lyhuong.jpg














































Câu chuyện Tháng Tư: Một gia đ́nh... Một con người... và hàng trăm số phận
Friday, April 25, 2008
medium_Francisco-01a.jpg

Chị Camila Hằng Phương và anh Francisco B. Baesa trong căn mobile home của ḿnh. (H́nh: Vũ Đ́nh Trọng/Người Việt)

medium_Francisco-03.jpg

Từng thuyền nhân được giúp leo lên giàn khoan “Kokan Pioneer 1”. (H́nh: Francisco B. Baesa cung cấp)

medium_Francisco-02.jpg

Những người phụ nữ và em bé ngủ vùi sau bao ngày lênh đênh trên biển. (H́nh: Francisco B. Baesa cung cấp)

medium_Francisco-01b.jpg

Những giọt nước mắt trong ngày 30 Tháng Tư năm ấy lại chảy dài trên má. (H́nh: Vũ Đ́nh Trọng/Người Việt)

medium_Francisco-01c.jpg

“Tôi gặp họ lúc đầu tôi c̣n xanh, nay nó đă bạc trắng, chỉ mong tất cả mọi người đều đang được sống b́nh an, hạnh phúc”. (H́nh: Vũ Đ́nh Trọng/Người Việt)

Vũ Đ́nh Trọng/Người Việt

Chúng tôi nói chuyện trong ngôi mobile home nhỏ bé tại thành phố Hawaiian Gardens một sáng Tháng Tư. Trời Cali thật đẹp, và trong không khí yên tĩnh của buổi sáng hôm ấy, quá khứ lại quay về cùng với những giọt nước mắt của chị. Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, ngày mà chị cùng với hơn một ngàn người đă ̣a khóc trên biển cả mênh mông khi nghe tin Sài G̣n thất thủ. Những giọt nước mắt đă chảy ngược vào tim năm nào, nay lại trào ra cùng với tiếng nấc làm tôi cũng lặng người.

Cạnh chị là người chồng ngoại quốc đă gắn bó với mảnh đất miền Nam từ thập niên 1960. Hai mươi tám năm nay, anh luôn cầu nguyện cho hơn một trăm người Việt Nam mà ḍng xoáy lịch sử đă đẩy anh và họ lại gần nhau trong một đêm giữa biển khơi. Với họ, anh là chiếc phao cứu sinh cuối cùng, và bằng hết khả năng của ḿnh, anh đă đưa những thuyền nhân này đến một bến bờ tự do thực sự.

Một câu chuyện cảm động mà hai mươi tám năm sau anh mới kể.

Cuộc hôn nhân từ viên đạn lạc

Một buổi sáng năm 1967 tại Tây Ninh, một viên đạn lạc bay vào nhà Camila Hằng Phương và làm em gái chị bị thương. Tại bệnh viện tỉnh, viên đạn được gắp ra an toàn. Người phụ trách phẫu thuật lại là một người lính Philippines, Trung Sĩ Francisco B. Baesa, cán sự giải phẫu quân đội. Chị nhớ lại:

“Tôi vào nuôi em nên quen anh. Sau khi em tôi được xuất viện, má tôi thấy anh sốt sắng lo cho em tôi quá nên làm một bữa tiệc cám ơn. Anh lấy ra tấm h́nh một cô gái và nói tại em tôi giống em gái anh quá nên có tận t́nh hơn. Sau đó anh xin má tôi nhận cô em gái làm em nuôi. Vậy là anh có cớ tới nhà, riết rồi chúng tôi có cảm t́nh.” Chị cười: “Qua năm 1968, sau Tết Mậu Thân chúng tôi làm đám cưới.”

Đám cưới anh chị được tổ chức đơn giản nhưng lại có đại diện chính phủ hai nước Việt Nam và Philippines. Chị nhắc lại kỷ niệm cũ với một niềm vui trên nét mặt: “T́nh cờ lại có chị Kiều Chinh và anh Nguyễn Long đến dự.”

Xă hội miền Nam thời đó c̣n nặng thành kiến với phụ nữ lấy chồng ngoại quốc, nhất là ở tỉnh lẻ như Tây Ninh. Chị bỏ dạy học xin làm thông dịch viên cho cô Helen Lebiz, người Mỹ, lúc đó làm cố vấn điều dưỡng bệnh viện tỉnh. “Cô ấy rất tốt với tôi. Nghe nói hiện nay cô đang ở California nhưng tôi không biết cách nào liên lạc được với cô ấy.” Chị lắc đầu như một điều nuối tiếc.

Tây Ninh những ngày Tháng Tư năm 1975 trở thành vùng “xôi đậu”. V́ an toàn, gia đ́nh chị chuyển lên Sài G̣n lánh nạn. Lúc này anh Baesa đă giải ngũ và làm cán sự y tế cho đoàn lắp đặt giàn khoan dầu tại vùng Trung Đông. Chị hồi tưởng lại những giờ phút hoảng loạn đó:

“Chúng tôi đang t́m đường trở về quê th́ được Ṭa Đại Sứ Philippines cho biết là phải t́m cách ra Vũng Tàu ngay để được đi Phi. Hôm đó là ngày 21 Tháng Tư. Hôm sau chúng tôi ra được Vũng Tàu và thấy t́nh h́nh lộn xộn hơn ḿnh nghĩ. Năm ngày sau th́ có trực thăng đón ra tàu lớn, cả ngàn người chen chúc, giành giật một chỗ ngồi.”

Trong lúc chen lấn t́m đường lên trực thăng, chị đột nhiên trở bệnh tim, ngất xỉu. Chị không nhớ ai đă đưa chị cùng hai đứa con gái lên trực thăng, bỏ lại gia đ́nh cùng đứa con út của chị lúc đó chưa đầy hai tuổi. Hôm đó là ngày 27 Tháng Tư năm 1975.

T́nh h́nh chiến sự tại Việt Nam bay đến Trung Đông, nơi anh Baesa làm việc. Anh muốn quay về Việt Nam ngay để lo cho gia đ́nh vợ nhưng mọi cánh cửa vào Việt Nam đă bị đóng chặt.

Những người mất tổ quốc giữa biển khơi

Chị tỉnh dậy trên tàu rồi khóc ngất khi không thấy con gái út bên cạnh, không thấy mẹ cùng 5 người em thân yêu. Chị đ̣i trở về đất liền nhưng không ai cho phép, cho chị về đồng nghĩa với chuyến bay ra bị mất một chỗ, có nghĩa một người nào đó phải ở lại. Ôm hai đứa con vào ḷng, chị rơi xuống hố thẳm của sự tuyệt vọng và đành ngồi nh́n từng chuyến bay đáp xuống rồi cầu Trời khấn Phật.

Người nhân viên chính phủ Philippines quen biết xuất hiện đúng lúc trong chuyến bay cuối cùng. Anh cho biết đă đưa được gia đ́nh chị xuống sà lan để ra ngoài này, ngày mai mới đến. Camila như trút được gánh nặng đă đeo bám chị cả ngày; nhắm mắt ôm hai con vào ḷng và chỉ mong ngày mai chóng tới.

