội Hắc Báo cùng được giao nhiệm vụ chung là giải tỏa một góc
chiến trường của thành nội Huế. Năm 1969. Trần Ngọc Huế bây giờ
mang Thiếu tá, rời đại đội Hắc Báo về coi tiểu đoàn 2/2; trong khi
đó Đính đă là Trung tá, vẫn c̣n coi tiểu đoàn 2/3. Năm 1969 tiểu đoàn của
Tr/T Đính liên quan đến một trận đánh mănh liệt, nhưng không được bao
nhiêu báo chí nhắc đến: Trận Động Ấp Bia — mà báo chí và các quân nhân tham dự
đặt cho một tên rất biểu tượng là Đồi Hamburger Hill (Thịt Bằm).
Theo báo chí và phần lớn sách sử về chiến tranh Việt Nam, trận Hamburger Hill kết
thúc khi lính của một trong ba tiểu đoàn Nhảy Dù Mỹ — sau hơn 10 ngày giao chiến
ác liệt — triệt tiêu những lô cốt cuối cùng của trung đoàn 29 CSBV trên đỉnh
đồi cao 937 thước và làm làm chủ ngọn đồi. Nhưng theo tác giả Wiest,
và theo một số sử liệu chúng ta có thể t́m được, th́ tiểu đoàn 2/
trung đoàn 3 của Trung tá Đính là đơn vị lên được đỉnh đồi
trước nhất. Trận đánh này, lúc khởi đầu, chỉ có một tiểu đoàn
Nhảy Dù Mỹ phục trách, nhưng sau hơn một tuần quần thảo, bộ tư
lệnh Sư Đoàn 101 Nhảy Dù quyết định lấy ngọn đồi bằng mọi
giá. Tướng Trưởng, trong tinh thần hợp tác Việt-Mỹ, gởi tiểu đoàn
2/3 của Trung tá Đính để phụ lực vào cuộc tấn công cuối cùng. Bốn tiểu
đoàn đánh bốn hướng từ chân đồi lên, và lính của tiểu đoàn 2/3
có mặt trên cao điểm của đỉnh đồi trước nhất. Trong tác phẩm,
tác giả Wiest trích lời của Đại tướng Abrams trong buổi họp tham mưu
ở MACV ngày 24 tháng 5-1969. Tướng Abrams nói tuy các cơ quan truyền thông nói là lính Nhảy
Dù Mỹ chiếm được ngọn đồi, nhưng ông có tin riêng nói lính VNCH là đơn
vị được vinh dự đó (Tác giả Wiest trích lời của Abrams trong The Abrams
Tapes của tác giả Lewis Sorley. Cũng trong buổi họp đó, Tướng Abrams có nhắc
lại chuyện đại đội Hắc Báo và trận đánh chung quanh kỳ đài thành
nội Huế năm 1968). Điều đáng tiếc, tác giả Wiest kết luận, là đơn
vị VNCH không được tuyên dương như sự thật đă xảy ra.
Sau trận
Hamburger Hill Tr/T Đính về làm sĩ quan hành quân cho bộ tư lệnh Sư Đoàn 1BB Tiền Phương
(Đây là một đơn vị gồm trung đoàn 2/ SĐ1BB và một lữ đoàn TQLC VNCH, được
lập ra để trám vào chổ của những đơn vị TQLC Mỹ rút đi trong
chương tŕnh Việt Nam Hóa. Đơn vị này nằm dưới quyền chỉ huy của
Đại tá Vũ Văn Giai, Tư lệnh phó sư đoàn). Thiếu tá Huế th́ vẫn
coi tiểu đoàn 2, trung đoàn 2, đóng quân sát vùng giới tuyến. Là một đơn
vị nằm dưới quyền điều khiển của SĐ 1 BB Tiền Phương,
con đường binh nghiệp của Huế và Đính lại gặp nhau. Tháng 5-1970, Tướng
Trưởng yêu cầu Đại tá Giai đưa Trung tá Đính về trung đoàn 54/ SĐ1BB với
chức vụ trung đoàn phó. Trong khi đó Huế và tiểu đoàn 2/2 vẫn hoạt động
ở hướng bắc Đông Hà. Ở chương 4 của tác phẩm, chương nói về
thành tích của Huế và Đính trong năm 1968, tác giả Andrew Wiest đặt tên là, "Thời
của Những Người Hùng."
Chương 4 ghi lại một số dữ kiện để đưa độc
giả đến hai chương nồng cốt 8 và 9, làm tiền đề cho quyển sách:
anh hùng và bội phản. Chương 8 "Shattered Lives and Broken Dreams: Operation Lam Son 719," nói về
giấc mơ chiến thắng của Huế bị tan vỡ— và những mảnh vụng
của cuộc đời theo sau đó. Và chương 9, "The Making of a Traitor," nói về sự
phản bội của Trung tá Đính khi ông đầu hàng cộng sản vào năm 1972 trong trận
Mùa Hè Đỏ Lửa. Ở chương này, tác giả Wiest đă cố gắng giải thích
những sự kiện và hoàn cảnh chung quanh quyết định đầu hàng của Tr/T
Đính.
