|
| QUỐC HẬN Ngày Này Năm Xưa 11/4/75 |
|
|
Trận Chiến Dầu Giây -Tại Xuân Lộc, đến sáng ngày 11/4/1975, trận
chiến đă bước vào ngày thứ ba. Sau hai ngày giao tranh 9 và 10/4/1975, hơn 500 CQ bỏ
xác tại trận, 8 chiến xa T54 bị bắn cháy, lực lượng pḥng ngự VNCH thu
được gần 200 vũ khí đủ loại. 7 giờ sáng ngày 11/4/1975, hai trung đoàn
CQ từ hướng đông bắc và tây nam tấn công vào trung tâm thị xă, đây là đợt
tấn công thứ ba. Quân trú pḥng từ những công sự chiến đấu quanh các khu vực
đă giao tranh quyết liệt với Cộng quân.
-Tại ngă ba Dầu Giây,
liên tục trong 3 ngày từ 9 đến 11/4/1975, CQ đă tung 2 trung đoàn có thiết giáp yểm
trợ quyết chiếm khu vực này, để từ đây mở những cuộc tấn
công lớn vào pḥng tuyến của Trung đoàn 52 BB đang án ngữ hướng tây bắc
của thị xă tỉnh lỵ. Tính từ 6 giờ sáng ngày 11/4/1975 đến 18 giờ ngày
11/4/1975, CQ đă mở đến 6 đợt xung phong biển người vào các vị trí
ở mặt trận Dầu Giây, và đều bị đẩy lùi.
Thiếu
Sinh Quân VŨ TIẾN QUANG
Người Lính Nhỏ mà Chính khí Lớn
(Trích Trong Bộ Lịch
Sử Thiếu Sinh Quân Việt Nam )
Vũ Tiến Quang sinh ngày 30 tháng 9 năm 1956 tại
Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thân phụ là Hạ Sĩ Địa Phương Quân Vũ Tiến Đức. Ngày 20 tháng 3 năm 1961, trong một cuộc hành quân an
ninh của quận, Hạ Sĩ Đức bị trúng đạn tử thương khi tuổi
vừa mới 25. Ông để lại bà vợ trẻ với 2 con. Con trai lớn, Vũ Tiến
Quang, 5 tuổi. Con gái tên Vũ thị Quỳnh Chi mới tṛn một năm. V́ có học, lại
là quả phụ tử sĩ, bà Đức được thu dụng làm việc tại Chương
Thiện, với nhiệm vụ khiêm tốn là thư kư ṭa hành chánh. Nhờ đồng lương
thư kư, thêm vào tiền tử tuất cô nhi, quả phụ, nên đời sống của
bà với hai con không đến nỗi thiếu thốn. Quang học tại trường
tiểu học trong tỉnh. Tuy rất thông minh, nhưng Quang chỉ thích đá banh, thể
thao hơn là học. Thành ra Quang là một học sinh trung b́nh trong lớp. Cuối năm 1967,
Quang đỗ tiểu học. Nhân đọc báo Chiến Sĩ Cộng Ḥa có đăng bài:
"Ngôi Sao Sa Trường, Thượng Sĩ Sữa: Trần Minh - Thiên Thần U Minh Hạ".
Bài báo thuật lại: Minh xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam .
Sau khi ra trường Minh về phục vụ tại Tiểu Đoàn Ngạc Thần (tức
Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 31, Sư Đoàn 21 Bộ Binh). Mà Tiểu đoàn đang đồn trú tại
Chương Thiện. Quang nẩy ra ư đi t́m người hùng bằng xương bằng
thịt. Chú bé lóc cóc 12 tuổi, được Trần Minh ôm hôn, dẫn đi ăn phở,
bánh cuốn, rồi thuật cho nghe về cuộc sống vui vẻ tại trường Thiếu
Sinh Quân. Quang suưt xoa, ước mơ được vào học trường này. Qua cuộc
giao tiếp ban đầu, Minh là một mẫu người anh hùng trong ước mơ của
Quang. Quang nghĩ: "Ḿnh phải như anh Minh". Chiều hôm đó Quang thuật cho mẹ nghe
cuộc gặp gỡ Trần Minh, rồi xin mẹ nộp đơn cho ḿnh nhập học
trường Thiếu Sinh Quân. Bà mẹ Quang không mấy vui vẻ v́ Quang là con một, mà nhập
học Thiếu Sinh Quân rồi sau này trở thành anh hùng như Trần Minh th́ ... nguy lắm!
Bà không đồng ư. Hôm sau bà gặp riêng Trần Minh, khóc thảm thiết xin Minh nói dối
Quang rằng muốn nhập học trường Thiếu Sinh Quân th́ cha phải thuộc chủ
lực quân, c̣n cha Quang là Địa Phương Quân th́ không được. Minh từ chối:
- Em không muốn nói dối cháu. Cháu là Quốc Gia Nghĩa Tử th́ ưu tiên nhập học.
Em nghĩ chị nên cho cháu vào trường Thiếu Sinh Quân th́ tương lai của cháu sẽ
tốt đẹp hơn ở với gia đ́nh, trong khuôn khổ nhỏ hẹp. Chiều
hôm ấy Quang t́m đến Minh để nghe nói về đời sống trong trường
Thiếu Sinh Quân. Đă không giúp bà Đức th́ chớ, Minh c̣n đi cùng Quang tới nhà bà, hướng
dẫn bà thủ tục xin cho Quang nhập trường. Thế rồi bà Đức đành phải
chiều con. Bà đến pḥng 3 Tiểu Khu Chương Thiện, có Trung Sĩ Nhất Cao Năng
Hải, cũng là cựu Thiếu Sinh Quân. Hải lo làm tất cả mọi thủ tục
giúp bà. Sợ bà đổi ư th́ ḿnh sẽ mất thằng em dễ thương. Hải lên
gặp Thiếu Tá Lê Minh Đảo, Tiểu Khu Trưởng tŕnh bầy trường hợp của
Quang. Thiếu Tá Đảo soạn một văn thư, đính kèm đơn của bà Đức,
xin Bộ Tổng Tham Mưu dành ưu tiên cho Quang. (Ghi chú: Thiếu Tá Lê Minh Đảo hồi 1974
được thăng Thiếu Tướng, giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ
Binh. Sau biến cố 1975, ông bị tù một thời gian dài. Hiện ông định cư
tại Hoa Kỳ. Năm 1966, Thiếu Tá Đảo giữ chức Giám Đốc Trung Tâm Hành Quân Quân
Đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật. Bấy giờ tôi có dịp thăm Cần Thơ, được
ông tiếp tại căn nhà tranh nổi bên sông, rồi ông đánh đàn cho nghe. Tôi mắc nợ
ông món nợ văn nghệ từ hồi đó đến giờ mà chưa trả được.
