|
CÁI DŨNG
CỦA NGƯỜI ĐÔNG PHƯƠNG
Việt
Hải, Los Angeles
Những cái gương can đảm của các binh lính trong đạo quân
Kamikaze quyết tử của quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản đốt nén nhang lên
đường sáng hôm 7 tháng 12 năm 1941 để tấn công hạm đội Hoa Kỳ
tại Trân Châu Cảng làm con trai tôi tự hỏi v́ sao họ lại như thế khi tôi cùng
các con xem cuốn phim tài liệu chiến tranh "Pearl Harbor" do đạo diển Michael Bay dàn dựng.
Sau khi liệng hết bom, bắn hết đạn, từng chiếc phi cơ của phi đội
quyết tử Thiên Hoàng nhắm vào các boong tàu hải quân Hoa Kỳ cứ lao vào như điên
dại. Nước Mỹ sững sờ, nước Mỹ rúng đ̓ng, và nước
Mỹ đau thương trong trận Trân Châu Cảng.
Từ sự đau thương
đó đến 4 năm sau nước Mỹ nhất quyết kết thúc chiến tranh mau
lẹ bằng đường tắt ném hai quả bom nguyên tử vào ngay trung tâm thành phố
Hiroshima và Nagasaki, số thương vong của người Nhật là 66,000 và bị thương
69,000 tại Hiroshima, và 39,000 chết và 26,000 bị thương tại Nagasaki. Hằng triệu
người Nhật ngơ ngác trong cơn chấn động khủng khiếp của bom
nguyên tử vốn xa lạ với con người thuở đó. Nước Nhật kinh hoàng,
nước Nhật giận dử và nước Nhật đau thương. Để tránh
thêm thiệt hại và chết chóc cho nhân dân vô tội, ngày 2 háng 9 năm 1945 Nhật hoàng Hirohito
kư hoà ước chấp nhận thua trận vô điều kiện trên chiếc hàng không mẫu
hạm USS Missouri. Tin buồn đến với quân đội Nhật, hàng ngàn binh sĩ Nhật
từ chối thua trận và những thước phim lịch sử đă thu nhận tinh thần
dũng sĩ quả cảm của người lính Nhật, mặc dù thế giới lên án
sự dă man của quân đội Nhật trong thời chiến tranh. Nhưng người ta
không khỏi bùi ngùi, thương tâm khi thấy trong tinh thần samurai của kiếm sĩ
đạo kendo hay vơ sĩ đạo bushido, người lính thất trận tự đâm
và m̏ bụng chính ḿnh, theo truyền thống harakiri, v́ danh dự họ từ chối đầu
hàng. Chỉ trong vài ngày sau khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các đơn vị quân
đội Nhật Bản ghi nhận gần 600 binh sĩ Nhật tự vận và con số
tiếp tục, số binh sĩ tự vận tại hải ngoại không đuoc kiểm
kê. Trong hàng tướng lănh của Nhật có bộ trưởng chiến tranh Korechika Anami,
tướng Seiichi Tanaka, tướng Hajime Sugiyama, tướng Umetzu, đô đốc Hải
quân Ugaki và đô đốc Takijiro Onishi đă tự rút gươm đâm thủng bụng ḿnh
tự sát, họ để lại cho quân sử Nhật bản những tấm gương
samurai bất khuất măi măi.
Cũng chuyện ngày xưa của nước Tàu, trong thời
xuân thu chiến quốc, chuyện kể rằng một vị tướng quân thua trận,
ông và người hầu cận bị đánh đuổi bỏ chạy lên núi cao. Hết
ngày này qua ngày nọ, hết tháng này sang tháng kia, ông cảm thấy ô nhục măi ẩn náu trên
miền cao sơn và ngày về vô vọng, ông từ chối chết dần, chết ṃn. Ông
bảo người hầu cận chuẩn bị cho ông con chiến mă. Sau khi khoác chiến
bào với thanh kiếm trên tay như thuở xông pha nơi chiến trận, ông thúc chiến
mă phi bay từ cao sơn rơi xuống vực sâu thẳm đểhọn cái chết xứng
đáng cho đạo làm tướng. Câu chuyện này nói lên cái ư niệm đơn giản:
Là ngừời lănh đạo, chỉ huy phải tṛn trách nhiệm với sơn hà, là một
tướng quân là giữ phong cách, danh dự và sĩ khí của người làm tướng
mà phong vị của họ gầy dựng do công trạng "Nhất tướng công thành vạn
cốt khô". Do đó từ những phi đội thần phong quyết tử hay những
bushido hay kendo đă harakiri của người Nhật cho đến viên tướng Tàu trong
thời tao loạn xuân thu thuở xưa chỉ nêu lên cái giá trị của người Đông
phương liều chết cho lư tưởng mà họ mang để quên thân ḿnh. Như lịch
sử Việt Nam không thiếu gương can đảm từ Trần B́nh Trọng, Hoàng Diệu,
Nguyễn Tri Phương,... Tôi bùi ngùi nhớ về các vị Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng,
Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn,... mang cái "Dũng"
của người xưa.