“Má nói má già rồi, chắc không sao. Với lại má nói chắc đi lánh nạn vài bữa nửa tháng rồi về nên má không đi.” Chị lại ̣a khóc khi nghe người em nói lại. “C̣n con út đâu?” Chị hỏi. “Út nói anh chị đi hết rồi, thôi để em ở lại để lo cho má.” Nhận lại đứa con út từ tay người em, chị không biết ḿnh buồn hay vui. Thẫn thờ nh́n về phía bờ, chị cầu mong má được b́nh yên.

Chiếc tàu chở hơn 1,200 người lầm lũi tiến về vùng đất Philippines, chẳng thấy đâu là bờ. Trong mênh mông của biển cả, con tàu như chiếc lá mỏng manh yếu đuối, nhưng có lẽ yếu đuối nhất vẫn là thân phận con người.

Trưa 30 Tháng Tư năm 1975, biển như dậy sóng bởi tiếng khóc gào của hơn 1,200 thân phận đó khi nghe trên radio tin Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng. Lịch sử sẽ phán xét hành động của vị tổng thống VNCH cuối cùng này, thế nhưng ngay trong lúc đó, cả miền Nam tự do bị ch́m ngập trong cơn sóng dữ. Cơn sóng dữ đă cuốn trôi tất cả những giá trị nhân bản mà người miền Nam gầy dựng bao năm qua. Trên con tàu nhỏ bé giữa ḷng đại dương, hơn 1,200 người chợt nhận ra ḿnh không c̣n được đứng trên mảnh đất quê hương nữa. Họ đă mất tổ quốc giữa biển khơi mênh mông sóng gió.

Thủy thủ đoàn người Philippines nh́n họ với con mắt ngạc nhiên và tự hỏi: “Điều ǵ làm cho mấy người này khóc dữ vậy?”

“Nếu ông đuổi họ đi, tôi sẽ theo họ”

Tàu đi đến ngày 1 Tháng Năm th́ tới Philippines, chúng tôi được chính phủ Phi tiếp đón đàng hoàng.” Chị Camila kể tiếp:

“Tháng Bảy năm 1975, chồng tôi được về phép một tháng, gia đ́nh chúng tôi được đoàn tụ. Các em tôi sau đó cũng được định cư ở một nước thứ ba. Cô em gái kế được đi Mỹ năm 1976, ba đứa em được Canada nhận năm 1977. Năm 2000, gia đ́nh chúng tôi được người em bảo lănh qua Mỹ.”

Năm 1980, gia đ́nh chị đă có thêm hai thành viên mới, hai người con gái nữa lần lượt ra đời trong niềm vui sum họp. Anh Baesa tiếp tục làm cán sự y tế trong đoàn xây dựng giàn khoan của công ty Brown & Root (Halliburton), Hoa Kỳ. Một giàn khoan thường có khoảng 300 đến 350 người làm việc ngày đêm, nhưng chỉ có một ḿnh anh chăm lo sức khỏe cho tất cả, nên nhiều ngày ông phải làm việc 24/24.

Một sáng Tháng Tư hay Tháng Năm ǵ đó mà anh không nhớ rơ, tại giàn khoan “Kokan Pioneer 1” trên biển Malaysia, một chiếc ghe rất nhỏ tấp vào xin giúp đỡ. Anh nhớ lại: “Họ là những thuyền nhân Việt Nam. Trên ghe chỉ có 4 người, 2 người đàn ông, một người phụ nữ và một đứa con nít.” Họ chỉ xin thực phẩm, nước uống, dầu chạy máy, la bàn cũng một số đồ dùng cần thiết rồi nhắm hướng Malaysia chạy tiếp.

Khoảng ba tháng sau, khi đang ngủ say sưa th́ anh bị một người bạn đánh thức dậy, lúc đó khoảng 4, 5 giờ sáng. Anh kể:

“Người bạn nói tôi có khách ghé thăm. Tôi vội ra ngoài th́ thấy hai chiếc ghe đă cặp sát giàn khoan. Tôi bàn với ông thuyền trưởng của tôi và vị người Anh đại diện bên thuê chúng tôi xây dựng giàn khoan này. Tôi nói chúng ta phải cho họ lên thôi, họ không thể sống nổi nếu ta để họ đi trong t́nh trạng như thế này. Vị thuyền trưởng hoàn toàn ủng hộ ư kiến của tôi, ông nói ông cho tôi toàn quyền quyết định. Nhưng vị người Anh th́ phản đối, ông chỉ đồng ư cung cấp thực phẩm và vật dụng cần thiết chứ nhất định không cho đoàn người tị nạn lên giàn khoan. Ông ta cũng có lư của ông ấy v́ việc lo sức khỏe cho nhân viên ở đây cũng đủ làm tôi mệt ră rời. Tôi nói với ông ấy rằng nếu ông đuổi họ đi th́ tôi sẽ theo họ.”

“Vị thuyền trưởng cũng tỏ ra lo lắng dù đă cho tôi toàn quyền quyết định. Ông ta hỏi là tôi có lo được cho hơn một trăm người này không. Tôi gật đầu xác quyết, và ông ấy yên tâm.”

Anh quyết định xuống ghe xem t́nh h́nh nhóm thuyền nhân này. Hơn năm mươi người trên một chiếc ghe mong manh, anh không thể hiểu nổi làm cách nào mà họ có thể vượt qua một chặn đường dài để đến đây khi trước mặt là biển cả mênh mông. Trên khoang thuyền, trừ một số thanh niên c̣n sức đứng được, c̣n lại đàn bà con nít nằm la liệt dưới sàn ghe dơ dáy bẩn thỉu. Anh nghĩ bụng: “Họ đă quá kiệt sức. Không thể để họ đi tiếp.”

Vừa bước xuống thuyền, nhiều người quỳ xuống vừa lạy vừa khóc. Dù không biết họ nói ǵ nhưng anh hiểu họ đang van xin chúng tôi đừng đẩy họ ra biển lần nữa. Anh không biết nói tiếng Việt nên rút trong túi ḿnh ra h́nh vợ ḿnh cho họ xem rồi nói:

“My wife is Vietnamese... Vietnamese!”.

Họ không hiểu tiếng Anh nhưng nh́n h́nh và nghe tiếng Việt Nam nên hiểu rằng anh là bạn của họ nên thôi khóc lạy.

Anh kể tiếp:

“Tôi cho họ lên giàn khoan, đồng thời nói nhỏ với mấy người bạn thợ lặn, nhờ họ lặn xuống đục cho thủng một chiếc ghe. Chiếc ghe c̣n lại tôi nhờ kéo lên cho vị người Anh xem và nói rằng, bây giờ hơn một trăm người này chỉ c̣n một chiếc thuyền mỏng manh này, họ không thể nào đi được.”

Cuối cùng ông ta phải nhượng bộ anh và giao toàn quyền cho anh chăm sóc nhóm thuyền nhân này.

Tất cả thuyền nhân đều kiệt sức v́ đói, khát, bệnh tật và bốc mùi hôi hám. Anh cho họ tắm rửa và cung cấp quần áo, sau đó khám bệnh cho từng người và cấp thuốc uống. Đă bao ngày họ không được ăn uống nên anh chỉ cho họ ăn cháo, sau đó để họ ngủ cho lại sức. Các nhân viên trên giàn khoan cũng mỗi người một tay phụ giúp anh chăm sóc những người vượt biển. Tất cả lao vào công việc cứu giúp bằng tất cả tấm ḷng.