Nếu tính cả lời, chồng chất lên, e không trả nổi).
Tháng 8 năm 1968,
Quang được giấy gọi nhập học trường Thiếu Sinh Quân mà không phải
thi. Bà Đức thân dẫn con đi Vũng Tầu tŕnh diện. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Quang trở
thành một Thiếu Sinh Quân Việt Nam .
Quả thực trường Thiếu Sinh Quân
là thiên đường của Quang. Quang có nhiều bạn cùng lứa tuổi, dư thừa
chân khí, chạy nhẩy vui đùa suốt ngày. Quang thích nhất những giờ huấn luyện
tinh thần, những giờ học quân sự. C̣n học văn hóa th́ Quang lười, học
sao cho đủ trả nợ thầy, không bị phạt là tốt rồi. Quang thích đá
banh và học Anh Văn. Trong lớp, môn Anh Văn, Quang luôn đứng đầu. Chỉ mới
học hết Đệ Lục mà Quang đă có thể đọc sách báo bằng tiếng Anh, nói
chuyện lưu loát với cố vấn Mỹ. Giáo Sư Việt Văn của Quang là
Phạm Văn Viết, người mà Quang mượn bóng dáng để thay thế người
cha. Có lần thầy Viết giảng đến câu: "Nhân sinh tư cổ
thùy vô tư, Lưu thủy đan tâm chiếu hàn thanh." (Người ta sinh ra, ai mà không
chết. Cần phải lưu chút ḷng son vào thanh sử.) Quang thích hai câu này lắm,
luôn miệng ngâm nga, rồi lại viết vào cuốn sổ tay. Trong giờ học sử,
cũng như giờ huấn luyện tinh thần, Quang được giảng chi tiết
về các anh hùng: Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản, Thánh Tổ của Thiếu
Sinh Quân, giết tươi Toa Đô trong trận Hàm Tử. Quang cực kỳ sùng kính Báo Nghĩa
Vương Trần B́nh Trọng, từ chối công danh, chịu chết cho toàn chính khí. Quang
cũng khâm phục Nguyễn Biểu khi đối diện với quân thù, không sợ hăi, lại
c̣n tỏ ra khinh thường chúng. Ba nhân vật này ảnh hưởng vào Quang rất sâu đậm.
Suốt các niên học từ 1969 - 1974, mỗi kỳ hè được phép hai tháng rưỡi
về thăm nhà, cậu bé Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang t́m đến các đàn anh trấn
đóng tại Chương Thiện để tŕnh diện. Quang được các cựu
Thiếu Sinh Quân dẫn đi chơi, cho ăn quà, kể chuyện chiến trường cho
nghe. Một số ông anh uống thuốc liều, cho Quang theo ra trận. Quang chiến đấu
như một con sư tử. Không ngờ mấy ông anh cưng cậu em út quá, mà gây ra một
chuyện động trời, đến nỗi Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam, Bộ
Tư Lệnh MACV cũng phải rởn da gà! Sau trở thành huyền thoại. Câu truyện
như thế này:
Hè 1972, mà quân sử Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, giữa lúc chiến trường
toàn quốc sôi động. Bấy giờ Quang đă đỗ chứng chỉ 1 Bộ Binh.
Được phép về thăm nhà, được các đàn anh cho ăn, và giảng những
kinh nghiệm chiến trường, kinh nghiệm đời. Quang xin các anh cho theo ra trận.
Mấy ông cựu Thiếu Sinh Quân, trăm ông như một, ông nào gan cũng to, mật cũng
lớn, coi trời bằng vung. Yêu cậu em ngoan ngoăn, các ông chiều..... cho Quang ra trận.
Cuộc hành quân nào các ông cũng dẫn Quang theo. Trong một cuộc hành quân cấp sư
đoàn, đánh vào vùng Hộ Pḥng, thuộc Cà Mau. Đơn vị Quang theo là Trung Đội Trinh Sát
của Trung Đoàn 31. Trung Đội Trưởng là một Thiếu Úy cựu Thiếu Sinh Quân. Hôm
ấy thông dịch viên cho cố vấn bị bệnh, Quang lại giỏi tiếng Anh, nên
Thiếu Úy Trung Đội Trưởng biệt phái Quang làm thông dịch viên cho cố vấn là
Thiếu Úy Hummer. Trực thăng vừa đổ quân xuống th́ hiệu thính viên của
Hummer trúng đạn chết ngay. Lập tức Quang thay thế anh ta. Nghĩa là mọi liên
lạc vô tuyến, Hummer ra lệnh cho Quang, rồi Quang nói lại trong máy. Trung Đội tiến
vào trong làng th́ lọt trận địa phục kích của Trung Đoàn chủ lực miền,
tên Trung Đoàn U Minh. Trung Đội bị một Tiểu Đoàn địch bao vây. Vừa giao tranh được
10 phút th́ Hummer bị thương. Là người can đảm, Hummer bảo Quang đừng
báo cáo về Trung Tâm Hành Quân. Trận chiến kéo dài sang giờ thứ hai th́ Hummer lại trúng
đạn nữa, anh tử trận, thành ra không có ai liên lạc chỉ huy trực thăng
vơ trang yểm trợ... Kệ, Quang thay Hummer chỉ huy trực thăng vơ trang. V́ được
học địa h́nh, đọc bản đồ rất giỏi, Quang cứ tiếp tục
ra lệnh cho trực thăng vơ trang nả vào pḥng tuyến địch, coi như Hummer c̣n sống.
Bấy giờ quân hai bên gần như lẫn vào nhau, chỉ c̣n khoảng cách 20-30 thước.
Thông thường tại các quân trường Hoa Kỳ cũng như Việt Nam, dạy
rằng khi gọi pháo binh, không quân yểm trợ th́ chỉ xin bắn vào trận địa
địch với khoảng cách quân ḿnh 70 đến 100 thước. Nhưng thời điểm
1965-1975, các cựu Thiếu Sinh Quân trong khu 42 chiến thuật khi họp nhau để ăn
uống, siết chặt t́nh thân hữu, đă đưa ra phương pháp táo bạo là xin
bắn vào pḥng tuyến địch, dù cách ḿnh 20 thước. Quang đă được học
những phương pháp đó. Quang chỉ huy trực thăng vơ trang nả vào trận địch,
nhiều rockets (hỏa tiễn nhỏ), đạn 155 ly nổ sát quân ḿnh, làm những binh sĩ
non gan kinh hoảng. Nhờ vậy mà trận địch bị tê liệt. Sau khi được
giải vây, mọi người khám phá ra Quang lĩnh tới 7 viên đạn mà không chết:
trên mũ sắt có 4 vết đạn bắn hơm vào; hai viên khác trúng ngực, may nhờ có áo
giáp, bằng không Quang đă ô hô ai tai rồi. Viên thứ bẩy trúng hạ thể. Trung Tá
J. F. Corter, Cố Vấn Trưởng Trung Đoàn được Trung Đội Trưởng Trinh
Sát báo cáo Hummer tử trận lúc 11 giờ 15. Ông ngạc nhiên hỏi: - Hummer chết lúc 11:15
giờ mà tại sao tôi vẫn thấy y chỉ huy trực thăng, báo cáo đến lúc 17 giờ?
