lyhuong.jpg



















1phucdiendandongtiengif.gif

 
Bắm vào các đề mục trên để đọc những bài khác




























BLACK APRIL 1975

 

 Cho dù 30 năm, hay 100 năm đà qua, nếu chúng ta c̣n may mắn ǵủ đuọc hơi thở, củng không thể nào quên được  nhửng kỷ niệm thương đau, uất hận cuả ngày này năm nào cho quê hương thân yêu cuả chúng ta. Xin gưỉ đến anh chi một bài viết cuă một người Mỷ , Ông Harry Noyes, người có cái nh́n...thiện cảm về... " Đoàn quân bại trận chúng ḿnh ". Coi như một an uỉ dù...quá muộn. Để thương cho nhưng người bạn, nhửng chiến hữu đà không được may mắn đọc bài này.

 

Trong suốt quá tŕnh chiến đấu để bảo vệ đất nước ḿnh, Nam Việt Nam đă thiệt mất một phần tư triệu binh sĩ trên chiến trường.     
 Họ vóc dáng nhỏ con, nói chuyện líu lo như chim hót, ưa thêm nước mắm vào mọi món ăn, và thường hay nắm tay nhau.
 Không lạ ǵ lính Mỹ khi qua viễn chinh ở vùng Đông Nam Á - hầu hết đều là trai trẻ, học thức b́nh thường, được rập khuôn trong một xă hội quá cao ngạo và quá ít hiểu biết về những nền văn hóa khác – khó ḷng cảm thông được với những người chiến binh Miền Nam VN.
             
 Điều đáng tiếc hơn nữa là nhiều cựu chiến binh lúc trở về lại đi gia nhập vào hàng ngủ của những nhóm gây rối, trốn lính và hoạt đầu chính trị để bêu xấu danh dự của một đạo quân nay không c̣n có thể tự đứng ra bào chữa được ḿnh. Nhục mạ một đạo quân đă mạng vong trong chiến trận do nước Mỹ bỏ rơi là một hành vi đê tiện, không xứng danh là người chiến binh Hoa Kỳ.
             
 Chắc một số người sẽ cho rằng đ́ều khẳng định của tôi là quá đáng. Vậy chứ tôi phải làm thế nào để bào chữa cho họ đây? Mọi người đều "cho" họ là một lũ bất tài, phản trắc và hèn nhát, phải như vậy không?
             
 Không, hoàn toàn sai. Bài viết này sẽ trưng ra một vài chứng cớ hùng hồn để đánh đổ cái huyền thoại thô bỉ này, đồng thời cũng sẽ khảo sát xem do đâu phát sinh ra huyền thoại ấy.
             
 Dĩ nhiên phải công nhận là quân lực Nam Việt không toàn hăo. Người chiến binh của họ phải chiến đấu với những kẻ lănh đạo tồi, những quân nhân hèn nhát, chịu đựng những cuộc khủng hoảng, những biến cố tai ương, bất lợi. Quân lực Mỹ ở Đông Nam Á cũng không hơn ǵ đâu.
             
 Trên một số phạm vi như cơ cấu tổ chức, tiếp liệu, quản trị và lănh đạo, quân lực Nam Việt thua bên phía Mỹ. Nhưng có ai trông mong ǵ khác hơn từ một quốc gia đang phát triển, mới vừa thoát khỏi ách thuộc địa lại phải lao đầu vào một cuộc chiến sinh tử với một quân thù hùng mạnh được cả một khối Cộng Sản hỗ trợ?
             
 Thực tế mà nói, những nhược điểm của Nam Quân cũng hệt như của quân Mỹ thời chiến tranh Độc Lập của Hoa Kỳ (American War of Independence) , dù rằng nước Mỹ hồi cuối thế kỷ thứ 18 có nhiều điểm thuận lợi như: cái qui mô của cuộc Chiến Tranh Cách Mạng (Revolutionary War) nhỏ hơn và dễ chi phối hơn; quá tŕnh thuộc địa Hoa Kỳ đă giúp h́nh thành được những chính quyền tự phát địa phương, cho phép đất nước này hun đúc nên những vị lănh tụ tài ba thật sự; quân Anh không quá ngoan cố như quân BV; và quân đồng minh Pháp thời bấy giờ đă không bỏ rơi nước Mỹ non trẻ như kiểu người Mỹ bỏ rơi Nam Việt Nam. 
             
 Nhưng dù sao chăng nữa, cơ cấu tổ chức, tiếp liệu, quản trị và ngay cả lănh đạo đi chăng nữa vẫn chưa phải là những phẩm chất để dựa vào đó mà phỉ báng quân lực Nam Việt.
             
  Có hai câu hỏi đánh động đến đề tài tranh cải. Phải chăng người chiến binh Nam Việt thiếu chí khí, ḷng quả cảm, sự can trường và ḷng ái quốc mà người Mỹ đă nêu ra trong lời miệt thị và gán lên đầu họ mọi trọng tội v́ đă đánh mất cái giá tự do của vùng Đông Nam Á? Quân Mỹ có khá ǵ hơn đồng minh của ḿnh để dám khinh khi họ như vậy? Trả lời cho cả hai câu hỏi, tôi xin trân trọng khẳng định là "Không!" 
            

Chứng cớ quá rơ ràng. Trận Tổng Công Kích Tết 68 coi như sẽ đập tan được ư chí chiến đấu của Nam Việt. Thay v́ bỏ cuộc, quân NV đă kháng cự mănh liệt và hữu hiệu: không một đơn vị nào tan ră hay tháo chạy. Ngay cả cảnh sát cũng chiến đấu, họ đương đầu với quân chính qui đối phương trang bị bằng vũ khí hùng hậu với chỉ bằng những khẩu súng Colts. Dựa theo báo cáo, sau trận này số người xin đăng lính cao đến nỗi chính quyền của quốc gia này phải đ́nh hoản bớt việc thu nhận thêm tân binh.             
 

Trong cuộc Tổng Tấn Công năm 72, quân trú pḥng NV bị vây hăm tại An Lộc đă giữ vững được vị trí của ḿnh trước một lực lượng ghê gớm của quân thù cả về người lẫn hỏa lực kinh hồn của đại pháo và hỏa tiễn. Sau trận này tôi được tiếp xúc với một cố vấn Mỹ để nghe tường thuật lại mẫu chuyện một tiêu đội lính NV trong vùng được cử công tác thanh toán ba chiến xa, đă hành động như thế nào. Họ chu toàn nhiệm vụ hạ được một chiếc, rồi quyết định t́m cách bắt sống hai chiếc c̣n lại. Theo tôi nhớ th́ họ chộp được một chiếc c̣n một chiếc bỏ chạy, thế là mấy người lính chạy bộ rượt theo đến cuối đường. Việc thi hành thượng lệnh của mấy người lính này có thể không đúng tác phong quân kỷ, nhưng lối hành xử cho thấy tinh thần chiến đấu cao và thế chủ động mà mọi binh sĩ NV đều có. Dĩ nhiên điều tôi kể chưa đủ để bào chữa được cho lời tố giác tội hèn nhát.
            
            Để minh chứng hơn, hăy nh́n vào Nam Việt Nam ở thời điểm cuối cùng vào năm 1975 khi đất nước này đang trong t́nh trạng tuyệt vọng khi biết rơ Mỹ không ra tay cứu giúp nữa (cả nhiên liệu lẫn đạn dược). Thế mà một đơn vị NV tầm cở một sư đoàn đă cầm chân được bốn sư đoàn BV trong suốt hai tuần giao tranh ác liệt tại Xuân Lộc. Chỉ riêng một trận này thôi sự anh dũng c̣n nổi bật hơn bất kỳ một chiến công nào có thể t́m thấy trong chiến sử Hoa Kỳ. Quân NV sau đó đành phải lui binh v́ không quân của họ không c̣n bom để yểm trợ chiến đấu.
            
            Có lần tôi xem được một phim tài liệu truyền h́nh do một phóng viên người Úc quay tường thuật về cuộc chiến. Khác với các phóng viên HK, anh ta dành hết thời gian bên cạnh các binh sĩ NV. Anh ta ghi rơ tinh thần chiến đấu của Nam quân bằng những thước phim của ḿnh. Anh c̣n kể rằng anh từng ghé qua một làng do địch kiểm soát và nghe nói lại rằng lính CS c̣n sợ lính NV hơn cả lính Mỹ. Lư do chính là lính Mỹ bao giờ cũng ồn ào, nên khi nào lính Mỹ đến là họ biết ngay. Chỉ vậy thôi th́ có ǵ họ phải kinh sợ nếu quân NV không là những chiến binh nguy hiểm.
            
            Tuy vậy, chứng cớ quan trọng nhất chứng tỏ ư chí chiến đấu của quân nhân Miền Nam đến từ hai sự kiện hiển nhiên, những sự kiện vốn thường hay bị lăng quên hoặc che dấu để che đậy sự thất bại của người Mỹ ở Việt Nam.
            
            Sự kiện thứ nhất: Chiến tranh VN đă khởi sự đâu đó bảy năm trước khi lực lượng chính của Hoa Kỳ đổ đến và sau đó lại tiếp tục thêm chừng năm năm sau khi quân Mỹ rút ra. Trong khoảng đó phải có ai đó đang chiến đấu mà kẻ đó là người Miền Nam chứ c̣n ai khác hơn.
            
            Sự kiện thứ hai: Quân đội NV thiệt mất một phần tư triệu binh sĩ trên chiến trường. Theo tỉ lệ dân số th́ tương đương hai triệu lính Mỹ chết (một con số gấp đôi tỗn thất của Mỹ trong tất cả các chiến tranh gộp lại). Cho rằng người ta không chịu chiến đấu th́ sao họ lại chết nhiều như vậy.
            
            Vậy th́ do đâu mà NV phải chịu mang tai tiếng xấu?

            
            Dĩ nhiên có lúc họ tỏ ra bất tài và hoảng loạn. Lính Mỹ cũng vậy thôi. Tôi biết một câu chuyện qua một đơn vị trưởng pháo binh HK rằng khi hay tin đại đội bộ binh bảo vệ ḿnh bị địch đánh tan tành, các pháo thủ đâm hốt hoảng bắn loạn xạ khiến đám quân yểm trợ này hoảng loạn chạy có cờ giữa hai lằn đạn.
            
            Một biến cố đơn thuần đó không thể đem ra mà gán cho cả quân lực HK là hèn nhát th́ thỉnh thoảng có sự tan hàng của người đồng minh của nước Mỹ cũng không có nghĩa là tất cả chiến binh Miền Nam là hèn. Thế mà có kẻ lại suy nghĩ như vậy, qua cách nói bởi một số cựu chiến binh, bởi những chính trị gia muốn bào chữa cho một chính quyền Mỹ đă để cho Nam VN bị suy vong.
            