Một chuyện mà anh nhớ măi, và luôn mang trong ḷng câu hỏi không biết đứa bé năm xưa ấy bây giờ ra sao? Kư ức lại một lần nữa sống dậy như một truyện huyền thoại ở thế kỷ 20:

“Trong đoàn người vượt biển, có một em bé bị bệnh tiêu chảy. Da em khô quắt v́ bị mất nước nhiều ngày. Nh́n em thoi thóp thở ai cũng thấy xót xa. Nhưng em lại nhỏ tuổi quá mà tôi lại chỉ có thuốc dành cho người lớn nên tôi đành chia nhỏ lượng thuốc ra làm nhiều phần rồi cho em uống. Vừa cho mà vừa run, tôi chỉ biết nguyện cầu Chúa nhân từ cứu em thôi.”

Hôm sau em thuyên giảm và không đi tiêu chảy nữa, mọi người mừng rỡ cám ơn anh nhưng anh nói không phải anh cứu, “Chính Chúa đă cứu em bé này chứ không phải tôi.” Anh trả lời với một niềm tin mănh liệt về lời cầu nguyện của ḿnh.

Hôm sau th́ mọi người khỏe hơn v́ không bị sóng gió vùi dập, được ăn, được ngủ thẳng giấc. Anh mở kho cung cấp cho họ thêm đồ dùng cần thiết rồi bàn với thuyền trưởng gọi điện thoại cho Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ nhờ giúp đỡ. Vị thuyền trưởng nói sợ họ không nhận v́ họ bên quân đội, nhưng rồi các anh cũng t́m được cách. Anh nói:

“Chúng tôi bàn với nhau là gọi về văn pḥng khu vực của công ty đặt tại Singapore nhờ họ giúp đỡ. Từ Singapore, công ty chúng tôi liên lạc với Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ tại đây, rồi Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ liên lạc với tổ chức Liên Hiệp Quốc. Bộ phận chuyên trách về người tị nạn của LHQ đă liên lạc với chính quyền Malaysia để tiếp nhận số người này. Thế là chúng tôi cho những thuyền nhân này xuống tàu của giàn khoan để chở họ về đất liền, tôi cũng đi theo.”

“Có một trở ngại trên đường đi. Hải quân Mă Lai lấy lư do an ninh không cho chúng tôi vào, họ chỉ đi ṿng ṿng v́ thế thay v́ chỉ mất một tuần, chúng tôi đă phải lênh đênh trên biển 2 tuần lễ mới tới được vùng biển miền Tây Malaysia.”

Để đề pḥng đám người trên đất liền giở tṛ cướp bóc những người mới đến, anh bày cho những người phụ nữ giấu nữ trang vàng bạc vào chỗ kín, rồi dán băng keo lại như đang tới tháng. Tới bờ biển phía Tây Malaysia, anh mướn một chiếc thuyền khác chở ngay đoàn người tới trại tỵ nạn, anh không muốn để họ trên bờ giữa những người xa lạ mà không được bảo vệ. Sau khi trại tiếp nhận, anh chúc họ b́nh an rồi quay về giàn khoan với tâm trạng nhẹ nhơm đến lạ lùng. Bấy giờ anh mới thấm mệt, điều anh cần nhất bấy giờ là được ngả lưng trên chiếc giường quen thuộc để có thể ngủ một giấc thật trọn vẹn.

Niềm vui được nhân đôi

Ở nhà, chị Camila nhận được một thùng quà của anh gởi về. Chị ngạc nhiên v́ không hiểu anh gởi ǵ về cho chị khi đang ở giữa biển mênh mông. Mở ra th́ thấy toàn là thư mà địa chỉ người nhận ở Việt Nam, đọc thư chồng chị mới biết ḿnh phải làm ǵ. Tôi hỏi chị mất bao nhiêu tiền để gởi hết thùng thư đó, chị cười:

“Tôi cũng chẳng biết, mà cũng không cần biết. Tôi vui khi biết anh ấy giúp được đồng bào tôi, và tôi tin rằng một trăm gia đ́nh ở Việt Nam sẽ rất vui khi nhận được những lá thư này.”

Đoạn kết

Anh chị đang sống cuộc cuộc sống b́nh yên tại miền Nam California này. Năm người con gái đă trưởng thành và không cần sự trợ giúp của ba mẹ. Nhưng trong cái yên b́nh ấy, anh luôn nghĩ đến những người mà ḿnh chỉ gặp có một lần, không kịp hỏi tên, nhất là đứa bé được Chúa cứu, như lời anh nói.

“Tôi gặp họ lúc đầu tôi c̣n xanh, nay nó đă bạc trắng, chỉ mong tất cả mọi người đều đang được sống b́nh an, hạnh phúc.”

Anh kết thúc câu chuyện thật nhẹ nhàng như chuyện anh làm hai mươi tám năm trước.

dienhanh.jpg






Trung Úy Sơn của Charles Kuralt
Friday, April 25, 2008
medium_k.jpg

Cố nhà báo Charles Kuralt

Hoàng Mai Đạt

Nhân ngày tưởng niệm 30 Tháng Tư, mời quí độc giả đọc một bài dịch lồng trong một bài viết về câu chuyện một kư giả Mỹ từng gặp những một chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa vào đầu thập niên 1960. Bài này đă được đăng trong tuyển tập “Biên Tà Tà” của Hoàng Mai Đạt.

 

Ông Charles Kuralt là một kư giả truyền h́nh nổi tiếng trong giới truyền thông Hoa Kỳ. Người Mỹ kính trọng ông Charles Kuralt không v́ ông có thể bám sát chuyện thời sự trên thế giới hoặc thông thạo các ngơ ngách quyền lực tại Hoa Thịnh Đốn. Người Mỹ quí ông v́ ông cho họ thấy đất nước này c̣n có những con người chất phác, giàu ḷng bác ái và đầy t́nh người. Những “con người” của ông Charles Kuralt thường có một đời sống hoặc thói quen kỳ quặc một cách đáng yêu, đáng mến. Họ không xuất hiện trong những bản tin mà người thành phố vẫn đọc trên báo vào mỗi buổi sáng hoặc xem trên đài truyền h́nh vào mỗi buổi chiều.

 

Họ có thể là một ông lăo sống giữa rừng trong vùng biên giới Minnesota, từng chui vào bụng hươu, thoát hiểm qua một đêm băng giá; một giáo sĩ râu bạc trắng sống xa lánh trần gian trên một đỉnh núi tuyết tại Washington; những người sống bằng nghề rung ḷ so se tải để bắt trùng đất tại Florida; một nông dân da đen vừa làm ruộng, vừa đọc sách mỗi ngày, có một thư viện đa dạng hiếm hoi giữa một miền quê nghèo khó tại Arkansas; một bà cụ trên tám mươi tuổi đă bay trên ba mươi ngàn giờ, có thể là phụ nữ bay nhiều nhất thế giới; một người cắm ngược nhiều chiếc Cadillac giữa một cánh đồng “văn hóa xe” tại miền Tây Texas; hoặc một ông lăo có thú vui thả diều cho trẻ em ở Indiana giữa đất nước Hoa Kỳ rộng lớn.