V́ được học kỹ về tinh thần trách nhiệm, Quang nói rằng ḿnh là người
lạm quyền, giả lệnh Hummer chỉ huy. Quang xin lỗi Corter. Trung Tá J. F. Corter tưởng
Quang là lính người lớn, đề nghị gắn huy chương Hoa Kỳ cho Quang.
Bấy giờ mới ḷi đuôi chuột ra rằng các ông cựu Thiếu Sinh Quân đă uống
thuốc liều, cho thằng em sữa ra trận. Đúng ra theo quân luật, mấy ông anh bị
phạt nặng, Quang bị đưa ra ṭa v́ "Không có tư cách mà lại chỉ huy." Nhưng
các vị sĩ quan trong Sư Đoàn 21, Trung Đoàn 31 cũng như cố vấn đều là những
người của chiến trường, tính t́nh phóng khoáng nên câu truyện bỏ qua. Quang
không được gắn huy chương, mà mấy ông anh cũng không bị phạt. Hết
hè, Quang trở về trường mang theo kỷ niệm chiến đấu cực đẹp
trong đời cậu bé, mà cũng là kỷ niệm đẹp vô cùng của Thiếu Sinh Quân
Việt Nam . câu truyện này trở thành huyền thoại. Huyền thoại này lan truyền
mau lẹ khắp năm tỉnh của khu 42 chiến thuật, Cần Thơ, Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Cà Mau, Chương Thiện. Quang trở thành người hùng lư tưởng của
những thiếu nữ tuổi 15-17!
Năm 1974, sau khi đỗ chứng chỉ 2 Bộ
Binh, Quang ra trường mang cấp bậc Trung Sĩ. Quang nộp đơn xin về Sư
Đoàn 21 Bộ Binh... Quang được toại nguyện. Sư đoàn phân phối Quang về
Tiểu Đoàn Ngạc Thần, tức Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 31, Tiểu Đoàn của Trần Minh
sáu năm trước. Thế là giấc mơ 6 năm trước của Quang đă thành sự
thật. Trung Đoàn 31 Bộ Binh đóng tại Chương Thiện. Bấy giờ Tỉnh
Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn,
Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời. Cả hai đều
là cựu Thiếu Sinh Quân cao niên nhất vùng Chương Thiện bấy giờ (36 tuổi)
. Các cựu Thiếu Sinh Quân trong Tiểu Đoàn 2 - 31 dẫn Quang đến tŕnh diện Anh Hai
Cẩn. Sau khi anh em gặp nhau. Cẩn đuổi tất cả tùy tùng ra ngoài để anh
em tự do xả xú bắp. Cẩn bẹo tai Quang một cái, Quang đau quá nhăn mặt.
Cẩn hỏi: - Ê! Quang, nghe nói mày lĩnh bẩy viên đạn mà không chết, th́ mày thuộc
loại ḿnh đồng da sắt. Thế sao tao bẹo tai mày, mà mày cũng đau à? - Dạ,
đạn Việt Cộng th́ không đau. Nhưng vuốt anh cấu th́ đau. - Móng tay
tao, đâu phải vuốt? - Dạ, người ta nói anh là cọp U Minh Thượng...
th́ vuốt của anh phải sắc lắm! - Hồi đó suưt chết, thế bi giờ
mày ra trận có sợ không? - Nếu khi ra trận, anh sợ th́ em mới sợ. Cái ḷ Thiếu
Sinh Quân có bao giờ nặn ra một thằng nhát gan đâu?
- Thằng này được.
Thế mày đă tŕnh diện anh Thời chưa? - Dạ, anh Thời Thẹo không có nhà. Thiếu
Tá Nguyễn Văn Thời, Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu, uy quyền biết mấy,
thế mà một Trung Sĩ 18 tuổi dám gọi cái tên húy thời thơ ấu ra, th́ quả
là một sự phạm thượng ghê gớm. Nhưng cả Thời lẫn Quang cùng là cựu
Thiếu Sinh Quân th́ lại là một sự thân mật. Sau đó anh em kéo nhau đi ăn trưa.
Lớn, bé cười nói ồn ào như không biết tới những người chung quanh.
(Ghi chú: Thiếu Tá Thời, cựu Thiếu Sinh Quân, gốc người Huế, tính t́nh ôn nhu
văn nhă, nhưng rất can đảm, hiện ông định cư tại Boston , Hoa Kỳ)
. Bấy giờ tin Trần Minh đă đền nợ nước tại giới tuyến
miền Trung. Sự ra đi của người đàn anh, của người hùng lư tưởng
làm Quang buồn không ít. Nhưng huyền thoại về Trần Minh lưu truyền, càng làm
chính khí trong người Quang bừng bừng bốc lên. Tại Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tất
cả các hạ sĩ quan cũng như các Thiếu Sinh Quân mới ra trường, thường
chỉ được theo hành quân như một khinh binh. Đợi một vài tháng đă quen với
chiến trường, rồi mới được chỉ định làm Tiểu Đội
Trưởng. Nhưng vừa tŕnh diện, Quang được cử làm Trung Đội Phó ngay,
dù hầu hết cả Tiểu Đội Trưởng đều ở cấp Trung Sĩ, Trung
Sĩ Nhất, mà những người này đều vui ḷng tuân lệnh Quang răm rắp!
Sáu tháng sau, đầu năm 1975 nhờ chiến công, Quang được thăng Trung Sĩ
Nhất, nhưng chưa đủ một năm thâm niên, nên chưa được gửi
đi học sĩ quan. Quang trở thành nổi tiếng trong trận đánh ngày 1-2-1975, tại
Thới Lai, Cờ Đỏ. trong ngày hôm ấy, đơn vị của Quang chạm phải Tiểu
Đoàn Tây Đô. Đây là một Tiểu Đoàn được thành lập từ năm 1945, do các sĩ
quan Nhật Bản không muốn về nước, trốn lại Việt Nam ... huấn luyện.
