Hoàng Mai Đạt
Nhân ngày
tưởng niệm 30 Tháng Tư, mời quí độc giả đọc một bài dịch
lồng trong một bài viết về câu chuyện một kư giả Mỹ từng gặp những
một chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa vào đầu thập niên 1960. Bài này đă được
đăng trong tuyển tập “Biên Tà Tà” của Hoàng Mai Đạt.
Ông Charles
Kuralt là một kư giả truyền h́nh nổi tiếng trong giới truyền thông Hoa Kỳ.
Người Mỹ kính trọng ông Charles Kuralt không v́ ông có thể bám sát chuyện thời sự
trên thế giới hoặc thông thạo các ngơ ngách quyền lực tại Hoa Thịnh Đốn.
Người Mỹ quí ông v́ ông cho họ thấy đất nước này c̣n có những con
người chất phác, giàu ḷng bác ái và đầy t́nh người. Những “con người”
của ông Charles Kuralt thường có một đời sống hoặc thói quen kỳ quặc
một cách đáng yêu, đáng mến. Họ không xuất hiện trong những bản tin mà
người thành phố vẫn đọc trên báo vào mỗi buổi sáng hoặc xem trên đài
truyền h́nh vào mỗi buổi chiều.
Họ
có thể là một ông lăo sống giữa rừng trong vùng biên giới Minnesota, từng chui vào
bụng hươu, thoát hiểm qua một đêm băng giá; một giáo sĩ râu bạc trắng
sống xa lánh trần gian trên một đỉnh núi tuyết tại Washington; những người
sống bằng nghề rung ḷ so se tải để bắt trùng đất tại Florida; một
nông dân da đen vừa làm ruộng, vừa đọc sách mỗi ngày, có một thư viện
đa dạng hiếm hoi giữa một miền quê nghèo khó tại Arkansas; một bà cụ
trên tám mươi tuổi đă bay trên ba mươi ngàn giờ, có thể là phụ nữ bay
nhiều nhất thế giới; một người cắm ngược nhiều chiếc
Cadillac giữa một cánh đồng “văn hóa xe” tại miền Tây Texas; hoặc
một ông lăo có thú vui thả diều cho trẻ em ở Indiana giữa đất nước
Hoa Kỳ rộng lớn.
Trong hơn
ba mươi năm phiêu bạt đó đây trên khắp thế giới, ông Charles Kuralt t́m ra
hàng trăm nhân vật ly kỳ, đáng xem và đáng mến, mang họ đến với khán
giả truyền h́nh. Từ một chàng thanh niên có biệt tài văn chương, làm việc
cho một tờ báo địa phương, ông Charles Kuralt được mời đến
đài CBS tại New York đúng lúc ngành thông tin truyền h́nh đang bắt đầu trưởng
thành vào cuối thập niên 1950.
Trong mấy
năm đầu ông săn tin, viết tin, đọc tin trên đài truyền h́nh. Biến cố
thời sự nào ông cũng am tường hoặc có tham dự. Tuy thế, viết tin và đọc
tin mỗi ngày không là nỗi ao ước lớn nhất đời ông. Đến một ngày
kia ông mới có cơ hội thực hiện điều mà ông đă thèm khát từ lâu. Đó là
lái một chiếc xe và tự “thất lạc” trên một đất nước
bao la, vô tận như niềm vui giang hồ của ông. Trong hai thập niên “thất lạc”
ông đă lăn bánh hơn một triệu dặm khắp nước Mỹ, và khi nghe ông kể
lại trên đài truyền h́nh vào mỗi sáng sớm Chủ Nhật, người ta hiểu
rằng ông đă yêu thương từng dặm đường lang thang ấy biết bao.
Theo lời
tâm sự trong loạt chương tŕnh “On The Road” và được in thành sách sau này,
ông nếm mùi giang hồ ngay từ ngày 9 Tháng Chín năm 1934, ngày chào đời của cậu
bé Charles Kuralt. Hôm ấy một người đàn ông thường giúp đỡ kẻ nghèo
khốn đă lái một chiếc xe Chevrolet đưa một cô giáo sắp sanh đến bệnh
viện. Chiếc xe phóng qua mấy thị trấn tại miền quê North Carolina trong hơn
một giờ đồng hồ. Ông Charles Kuralt tự hào rằng ngay từ lúc lọt ḷng
mẹ ông đă du lịch trên năm mươi dặm trong chiếc Chevrolet của cha. Từ
đó ông “nghiện” du lịch, không ngừng phiêu lưu cho đến ngày qua đời
vào năm 1997. Ngoài thời gian t́m ṭi trên đất Mỹ, ông du lịch khắp thế giới,
từ Bắc Cực đến Congo, từ Cuba đến Liên Bang Xô Viết.