 

Trong hơn ba mươi năm phiêu bạt đó đây trên khắp thế giới, ông Charles Kuralt t́m ra hàng trăm nhân vật ly kỳ, đáng xem và đáng mến, mang họ đến với khán giả truyền h́nh. Từ một chàng thanh niên có biệt tài văn chương, làm việc cho một tờ báo địa phương, ông Charles Kuralt được mời đến đài CBS tại New York đúng lúc ngành thông tin truyền h́nh đang bắt đầu trưởng thành vào cuối thập niên 1950.

 

Trong mấy năm đầu ông săn tin, viết tin, đọc tin trên đài truyền h́nh. Biến cố thời sự nào ông cũng am tường hoặc có tham dự. Tuy thế, viết tin và đọc tin mỗi ngày không là nỗi ao ước lớn nhất đời ông. Đến một ngày kia ông mới có cơ hội thực hiện điều mà ông đă thèm khát từ lâu. Đó là lái một chiếc xe và tự “thất lạc” trên một đất nước bao la, vô tận như niềm vui giang hồ của ông. Trong hai thập niên “thất lạc” ông đă lăn bánh hơn một triệu dặm khắp nước Mỹ, và khi nghe ông kể lại trên đài truyền h́nh vào mỗi sáng sớm Chủ Nhật, người ta hiểu rằng ông đă yêu thương từng dặm đường lang thang ấy biết bao.

 

Theo lời tâm sự trong loạt chương tŕnh “On The Road” và được in thành sách sau này, ông nếm mùi giang hồ ngay từ ngày 9 Tháng Chín năm 1934, ngày chào đời của cậu bé Charles Kuralt. Hôm ấy một người đàn ông thường giúp đỡ kẻ nghèo khốn đă lái một chiếc xe Chevrolet đưa một cô giáo sắp sanh đến bệnh viện. Chiếc xe phóng qua mấy thị trấn tại miền quê North Carolina trong hơn một giờ đồng hồ. Ông Charles Kuralt tự hào rằng ngay từ lúc lọt ḷng mẹ ông đă du lịch trên năm mươi dặm trong chiếc Chevrolet của cha. Từ đó ông “nghiện” du lịch, không ngừng phiêu lưu cho đến ngày qua đời vào năm 1997. Ngoài thời gian t́m ṭi trên đất Mỹ, ông du lịch khắp thế giới, từ Bắc Cực đến Congo, từ Cuba đến Liên Bang Xô Viết.

 

Thế rồi hơn bốn mươi năm trước đây, ông ghé Việt Nam và gặp Trung Úy Sơn, một người lính Việt Nam Cộng Ḥa mà ông đă kể lại trong một chương sách mang tựa đề “Lieutenant Son”. Chương này nằm trong cuốn A Life On The Road được soạn viết trong thập niên 1980. Nhân dịp ngày 30 Tháng Tư mấy năm trước, tôi quyết định chuyển ngữ “Trung Úy Sơn” để chia sẻ với bạn về những ǵ mà ông Charles Kuralt viết về một người lính Việt Nam Cộng Ḥa. Từ ngày đọc “Trung Úy Sơn” lần đầu, mỗi 30 Tháng Tư tôi vẫn thường t́m lại bài này. Sau khi đọc “Trung Úy Sơn” bạn sẽ hiểu tại sao.

** *

Vào Mùa Xuân năm đó ông Les Midgley nói một câu làm cho tôi suưt bị thiệt mạng trong ṿng một gang tay.

Ông ấy nói, “Việt Nam.”

 

Lúc đó là Tháng Tư năm 1961. Sổ tay cho chuyến đi Việt Nam của tôi chỉ ghi nhận vỏn vẹn có một câu: “Khoảng 500 cố vấn quân sự đang có mặt tại đây.” Khi ấy chưa có một cơ quan truyền thông Hoa Kỳ nào cho rằng cuộc chiến Việt Nam có đủ tầm mức quan trọng để cho họ mở văn pḥng thường trực tại quốc gia này. Sự viếng thăm của một nhóm truyền h́nh Mỹ quả là bất thường, đến nỗi khi anh thâu h́nh Fred Dieterich từ Los Angeles và tôi đặt chân đến phi trường Sài G̣n th́ chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa gửi ngay một anh tài xế lái xe Citroen đến đón và đưa chúng tôi vào thành phố, giúp cho hai người khách lạ được thoải mái. Chính quyền cũng dàn xếp cho tôi được phỏng vấn Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm vào buổi sáng hôm sau.

 

Ông Diệm được bầu lên chức tổng thống và rồi trở thành một nhà lănh đạo chuyên quyền. Dưới chiêu bài phải chiến thắng cộng sản miền Bắc, ông ra lệnh bắt giữ đông đảo người đối lập, kiểm duyệt quyền tự do báo chí. Quân đội của ông đương đầu với một cuộc chiến tàn bạo trong rừng sâu và trên những cánh đồng. Họ dần dần mỏi mệt. Trong cuộc phỏng vấn, ông Diệm nói về hoàn cảnh đất nước của ông bằng những lời rất thẳng thắn. Ông không dùng những chữ nghĩa tối mù ngoại giao mà tôi đă chờ đợi. Ông tŕnh bày rất rơ ràng về vấn đề Việt Nam cần viện trợ quân sự của Hoa Kỳ.

Ông nói với tôi rằng khi đất nước Việt Nam bị chia đôi vào năm 1954, khoảng 900,000 người miền Bắc đă di cư vào miền Nam. Ông cho biết hầu hết những người di cư là những người chống cộng sản. Tuy thế, trong số này cũng có chừng 10,000 người Việt Cộng được huấn luyện và trà trộn trong khối dân miền Nam. Những người này chờ và thi hành mệnh lệnh khủng bố người miền Nam.

 

Ông Diệm nói như sau, “Những người cộng sản nằm vùng đă giết chết xă trưởng, giết luôn các phụ tá và rồi nắm quyền kiểm soát toàn xă. Đó là chiến thuật của người cộng sản. Giờ đây Việt Cộng hoạt động tại miền Nam c̣n nhận được sự trợ lực trực tiếp từ các cán bộ tại Hà Nội. Đây là một cuộc xâm lăng rất kín đáo, với sự hậu thuẫn của Trung Quốc và Liên Sô. Để chống lại sự xâm lăng này, chính quyền của chúng tôi rất cần viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ.”

 

Tôi gợi ư rằng Việt Nam là cựu thuộc địa của người Pháp, và như thế may ra miền Nam Việt Nam có thể nhận được một phần nào sự trợ giúp của Pháp.

 

Ông Diệm trả lời thẳng thừng, “Người Pháp không có ư chí. Chỉ có quốc gia của quí vị mới có ư chí bảo vệ tự do trên thế giới. Nếu Hoa Kỳ cũng đánh mất ư chí này th́ Việt Nam sẽ không có tự do.”

 

Ngày hôm ấy ông Ngô Đ́nh Diệm đă cho tôi một bài học lịch sử rất hay. Bài học đó cũng là lời tiên tri hay không kém.