            Sự thật được minh bạch hơn qua mẫu đối thoại sau đây phát xuất từ hai thế kỷ trước, khi một phụ nữ Anh hỏi viên công tước xứ Wellington rằng lính Anh có bao giờ bỏ chạy trên chiến trường không.
            
            Viên công tước đáp, "Ngoài chiến trường người lính nào cũng có bỏ chạy cả, thưa bà."
            
            Một nghiên cứu qua loa trong quân sử cũng xác minh được điều này. Những trận đánh thời Nội Chiến (Civil War) cho thấy sự can trường lẫn sợ hăi liên tục khi lên khi xuống, cả những đơn vị phe Confederate lẫn Union thoạt đầu xông pha rất hăng hái, sau đó co cụm lại rồi bỏ chạy trước hỏa lực kinh hồn trước khi tập hợp lại tiếp tục chiến đấu. Chưa có đạo quân nào tự cho ḿnh có nhiều hành động hy sinh anh hùng bằng hai đạo quân này, tuy nhiên họ cũng có lúc chạy tán loạn nơi một chiến trường quá đẫm máu.
            
            Văn sĩ S. L. A. Marshall mô tả sự hoảng hốt bỏ chạy của một đơn vị bộ binh HK thời Đệ Nhị Thế Chiến khi quân cảm tử Nhật vừa tấn công vừa ḥ hét. Đơn vị thứ hai nằm lại quyết chiến và nhanh chóng tiêu diệt hết đám quân Nhật (chừng 10 tên) và vở lẽ ra là đa số bọn chúng không có vơ khí.
            
            Nếu sự việc tương tự xảy đến với một đơn vị Nam Việt, những tên tự xưng là học giả uyên thâm lập tức ra rả lập đi lập lại rằng ấy là chứng cớ rành rành về hành động khiếp nhược của quân đội Miền Nam.
            
            Tại sao vậy? Chúng ta ắt đă ngầm có câu trả lời rồi. Mọi sự c̣n tùy là cái quân đội đó thuộc chủng tộc ǵ, nói thứ ngôn ngữ nào. Sự thật đốn mạt là cái quân đội Nam Việt phải chịu mang tai tiếng xấu bắt nguồn từ ḷng kỳ thị chủng tộc lẫn tinh thần sô-vanh nước lớn của người Mỹ.
            
            Tôi xin tự minh chứng về khuynh hướng bóp méo sự thật vốn tràn lan rộng khắp. Lúc vừa mới đặt chân đến Nam VN vào tháng Sáu năm 1969, lập tức tôi được chứng kiến những trường hợp bày tỏ thái độ ngu dốt và khinh miệt của một số người Mỹ dành cho người dân cũng như quân đội quốc gia này.
            
            Các binh sĩ Mỹ trắng cũng như đen, luôn cả những người trong các dịch vụ thuộc dân sự như truyền thông báo chí thẩy đều như nhau. Thái độ căm ghét này dành cho xứ sở cùng dân tộc VN kinh khiếp thay lại có một sức mạnh truyền nhiễm kinh hồn.
            
            Một viên đại úy Mỹ tôi được biết có tŕnh độ tốt nghiệp đại học về ngành điện ảnh từ một trường có tiếng tăm (coi như họ được đào tạo để có cái nh́n chuyên môn hơn người thường). Có lần anh ta sau công tác tạm thời ở Thái Lan trở lại VN đă hết lời ca ngợi dân Thái.
            
            "Dân Thái người ta họ cho con đi học đàng hoàng," anh ta nói, "khác với tụi nhỏ con của người Việt ở đây" . Khi tôi chỉ cho anh ta thấy không đâu xa mà ngay kế bên căn cứ c̣n có một trường học th́ anh ta ngạc nhiên nhưng không hề tỏ ra ân hận về nhận xét của ḿnh. Hằng trăm trẻ nhỏ trong đồng phục quần xanh áo trắng cắp sách đến trường mỗi ngày mà bất cứ ai có mắt đều nh́n thấy. Vậy mà tên làm phim này lại không.
            
            Chua chát thay, dân VN vốn quí trọng sự học c̣n hơn dân Mỹ, họ đă nâng tŕnh độ người đi học từ 20 lên đến 80 phần trăm dù chiến tranh đang dày xéo chung quanh (dù ngay cả các giáo viên vẫn thường xuyên bị sát hại bởi đối phương). Vậy mà vẫn c̣n bị tên làm phim này gán cho cái tội là một xứ sở không trường không lớp.
            
            V́ phải viễn chinh nơi một xứ sở xa lạ, xa gia đ́nh, người Mỹ này đă tự hun đúc cho ḿnh một ḷng thù ghét đất nước VN, hắn muốn tin rằng người Việt là đáng khinh. Do vậy, điều quan trọng đối với hắn là phải tin tưởng rằng người Việt không có trường học dành cho con cái họ; và chính cảm xúc đó làm mù đi thị giác của hắn.
            
            Hăy nghĩ tưởng đến cảm tưởng của khối quân Mỹ ít học thức hơn khi phải trực diện với nền văn hóa xa lạ trong một môi trường đầy căng thẳng! Có lẽ ta không nên đổ lỗi cho các binh sĩ ấy về thái độ kém cơi của ḿnh. Trời đất c̣n biết là giới chỉ huy HK chỉ nổ lực qua loa để giáo dục cho binh sĩ ḿnh về đất nước VN và tính chất của cuộc chiến.
            
            Tuy vậy, đó không phải là lư do để bào chữa cho các cựu chiến binh giả vờ cho là ḿnh hiểu về những ǵ ḿnh thấy ở VN. Ta phải tri ân các cựu chiến binh chiến tranh VN về đức tính quả cảm, sự hy sinh và ḷng trung thành đối với tổ quốc. Nhưng tính quả cảm và sự hy sinh không đi đôi với sự hiểu biết. Chiến đấu ở VN không làm cho người lính thành những chuyên gia về đất nước hay cuộc chiến đó, cũng như có con không phải làm cho người mẹ trở thành một chuyên gia về khoa phôi thai (embryology) .
            
            Những ǵ người lính Mỹ làm ở VN không dạy cho họ chi hơn về nền văn hóa, xă hội, chính trị, vân vân và vân vân của Nam Việt. Một ít người Mỹ có học lỏm bơm được vài tiếng Việt; ngay cả có một vài đọc được sách báo VN; và chẳng bao nhiêu người đọc sách vở viết về xứ sở Việt Nam bằng Anh ngữ.
            
            Ngoại trừ các cố vấn, ít người Mỹ nào làm việc gần gũi với những người Việt, có chăng họ có chung đụng với những người làm thư kư, giặt giũ, và nữ hầu bàn do quân đội HK mướn.
            
            Điều quan trọng hơn cả là ít quân nhân HK nào từng chứng kiến sự chiến đấu của binh sĩ NV. Ít ai có bao giờ xét đến thái độ khác biệt hiện hữu trong tâm tư những chiến binh nơi chiến trường ấy, quân Mỹ sang chiến đấu một năm rồi về, họ yên tâm là gia đ́nh họ đều đang b́nh yên ở nơi chính quốc; trong khi người lính Miền Nam th́ khác, hằng ngày họ phải lo lắng cho sự an nguy của gia đ́nh ḿnh, họ thừa hiểu rằng chỉ có cái chết hay chỉ có bị thương ở mức độ tàn phế họ mới ra khỏi được đời sống quân ngủ. Đương nhiên người Việt ắt phải dùng một thước đo riêng để quyết định cái ǵ là quan trọng hơn để chiến đấu.
            
            Giới nhà báo không khá ǵ hơn. Thử xét xem về một cuộc tường thuật truyền h́nh thiên vị mà tôi đă được xem trong đó người phóng viên tố giác không quân NV mặc dù đă Việt Nam Hóa chiến tranh, đă không chịu bay, để cho KQ HK phải lănh những sứ mạng nguy hiểm chống lại BV.
            
            Nói cho đúng th́ chính HK không chịu để cho NV bay ra Miền Bắc (ngoại trừ một vài phi vụ trong thời gian mở màng của các cuộc dội bom). Giới lănh đạo HK muốn kiểm soát việc ném bom v́ có thế HK mới có thế dùng nó như một công cụ để mặc cả trong bàn thương thảo.
            
            Bởi không muốn NV xen vào việc ném bom, HK cố ư chuyển giao cho NV những trang bị không thích hợp cho các phi vụ đánh phá Miền Bắc. Nam Việt không có phi cơ chiến đấu, vũ khí, máy bay tiếp tế xăng trên không, hoặc cả những thiết bị điện tử cấn thiết cho những phi vụ ấy. Chính người Mỹ đă quyết định làm như vậy.
            
            Người phóng viên nêu thắc mắc kể trên hoặc đă quá khờ khạo hoặc đă chọn sự tảng lờ để thực thi hành động báng bổ người đồng minh của HK. Căn cứ vào những lời lẻ vu khống cùng giọng điệu om ṣm, tôi đi tới kết luận là sự thiếu kiến thức của anh ta hoàn toàn do cố ư.
            
            Một dẫn dụ khác về tính thiên vị của giới truyền thông là vào thời điểm Khe Sanh bị bao vây. Nếu ta hỏi một ngàn người Mỹ có đơn vị tham chiến ở Khe Sanh, hầu hết ai nghe nhắc đến trận ấy hẳn đều biết TQLC Mỹ chiến đấu ở đó. Nhưng nếu có hơn một người trong số một ngàn người đó biết có một tiểu đoàn BĐQ NV cũng đă san sẻ sự cam khổ ấy th́ quả là điều đáng ngạc nhiên. Trong khi ấy c̣n có những đơn vị NV khác cũng dự phần vào những cuộc hành quân yểm trợ bên ngoài căn cứ đang bị vây hăm này. Báo chí Mỹ coi đồng minh của HK như không đáng để tường thuật đến trừ khi họ phạm điều ǵ ô nhục, v́ thế những chiến sĩ chiến đấu can trường kia trở nên những người hùng vô h́nh tại Khe Sanh.
            
            Sự thiên vị này, lính Mỹ lẫn giới truyền thông HK đă đồng ca rơ rệt khi tường thuật về cuộc hành quân bất ngờ vào lănh thổ Lào năm 1972.
            