Giấc mơ chiến thắng của Thiếu tá Trần Ngọc Huế tan vỡ vào
mùa Xuân năm 1971 ở Hạ Lào. Đầu tháng 2-1971, khi cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh qua
những căn cứ hậu cần của CSBV trên đường xâm nhập Hồ Chí Minh
xảy ra, đơn vị của Th/T Huế vẫn c̣n hoạt động ở vùng phi quân
sự, và trung đoàn 54 của Tr/T Đính vẫn lo an ninh ở phía nam cố đô Huế. Mặc
dù Sư Đoàn 1BB là một trong ba lực lượng chính của cuộc hành quân, trong thời
gian đầu BTL Sư Đoàn 1BB chỉ xử dụng hai trung đoàn. Nhưng đến cuối
tháng 2, t́nh h́nh thay đổi bất lợi ở mặt trận Hạ Lào. Sau cuộc hội
thảo với Tổng thống Thiệu ở Sài G̣n ngày 28 tháng 2, Tướng Hoàng Xuân Lăm quyết
định thay Sư Đoàn Nhảy Dù bằng Sư Đoàn 1BB, làm đơn vị chính đánh vào
Tchepone. Ngày 2 tháng 3 đơn vị của Huế, TĐ 2/2; TĐ 3/2; và một ban tiền trạm
của trung đoàn 4 được trục thăng vận đến Khe Sanh để chuẩn
bị nhảy vào Tchepone. Sau khi các tiểu đoàn của trung đoàn 1 liên tiếp thiết
lập các cứ điểm dây chuyền Lolo, Liz và Sophia ở hướng nam dẫn về
Tchepone để chuẩn bị cho mục tiêu chánh. Ngày 6 tháng 3, TĐ 2 và 3 của trung đoàn
2 nhảy vào Tchepone theo đúng lịch tŕnh của kế hoạch. Hơn 120 trực thăng
đưa hai tiểu đoàn 2/2 và 3/2 vào cứ điểm — một băi đáp trực thăng
— có tên là Hope ở hướng bắc của Tchepone. Chỉ gặp một vài kháng cự
nhỏ sau khi đổ quân, tiểu đoàn của 2/2 của Th/T Huế bung ra lục soát và
tiến vào Tchepone. Đến ngày 8, tiểu đoàn 2/2 báo cáo họ đă nằm bên trong thị
trấn. Sau hai ngày lục soát, thay v́ hai tiểu đoàn sẽ được trực thăng
vận ra khỏi Tchepone như kế hoạch nguyên thủy, Tướng Lăm ra lệnh cho tiểu
đoàn của Huế tiến sâu về phía nam, vượt qua sông Xe Pone, rồi hành quân lục
soát về hướng các cứ điểm Sophia, Liz, và LoLo. Tại đây họ sẽ nhập
chung với quân của trung đoàn 1, rồi cả hai trung đoàn sẽ được trực
thăng vận về khu vục đường 914 ở để phá hủy binh trạm
33. Sau khi hành quân ở đó từ bảy đến mười ngày, Sư Đoàn 1 BB sẽ theo
thứ tự rút về biên giới Việt Nam. Tại sao lại có sự thay đổi trái
ngược như vậy? Tại sao không "nhảy vào Tchepone ... đái một cái rồi nhảy
ra …" như những ǵ báo chí đă viết về mục đích của cuộc đột
kích vào Tchepone như chúng ta thường đọc qua? Theo tác giả Wiest, phấn khởi
v́ những chống trả yếu ớt của địch ở chung quanh Tchepone, Tướng
Lăm quyết định kéo dài nhiệm vụ của trung đoàn 1 và 2 thêm 10 ngày nữa. Đây
không phải là ư kiến riêng của Tướng Lăm. Những tài liệu giải mật sau
này cho thấy, ba ngày sau khi quân VNCH đặt chân xuống Tchepone, Tướng lăm bay về
Sài G̣n họp với tổng thống Thiệu và Đại tướng Cao Văn Viên. Trong
buổi họp ngày 9 tháng 3, Tổng thống Thiệu muốn TQLC và Sư Đoàn 1BB bỏ ra bảy
đến 10 ngày hành quân ở khu vực đường 914/ binh trạm 33, một vị trí
khoảng chín cây số tây nam căn cứ Bản Đông/ A Loui trên đường 9 (Điện văn,
Top Secret MAC 02455 Eyes Only, Đại tướng Abarms gởi Trung tướng Sutherland, 9 March
1971; điện văn, Top Secret QTR 0306 Eyes Only, Trung tướng Sutherland gởi Đại
tướng Abarms, 10 March 1971).