Nói những ḍng này như vậy để tôi cũng xin khơi
lại ḷng dũng cảm của vô số anh hùng vị quốc vô danh trong QLVNCH mà những
ngày cuối cùng của trang sử miền Nam, tổng thống của họ v́ sợ nhân dân
vô tội chịu cơn mưa đại pháo của "cái-gọi-là" Quân đội Nhân dân Việt
Nam (QDNDVN) man rợ, vô nhân tính xâm lăng từ bắc phương, hàng ngàn chiến binh VNCH
đang chiến đấu tới cùng như các Thiên Thần Mũ Đỏ của binh chủng
Dù quyết tử thủ bảo vệ thành tŕ Hoàng Hoa Thám chận sức tiến quân của
địch từ hướng Hốc Môn hay những chi̓n binh cọp biển của Thủy
Quân Lục Chiến tiếp tục bảo vệ tuyến đường xa lộ Biên Ḥa
chận đoàn quân CS tràn về thủ đô. Họ chiến đấu trong danh dự, họ
quyết tử v́ lư tưởng bảo vệ sơn hà, cũng như nhiều anh em quân nhân
khác từ chối thua cuộc cùng nhau rút chốt lựu đạn ôm nhau nổ tung để
chọn cho ḿnh cái chết xứng đáng nhất mà sử xanh của QLVNCH sẽ măi măi tri
ân họ. Sự ra đi hào hùng của ho là cái uy dũng khi bảo vệ từng tất đất
quê hương của quân đội VNCH, tương phản với cái hèn hạ đốn
mạt của người CSVN là âm thầm triều cống đất đai của tiền
nhân để lại để được nước đàn anh Trung quốc xoa đầu
cho an vị tiếp tục thống trị quê hương Việt Nam.
Trong bầu không khí 30-04 lại về, tôi xin hân hạnh giới
thiệu hai tác phẩm viết bằng kinh nghiệm đau thương của nhà văn Dương
Viết Điền (DVĐ), có bút hiệu là Hạ Ái Khanh, anh là một sĩ quan ngành chiến
tranh chính trị, một tù nhân nếm mùi khắc nghiệt của cái cụm mỹ từ gọi
là "học-tập-cải-tạo", một h́nh thức tù tội bịp bợm trá h́nh, một
phương cách trả thù người quân dân VNCH để ḥng đánh lừa dư luận
quốc tế. Anh DVĐ đă bỏ ra một thời gian dài để hoàn tất hai tác phẩm,
loại biên khảo có giá trị về sử liệu Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân"
và thiên hồi kư bi thương "Trại Ái Tử và B́nh Điền". Cả hai tác phẩm khi
đọc người ta không khỏi ngậm ngùi cho tinh thần bất khuất hay thán phục
cũng như cảm thông v́ cái dũng khí mà những người lính QLVNCH đă kinh qua.
Trong
cuốn "Trại Ái Tử và B́nh Điền",
tác giả có đề cập một gương bất khuất của một
vị sĩ quan đáng kính QLVNCH là Thiếu tá TQLC Vơ Đằng Phương noi gương
theo tinh thần sống vinh hơn chết nhục, năm 1985 từ trại tù B́nh Điền
ông viết thơ gởi cho Thủ tướng CSVN là Phạm Văn Đồng để
tố cáo chính sách thâm độc trả thù dă man, ngược đăi tù nhân là những quân nhân
cán chính VNCH. Trong khi trước đó Phạm Văn Đồng khoe khoang tuyên bố với
các phóng viên quốc tế họ đối xử nhân đạo, khoanhồng với các viên
chức phục vụ trong chế độ cũ và người CS không hề chủ trương
đánh người ngă ngựa. Bài sưu khảo của tác giả DVĐ cho thấy tội
ác đê hèn của nhà cầm quyền CSVN là sự tra tấn, đánh đập tù nhân cho đến
chết hay gây thương tích cho họ lâu dài. Trích đoạn như sau:
"Thiếu tá
VƠ ĐẰNG PHƯƠNG: Biểu tượng bất khuất và kiêu hùng của một
sĩ quan Quân lực VNCH (QLVNCH). Nói đến cuộc bạo động trong tù, chúng ta không
thể quên được "Vụ 20 tháng 04 năm 1979" xảy ra tại phân trại 04 thuộc
trung tâm trại "cải tạo" B́nh Điền tại tỉnh Thừa Thiên. Vụ này do một
ban tham mưu gồm 9 sĩ quan của QLVNCH chỉ huy toàn thể 500 tù nhân trong trại vùng
dậy đ̣i cải tổ chế độ lao tù. 9 sĩ quan trong ban tham mưu đó là:
- Trung tá Nguyễn Tri Tấn: Trung đoàn phó trung đoàn 2/SĐ3BB - Thiếu tá Vũ Ngọc
Tụng: Quân Trấn Đà Lạt - Thiếu tá Phạm Cang: Tiểu đoàn trưởng
TQLC - Thiếu tá Lê Quang Liển: Sĩ quan TQLC - Thiếu tá Hoàng Hưng: Sĩ quan Bộ
Binh - Thiếu tá Phan Văn Lập: Chi đoàn trưởng Thiết giáp. - Đại
uư Trần Biên: Sĩ quan Truyền tin SĐ5/BB - Đại uư Nguyễn Thuận Cát: Sĩ
quan Biệt Động Quân - Đại uư Nguyễn Đ́nh Khương: Tiểu đoàn
phó TĐ120 Địa Phương Quân, tiểu khu Quảng Trị...
