lyhuonga.jpg














































Cảm nhận 30-4
Trần Khải Thanh Thuỷ

 

 

 

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy

 

Sinh năm 1960 nên ngày 30-4-1975 tôi tṛn 15 tuổi, đang c̣n ngồi trên ghế nhà trường phổ thông trung học. Tin miền Nam hoàn toàn giải phóng dội tới từng công sở , xí nghiệp, trường học làm nức ḷng toàn dân , nét mặt ai cũng hân hoan khúc khải hoàn ca. Lây tâm tâm trạng chung của mọi người , tôi cũng cảm thấy nhẹ bỗng như người không trọng lượng. Cảm giác của người chiến thắng, nở hoa trong hồn, vui mừng không sao kể xiết. Khắp góc chợ, vỉa hè, đâu đâu người dân cũng đưa tin nước nhà giải phóng, chế độ nguỵ quyền sụp đổ. Các quầy báo đông nghịt người xếp hàng mua báo quân đội, nhân dân, Hà Nội mới, để xem tin chiến thắng . Một cuộc cách mạng long trời, lở đất, một chiến thắng vĩ đại của quân và dân Việt Nam, cũng là một cuộc cách mạng mùa thu tháng 8 -1945 lần thứ hai của người Việt Nam, thời kỳ khổ ải trường kỳ kháng chiến, thắt lưng buộc bụng qua rồi ,giờ chỉ c̣n xây dựng đất nước to đẹp đàng hoàng gấp 10 lần xưa thôi....

 

Mẹ tôi mừng gấp đôi v́ đă hơn 20 năm trời xa cách , nay mới gặp được chị cả, di cư vào Nam từ 1954 theo chồng. Người chị mà v́ có họ hàng dây mơ, rễ má, máu mủ ruột thịt mà cả nhà phải ngậm đắng, nuốt cay, tám anh chị em trong nhà, kể cả mẹ tôi không ai được kết nạp đảng dù thoát ly, làm đường, thanh niên xung phong từ năm 16 tuổi, phải sống, cống hiến, lao động và chịu đựng hơn gương Bác Hồ vĩ đại cả ngàn vạn lần , vẫn ra ŕa, v́ trong gia đ́nh có người đầu hàng , theo địch... một vết nhơ trong gia đ́nh, ḍng tộc mà ngay cả khi thống nhất đất nước vẫn không thể nào gột rửa được 

Loay hay vất vả măi, tận năm 1976 mẹ tôi mới xin được cán bộ tổ chức cơ quan một tờ giấy phép vào Nam ( thời gian đầu, nhà nước chỉ xét các đối tượng trong diện vợ chồng, con cái, bố mẹ...) khỏi phải nói đến sự mừng tủi của hai chị em sau 21 năm xa cách. Bác ôm lấy mẹ tôi khóc khi hay tin cả bố và mẹ đẻ đă mất ngay sau khi tiến hành cải cách ruộng đất, nhà bị đưa vào diện địa chủ, bóc lột. Ông tôi khi ấy đang làm hiệu trưởng trường cấp I, v́ uất ức mà phải giằng kính khỏi mắt đập mạnh xuống nền nhà cho mắt kính vỡ tan để lấy một mảnh nhọn và sắc nhất rạch ruột tự tử ngay trước mặt cán bộ cải cách...Khi cả đoạn ruột ḷi ra ngoài ổ bụng, một viên bác sĩ người Pháp vội vàng chạy đến băng bó, cấp cứu, nhưng ông tôi đưa tay ra hiệu không cần thiết, kèm câu nói chứng tỏ sự lựa chọn đúng đắn của ḿnh: "Một xă hội mà kẻ vô văn hoá lên cầm đầu, trừng trị người lương thiện, cũng là người đă góp phần nuôi cả đại đội chiến sĩ trong nhà ăn no đánh thắng, giết giặc, lập công...th́ xă hội ấy chỉ c̣n là sự đồi bại, tha hoá, cướp bóc, trừng trị, không những không đưa đất nước ra khỏi quỹ đạo luẩn quẩn của ngh́n năm Bắc thuộc, mà c̣n không bằng xă hội trong thời kỳ phong kiến thối nát"...Một xă hội bất công, vô lư như thế th́ tôi c̣n sống làm ǵ ? Làm sao cam tâm nh́n cảnh đất nước bị tàn phá, lương dân bị giày xéo ....Đời người chỉ chết có một lần, sống mà phải mang vết nhơ gia đ́nh ḿnh là địa chủ, chuyên áp bức, bóc lột dân lành th́ sống sao nổi?


Nói lại những lời hùng hồn trăng trối cho viên bác sĩ người Pháp nghe xong, ông tôi nhắm mắt trút hơi thở cuối cùng. Bà tôi không chịu đựng nổi cái chết phi lư, đường đột của ông, lại chứng kiến cảnh mất nhà, cướp đất của lũ cán bộ cốt cán, từng ăn ṃn bát, ngồi ṃn chiếu nhà ḿnh, một điều u, hai điều con, nay giở mặt gọi bà là địa chủ bóc lột, đ̣i đưa ra đấu tố, trong khi con cái ly tán khắp các phương trời góc bể, Từ Hải Pḥng, Lạng Sơn, Hà Tây , Hà Nội v.v nên cũng ốm đau , ṃn mỏi, đành nhắm mắt, xuôi tay khi tuổi đời chưa tṛn một ṿng hoa giáp...


Khóc cho bố mẹ chán, bác tôi quay ra khóc cho ḿnh, cho cả đại gia đ́nh 9 đứa con, gần 30 chục cháu nội ngoại cùng 9 cặp dâu rể đang trong cảnh bấn loạn tinh thần. Chỉ v́ tin ông bà c̣n sống mà nấn ná ở lại, cấm con cái không được "lầm đường lạc bước theo giặc, bỏ quê cha đất tổ mà đi"... Giờ cơ hội đă lỡ, tất cả đều trong cảnh sống giở chết giở, 6 anh con trai là sĩ quan cộng hoà đều phải đi học tập cải tạo mút mùa, vợ con không ai nuôi nấng, chăm sóc ...Đang từ xă hội tiêu thụ, gi gỉ ǵ gi, cái ǵ cũng có, thành xă hội bao nhiều, cấp ít, gi gỉ ǵ gi, cái ǵ cũng thiếu ...ai cũng hoang mang chán nản, bởi cuộc sống đă bị cướp đi những ǵ quư giá, căn bản nhất, không c̣n là sống mà chỉ là sự tồn tại, vạ vật cho qua ngày đoạn tháng, đau khổ đến chết và đói nghèo đến chết, thậm chí có người không chịu đựng nổi cảnh địa ngục trần gian do bọn phát xít mới đưa lại đă lặng lẽ t́m đến cái chết, ḥng làm đứt tung mọi sự ràng buộc, gian díu với đời 


Khi tôi vào, điều cảm nhận đầu tiên của tôi là sự hụt hẫng, suốt dọc đường trên chuyến tàu xuyệt Việt, tầm mắt chỉ được nuôi dưỡng bằng cảnh nghèo, cái đói . Không phải "Đường vô xứ nghệ quanh quanh, non xanh, nước biếc như tranh hoạ đồ" như thơ Tố Hữu miêu tả mà là :


Đất nước ḿnh đâu cũng mái nhà gianh , 
Gương mặt người ai cũng xám xanh , 


Đơn giản v́ đồng đất bạc màu, hoang hoá, hết tím hoa mua lại trắng mùa hoa sở. Thứ hoa dại vốn chỉ mọc ở ven đồi, sườn núi, đẹp th́ có đẹp nhưng không nuôi sống nổi con người.