Thế
rồi hơn bốn mươi năm trước đây, ông ghé Việt Nam và gặp Trung
Úy Sơn, một người lính Việt Nam Cộng Ḥa mà ông đă kể lại trong một
chương sách mang tựa đề “Lieutenant Son”. Chương này nằm trong cuốn
A Life On The Road được soạn viết trong thập niên 1980. Nhân dịp ngày 30 Tháng Tư
mấy năm trước, tôi quyết định chuyển ngữ “Trung Úy Sơn”
để chia sẻ với bạn về những ǵ mà ông Charles Kuralt viết về một
người lính Việt Nam Cộng Ḥa. Từ ngày đọc “Trung Úy Sơn” lần
đầu, mỗi 30 Tháng Tư tôi vẫn thường t́m lại bài này. Sau khi đọc “Trung
Úy Sơn” bạn sẽ hiểu tại sao.
** *
Vào Mùa Xuân
năm đó ông Les Midgley nói một câu làm cho tôi suưt bị thiệt mạng trong ṿng một gang
tay.
Ông ấy
nói, “Việt Nam.”
Lúc đó là
Tháng Tư năm 1961. Sổ tay cho chuyến đi Việt Nam của tôi chỉ ghi nhận vỏn
vẹn có một câu: “Khoảng 500 cố vấn quân sự đang có mặt tại đây.”
Khi ấy chưa có một cơ quan truyền thông Hoa Kỳ nào cho rằng cuộc chiến
Việt Nam có đủ tầm mức quan trọng để cho họ mở văn pḥng thường
trực tại quốc gia này. Sự viếng thăm của một nhóm truyền h́nh Mỹ
quả là bất thường, đến nỗi khi anh thâu h́nh Fred Dieterich từ Los Angeles và
tôi đặt chân đến phi trường Sài G̣n th́ chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa gửi
ngay một anh tài xế lái xe Citroen đến đón và đưa chúng tôi vào thành phố, giúp
cho hai người khách lạ được thoải mái. Chính quyền cũng dàn xếp cho
tôi được phỏng vấn Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm vào buổi sáng hôm sau.
Ông Diệm
được bầu lên chức
tổng thống và rồi trở thành một nhà lănh đạo chuyên quyền. Dưới
chiêu bài phải chiến thắng cộng sản miền Bắc, ông ra lệnh bắt giữ
đông đảo người đối lập, kiểm duyệt quyền tự do báo chí.
Quân đội của ông đương đầu với một cuộc chiến tàn bạo
trong rừng sâu và trên những cánh đồng. Họ dần dần mỏi mệt. Trong cuộc
phỏng vấn, ông Diệm nói về hoàn cảnh đất nước của ông bằng
những lời rất thẳng thắn. Ông không dùng những chữ nghĩa tối mù ngoại
giao mà tôi đă chờ đợi. Ông tŕnh bày rất rơ ràng về vấn đề Việt
Nam cần viện trợ quân sự của Hoa Kỳ.
Ông nói với
tôi rằng khi đất nước Việt Nam bị chia đôi vào năm 1954, khoảng 900,000
người miền Bắc đă di cư vào miền Nam. Ông cho biết hầu hết những
người di cư là những người chống cộng sản. Tuy thế, trong số
này cũng có chừng 10,000 người Việt Cộng được huấn luyện và
trà trộn trong khối dân miền Nam. Những người này chờ và thi hành mệnh lệnh
khủng bố người miền Nam.
Ông Diệm
nói như sau, “Những người cộng sản nằm vùng đă giết chết xă
trưởng, giết luôn các phụ tá và rồi nắm quyền kiểm soát toàn xă. Đó là chiến
thuật của người cộng sản. Giờ đây Việt Cộng hoạt động
tại miền Nam c̣n nhận được sự trợ lực trực tiếp từ các
cán bộ tại Hà Nội. Đây là một cuộc xâm lăng rất kín đáo, với sự
hậu thuẫn của Trung Quốc và Liên Sô. Để chống lại sự xâm lăng này, chính
quyền của chúng tôi rất cần viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ.”
Tôi gợi
ư rằng Việt Nam là cựu thuộc địa của người Pháp, và như thế
may ra miền Nam Việt Nam có thể nhận được một phần nào sự trợ
giúp của Pháp.
Ông Diệm
trả lời thẳng thừng, “Người Pháp không có ư chí. Chỉ có quốc gia của
quí vị mới có ư chí bảo vệ tự do trên thế giới. Nếu Hoa Kỳ cũng
đánh mất ư chí này th́ Việt Nam sẽ không có tự do.”
Ngày hôm ấy
ông Ngô Đ́nh Diệm đă cho tôi một bài học lịch sử rất hay. Bài học đó cũng
là lời tiên tri hay không kém.