Sau vụ này nhiều
anh em tù nhân đă bị bọn công an đánh đập một cách bạo tàn đến găy
xương, trào máu, bầm gan, tím ruột. Nhiều sĩ quan đă bị chết trong tù sau
những trận đ̣n dă man vô nhân đạo như Đại uư Nguyễn Văn Báu, Đại
uư Nguyễn Thuận Cát, Thiếu uư Trần Hữu Sơn. C̣n tất cả 9 sĩ quan trong
ban tham mưu nói trên đều bị cùm tay, cùm chân gần năm năm trời trong nhà biệt
giam. Nếu ai có ở tù tại phân trại 4 thuộc trung tâm trại "cải tạo" B́nh Điền
lúc bấy giờ (20 tháng 04 năm 1979) mới chứng kiến được c̏nh công an
từ dưới Ty Công An thuộc tỉnh B́nh Trị Thiên lên tàn sát tù nhân bất chấp cả
bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Chúng đă dă man, bạo tàn đánh đấm liên
tục không biết mệt. Sau khi hành nghề đánh, đấm, đá, đạp 3 tiếng
đồng hồ, bọn Công An "thợ đấm" bắt đầu rút khỏi trại
để lại trong trại 50 tù nhân nằm la liệt, rên la quằn quại trên những
vũng máu như anh Nguyễn Văn Thiện, anh Nguyễn Văn Vy, anh Nguyễn Hữu Ái,anh
Đôn, anh Nguyễn Trung Việt, anh Nguyễn Hữu Tứ, v.v. giống như cảnh ở
ngoài chiến điạ hoang tà chờ trực thăng đến bốc xác chết và những
người bị thương vậy.
Chứng kiến cảnh đánh đập một
cách man rợ như vậy tất cả tù nhân trong trại đều căm thù đến
uất nghẹn. Có một sĩ quan trong phân trại 4 lúc bấy giờ cảm thấy hận
thù thêm chất ngất. Mang sẵn trong người gịng máu bất khuất và anh hùng Lê Lợi,
Quang Trung, gịng máu kiên cường và dũng cảm của Trần Hưng Đạo, Trần
B́nh Trọng cũng như ư thức được Trách nhiệm, Danh dự và Tổ quốc,
anh nguyện dấn thân lao vào cuộc chiến mới ngay trong ngục tù Cộng sản; Tiếp
tục nuôi dưỡng ư chí đấu tranh đến giọt máu cuốicùng, ngơ hầu mang
vinh quang về bồi đắp cho quê mẹ, tô thắm cho non sông. Bởi v́ anh ta biết
rằng, chân lư dù có bị đè bẹp xuống dưới bùn lầy nước đọng
rồi cũng sẽ ngóc đầu dậy mĩm cười với trời xanh bất chấp
cả thời gian lẫn không gian. Cho dù anh có thể bị đoạ đày trong kiếp tù
tội thêm 10 hay 20 năm nưă, cho dù anh có thể bị xử bắn theo luật rừng,
anh vẫn hiên ngang bảo vệ chân lư đến cùng không một chút nao núng trong ḷng, đó
là: Thiếu tá VƠ ĐẰNG PHƯƠNG, thuộc Lữ-đoàn 258 TQLC/QLVNCH. Nhận thấy
Cộng sản đă đối xử quá tàn nhẫn vơí tù nhân qua chế độ lao tù
trong các trại "cải tạo" nhận thấy Cộng sản đối xử tàn tệ
vơí vợ con cuả tất cả các sĩ quan cũng như cuả các viên chức thuộc
chính phủ Việt Nam Cộng hoà trước đây, nhận thấy Cộng sản sau khi
chiếm được miền Nam vẫn cổ xuư chiến tranh gây hấn Kampuchia làm con dân
nước Việt chết thêm hàng chục ngh́n người, nhận thấy Cộng sản
không chịu thực thi những lời cam kế ḥa giải dân tộc mà vẫn làm cho nhân
dân Việt Nam đói khổ sau hơn 10 năm chiếm được miền Nam,Thiếu
tá Vơ Đằng Phương mặc dầu đang ở trong ngục tù Cộng sản, quyết
định viết một bức thư gởi cho tên Thủ tướng Phạm Văn Đồng
để yêu cầu tên thủ tướng nầy giải toả những vấn đề
nêu trên. Anh Vơ Đằng Phương ở tù lúc bấy giờ đă hơn 10 năm rồi,
nhưng anh vẫn dứt khoát viết một bức thư gởi tên Thủ tướng
Phạm Văn Đồng để đại diện cho nhân dân Việt Nam yêu cầu chính
ph̗ Hà Nội xét lại chính sách hà khắc cai trị nhân dân cuả đảng Cộng Sản
Việt Nam. Chính Đại uư Nguyễn Đ́nh Khương, Tiểu đoàn phó TĐ 120 Điạ
Phương Quân, người đă tham gia vụ 20 tháng 04, đă bị Cộng Sản cùm gần
5 năm mới được thả ra, đă được anh Phương móc nối để
cùng nhau thảo nên bức thư đó. Nội dung bức thư mà anh Vơ Đằng Phương
gởi lên tên thủ tướng Phạm văn Đồng rất cương trực."