 

Dưới mắt tôi Sài G̣n là thành phố hấp dẫn nhất trong các thành phố. Cuộc chiến ở miền thôn quê chưa ảnh hưởng đến thủ đô. Tất cả những người mà tôi được gặp, kể cả giáo viên, kư giả, tiếp viên nhà hàng cho đến tài xế taxi, đều thân thiện và rất ư tứ. Tôi cho rằng phụ nữ ở đây xinh đẹp trong những tà áo dài lướt trôi giữa những ḍng xe ngoài phố. Sài G̣n có thời tiết mùa xuân rất đáng yêu với những quán cà phê bên đường thật thú vị. Tôi đi bộ dưới bóng cây râm mát trên các đại lộ vào ban ngày, nằm trên giường bên dưới một quạt trần lười biếng trong khách sạn Majestic cũ, lắng nghe tiếng tàu thuyền di chuyển trên sông vào ban đêm. Tương tự như đám kư giả ngoại quốc kéo đến đây trong những năm sau này, tôi đă yêu mến Sài G̣n. Thành phố rất xứng đáng được bảo vệ. Tôi nghĩ nếu một mai thành phố đầy ánh nắng và quyến rũ ấy bị cộng sản xâm chiếm, để rồi trở thành một nơi xám ngoét, đầy kỷ luật nghiêm ngặt, th́ thật không c̣n một chút hy vọng nào cho nền văn minh của nhân loại.Mỗi ngày tôi vẫn ghé đến văn pḥng thông tin của chính phủ, để quấy rầy một viên chức và xin phép được tháp tùng theo một cuộc hành quân ra miền thôn quê. Ban đầu viên chức nói, “Nguy hiểm lắm;” sau ông nói, “Có thể;” đến khi biết tôi sẽ không đi cho khuất mắt ông, một ngày kia ông ta mới nói, “Ngày mai. Trung Úy Sơn sẽ đến đón ông tại khách sạn. Hăy chuẩn bị để đi xa nhiều ngày.”

 

Ngày hôm sau anh Fred đặt hết dụng cụ vào đằng sau một chiếc Jeep của quân đội, leo vào ghế sau trong khi tôi ngồi ở ghế trước với Trung Úy Sơn. Ông Sơn là một sĩ quan Biệt Động Quân trẻ tuổi, gọn ghẽ, từng được huấn luyện mấy tháng tại Hoa Kỳ. Tiếng Pháp rất kém của tôi và tiếng Anh cũng rất kém của ông Sơn cũng đủ cho chúng tôi nói chuyện trong lúc xe chạy ra ngoại ô về phía Bắc Sài G̣n. Tuy c̣n trẻ tuổi, Trung Úy Sơn lại là người có rất nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh. Ông kể cho tôi nghe rằng ông xuất thân từ một gia đ́nh ái quốc. Ông và hai người anh đă gia nhập lực lượng Việt Minh trong cuộc chiến chống Pháp. Ông là một trong những thiếu niên vác đạn trong những ngày cuối cùng của trận đánh Điện Biên Phủ năm 1954. “Thế nhưng chúng tôi muốn có một đất nước tự do,” Trung Úy Sơn nói thêm. “Gia đ́nh tôi không đánh Pháp để rồi bị cai trị bởi Hồ Chí Minh.” Ông nhún vai và cười, “Thành thử bây giờ chúng tôi vẫn tiếp tục tranh đấu. Ông sẽ thấy có rất nhiều người như chúng tôi trong lực lượng Biệt Động Quân.”

 

Chúng tôi ngủ đêm trong một kho hàng bỏ phế tại thị trấn Bến Cát, cùng với Trung Úy Sơn và nhóm của ông, Đại Đội 150 Biệt Động Quân. Ông Sơn giới thiệu hai đứa tôi với những người lính trong trung đội của ông. Chúng tôi trịnh trọng bắt tay từng quân nhân, nghe ông Sơn đọc một bài diễn văn ngắn với những người lính. Sau đó ông cười toe với chúng tôi, “Tôi nói với họ hăy chăm sóc quí vị vào ngày mai.”

 

Khi bóng đêm phủ xuống, ông Sơn mang thức ăn, cơm và thịt trong một thứ nước sệt nặng mùi (thịt kho, lời người dịch). Tôi hỏi, “Món ǵ đây?” Ông Sơn trả lời, “Tôi không biết phải nói sao với ông. Thôi ông cứ ăn và đừng hỏi nữa.” Ông ta cười lớn. Ông mang cho tôi và anh Fred hai chiếc giường, trong khi chính ông cùng những người lính đă trải chiếu nằm dưới đất. Tôi nói, “Tôi không thích được ưu đăi như thế này. Chúng tôi đă chuẩn bị để sống y hệt như các bạn.” Ông Sơn đưa một tay lên và nói, “Các bạn là quí khách của chúng tôi.”

 

Các sĩ quan tụ tập trong một góc pḥng, nghiên cứu bản đồ bên dưới một bóng đèn điện treo ḷng tḥng từ trên trần nhà. Vào sáng hôm sau ba trung đội Biệt Động Quân được lệnh di chuyển xuống phía Nam, tiến vào một dải đất nằm giữa sông Sài G̣n và một con kinh. Cuộc hành quân là nhằm bao vây một lực lượng Việt Cộng mà những người lính Biệt Động Quân cho rằng rất nhỏ. Nhóm Việt Cộng hoạt động trong một khu vực được gọi là An Điền. Trung đội của ông Sơn là hàng lính tiến vào giữa trọng tâm của khu vực. Trung Úy Sơn tỏ vẻ ái ngại khi nói với chúng tôi, “Chúng ta không đi bằng đường đất. Tôi xin lỗi. Hai bạn sẽ bị dính bùn vào giày.”

 

Chúng tôi leo lên những chiếc xe vận tải của nhà binh trước khi mặt trời mọc. Sau một đoạn đường rất ngắn, đoàn xe dừng lại bên cạnh một b́a rừng. Trong bóng tối, những người lính đă yên lặng đội nón sắt, cầm thẳng súng, đeo những băng đạn vào thắt lưng. Ở đâu đó từ đằng sau lưng, tiếng đạn đại bác 155 li bắn qua đầu chúng tôi, nhắm vào khu rừng trước mặt. Chúng tôi đi bộ vào trong rừng, tiến tới từng bước một - tiến tới ǵ? Tôi không biết. Tiến tới cái ǵ đó nằm ở trong rừng.

 

Khi trời ửng sáng, thỉnh thoảng tôi có thể thấy chúng tôi đi ngang qua những khóm nhà hoang phế ở trong rừng. “Không có ai ở nhà,” ông Sơn nói. “Sợ chúng tôi, sợ đối phương. Luôn luôn chạy trốn.”

Tiếng đạn đại bác ngưng một thời gian. Buổi sáng trở nên yên lặng, ngoại trừ tiếng động của khoảng ba mươi đôi giày lính di chuyển trên mặt đất. Chúng tôi ra khỏi khu rừng, trèo qua một hàng rào kẽm gai và lội một dặm qua những đồng lúa. Anh Freddy và tôi đi vài bước trước mặt người dẫn đầu hàng lính. Chúng tôi thâu h́nh đội lính tiến về phía trước. Buổi trưa đang trở nên nóng hơn. Tôi nghĩ rằng chắc không có ǵ xảy ra. Thôi th́ ít nhất chúng tôi cũng thâu được h́nh ảnh những người lính hành quân qua những cánh đồng.