Vào đến Sài g̣n, nếu nhà văn Dương Thu Hương đă phải ngồi thụp xuống vỉa hè v́ đau xót, hẫng hụt trước một sự thực trần trụi: Nền văn minh mọi rợ chiến tháng nền văn minh hiện đại th́ tôi cũng có những nỗi buồn tương tự. Đất nước liền một dải, non sông thu về một mối, nhưng ḷng người đầy cách ngăn. Một con sông bến Hải, một vĩ tuyến 17 ngày và đêm, một nhịp cầu Hiền Lương vẫn tồn tại trong ḷng mỗi con người. Dù là t́nh máu mủ, ruột thịt, anh em, họ hàng, bà con, cô bác vẫn không sao xoá nhoà được ranh giới của kẻ thua, người thắng, kẻ bắc, người Nam, kẻ lấn chiếm, người bị động...Khắp thành phố, sự phân biệt kị th́ vẫn hằn lên trong từng ánh mắt, giọng nói, điệu cười. Các anh chị tôi tiếp đón một cách vừa phải , qua quưt, không thân cũng chẳng sơ. Nếu không có bác tôi làm cầu nối hẳn cuộc đón tiếp c̣n gượng gạo, buồn tủi hơn nữa. Đơn giản v́ tôi là người miền Bắc, người của phe đối địch, bị đầu độc từ tấm bé, nên mọi lời ăn tiếng nói đều do "cha mẹ sinh con, đảng đoàn xă hội chủ nghĩa sinh tính"...Động mở miệng là nhắc đến bác Hồ, gọi tên thành phố cũng là thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải Sài G̣n, càng không dám nói "Sài G̣n hoa lệ" hay "ḥn ngọc Viễn Đông". Đă thế c̣n luôn bảo vệ ư kiến ḿnh theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm của đảng và chính phủ. Ngay cả khi bác hỏi: "Ngoài Bắc, mỗi tháng được phát mấy lon sữa, hả con?" Cũng phải lên gân, lên cốt trả lời theo đúng những lời dạy dỗ khuyên bảo của thầy cô trên lớp học của ḿnh: "Cần ǵ đâu bác, không một gram sữa, không một kư thịt nào mà vẫn đánh thắng bè lũ đế quốc và tay sai đấy thôi".


Biết bao ông bố bỏ lại vợ con ra căn cứ địa cách mạng rồi tập kết ra Bắc, trở về dắt theo cả vợ lẽ, con thêm . Biết con trai đi học tập cải tạo, con dâu một nách 4,5 con nhỏ, vẫn không một lần lên trại thăm nuôi, c̣n dài giọng trách: - "Ai biểu nó vô Việt Nam cộng hoà, quay súng bắn lại cách mạng, Giờ tao vô trại cũng có bảo lănh cho nó ra được đâu"... khiến con dâu v́ nghèo, đói, uất ức mà phải tự tử, bỏ lại bốn, năm đứa con côi cút, găm thêm vào ḷng người chồng đang ngồi tù cải tạo một vết thương sâu hoắm


Trong khi người miền Bắc thích ăn món cua bể (bê của) hàng hoá rùng rùng chuyển động ra phía bắc, th́ trong nam cứ dần dần nghèo đi, câu hát của người dân miền Nam như lưỡi dao đâm vào tim người miền Bắc đau nhói: " Đi ta đi giải phóng miền Nam, đi đến khi nào người dân không c̣n cái quần, th́ ta c̣n chiến đấu, quét sạch chúng sinh , lời bác sui dại bên tai, chiến đấu cho đến ngày Nam, Bắc nghèo bằng nhau".


Một dân tộc bị qúa khứ lịch sử chia đôi thành hai vùng địa lư, chính trị, thuộc về hai chiến tuyến. Một vết cắt xuyên thấu mỗi gia đ́nh, số phận, tưởng chừng giải phóng được rồi là t́nh người, no ấm về theo. Ai ngờ, v́ những chính sách cai trị man dợ kéo dài mà kéo theo bao cảnh ba đào loạn ly, trước tiên là cảnh chia đàn xẻ nghé của tất cả các gia đ́nh "nguỵ quân, nguỵ quyền" chồng, con, anh em vào trại cải tạo, vợ con ở lại nheo nhóc đói khổ, phải đương đầu với cuộc sống vô cùng khắc nghiệt cùng bao quyết sách man rợ, sai lầm chết người của đảng cộng sản: Tài sản bị cướp trắng sau cải tạo công thương nghiệp, giết chết cái gọi là mầm mống tư sản mại bản để đề cao lư tưởng xoá bỏ chế độ người áp bức bóc lột người. Đổi tiền "Nguỵ " ra tiền đảng với gía trị gần như không, đến mức người dân phải thốt lên đầy cay đắng khi cầm một nhúm tiền của đảng, bác trên tay: 


Bố cạn tiền rồi cán bộ ơi,
Đổi tiền mà sao đến nỗi này
Chưa tiêu đă hoá tiêu đi hết 
Chú phỉnh tôi rồi, chính phủ ơi"


Trong khi đại bộ phận người dân thành phố nghèo đi trông thấy, th́ những anh bộ đội cụ Hồ, ba lô con cóc lép kẹp trên lưng với chiếc khung xe đạp, con búp bê nhựa xấu xí hôm nào, bỗng giàu lên một cách đáng ngờ. Từ vô sản thành hữu sản, c̣n người dân chịu cảnh đấu tranh giai cấp, cải tạo công thương nghiệp , nên đi từ hữu sản thành vô sản. Không những khốn khổ v́ đời sống thấp kém, c̣n khốn khổ v́ bị cán bộ cách mạng đè đầu cưỡi cổ, sách nhiễu lung tung.