Thơ
khá dài, lời lẽ khúc chiết, thẳng thắng, và hợp lư yêu cầu chính quyền CS
hăy thực thi vấn dề nhân đạo và hoà giải dân tộc. Hậu quả của lời
kêu gọi từ đáy ngục này của các tù nhân VHCH là những trận đ̣n trả thù
và rồi CS đưa ông Vơ Đằng Phương ra một ṭa án ngụy tạo và kết
án ông thêm 10 năm tù. Trong thời gian bị giam cầm ông bị đánh đập tàn nhẫn
đến mang thương tích. Khi được trả ra khỏi tù năm 1995 th́ sau đó
cơn bệnh nội thương do những trận đ̣n trong ngục tù là ông từ trần.
Quyển sách này c̣n kể lại nhiều chi tiết động trời khác của chính
sách trả thù tù nhân rất đê hèn của kẻ chiến thắng mà tác giả là nhân chứng
sống trong trại, ngày nay anh ghi nhận lại để đóng góp thêm cho nguồn sử
liệu của quê mẹ Việt Nam.
***********
Tôi xin đi sang quyển sách
thứ hai mà cựu tù nhân Dương Viết Điền viết, đó là quyển "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân". Sách dầy
khoảng 430 trang, gom góp nhiều tài liệu về những tấm gương kiêu hùng sáng ngời
của 5 vị tướng tuẩn tiết là Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn
Phú,Trần Văn Hai và Lê Nguyên Vỹ cùng cái chết vô cùng bất khuất của đại
tá Hồ Ngọc Cẩn, một hiện thân của tướng Trần B́nh Trọng trong cuộc
chiến ư thức hệ mà hệ lụy của biến cố đau thương 30-04-1975
vẫn làm cho chúng ta nhức nhối. Sách được chia ra làm 3 chương chính: * Chương 1: từ trang 1 đến 13 tác giả luận bàn về
Đạo làm tướng, trích dẫn sách Khổng Minh, các gương bất khuất của
tiền nhân Việt Nam trong lịch sử chống Tàu, kháng Tây. *
Chương 2: trang 41 đến 246, xem như chương một trong hai chính của
sách, nói về cái chết oai hùng của 6 vị sĩ quan cao cấp của QLVNCH. * Chương 3: trang 264 đến 415, nói về những cái chết tức tưởi,
những cuộc tự sát khác của các quân nhân cán chính VNCH không để lọt vào tay giặc.
CHƯƠNG I:(Trang 1 đến 40)
Tóm tắt chương
luận bàn về cái Dũng của người Đông Phương, gồm những điển
tích, gương lịch sử Tàu, Nhật và Việt Nam:
"Một dũng tướng
là một vị tướng hùng dũng, mạnh mẽ, can đảm, gan dạ, thấy việc
nghĩa th́ làm ngay, sẵn sàng gánh lấy trách nhiệm trước lịch sử, sẵn sàng
hy sinh v́ chính nghĩa, v́ tổ quốc để bảo vệ danh dự và khí tiết của
ḿnh. V́ vậy, trong thiên thứ bảy, Khổng Minh cũng đă đề cập đến
ḷng trung nghĩa của tướng súy như sau: "Việc binh là việc dữ, tướng
súy là người giữ nhiệm vụ nguy hiểm. Do v́ chí khí cứng cỏi th́ phải
thiếu thốn, lầm lỗi, nhiệm vụ quan trọng th́ nguy hại đến thân
thể.". Hạng tướng mà có ḷng trung nghĩa (một ḷng v́ nước) thường
không sợ nguy hiểm, lầm lỗi và không sợ nguy hại đến thân thể, nghĩa
là xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, chỉ biết chu toàn nhiệm vụ giao phó...