 

Đúng lúc chúng tôi đến một con đê cao hơn mặt ruộng, một tràng tiếng đạn bỗng nổ vang từ hàng cây nằm bên kia con suối, cách chúng tôi khoảng nửa dặm. Tiếng súng nổ mỗi lúc một lớn hơn, gia tăng âm độ và cường độ cho đến khi tất cả tiếng đạn trở thành một tiếng nổ lớn liên tục. Chúng tôi có thể thấy bóng người chạy thấp thoáng ở hàng cây và nghe tiếng kêu la của họ.

 

Trung Úy Sơn hét lệnh cho những người lính của ông. “Phục kích!” ông nói cho tôi biết. “Trung đội bên kia đă rơi bẫy. Họ đang cần chúng tôi ngay bây giờ.” Nói xong ông rút một khẩu súng lục 45, đưa súng lên cao và vẫy qua đầu, chỉ huy trung đội của ông tiến vào trận đánh. Các quân nhân chạy theo ông. Họ lội qua suối phóng về phía hàng cây đang có giao tranh. Anh Fred và tôi cầm máy chạy theo họ. Chúng tôi làm tất cả những ǵ có thể làm được, để vừa thâu h́nh các quân nhân chạy tới trước, vừa thâu âm thanh của cuộc đụng độ mà không bị họ bỏ rơi quá xa.

Đến khi chúng tôi chạy tới hàng cây th́ tiếng súng giảm xuống. Thỉnh thoảng có tiếng nổ hàng loạt lẻ loi từ trong rừng sâu. Tôi thấy những tử thi nằm rải rác khắp nơi ven b́a rừng. Hầu hết tử thi là những người lính Biệt Động Quân, ngoại trừ hai xác Việt Cộng trong bộ áo bà ba đen rộng. Một trong hai du kích Việt Cộng nằm bên cạnh một khẩu súng trường Browning nặng nề. Người c̣n lại chỉ có một thanh mă tấu.

Trung Úy Sơn ra lệnh cho trung đội của ông dừng lại bên hàng cây. Theo lệnh của ông mỗi người lính lấy ra một chiếc khăn trắng và buộc vào cánh tay trái. Ông cũng trao khăn trắng cho chúng tôi. “Để chúng ta không bắn lầm nhau,” ông giải thích. “Chúng ta sẽ tiến rất chậm. Hai bạn hăy đi sát bên tôi.”

 

Các quân nhân dàn rộng dọc theo hàng cây. Nghe lệnh của Trung Úy Sơn, mọi người cùng tiến vào rừng. Chúng tôi đi ḍ từng bước được năm mươi thước, rồi một trăm thước, mỗi người lính cẩn thận nghe ngóng động tĩnh ở phía trước. Chúng tôi gặp thêm những xác chết. Chúng tôi đi ngang qua một Biệt Động Quân đă bị thương và đang t́m cách ngăn chặn máu chảy từ vết thương trên ngực của một đồng đội. Trung Úy Sơn ngừng lại vài giây để nói chuyện với quân nhân bị thương. Sau đó ông tiếp tục chỉ huy chúng tôi tiến tới rất chậm trong sự im lặng. Anh Fred nói th́ thầm với tôi, “Kinh rợn như địa ngục.”

 

Cuối cùng chúng tôi đến một con đường đất dẫn ra một băi đất trống nằm giữa rừng. Trong băi đất này có một ngôi chùa bỏ hoang và một căn nhà không c̣n mái che. Trung Úy Sơn ra hiệu cho bốn quân nhân lục soát bên trong ngôi chùa và căn nhà. Họ dùng báng súng đập tung cửa chùa và tiến vào bên trong. Trống trơn. Họ cẩn thận bao vây căn nhà trước khi xông vào. Trống trơn. Nhóm truy lùng trở lại với chúng tôi ở giữa băi đất trống. Chúng tôi đứng thành một ṿng tṛn, mỗi người dóng mắt về hướng rừng cây im lặng bao quanh. Và rồi địa ngục bung mở tán loạn. Khu rừng chung quanh chúng tôi bỗng nổ tung. Tiếng đạn kêu lạch cạch liên hồi, bao vây chúng tôi trong âm thanh rền vang điếc ngộp đất trời. Sau một hoặc hai giây tôi mới nhận ra tất cả những tiếng nổ chỉ cách chúng tôi có mấy thước, và những họng súng đều nhắm vào chúng tôi. Tôi nh́n quanh t́m chỗ ẩn. Không có một nơi nào ngoại trừ một khoảng đất trũng không sâu nằm giữa băi trống. Fred và tôi cùng nhảy vào khoảng trũng này. Chúng tôi có thể thấy những bóng người đằng sau thân cây đang nhắm mũi súng bắn về phía chúng tôi. Thật khó có thể tin được trong lúc nguy hiểm như thế này mà Fred vẫn làm phận sự của một chuyên viên thâu h́nh. Anh đổi ống kính, dùng ống dài hơn. Sau đó anh chống cùi chỏ trên mặt đất, chĩa máy bắn ngược về phía đối phương.” Đừng quay nữa!” tôi la lớn. “Cúi đầu thấp xuống!”

 

Anh Fred Dieterich vẫn nói rất b́nh tĩnh, “Charlie à, tôi nghĩ đây là đúng lúc rồi. Thâu h́nh cho họ biết chuyện ǵ đă xảy ra cho chúng ta.”

“Kệ mẹ chuyện thâu h́nh!” tôi vẫn hét lên. “Đây không phải lúc! Cúi đầu xuống đi!”

 

Chúng tôi t́m cách giải cứu trung đội đầu tiên thoát ra khỏi một ṿng vây phục kích, và rồi giờ đây chính chúng tôi cũng bước vào một bẫy phục kích. Tuy đang cúi sát đầu xuống mặt đất, tôi vẫn có thể nh́n quanh, nhận thấy chúng tôi đang gặp khó khăn kinh hoàng. Nhiều người lính Biệt Động Quân bị trúng đạn trong đợt nổ súng đầu tiên. Họ nằm chung quanh chúng tôi trong băi đất trống, chết hoặc bị thương. Tuy thế, những người lính c̣n đứng vững đă phản công với sự can đảm tột cùng. Một quân nhân cầm một khẩu súng nổ không ngừng ở trong tay, chạy thẳng vào đối phương ẩn núp ở trong rừng. Anh chạy cho đến khi bị kẻ địch bắn gục bên ngoài b́a rừng. Anh té xuống đất mà ngón tay vẫn c̣n bóp chặt vào c̣ súng. Từ ṇng súng của anh hàng loạt phát đạn bắn lên không trung.