            Thử xem lại một tài liệu truyền h́nh được đưa ra một thập niên trước đây. Tài liệu này bao gồm cuộc phỏng vấn một số binh sĩ Mỹ trong khi chiến trận tại Lào đang diễn ra. Những quân nhân HK này, đứng b́nh yên bên lănh thổ NV, có những lời nhận xét cay độc, kỳ thị dành cho các binh sĩ NV đang chiến đấu ở bên kia biên giới. Người phóng viên truyền h́nh này bày tỏ rằng lính Mỹ hiểu rơ t́nh h́nh hơn các tướng lănh của họ.
            
            Cuộc tấn công lên đất Lào dĩ nhiên là nguồn gốc của bức h́nh nỗi tiếng cho thấy h́nh ảnh một người lính NV đang đeo trên càng một phi cơ trực thăng để t́m cách vượt thoát. H́nh ảnh này được liên tục tung ra trước công chúng Mỹ như là "chứng cớ" cho thấy người Miền Nam là đáng khinh tởm.
            
            Quả thực đây là một thủ thuật xưa như trái đất để xuyên tạc sự thật bằng sức mạnh của h́nh ảnh. Những ǵ xảy ra bấy giờ đúng ra là như vầy: Quân NV gặp phải lực lượng đông đảo của đối phương trong khi quân Mỹ không yểm trợ được như đă hứa v́ hỏa lực pḥng không của địch quá mạnh. Có nhiều báo cáo cho biết phi hành đoàn trực thăng phải đạp những két đạn đại bác xuống đầu các đơn vị NV từ độ cao 5000 bộ trở lên chỉ với hy vọng quân NV sẽ nhận được. Các phi cơ này quả t́nh là không dám xuống thấp hơn.
            
            Trong phạm vi vấn đề này, thử xem nhận xét của một sĩ quan HK, Đại Tá Robert Molinelli, người đă mục kích tận mắt, được đăng tải trong Armed Forces Journal (Tập San Quân Đội) số ngày 19 tháng Tư, 1971 như sau: "Một tiểu đoàn NV gồm 420 người bị bao vây bởi một trung đoàn đối phương đông đến từ 2500 đến 3300 quân trong suốt ba ngày ṛng. Phía HK không thể nào tăng viện cho đơn vị này. Họ phải chiến đấu đến gần cạn kiệt hết đạn dược mới bắt đầu phá ṿng vây với vũ khí và đạn dược thu được của địch quân. Đơn vị này c̣n mang theo những đồng đội bị thương cũng như đă chết. H́nh ảnh phi cơ trinh sát chụp được cho thấy rải rác chung quanh đơn vị này là xác của 637 quân địch.
            
            Đơn vị này chỉ c̣n 253 người trong t́nh trạng khả thi chiến đấu khi họ chạy đến được một đơn vị NV khác. Một số ít trong số 17 kẻ hoảng sợ đă bám càng trực thăng để thoát thân. Số c̣n lại, tất cả đều không.
            
            Giờ đây, chắc có người cho rằng đeo càng trực thăng để thoát cho nhanh, dù rằng dễ làm mồi cho hỏa lực pḥng không mà phi cơ lại bay cao và nhanh. Nhưng ngoài chuyện ấy ra, một trường hợp cá biệt, việc lui binh trong khi đang giao chiến ác liệt (một chiến thuật khó khăn nhất trong binh pháp) lại bị phóng đại thành một lời buộc tội cho cả một quân đội, một quốc gia và tệ hơn nữa cả một dân tộc?
            
            Câu trả lời rằng đó là do chính ḷng kỳ thị chủng tộc. V́ lẽ những người bám càng trực thăng là người ngoại chủng. Thử hỏi kẻ đó là người Mỹ hay người Anh th́ sao, cam đoan không sai rằng ta sẽ cảm thông cho là người đó đang phải chịu hoàn cảnh nghiệt ngă.
            
            Minh chứng cho điều này có thể thấy người Mỹ đă phản ứng như thế nào đối với lính Anh trước cuộc triệt thoái của họ hồi thời gian đầu Thế Chiến Thứ Hai.
            
            Nơi đây cũng có những h́nh ảnh tủi hổ xảy đến cho lính Anh ở Dunkirk cũng như tại một số nơi khác. Ở Dunkirk một hạ sĩ quan để tái lập trật tự phải chĩa súng đại liên vào đồng ngủ của ḿnh đang hốt hoảng trèo lên tàu. Trên một tàu khác, các binh sĩ dùng báng súng dộng liên hồi vào người một sĩ quan để ngăn không cho ông này leo lên tàu qua ngỏ tháp súng. Tại đảo Crete, một lữ đoàn quân Tân Tây Lan đă tạo một ṿng đai an toàn với lưỡi lê chĩa ra ngoài ngăn không cho các quân Anh đang hoảng loạn tràn ngập lên được tàu ḿnh.
            
            Tuy thế, h́nh ảnh nước Anh đơn độc chống lại Hitler năm 1940 lại là một h́nh ảnh hào hùng. Điều này được minh chứng bởi sự kiện hoàn toàn hiển nhiên, ngay cả những biến cố đơn lẻ như vừa nêu bật ở trên vẫn không làm lu mờ được cái h́nh ảnh toàn cảnh về đức tính can trường và xả thân cứu nước của dân tộc này.
            
            Quả thật quân Nam Việt đă tỏ ra xuất sắc vào những ngày cuối cùng của Miền Nam qua sự bảo vệ Xuân Lộc vô cùng anh dũng.
            
            Tuy rằng có nhiều lư do như vậy. Thẳng hoặc có nhiều lư do để tin rằng, nếu có sự ủng hộ trung thành của phía người Mỹ ắt Nam Quân sẽ chứng tỏ cho thế giới thấy thêm nhiều Xuân Lộc khác nữa, và có lẽ họ cũng đă cứu được đất nước họ không bị mất.
            
            Vấn đề được nêu ra không phải là khả năng chiến đấu của quân Nam Việt như thế nào nhưng mà xét xem người Mỹ sẽ hành xử ra sao nếu t́nh huống tương tự xảy đến với họ.
            
            Sự thật là quân Mỹ nếu bị HK bỏ rơi như chính NV đă phải chịu, có lẽ họ cũng sẽ không khá chi hơn.
            
            Hăy nhớ rằng: năm 1974 Hoa Kỳ đă cắt viện trợ cho Nam Việt một cách thê thảm một vài tháng trước khi đối phương mở cuộc tấn công sau cùng. Kết quả của sự cắt viện trợ là chỉ một ít nhiên liệu và đạn dược gửi sang cho Miền Nam. Các phương tiện để vận chuyển cả trên không lẫn trên bộ đều phải bị bỏ xó v́ không có cơ phận thay thế. Quân lính NV đi hành quân không có b́nh điện để liên lạc vô tuyến, y tá trên chiến trường không có đủ y dược cụ căn bản. Trong những ngày tháng sau cùng của cuộc chiến, quân Nam Việt phải chiến đấu thắc lưng buộc bụng, họ được phép bắn ba viên mỗi ngày, khẩu phần này áp dụng cho cả súng trường lẫn đại bác.
            
            T́nh trạng tồi tệ đến nỗi ngay chính Văn Tiến Dũng, người chiếm được Miền Nam cũng chấp nhận sự thật là khả năng lưu động và hỏa lực của đối thủ của ḿnh chỉ c̣n phân nửa trước đây. Vậy th́ ngoài sự thiếu thốn vật chất này ra, sự chiến đấu kiểu nhà nghèo này cũng tác động lớn lên tinh thần chiến đấu của người lính NV.
            
            Quân BV với trang bị đầy ắp, với những chiến xa tối tân, với những xe cơ giới chở quân hiện đại, họ đă đánh thẳng vào Miền Nam suy sụp này bằng cuộc tấn công phủ đầu.
            
            Phải, quân NV đă gát lại, đă vứt bỏ chiến cụ (không vứt cũng coi như vứt v́ có cơ phận đâu mà thay), cả đạn dược cũng bị bỏ lại (số lượng mà họ đă chắt chiu dành dụm được, mang theo đến phút cuối cho tới lúc biết là đă quá muộn màng rồi không có cơ hội để bắn hay mang theo được nữa, họ thừa biết họ sẽ không bao giờ có thêm để mà bắn). Vậy th́ lỗi nơi ai? Họ hay người Mỹ?
            
            Phải, quân NV đă triệt thoái khỏi các tỉnh phía bắc một cách vụng về và khá muộn màng, đưa đến t́nh trạng hỗn loạn và suy sụp. Nhưng làm thế nào chính quyền Miền Nam có thể bỏ mặc dân chúng sớm hơn được, trước khi áp lực địch quá lớn buộc họ phải làm thế?
            
            Đă có lúc Nam VN hy vọng B-52 trở lại để giúp họ chặn bớt làn sóng xâm lăng của Cộng Sản. Khi biết rằng điều ấy sẽ không xảy đến, tinh thần chiến đấu của họ bị suy sụp cũng không có ǵ đáng ngạc nhiên.
            
            Không c̣n nhuệ khí chiến đấu, nhiều binh sĩ quay ra đào ngủ - làm thế không phải v́ họ hèn nhát hay không có tinh thần hy sinh để bào vệ đất nước ḿnh, nhưng v́ họ không muốn xả thân cho một sự nghiệp biết chắc là đang trên đà phá sản trong khi gia đ́nh họ đang khẩn thiết cần đến ḿnh.
            
            Quân Mỹ liệu sẽ làm ǵ khá hơn được chăng nếu cũng lâm vào t́nh huống như Nam VN hồi 1975? Liệu quân Mỹ có chiến đấu ngon lành với quân xa, truyền tin đều hỏng, hệ thống quân y què quặc, thiếu thốn nhiên liệu và đạn dược, và không yểm th́ nhỏ giọt hoặc hầu như không có. Với một t́nh trạng bết bát như thế mà phải đối đầu với một kẻ địch có quyết tâm cao, hùng mạnh, trang bị tối tân, sung măn. Tôi e là không thắng nổi.
            
            Liệu NV có thắng được trận 1975 nếu chính phủ Mỹ vẫn giữ vững sự cam kết, và tiếp tục chi viện cho NV không kém với chi viện mà khối CS dành cho Miền Bắc?
            
            Câu trả lời là không biết được. Ít ra họ có một cơ hội để đọ sức, cái cơ may mà người Mỹ phản trắc đă tước mất của họ. Hiển nhiên là họ có thể chiến đấu hữu hiệu hơn. Cho dù họ có bại trận họ cũng ngă gục một cách hào hùng trong một trận đánh lưu danh muôn thuở cho hậu duệ, để tiếp tục chiến đấu dưới h́nh thức du kích chiến rập khuôn theo kiểu Afghanistan.
            