Dưới
mắt tôi Sài G̣n là thành phố hấp dẫn nhất trong các thành phố. Cuộc chiến
ở miền thôn quê chưa ảnh hưởng đến thủ đô. Tất cả những
người mà tôi được gặp, kể cả giáo viên, kư giả, tiếp viên nhà hàng
cho đến tài xế taxi, đều thân thiện và rất ư tứ. Tôi cho rằng phụ
nữ ở đây xinh đẹp trong những tà áo dài lướt trôi giữa những ḍng
xe ngoài phố. Sài G̣n có thời tiết mùa xuân rất đáng yêu với những quán cà phê bên
đường thật thú vị. Tôi đi bộ dưới bóng cây râm mát trên các đại
lộ vào ban ngày, nằm trên giường bên dưới một quạt trần lười
biếng trong khách sạn Majestic cũ, lắng nghe tiếng tàu thuyền di chuyển trên sông
vào ban đêm. Tương tự như đám kư giả ngoại quốc kéo đến đây
trong những năm sau này, tôi đă yêu mến Sài G̣n. Thành phố rất xứng đáng được
bảo vệ. Tôi nghĩ nếu một mai thành phố đầy ánh nắng và quyến rũ
ấy bị cộng sản xâm chiếm, để rồi trở thành một nơi xám ngoét,
đầy kỷ luật nghiêm ngặt, th́ thật không c̣n một chút hy vọng nào cho nền
văn minh của nhân loại.Mỗi ngày tôi vẫn ghé đến văn pḥng thông tin của
chính phủ, để quấy rầy một viên chức và xin phép được tháp tùng theo
một cuộc hành quân ra miền thôn quê. Ban đầu viên chức nói, “Nguy hiểm lắm;”
sau ông nói, “Có thể;” đến khi biết tôi sẽ không đi cho khuất mắt
ông, một ngày kia ông ta mới nói, “Ngày mai. Trung Úy Sơn sẽ đến đón ông tại
khách sạn. Hăy chuẩn bị để đi xa nhiều ngày.”
Ngày hôm sau
anh Fred đặt hết dụng cụ vào đằng sau một chiếc Jeep của quân đội,
leo vào ghế sau trong khi tôi ngồi ở ghế trước với Trung Úy Sơn. Ông Sơn
là một sĩ quan Biệt Động Quân trẻ tuổi, gọn ghẽ, từng được
huấn luyện mấy tháng tại Hoa Kỳ. Tiếng Pháp rất kém của tôi và tiếng
Anh cũng rất kém của ông Sơn cũng đủ cho chúng tôi nói chuyện trong lúc xe chạy
ra ngoại ô về phía Bắc Sài G̣n. Tuy c̣n trẻ tuổi, Trung Úy Sơn lại là người
có rất nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh. Ông kể cho tôi nghe rằng ông xuất thân
từ một gia đ́nh ái quốc. Ông và hai người anh đă gia nhập lực lượng
Việt Minh trong cuộc chiến chống Pháp. Ông là một trong những thiếu niên vác đạn
trong những ngày cuối cùng của trận đánh Điện Biên Phủ năm 1954. “Thế
nhưng chúng tôi muốn có một đất nước tự do,” Trung Úy Sơn nói thêm.
“Gia đ́nh tôi không đánh Pháp để rồi bị cai trị bởi Hồ Chí Minh.”
Ông nhún vai và cười, “Thành thử bây giờ chúng tôi vẫn tiếp tục tranh đấu.
Ông sẽ thấy có rất nhiều người như chúng tôi trong lực lượng Biệt
Động Quân.”
Chúng tôi ngủ
đêm trong một kho hàng bỏ phế tại thị trấn Bến Cát, cùng với Trung Úy
Sơn và nhóm của ông, Đại Đội 150 Biệt Động Quân. Ông Sơn giới thiệu hai
đứa tôi với những người lính trong trung đội của ông. Chúng tôi trịnh
trọng bắt tay từng quân nhân, nghe ông Sơn đọc một bài diễn văn ngắn
với những người lính. Sau đó ông cười toe với chúng tôi, “Tôi nói với
họ hăy chăm sóc quí vị vào ngày mai.”
Khi bóng đêm
phủ xuống, ông Sơn mang thức ăn, cơm và thịt trong một thứ nước
sệt nặng mùi (thịt kho, lời người dịch). Tôi hỏi, “Món ǵ đây?”
Ông Sơn trả lời, “Tôi không biết phải nói sao với ông. Thôi ông cứ ăn
và đừng hỏi nữa.” Ông ta cười lớn. Ông mang cho tôi và anh Fred hai chiếc
giường, trong khi chính ông cùng những người lính đă trải chiếu nằm dưới
đất. Tôi nói, “Tôi không thích được ưu đăi như thế này. Chúng tôi đă
chuẩn bị để sống y hệt như các bạn.” Ông Sơn đưa một
tay lên và nói, “Các bạn là quí khách của chúng tôi.”