Những quân nhân khác đă giữ ṿng pḥng phủ, chống trả mănh liệt với những phát súng bắn vào rừng. Trung Úy Sơn bị trúng đạn ở một cánh tay, thế nhưng ông vẫn chiến đấu như thường. Ông qú bên cạnh một quân nhân giữ máy truyền tin. Ông quay tay cầm của máy truyền tin chạy bằng máy phát điện từ trường, với hy vọng liên lạc với bộ chỉ huy sư đoàn và xin tiếp viện. Anh Fred và tôi ḅ lại gần vài thước, để thâu h́nh ảnh ông Sơn liên lạc với bộ chỉ huy. Những viên đạn bắn tung mặt đất chung quanh chúng tôi. Ông Sơn không quan tâm đến những phát đạn, vẫn tiếp tục quay máy nhiều ṿng. Sự cố gắng của ông cũng vô ích. Không có ai trả lời. Chúng tôi ở bên ngoài ṿng phát tuyến.

 

Đến lúc đó người lính truyền tin bỗng có một hành động rất can đảm mà tôi phải sửng sốt, chưa từng thấy trong đời. Người lính này trẻ tuổi, có lẽ không tới mười bảy hoặc mười tám. Không nói một lời nào, anh tḥ tay vào trong túi đeo, lấy ra một cuộn dây kim loại. Anh quấn một đầu dây vào ăng-ten của máy truyền tin. Sau đó người lính trẻ tuổi nhanh chân chạy đến một cây cao, vừa chạy anh vừa thả cuộn dây. Đến gốc cây anh ngậm đầu dây c̣n lại ở trong miệng và leo thăn thoắt lên thân cây, bất kể những viên đạn đang bay vụt ở chung quanh. Anh buộc đầu dây vào một nhánh cây cao, tuột xuống mau chóng, chạy trở về máy truyền tin mà không hề bị sây sướt một chút nào. Anh vội vàng quay máy nhiều ṿng. Trung Úy Sơn nằm bên cạnh máy truyền tin, nói vào đầu vi âm và liên lạc được với bộ chỉ huy. Ông đọc tọa độ của đơn vị trên một bản đồ, trao đầu máy cho người lính truyền tin. Quay sang anh Fred và tôi, ông Sơn nói, “Nằm sát xuống. Không sao. Họ sẽ gửi lính nhảy dù.”

 

Tiếng súng giảm dần. Tôi không c̣n thấy Việt Cộng trong rừng cây mặc dù thỉnh thoảng tôi vẫn nghe có tiếng súng bắn qua lại ở đâu đó. Hai quân nhân đến băng bó cánh tay của ông Sơn, rồi cả ba người ôm túi thuốc, ḅ đến những người lính bị thương nằm ở chung quanh. Họ lôi được nhiều thương binh vào bên trong bức tường của ngôi chùa, nơi mà hầu hết những người lính rơi vào một cơn chấn động thần kinh tột độ, tắt thở trong lúc chờ đợi đội nhảy dù tiếp viện như lời hứa hẹn.

 

Lúc bấy giờ ông Sơn đứng dậy, đi lại trong khu đất trống. Ông nói những lời khích lệ dành cho các quân nhân c̣n sống. Ông đến qú bên cạnh Fred và tôi. “Chúng tôi gần hết đạn,” ông nói. “Tôi muốn ông biết điều này. Tôi không nghĩ là chúng ta sẽ bị tấn công thêm nữa đâu. Tuy thế, trong trường hợp chúng ta bị...”.

 

Một phát đạn vừa bay ra từ trong rừng. Viên đạn bắn trúng đằng sau nón sắt của ông Sơn, bay xuyên qua vành phía trước. Ông lao tới phía tôi và té xuống đất.

 

Ban đầu vết thương trông có vẻ rất nhỏ. Tôi ôm đầu ông vào ngực tôi. Tôi lượm một mớ lá cây nằm dưới đất và t́m cách nhét vào vết thương, với hy vọng máu sẽ ngưng chảy.

 

Tôi c̣n nhớ viên đạn bắn chết ông Sơn cũng là viên đạn cuối cùng trong trận đánh ngày hôm ấy. Lính nhảy dù có đến trong những chiếc xe nhà binh. Đám du kích Việt Cộng biến mất trong rừng, mang theo những đồng đội tử trận hoặc bị thương. Chúng tôi đi bộ vài dặm xuống một con đường và tập họp tại một ngôi trường làng. Trên sàn nhà tôi lượm được một tờ bích chương mà sau đó tôi có nhờ người khác chuyển ngữ. Tờ bích chương viết: “Không cho cộng sản gạo. Không cho cộng sản tin. Không cho cộng sản vào nhà.” Tờ bích chương nằm trên sàn nhà v́ những người cộng sản đă phá hoại ngôi trường một đêm trước đó.

 

Một viên đại tá chỉ huy trưởng Biệt Động Quân đến trường học trong một chiếc xe jeep. Ông cho Đại Đội 150 xếp hàng và nói với họ, “Các anh là những người lính chiến đấu rất anh dũng. Các anh ngăn chặn một lực lượng quân thù đông gấp năm lần. Đừng nghĩ đến những người đă chết. Các anh chiến đấu cho một mục tiêu cao cả và các anh sẽ chiến thắng.”

Thế nhưng mười chín quân nhân trong đại đội đă không có mặt để nghe đại tá nói. Họ tử trận trong ngày hôm ấy. Trong số những quân nhân này có hai sĩ quan, Trung Úy Sơn và vị đại đội trưởng. Tôi thấy có ít nhất mười một người bị thương; có thể c̣n có những thương binh khác mà tôi không biết.

 

Viên đại tá chỉ định một chiếc xe lính đưa Fred và tôi về Sài G̣n. Chỉ hơn một tiếng đồng hồ sau chúng tôi trở về trong sự an toàn của một thành phố dịu dàng. Chúng tôi đi rộn ràng giữa những đại lộ thênh thang. Đó đây có những người đạp xe qua lại. Những quán cà phê bên vỉa hè vẫn đông người. Chúng tôi đến trước cửa khách sạn Majestic trước khi trời tối và băng qua pḥng tiếp khách để đến cửa thang máy, mang theo những dụng cụ lỉnh kỉnh ở trên tay. Người ta đă quay đầu nh́n v́ chúng tôi quá dơ bẩn, không có vẻ phù hợp với khung cảnh của một khách sạn sang trọng. Áo của tôi đă thấm đầy máu của Trung Úy Sơn.

 

Từ đó tôi không bao giờ quên được Trung Úy Sơn. Trong suốt những năm tháng của cuộc chiến Việt Nam, tôi vẫn nhớ đến ông ấy. Tôi trở lại Việt Nam nhiều lần, tham dự những cuộc hành quân khác ở miền quê - đến những lần sau này với quân đội Hoa Kỳ - và c̣n chứng kiến những con người tốt lành bị bắn chết trong những băi đất trống bên cạnh rừng già. Trong lúc cuộc chiến vẫn kéo dài như không có một kết cục và số thương vong Mỹ mỗi lúc một cao hơn, tại Hoa Kỳ người ta có một phong trào cho rằng những thanh niên Mỹ bị thiệt mạng một cách vô nghĩa. Tất cả những bạn đồng nghiệp của tôi đồng ư với nhau rằng đó là một cuộc chiến vô đạo đức, trong đó đế quốc Mỹ chống lại ước nguyện của “nhân dân Việt Nam.”