Ngày 11, từ bải đáp Liz, tiểu đoàn 2/2 của Huế được trực
thăng vận đến bải đáp Brown ở khu vực đường 914. Tại đây
tiểu đoàn lục soát về phía nam cho đến ngày 14. Nhưng ngày 14 tháng 3 cũng là
ngày địch quân đồng loạt phản công trên mọi hướng. Đến hôm đó,
CSBV đă tụ đủ quân để tấn công liên tục vào tất cả căn cứ
hỏa lực hay băi đáp ở phía nam đường 9. Ở phía nam đường 9 —
mặt trận của Sư Đoàn 1 BB và Lữ Đoàn 147 TQLC — cộng quân có Sư Đoàn 2 và 324B,
cộng với hai binh trạm (một binh trạm tương đương một trung đoàn),
một số quân hơn là đủ để ngăn chận mọi kế hoạch rút quân
của VNCH. Từ sáu giờ sáng ngày 14, cứ điểm LoLo và chung quanh phía nam Tchepone, bốn
tiểu đoàn của trung đoàn 1 bị CSBV tấn công liên tục. Đến ngày 17 trung đoàn
quyết định phải di tản. Tiểu đoàn 4/1 ở lại chận hậu cho ba
tiểu đoàn kia được trực thăng vận khỏi mặt trận. Khi đến
lượt TĐ 4/1 di tản, trung đoàn phải yêu cầu B-52 đánh bom cách vị trí tiểu
đoàn chừng 500 mét (so với khoảng an toàn thông thường là 1.000-1.500 mét) để
ngăn chận những đợt tấn công của cộng quân, hầu có th́ giờ lên trực
thăng. Nhưng tiểu đoàn chỉ có 83 quân nhân thoát khỏi LoLo; tiểu đoàn phó và tiễu
đoàn trưởng th́ ở lại LoLo vĩnh viễn. Cùng ngày, ở khu vực đường
914, bốn tiểu đoàn của trung đoàn 2 cũng chuẩn bị rời mặt trận.
Ngày 18, TĐ 5/2 được bốc về Khe Sanh trước, trong khi ba tiểu đoàn 2, 3,
và 4 được lệnh di chuyển theo hướng đông về cứ điểm Delta
I để tiếp tục được di tản. Trên đường về Delta I, ba tiểu
đoàn chạm địch liên tục. Khi biết không thể tiến về điểm hẹn
ở Delta I, Huế cho tiểu đoàn nằm lại tại một cao điểm và dàn quân
ra chuẩn bị tử thủ. Tối đêm 19, cộng quân tấn công bằng pháo và hỏa
tiễn trước, tiếp theo đó là quân bộ binh có trang bị súng phun lữa ồ ạt
xung phong. Trưa ngày 20, trung đoàn xin bộ tư lệnh tiền phương ở Khe Sanh,
bằng mọi cách phải cho trực thăng phải hạ cánh di tản ba tiểu đoàn
c̣n lại trước khi họ bị tiêu diệt. Nhưng với gần 1,400 phi vụ trực
thăng vơ trang; 11 phi vụ B-52; và 270 phi vụ oanh tạc chiến thuật trong ngày, hỏa
lực đó chỉ đủ giảm áp lực của địch đủ để trực
thăng đáp xuống bốc được tiểu đoàn 3. Tiểu đoàn 2 và 4 phải
chờ những phi vụ di tản ngày hôm sau. Nhưng ngày ngày hôm sau là một ngày quá trễ
cho Huế và những quân nhân c̣n lại. Trong cao điểm của những cuộc tấn
công đêm đó, Huế bị trúng đạn súng cối và ngất lịm. Trong lúc loa phóng
thanh của địch vang dội những lời kêu gọi đầu hàng, bộ chỉ
huy sư đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn 2/2 phải đánh mở đường máu để
di tản. Khi lính của Huế chuẩn bị đến khiêng ông đi, T/T Huế từ
chối, biết rằng ḿnh sẽ là một gánh nặng cho toán quân rút đi. Huế ra lệnh
cho họ đánh mở đường máu rời mặt trận. Tiểu đoàn phó Nguyễn
Hữu Cước chào vĩnh biệt Huế trước khi dẩn toán quân 60 người
c̣n lại đánh mở đường máu rút quân. Vài phút sau, Huế trở thành một trong
những tù binh cao cấp bị bắt tại mặt trận Hạ Lào. (Theo lời Th/T Huế
kể lại, sau khi thành công nhảy vào Tchepone, ông được đặc cách vinh thăng
Trung tá. Chuẩn tướng Phạm Văn Phú trực tiếp chuyển tin đó dến ông.
Sau khi bi bắt làm tù binh, Th/T Huế khai chức vụ ông là Thiếu tá. Nhưng sĩ quan thẩm
vấn của CSBV nói ông đă là Trung tá, theo những ǵ họ nghe được trên hệ
thống truyền tin của loan truyền ngoài mặt trận của VNCH)
Ở bên kia biên giới, Tr/T Đính theo dơi tất cả diễn biến. Trong những ngày
cuối cùng của hành quân Lam Sơn 719, Đính đưa tiểu đoàn 2 của trung đoàn
54 đến Khe Sanh để yểm trợ và đóng cửa căn cứ Khe Sanh. Nh́n những
chiến tích — và chiến bại — của Lam Sơn 719, Đính suy nghĩ nhiều về
một cuộc chiến không tương lai, và thân phận của những quân nhân trong cuộc
chiến. Cảm nghĩ đó, tác giả Wiest thuật lại theo những ǵ Tr./T Đính kể. Trong
chương 9, "The Making of A Traitor," tác giả Wiest viết sơ qua về cuộc tổng tấn
công của CSBV vào mùa Hè năm 1972, nhưng tác giả viết sâu hơn khi nói về hoàn cảnh
chung quanh việc Tr./T Đính đầu hàng. Dựa vào những cuộc phỏng vấn với
các cố vấn của trung đoàn và sư đoàn có mặt tại chiến trường;
dựa vào các nhân vật — những sĩ quan trong ban tham mưu của trung đoàn 56/SĐ
3BB — c̣n sống, như Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, Trung tá Trung đoàn phó Vĩnh
Phong; Đại úy Nguyễn đ́nh Nhu, trung đoàn 56; Trung úy Mai Xuân Tiểm, ban 3 trung đoàn;
Thiếu tá Tôn Thất Măn, tiểu đoàn trưởng TĐ 1/56. ... Với những lời kể
của nhân chứng, Andrew Wiest viết lại hoàn cảnh đưa đến quyết định
đầu hàng tập thể của trung đoàn 56 tại căn cứ Carroll. Nhưng những
ǵ Tr./T Đính thuật lại sau cuộc chiến có phải là những lư do để chạy
tội? Đính và hơn 600 quân nhân của trung đoàn 56/ SĐ3BB phải đầu hàng v́ không c̣n
lối thoát, v́ bị bỏ rơi, hay chính Tr./T Đính là người đă vẽ cho họ một
bức tranh bi đát, rồi thuyết phục họ đầu hàng? Mỗi độïc giả
sẽ là một chánh án đối với Tr./T Đính, sau khi thẩm định sự kiện
và hoàn cảnh được tŕnh bày trong sách. Người điểm sách này xin nói trước:
trước khi đọc tác phẩm Vietnam's Forgotten Army, người viết đă có một
định kiến về hành động đầu hàng của Tr./T Đính: đó là hành động
của một sĩ quan chủ bại, chưa đánh đă chạy. Và sau khi đọc tác
phẩm, người viết vẫn không hoàn toàn đồng ư với lư do đầu hàng của
ông Trung tá: Thông cảm? Có. Chấp nhận? Không!