Các sĩ quan
tụ tập trong một góc pḥng, nghiên cứu bản đồ bên dưới một bóng
đèn điện treo ḷng tḥng từ trên trần nhà. Vào sáng hôm sau ba trung đội Biệt
Động Quân được lệnh di chuyển xuống phía Nam, tiến vào một dải đất
nằm giữa sông Sài G̣n và một con kinh. Cuộc hành quân là nhằm bao vây một lực lượng
Việt Cộng mà những người lính Biệt Động Quân cho rằng rất nhỏ.
Nhóm Việt Cộng hoạt động trong một khu vực được gọi là An Điền.
Trung đội của ông Sơn là hàng lính tiến vào giữa trọng tâm của khu vực.
Trung Úy Sơn tỏ vẻ ái ngại khi nói với chúng tôi, “Chúng ta không đi bằng đường
đất. Tôi xin lỗi. Hai bạn sẽ bị dính bùn vào giày.”
Chúng tôi leo
lên những chiếc xe vận tải của nhà binh trước khi mặt trời mọc.
Sau một đoạn đường rất ngắn, đoàn xe dừng lại bên cạnh
một b́a rừng. Trong bóng tối, những người lính đă yên lặng đội nón
sắt, cầm thẳng súng, đeo những băng đạn vào thắt lưng. Ở đâu
đó từ đằng sau lưng, tiếng đạn đại bác 155 li bắn qua đầu
chúng tôi, nhắm vào khu rừng trước mặt. Chúng tôi đi bộ vào trong rừng, tiến
tới từng bước một - tiến tới ǵ? Tôi không biết. Tiến tới cái ǵ
đó nằm ở trong rừng.
Khi trời
ửng sáng, thỉnh thoảng tôi có thể thấy chúng tôi đi ngang qua những khóm nhà hoang
phế ở trong rừng. “Không có ai ở nhà,” ông Sơn nói. “Sợ chúng tôi, sợ
đối phương. Luôn luôn chạy trốn.”
Tiếng đạn
đại bác ngưng một thời gian. Buổi sáng trở nên yên lặng, ngoại trừ
tiếng động của khoảng ba mươi đôi giày lính di chuyển trên mặt đất.
Chúng tôi ra khỏi khu rừng, trèo qua một hàng rào kẽm gai và lội một dặm qua những
đồng lúa. Anh Freddy và tôi đi vài bước trước mặt người dẫn đầu
hàng lính. Chúng tôi thâu h́nh đội lính tiến về phía trước. Buổi trưa đang
trở nên nóng hơn. Tôi nghĩ rằng chắc không có ǵ xảy ra. Thôi th́ ít nhất chúng tôi
cũng thâu được h́nh ảnh những người lính hành quân qua những cánh đồng.
Đúng lúc chúng
tôi đến một con đê cao hơn mặt ruộng, một tràng tiếng đạn bỗng
nổ vang từ hàng cây nằm bên kia con suối, cách chúng tôi khoảng nửa dặm. Tiếng
súng nổ mỗi lúc một lớn hơn, gia tăng âm độ và cường độ
cho đến khi tất cả tiếng đạn trở thành một tiếng nổ lớn
liên tục. Chúng tôi có thể thấy bóng người chạy thấp thoáng ở hàng cây và nghe
tiếng kêu la của họ.
Trung Úy Sơn
hét lệnh cho những người lính của ông. “Phục kích!” ông nói cho tôi biết.
“Trung đội bên kia đă rơi bẫy. Họ đang cần chúng tôi ngay bây giờ.”
Nói xong ông rút một khẩu súng lục 45, đưa súng lên cao và vẫy qua đầu, chỉ
huy trung đội của ông tiến vào trận đánh. Các quân nhân chạy theo ông. Họ lội
qua suối phóng về phía hàng cây đang có giao tranh. Anh Fred và tôi cầm máy chạy theo họ.
Chúng tôi làm tất cả những ǵ có thể làm được, để vừa thâu h́nh các
quân nhân chạy tới trước, vừa thâu âm thanh của cuộc đụng độ
mà không bị họ bỏ rơi quá xa.
Đến khi
chúng tôi chạy tới hàng cây th́ tiếng súng giảm xuống. Thỉnh thoảng có tiếng
nổ hàng loạt lẻ loi từ trong rừng sâu. Tôi thấy những tử thi nằm rải
rác khắp nơi ven b́a rừng. Hầu hết tử thi là những người lính Biệt
Động Quân, ngoại trừ hai xác Việt Cộng trong bộ áo bà ba đen rộng. Một
trong hai du kích Việt Cộng nằm bên cạnh một khẩu súng trường Browning nặng
nề. Người c̣n lại chỉ có một thanh mă tấu.
Trung Úy Sơn
ra lệnh cho trung đội của ông dừng lại bên hàng cây. Theo lệnh của ông mỗi
người lính lấy ra một chiếc khăn trắng và buộc vào cánh tay trái. Ông cũng
trao khăn trắng cho chúng tôi. “Để chúng ta không bắn lầm nhau,” ông giải thích.
“Chúng ta sẽ tiến rất chậm. Hai bạn hăy đi sát bên tôi.”