Biết bao cán bộ lănh đạo với khẩu hiệu - tưởng chừng bất di bất dịch như một chân lư sống: "Một cái kim, sợi chỉ của dân không lấy" , bỗng vụt hiện lên thành các quan cách mạng, quan đồng chí. Vừa ngủ quên trên ngai vàng quyền lực, chia nhau quả thực, vừa quay lưng lại nỗi khổ của dân, hà hiếp cai trị dân, dù đó là những người từng nuôi dưỡng bao bọc che chở cho ḿnh trong suốt những ngày cách mạng c̣n gian khổ cam go nhất. Bao nhiêu tàn dư đế, quốc, phong kiến, tưởng đào tận gốc, trốc tận rễ bỗng rùng rùng trở lại, gấp cả trăm, ngh́n lần những tiêu cực yếu kém của thời kỳ tồi tệ, hà khắc, phong kiến trước kia- tàn dư của chế độ mới xă hội chủ nghĩa. Càng giành được chính quyền, giành được quyền tự chủ, tự quyết th́ càng ḷi sự dốt nát, bất lực trong phương pháp quản lư của đảng cộng sản. Đất nước liền một dải nhưng lại thực hiện chính sách, ngăn sông, cấm chợ, khiến 400 quận, huyện trong cả nước biến thành 400 lô cốt, pháo đài riêng biệt...Từ Lạng Sơn tới mũi Cà Mau, đất nước bị băm nát thành trăm ngh́n mảnh vụn bởi các trạm gác, chốt canh, nhân viên thuế vụ v.v Chỉ đem cân gaọ, lạng thịt từ tỉnh này sang tỉnh khác, huyện này sang huyện khác đă bị coi là buôn lậu và bị phạt, bị bắt, bị nhốt vô tội vạ, khiến ḷng dân tứ tán ...Làn sóng di tản ồ ạt, di tản bằng mọi giá, gần 90% các sĩ quan ra khỏi trại cải tạo trở về là cùng vợ con bỏ đất nước ra đi, tạo thành một làn sóng lưu vong nhiều không kể xiết, nạn thuyền nhân khủng khiếp nhất thế giới...Chưa kể các trại tù mọc lên như nấm suốt dọc bờ biển Đông để nhốt người vượt biển. Hiếm có người nào đi một lần đă trót lọt. Người bỏ ḿnh trên biển thẳm, người bị bắt hết lần này lần khác, người trở thành nạn nhân của bọn hải tặc Thái Lan v.v Đau thương nhiều không kể xiết..

 

 Đất nước không phải của toàn dân tộc Việt Nam như lời cha già dân tộc nói mà chỉ là của một phe nhóm những kẻ lănh đạo cộng sản, c̣n những người dân thấp cổ bé học th́ thuộc tầng lớp bị trị, bị cai quản, đầy áp đặt thô bạo và phân biệt đối xử không khác ǵ bài học lịch sử đau xót của cả ngh́n năm trước đó: "Được làm vua, thua làm giặc". Hễ là người miền Bắc dù không có chứng chỉ văn bằng, năng lực lănh đạo, quản lư, nhưng đều được cất nhắc lên thành cán bộ. Con em " Nguỵ quân, nguỵ quyền" bị phân biệt đối xử, bị xem xét về lư lịch, thành phần . Bao nhiêu khẩu hiệu dùng để tập hợp lực lượng, thu hút quần chúng sớm đến ngày chiến thắng, giờ trở thành đầu môi, chót lưỡi , thành sự bội ước với số đông đồng bào, đồng chí, anh em, cô bác. Xă hội bị tha hoá , tuột dốc từng ngày. Thời điểm trước "giải phóng", miền Nam Việt Nam dưới sự chỉ đạo của chính thể cộng hoà, 21 triệu người đă ra khỏi sự đói nghèo luẩn quẩn của ngh́n năm lịch sử, nay nhờ được đảng cộng sản "giải phóng" mà cả nước húp chung một niêu cháo loăng, cả nước lặn ngụp trong những ô tem phiếu, nhá bo bo, ḿ hạt sái hàm, ăn khoai và củ ḿ đớ họng. Từ chỗ vượt xa Nam Hàn và Thái Lan trong thập kỷ 70, th́ ngay sau "giải phóng" một năm, đă kém xa Nam Hàn và Thái Lan về mọi mặt.

 

 Mượn lư tưởng "xoá bỏ chế độ người bóc lột người" để liên tục đánh vào tầng lớp hữu sản, để dần dần thay thế vai tṛ, từ vô sản thành hữu sản và ngược lại . Ngọn cờ của giai cấp vô sản càng giương cao th́ tầng lớp cán bộ, lănh đạo đảng càng giàu lên một cách bất ngờ, trong một thời gian vô cùng ngắn ngủi , trong khi bao nhiêu căn cứ cách mạng, bao nhiêu vùng nông thôn rộng lớn phải sống cảnh giật gấu vá vai, ăn bữa nay, lo bữa mai th́ cán bộ cộng sản ăn chơi phè phỡn , ăn luôn cả thành tựu cách mạng bao năm gây dựng trong ḷng dân . Khắp thành phố khi đó là một bức tranh hiện thực trơ trụi , xám mgoét, hậu quả tất yếu của sự lănh đạo dốt nát, cộng với chủ nghĩa cơ hội, ăn xổi ở th́, cũng như kiêu ngạo, ảo tưởng của kẻ chiến thắng. Vừa công kênh cái dốt, đề cao cái ác, lại vừa giày xéo lên lương tâm của những người lương thiện, chưa kể c̣n cố t́nh bám vào những lư thuyết sách vở lỗi thời là chủ nghĩa Mác, Lê để níu kéo sự phát triển hài hoà của cuộc sống . Càng giương cao ngọn cờ "bách chiến bách thắng" trong mọi lĩnh vực th́ càng khủng hoảng, thua lỗ. Càng nêu cao khẩu hiệu "nói thẳng , nói thật , đổi mới tư duy, nh́n thẳng vào sự thật" th́ càng dối lừa, gian trá, khiến cho bài toán kinh tế mỗi ngày lại mang thêm nghiệm âm 


Hàng ngh́n gia đ́nh bị dồn lên khu kinh tế mới, mới chẳng thấy đâu, chỉ thấy mênh mông mịt mùng là rừng, núi, vách đá dựng đứng. Ngày nắng rát da, đêm lạnh thấu xương. Một ngày trải đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông, chẳng biết làm ǵ để ăn, để sống đành ôm nhau mà khóc, ôm nhau mà sợ, rồi không thể ôm nhau mà chết, đành dắt díu lếch thếch kéo nhau về lại nơi ở cũ, vạ vật nơi xó chợ, lề đường, v́ nhà cũ đă được quan cách mạng chiếm cứ, trưng dụng vô điều kiện ...


Ba mươi ngày ở lại Miền Nam thâm nhập thực tế, trở ra ḷng tôi trĩu nặng. Cũng như tất cả những người dân miền Nam khác trong thời kỳ đó, tôi không nhận được ǵ từ chế độ mới xă hội chủ nghĩa mà chỉ cảm được nỗi đau, nỗi khổ, nỗi bàng hoàng, hẫng hụt, bất b́nh của người dân với chính quyền cộng sản


33 năm qua rồi , nỗi đau c̣n đọng lại, vẹn nguyên, làm tổ, kết kén trong hồn tôi, càng ngày càng mưng mủ, và bây giờ vỡ toác trên trang giấy ... 