Gần nửa năm sau cuộc hành quân Lam Sơn 719, để gia tăng quân số thay
vào khoảng trống của các đơn vị Mỹ rút quân, tháng 10-1971 bộ tổng tham
mưu thành lập Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Sư đoàn tân lập này chỉ có một trung đoàn
làm rường cột chánh, hai trung đoàn c̣n lại là lính thuyên chuyển từ các đơn
vị khác, tân binh tuyển mộ từ các lực lượng Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ,
hay một đôi khi là những quân nhân ṭng phạm được ân xá để trở lại
quân ngũ. Trong ba trung đoàn 2, 56 và 57 của Sư Đoàn 3BB, chỉ có trung đoàn 2 lấy ra
từ Sư Đoàn 1BB, là đơn vị có kinh nghiệm chiến trường lâu nhất. Với
một sư đoàn như vậy, không vị sĩ quan nào muốn nhận chức sư đoàn
trưởng. Sau cùng, chuẩn tướng Vũ Văn Giai nhận chức tư lệnh sư
đoàn. Theo lời ông kể, ông là một "tư lệnh kém may mắn của một sư
đoàn không không ai muốn nhận." Và khi t́m sĩ quan về chỉ huy trung đoàn, tướng
Giai t́m những thuộc viên cũ đă làm việc chung với ông: Tr/T Đính được mời
về làm chỉ huy trưởng trung đoàn 56.
Đọc tiếp (2) cột bên phải >>
|
|
 |
|
|
|
 |
|
|
2.
Cuối năm 1971 đầu năm 1972, quân đội Hoa Kỳ đă rút khỏi Vùng
I. C̣n lại chỉ là những đơn vị tiếp vận và cố vấn. Hơn 80 ngàn
lính TQLC Hoa Kỳ có mặt ở Vùng I vào giữa năm 1969, bây giờ chỉ c̣n khoảng
500. Để pḥng thủ năm tỉnh của Vùng I, tướng Hoàng Xuân Lăm cho SĐ 1BB giữ phía
tây thành phố Huế; SĐ 2BB giữ ba tỉnh ở phía nam; và sư đoàn yếu nhất,
SĐ 3 BB, được giao nhiệm vụ trấn giữ hai hướng bắc và tây Quảng
Trị. Trung đoàn 57 phụ trách bên phải quốc lộ 1, hướng bắc Cửa Việt;
trung đoàn 2, bên trái quốc lộ 1, bắc Cam Lộ; và, trung đoàn 56, phía nam đường
9, gần những căn cứ Khe Gió, Carrol, Mai Lộc. Để yểm trợ và phụ giúp
thêm cho SĐ 3BB, Vùng I cho hai lữ đoàn TQLC đóng ở những tiền đồn dọc
theo ṿng cung tây nam đường 9, gần biên giới Lào, như là ṿng đai pḥng thủ đầu
tiên cho trung đoàn 56. V́ trung đoàn 56 c̣n mới, để tiếp tục huấn luyện
các tiểu đoàn tân lập của Tr./Đ 56, và tránh t́nh trạng đóng quân ù ĺ một chổ,
tướng Giai cho thay đổi vị trí của hai trung đoàn 2 và 56 theo chu kỳ: trung
đoàn này đến vùng trách nhiệm của trung đoàn kia, và ngược lại. Đó là lối
bày binh và trận liệt ở Vùng I khi CSBV đồng loạt tấn công — và CSBV tấn
công vào ngay thời điểm bất ngờ và nguy hiểm nhất.