Quang đă được Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn giảng về kinh nghiệm chiến
trường: "Tây Đô là Tiểu Đoàn cơ động của tỉnh cần Thơ. Tiểu
Đoàn có truyền thống lâu đời, rất thiện chiến. Khi tác chiến cấp Đại
Đội, Tiểu Đoàn chúng không hơn các đơn vị khác là bao. Nhưng tác chiến cấp
Trung Đội, chúng rất giỏi. Chiến thuật thông thường, chúng dàn ba Tiểu Đội
ra, chỉ Tiểu Đội ở giữa là nổ súng. Nếu thắng thế, th́ chúng bắn
xối xả để uy hiếp tinh thần ta, rồi hai Tiểu Đội hai bên xung phong.
Nếu yếu thế th́ chúng lui. Ta không biết đuổi theo th́ sẽ dẵm phải ḿn,
rồi bị hai Tiểu Đội hai bên đánh ép. V́ vậy khi đối trận với chúng,
phải im lặng không bắn trả, để chúng tưởng ta tê liệt. Khi chúng bắt
đầu xung phong th́ dùng vũ khí cộng đồng nả vào giữa, cũng như hai
bên. Thấy chúng chạy th́ tấn công hai bên, chứ đừng đuổi theo. C̣n như
chúng tiếp tục xung phong ta phải đợi chúng tới gần rồi mới phản
công." Bây giờ Quang có dịp áp dụng. Sau khi trực thăng vận đổ quân xuống.
Cả Đại Đội của Quang bị địch pháo chụp lên đầu, đại liên
bắn xối xả. Không một ai ngóc đầu dậy được. Nhờ pháo binh,
trực thăng can thiệp, sau 15 phút Đại Đội đă tấn công vào trong làng. Vừa tới
b́a làng, Thiếu Úy Trung Đội Trưởng của Quang bị trúng đạn lật ngược.
Quang thay thế chỉ huy Trung Đội. Trung Đội dàn ra thành một tuyến dài đến
gần trăm mét. Đến đây th́ phi pháo không can thiệp được nữa, v́ quân hai
bên chỉ cách nhau có 100 mét, gần như lẫn vào nhau. Nhớ lại lời giảng của
Cẩn, Quang ra lệnh im lặng, chỉ nổ súng khi thấy địch. Ngược lại
ngay trước mặt Quang, khoảng 200 thước là một cái hầm lớn, ngay trước
hầm hai khẩu đại liên không ngừng nhả đạn. Quang ghi nhận vị trí
hai khẩu đại liên với hai khẩu B40 ra lệnh: "Lát nữa khi chúng xung phong th́
dùng M79 diệt hai khẩu đại liên, B40, rồi hăy bắn trả." Sau gần 20 phút,
th́nh ĺnh địch xả súng bắn xối xả như mưa, như gió, rồi tiếng
hô xung phong phát ra. Chỉ chờ có thế, M79 của Quang khai pháo. Đại liên, B40 bị bắn
tung lên, trong khi địch đang xung phong. Bấy giờ Trung Đội của Quang mới bắn
trả. Chỉ một loat đạn, toàn bộ p̣ng tuyến địch bị cắt. Quang
ra lệnh xung phong. Tới căn hầm, binh sĩ không dám lại gần, v́ bị lựu
đạn từ trong ném ra. Quang ra lệnh cho hai khẩu đại liên bắn yểm trợ,
rồi cho một khinh binh ḅ lại gần, tung vào trong một quả lựu đạn cay.
Trong khi Quang hô: - Ra khỏi hầm, dơ tay lên đầu! bằng không lựu đạn
sẽ ném vào trong!
Cánh cửa hầm mở
ra, mười tám người, nam có, nữ có, tay dơ trên đầu, ra khỏi hầm, lựu
đạn cay làm nước mắt dàn dụa. Đến đây trận chiến chấm dứt.
Th́ ra 18 người đó là Đảng Bộ và Ủy Ban Nhân Dân của Huyện Châu Thành Cần
Thơ. Trong đó có viên Huyện Ủy và viên Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Huyện.
Sau
trận này Quang được tuyên dương công trạng trước quân đội, được
gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu. Trong lễ chiến
thắng giản dị, Quang được một nữ sinh trường Đoàn Thị Điểm
quàng ṿng hoa. Nữ sinh đó là Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi, học lớp Đệ Ngũ. Cho
hay, anh hùng với giai nhân xưa nay thường dễ cảm nhau. Quang, Châu yêu nhau từ đấy.
Họ viết thư cho nhau hàng ngày. Khi có dịp theo quân qua Cần Thơ, thế nào Quang cũng
gặp Châu. Đôi khi Châu táo bạo, xuống Chương Thiện thăm Quang. Mẹ Quang biết
chuyện, bà lên Cần Thơ gặp cha mẹ Châu. Hai gia đ́nh đính ước với
nhau. Họ cùng đồng ư: Đợi năm tới, Quang xin học khóa sĩ quan đặc
biệt, Châu 17 tuổi th́ cho cưới nhau. Nhưng mối t́nh đó đă đi vào lịch
sử...
T́nh h́nh toàn quốc trong tháng 3, tháng 4 năm 1975 biến chuyển mau lẹ. Ban
Mê Thuột bị mất. Quân Đoàn 2 rút lui khỏi cao nguyên, Quân Đoàn 1 bỏ mất lănh thổ.
Rồi các sĩ quan Bộ Tổng Tham Mưu được Hoa Kỳ bốc đi. Ngày 29
tháng 4, trung Đội của Quang chỉ c̣n 10 người. Tiểu Đoàn Trưởng, Đại Đội
Trưởng bỏ ngũ về lo di tản gia đ́nh. Quang vào bộ Chỉ Huy Tiểu Khu
Chương Thiện tŕnh diện Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Cẩn an ủi: - Em
đem mấy người thuộc quyền vào đây ở với anh. Ngày 30 tháng 4 năm
1975, Dương Văn Minh phát thanh bản văn ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng
Ḥa buông súng đầu hàng. Các đơn vị quân đội Miền Nam tuân lệnh, cởi
bỏ chiến bào, về sống với gia đ́nh. Một vài đơn vị lẻ tẻ
c̣n cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các đơn vị Dù tại Sàig̣n ngừng
lúc 9 giờ 7 phút. Đúng lúc đó tại Chương Thiện, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu
Khu Trưởng là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, ông đang chỉ huy các đơn vị
thuộc quyền chống lại cuộc tấn công của cộng quân. Phần thắng
đă nằm trong tay ông. Lệnh của Dương Văn Minh truyền đến. Các Quận
Trưởng chán nản ra lệnh buông súng. Chỉ c̣n tỉnh lỵ là vẫn chiến đấu.