Khi phong trào Cần Vương nổi lên, ở miền Trung, cử nhân Mai Xuân Thưởng
đă ngạo nghễ với câu, "Thà làm đoạn đầu tướng quân, chứ không
thà làm hàng đầu tướng quân." Ở miền Bắc, cử nhân Nguyễn Cao đă khoét
rún, móc ruột ném vào mấy tên giặc Pháp rồi cắn lưỡi tự tử, được
người đời ca ngợi:
"Thệ tâm thiên địa phi trường xích Thiết
xỉ giang san măn thiệt hồng" (Rút ruột đỏ phơi tim vũ trụ Nghiến
răng hồng nhai lưỡi non sông)
C̣n ở trong Nam, Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân,
Nguyễn Trung Trực, Cử nhân Phan Văn Đạt, Hồ Huân Nghiệp, thà chịu tử
h́nh chứ không bao giờ đầu hàng giặc Pháp."
CHƯƠNG
2: (Trang 41-263)
Tác giả đă tham khảo nhiều tài liệu Việt Nam cũng
như ngoại ngữ khi tham khảo viết sách nàỵ chương hai đề cập
đến những tấm gương vị quốc vong thân như tựa đề sách này.
Noi gương những vị anh hùng dân tộc nói trên, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi miền
Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản v́ bị Đồng minh Hoa Kỳ phản bội
khi bỏ rơi phủi tay ra đi, nhiều tướng lănh trong Quân lực Việt Nam Cộng
Ḥa đă tự sát để bảo toàn danh nghĩa của một dũng tướng thời
chiến. Tôi xin làm phần tóm lược như sau:
• Nguyễn Khoa Nam: Sinh ngày 23
tháng 9, 1927 tại Thừa Thiên. Tốt nghiệp khóa 3 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức
vào năm 1953. Là một trong những sĩ quan trẻ tuổi được vinh thăng cấp
tướng lẹ nhất do chiến công. Cấp bậc cuối cùng làm Thiếu tướng.
Giờ cuối trước khi miền nam thất thủ ông là Tư lệnh Quân đoàn 4.
Tướng Nam là một vị tướng cương trực, đức độ, thanh
liêm và gan dạ. Sau khi Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho quân đội VNCH
buông súng, bàn giao quyền hành lại cho quân đội Bắc Việt, ông ra lệnh cho quân các
cấp hăy trở về với gia đ'ecnh và ông tự sát bằng cách bắn vào đầu
ḿnh.
• Lê Văn Hưng: Sinh ngày ngày 27 tháng 3 năm 1933 tại Hốc Môn. Tốt nghiệp
hai quân trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức và Vơ bị Đà Lạt. Cấp
bậc cuối cùng là Chuẩn tướng, ông có 50 huy chương đủ loại, mà trong
số đó có nhiều huy chương cao quí. Chức vụ cuối là Tư lệnh pho Quân
đoàn 4, trú đóng tại Cần Thơ. Năm 1972, Tướng Hưng lập chiến công
anh dũng tại An Lộc. Như Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, ông tự sát bằng
súng để bảo toàn danh dự của QLVNCH. Tướng Hưng có thành tích cương
trực, đạo đức và gan dạ khi chiến đấu.
• Phạm Văn
Phú: Sinh năm 1929 tại Hà Đông. Ông tốt nghiệp trường Vơ bị Liên quân Đà
Lạt khoá 6. Ông là sĩ quan dù từ thuở chiến trường sôi động Điện
Biên Phủ, năm 1954. Sau cuộc triệt thoái khỏi cao nguyên khi ông phụ trách làm Tư
lệnh Quân khu 2, ông về Sài G̣n lâm bệnh được điều trị tại Tổng
Y Viện Cộng Hoà. Sáng ngày 29/04/1975 trước t́nh thế nguy ngập của Sài G̣n ông kết
liễu đời ḿnh bằng một liều thuốc cực mạnh.
• Trần
Văn Hai: Sinh năm 1926 tại Cần Thơ. Ông xuất thân Khóa 7 trường Vơ bị Liên
quân Đà Lạt. Ông là cựu Chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Động Quân,
cựu Tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia. Chức vụ cuối của Chuẩn
tướng Hai là Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh đóng tại Mỹ Tho. Trong khi bàn
giao nhiệm sở cho quân thù, ông dùng súng bắn vào đầu tự sát.
• Lê Nguyên
Vỹ: Sinh ngày 22 tháng 8, năm 1933 tại Sơn Tâỵ Ông tốt nghiệp khóa 2 trường
Vơ bị Địa phương Trung Việt tại Đập Đá, Huế năm 1951. Ông
cùng với tướng Lê Văn Hưng lập công đẩy lui cộng quân ra khỏi An Lộc,
tỉnh B́nh Long trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972. Chức vụ cuối
của Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ là tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Ông là
tướng đánh giặc can đảm, kỷ luật và thanh liêm. Khi được lệnh
buông súng, bàn giao nhiệm sở, ông kê súng vào cằm tự sát để giữ khí tiết của
QLVNCH.