Các quân nhân
dàn rộng dọc theo hàng cây. Nghe lệnh của Trung Úy Sơn, mọi người cùng tiến
vào rừng. Chúng tôi đi ḍ từng bước được năm mươi thước,
rồi một trăm thước, mỗi người lính cẩn thận nghe ngóng động
tĩnh ở phía trước. Chúng tôi gặp thêm những xác chết. Chúng tôi đi ngang qua
một Biệt Động Quân đă bị thương và đang t́m cách ngăn chặn máu chảy
từ vết thương trên ngực của một đồng đội. Trung Úy Sơn
ngừng lại vài giây để nói chuyện với quân nhân bị thương. Sau đó ông
tiếp tục chỉ huy chúng tôi tiến tới rất chậm trong sự im lặng. Anh Fred
nói th́ thầm với tôi, “Kinh rợn như địa ngục.”
Cuối cùng
chúng tôi đến một con đường đất dẫn ra một băi đất trống
nằm giữa rừng. Trong băi đất này có một ngôi chùa bỏ hoang và một căn
nhà không c̣n mái che. Trung Úy Sơn ra hiệu cho bốn quân nhân lục soát bên trong ngôi chùa và căn
nhà. Họ dùng báng súng đập tung cửa chùa và tiến vào bên trong. Trống trơn. Họ
cẩn thận bao vây căn nhà trước khi xông vào. Trống trơn. Nhóm truy lùng trở lại
với chúng tôi ở giữa băi đất trống. Chúng tôi đứng thành một ṿng tṛn,
mỗi người dóng mắt về hướng rừng cây im lặng bao quanh. Và rồi địa
ngục bung mở tán loạn. Khu rừng chung quanh chúng tôi bỗng nổ tung. Tiếng đạn
kêu lạch cạch liên hồi, bao vây chúng tôi trong âm thanh rền vang điếc ngộp đất
trời. Sau một hoặc hai giây tôi mới nhận ra tất cả những tiếng nổ
chỉ cách chúng tôi có mấy thước, và những họng súng đều nhắm vào chúng
tôi. Tôi nh́n quanh t́m chỗ ẩn. Không có một nơi nào ngoại trừ một khoảng đất
trũng không sâu nằm giữa băi trống. Fred và tôi cùng nhảy vào khoảng trũng này. Chúng
tôi có thể thấy những bóng người đằng sau thân cây đang nhắm mũi súng
bắn về phía chúng tôi. Thật khó có thể tin được trong lúc nguy hiểm như
thế này mà Fred vẫn làm phận sự của một chuyên viên thâu h́nh. Anh đổi ống
kính, dùng ống dài hơn. Sau đó anh chống cùi chỏ trên mặt đất, chĩa máy
bắn ngược về phía đối phương.” Đừng quay nữa!” tôi la
lớn. “Cúi đầu thấp xuống!”
Anh Fred Dieterich
vẫn nói rất b́nh tĩnh, “Charlie à, tôi nghĩ đây là đúng lúc rồi. Thâu h́nh cho
họ biết chuyện ǵ đă xảy ra cho chúng ta.”
“Kệ
mẹ chuyện thâu h́nh!” tôi vẫn hét lên. “Đây không phải lúc! Cúi đầu xuống
đi!”
Chúng tôi t́m
cách giải cứu trung đội đầu tiên thoát ra khỏi một ṿng vây phục kích,
và rồi giờ đây chính chúng tôi cũng bước vào một bẫy phục kích. Tuy đang
cúi sát đầu xuống mặt đất, tôi vẫn có thể nh́n quanh, nhận thấy
chúng tôi đang gặp khó khăn kinh hoàng. Nhiều người lính Biệt Động Quân bị
trúng đạn trong đợt nổ súng đầu tiên. Họ nằm chung quanh chúng tôi trong
băi đất trống, chết hoặc bị thương. Tuy thế, những người
lính c̣n đứng vững đă phản công với sự can đảm tột cùng. Một
quân nhân cầm một khẩu súng nổ không ngừng ở trong tay, chạy thẳng vào đối
phương ẩn núp ở trong rừng. Anh chạy cho đến khi bị kẻ địch
bắn gục bên ngoài b́a rừng. Anh té xuống đất mà ngón tay vẫn c̣n bóp chặt vào
c̣ súng. Từ ṇng súng của anh hàng loạt phát đạn bắn lên không trung.