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ra lệnh: "Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống
trái với hiến pháp. Ông ta không có tư cách của vị Tổng Tư Lệnh. Hăy tiếp
tục chiến đấu." Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần
dần bị tràn ngập, v́ quân ít, v́ hết đạn, v́ mất tinh thần. Chỉ c̣n lại
Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, có một Đại Đội Địa
Phương Quân cùng nhân viên Bộ Tham Mưu. Đến 13 giờ, đạn M79 hết. Tới
14 giờ 45, th́ đạn hết, làm sóng cộng quân tràn vào trong Bộ Chỉ Huy. Cuối
cùng chỉ c̣n một ổ kháng cự từ trong hầm chiến đấu, nơi đó
có khẩu đại liên. Một quả lựu đạn cay ném vào trong hầm, tiếng súng
im bặt. Quân Cộng Sản vào hầm lôi ra hai người. Một là Đại Tá Hồ Ngọc
Cẩn, Tỉnh Trưởng, kiêm Tiểu Khu Trưởng và một Trung Sĩ mới 19 tuổi.
Trung Sĩ đó tên là Vũ Tiến Quang. Bấy giờ đúng 15 giờ.
Kẻ chiến
thắng trói người chiến bại lại. Viên Đại Tá Chính Ủy của đơn
vị có nhiệm vụ đánh tỉnh Chương Thiện hỏi: - Đ.M. Tại sao có
lệnh đầu hàng, mà chúng mày không chịu tuân lệnh? Đại Tá Cẩn trả lời
bằng nụ cười nhạt. Trung Sĩ Quang chỉ Đại Tá Cẩn: - Thưa
Đại Tá, tôi không biết có lệnh đầu hàng. Ví dù tôi biết, tôi cũng vẫn chiến
đấu. V́ anh ấy là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Anh ra lệnh chiến
đấu th́ tôi không thể căi lệnh.
Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài
Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Viên Chính Ủy chỉ những xác chết nói với Đại Tá
Cẩn: - Chúng mày là hai tên ngụy ác ôn nhất. Đ.M, chúng mày sẽ phải đền tội.
Đại Tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn cười nhạt. Trung Sĩ Quang
ngang tàng: - Đại Tá có lư tưởng của Đại Tá. Tôi có lư tưởng của tôi. Đại
Tá theo Karl Marx, theo Lenin; c̣n tôi, tôi theo vua Hùng, vua Trưng. Tôi tuy bại trận, nhưng tôi vẫn
giữ lư tưởng của tôi... Tôi không gọi Đại Tá là tên Việt Cộng. Tại sao
Đại Tá lại mày tao, văng tục với chúng tôi như bọn ăn cắp gà, phường
trộm trâu vậy? Phải chăng đó ngôn ngữ của Đảng Cộng Sản? Viên
Đại Tá rút súng kê vào đầu Quang: - Đ.M. Tao hỏi mày, bây giờ th́ mày có chính nghĩa
hay tao có chính nghĩa? - Xưa nay súng đạn trong tay ai th́ người đó có lư. Nhưng
đối với tôi, tôi học trường Thiếu Sinh Quân, súng đạn là đồ
chơi của tô i từ bé. Tôi không sợ súng đâu. Đại Tá đừng dọa
tôi vô ích. Tôi vẫn thấy tôi có chính nghĩa, c̣n đại Tá không có chính nghĩa. Tôi là con
cháu Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản mà. - Đ.M. Mày có chịu nhận mày là tên
Ngụy không? - Tôi có chính nghĩa th́ tôi không thể là Ngụy. C̣n Cộng quân dùng súng giết
dân mới là Ngụy, là giặc cướp. Tôi nhất quyết giữ chính khí của tôi như
Bảo Nghĩa Vương Trần B́nh Trọng, như Nguyễn Biểu. Quang cười
ngạo nghễ: - Nếu Đại Tá có chính nghĩa tại sao Đại Tá lại dùng lời
nói thô tục với tôi? Ừ! Muốn mày tao th́ mày tao. Đ.M. tên Cộng Sản ác ôn! Nếu tao
thắng, tao dí súng vào thái dương mày rồi hỏi: Đ.M. mày có nhận mày là tên Việt Cộng
không? Th́ mày trả lời sao? Một tiếng nổ nhỏ, Quang ngă bật ngửa, óc phọt
ra khỏi đầu, nhưng trên môi người thiếu niên c̣n nở nụ cười.
Tôi không có mặt tại chỗ thành ra không mường tượng ư nghĩa nụ cười
đó là nụ cười ǵ? Độc giả của tôi vốn thông minh, thử đoán xem nụ
cười đó mang ư nghĩa nào? Nụ cười hối hận? Nụ cười ngạo
nghễ? Nụ cười khinh bỉ? Hay nụ cười thỏa măn? (Ghi chú: Nhân chứng
quan trọng nhất chứng kiến tận mắt cái chết của Vũ Tiến Quang thuật
cho tác giả nghe là cô Vũ Thị Quỳnh Chi. Cô là em ruột của Quang, nhỏ hơn Quang
4 tuổi. Lúc anh cô bị giết, cô mới 15 tuổi (cô sinh năm 1960). Năm 1999, cô là phu
nhân Bác Sĩ Jean Marc Bodoret, học tṛ của tôi, cư trú tại Marseille.) Cái lúc mà Quang ngă
xuống th́ trong đám đông dân chúng ṭ ṃ đứng xem có tiếng một thiếu nữ
thét lên như xé không gian, rồi cô rẽ những người xung quanh tiến ra ôm lấy
xác Quang. Thiếu nữ đó là Nguyễn Hoàng Châu. Em gái Quang là Vũ Thị Quỳnh Chi đă
thuê được chiếc xe ba bánh. Cô cùng Nguyễn Hoàng Châu ôm xác Quang bỏ lên xe, rồi
bọc xác Quang bằng cái Poncho, đem chôn.
Chôn Quang xong, Châu từ biệt Quỳnh Chi
trở về Cần Thơ. Nhưng ba ngày sau, vào một buổi sáng sớm, Quỳnh Chi đem
vàng hương, thực phẩm ra cúng mộ anh th́ thấy Châu trong bộ y phục trắng
của nữ sinh, chết gục bên cạnh. Mặt Châu vẫn tươi, vẫn đẹp
như lúc sống. Đích thân Quỳnh Chi dùng mai, đào hố chôn Châu cạnh mộ Quang.
Năm 1998, tôi có dịp
đi công tác y khoa trong đoàn Liên Hiệp Các Viện Bào Chế Châu Âu (CEP - Coopérative Européenne
Parmaceutique). Tôi đem J. M.. Bodoret cùng đi. Quỳnh Chi xin được tháp tùng chồng.