            Cho dù NV có đại bại, sự ủng hộ hết ḿnh của Hoa Kỳ ít ra cũng khiến họ có thể nhún vai mà nói rằng dù sao họ cũng đă giúp đở hết ḿnh rồi. Đằng này người Mỹ chưa có hết ḿnh giúp đở. Những kẻ nào muốn trốn tránh sự thật ấy bằng cách quay ra báng bổ NV và quân đội ấy là không phải lẽ.
            
            Trước một tội ác tày trời bỏ mặc cho nhân dân Miền Nam rơi vào tay CS, người Mỹ sau này quay ra đi làm điều tốt kể ra đă quá muộn màng. Nhưng nếu biết nh́n lại và công nhận ḿnh đă sai lầm khi sĩ nhục lương tâm của người Miền Nam ấy th́ chưa có muộn đâu. Cũng chưa muộn màng ǵ nếu ta biết khởi đầu vinh danh đúng mức những thành tích họ đă đạt được cùng những hành động hào hùng họ đă tạo nên để bảo vệ cho lư tưởng tự do./.

Ghi chú: Bài nhận trên E-mail không để tên dịch giả quí vi nào biết xin mách giùm - Thành thật cáo lỗi cùng dịch giă bài này. (mọi tin tức  xin e-mail : nghiem36@att.net

Thành thật cám ơn.

1lyhuonga_jpg_w110h7.jpg






QUỐC HẬN Ngày Này Năm Xưa 11/4/75 In E-mail
11/04/2009
 
 

Trận Chiến Dầu Giây -Tại Xuân Lộc, đến sáng ngày 11/4/1975, trận chiến đă bước vào ngày thứ ba. Sau hai ngày giao tranh 9 và 10/4/1975, hơn 500 CQ bỏ xác tại trận, 8 chiến xa T54 bị bắn cháy, lực lượng pḥng ngự VNCH thu được gần 200 vũ khí đủ loại. 7 giờ sáng ngày 11/4/1975, hai trung đoàn CQ từ hướng đông bắc và tây nam tấn công vào trung tâm thị xă, đây là đợt tấn công thứ ba. Quân trú pḥng từ những công sự chiến đấu quanh các khu vực đă giao tranh quyết liệt với Cộng quân.

-Tại ngă ba Dầu Giây, liên tục trong 3 ngày từ 9 đến 11/4/1975, CQ đă tung 2 trung đoàn có thiết giáp yểm trợ quyết chiếm khu vực này, để từ đây mở những cuộc tấn công lớn vào pḥng tuyến của Trung đoàn 52 BB đang án ngữ hướng tây bắc của thị xă tỉnh lỵ. Tính từ 6 giờ sáng ngày 11/4/1975 đến 18 giờ ngày 11/4/1975, CQ đă mở đến 6 đợt xung phong biển người vào các vị trí ở mặt trận Dầu Giây, và đều bị đẩy lùi.

Thiếu Sinh Quân VŨ TIẾN QUANG

Người Lính Nhỏ mà Chính khí Lớn

(Trích Trong Bộ Lịch Sử Thiếu Sinh Quân Việt Nam )

Vũ Tiến Quang sinh ngày 30 tháng 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thân phụ là Hạ Sĩ Địa Phương Quân Vũ Tiến Đức. Ngày 20 tháng 3 năm 1961, trong một cuộc hành quân an ninh của quận, Hạ Sĩ Đức bị trúng đạn tử thương khi tuổi vừa mới 25. Ông để lại bà vợ trẻ với 2 con. Con trai lớn, Vũ Tiến Quang, 5 tuổi. Con gái tên Vũ thị Quỳnh Chi mới tṛn một năm. V́ có học, lại là quả phụ tử sĩ, bà Đức được thu dụng làm việc tại Chương Thiện, với nhiệm vụ khiêm tốn là thư kư ṭa hành chánh. Nhờ đồng lương thư kư, thêm vào tiền tử tuất cô nhi, quả phụ, nên đời sống của bà với hai con không đến nỗi thiếu thốn.
Quang học tại trường tiểu học trong tỉnh. Tuy rất thông minh, nhưng Quang chỉ thích đá banh, thể thao hơn là học. Thành ra Quang là một học sinh trung b́nh trong lớp. Cuối năm 1967, Quang đỗ tiểu học. Nhân đọc báo Chiến Sĩ Cộng Ḥa có đăng bài: "Ngôi Sao Sa Trường, Thượng Sĩ Sữa: Trần Minh - Thiên Thần U Minh Hạ".
Bài báo thuật lại: Minh xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam . Sau khi ra trường Minh về phục vụ tại Tiểu Đoàn Ngạc Thần (tức Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 31, Sư Đoàn 21 Bộ Binh). Mà Tiểu đoàn đang đồn trú tại Chương Thiện. Quang nẩy ra ư đi t́m người hùng bằng xương bằng thịt. Chú bé lóc cóc 12 tuổi, được Trần Minh ôm hôn, dẫn đi ăn phở, bánh cuốn, rồi thuật cho nghe về cuộc sống vui vẻ tại trường Thiếu Sinh Quân. Quang suưt xoa, ước mơ được vào học trường này. Qua cuộc giao tiếp ban đầu, Minh là một mẫu người anh hùng trong ước mơ của Quang. Quang nghĩ: "Ḿnh phải như anh Minh".
Chiều hôm đó Quang thuật cho mẹ nghe cuộc gặp gỡ Trần Minh, rồi xin mẹ nộp đơn cho ḿnh nhập học trường Thiếu Sinh Quân. Bà mẹ Quang không mấy vui vẻ v́ Quang là con một, mà nhập học Thiếu Sinh Quân rồi sau này trở thành anh hùng như Trần Minh th́ ... nguy lắm! Bà không đồng ư. Hôm sau bà gặp riêng Trần Minh, khóc thảm thiết xin Minh nói dối Quang rằng muốn nhập học trường Thiếu Sinh Quân th́ cha phải thuộc chủ lực quân, c̣n cha Quang là Địa Phương Quân th́ không được. Minh từ chối:
- Em không muốn nói dối cháu. Cháu là Quốc Gia Nghĩa Tử th́ ưu tiên nhập học. Em nghĩ chị nên cho cháu vào trường Thiếu Sinh Quân th́ tương lai của cháu sẽ tốt đẹp hơn ở với gia đ́nh, trong khuôn khổ nhỏ hẹp.
Chiều hôm ấy Quang t́m đến Minh để nghe nói về đời sống trong trường Thiếu Sinh Quân. Đă không giúp bà Đức th́ chớ, Minh c̣n đi cùng Quang tới nhà bà, hướng dẫn bà thủ tục xin cho Quang nhập trường. Thế rồi bà Đức đành phải chiều con. Bà đến pḥng 3 Tiểu Khu Chương Thiện, có Trung Sĩ Nhất Cao Năng Hải, cũng là cựu Thiếu Sinh Quân. Hải lo làm tất cả mọi thủ tục giúp bà. Sợ bà đổi ư th́ ḿnh sẽ mất thằng em dễ thương. Hải lên gặp Thiếu Tá Lê Minh Đảo, Tiểu Khu Trưởng tŕnh bầy trường hợp của Quang. Thiếu Tá Đảo soạn một văn thư, đính kèm đơn của bà Đức, xin Bộ Tổng Tham Mưu dành ưu tiên cho Quang. (Ghi chú: Thiếu Tá Lê Minh Đảo hồi 1974 được thăng Thiếu Tướng, giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Sau biến cố 1975, ông bị tù một thời gian dài. Hiện ông định cư tại Hoa Kỳ. Năm 1966, Thiếu Tá Đảo giữ chức Giám Đốc Trung Tâm Hành Quân Quân Đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật. Bấy giờ tôi có dịp thăm Cần Thơ, được ông tiếp tại căn nhà tranh nổi bên sông, rồi ông đánh đàn cho nghe. Tôi mắc nợ ông món nợ văn nghệ từ hồi đó đến giờ mà chưa trả được. Nếu tính cả lời, chồng chất lên, e không trả nổi).

Tháng 8 năm 1968, Quang được giấy gọi nhập học trường Thiếu Sinh Quân mà không phải thi. Bà Đức thân dẫn con đi Vũng Tầu tŕnh diện. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Quang trở thành một Thiếu Sinh Quân Việt Nam .

Quả thực trường Thiếu Sinh Quân là thiên đường của Quang. Quang có nhiều bạn cùng lứa tuổi, dư thừa chân khí, chạy nhẩy vui đùa suốt ngày. Quang thích nhất những giờ huấn luyện tinh thần, những giờ học quân sự. C̣n học văn hóa th́ Quang lười, học sao cho đủ trả nợ thầy, không bị phạt là tốt rồi. Quang thích đá banh và học Anh Văn. Trong lớp, môn Anh Văn, Quang luôn đứng đầu. Chỉ mới học hết Đệ Lục mà Quang đă có thể đọc sách báo bằng tiếng Anh, nói chuyện lưu loát với cố vấn Mỹ.
Giáo Sư Việt Văn của Quang là Phạm Văn Viết, người mà Quang mượn bóng dáng để thay thế người cha. Có lần thầy Viết giảng đến câu:
"Nhân sinh tư cổ thùy vô tư,
Lưu thủy đan tâm chiếu hàn thanh."
(Người ta sinh ra, ai mà không chết.
Cần phải lưu chút ḷng son vào thanh sử.)