Những quân
nhân khác đă giữ ṿng pḥng phủ, chống trả mănh liệt với những phát súng bắn
vào rừng. Trung Úy Sơn bị trúng đạn ở một cánh tay, thế nhưng ông vẫn
chiến đấu như thường. Ông qú bên cạnh một quân nhân giữ máy truyền
tin. Ông quay tay cầm của máy truyền tin chạy bằng máy phát điện từ trường,
với hy vọng liên lạc với bộ chỉ huy sư đoàn và xin tiếp viện. Anh
Fred và tôi ḅ lại gần vài thước, để thâu h́nh ảnh ông Sơn liên lạc với
bộ chỉ huy. Những viên đạn bắn tung mặt đất chung quanh chúng tôi. Ông
Sơn không quan tâm đến những phát đạn, vẫn tiếp tục quay máy nhiều
ṿng. Sự cố gắng của ông cũng vô ích. Không có ai trả lời. Chúng tôi ở bên
ngoài ṿng phát tuyến.
Đến lúc
đó người lính truyền tin bỗng có một hành động rất can đảm mà
tôi phải sửng sốt, chưa từng thấy trong đời. Người lính này trẻ
tuổi, có lẽ không tới mười bảy hoặc mười tám. Không nói một lời
nào, anh tḥ tay vào trong túi đeo, lấy ra một cuộn dây kim loại. Anh quấn một đầu
dây vào ăng-ten của máy truyền tin. Sau đó người lính trẻ tuổi nhanh chân chạy
đến một cây cao, vừa chạy anh vừa thả cuộn dây. Đến gốc cây anh
ngậm đầu dây c̣n lại ở trong miệng và leo thăn thoắt lên thân cây, bất
kể những viên đạn đang bay vụt ở chung quanh. Anh buộc đầu dây vào
một nhánh cây cao, tuột xuống mau chóng, chạy trở về máy truyền tin mà không hề
bị sây sướt một chút nào. Anh vội vàng quay máy nhiều ṿng. Trung Úy Sơn nằm
bên cạnh máy truyền tin, nói vào đầu vi âm và liên lạc được với bộ
chỉ huy. Ông đọc tọa độ của đơn vị trên một bản đồ,
trao đầu máy cho người lính truyền tin. Quay sang anh Fred và tôi, ông Sơn nói, “Nằm
sát xuống. Không sao. Họ sẽ gửi lính nhảy dù.”
Tiếng súng
giảm dần. Tôi không c̣n thấy Việt Cộng trong rừng cây mặc dù thỉnh thoảng
tôi vẫn nghe có tiếng súng bắn qua lại ở đâu đó. Hai quân nhân đến băng
bó cánh tay của ông Sơn, rồi cả ba người ôm túi thuốc, ḅ đến những
người lính bị thương nằm ở chung quanh. Họ lôi được nhiều
thương binh vào bên trong bức tường của ngôi chùa, nơi mà hầu hết những
người lính rơi vào một cơn chấn động thần kinh tột độ,
tắt thở trong lúc chờ đợi đội nhảy dù tiếp viện như lời
hứa hẹn.
Lúc bấy
giờ ông Sơn đứng dậy, đi lại trong khu đất trống. Ông nói những
lời khích lệ dành cho các quân nhân c̣n sống. Ông đến qú bên cạnh Fred và tôi. “Chúng
tôi gần hết đạn,” ông nói. “Tôi muốn ông biết điều này. Tôi không
nghĩ là chúng ta sẽ bị tấn công thêm nữa đâu. Tuy thế, trong trường hợp
chúng ta bị...”.
Một phát
đạn vừa bay ra từ trong rừng. Viên đạn bắn trúng đằng sau nón sắt
của ông Sơn, bay xuyên qua vành phía trước. Ông lao tới phía tôi và té xuống đất.
Ban đầu
vết thương trông có vẻ rất nhỏ. Tôi ôm đầu ông vào ngực tôi. Tôi lượm
một mớ lá cây nằm dưới đất và t́m cách nhét vào vết thương, với
hy vọng máu sẽ ngưng chảy.
Tôi c̣n nhớ
viên đạn bắn chết ông Sơn cũng là viên đạn cuối cùng trong trận đánh
ngày hôm ấy. Lính nhảy dù có đến trong những chiếc xe nhà binh. Đám du kích Việt
Cộng biến mất trong rừng, mang theo những đồng đội tử trận
hoặc bị thương. Chúng tôi đi bộ vài dặm xuống một con đường
và tập họp tại một ngôi trường làng. Trên sàn nhà tôi lượm được
một tờ bích chương mà sau đó tôi có nhờ người khác chuyển ngữ. Tờ
bích chương viết: “Không cho cộng sản gạo. Không cho cộng sản tin. Không
cho cộng sản vào nhà.” Tờ bích chương nằm trên sàn nhà v́ những người
cộng sản đă phá hoại ngôi trường một đêm trước đó.
Một viên
đại tá chỉ huy trưởng Biệt Động Quân đến trường học trong
một chiếc xe jeep. Ông cho Đại Đội 150 xếp hàng và nói với họ, “Các anh là
những người lính chiến đấu rất anh dũng. Các anh ngăn chặn một
lực lượng quân thù đông gấp năm lần. Đừng nghĩ đến những
người đă chết. Các anh chiến đấu cho một mục tiêu cao cả và các anh
sẽ chiến thắng.”