Bệnh viện Châm Cứu 28-4-2008
Trần Khải Thanh Thuỷ

 

TRỞ VỀ ĐẦU TRANG

 

lyhuonga.jpg






Trần Tiến Dũng
Hội nhập ngay trên chính quê hương ḿnh
(Trích từ bài thuyết tŕnh tại Trung tâm William Joiner ngày 30.4.2007)
 
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, nền hoà b́nh có được từ sự đầu hàng về mặt quân sự của chế độ Việt Nam Cộng hoà đă kéo theo sự tan ră tức th́ của các thiết chế gia đ́nh, xă hội, và hệ quả tiếp theo là sự thay đổi ngôi thứ các giá trị đúng sai, thiện ác... Thực chất của sự tan ră lần lượt này là sự biến mất các giá trị văn hoá, đă tồn tại lâu đời với bản sắc riêng, của từng gia đ́nh cư dân miền Nam.

Khi thần chiến tranh đă trao chiến thắng vào tay người theo ư thức hệ cộng sản ở miền Bắc và một số đồng minh của họ ở miền Nam, một sự thống nhất Việt Nam về mặt địa lư đă diễn ra. Tiếp đó, tính thống nhất về địa lư lại làm nền cho việc các chi bộ cộng sản thống nhất quốc gia bằng các giá trị của chủ nghĩa Mác-Lênin và công cụ chuyên chính vô sản. Và trong toàn diện, các giá trị về vật chất, tinh thần truyền thống và hiện đại của người miền Nam đă không c̣n giữ cái quyền điều khiển toàn bộ các hoạt động xă hội và từng số phận con người.

Những lớp thanh niên vừa tới tuổi trưởng thành (sinh vào những năm thập niên 50 và cả thập niên 60) ở Nam Việt Nam bước vào đời từ cái nền lịch sử - văn hoá gia đ́nh vốn thuộc về chế độ Việt Nam Cộng hoà đă sụp đổ. Tất cả họ phải đối diện với một chế độ mới mà tính nhất quán là sự toàn trị của ư‎ thức hệ cộng sản.

Số phận những người thanh niên miền Nam Việt Nam trong bối cảnh từ chiến tranh chuyển sang hoà b́nh chính là những số phận đặc biệt trong một khúc quành quan trọng của lịch sử Việt Nam trong bối cảnh thế giới đương đại.

Tất cả những người trẻ của thời kỳ này vốn là sản phẩm hoàn chỉnh hoặc sắp hoàn chỉnh của một chế độ xă hội đă tiêu vong, nhưng nay, bắt đầu từ ngày 30 tháng Tư năm 1975 họ phải sống và làm việc trong tư thế của thế hệ thanh niên đầu tiên xây dựng chế độ mới, chế độ xă hội chủ nghĩa ở miền Nam. Họ vừa mơ hồ về sự phá sản các giá trị xuất thân của chính họ vừa mơ hồ về những giá trị kiểu mới đang được đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam khởi xướng.

Suốt hơn một thập niên kể từ ngày người cộng sản nắm chính quyền, những người thanh niên từ chối hội nhập đă vượt biển. Những người ở lại, thế hệ thanh niên miền Nam này chỉ có một con đường phải đi nếu muốn tồn tại: hội nhập ngay trên quê hương ḿnh. Hội nhập ở đây phải được hiểu là tuân theo ư chí chính trị của Đảng Cộng sản.

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau chuyện gọi tŕnh diện để tập trung cải tạo và cải tạo tại chỗ các sĩ quan, công chức, binh sĩ chế độ Việt Nam Cộng Hoà. Đối tượng tiếp theo là tất cả các thanh niên miền Nam. Chính quyền quân quản cộng sản dưới h́nh thức “vận động” tập hợp họ trong các tổ chức như: Hội Thanh niên Giải phóng, Thanh niên Xung phong, Thanh niên Lao động Nghĩa vụ, Thanh niên Xây dựng Cuộc sống Mới... Nhưng thực chất việc họ được tổ chức cộng sản “giáo dục” trong các môi trường này cũng mang màu sắc cải tạo, nhằm mục đích xa hơn là tạo điều kiện cho họ hội nhập để trở thành những thế hệ thanh niên cộng sản hoặc loại bỏ họ nếu họ thất bại trong chuyện hội nhập .


Câu chuyện hội nhập

Bà A, vốn là vợ một giáo sư đại học Văn Khoa Sài G̣n được biệt phái sang quận đội Việt Nam Cộng Hoà, cấp bậc sau cùng là đại uư. Sau 30 tháng Tư năm 1975 ông đi học tập, dĩ nhiên không biết ngày nào về.

Bà A vợ ông, một giáo viên tiểu học, thay v́ như người đồng cảnh ngộ phải sống cam chịu hoặc chờ t́m cách vượt biên, bà A chọn con đường phấn đấu làm tổ trưởng dân phố. Bà bày tỏ ư nghĩ chất phác rằng: “ Tôi neo đơn, muốn không bị Việt cộng ăn hiếp th́ chỉ có cách đó.” Bà thừa kiến thức để biết phải phấn đấu phục vụ chính quyền cách mạng gấp trăm lần người khác mới có thể khoả lấp được phần nào cái lư lịch gia đ́nh sĩ quan chế độ cũ. Bà chấp nhận mọi thách đố để được là thành phần chế độ cũ tích cực, bà tỉnh táo hăng hái lao vào các hoạt động xă hội bề bộn sau chiến tranh, trong một khu dân cư đa phần là công chức, sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà.

Chính quyền địa phương rồi cũng bớt nghi ngại bà và họ muốn biến bà thành một nhân tố điển h́nh, “thành phần gia đ́nh có người thân đi học tập biết phấn đấu đi theo cách mạng.” Họ cất nhắc bà qua các chức: tổ trưởng phụ nữ, tổ phó dân phố phụ trách đời sống và sau vài năm phấn đấu bà đạt được mục tiêu trở thành tổ trưởng Tổ dân phố 3 Khu phố 6.

Dù có bạn bè của bà trong lúc vui miệng nói: “Bà con bên mày toàn theo Việt Cộng, sao mày không nhờ họ xác nhận, biết đâu mày vô Đảng rồi làm bà chủ tịch phường.” Khi lên chức tổ trưởng, bà không ảo tưởng, mục đích của bà trong suốt quá tŕnh phấn đấu phục vụ chính quyền cách mạng là v́ những tem phiếu gạo, thịt, nhu yếu phẩm... – những quyền lợi luôn nhiều hơn tiêu chuẩn các gia đ́nh thường dân khác – đă giúp ba đứa con của bà no đủ không phải bỏ học, đồng thời giúp bà ki cóp dành dụm một phần tiêu chuẩn đó để thăm nuôi ông chồng “học tập cải tạo” tận miền Bắc.