Quang thích hai câu này lắm, luôn miệng ngâm nga, rồi lại viết vào cuốn sổ tay.
Trong giờ học sử, cũng như giờ huấn luyện tinh thần, Quang được giảng chi tiết về các anh hùng: Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản, Thánh Tổ của Thiếu Sinh Quân, giết tươi Toa Đô trong trận Hàm Tử. Quang cực kỳ sùng kính Báo Nghĩa Vương Trần B́nh Trọng, từ chối công danh, chịu chết cho toàn chính khí. Quang cũng khâm phục Nguyễn Biểu khi đối diện với quân thù, không sợ hăi, lại c̣n tỏ ra khinh thường chúng. Ba nhân vật này ảnh hưởng vào Quang rất sâu đậm.
Suốt các niên học từ 1969 - 1974, mỗi kỳ hè được phép hai tháng rưỡi về thăm nhà, cậu bé Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang t́m đến các đàn anh trấn đóng tại Chương Thiện để tŕnh diện. Quang được các cựu Thiếu Sinh Quân dẫn đi chơi, cho ăn quà, kể chuyện chiến trường cho nghe. Một số ông anh uống thuốc liều, cho Quang theo ra trận. Quang chiến đấu như một con sư tử. Không ngờ mấy ông anh cưng cậu em út quá, mà gây ra một chuyện động trời, đến nỗi Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam, Bộ Tư Lệnh MACV cũng phải rởn da gà! Sau trở thành huyền thoại. Câu truyện như thế này:

Hè 1972, mà quân sử Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, giữa lúc chiến trường toàn quốc sôi động. Bấy giờ Quang đă đỗ chứng chỉ 1 Bộ Binh. Được phép về thăm nhà, được các đàn anh cho ăn, và giảng những kinh nghiệm chiến trường, kinh nghiệm đời. Quang xin các anh cho theo ra trận. Mấy ông cựu Thiếu Sinh Quân, trăm ông như một, ông nào gan cũng to, mật cũng lớn, coi trời bằng vung. Yêu cậu em ngoan ngoăn, các ông chiều..... cho Quang ra trận. Cuộc hành quân nào các ông cũng dẫn Quang theo.
Trong một cuộc hành quân cấp sư đoàn, đánh vào vùng Hộ Pḥng, thuộc Cà Mau. Đơn vị Quang theo là Trung Đội Trinh Sát của Trung Đoàn 31. Trung Đội Trưởng là một Thiếu Úy cựu Thiếu Sinh Quân. Hôm ấy thông dịch viên cho cố vấn bị bệnh, Quang lại giỏi tiếng Anh, nên Thiếu Úy Trung Đội Trưởng biệt phái Quang làm thông dịch viên cho cố vấn là Thiếu Úy Hummer. Trực thăng vừa đổ quân xuống th́ hiệu thính viên của Hummer trúng đạn chết ngay. Lập tức Quang thay thế anh ta. Nghĩa là mọi liên lạc vô tuyến, Hummer ra lệnh cho Quang, rồi Quang nói lại trong máy.
Trung Đội tiến vào trong làng th́ lọt trận địa phục kích của Trung Đoàn chủ lực miền, tên Trung Đoàn U Minh. Trung Đội bị một Tiểu Đoàn địch bao vây. Vừa giao tranh được 10 phút th́ Hummer bị thương. Là người can đảm, Hummer bảo Quang đừng báo cáo về Trung Tâm Hành Quân. Trận chiến kéo dài sang giờ thứ hai th́ Hummer lại trúng đạn nữa, anh tử trận, thành ra không có ai liên lạc chỉ huy trực thăng vơ trang yểm trợ... Kệ, Quang thay Hummer chỉ huy trực thăng vơ trang. V́ được học địa h́nh, đọc bản đồ rất giỏi, Quang cứ tiếp tục ra lệnh cho trực thăng vơ trang nả vào pḥng tuyến địch, coi như Hummer c̣n sống. Bấy giờ quân hai bên gần như lẫn vào nhau, chỉ c̣n khoảng cách 20-30 thước.
Thông thường tại các quân trường Hoa Kỳ cũng như Việt Nam, dạy rằng khi gọi pháo binh, không quân yểm trợ th́ chỉ xin bắn vào trận địa địch với khoảng cách quân ḿnh 70 đến 100 thước. Nhưng thời điểm 1965-1975, các cựu Thiếu Sinh Quân trong khu 42 chiến thuật khi họp nhau để ăn uống, siết chặt t́nh thân hữu, đă đưa ra phương pháp táo bạo là xin bắn vào pḥng tuyến địch, dù cách ḿnh 20 thước. Quang đă được học những phương pháp đó. Quang chỉ huy trực thăng vơ trang nả vào trận địch, nhiều rockets (hỏa tiễn nhỏ), đạn 155 ly nổ sát quân ḿnh, làm những binh sĩ non gan kinh hoảng. Nhờ vậy mà trận địch bị tê liệt.
Sau khi được giải vây, mọi người khám phá ra Quang lĩnh tới 7 viên đạn mà không chết: trên mũ sắt có 4 vết đạn bắn hơm vào; hai viên khác trúng ngực, may nhờ có áo giáp, bằng không Quang đă ô hô ai tai rồi. Viên thứ bẩy trúng hạ thể.
Trung Tá J. F. Corter, Cố Vấn Trưởng Trung Đoàn được Trung Đội Trưởng Trinh Sát báo cáo Hummer tử trận lúc 11 giờ 15. Ông ngạc nhiên hỏi:
- Hummer chết lúc 11:15 giờ mà tại sao tôi vẫn thấy y chỉ huy trực thăng, báo cáo đến lúc 17 giờ?
V́ được học kỹ về tinh thần trách nhiệm, Quang nói rằng ḿnh là người lạm quyền, giả lệnh Hummer chỉ huy. Quang xin lỗi Corter. Trung Tá J. F. Corter tưởng Quang là lính người lớn, đề nghị gắn huy chương Hoa Kỳ cho Quang. Bấy giờ mới ḷi đuôi chuột ra rằng các ông cựu Thiếu Sinh Quân đă uống thuốc liều, cho thằng em sữa ra trận.
Đúng ra theo quân luật, mấy ông anh bị phạt nặng, Quang bị đưa ra ṭa v́ "Không có tư cách mà lại chỉ huy." Nhưng các vị sĩ quan trong Sư Đoàn 21, Trung Đoàn 31 cũng như cố vấn đều là những người của chiến trường, tính t́nh phóng khoáng nên câu truyện bỏ qua. Quang không được gắn huy chương, mà mấy ông anh cũng không bị phạt. Hết hè, Quang trở về trường mang theo kỷ niệm chiến đấu cực đẹp trong đời cậu bé, mà cũng là kỷ niệm đẹp vô cùng của Thiếu Sinh Quân Việt Nam . câu truyện này trở thành huyền thoại. Huyền thoại này lan truyền mau lẹ khắp năm tỉnh của khu 42 chiến thuật, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Chương Thiện. Quang trở thành người hùng lư tưởng của những thiếu nữ tuổi 15-17!

Năm 1974, sau khi đỗ chứng chỉ 2 Bộ Binh, Quang ra trường mang cấp bậc Trung Sĩ. Quang nộp đơn xin về Sư Đoàn 21 Bộ Binh... Quang được toại nguyện. Sư đoàn phân phối Quang về Tiểu Đoàn Ngạc Thần, tức Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 31, Tiểu Đoàn của Trần Minh sáu năm trước. Thế là giấc mơ 6 năm trước của Quang đă thành sự thật.
Trung Đoàn 31 Bộ Binh đóng tại Chương Thiện. Bấy giờ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời. Cả hai đều là cựu Thiếu Sinh Quân cao niên nhất vùng Chương Thiện bấy giờ (36 tuổi) . Các cựu Thiếu Sinh Quân trong Tiểu Đoàn 2 - 31 dẫn Quang đến tŕnh diện Anh Hai Cẩn. Sau khi anh em gặp nhau. Cẩn đuổi tất cả tùy tùng ra ngoài để anh em tự do xả xú bắp.
Cẩn bẹo tai Quang một cái, Quang đau quá nhăn mặt. Cẩn hỏi:
- Ê! Quang, nghe nói mày lĩnh bẩy viên đạn mà không chết, th́ mày thuộc loại ḿnh đồng da sắt. Thế sao tao bẹo tai mày, mà mày cũng đau à?
- Dạ, đạn Việt Cộng th́ không đau. Nhưng vuốt anh cấu th́ đau.
- Móng tay tao, đâu phải vuốt?
- Dạ, người ta nói anh là cọp U Minh Thượng... th́ vuốt của anh phải sắc lắm!
- Hồi đó suưt chết, thế bi giờ mày ra trận có sợ không?
- Nếu khi ra trận, anh sợ th́ em mới sợ. Cái ḷ Thiếu Sinh Quân có bao giờ nặn ra một thằng nhát gan đâu?

- Thằng này được. Thế mày đă tŕnh diện anh Thời chưa?
- Dạ, anh Thời Thẹo không có nhà.
Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời, Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu, uy quyền biết mấy, thế mà một Trung Sĩ 18 tuổi dám gọi cái tên húy thời thơ ấu ra, th́ quả là một sự phạm thượng ghê gớm. Nhưng cả Thời lẫn Quang cùng là cựu Thiếu Sinh Quân th́ lại là một sự thân mật. Sau đó anh em kéo nhau đi ăn trưa. Lớn, bé cười nói ồn ào như không biết tới những người chung quanh. (Ghi chú: Thiếu Tá Thời, cựu Thiếu Sinh Quân, gốc người Huế, tính t́nh ôn nhu văn nhă, nhưng rất can đảm, hiện ông định cư tại Boston , Hoa Kỳ) .
Bấy giờ tin Trần Minh đă đền nợ nước tại giới tuyến miền Trung. Sự ra đi của người đàn anh, của người hùng lư tưởng làm Quang buồn không ít. Nhưng huyền thoại về Trần Minh lưu truyền, càng làm chính khí trong người Quang bừng bừng bốc lên.
Tại Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tất cả các hạ sĩ quan cũng như các Thiếu Sinh Quân mới ra trường, thường chỉ được theo hành quân như một khinh binh. Đợi một vài tháng đă quen với chiến trường, rồi mới được chỉ định làm Tiểu Đội Trưởng. Nhưng vừa tŕnh diện, Quang được cử làm Trung Đội Phó ngay, dù hầu hết cả Tiểu Đội Trưởng đều ở cấp Trung Sĩ, Trung Sĩ Nhất, mà những người này đều vui ḷng tuân lệnh Quang răm rắp!
Sáu tháng sau, đầu năm 1975 nhờ chiến công, Quang được thăng Trung Sĩ Nhất, nhưng chưa đủ một năm thâm niên, nên chưa được gửi đi học sĩ quan. Quang trở thành nổi tiếng trong trận đánh ngày 1-2-1975, tại Thới Lai, Cờ Đỏ. trong ngày hôm ấy, đơn vị của Quang chạm phải Tiểu Đoàn Tây Đô. Đây là một Tiểu Đoàn được thành lập từ năm 1945, do các sĩ quan Nhật Bản không muốn về nước, trốn lại Việt Nam ... huấn luyện. Quang đă được Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn giảng về kinh nghiệm chiến trường:
"Tây Đô là Tiểu Đoàn cơ động của tỉnh cần Thơ. Tiểu Đoàn có truyền thống lâu đời, rất thiện chiến. Khi tác chiến cấp Đại Đội, Tiểu Đoàn chúng không hơn các đơn vị khác là bao. Nhưng tác chiến cấp Trung Đội, chúng rất giỏi. Chiến thuật thông thường, chúng dàn ba Tiểu Đội ra, chỉ Tiểu Đội ở giữa là nổ súng. Nếu thắng thế, th́ chúng bắn xối xả để uy hiếp tinh thần ta, rồi hai Tiểu Đội hai bên xung phong. Nếu yếu thế th́ chúng lui. Ta không biết đuổi theo th́ sẽ dẵm phải ḿn, rồi bị hai Tiểu Đội hai bên đánh ép. V́ vậy khi đối trận với chúng, phải im lặng không bắn trả, để chúng tưởng ta tê liệt. Khi chúng bắt đầu xung phong th́ dùng vũ khí cộng đồng nả vào giữa, cũng như hai bên. Thấy chúng chạy th́ tấn công hai bên, chứ đừng đuổi theo. C̣n như chúng tiếp tục xung phong ta phải đợi chúng tới gần rồi mới phản công."
Bây giờ Quang có dịp áp dụng. Sau khi trực thăng vận đổ quân xuống. Cả Đại Đội của Quang bị địch pháo chụp lên đầu, đại liên bắn xối xả. Không một ai ngóc đầu dậy được. Nhờ pháo binh, trực thăng can thiệp, sau 15 phút Đại Đội đă tấn công vào trong làng. Vừa tới b́a làng, Thiếu Úy Trung Đội Trưởng của Quang bị trúng đạn lật ngược. Quang thay thế chỉ huy Trung Đội. Trung Đội dàn ra thành một tuyến dài đến gần trăm mét. Đến đây th́ phi pháo không can thiệp được nữa, v́ quân hai bên chỉ cách nhau có 100 mét, gần như lẫn vào nhau. Nhớ lại lời giảng của Cẩn, Quang ra lệnh im lặng, chỉ nổ súng khi thấy địch. Ngược lại ngay trước mặt Quang, khoảng 200 thước là một cái hầm lớn, ngay trước hầm hai khẩu đại liên không ngừng nhả đạn. Quang ghi nhận vị trí hai khẩu đại liên với hai khẩu B40 ra lệnh:
"Lát nữa khi chúng xung phong th́ dùng M79 diệt hai khẩu đại liên, B40, rồi hăy bắn trả."
Sau gần 20 phút, th́nh ĺnh địch xả súng bắn xối xả như mưa, như gió, rồi tiếng hô xung phong phát ra. Chỉ chờ có thế, M79 của Quang khai pháo. Đại liên, B40 bị bắn tung lên, trong khi địch đang xung phong. Bấy giờ Trung Đội của Quang mới bắn trả. Chỉ một loat đạn, toàn bộ p̣ng tuyến địch bị cắt. Quang ra lệnh xung phong. Tới căn hầm, binh sĩ không dám lại gần, v́ bị lựu đạn từ trong ném ra. Quang ra lệnh cho hai khẩu đại liên bắn yểm trợ, rồi cho một khinh binh ḅ lại gần, tung vào trong một quả lựu đạn cay. Trong khi Quang hô:
- Ra khỏi hầm, dơ tay lên đầu! bằng không lựu đạn sẽ ném vào trong!