• Hồ Ngọc Cẩn: Sinh ngày 24 tháng 3, năm 1938 tại Cần Thơ. Ông
theo học trường Thiếu Sinh Quân, theo học khóa 2 Sĩ quan Đặc biệt Nha Trang.
Ông giữ nhiều chức vụ tác chiến trong binh chủng Biệt Động Quân trong
giai đoạn đầu đường binh nghiệp, rồi được biệt phái
sang các Sư đoàn 21 và Sư đoàn 9 Bộ Binh. Chức vụ cuối cùng của Đại
tá Hồ Ngọc Cẩn là Tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện. Sau khi lệnh
từ Sài G̣n kêu gọi buông súng ông vẫn c̣n chiến đấu để cuối cùng địch
quân vây bắt và mang ra xử bắn tại Sân vận động CầnThơ ngày 14 tháng 8,
1975.
Cái chết của các vị sĩ quan cao cấp này đem lại những đóa
hồng tô điểm cho danh dự và sĩ khí của QLVNCH trong cơn đại hồng thủy
đến với VNCH. Vị cố vấn Hoa Kỳ của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn
đă phải hối hận thốt lên lời nuối tiếc như sau: "Là một người
Mỹ tôi cảm thấy hối hận để miền Nam Việt Nam bị bức tử
và Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị giết" (Trung tá Craig Mandeville).
CHƯƠNG III: (Trang 264-426)
Ngoài những vị tướng lănh đă tự
vẫn nói trên, c̣n có rất nhiều sĩ quan cấp tá, cấp úy, cấp hạ sĩ quan,
binh lính và một số công chức, cảnh sát, cán bộ trong chính phủ Việt Nam Cộng
Ḥa trước đây cũng đă tự sát trong biến cố đau buồn này. Cho đến
hôm nay người ta mới chỉ biết tổng quát khoảng 22 Trung đoàn trưởng,
Liên đoàn trưởng và hơn 100 sĩ quan đă tự sát sau khi miền Nam Việt Nam rơi
vào tay Cộng sản. Trên thực tế con số có thể cao hơn. Sau đây tôi cũng
xin được trích ra hai trường hợp mà tác giả Dươg Viết Điền
ghi nhận trong chương này:
* The Seven Samurai in VietNam: Theo tài liệu 30-04 trong kho dữ
liệu của hăng Thông tấn Nhật bản Kyodo về "Bảy Hiệp Sĩ Việt Nam".
Ngày 30-04-1975 là ngày đau thương v́ QLVNCH bị bức tử, người lính bị bẻ
găy súng bởi chiến lược toàn cầu của Mỹ thay đổi. Bảy người
lính Dù mà trưởng toán là thiếu úy Hoàng Văn Thái tụ họp tại một bùng binh trong
Chợ Lớn, và họ chọn lựa sự buông súng trong danh dự khi tự kết liễu
đời ḿnh sau khi hát xong bài quốc ca VNCH, họ xếp thành ṿng tṛn, mỗi người
tay trong tay một quả lựu đạn, mở chốt một lợt. Một tiếng
nổ chát chúa tiễn biệt họ ra đi v́ danh dự.
* Một trường hợp
thứ hai tang thương không kém. theo lời tường thuật của anh Trung úy Cảnh
sát Nguyễn Văn Đ́nh định cư ở Houston chứng kiến tại hiện trường
sự tự sát tập thể của 9 quân nhân Nhảy Dù, họ nằm trong toán bảo vệ
Đài Phát Thanh và Đài Truyền H́nh. Khi lệnh buông súng ban ra toán quân nhân này đă xă súng bắn
vào nhau, xác thân họ tan nát cho sự ra đi nhuốm màu máu anh hùng nhất, đáng kính nhất
của QLVNCH.
Như đă bàn ở phần trên, chương này được kéo dài
khi tác giả nêu ra vô số những gương anh dũng của các chiến binh khắp các
binh chủng, và các cán bộ, viên chức VNCH. Họ là những người con yêu, trung thành
với lư tưởng QG, họ nêu cao những nguyên tắc: Tổ Quốc – Danh Dự
– Trách Nhiệm. Một khi sứ mạng bảo vệ non sông đất nước không
vẹn toàn, họ chọn sự ra đi trong danh dự. Họ mang cái dũng khí như những
Samurai Nhật Bản, họ trọng danh dự cá nhân. Quân sử VNCH muôn đời sẽ
vinh danh họ.