Khi thằng con trai thi đậu Khoa Điện, Đại học Bách khoa, bà bắt đầu ảo tưởng. Bà thường phấn khởi nói đúng giọng cán bộ: “Đừng hỏi cách mạng đă làm ǵ cho ḿnh mà nên tự hỏi ḿnh đă làm được ǵ cho cách mạng.” Nhập trường được khoảng một tháng, con trai bà được Pḥng Tổ chức trường mời lên. Họ thẳng thắn đề nghị con bà tự nguyện xin nghỉ học “v́ lư lịch không trong sáng”. Con trai bà ngơ ngác kể lại cho bà nghe lời động viên của ông cán bộ nhà trường: “Em có thể đi Thanh niên Xung phong, tham gia các công tŕnh lao động xă hội chủ nghĩa... Em đừng bi quan, cách mạng vẫn dành nhiều cơ hội cho em trở thành người tích cực của xă hội.” Cùng thời điểm con bà bị ép“tự nguyện” bỏ trường đại học, chồng bà được tha v́ học tập tốt. Bà vẫn giữ lập trường của một người tổ trưởng dân phố, lư trí và t́nh cảm của bà bắt đầu khư khư tin rằng không chỉ riêng bà mà cả gia đ́nh phải phấn đấu hơn nữa. Bà hay nói với chồng con: “Nhà ḿnh phải phấn đấu thành con người mới xă hội chủ nghĩa.” Ông cựu đại uư chế độ cũ, chồng bà không chịu nổi cái “trại cải tạo gia đ́nh” mới, nên “xin phép” lui về quê của ông ở Tân Trụ, Long An; tấm giấy xin phép có chữ kư của bà tổ trưởng dân phố xác nhận.

Bà làm công tác tư tưởng cho mấy đứa con và chúng quyết tâm chọn đi theo con đường của mẹ, tự nguyện cắt đứt mọi liên hệ với cha. Chúng tin rằng không liên hệ với cha là lựa chọn bắt buộc / đúng đắn để bỏ được cái lư lịch khốn nạn liên đới đến người cha – thứ tai họa kinh khủng đang đeo-bám-dính-chặt cuộc đời chúng.

Sau đó cả gia đ́nh bà A dứt khoát từ chối cùng ông “đại uư nguỵ” đi xuất cảnh theo diện HO. Người chồng, người cha đó bị từ chối quyết liệt đến mức ngay cả khi hay tin ông chết v́ bệnh ở Mỹ, cả nhà bà A vẫn không phản ứng ǵ. Lối xóm có người dè bỉu: “Nhà đó có chồng có cha hồi nào mà nói!” Người khác ái ngại nói đỡ: “Tôi bắt gặp thằng T chở bả đi chùa, chắc là có thờ ổng!”

Anh T, con trai bà A, sau hơn 10 năm làm công nhân ngành điện, cuối cùng cũng có bằng kỹ sư điện hệ tại chức, việc anh ta là trạm phó một trạm biến thế ở NB được bà A coi như là chuyện tất nhiên. Trong hai cô con gái làm giáo viên tiểu học của bà A, cô chị phấn đấu làm tới chức hiệu phó.

Bà A nay đă là giáo viên hưu trí và sau nhiều lần làm tổ trưởng dân phố, bà không ra làm nữa. Bà cựu tổ trưởng luôn mang dáng vẻ đầy kiêu hănh. Dù tạm gọi là thành đạt nhưng ba đứa con bà sống lặng lẽ. Chúng có lư do, chúng biết bao vây chúng là dư luận: “Cái nhà đó ngóc đầu được nhờ bỏ chồng, bỏ cha.” Và lối xóm cho rằng “Cha tụi nó tự tử v́ bị hắt hủi chớ có bệnh ǵ đâu.” Trước dư luận, bà A cứ thản nhiên, trước mọi người trong tổ dân phố bà luôn khoác cho ḿnh một vẻ kiêu hănh đến mức khiêu khích. Bởi bà cả tin vào cái lư “bỏ chồng” là nguyên nhân chính giúp gia đ́nh bà thành đạt.

Thời gian gần đây bà hay nói với lối xóm, cách nói như người bệnh hoang tưởng: “Mọi vịệc tôi làm là v́ nhân dân, v́ sự nghiệp chung của nhân dân.” Các cán bộ chính quyền địa phương, nhất là công an phường bắt đầu thấy khó chịu v́ cái chuyện bà nhân danh “nhân dân” làm phiền toái họ suốt tháng quanh năm. Bà kêu réo, nắm áo, kéo tay cán bộ chính quyền phường mọi lúc mọi nơi. Nào là chuyện chó ỉa bậy, chuyện thùng rác chúng cư bể, chuyện tổ trưởng dân phố đương nhiệm nhận hối lộ, chuyện công an phường chiếm vỉa hè mở quán nhậu... Đến ông công an khu vực c̣n nói lén bà: “Con mẹ A tưởng mẻ là ai. Gia đ́nh nguỵ mà nhân dân cái con khỉ!”

Dù bà không c̣n là tổ trưởng nhưng “nhân dân” Tổ dân phố 3 ai cũng công nhận thành tích “v́ nhân dân” của bà, nhờ bà mà nhân dân không mất thời giờ đi họp tổ v́ bà thích độc quyền hành động, và cái tổ dân phố dưới quyền bà luôn có được “an ninh trật tự, văn hoá xă hội tốt”, nhưng ghét bà th́ họ cứ ghét. Có người ghét bà đến mức mách nước cho những cán bộ phường muốn phát điên v́ bị bà quấy rối. Họ mách: “Chỉ thằng T, con bả mới trị được bả!” Anh con trai không biết đă nói ǵ với bà. Chỉ thấy bà sau khi rời chức tổ trưởng th́ không đi họp tổ dân phố nữa, nhưng ngược lại bà thường chận đường bất cứ ai, nếu ai đó chịu dừng lại nghe bà, bà chỉ bu lu ba loa chuyện: “Nhân dân phản ảnh, hay ǵ chưa? Thằng L khu vực (tức anh L cảnh sát khu vực) có ba mươi hai ngàn đô mua xe hơi” hoặc “Tụi bây hay ǵ chưa? Thằng T chủ tịch thế nào cũng tiêu v́ có vợ nhỏ. Nhân dân phản ảnh vậy đó...” Có người cho rằng ở tuổi 67 như bà không c̣n ǵ sợ mà phải giấu giếm e dè, và trong một lần người ta nghe bà to tiếng với anh con trai, có vẻ như bà muốn cho cả xóm được nghe: “Bỏ cha anh, tiếng ác tôi dám gánh! Tôi làm lănh đạo tổ hơn 15 năm. Nhân dân muốn ǵ tôi biết, anh đừng nghe lời bọn chính quyền mà dạy khôn tôi.”