Lợi dụng thời gian nghỉ công tác 4 ngày, từ Sàig̣n, chúng tôi thuê xe đi Chương
Thiện, t́m lại ngôi mộ Quang-Châu. Ngôi mộ thuộc loại vùi nông một nấm dăi
dầu nắng mưa, cỏ hoa trải 22 năm, rất khó mà biết đó là ngôi mộ.
Nhưng Quỳnh Chi có trí nhớ tốt. Cô đă t́m ra. Cô khóc như mưa, như gió, khóc đến
sưng mắt. Quỳnh Chi xin phép cải táng, nhưng bị từ chối. Tuy nhiên, cuối
cùng có tiền thi mua tiên cũng được. Giấy phép có, Quỳnh Chi cải táng mộ
Quang-Châu đem về Kiến Hưng, chôn cạnh mộ của ông Vũ Tiến Đức. Quỳnh
Chi muốn bỏ hài cốt Quang-Châu vào hai cái tiểu khác nhau. Tôi là người lăng mạng.
Tôi đề nghị xếp hai bộ xương chung với nhau vào trong một cái ḥm. Bodoret
hoan hô ư kiến của sư phụ. Ngôi mộ của ông Đức, của Quang-Châu xây xong.
Tôi cho khắc trên miếng đồng hàng chữ: "Nơi đây AET Vũ
Tiến Quang, 19 tuổi. An giấc ngàn thu cùng Vợ là Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi Nở
nụ cười thỏa măn v́ thực hiện được giấc mộng"
Giấc
mộng của Quang mà tôi muốn nói, là được nhập học trường Thiếu
Sinh Quân, rồi trở thành anh hùng. Giấc mộng của Châu là được chết, được
chôn chung với người yêu. Nhưng người ta có thể hiểu rằng: Quang thỏa
măn nở nụ cười v́ mối t́nh trọn vẹn.¨
TRẦN ĐẠI SỸ
| |
NHỮNG V̀ SAO THỜI LỬA ĐẠN
UNTOLD STORY section – vnafmamn.com
MORE PAGES TO READ • THE BROKEN PROMISES (page#2) • VIETNAM WAR THE REAL STORY (page#3) • THE MYTHS START TO FALL(page#4) • AMERICA'S BITTER END (page#5) • FLIGHT FREEDOM (page#6) • GRASP THE PAST... (page#7)
When ever talking about Vietnam War, most of the US politicians, officials,
journalists, or political pundits would mention it in a way the war is their own, the South Vietnamese at that moment seem
to be invisible or just the bystanders, bearing no brunt of the war effort. But there was one day, only one single day in
which all of them would shy away from that claim. The day they have nothing to do with that war. The day they return the outcome
back to the South Vietnamese: The APRIL 30th 1975.
For that reason, one has heard some very familiar words like "The
Fall of Saigon," "Evacuation," "Frequent Wind Operation," etc. Those technical terms and euphemism are conveniently served
just like the toilet papers to cover somebody's own mistakes and to wipe out his embarrassing accident. So let's tell straight
out what it is on that day: Cut-and-run.
April 30th, 1975: The day South Vietnam is delivered to Evil due to betrayal
and abandonment. If you have never been told the real ugly stories of that fatal day, then this is the chance. Let the following
photos speak for the innocent civilians, the abandoned plain sodiers, and the deads!
"Those who cannot remember the past are condemned to repeat it." George Santayana (1863 - 1952)
DECLASSIFIED DOCUMENT REVEALED THE SELLOUT OF SOUTH VIETNAM
In Beijing on June 22, 1972, Kissinger told Zhou the U.S. acknowledged its North Vietnamese
enemy was a "permanent factor" and probably the "strongest entity" in the region. "And we have had no interest in destroying
it or even defeating it," he insisted. And more:
"...And while we cannot bring a communist government to power, if,
as a result of historical evolution it should happen over a period of time, if we can live with a communist government in
China we ought to be able to accept it in Indochina..."
For a complete Kissinger-Zhou transcript (Conversation regarding
Vietnam deal is between page 27 - page 37), click: THE SECRET POLITICAL DEAL
"In the end, we simply cut and ran. The American national will had collapsed." US Ambassador to
South Vietnam, Graham Martin
...My father kicked the overloaded scooter into gear with all six of us aboard, and we started weaving toward
the dirty alley. I looked back at our house and wondered if I would ever see it again. The sandbags above our homemade bomb
shelter seemed to be sliding off the roof; the shadow of the trees in the front yard shifted with the wind; the fragrance
from our green mango tree floated in the air. Our house. Our home. I got one last look before the scooter sped away. Milou
ran after us, but we couldn't take him along. We lost him in the dust cloud kicked up by the scooter. We abandoned him, the
same way the United States left South Vietnam, like a dog that just didn't fit into its plans...
Excerpt from "A
Sense of Duty, My Father, My American Journey" by Quang X. Pham
 |
LAST DAY IN SAIGON (VIDEO)
Story of the final day of Saigon told by Frank Snepp, a former CIA agent in Vietnam (author of the controversial
book "Decent Interval" about the fall of Saigon, published in 1977). Listen to Frank Snepp's narration to know what he meant
South Vietnam has been sold out and to understand why he left "his soul" in Vietnam from that fatal day, Aril 30, 1975.
Click
the left thumbnail picture to view part1video and the right one, part 2 video. |
|
JOURNEY FROM THE FALL
If history is written by the victors, then folklore is the testimony of the vanquished. When I was researching
communist re-education camps and Vietnamese boat people to write Journey From The Fall, I met with these dilemmas: 1) The
short chapter in American history books about the Vietnam War ends on April 30, 1975, the day American forces pulled out of
Vietnam. Our story begins where the history books end. 2) I couldn't find any images of the communist re-education camps and
could collect only a handful of boat people images from rescue archives.
So was it all just folklore then – the
incredible stories of survival that my friend Uyen tells me about how she fled Vietnam in a tiny fishing boat packed with
nearly 100 people, that drifted for 22 days, how they were robbed by pirates several times, and how she witnessed a woman
losing her sanity because she was raped repeatedly by pirates in every one of those encounters? Such stories are very common
among Vietnamese immigrants, yet virtually non-existent for the rest of the world. Why is that so?
The answer became
clear to me the first time I saw the black and white production stills taken by Carol Petersen (our production photographer)
for Journey From The Fall. When I saw the stills of the Fall of Saigon scene I realized that the world does not know about
the communist re-education camps and Vietnamese boat people because they've never seen images of them before. No one was there
to document this journey that over two million Vietnamese were forced to take in the three decades since April 30, 1975.