Chín giờ sáng ngày 30 tháng 3-1972 Tr./Đ 2 và 56 hoán chuyển trại và vùng trách nhiệm. Tr./Đ
56 của Đính từ căn cứ C2 ở bắc Cam Lộ di chuyển về hướng nam,
thay thế Tr/Đ 2 ở căn cứ Carroll, căn cứ hỏa lực Fuller và Khe Gió. Mười
một giờ ba mươi, khi đoàn quân c̣n đang di chuyển, một số chưa kịp
qua sông (sông Cam Lộ, trên đầu đường 9), chỉ có một đại đội
tác chiến và đại đội chỉ huy vừa vào trong căn cứ Carroll th́ địch
quân tấn công. Pháo 130 ly của địch bắn tràn ngập các mục tiêu. Không phải
chỉ có Tr./Đ 2 và 56 bị tấn công, tất cả các căn cứ trên toàn Quảng Trị
bị tấn công. Ở hướng bắc SĐ 308 CSBV chia làm bốn mũi vược qua vĩ
tuyến 17 đánh thẳng vào Tr./Đ 57; ở hướng tây từ biên giời Lào, SĐ 304 và một
trung đoàn thiết giáp đánh vào các tiền đồn của lữ đoàn 147 TQLC ở
Núi Ba Hô và Sarge. Ngày hôm đó, mặt trận bắc và tây bắc Quảng Trị hoàn toàn trong
biển lửa: CSBV bắn 2.000 quả đạn chung quanh căn cứ Fuller, Khe Gió, Carroll
trong tổng số 11.000 trái trong 24 tiếng đầu của chiến dịch.
Với cuộc hoán chuyển vị trí đang diễn ra khi cộng sản tấn công,
ba tiểu đoàn của Tr./Đ 56 chỉ có một phần bên trong những căn cứ đă
được chỉ định. Hai tiểu đoàn 1/56 và 2/56 vẫn c̣n kẹt giữa đường
và đang bị pháo của địch quân kèm lại một chổ; tiểu đoàn 3/56 ở
Khe Gió và 1/2 (tiểu đoàn 1 của trung đoàn 2, chưa rời trại khi cộng quân tấn
công) ở Fuller cũng không di chuyển được v́ bị pháo. Bộ binh CSBV tấn công
hai căn cứ suốt ngày 30. Trưa 31, Khe Gió và Fuller thất thủ. Lực lượng
ở hai căn cứ này mở đường máu rút về hướng đông nam, về
căn cứ Carroll. Với hệ thống truyền tin bị phá hủy, Đính gần như
hoàn toàn bất lực trong việc điều động các cánh quân đang phân tán. Không phải
chỉ có trung đoàn 56 của Đính là nằm trong hoàn cảnh ngặc nghèo: bên trái của căn
cứ Carroll, ở hướng tây và tây nam, hai căn cứ hỏa lực Núi Ba Hô và Sarge —
ṿng đai bảo vệ của Carroll — sắp bị tràn ngập. Mười giờ rưởi
đêm 31, tiểu đoàn 4 TQLC ở căn cứ hỏa lực Núi Ba Hô di tản. Khi Núi Ba
Hồ di tản th́ căn cứ Sarge ở phía nam cũng không thể giữ được.
Bốn giờ sáng đêm đó, sau khi khẳng định được t́nh h́nh ở hướng
bắc, bộ chỉ huy TĐ 4 TQLC ở Sarge cũng rút đi. Hai toán quân TQLC đều di tản
về căn cứ Mai Lộc, ba cây số hướng nam căn cứ Carroll, nơi có bản
doanh của lữ đoàn 147 TQLC. Bây giờ chỉ c̣n Carroll và Mai Lộc nằm trên hướng
tiến quân của SĐ 304 về Quảng Trị. Ngày 31 tháng 3-1972 Tr./T Đính liên lạc với
Chuẩn tướng Vũ Văn Giai để xin tiếp viện. "Nếu không được
tiếp viện, căn cứ chỉ có thể giữ được vài ngày nữa thôi." Đính
báo cáo với Tướng Giai. "Ráng chờ, sẽ có tiếp viện," Tướng Giai trả
lời. Hôm sau, 1 tháng 4, Tướng Lăm đích thân gọi Đính. Lạc quan v́ nghĩ rằng
ḿnh sẽ có tin vui, nhưng Tướng Lăm chi ra lệnh vắn tắt, là Sư Đoàn 3BB và Quân
Đoàn I không c̣n ǵ để tiếp viện. Trung đoàn 56 phải giữ căn cứ Carroll
bằng mọi giá! Chỉ có vậy, chỉ có vậy từ người tư lệnh quân
đoàn. Cùng ngày, những cánh quân di tản hay những cánh quân bị kẹt v́ pháo kích lần
lượt về được bên trong căn cứ Carroll, trong đó có cánh quân dưới
quyền chỉ huy của Trung đoàn phó Vĩnh Phong. Tường tŕnh của Trung tá Phong làm
cho Đính bi quan thêm: Sư Đoàn 308 CSBV đang truy kích họ. Sự bi quan trở thành thất vọng
khi tin tức qua hệ thống truyền tin cho biết hai trung đoàn 2 và 57 trên đường
di tản về Đông Hà; và bộ chỉ huy Sư Đoàn 3 BB sẽ rời căn cứ Ái Tử
về Quảng Trị để tránh tầm đại bác 130 ly của cộng quân từ
bên kia sông Bến Hải bắn qua. Tối ngày 1 tháng 4, với tất cả quân di tản tụ
về, căn cứ Carroll bay giờ có khoảng 1,500 tay súng trong ṿng đai pḥng thủ (có tường
tŕnh nói quân số bên trong căn cứ trước giờ đầu hàng là 1,800 quân). Đọc
đến đoạn này trong Vietnam's Forgotten Army, không ít đọc giả sẽ có chút thông
cảm cho hoàn cảnh Trung tá Đính, như tác giả Wiest ít nhiều đă có — theo sự
nhận xét của người điểm sách. Chúng ta có thể thấy được sự
lo sợ và hoang mang của Tr/T Đính: Đường tiếp viện toàn bị cắt đứt;
đối diện với một lực lượng của địch lớn hơn ba đến
bốn lần về nhân lực cũng như hỏa lực; và bộ chỉ huy h́nh như
đă bỏ trung đoàn, hay sẽ dùng trung đoàn như một lực lượng tế
thần để đ́nh trệ đường tiến quân của đối phương.