Đôi điều rút ra từ “tiến tŕnh hội nhập” của gia đ́nh bà A

Bối cảnh chính trị - xă hội

Ngoại trừ một số ít thanh niên trí thức đô thị và số thanh niên nông thôn sống ở các vùng giải phóng tự nguyện tham gia các phong trào do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động, tất cả các thanh niên miền Nam Việt Nam c̣n lại hầu như không biết ǵ về ư thức hệ cộng sản. Trong tư cách là công dân xuất thân từ trong một thể chế bị gọi là nhà nước “nguỵ quyền, tay sai của đế quốc Mỹ”, khi phải chuyển sang sống dưới chế độ toàn trị chuyên chính vô sản, ư thức họ luôn bị tổn thương nặng nề và chính vết thương ư thức đó của họ đă thành hố thẳm tạo nên sự khác biệt giữa họ và các thanh nhiên cùng thế thệ đă theo cộng sản hoặc là con em các cán bộ tập kết, cũng như con em các gia đ́nh cán bộ cộng sản miền Bắc mới biệt phái vào Nam.

Câu chuyện đă dẫn ở trên về gia đ́nh bà A cho thấy rằng:
  • Có khác biệt quan trọng giữa hai tầng lớp thanh niên cùng thế hệ nhưng khác biệt về thành phần xuất thân. Trong đó chủ nghĩa lí lịch là một thứ rào cản được áp dụng triệt để đối với đại bộ phận thanh niên miền Nam.
  • Có sự phá sản về lư tưởng trong giới thanh niên miền Nam phi chính trị hoặc xuất thân từ các gia đ́nh theo chủ nghĩa quốc gia đơn thuần khi ‎hội nhập vào chế độ cộng sản vào thời kỳ đầu của biến cố 30 –tháng Tư năm 1975.
  • Có tâm lư t́m mọi cách hội nhập để tự vệ v́ “sợ Việt Cộng”.
  • Có khuynh hướng cơ hội xu thời để t́m kiếm các quyền lợi về kinh tế, địa vị xă hội.
  • Có sự kích thích bởi những giá trị của chủ nghĩa cộng sản.

Giá trị đă mất

Trong gia đ́nh bà A đă bước đầu h́nh thành giá trị con người mới xă hội chủ nghĩa. Để được chế độ chấp nhận là con người kiểu mới, bà A và các con bà vừa bị ép buộc vừa phải tự nguyện thực hiện một điều cơ bản là cắt đứt với di sản quá khứ được tuyên truyền là “Mỹ - ngụy”.

Trong gia đ́nh bà A cũng như trong đại bộ phận gia đ́nh thanh niên miền Nam có can dự trực tiếp tới cuộc chiến, thực thể và biểu tượng của “quá khứ Mỹ - ngụy” chính là người CHA. Việc phủ nhận toàn diện di sản tinh thần và thành quả công việc đă cống hiến cho cộng đồng và xă hội của người CHA là một cách trực tiếp làm mất đi các giá trị đạo lư nền tảng trong gia đ́nh người miền Nam, mất đi tư tưởng chính thống chủ đạo của các gia đ́nh người Việt Nam nói chung.


Giá trị c̣n lại

Trong hoàn cảnh cụ thể của gia đ́nh bà A và trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1989, các con của bà A hoàn toàn thụ động. Động lực hội nhập khởi phát và được hướng dẫn từ người MẸ.

Trong khoảng thời gian này, đối với đại bộ phận thanh niên miền Nam, biểu tượng và quyền lực người MẸ chi phối ṭan bộ gia đ́nh. Đó là giá trị lớn duy nhất c̣n lại. Đó cũng là động lực thúc đẩy những đứa con hội nhập và là nhân tố cơ bản hướng tới con đường hội nhập thành công. Nhưng động lực thúc đẩy hội nhập này thường mang tính chất cảm tính - bản năng nhằm t́m kiếm lẽ tồn tại nhiều hơn là hướng tới việc t́m và h́nh thành một giá trị gia đ́nh mới theo mô h́nh xă hội chủ nghĩa.


Giá trị phát sinh

Các thanh niên miền Nam, mà cụ thể là qua trường họp những đứa con bà A, h́nh thành các mối quan hệ và ư thức cộng đồng theo quan điểm xă hội chủ nghĩa qua ư thức chủ quan của người mẹ. Nhân sinh quan này so với nền tảng gia đ́nh trước 1975 là hoàn toàn thiên kiến. Sự thiếu vắng vai tṛ của người cha (đi học tập cải tạo, bị chính quyền hạn chế, thụ động bất lực) đă khiến các bà mẹ có toàn quyền trong gia đ́nh. Nhiều bà mẹ miền Nam coi việc hướng dẫn các đứa con ḿnh hội nhập với chế độ mới là cách t́m cơ hội để an toàn cho bản thân chúng, và kiếm được tiêu chuẩn tem phiếu nhiều hơn dưới thời bao cấp.

Tất nhiên, cũng có không ít thanh niên miền Nam thuộc thành phần “gia đ́nh Mỹ - ngụy”, sau khi có cơ hội kinh tế và an toàn, đă nỗ lực một bước nữa t́m cách hội nhập với ư thức hệ cộng sản để tiến thân. Người con trai và 2 cô con gái của bà A là một trường hợp điển h́nh. Khi chế độ mới bước đầu thừa nhận các nỗ lực và những đóng góp của họ, đánh dấu việc họ hội nhập thành công với cơ chế nhà nước cộng sản và mở đường cho việc họ bắt đầu tin rằng đức tin tôn giáo, đạo đức lễ giáo Khổng - Mạnh, ư thức cộng ḥa dân chủ, quyền tự do công dân, xă hội dân sự theo mô h́nh các nước phương Tây mà chế độ cũ áp dụng là không đúng hoặc không c̣n giá trị. Vị trí xă hội, quyền lợi và nghĩa vụ mà chế độ mới trao cho họ trong thời kỳ mà những nguyên tắc xă hội chủ nghĩa áp đặt triệt để nhất ở miền Nam là cơ sở để họ trở thành những người thanh niên cộng sản cực đoan trong việc phủ nhận các giá trị văn hóa và văn minh, những nền tảng đă xây dựng nên chính cái gia đ́nh họ xuất thân.

Tất nhiên kinh nghiệm từ các xứ cộng sản khác trên thế giới đă có những phân tích đầy đủ về diễn tiến này.

Nhưng từ đặc thù của các gia đ́nh người miền Nam và tiến tŕnh hội nhập trong bối cảnh từ chiến tranh chuyển sang ḥa b́nh của các thanh niên miền Nam, tôi muốn nhấn mạnh tới đặc điểm: Việc thiếu vắng giá trị biểu tượng, quyền lực và nghĩa vụ xuyên suốt của người cha trong các gia đ́nh bị chế độ xă hội chủ nghĩa xếp loại “thành phần chế độ cũ” đồng thời có nghĩa là hàng triệu gia đ́nh mất đi tư tưởng phụ quyền chính thống, một tư tưởng đă được thể chế hóa bằng các giá trị văn hóa và văn minh xuyên suốt trong lịch sử h́nh thành cộng đồng các gia đ́nh Việt Nam.