By
now, every one of the nearly one thousand communist re-education camps in Vietnam that once housed hundreds of thousands of
political prisoners have been torn down, and all traces of their existence have been erased. Only a few refugee camps now
remain in Southeast Asia, where nearly two million boat people once lived in transit while they waited to be sponsored by
first-world nations such as America, Australia and Canada.
When one considers the Holocaust, if not for the breadth
of the photographs and images that exposed the atrocities committed by the Nazis, who knows how much of that history would
have been lost to time? Yet history was held and reclaimed for the Jewish community because someone was there to capture the
reality of that inhumanity. The pain of a people can only be reconciled once the world has born witness to that pain. We have
collected the personal accounts of re-education camp survivors and family memories about the boat people experience, and we
know what it was like to grow up as refugee immigrants in the United States. These stories are part of the history that has
made us who we are, a history too young to remember, but not too old to forget.
(Ham Tran's Director statement)
Click on the thumbnail pix below for a video clip of the movie |
|
A FAREWELL LETTER
Within a day after that letter was sent, Sirik Matak, Long Boret, Lon Non (Lon Nol's
brother), and most members of Lon Nol's cabinet who declined to be "evacuated" with the Americans, instead staying to share
the fate of their people were executed by Khmer Rouge units in Phnom Penh on April 17, 1975. It was the beginning of the "killing
field" in Cambodia.
Two weeks later, The Vietnamese Communist marched into Saigon, starting the silent death camps
called "Reeducation Camps."
A CAMBODIAN HERO
 Prince SISOWATH SIRIK MATAK |
Prince SISOWATH SIRIK MATAK
Prince Sisowath Sirik Matak (January 22, 1914 — April 21, 1975) was a prince of Cambodia.
Sirik
Matak was born in Phnom Penh, Cambodia. In 1941, he was passed over by the French government in favor of his cousin Norodom
Sihanouk as King.
In March 18, 1970, Sirik Matak assisted General Lon Nol, who had been serving as prime minister,
in a coup d'etat and was granted emergency powers by the National Assembly. Sirik Matak, retained his post as deputy prime
minister.
On April 1, 1975, President Lon Nol resigned and left the country. On April 12, 1975, Sirik Matak was offered
political asylum by the United States' Ambassador to Cambodia John Gunther Dean, inviting high officials of the Khmer Republic,
but Sirik Matak, Long Boret, Lon Non (Lon Nol's brother), and most members of Lon Nol's cabinet declined.
Prince Sirik
Matak and the officials that remained along with him, were executed by the Khmer Rouge on April 21, 1975, in Phnom Penh.
|
The fall of Saigon drove many people into not only suicide but serious mental disorder as well. Ten years later,
some physicians said that at least one thousand people around the Saigon area suffered incurable insanity on that day of the
Black April.
Maj. Vinh was one among many others who committed suicide on and after April 30, 1975. Those who committed
suicide were mostly officers, politicians, government officials, young NCOs, or just plain soldiers were estimated at several
hundreds. But only some famous cases were fully recorded as follows.
REQUIEM
 Major DANG SI VINH |
ARVN Major DANG SI VINH
At about 2:00 PM on April 30, 1975, almost two hours after South Vietnam President Duong Van Minh surrendered
to the Communists, people near by heard several pistol reports from his home. After hesitating for safety, his neighbors got
into his home to find Major Vinh, his wife and his seven children lying each on a single mattress, all dead, each by one .45
caliber bullet that gushed pools of blood from the horrible holes at their temples. On a long dining table, decent meals had
been served and eaten as if in an usual and peaceful dinner. There were nine small glasses, all had traces of a pink powder
left at their bottoms. Apparently, Maj. Vinh and his relatives had taken the drug - probably sleeping pills - before Vinh
gave each a finishing stroke with his .45 pistol. In an open small safe he left some hundreds of thousands South Vietnam piasters,
rated about 500 dollars at the time, an indication of his poor circumstances as an army major. On the note along with the
money, Vinh wrote:
"Dear neighbors," "Forgive us. Because our family would not live under the Communist regime,
we have to end our lives this way that might be bothering you. Please inform my only sibling, a sister named ... at... and
use this money to help her bury us anywhere. " "Thank you," "Dang Si Vinh."
|
 Brigadier General LE VAN HUNG |
ARVN Brigadier General LE VAN HUNG (1933-1975)
Brigadier General, deputy commander of the IV Corps/Military Region 4 at Can Tho. Hung was born in Gia Dinh
province near Saigon.
In 1954, he was drafted and received training in the Thu Duc Reserve Officers School, Class 5,
graduated second-lieutenant in January 1955. In January 1959, First Lieutenant Hung was the 32nd Infantry Regiment S-2 when
the Viet Cong conducted a surprise attack at the regiment base camp in Trang Sup, Tay Ninh province, and took away a large
number of weapons. As the duty officer of the regiment headquarters, he bravely commanded the reconnaissance platoon, the
only soldiers present in the barracks, to resist and to protect the other parts of the headquarters and other materials and
equipment from being destroyed or lost.
In 1961 he was appointed Chief of Police Department of Vinh Binh province,
and later a battalion commander when he was a captain in 1964. In 1967, he became the commander, 31st Infantry Regiment. Then
he was assigned province chief of Phong Dinh (Can Tho). June 1971, Hung was given the command of the 5th Infantry Division
and promoted brigadier general in 1 March 1972. He proved to be a talented and brave infantry commander in the bloody battle
of An Loc during the Summer 1972 Campaign. He held firmly the city of An Loc under the enemy fierce attacks that lasted 2
months.
Until his death, Hung had successively been assistant commander, III Corps/Military Region 3; commander, 21st
Infantry Division; and deputy commander, IV Corps/Military Region 4. At 8:30 PM, 30 April 1975, his troops still kept the
city of Can Tho under control. A delegation of the city people came to see him and convinced him - as he was the deputy commander
- that his ARVN forces should not fight to death as they certainly would, because the people. were sure that the Communists
would spare nobody in Can Tho in order to win. They would not hesitate to shell Can Tho into rubble. General Le Van Hung and
the commander, General Nguyen Khoa Nam, dropped their intention to fight to the last bullet. Hung then said farewell to his
men, his wife and children before he killed himself by a .45 pistol. It was 8:45 PM, 30 April 1975.
|
 Brigadier General LE NGUYEN VY
|
ARVN Brigadier General LE NGUYEN VY (1933-1975)
Brigadier general, commander, 5th Infantry Division at Lai Khe. General Vy was born in Son Tay province, North
Vietnam. He graduated from the officers candidate course in the Regional Military School, Military Region II at Phu Bai near
Hue, Class 1951. After receiving the order to surrender, General Vy committed suicide by a pistol at 11:00 AM, 30 April 1975
at the division headquarters in Lai Khe.
|
 Major General NGUYEN KHOA NAM
|
ARVN Major General NGUYEN KHOA NAM (1927-1975)
Major general, commander IV Corps and Military Region 4. General Nam was born in Quang Nam province. He was
drafted and graduated from Thu Duc Reserve Officers School, Class 3 in 1953.