30-04-2004 này, tôi chọn 2 quyển sách "Trại Ái
Tử và B́nh Điền" và "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân" này để tưởng
niệm gương hy sinh của bao nhiêu anh hùng tử sĩ của VNCH. Họ chiến đấu
bảo vệ quê hương, họ không hèn, dù bạn bè đồng minh bỏ họ, người
chiến sĩ can trường Hồ Ngọc Cẩn cũng như vô số anh hùng vô danh từ
Dù, BĐQ, TQLC, LLĐB, Thiết Giáp,..., Địa Phương quân, Cảnh Sát QG vẫn c̣n
chiến đấu. Họ biên những trang sử cuối cùng hào hùng nhất cho VNCH, ḷng dũng
cảm, cái hào khí "Chết Vinh Hơn Sống Nhục" này của họ chắc chắn sẽ
được ghi nhớ và lưu danh muôn thuở.
Ôn lại lịch sử cuộc
nội chiến Nam-Bắc v́ ư thức hệ dị biệt chính kiến trong thế kỷ
20, người CSVN vi phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác. Họ ngủ
quên trong giấc mộng làm con cờ thí nhân lực Việt Nam cho chủ thuyết quốc
tế hóa CS hay họ cố bám víu lấy nó làm b́nh phong để sinh tồn. Từ khi quân
Pháp bại trận tại mặt trận Điện Biên Phủ, đảng CSVN thường
huênh hoang, bốc thơm cuộc chiến đấu "thần thánh" của cái QDNDVN (sic), và rằng
viên tướng Vơ Nguyên Giáp "thần kỳ" điều binh khiển tướng,... rồi
thêu dệt huyền thoại chiến thắng Điện Biên. Sau khi CSVN và CS Trung quốc đánh
nhau năm 1979, viên Thống tướng Diệp Kiếm Anh của Trung quốc vén bức màn
nhung của lịch sử, ông cho biết toàn bộ chiến lược, chiến thuật
của cuộc diện Điện Biên được thiết kế, bày vẽ tại Bắc
Kinh, quân đội Trung quốc đă tiếp sức nhân lực, vật lực, lính Trung quốc
trà trộn vào, họ đă đổ máu cho sự ngụy tạo nên cái huyền thoại "thần
kỳ" của tên tuổi Vơ Nguyên Giáp. Những năm từ 1965 đến 1974, v́ Hoa Kỳ
phong tỏa chặt chẽ cảng H˧i Pḥng, nên tàu Trung quốc chở thẳng vũ khí
vào miền nam tiếp tế cho VC. Những mặt trận Ba Ng̣i, Vũng Rô,... là các chuyến
đổ hàng mà HQVNCH chận bắt. Rồi sự kiện quân đội Trung quốc sang
Việt Nam đảm nhiệm vai tṛ yểm trợ tiếp vận chiến trường để
Bắc Việt đẩy quân vào nướng tại chiến trường miền Nam qua chiêu
bài "Sinh Bắc Tử Nam".
Chưa hết, hàng ngũ đảng và quân đội nhân
dân CSVN thối nát, là một tập đoàn bán nước, là một hủ mắm khi tin tức
t́nh báo quốc tế cho thấy hàng tướng lănh cao cấp rất tham lam, tranh ăn, đấu
đá lẫn nhau từ Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng,
Vơ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, và họ sống bằng xương máu của dân tộc
Việt Nam. Khi chiếm xong miền nam, tướng Văn Tiến Dũng giành chiến
công tung ra quyển sách "Đại Thắng Mùa Xuân", khoe khoang, khoác lác bẻ cong lịch sử
như tṛ hề khi nói phét "cuộc chiến thần tốc" đánh chiếm miền Nam. Y tự
kể công đầu bỏ ra yếu tố "thần kỳ" Vơ Nguyên Giáp vào sọt rác, v́ đảng
CSVN vốn là đám lănh đạo vô liêm sĩ, tham ăn, tranh giành quyền lực như loài
kên kên, ác điểu cấu xé lẫn nhau. Nhiều tài liệu của giới truyền thông
Hoa Kỳ tŕnh bày từ báo chí đến Ti-Vi cho thấy Ngoại trưởng Henry Kissinger
đă đi đêm thf1ương thảo đi đến thoă thuận ngầm với Lê Đức Thọ
tại Paris về việc quân đội Bắc Việt hăy để quân đội Hoa Kỳ
rút êm ra khỏi Việt Nam. Henry Kissinger cũng bay sang Bắc Kinh gặp Mao Trạch Đông
và Chu Ân Lai thương lượng cho những điều kiện trao đổi Trung quốc
giúp Mỹ rút quân và khi Trung quốc xâm chiếm các hải đảo của VNCH th́ Hạm đội
Thứ 7 của Mỹ sẽ án binh bất động, không can thiệp. Lê Đức Thọ
và chính trị bộ của CSVN đă nắm chắc lá bài tẩy từ chính quyền Hoa Kỳ
là ư muốn rút quân bằng mọi giá. Mới đây Ti-Vi Mỹ cho tŕnh chiếu lại buổi
điều trần tại Quốc hội Mỹ của một trong những ông vua phản
chiến là John Kerrỵ Sau khi từ chiến trường ở Việt Nam về y trở
nên chống báng, bài bác chiến tranh Việt Nam, chỉ trích chính quyền Mỹ thậm tệ.