Trong ư nghĩ của Đính, quân lệnh cuối cùng của Trung tướng Lăm có hàm ư như vậy. Nhưng
nh́n lại địa h́nh và t́nh h́nh của mặt trận ở hướng tây và tây bắc
Quảng Trị, quân lệnh của Tướng Giai và Tướng Lăm không phải không có ư
nghĩa. Những căn cứ nhỏ như Núi Ba Hô, Sarge, C2, C3, hay Mai Lộc có thể di tản
được v́ đó là những căn cứ nhỏ, không có địa h́nh thuận lợi
để pḥng thủ. Nhưng căn cứ Carroll th́ hoàn toàn khác. Đây là một căn cứ
có thể cầm cự một hay là hai trung đoàn địch dể dàng.
Tên chánh thức của căn cứ là Camp James J. Carroll. Tên
căn cứ đến từ tên một đại úy TQLC Hoa Kỳ tử trận trong cuộc
hành quân Prarie ở khu vực đó vào năm 1966. Trong cao điểm của cuộc chiến
Việt Nam, căn cứ Carroll là căn cứ pháo binh quan trọng của TQLC Hoa Kỳ ở
bắc đường 9. Từ căn cứ Carroll, đại bác 175 ly của Lục Quân
và đại bác ṇng 8 inches của TQLC bắn yểm trợ cho căn cứ Khe Sanh (cách đó
20 cây số về hướng tây nam) và thường xuyên đấu súng với những pháo
đội 130 ly của CSBV ở bên kia sông bến Hải (20-22 cây số hướng bắc).
Trước khi trao lại cho quân lực VNCH, căn cứ là nơi đóng quân của bốn
tiểu đoàn pháo binh Hoa Kỳ (hai tiểu đoàn của trung đoàn 12 pháo binh TQLC; hai tiểu
đoàn của liên đoàn 94 pháo binh Lục Quân). Căn cứ rộng đủ để
chứa hơn 2,000 quân và một ṿng đai pḥng thủ qui mô. Địa h́nh của căn cứ
rất lư tưởng để pḥng thủ: Xây theo h́nh ngũ giác trên một ngọn đồi
trống, quân pḥng thủ bên trong Carroll có thể quan sát bốn hướng: địch quân
không thể tấn công bằng bộ binh mà không bị phác giác từ xa 500-1,000 mét. Địch
quân có thể pháo kích — như họ đang làm — nhưng tấn công bằng quân bộ
bịnh th́ lại là một chuyện khó khăn nếu quân trú pḥng quyết định tử
thủ. Ngày 1 tháng 4, như đă nói ở trên, căn cứ Carroll có 1,500-1,800 tay súng bên trong
và một lực lượng pháo binh gồm 26 khẩu đại bác từ 105 cho đến
175 ly, với vài chiến xa hạng nhẹ có trang bị đại bác 40 ly (loại thiết
giáp tương tự như M.41, gọi là "Duster," trang bị hai khẩu 40mm và một đại
liên 30 trên pháo tháp). Nh́n từ quan điểm pḥng ngự, lực lượng này có thể gây
thiệt hại đáng kể cho mọi cuộc tấn công — hay ít nhất có thể cầm
chân một lực không nhỏ của CSBV.
Sáng Chủ Nhật ngày 2 tháng 4, vùng I được một
phi tuần B-52 yểm trợ. Bom bỏ hướng tây bắc ṿng đai bên ngoài của căn
cứ. Liền sau cuộc dội bom, CSBV tấn công căn cứ từ ba hướng. Nhưng
với địa h́nh kiên cố của căn cứ, CSBV bỏ cuộc sau vài tiếng tấn
công biển người. Tác giả Wiest viết, cuộc tấn công biển người bị
đẩy ngoài công sự một cách dể dàng bằng ḿn và súng cá nhân. Cuộc tấn công
bị coi thường đến độ vị trung tá cố vấn Mỹ đang có mặt
bên trong căn cứ, trả lời với tiền sát viên không quân là ông chưa cần yểm
trợ không lực trong lúc đó v́ không có mục tiêu nào thích đáng (đọc, Trial By Fire:
the 1972 Easter Offensive, Americas Last Vietnam Battle, của Dale Andradé). Sau cuộc tấn công vào buổi
sáng, Đính gọi về bộ tư lệnh sư đoàn xin yểm trợ. ) Trung tá Cương
trả lời là ông không thể trả lời cho Đính được; và Chuẩn tướng
Giai th́ đang ở Đông Hà thị sát t́nh h́nh. (Người viết bài muốn chú một chi
tiết về cuộc đối thoại giữa hai Trung tá Cương và Đính: Một độc
giả đă liên lạc với Trung tá Cương (sau khi đọc bài viết này lần đầu
tiên). Trung tá Nguyễn Hữu Cương, nói ông không có nhận điện thoại, và cũng
không có mặt ở bộ tư lệnh sư đoàn lúc đó. Đó là lời xác nhận của
Trung tá Cương. Trong sách, tác giả Wiest trích theo sách cuả Dale Andradé. Người viết
ghi chú ở đây để cảm ơn sự bổ túc của độc giả). Chuẩn
tướng Giai th́ đang ở Đông Hà thị sát t́nh h́nh. Cũng như lần nói chuyện
trước, không ai có một câu trả lời rơ ràng về số phận của Trung Đoàn
56. Hai giờ trưa, cộng quân tấn công lần thứ nh́: lần này địch tiến
gần được hàng rào pḥng thủ hơn lần trước, nhưng vẫn không làm
được ǵ. Trong khi cuộc tấn công đang diễn ra, Đính nghe trên hệ thống
truyền tin một sĩ quan CSBV muốn nói chuyện với ông. Người trên hệ thống
truyền tin nói ông ta đang quan sát mặt trận. Ông nói số phận của Đính và quân lính
dưới quyền đang nằm trong t́nh trạng nguy hiểm. Nếu Đính và quân của trung
đoàn đầu hàng th́ họ sẽ được đón tiếp và bảo vệ an toàn.