General Nam was highly respected by his
subordinates, his equals, even his superiors, as well as the people in his region ever since he commanded the 7th Infantry
Division. His spirit of discipline made him a good example to his soldiers.
At 11:30 PM, 30 April 1975, General Nam
killed himself after saying farewell to his staff and talking by telephone with General Le Van Hung, who had ended his life
earlier.
|
 Brigardier General TRAN VAN HAI |
ARVN Brigardier General TRAN VAN HAI (1927-1975)
Brigadier general, commander, 7th Infantry Division at Dong Tam, near My Tho.
General Hai was born in
Phong Dinh province (Can Tho). He graduated from the Dalat Military Academy, Class 7, 1951. Hai was renown of being incorruptible,
outspoken and brave. In 1968, he was commanding the Ranger Branch Command, directly supervising the Ranger's raid to clear
the enemy force that infiltrated into the business quarter of Cho Lon area. He was then assigned National Police Chief. In
1970 he was commander, Special Tactical Area 44... before commanding the 7th Division. He won the adoration of everyone who
once worked with him, as he was renown of being incorruptible.
At midnight,30 April 1975, he committed suicide at the
Division Headquarters, Dong Tam Army Base.
|
 General PHAM VAN PHU |
ARVN General PHAM VAN PHU (1927-1975)
Commander, II Corps/Military Region 2.
General Phu was born in Ha Dong, North Vietnam. He graduated
the Dalat Military Academy, Class 8. In 1954, Phu was a company officer in the 5th Parachutist Battalion of the Army of the
State of Vietnam, fighting beside the French in Dien Bien Phu. In the ARVN, Phu had been commander of the Special Force, the
2nd Infantry Division, Quang Trung Training Center, before taking the command of the II Corps/Military Region II in Pleiku.
His troops suffered heavy losses on the way of withdrawal to the coastal areas in April 1975. General Phu committed suicide
on 30 April 1975 in Saigon.
|
Colonel HO NGOC CAN at the Communist Kangaroo martial court.
|
ARVN Colonel HO NGOC CAN (1940-1975)
He was one who elected to commit suicide by fighting to death.
Ho Ngoc Can was admitted in the ARVN
Junior Military Academy when he was 14 years old. After graduation, he served 4 years as an instructor sergeant in the same
academy. In 1961, he attended the Officer Candidates Class at the Dong De NCO Academy and was the distinguished graduate of
the Class in 1962.
After commissioned, Can served the Ranger Corps as a platoon leader. He was promoted to captain
in 1965, to major in 1968, to lieutenant colonel in 1971, and to full colonel in 1974. He was successfully commanding the
1/33 Battalion (21st Infantry Division), the 15th Regiment (9th Inf. Div.). In 1974, Can was appointed province chief of Chuong
Thien Province, Vietnam deep south area. On April 30, 1975, he refused to surrender to the enemy. Along with his troops, Can
was fighting with all his might, holding the provincial headquarters until 11:00 PM on May 1, when his forces were out of
ammunition. In the last minutes, he ordered the soldiers to leave the headquarters for safety while he and a faithful Popular
Force militiaman covered them with a machine gun. He fell into the hands of the Communist force after he failed an attempt
to kill himself. He told the enemy that he wouldn't surrender, and asked them to let him salute the ARVN colors with his uniform
on before the execution.
Colonel Can was publicly executed by the Communist firing squad after a quick summary trial
at a Communist kangaroo court.
|
ORIGIN OF TAPS
During the Civil War, in July 1862 when the Army of the Potomac was in camp, Brig. Gen. Daniel Butterfield summoned
Pvt. Oliver Wilcox Norton, his brigade bugler, to his tent. Butterfield, who disliked the colorless "extinguish lights" call
then in use, whistled a new tune and asked the bugler to sound it for him. After repeated trials and changing the time of
some notes which were scribbled on the back of an envelope, the call was finally arranged to suit Gen. Butterfield and used
for the first time that night. Pvt. Norton, who on several occasions, had sounded numerous new calls composed by his commander,
recalled his experience of the origin of "Taps" years later:
"One day in July 1862 when the Army of the Potomac was
in camp at Harrison's Landing on the James River, Virginia, resting and recruiting from its losses in the seven days of battle
before Richmond, Gen. Butterfield summoned the writer to his tent, and whistling some new tune, asked the bugler to sound
it for him. This was done, not quite to his satisfaction at first, but after repeated trials, changing the time of some of
the notes, which were scribbled on the back of an envelope, the call was finally arranged to suit the general.
"He
then ordered that it should be substituted in his brigade for the regulation "Taps" (extinguish lights) which was printed
in the Tactics and used by the whole army. This was done for the first time that night. The next day buglers from nearby brigades
came over to the camp of Butterfield's brigade to ask the meaning of this new call. They liked it, and copying the music,
returned to their camps, but it was not until some time later, when generals of other commands had heard its melodious notes,
that orders were issued, or permission given, to substitute it throughout the Army of the Potomac for the time-honored call
which came down from West Point.
In the western armies the regulation call was in use until the autumn of 1863. At
that time the XI and XII Corps were detached from the Army of the Potomac and sent under command of Gen. Hooker to reinforce
the Union Army at Chattanooga, Tenn. Through its use in these corps it became known in the western armies and was adopted
by them. From that time, it became and remains to this day the official call for "Taps." It is printed in the present Tactics
and is used throughout the U.S. Army, the National Guard, and all organizations of veteran soldiers.
Gen. Butterfield,
in composing this call and directing that it be used for "Taps" in his brigade, could not have foreseen its popularity and
the use for another purpose into which it would grow. Today, whenever a man is buried with military honors anywhere in the
United States, the ceremony is concluded by firing three volleys of musketry over the grave, and sounding with the trumpet
or bugle "Put out the lights. Go to sleep"...There is something singularly beautiful and appropriate in the music of this
wonderful call. Its strains are melancholy, yet full of rest and peace. Its echoes linger in the heart long after its tones
have ceased to vibrate in the air." (Source: Arlington Cemetery)
|
Back to "UNTOLD STORIES PAGE #1"
Some art works, photos, and articles are properties of their owners, the rest by VNAF MA MN.© Copyright
2005 vnafmamn.com.
|
|