Điều mà người Việt QG đau ḷng nhất là đoạn ông kể rằng ông
đă bay sang Paris gặp gỡ và điều đ́nh với Lê Đức Thọ nhiều lần,
hai bên thương thảo cho việc Mỹ rút quân. John Kerry cho Quốc hội Mỹ biết
là Lê Đức Thọ cam kết Bắc Việt sẽ không tấn công Mỹ trong kế hoạch
rút lui toàn bộ ra khỏi Đông Dương. Hành động đi đêm của Henry Kissinger
và John Kerry với Lê Đức Thọ tại Paris là cái tát vào sự phét lác của sách Văn
Tiến Dũng, những thoă thuận của các chuyến bay đêm này là những nhát dao ân
huệ mà người bạn Đồng Minh kết liễu số mạng của VNCH.
Từ
kế hoạch đánh chiếm tiền đồn Điện Biên Phủ do kiến trúc sư
chiến thuật Diệp Kiếm Anh điều động trên cao năm 1954 cho đến
những chuyến bay đêm của Henry Kissinger tại Paris và Bắc Kinh đưa CSVN đến
việc sau này đảng và chính quyền CSVN phải đem đất đai phía bắc của
quê hương mà tiền nhân để lại dâng hiến như h́nh thức trả nợ
cho CS Trung Quốc, cũng như triều cống các hải đảo ngoài biển Đông
qua những hiệp định giữa hai quốc gia. Lịch sử cho thấy người
CSVN đội lốt h́nh hài của Lê Chiêu Thống tân thời, cỏng ȓn cắn gà nhà.
Họ giỏi đè đầu cưỡi cổ nhân dân Việt Nam, nhưng lại nhút nhát,
khúm núm đi bằng đầu gối trước đàn anh Trung quốc.
Sách DVĐ cho tôi dử kiện người quân nhân trong QLVNCH là những anh hùng khi "Quốc
gia hưng phong, thất phu hữu trách", họ được đào tạo và phục vụ
trong những đơn vị chuyên nghiệp trong sứ mạng để bảo vệ người
dân và quê hương. Trong khi đó trớ trêu thay cái "Quân đội Nhân nhân Việt Nam" (QDNDVN)
là thực thể núp vú Quân đội Trung quốc từ huyền thoại Điện Biên
Phủ cho đến về sau. Xuyên qua bao tài liệu về cuộc chiến Việt Nam gần
đây phanh phui ra về "cái-gọi-là" QDNDVN là không "thần thánh" như người CSVN vẽ
vời, tự đánh bóng cho ḿh, mà chỉ là đạo ngụy quân nhận lănh vai tṛ xâm lăng
để bành trướng cho chủ thuyết CS quốc tế theo đơn đặt hàng
của Soviet khi xâm lăng các quốc gia lân bang, để rồi sinh mạng, xương máu
người Việt Nam bị hy sinh vô ích và đất đai VN càng mất mát thêm vào tay ngoại
bang phương bắc, và rồi QDNDVN chỉ là thứ phỗng đá vô tích sự. Kẻ
thủ lợi vẫn chỉ là tầng lớp chóp bu trong đảng CSVN, thống lănh quê hương.
Sau hết, tôi xin chân thành cám ơn tác giả Dương Viết Điền đă
bỏ nhiều thời giờ đi sưu tầm, tham khảo để viết ra hai quyển
sách này, cũng như cho tôi nguồn tài liệu dùng trong sách tham khảo khi viết bài. Nói chung
th́ việc xuất bản hai quyển tài liệu trong giai đoạn miền nam bức tử
này là một việc làm đáng ca ngợi, nhất là cho thế hệ mai hậu có thêm nguôn
sử liệu. Anh đă bỏ ra năm năm trời ṛng ră để hoàn tất cuốn
"Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân". Năm năm đi sưu tập dử kiện cho
một quyển sách b́nh thườg như hồi kư cá nhân có thể là dài, nhưng nó sẽ
không dài cho một tập tài liệu cặn kẽ có đặc tính sử kư quư báu soi sáng ngàn
sau về bao anh hùng trong QLVNCH xă thân bảo vệ giang san. Tác giả DVĐ đă viết bằng
tim óc, anh viết bằng nước mắt quê hương trong ngục tù, và viết bằng
kinh nghiệm đau thương, nỗi nhục nhằn của chính ḿnh.
Anh nguyện viết với ng̣i bút tri ân những anh hùng vị quốc
vong thân. Họ ra đi trong cái khí phách hào hùng mà sách Dương Viết Điền so sánh với
cái "Dũng" của người Đông Phương và chúng ta đă thấy anh đă trích dẫn
trong sách.
Việt Hải, los
angeles _________________ Vietnam Library Network http://www.vietnamlibrary.net
TRỞ VỀ TRANG ĐẦU

|