Nếu không tất cả sẽ bị tiêu diệt. Chưa đầy một tiếng sau,
một tư lệnh mặt trận lên máy truyền tin nói chuyện với Đính một lần
nữa. Người tự nhận là tư lệnh mặt trận cho biết đây là lần
đề nghị cuối cùng trước khi họ tấn công. Đính yêu cầu CSBV ngưng
bắn và cho thêm giờ để quyết định. Ba giờ trưa, Đính tập hợp
13 sĩ quan chỉ huy của trung đoàn trong hầm chỉ huy để quyết định.
Đính mở lời trước, cho biết t́nh thế rất tuyệt vọng. Căn cứ
không thể cầm cự trước sự tấn công liên tục của địch quân.
Sau đó Đính nói ra ư nghĩ thật của ḿnh, là "Nếu tiếp tục chiến đấu,
nhiều người sẽ chết. Và nếu chúng ta có bị thương, có chết, để
có được một chiến thắng, th́ cũng không ai lo cho chúng ta sau đó. Chúng ta bây
giờ phải tự lo lấy thân." Tiếp theo Đính nói về đề nghị của địch.
Sau đó ông hỏi tất cả muốn tử thủ, đánh mở đường máu,
hay đầu hàng? Nếu tất cả các sĩ quan có mặt đồng ư tiếp tục
đánh th́ ông sẽ nghe chiều theo ư họ. Trong số sĩ quan hiện diện, chĩ có
Thiếu tá Tôn Thất Măn (khóa 12 Thủ Đức, TĐT 1/56) lên tiến đ̣i đánh đến
cùng. Số sĩ quan c̣n lại yên lặng không ư kiến. Trước sự yên lặng của
các sĩ quan, Đính nói về gia đ́nh của họ … về viễn ảnh những vui
mừng khi họ được sống sót trở về. Sau đó — theo tác giả Wiest
viết — họ bỏ phiếu để quyết định: tất cả đều
đồng ư đầu hàng, chỉ có Thiếu tá Tôn Thất Măn không bỏ phiếu. Với
quyết định đă được đồng thuận, Đính đi qua lô cốt của
hai sĩ quan cố vấn Mỹ để thông báo. Nhưng Thiếu tá Joseph Brown và Trung tá William
Camper không đồng ư. Camper đề nghị trung đoàn dùng những chiếc thiết giáp
có trong căn cứ đánh bung ra ṿng đai mở đường máu. Đính không chịu, nói
vô ích. "Tôi muốn giết ông Trung tá [Đính] ngay tại chổ", Trung tá Camper kể lại sự
tức giận của ông khi Đính nằng nặc đ̣i đầu hàng. Sau khi nói với Trung
tá Đính là nếu ông ta đầu hàng th́ trách nhiệm của hai người cố vấn đă
hết. Camper gọi về trung tâm hành quân của Sư Đoàn 3BB cho biết "nhiệm vụ của
ông ta không c̣n cần ở căn cứ Carroll nữa, và xin được di tản." May mắn,
một trực thăng C-47 trên đường tiếp tế đạn cho căn cứ Mai
Lộc bay ngang qua đó, ghé lại bốc hai sĩ quan Hoa Kỳ và 30 người lính không chịu
đầu hàng và muốn đi theo hai sĩ quan Mỹ. Khi chiếc trực thăng cất
cánh th́ cờ đầu hàng đă bay trên căn cứ Carroll. Trung tá Đính dẫn toán quân 600 người
ra khỏi trại đi đến điểm hẹn với địch. Bên trong, số quân
không chịu đầu hàng c̣n lại rút đi về hướng đông. Trong nhóm quân không
chịu theo Tr./T Đính là Pháo Đội B của TĐ 1 Pháo Binh TQLC. Đây là pháo binh đi kèm TĐ 4 TQLC, họ
đóng nhờ trong căn cứ Carroll. Theo tường tŕnh của cố vấn Mỹ sau
này, Pháo Đội B hạ ṇng đại bác xuống bắn thẳng cho đến khi bị tràn
ngập. Tất cả toán quân rút đi, về đến pḥng tuyến VNCH được
khoảng 1,000 người, trong đó có một tiểu đoàn c̣n nguyên vẹn. Tối đêm
đó Đính và 600 quân đến một địa điểm gần căn cứ Khe Gió. Ở
đây một sĩ quan CSBV ra đón họ. Ngày hôm sau, 3 tháng 4, Đính lên lên đài phát thanh CSBV
đọc lời kêu gọi quân nhân VNCH đầu hàng như ông đă làm.