Cánh cửa hầm mở ra, mười tám người, nam có, nữ có, tay dơ trên đầu, ra khỏi hầm, lựu đạn cay làm nước mắt dàn dụa.
Đến đây trận chiến chấm dứt.
Th́ ra 18 người đó là Đảng Bộ và Ủy Ban Nhân Dân của Huyện Châu Thành Cần Thơ. Trong đó có viên Huyện Ủy và viên Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Huyện.

Sau trận này Quang được tuyên dương công trạng trước quân đội, được gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu. Trong lễ chiến thắng giản dị, Quang được một nữ sinh trường Đoàn Thị Điểm quàng ṿng hoa. Nữ sinh đó là Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi, học lớp Đệ Ngũ. Cho hay, anh hùng với giai nhân xưa nay thường dễ cảm nhau. Quang, Châu yêu nhau từ đấy. Họ viết thư cho nhau hàng ngày. Khi có dịp theo quân qua Cần Thơ, thế nào Quang cũng gặp Châu. Đôi khi Châu táo bạo, xuống Chương Thiện thăm Quang. Mẹ Quang biết chuyện, bà lên Cần Thơ gặp cha mẹ Châu. Hai gia đ́nh đính ước với nhau. Họ cùng đồng ư: Đợi năm tới, Quang xin học khóa sĩ quan đặc biệt, Châu 17 tuổi th́ cho cưới nhau.
Nhưng mối t́nh đó đă đi vào lịch sử...

T́nh h́nh toàn quốc trong tháng 3, tháng 4 năm 1975 biến chuyển mau lẹ. Ban Mê Thuột bị mất. Quân Đoàn 2 rút lui khỏi cao nguyên, Quân Đoàn 1 bỏ mất lănh thổ. Rồi các sĩ quan Bộ Tổng Tham Mưu được Hoa Kỳ bốc đi. Ngày 29 tháng 4, trung Đội của Quang chỉ c̣n 10 người. Tiểu Đoàn Trưởng, Đại Đội Trưởng bỏ ngũ về lo di tản gia đ́nh. Quang vào bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Chương Thiện tŕnh diện Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Cẩn an ủi:
- Em đem mấy người thuộc quyền vào đây ở với anh.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Dương Văn Minh phát thanh bản văn ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng Ḥa buông súng đầu hàng. Các đơn vị quân đội Miền Nam tuân lệnh, cởi bỏ chiến bào, về sống với gia đ́nh. Một vài đơn vị lẻ tẻ c̣n cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các đơn vị Dù tại Sàig̣n ngừng lúc 9 giờ 7 phút.
Đúng lúc đó tại Chương Thiện, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, ông đang chỉ huy các đơn vị thuộc quyền chống lại cuộc tấn công của cộng quân. Phần thắng đă nằm trong tay ông. Lệnh của Dương Văn Minh truyền đến. Các Quận Trưởng chán nản ra lệnh buông súng. Chỉ c̣n tỉnh lỵ là vẫn chiến đấu. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ra lệnh:
"Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống trái với hiến pháp. Ông ta không có tư cách của vị Tổng Tư Lệnh. Hăy tiếp tục chiến đấu."
Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần dần bị tràn ngập, v́ quân ít, v́ hết đạn, v́ mất tinh thần. Chỉ c̣n lại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, có một Đại Đội Địa Phương Quân cùng nhân viên Bộ Tham Mưu. Đến 13 giờ, đạn M79 hết. Tới 14 giờ 45, th́ đạn hết, làm sóng cộng quân tràn vào trong Bộ Chỉ Huy. Cuối cùng chỉ c̣n một ổ kháng cự từ trong hầm chiến đấu, nơi đó có khẩu đại liên. Một quả lựu đạn cay ném vào trong hầm, tiếng súng im bặt. Quân Cộng Sản vào hầm lôi ra hai người. Một là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh Trưởng, kiêm Tiểu Khu Trưởng và một Trung Sĩ mới 19 tuổi. Trung Sĩ đó tên là Vũ Tiến Quang.
Bấy giờ đúng 15 giờ.

Kẻ chiến thắng trói người chiến bại lại. Viên Đại Tá Chính Ủy của đơn vị có nhiệm vụ đánh tỉnh Chương Thiện hỏi:
- Đ.M. Tại sao có lệnh đầu hàng, mà chúng mày không chịu tuân lệnh?
Đại Tá Cẩn trả lời bằng nụ cười nhạt.
Trung Sĩ Quang chỉ Đại Tá Cẩn:
- Thưa Đại Tá, tôi không biết có lệnh đầu hàng. Ví dù tôi biết, tôi cũng vẫn chiến đấu. V́ anh ấy là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Anh ra lệnh chiến đấu th́ tôi không thể căi lệnh.

Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Viên Chính Ủy chỉ những xác chết nói với Đại Tá Cẩn:
- Chúng mày là hai tên ngụy ác ôn nhất. Đ.M, chúng mày sẽ phải đền tội.
Đại Tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn cười nhạt. Trung Sĩ Quang ngang tàng:
- Đại Tá có lư tưởng của Đại Tá. Tôi có lư tưởng của tôi. Đại Tá theo Karl Marx, theo Lenin; c̣n tôi, tôi theo vua Hùng, vua Trưng. Tôi tuy bại trận, nhưng tôi vẫn giữ lư tưởng của tôi... Tôi không gọi Đại Tá là tên Việt Cộng. Tại sao Đại Tá lại mày tao, văng tục với chúng tôi như bọn ăn cắp gà, phường trộm trâu vậy? Phải chăng đó ngôn ngữ của Đảng Cộng Sản?
Viên Đại Tá rút súng kê vào đầu Quang:
- Đ.M. Tao hỏi mày, bây giờ th́ mày có chính nghĩa hay tao có chính nghĩa?
- Xưa nay súng đạn trong tay ai th́ người đó có lư. Nhưng đối với tôi, tôi học trường Thiếu Sinh Quân, súng đạn là đồ chơi của tô
i từ bé. Tôi không sợ súng đâu. Đại Tá đừng dọa tôi vô ích. Tôi vẫn thấy tôi có chính nghĩa, c̣n đại Tá không có chính nghĩa. Tôi là con cháu Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản mà.
- Đ.M. Mày có chịu nhận mày là tên Ngụy không?
- Tôi có chính nghĩa th́ tôi không thể là Ngụy. C̣n Cộng quân dùng súng giết dân mới là Ngụy, là giặc cướp. Tôi nhất quyết giữ chính khí của tôi như Bảo Nghĩa Vương Trần B́nh Trọng, như Nguyễn Biểu.
Quang cười ngạo nghễ:
- Nếu Đại Tá có chính nghĩa tại sao Đại Tá lại dùng lời nói thô tục với tôi? Ừ! Muốn mày tao th́ mày tao. Đ.M. tên Cộng Sản ác ôn! Nếu tao thắng, tao dí súng vào thái dương mày rồi hỏi: Đ.M. mày có nhận mày là tên Việt Cộng không? Th́ mày trả lời sao?
Một tiếng nổ nhỏ, Quang ngă bật ngửa, óc phọt ra khỏi đầu, nhưng trên môi người thiếu niên c̣n nở nụ cười. Tôi không có mặt tại chỗ thành ra không mường tượng ư nghĩa nụ cười đó là nụ cười ǵ? Độc giả của tôi vốn thông minh, thử đoán xem nụ cười đó mang ư nghĩa nào? Nụ cười hối hận? Nụ cười ngạo nghễ? Nụ cười khinh bỉ? Hay nụ cười thỏa măn? (Ghi chú: Nhân chứng quan trọng nhất chứng kiến tận mắt cái chết của Vũ Tiến Quang thuật cho tác giả nghe là cô Vũ Thị Quỳnh Chi. Cô là em ruột của Quang, nhỏ hơn Quang 4 tuổi. Lúc anh cô bị giết, cô mới 15 tuổi (cô sinh năm 1960). Năm 1999, cô là phu nhân Bác Sĩ Jean Marc Bodoret, học tṛ của tôi, cư trú tại Marseille.)
Cái lúc mà Quang ngă xuống th́ trong đám đông dân chúng ṭ ṃ đứng xem có tiếng một thiếu nữ thét lên như xé không gian, rồi cô rẽ những người xung quanh tiến ra ôm lấy xác Quang. Thiếu nữ đó là Nguyễn Hoàng Châu. Em gái Quang là Vũ Thị Quỳnh Chi đă thuê được chiếc xe ba bánh. Cô cùng Nguyễn Hoàng Châu ôm xác Quang bỏ lên xe, rồi bọc xác Quang bằng cái Poncho, đem chôn.