Thế nhưng
mười chín quân nhân trong đại đội đă không có mặt để nghe đại
tá nói. Họ tử trận trong ngày hôm ấy. Trong số những quân nhân này có hai sĩ quan,
Trung Úy Sơn và vị đại đội trưởng. Tôi thấy có ít nhất mười
một người bị thương; có thể c̣n có những thương binh khác mà tôi không
biết.
Viên đại
tá chỉ định một chiếc xe lính đưa Fred và tôi về Sài G̣n. Chỉ hơn
một tiếng đồng hồ sau chúng tôi trở về trong sự an toàn của một
thành phố dịu dàng. Chúng tôi đi rộn ràng giữa những đại lộ thênh thang.
Đó đây có những người đạp xe qua lại. Những quán cà phê bên vỉa hè vẫn
đông người. Chúng tôi đến trước cửa khách sạn Majestic trước
khi trời tối và băng qua pḥng tiếp khách để đến cửa thang máy, mang theo
những dụng cụ lỉnh kỉnh ở trên tay. Người ta đă quay đầu nh́n
v́ chúng tôi quá dơ bẩn, không có vẻ phù hợp với khung cảnh của một khách sạn
sang trọng. Áo của tôi đă thấm đầy máu của Trung Úy Sơn.
Từ đó
tôi không bao giờ quên được Trung Úy Sơn. Trong suốt những năm tháng của
cuộc chiến Việt Nam, tôi vẫn nhớ đến ông ấy. Tôi trở lại Việt
Nam nhiều lần, tham dự những cuộc hành quân khác ở miền quê - đến những
lần sau này với quân đội Hoa Kỳ - và c̣n chứng kiến những con người
tốt lành bị bắn chết trong những băi đất trống bên cạnh rừng già.
Trong lúc cuộc chiến vẫn kéo dài như không có một kết cục và số thương
vong Mỹ mỗi lúc một cao hơn, tại Hoa Kỳ người ta có một phong trào cho
rằng những thanh niên Mỹ bị thiệt mạng một cách vô nghĩa. Tất cả
những bạn đồng nghiệp của tôi đồng ư với nhau rằng đó là một
cuộc chiến vô đạo đức, trong đó đế quốc Mỹ chống lại
ước nguyện của “nhân dân Việt Nam.”
Tôi không bao
giờ nghĩ như vậy. Những người Việt Nam mà tôi được gặp
đều không muốn có chiến tranh. Họ muốn được sống yên trong ḥa b́nh.
Thế nhưng người ta không cho họ được yên thân. Họ bị xâm lăng
bởi một đạo quân từ miền Bắc xuống miền Nam theo lệnh của
một chính quyền mà họ thù hận. Tôi nhớ đến ông Sơn, một người
ao ước được thấy một Việt Nam tự do đến nỗi ông sẵn
sàng chiến đấu cho lư tưởng này, mặc dù tuổi tranh đấu của ông đă
qua lâu rồi. Tôi nghĩ đến những người lính trong Đại Đội 150, người
cầm súng xông thẳng vào rừng, người leo lên cây với dây ăng-ten truyền tin ngậm
chặt trong răng. Tôi đă nghĩ, và tôi vẫn nghĩ rằng công lư và đức hạnh
luôn sống với những người can đảm ấy. Tôi thù ghét mỗi khi trở lại
Việt Nam sau này và nghe những người lính như thế bị gọi là “gooks”
bởi chính các quân nhân cùng xứ của tôi.
Những người
lính đă sống qua cuộc chiến - trong đó không có là bao quân nhân Biệt Động Quân -
giờ đây phải vào những trại “học tập cải tạo.” Sài G̣n xinh
đẹp, thư thả năm xưa nay trở thành thành phố Hồ Chí Minh. Vết thương
của cuộc chiến Việt Nam đang lành lặn tại Hoa Kỳ. Ở Mỹ, hầu
hết mọi người không c̣n nhớ rơ lắm về cuộc chiến hoặc không c̣n
ghi nhận những mơ ước của “nhân dân Việt Nam.”
Trong những
dịp về Hoa Thịnh Đốn, thỉnh thoảng tôi vẫn đến Đài Tưởng Niệm
Cuộc Chiến Việt Nam. Trên bức tường đen có khắc tên của một số
quân nhân mà tôi từng quen biết. Tôi nghĩ đến họ. Lẽ đương nhiên bức
tường đen không có tên của ông Sơn, tuy thế tôi cũng nghĩ đến ông.
Tôi chỉ
biết ông có một ngày.
Tôi đă quên
không hỏi để biết đầy đủ tên họ của ông.