Thiếu tá Huế bị đưa về bắc được
hơn một năm th́ Trung tá Đính cũng được CSBV đem ra bắc để tiếp
tục thực hiện kế hoạch tuyên truyền của họ. CSBV đề nghị
Đính gia nhập quân đội CSBV th́ sẽ được phục hồi chức vụ Trung
tá trong quân đội của họ. Đính đồng ư. Đính làm như vậy chỉ để
— theo lời Đính kể — giúp đỡ 600 quân nhân đầu hàng bị đưa về
miền bắc. Những quân nhân này đang phục vụ công tác lao động ở các đơn
vị hậu cần CSBV. Trở thành một sĩ quan cộng sản, Đính có lương và
nhà ở, và làm việc như một sĩ quan văn pḥng ở Hà Nội. Sau này, sau khi VNCH
thất thủ, Đính đă phục vụ trong công tác tuyên truyền cho CSBV. Một trong những
công tác là làm giảng viên ở những trại tập trung quân đội VNCH.
Về phần Huế, sau sáu tháng bị nhốt ở Hỏa
Ḷ, ông bị đưa về trại tù Sơn Tây. Trong thời gian ở Sơn Tây, CSBV đưa
Đính và Trung tá Vĩnh Phong vào nói chuyện với một số tù binh. Trong buổi gặp mặt
đó, bên phía tù binh VNCH ngoài Huế c̣n có Đại tá Nguyễn Văn Thọ và Thiếu tá
Trần Văn Đức của lữ đoàn 3 Nhảy Dù. Trong lần nói chuyện đĩ
phía bên kia không thẳng lời chiêu dụ Huế và hai sĩ quan Nhảy Dù. Nhưng họ có
hàm ư là nếu ba người sĩ quan đầu hàng th́ sẽ có được một đời
sống thoăi mái hơn là đời sống của tù binh. Sau đó, Huế và một số
sĩ quan được đưa về Hà Nội để chiêu dụ thêm một lần
nữa. Nhưng một lần nữa Huế từ chối không theo về bên kia. Hai năm
sau, cuộc đời của Thiếu tá Huế bị thêm một "tai nạn" nữa. Sau khi
Hiệp Định Paris 1973 được kư kết: Là một tù binh, tên của ông được
nằm trong bản trao trả tù binh chính thức. Nhưng chỉ vài giờ trước khi
được giao trả về miền nam, CSBV giữ ông lại. V́ ông bị bắt ở
Hạ Lào, nên nói "một cách kỹ thuật," ông là tù binh của Pathet Lào! Huế bị giam
đến năm 1983 mới được trả tự do. Theo lời kể của Huế,
trước khi gia đ́nh ông được phép rời Việt Nam sang Mỹ, Tr./T Đính có t́m
vào Sài G̣n gặp Huế. Đính muốn khi Huế đến Mỹ và khi gặp lại những
sĩ quan cố vấn, nên giải thích hoàn cảnh đă làm cho ông phải đầu hàng —Những
hoàn cảnh mà Th/T Huế cho là không chính đáng để đầu hàng.
Tài liệu căn bản của Vietnam's Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN
đến từ phỏng vấn những nhân vật có liên quan đến sự kiện.
Sử liệu trong tác phẩm không quan trọng hay mới lạ trên quan điểm sử
học. Nhưng đó là sự lôi kéo của tác phẩm: tác giả tạo được một
tác phẩm lư thú dựa trên những ǵ rất ít ông đă t́m được. Andrew Wiest là giáo sư sử học tại đại học
Southern Mississippi.
Ông đă có một thời gian giảng dạy tại trường Cao Đẳng Không Quân (Air
War College), nơi đào tạo sĩ quan cấp tướng tương lai cho Không Quân Hoa Kỳ.
Vietnam's Forgotten Army là tác phẩm thứ ba về chiến tranh Việt Nam của tác giả.
>>Nguồn : THỦ ĐÔ THỜI BÁO THỨ TƯ 2 THÁNG 1, 2007

B́a tác phẩm Vietnam's Forgotten Army. Đại úy Trần Ngọc Huế đang được
Đại tướng Abrams gắn huy chuơng. Bên phải là Thiếu tá Phạm Văn Đính.
Người sĩ quan Hoa Kỳ đứng phía sau là Đại úy cố vấn cho đại
đội Hắc Báo William Joe Bolt. Bolt hồi hưu với cấp bậc Trung tướng.

H́nh trên: Đại bác 175 ly ở căn cứ Carroll khi c̣n là căn cứ của bốn
tiểu đoàn pháo binh, TQLC và Lục Quân Hoa Kỳ

Băi đáp LoLo, 5-3-1971. Một ngày trước khi 2/2 của Th/T Trần Ngọc Huế
nhảy vào Tchepone

Không ảnh của căn cứ Carroll
Back to TOP
|
|
 |
|
|
|