Chuyện của người thợ hồ trong hoàn cảnh thời hậu chiến

Ông N sinh năm 1958, trước năm 1975, vốn là con trai cả của một sĩ quan cấp tá quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Ba ông phục vụ ở Tiểu khu G̣ Công. Từ hồi học trung học ông nổi tiếng là công tử đẹp trai, hiền lành và học rất giỏi. Sau “giải phóng”, ông bị buộc phải rời trường trung học vào năm mười bảy tuổi, từ đó đến hết năm mười chín tuổi ông chỉ tồn tại để kiếm đường vượt biên và đă ở tù v́ tội vượt biên. Khi mẹ ông cạn nguồn tiền vàng để dành, từ năm hai mươi tuổi, ông “bị” nghề thợ hồ chọn và đến nay ông “bỗng nhiên” trở thành một người thợ hồ có hơn mấy chục năm kinh nghiệm

Nói với chúng tôi, cái vẻ mặt hốc hác của ông cố gượng cười:

– “Hôm đi thăm đứa em út ở nhà thương điên Biên Ḥa, tôi mới có quyết định không leo theo giàn giáo nữa, chỉ làm ở dưới thấp, chủ thầu không mướn th́ thôi, chớ yếu rồi, lỡ té giàn mà chết th́ yên phần ḿnh, c̣n không chết mang thương tật làm khổ vợ con.

Ông có lí do để sợ! Em ông là một cô gái trẻ hơn ông mười tuổi, lúc kết thúc chiến tranh mới tṛn một tuổi, và theo như ông kể th́ “Nó không nhớ rơ mặt ông già chớ nói ǵ đến chuyện thấy ổng mặc đồ lính.” Cô em gái út này, sau mấy năm ngồi c̣ng lưng ôm cái máy may công nghiệp ở một tổ hợp các xí nghiệp may gia công đă phát bệnh thần kinh tọa, trị không khỏi rồi di chứng qua bệnh tâm thần.

Gia đ́nh riêng của ông N ở trong một căn nhà nhỏ, thuộc một ngơ hẻm không thể quay đầu xe Honda trên đường Âu Cơ, một căn nhà trước đây xây bên cạnh và bên trên mồ hoang mả lạnh. Ông có vẻ tự hào chuyện ông là người con duy nhất trong số 9 người con của ông cựu trung tá Việt Nam Cộng Hoà đă tạo dựng được một căn nhà riêng từ hai bàn tay thợ hồ của ḿnh. Căn nhà được xây tô bằng vật liệu lượm lặt tổng hợp trên một diện tích khoảng 20m2, có lầu bê-tông giả cho hai đứa con yên tỉnh học bài, có khoảng sân thượng trồng cây cảnh linh tinh. Vợ ông N là một người đàn bà quanh năm đau yếu, nhưng dù sao cái gia đ́nh bên vợ làm nghề hớt tóc ở khu chung cư Nguyễn Thiện Thuật cũng thường xuyên “viện trợ,” để hai đứa cháu nội của một vị tiểu khu phó tỉnh G̣ Công chết ở trại cải tạo được ăn học đàng hoàng.

Chúng tôi không hiểu v́ sao gia đ́nh ông không xuất cảnh theo diện HO. Hàng xóm nhiều chuyện th́ cho biết: “Má nó làm bé, mấy đứa con của bà lớn ở bên Mỹ đều giàu có hết.” Ông N chỉ nói:

– Năm bảy lăm, ông già tôi bị bắt tức th́, tôi mới có mười bảy tuổi, sau tôi là một lô mấy đứa em loi nhoi lóc nhóc, mẹ tôi chỉ có khóc. Chạy được lên Sài G̣n sống là may rồi.

Trước câu hỏi v́ sao mẹ ông, một cô gái người Qui Nhơn, lại chấp nhận cái dư luận có chồng không hôn thú, không được đi Mỹ như người ta. Ông N cho biết:

– Hồi Việt cộng vô, mẹ tôi mất hết tinh thần, yếu đuối lắm, mặc tụi tôi tự bươi quào như gà. Đến khi bố tôi chết ở trại cải tạo, tiền bạc mẹ tôi để dành lớp lo thăm nuôi bố tôi, lớp nuôi bọn tôi hết sạch. Thời đó lo được cái ăn cho mấy đứa tôi là bà đă muốn chết rồi. Con không cha như nhà không nóc, mẹ tôi đâu thiết ǵ chuyện HO, mà dù có muốn cũng đâu c̣n biết cách nào để lo.

Giờ đây ông N cũng mất luôn phương hướng xây dựng gia đ́nh riêng của ông. Ông quên quách chuyện ba ông dù sao cũng là sĩ quan - trí thức. Với ông, mục đích chủ yếu là kiếm được tiền để lo cho con có cái ăn cái mặc. Ông nói thản nhiên:

– Ai mà biết thân thế tôi, tôi đau đớn lắm chứ, cũng có lúc tôi khóc. Nhưng nhờ sống với dân mạt hạng, tôi không màng đến chuyện tiến thân cho ḿnh và gia đ́nh nữa riết rồi thấy dễ chịu.

Nhưng ông N lại không đồng ư với với chúng tôi chuyện đi HO là lối thoát duy nhất. Ông nói:

– Tôi biết là sống dưới chế độ này không chỉ đời tôi mà cả đến đời con tôi cộng sản cũng không bao giờ cho ngóc đầu lên. Tôi cũng biết ở Mỹ sẽ tốt hơn, nhưng không lẽ v́ chuyện ḿnh xui, không đi được mà ḿnh phải tự tử.

Rồi bỗng nhiên ông đổi giọng:

– Bây giờ tới ngày ba mươi tháng Tư, ra đường, coi ti-vi thấy họ phất cờ chiến thắng tôi chẳng thấy cảm giác ǵ. Ḿnh là thợ hồ, điều duy nhất có‎ ư nghĩa là cuối tuần lănh lương, ra quán tự thưởng cho ḿnh vài xị rượu. Nhưng rồi đôi khi tôi ngẫm nghĩ, tôi biết cha tôi cũng là người lính yêu nước, tôi không cho là ông sai, ông có lư tưởng tự do của riêng ông. Tôi xuất thân từ đó ra nên bất cần, họ nói ǵ kệ họ.

Ông N cũng như những người “bỗng nhiên” trở thành dân lao động b́nh thường khác, bằng hai bàn tay lao động chai sạn, bằng ư thức cố thủ những giá trị đă bị chế độ phủ nhận, trong tâm trạng cam chịu của ḿnh, họ đă tự làm lành những tổn thương mà cuộc chiến tranh đă khoét vào thể xác và tâm hồn.

Kể cả trước ‎ư kiến cho rằng ngay trong thời hậu chiến, bắt đầu từ ngày 30 tháng Tư năm 1975, đă diễn ra một cuộc chiến tranh khác – cuộc chiến áp đặt ư thức hệ – th́ mọi người như ông N cũng tin rằng: ‎chỉ duy nhất ư thức tự ḿnh trông cậy vào ḿnh để nuôi sống và giữ cho gia đ́nh ḿnh tồn tại dưới chế độ cộng sản mới chính là ư thức có giá trị nhất.