** *
Tôi được
đọc “Trung Úy Sơn” trong một ngày bị bệnh. Cơn sốt nóng từ
ban đêm khiến cho tôi khó ngủ vào ban ngày. Giữa những cơn chóng mặt lúc đứng
dậy và nằm uể oải không thể ch́m vào giấc ngủ, tôi lật cuốn sách đă
mua từ lâu mà chưa có dịp được xem. Đến khi nhẩm đọc hết hàng
chữ cuối cùng của “Trung Úy Sơn” tôi ứa nước mắt. Tôi xúc động
v́ đă được nh́n thấy một phần nào quá khứ tối tăm của tôi. Phần
quá khứ ấy có liên hệ đến cha tôi.
Ông tử
trận vài năm sau Trung Úy Sơn tại một nơi nào đó ở Tuy Ḥa, miền Trung Việt
Nam. Tôi c̣n nhớ ngồi bên cạnh mẹ trong một chiếc xe nhà binh. Bà quàng khăn tăng,
ôm em tôi trong ḷng, gục khóc bên quan tài phủ cờ vàng ba sọc đỏ. Tôi không nhớ
ḿnh có khóc cha trên chuyến xe từ Tuy Ḥa về Nha Trang.
Cha tôi biến
mất trong cuộc đời từ khi tôi được năm tuổi. Không chỉ biến
mất theo nghĩa thể xác, ông cũng không c̣n trong trí nhớ. Trong nhiều năm tôi cho rằng
ông cố t́nh rời xa mẹ tôi, cố ư bỏ rơi hai anh em tôi trong một xóm nghèo. Đời
sống thiếu thốn đă khiến cho tôi có lúc căm giận, t́m những lư do để
gạt hẳn ông ra ngoài hơi thở mỗi ngày. Ngoài bức h́nh để trên một bàn
thờ rất ít khi được thắp nhang, chúng tôi chỉ nghĩ đến cha vào mỗi
dịp viếng mộ đầu năm. Tôi không nhớ cha đă đành, mẹ tôi cũng
hiếm khi nhắc đến ông. Tôi nghĩ quăng đời thiếu vắng một tấm
chồng ở tuổi thanh xuân đă để lại trong mẹ tôi một quá khứ đớn
đau mà bà sẵn sàng từ bỏ một khi rời khỏi Việt Nam. Rủi ro cũng
tẩy đi gần hết những dấu vết của cha. Rơi rớt dọc theo con
đường lánh nạn là mấy bức h́nh đen trắng, vài lá thư mỏng ḷe mực
của cha tôi. Ngay cả tờ giấy khai tử cũng biến mất, xóa luôn ngày tháng tử
trận của một người lính gần như vô danh.
Cũng
may tôi c̣n ôm được một tấm h́nh của cha. Tuy sóng biển trên hành tŕnh từ Sài
G̣n qua đảo Guam đến đất Mỹ trong biến cố 30 Tháng Tư năm 1975
đă ăn hết phân nửa bức h́nh, cha tôi cũng cố gắng để lại một
đôi mắt buồn, đôi mắt nh́n xuống của một thanh niên mới trên tuổi
đôi mươi. Có lẽ v́ đôi mắt tủi buồn đó mà sau hơn hai mươi
năm đẩy ông ra khỏi cuộc sống, một ngày kia tôi bỗng quay lại t́m cha
trong quăng quá khứ bị phai mờ. T́m lại ông quá khó. Ông không có bạn bè, không người
thân, không đồng đội c̣n sống và cũng không quá khứ ngoài vài mẩu chuyện
mà mẹ tôi thường kể. Mỗi lần mẹ kể câu chuyện lại khác đi,
như những đám mây tan bay trong một buổi chiều sắp tắt nắng. Ngày cha
tôi mất cũng vậy, bà chỉ nhớ mang máng là một ngày rằm, có lẽ rằm Phật
Đản của năm 1965. Tôi không biết ông chết như thế nào? Ở đâu, giữa
một cánh đồng, trên núi hay trong rừng? Ông có đau đớn không? Ông bị bắn
hay đạp trúng ḿn? Ai bắn ông? Xác ông có c̣n nguyên vẹn? Ông có thoáng nghĩ đến anh
em tôi trước khi nhắm mắt? Có ai ôm lấy ông trong lúc ông trút hơi thở cuối
cùng? Có phải ông đă chết một ḿnh?
Có lẽ
suốt đời tôi lúc nào cũng có một khoảng trống trong quá khứ ấy, những
câu hỏi không bao giờ có câu trả lời. Đó là lư do khiến tôi ứa nước mắt
sau khi đọc xong “Trung Úy Sơn.” Trong cái chết của Trung Úy Sơn tôi chợt
nghe tiếng đạn bắn trúng cha tôi, bắn trúng những người lính một buổi
sáng thầm lặng bước vào rừng và một buổi chiều trở về bên dưới
tấm khăn phủ tối om. Những người lính không c̣n ai nhớ đến, không
có đài liệt sĩ cũng không một bức tường đen, và cũng không chắc
c̣n được một tấm bia trên phần mộ ở quê nhà.
Tưởng
niệm 30 Tháng Tư
Hoàng Mai Đạt