Chôn Quang xong, Châu từ biệt Quỳnh Chi trở về Cần Thơ. Nhưng ba ngày sau, vào một buổi sáng sớm, Quỳnh Chi đem vàng hương, thực phẩm ra cúng mộ anh th́ thấy Châu trong bộ y phục trắng của nữ sinh, chết gục bên cạnh. Mặt Châu vẫn tươi, vẫn đẹp như lúc sống. Đích thân Quỳnh Chi dùng mai, đào hố chôn Châu cạnh mộ Quang.

Năm 1998, tôi có dịp đi công tác y khoa trong đoàn Liên Hiệp Các Viện Bào Chế Châu Âu (CEP - Coopérative Européenne Parmaceutique). Tôi đem J. M.. Bodoret cùng đi. Quỳnh Chi xin được tháp tùng chồng. Lợi dụng thời gian nghỉ công tác 4 ngày, từ Sàig̣n, chúng tôi thuê xe đi Chương Thiện, t́m lại ngôi mộ Quang-Châu. Ngôi mộ thuộc loại vùi nông một nấm dăi dầu nắng mưa, cỏ hoa trải 22 năm, rất khó mà biết đó là ngôi mộ. Nhưng Quỳnh Chi có trí nhớ tốt. Cô đă t́m ra. Cô khóc như mưa, như gió, khóc đến sưng mắt. Quỳnh Chi xin phép cải táng, nhưng bị từ chối. Tuy nhiên, cuối cùng có tiền thi mua tiên cũng được. Giấy phép có, Quỳnh Chi cải táng mộ Quang-Châu đem về Kiến Hưng, chôn cạnh mộ của ông Vũ Tiến Đức. Quỳnh Chi muốn bỏ hài cốt Quang-Châu vào hai cái tiểu khác nhau. Tôi là người lăng mạng. Tôi đề nghị xếp hai bộ xương chung với nhau vào trong một cái ḥm. Bodoret hoan hô ư kiến của sư phụ.
Ngôi mộ của ông Đức, của Quang-Châu xây xong. Tôi cho khắc trên miếng đồng hàng chữ:
"Nơi đây AET Vũ Tiến Quang, 19 tuổi.
An giấc ngàn thu cùng
Vợ là Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi
Nở nụ cười thỏa măn v́ thực hiện được giấc mộng"


Giấc mộng của Quang mà tôi muốn nói, là được nhập học trường Thiếu Sinh Quân, rồi trở thành anh hùng. Giấc mộng của Châu là được chết, được chôn chung với người yêu. Nhưng người ta có thể hiểu rằng: Quang thỏa măn nở nụ cười v́ mối t́nh trọn vẹn.¨

TRẦN ĐẠI SỸ

NHỮNG V̀ SAO THỜI LỬA ĐẠN

30-4-75 - The Black April - Thang Tu Den  

Black April

UNTOLD STORY section – vnafmamn.com

MORE PAGES TO READ
THE BROKEN PROMISES (page#2)      • VIETNAM WAR THE REAL STORY (page#3)      • THE MYTHS START TO FALL(page#4)      • AMERICA'S BITTER END (page#5)      • FLIGHT FREEDOM (page#6)      • GRASP THE PAST... (page#7)


Bugle

      When ever talking about Vietnam War, most of the US politicians, officials, journalists, or political pundits would mention it in a way the war is their own, the South Vietnamese at that moment seem to be invisible or just the bystanders, bearing no brunt of the war effort. But there was one day, only one single day in which all of them would shy away from that claim. The day they have nothing to do with that war. The day they return the outcome back to the South Vietnamese: The APRIL 30th 1975.

For that reason, one has heard some very familiar words like "The Fall of Saigon," "Evacuation," "Frequent Wind Operation," etc. Those technical terms and euphemism are conveniently served just like the toilet papers to cover somebody's own mistakes and to wipe out his embarrassing accident. So let's tell straight out what it is on that day: Cut-and-run.

April 30th, 1975: The day South Vietnam is delivered to Evil due to betrayal and abandonment. If you have never been told the real ugly stories of that fatal day, then this is the chance. Let the following photos speak for the innocent civilians, the abandoned plain sodiers, and the deads!



"Those who cannot remember the past are condemned to repeat it."
George Santayana (1863 - 1952)

THE DESPERATE EVACUATION
DECLASSIFIED DOCUMENT REVEALED THE SELLOUT OF SOUTH VIETNAM

    In Beijing on June 22, 1972, Kissinger told Zhou the U.S. acknowledged its North Vietnamese enemy was a "permanent factor" and probably the "strongest entity" in the region. "And we have had no interest in destroying it or even defeating it," he insisted. And more:

"...And while we cannot bring a communist government to power, if, as a result of historical evolution it should happen over a period of time, if we can live with a communist government in China we ought to be able to accept it in Indochina..."

For a complete Kissinger-Zhou transcript (Conversation regarding Vietnam deal is between page 27 - page 37), click:  THE SECRET POLITICAL DEAL

WHEN THE ALLY CUTS AND RUNS

"In the end, we simply cut and ran. The American national will had collapsed."
US Ambassador to South Vietnam, Graham Martin

...My father kicked the overloaded scooter into gear with all six of us aboard, and we started weaving toward the dirty alley. I looked back at our house and wondered if I would ever see it again. The sandbags above our homemade bomb shelter seemed to be sliding off the roof; the shadow of the trees in the front yard shifted with the wind; the fragrance from our green mango tree floated in the air. Our house. Our home. I got one last look before the scooter sped away. Milou ran after us, but we couldn't take him along. We lost him in the dust cloud kicked up by the scooter. We abandoned him, the same way the United States left South Vietnam, like a dog that just didn't fit into its plans...

Excerpt from "A Sense of Duty, My Father, My American Journey" by Quang X. Pham



H-34 Video
LAST DAY IN SAIGON (VIDEO)

Story of the final day of Saigon told by Frank Snepp, a former CIA agent in Vietnam (author of the controversial book "Decent Interval" about the fall of Saigon, published in 1977). Listen to Frank Snepp's narration to know what he meant South Vietnam has been sold out and to understand why he left "his soul" in Vietnam from that fatal day, Aril 30, 1975.

Click the left thumbnail picture to view part1video and the right one, part 2 video.

H-34 Video

JOURNEY FROM THE FALL

If history is written by the victors, then folklore is the testimony of the vanquished. When I was researching communist re-education camps and Vietnamese boat people to write Journey From The Fall, I met with these dilemmas: 1) The short chapter in American history books about the Vietnam War ends on April 30, 1975, the day American forces pulled out of Vietnam. Our story begins where the history books end. 2) I couldn't find any images of the communist re-education camps and could collect only a handful of boat people images from rescue archives.

So was it all just folklore then – the incredible stories of survival that my friend Uyen tells me about how she fled Vietnam in a tiny fishing boat packed with nearly 100 people, that drifted for 22 days, how they were robbed by pirates several times, and how she witnessed a woman losing her sanity because she was raped repeatedly by pirates in every one of those encounters? Such stories are very common among Vietnamese immigrants, yet virtually non-existent for the rest of the world. Why is that so?

The answer became clear to me the first time I saw the black and white production stills taken by Carol Petersen (our production photographer) for Journey From The Fall. When I saw the stills of the Fall of Saigon scene I realized that the world does not know about the communist re-education camps and Vietnamese boat people because they've never seen images of them before. No one was there to document this journey that over two million Vietnamese were forced to take in the three decades since April 30, 1975.

By now, every one of the nearly one thousand communist re-education camps in Vietnam that once housed hundreds of thousands of political prisoners have been torn down, and all traces of their existence have been erased. Only a few refugee camps now remain in Southeast Asia, where nearly two million boat people once lived in transit while they waited to be sponsored by first-world nations such as America, Australia and Canada.

When one considers the Holocaust, if not for the breadth of the photographs and images that exposed the atrocities committed by the Nazis, who knows how much of that history would have been lost to time? Yet history was held and reclaimed for the Jewish community because someone was there to capture the reality of that inhumanity. The pain of a people can only be reconciled once the world has born witness to that pain. We have collected the personal accounts of re-education camp survivors and family memories about the boat people experience, and we know what it was like to grow up as refugee immigrants in the United States. These stories are part of the history that has made us who we are, a history too young to remember, but not too old to forget.

(Ham Tran's Director statement)

Click on the thumbnail pix below for a video clip of the movie
Journey

BETRAYED AND ABANDONED

"Why don't these people die fast"
Henri Kissinger (referring to South Vietnam's struggle against Hanoi military attack after Da Nang retreat)



A FAREWELL LETTER

    Within a day after that letter was sent, Sirik Matak, Long Boret, Lon Non (Lon Nol's brother), and most members of Lon Nol's cabinet who declined to be "evacuated" with the Americans, instead staying to share the fate of their people were executed by Khmer Rouge units in Phnom Penh on April 17, 1975. It was the beginning of the "killing field" in Cambodia.

Two weeks later, The Vietnamese Communist marched into Saigon, starting the silent death camps called "Reeducation Camps."

A CAMBODIAN HERO
Sirik Matak Portrait
Prince SISOWATH SIRIK MATAK

Prince SISOWATH SIRIK MATAK

Prince Sisowath Sirik Matak (January 22, 1914 — April 21, 1975) was a prince of Cambodia.

Sirik Matak was born in Phnom Penh, Cambodia. In 1941, he was passed over by the French government in favor of his cousin Norodom Sihanouk as King.

In March 18, 1970, Sirik Matak assisted General Lon Nol, who had been serving as prime minister, in a coup d'etat and was granted emergency powers by the National Assembly. Sirik Matak, retained his post as deputy prime minister.

On April 1, 1975, President Lon Nol resigned and left the country. On April 12, 1975, Sirik Matak was offered political asylum by the United States' Ambassador to Cambodia John Gunther Dean, inviting high officials of the Khmer Republic, but Sirik Matak, Long Boret, Lon Non (Lon Nol's brother), and most members of Lon Nol's cabinet declined.

Prince Sirik Matak and the officials that remained along with him, were executed by the Khmer Rouge on April 21, 1975, in Phnom Penh.