Về công ăn việc làm và vị trí xă hội của thanh niên miền Nam trong bối cảnh từ chiến tranh chuyển sang ḥa b́nh

Những năm trước khi nhà nước cộng sản Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, thanh niên miền Bắc giữ quan niệm những việc không có chức danh công nhân viên nhà nước hoặc hợp tác xă th́ không phải là công việc. Trong khi đó, đại bộ phận thanh niên miền Nam thường có quan niệm một người có công ăn việc làm đàng hoàng có nghĩa là người đó có thể kiếm sống bằng bất cứ việc ǵ mà luật pháp cho phép.

Vị trí xă hội của một người thanh niên miền Nam vẫn giữ tính truyền thống bắt đầu từ nền tảng văn hoá gia đ́nh, việc họ chịu giáo dục và thụ hưởng những thành quả giáo dục của nhà trường và xă hội chính là để hoàn thiện vị trí cá nhân tiến tới tạo dựng gia đ́nh riêng. Họ lấy mục tiêu tạo vị trí xă hội cho gia đ́nh làm hướng chủ đạo để xây dựng một xă hội văn minh. Trong khi đó, các tổ chức giáo dục của nhà cầm quyền cộng sản đương thời luôn giữ nguyên tắc đào tạo các thế hệ thanh niên Việt Nam thành những “chiến sĩ”, “cán bộ” của bộ máy toàn trị.

Việc nhà nước cộng sản áp dụng triệt để các mô h́nh giáo dục mang từ miền Bắc vào cùng lúc đặt để thêm những qui định khắt khe khác, áp dụng riêng với thanh niên các vùng mới giải phóng, đă tạo nên một thực trạng: đa số thanh niên miền Nam về cơ bản vẫn là các công dân hạng hai.


Từ thay đổi về việc làm dẫn đến thay đổi vị trí xă hội

Sự sa cơ thất thế của những gia đ́nh có người từng là sĩ quan, công chức chế độ Việt Nam Cộng Hoà, điển h́nh là trường hợp của gia đ́nh ông N, cho thấy cả một sự đảo lộn về việc làm và địa vị xă hội đối với đại bộ phận thanh niên miền Nam trong tiến tŕnh hội nhập vào chế độ mới:
  • Có tiến tŕnh từ bỏ quan niệm về một thị trường lao động tự do để hội nhập với guồng máy lao động quan liêu bao cấp toàn diện theo đúng chủ trương chính sách về lao động của nhà nước.
  • Có việc h́nh thành một tầng lớp lao động cấp thấp mới, tầng lớp này bao gồm những con người vốn xuất thân từ tầng lớp được giáo dục tốt nhất, gồm những người ưu tú nhất của chế độ Việt Nam Cộng Hoà.
Từ việc làm và địa vị xă hội thấp, một bộ phận thanh niên miền Nam cố thủ vào trong gia đ́nh. Chính nhờ nghịch cảnh đó mà các giá trị về thị trường lao động tự do, thái độ tôn trọng, giữ ǵn các giá trị tinh thần và văn hoá, nền tảng của của các gia đ́nh miền Nam, được giữ vững cho đến thời kỳ Đổi mới.


Kết luận

Tôi sinh ra ở G̣ Công, một tỉnh nhỏ cách Sài G̣n 60 cây số về hướng Tây Nam. Tôi lên Sài G̣n học trung học năm 1973. Và Sài G̣n là nơi tôi chứng kiến biến cố ba mươi tháng Tư, một biến cố mang tầm quan trọng nhất trong lịch sử dân tộc tôi. Rạng sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi đứng ở một góc đường và chứng kiến những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến tranh tàn khốc đă kéo quá dài. Cũng vào lúc đó tôi hết sức ngơ ngác trước cảnh bấn loạn của tất cả mọi người quanh tôi. Lư trí non nớt của tuổi thiếu niên không cho tôi câu trả lời v́ sao mọi người lại sợ hăi hoảng loạn như vậy. Ḥa b́nh rồi kia mà!

Tôi nhớ trong những năm chiến tranh, mỗi lần nghe tiếng súng đụng trận giữa lính Quốc gia và lính Việt cộng, má tôi thường nói với anh, chị em chúng tôi bằng giọng vô cùng lo sợ: “Mấy ổng về rồi sao!” Cha tôi cũng là lính quốc gia. Thế nên lúc ấy, khi câu nói “Ḥa b́nh rồi kia mà!” vang lên th́ cũng là lúc tôi và những người thanh niên miền Nam có cùng hoàn cảnh xuất thân như tôi phải đón nhận một nỗi sợ, thứ sợ hăi dự báo một tai họa không ai có thể lường được tầm vóc đang ở ngay phía trước và chắc chắn sẽ ập đến vào ngày mai.

“Ḥa b́nh rồi kia mà!” c̣n đồng nghĩa với việc hàng triệu thanh niên cùng thế hệ với tôi, những người chưa từng có một giờ một phút nào can dự trực tiếp tới cuộc chiến này, phải gánh lấy những chấn thương chiến tranh. Nh́n bên ngoài có vẻ chúng tôi lành lặn, nhưng sự thật thế hệ chúng tôi mới chính là bằng chứng cho thấy tác động lâu dài của hậu quả chiến tranh.

Tôi xin thưa rằng, như những người trẻ tuổi của nhiều dân tộc trên thế giới không may trở thành nạn nhân chiến tranh, tôi biết với thời gian thế hệ chúng tôi rồi cũng hàn gắn vết thương chiến tranh thôi. Trừ một việc, chính vào lúc bầu trời ḥa b́nh rộng mở, thật không may thanh niên miền Nam lại trực tiếp là đối tượng được chọn lựa để thể nghiệm những công thức của ư thức hệ cộng sản, cái công thức mà ngày nay đă thất bại. Và một lần nữa, chúng tôi trở thành nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản.

Ngày nay, t́m hiểu về tiến tŕnh hội nhập trong bối cảnh đặc biệt ấy, mỗi chúng tôi đều nhận được một bài học rằng: chúng tôi không phải là công cụ của một chế độ hay chiến sĩ của một ư thức chính trị; chúng tôi là những cá nhân Việt Nam chào đời ở miền đất phóng khoáng đến hào sảng ở phía Nam của tổ quốc. Từ huyết thống, chúng tôi tin đă tự đủ tự do và giữ cho ḿnh quyền chọn lựa cách sống để tạo lập giá trị gia đ́nh bằng chính phẩm chất tự do đó.
Nguồn: Đề tài nghiên cứu cho Trung tâm William Joiner: “Khái quát về tiến tŕnh hội nhập của thanh niên miền Nam Việt Nam trong bối cảnh từ chiến tranh chuyển sang hoà b́nh”. Bản đăng trên talawas có một số hiệu đính với sự đồng ư của tác giả.
 

lyhuonga.jpg