 

Tôi không bao giờ nghĩ như vậy. Những người Việt Nam mà tôi được gặp đều không muốn có chiến tranh. Họ muốn được sống yên trong ḥa b́nh. Thế nhưng người ta không cho họ được yên thân. Họ bị xâm lăng bởi một đạo quân từ miền Bắc xuống miền Nam theo lệnh của một chính quyền mà họ thù hận. Tôi nhớ đến ông Sơn, một người ao ước được thấy một Việt Nam tự do đến nỗi ông sẵn sàng chiến đấu cho lư tưởng này, mặc dù tuổi tranh đấu của ông đă qua lâu rồi. Tôi nghĩ đến những người lính trong Đại Đội 150, người cầm súng xông thẳng vào rừng, người leo lên cây với dây ăng-ten truyền tin ngậm chặt trong răng. Tôi đă nghĩ, và tôi vẫn nghĩ rằng công lư và đức hạnh luôn sống với những người can đảm ấy. Tôi thù ghét mỗi khi trở lại Việt Nam sau này và nghe những người lính như thế bị gọi là “gooks” bởi chính các quân nhân cùng xứ của tôi.

 

Những người lính đă sống qua cuộc chiến - trong đó không có là bao quân nhân Biệt Động Quân - giờ đây phải vào những trại “học tập cải tạo.” Sài G̣n xinh đẹp, thư thả năm xưa nay trở thành thành phố Hồ Chí Minh. Vết thương của cuộc chiến Việt Nam đang lành lặn tại Hoa Kỳ. Ở Mỹ, hầu hết mọi người không c̣n nhớ rơ lắm về cuộc chiến hoặc không c̣n ghi nhận những mơ ước của “nhân dân Việt Nam.”

 

Trong những dịp về Hoa Thịnh Đốn, thỉnh thoảng tôi vẫn đến Đài Tưởng Niệm Cuộc Chiến Việt Nam. Trên bức tường đen có khắc tên của một số quân nhân mà tôi từng quen biết. Tôi nghĩ đến họ. Lẽ đương nhiên bức tường đen không có tên của ông Sơn, tuy thế tôi cũng nghĩ đến ông.

Tôi chỉ biết ông có một ngày.

Tôi đă quên không hỏi để biết đầy đủ tên họ của ông.

** *

Tôi được đọc “Trung Úy Sơn” trong một ngày bị bệnh. Cơn sốt nóng từ ban đêm khiến cho tôi khó ngủ vào ban ngày. Giữa những cơn chóng mặt lúc đứng dậy và nằm uể oải không thể ch́m vào giấc ngủ, tôi lật cuốn sách đă mua từ lâu mà chưa có dịp được xem. Đến khi nhẩm đọc hết hàng chữ cuối cùng của “Trung Úy Sơn” tôi ứa nước mắt. Tôi xúc động v́ đă được nh́n thấy một phần nào quá khứ tối tăm của tôi. Phần quá khứ ấy có liên hệ đến cha tôi.

 

Ông tử trận vài năm sau Trung Úy Sơn tại một nơi nào đó ở Tuy Ḥa, miền Trung Việt Nam. Tôi c̣n nhớ ngồi bên cạnh mẹ trong một chiếc xe nhà binh. Bà quàng khăn tăng, ôm em tôi trong ḷng, gục khóc bên quan tài phủ cờ vàng ba sọc đỏ. Tôi không nhớ ḿnh có khóc cha trên chuyến xe từ Tuy Ḥa về Nha Trang.

 

Cha tôi biến mất trong cuộc đời từ khi tôi được năm tuổi. Không chỉ biến mất theo nghĩa thể xác, ông cũng không c̣n trong trí nhớ. Trong nhiều năm tôi cho rằng ông cố t́nh rời xa mẹ tôi, cố ư bỏ rơi hai anh em tôi trong một xóm nghèo. Đời sống thiếu thốn đă khiến cho tôi có lúc căm giận, t́m những lư do để gạt hẳn ông ra ngoài hơi thở mỗi ngày. Ngoài bức h́nh để trên một bàn thờ rất ít khi được thắp nhang, chúng tôi chỉ nghĩ đến cha vào mỗi dịp viếng mộ đầu năm. Tôi không nhớ cha đă đành, mẹ tôi cũng hiếm khi nhắc đến ông. Tôi nghĩ quăng đời thiếu vắng một tấm chồng ở tuổi thanh xuân đă để lại trong mẹ tôi một quá khứ đớn đau mà bà sẵn sàng từ bỏ một khi rời khỏi Việt Nam. Rủi ro cũng tẩy đi gần hết những dấu vết của cha. Rơi rớt dọc theo con đường lánh nạn là mấy bức h́nh đen trắng, vài lá thư mỏng ḷe mực của cha tôi. Ngay cả tờ giấy khai tử cũng biến mất, xóa luôn ngày tháng tử trận của một người lính gần như vô danh.

 

Cũng may tôi c̣n ôm được một tấm h́nh của cha. Tuy sóng biển trên hành tŕnh từ Sài G̣n qua đảo Guam đến đất Mỹ trong biến cố 30 Tháng Tư năm 1975 đă ăn hết phân nửa bức h́nh, cha tôi cũng cố gắng để lại một đôi mắt buồn, đôi mắt nh́n xuống của một thanh niên mới trên tuổi đôi mươi. Có lẽ v́ đôi mắt tủi buồn đó mà sau hơn hai mươi năm đẩy ông ra khỏi cuộc sống, một ngày kia tôi bỗng quay lại t́m cha trong quăng quá khứ bị phai mờ. T́m lại ông quá khó. Ông không có bạn bè, không người thân, không đồng đội c̣n sống và cũng không quá khứ ngoài vài mẩu chuyện mà mẹ tôi thường kể. Mỗi lần mẹ kể câu chuyện lại khác đi, như những đám mây tan bay trong một buổi chiều sắp tắt nắng. Ngày cha tôi mất cũng vậy, bà chỉ nhớ mang máng là một ngày rằm, có lẽ rằm Phật Đản của năm 1965. Tôi không biết ông chết như thế nào? Ở đâu, giữa một cánh đồng, trên núi hay trong rừng? Ông có đau đớn không? Ông bị bắn hay đạp trúng ḿn? Ai bắn ông? Xác ông có c̣n nguyên vẹn? Ông có thoáng nghĩ đến anh em tôi trước khi nhắm mắt? Có ai ôm lấy ông trong lúc ông trút hơi thở cuối cùng? Có phải ông đă chết một ḿnh?

 

Có lẽ suốt đời tôi lúc nào cũng có một khoảng trống trong quá khứ ấy, những câu hỏi không bao giờ có câu trả lời. Đó là lư do khiến tôi ứa nước mắt sau khi đọc xong “Trung Úy Sơn.” Trong cái chết của Trung Úy Sơn tôi chợt nghe tiếng đạn bắn trúng cha tôi, bắn trúng những người lính một buổi sáng thầm lặng bước vào rừng và một buổi chiều trở về bên dưới tấm khăn phủ tối om. Những người lính không c̣n ai nhớ đến, không có đài liệt sĩ cũng không một bức tường đen, và cũng không chắc c̣n được một tấm bia trên phần mộ ở quê nhà.

Tưởng niệm 30 Tháng Tư

Hoàng Mai Đạt

dienhanh.jpg