FIGHTING THE LAST BATTLE
Last Battle title=
STARS & STRIPES NEWS


PORTRAITS OF THE VICTORS
Portrait of a Victor
THE VICTORY SALUTE

The fall of Saigon drove many people into not only suicide but serious mental disorder as well. Ten years later, some physicians said that at least one thousand people around the Saigon area suffered incurable insanity on that day of the Black April.

Maj. Vinh was one among many others who committed suicide on and after April 30, 1975. Those who committed suicide were mostly officers, politicians, government officials, young NCOs, or just plain soldiers were estimated at several hundreds. But only some famous cases were fully recorded as follows.


ARVN insignia   REQUIEM
ARVN Officer
Major DANG SI VINH

ARVN Major DANG SI VINH

At about 2:00 PM on April 30, 1975, almost two hours after South Vietnam President Duong Van Minh surrendered to the Communists, people near by heard several pistol reports from his home. After hesitating for safety, his neighbors got into his home to find Major Vinh, his wife and his seven children lying each on a single mattress, all dead, each by one .45 caliber bullet that gushed pools of blood from the horrible holes at their temples. On a long dining table, decent meals had been served and eaten as if in an usual and peaceful dinner. There were nine small glasses, all had traces of a pink powder left at their bottoms. Apparently, Maj. Vinh and his relatives had taken the drug - probably sleeping pills - before Vinh gave each a finishing stroke with his .45 pistol. In an open small safe he left some hundreds of thousands South Vietnam piasters, rated about 500 dollars at the time, an indication of his poor circumstances as an army major. On the note along with the money, Vinh wrote:

"Dear neighbors,"
"Forgive us. Because our family would not live under the Communist regime, we have to end our lives this way that might be bothering you. Please inform my only sibling, a sister named ... at... and use this money to help her bury us anywhere. "
"Thank you,"
"Dang Si Vinh."

ARVN Officer
Brigadier General LE VAN HUNG
ARVN Brigadier General LE VAN HUNG (1933-1975)

Brigadier General, deputy commander of the IV Corps/Military Region 4 at Can Tho. Hung was born in Gia Dinh province near Saigon.

In 1954, he was drafted and received training in the Thu Duc Reserve Officers School, Class 5, graduated second-lieutenant in January 1955. In January 1959, First Lieutenant Hung was the 32nd Infantry Regiment S-2 when the Viet Cong conducted a surprise attack at the regiment base camp in Trang Sup, Tay Ninh province, and took away a large number of weapons. As the duty officer of the regiment headquarters, he bravely commanded the reconnaissance platoon, the only soldiers present in the barracks, to resist and to protect the other parts of the headquarters and other materials and equipment from being destroyed or lost.

In 1961 he was appointed Chief of Police Department of Vinh Binh province, and later a battalion commander when he was a captain in 1964. In 1967, he became the commander, 31st Infantry Regiment. Then he was assigned province chief of Phong Dinh (Can Tho). June 1971, Hung was given the command of the 5th Infantry Division and promoted brigadier general in 1 March 1972. He proved to be a talented and brave infantry commander in the bloody battle of An Loc during the Summer 1972 Campaign. He held firmly the city of An Loc under the enemy fierce attacks that lasted 2 months.

Until his death, Hung had successively been assistant commander, III Corps/Military Region 3; commander, 21st Infantry Division; and deputy commander, IV Corps/Military Region 4. At 8:30 PM, 30 April 1975, his troops still kept the city of Can Tho under control. A delegation of the city people came to see him and convinced him - as he was the deputy commander - that his ARVN forces should not fight to death as they certainly would, because the people. were sure that the Communists would spare nobody in Can Tho in order to win. They would not hesitate to shell Can Tho into rubble. General Le Van Hung and the commander, General Nguyen Khoa Nam, dropped their intention to fight to the last bullet. Hung then said farewell to his men, his wife and children before he killed himself by a .45 pistol. It was 8:45 PM, 30 April 1975.


ARVN Officer
Brigadier General LE NGUYEN VY

ARVN Brigadier General LE NGUYEN VY (1933-1975)

Brigadier general, commander, 5th Infantry Division at Lai Khe. General Vy was born in Son Tay province, North Vietnam. He graduated from the officers candidate course in the Regional Military School, Military Region II at Phu Bai near Hue, Class 1951. After receiving the order to surrender, General Vy committed suicide by a pistol at 11:00 AM, 30 April 1975 at the division headquarters in Lai Khe.



ARVN Officer
Major General NGUYEN KHOA NAM

ARVN Major General NGUYEN KHOA NAM (1927-1975)

Major general, commander IV Corps and Military Region 4. General Nam was born in Quang Nam province. He was drafted and graduated from Thu Duc Reserve Officers School, Class 3 in 1953.

General Nam was highly respected by his subordinates, his equals, even his superiors, as well as the people in his region ever since he commanded the 7th Infantry Division. His spirit of discipline made him a good example to his soldiers.

At 11:30 PM, 30 April 1975, General Nam killed himself after saying farewell to his staff and talking by telephone with General Le Van Hung, who had ended his life earlier.

ARVN Officer
Brigardier General TRAN VAN HAI

ARVN Brigardier General TRAN VAN HAI (1927-1975)

Brigadier general, commander, 7th Infantry Division at Dong Tam, near My Tho.

General Hai was born in Phong Dinh province (Can Tho). He graduated from the Dalat Military Academy, Class 7, 1951. Hai was renown of being incorruptible, outspoken and brave. In 1968, he was commanding the Ranger Branch Command, directly supervising the Ranger's raid to clear the enemy force that infiltrated into the business quarter of Cho Lon area. He was then assigned National Police Chief. In 1970 he was commander, Special Tactical Area 44... before commanding the 7th Division. He won the adoration of everyone who once worked with him, as he was renown of being incorruptible.

At midnight,30 April 1975, he committed suicide at the Division Headquarters, Dong Tam Army Base.


ARVN Officer
General PHAM VAN PHU

ARVN General PHAM VAN PHU (1927-1975)

Commander, II Corps/Military Region 2.

General Phu was born in Ha Dong, North Vietnam. He graduated the Dalat Military Academy, Class 8. In 1954, Phu was a company officer in the 5th Parachutist Battalion of the Army of the State of Vietnam, fighting beside the French in Dien Bien Phu. In the ARVN, Phu had been commander of the Special Force, the 2nd Infantry Division, Quang Trung Training Center, before taking the command of the II Corps/Military Region II in Pleiku. His troops suffered heavy losses on the way of withdrawal to the coastal areas in April 1975. General Phu committed suicide on 30 April 1975 in Saigon.



ARVN Officer     Colonel HO NGOC CAN at the Communist Kangaroo martial court.


ARVN Colonel HO NGOC CAN (1940-1975)

He was one who elected to commit suicide by fighting to death.

Ho Ngoc Can was admitted in the ARVN Junior Military Academy when he was 14 years old. After graduation, he served 4 years as an instructor sergeant in the same academy. In 1961, he attended the Officer Candidates Class at the Dong De NCO Academy and was the distinguished graduate of the Class in 1962.

After commissioned, Can served the Ranger Corps as a platoon leader. He was promoted to captain in 1965, to major in 1968, to lieutenant colonel in 1971, and to full colonel in 1974. He was successfully commanding the 1/33 Battalion (21st Infantry Division), the 15th Regiment (9th Inf. Div.). In 1974, Can was appointed province chief of Chuong Thien Province, Vietnam deep south area. On April 30, 1975, he refused to surrender to the enemy. Along with his troops, Can was fighting with all his might, holding the provincial headquarters until 11:00 PM on May 1, when his forces were out of ammunition. In the last minutes, he ordered the soldiers to leave the headquarters for safety while he and a faithful Popular Force militiaman covered them with a machine gun. He fell into the hands of the Communist force after he failed an attempt to kill himself. He told the enemy that he wouldn't surrender, and asked them to let him salute the ARVN colors with his uniform on before the execution.

Colonel Can was publicly executed by the Communist firing squad after a quick summary trial at a Communist kangaroo court.




Salute   ORIGIN OF TAPS

During the Civil War, in July 1862 when the Army of the Potomac was in camp, Brig. Gen. Daniel Butterfield summoned Pvt. Oliver Wilcox Norton, his brigade bugler, to his tent. Butterfield, who disliked the colorless "extinguish lights" call then in use, whistled a new tune and asked the bugler to sound it for him. After repeated trials and changing the time of some notes which were scribbled on the back of an envelope, the call was finally arranged to suit Gen. Butterfield and used for the first time that night. Pvt. Norton, who on several occasions, had sounded numerous new calls composed by his commander, recalled his experience of the origin of "Taps" years later:

"One day in July 1862 when the Army of the Potomac was in camp at Harrison's Landing on the James River, Virginia, resting and recruiting from its losses in the seven days of battle before Richmond, Gen. Butterfield summoned the writer to his tent, and whistling some new tune, asked the bugler to sound it for him. This was done, not quite to his satisfaction at first, but after repeated trials, changing the time of some of the notes, which were scribbled on the back of an envelope, the call was finally arranged to suit the general.

"He then ordered that it should be substituted in his brigade for the regulation "Taps" (extinguish lights) which was printed in the Tactics and used by the whole army. This was done for the first time that night. The next day buglers from nearby brigades came over to the camp of Butterfield's brigade to ask the meaning of this new call. They liked it, and copying the music, returned to their camps, but it was not until some time later, when generals of other commands had heard its melodious notes, that orders were issued, or permission given, to substitute it throughout the Army of the Potomac for the time-honored call which came down from West Point.

In the western armies the regulation call was in use until the autumn of 1863. At that time the XI and XII Corps were detached from the Army of the Potomac and sent under command of Gen. Hooker to reinforce the Union Army at Chattanooga, Tenn. Through its use in these corps it became known in the western armies and was adopted by them. From that time, it became and remains to this day the official call for "Taps." It is printed in the present Tactics and is used throughout the U.S. Army, the National Guard, and all organizations of veteran soldiers.

Gen. Butterfield, in composing this call and directing that it be used for "Taps" in his brigade, could not have foreseen its popularity and the use for another purpose into which it would grow. Today, whenever a man is buried with military honors anywhere in the United States, the ceremony is concluded by firing three volleys of musketry over the grave, and sounding with the trumpet or bugle "Put out the lights. Go to sleep"...There is something singularly beautiful and appropriate in the music of this wonderful call. Its strains are melancholy, yet full of rest and peace. Its echoes linger in the heart long after its tones have ceased to vibrate in the air."
(Source: Arlington Cemetery)


Back to "UNTOLD STORIES PAGE #1"

Bugle