
|

|
|

> Bí mật của một câu kinh Phật >
> (Trích bài của Phạm Thành Châu trong Người Việt ly hương Úc Châu) >
> Vừa rồi, chúng tôi, những người bạn chí thân từ thời c̣n đi học
ở Việt Nam
trước 1975, rủ nhau qua Canada
thăm mấy ông bạn khác. Chúng tôi đến thành phố Montreal
vào mùa hè nên không lạnh lắm. Ở Mỹ hay Canada,
nhà cửa, cách sinh hoạt không khác nhau mấy. Và việc đi thăm bạn bè th́ cũng
chẳng có ǵ đáng kể ra đây nếu không có một câu chuyện, mà nếu bạn nghe
được, chắc cũng sẽ ngạc nhiên, đặt nhiều câu hỏi. > Chuyện
hơi dài ḍng, xin bạn kiên nhẫn. > Chúng tôi gồm ba cặp vợ chồng, được
gia đ́nh người bạn tiếp đón rất thân t́nh. Ông ta c̣n gọi các bạn khác
ở gần đó, kéo đến, nên buổi họp mặt thật đông vui. > Khi bữa
cơm gia đ́nh đă măn, các bà lo dọn dẹp chén bát để pha trà và các ông đang chuyện
tṛ sôi nổi, th́ ông bạn chủ nhà đổi đề tài: “Có một chuyện thực,
xảy ra ở Việt Nam, khoảng
năm 1982. Một chuyện kỳ lạ mà bà chị tôi vừa là người trong cuộc
vừa là nhân chứng. Lúc c̣n ở Việt Nam,
chị tôi dấu kín v́ sợ đến tai công an th́ sẽ bị tra hỏi, có thể bị
tù cũng nên. Nay chị tôi đến xứ tự do, sẽ kể thoải mái. Trong câu chuyện,
có ǵ thắc mắc, xin cứ hỏi chị tôi”. > Người chị của chủ
nhà, đang ngồi với các bà, được yêu cầu kể chuyện. Chị ta xin phép
vài phút để lên lầu, lát sau đi xuống, tay cầm một phong b́ đặt trước
mặt và bắt đầu kể. Mọi người yên lặng, lắng nghe. > - “Gia
đ́nh tôi, sau bảy lăm (1975), chỉ c̣n đàn bà v́ đàn ông đều vô tù cải tạo
hết cả. Khoảng năm tám mươi (1980), chúng tôi được móc nối để
vượt biên nhưng vẫn phải chờ ít nhất một người đàn ông đi
tù cải tạo về mới quyết định được. Năm đó, cậu em
tôi được thả về, chúng tôi báo cho người tổ chức, họ bảo, có
một chuyến, phải đi ngay. Từ Sài G̣n chúng tôi đón xe về Cà Mau dự đám
cưới. Đám cưới thật nhưng ăn cưới chỉ là cái cớ. Dân địa
phương thấy người lạ từ Sài G̣n về ăn cưới th́ biết ngay,
nhưng ŕnh bắt là công việc của công an. Thế nên, ai cũng chờ đợi màn thứ
hai là khuya nay, công an sẽ phục ở băi đáp để tóm gọn quí vị quan khách nầy.
Tṛ nầy xảy ra thường xuyên, nhưng họ không biết rằng vụ vượt >
biên nầy lại do chính công an địa phương đứng ra tổ chức, nên tối
đó quí vị công an với các viên chức xă ấp có nhiệm vụ phải nốc rượu
cho thật say, để sáng ra, ai cũng không biết ǵ cả! > Khuya đó, chúng tôi bị
gọi dậy, cấp tốc lên đường. Từ nhà ra biển chỉ vài cây số.
Trời quá tối. Chúng tôi âm thầm theo người trước mặt, đi ṿng vèo trên
các con đường đất. Trong bóng đêm tối đen, thỉnh thoảng, bên đường
lại có một toán chui ra nhập bọn, tôi đoán, cả đoàn chúng tôi, ít ra cũng hơn
trăm người. Mặc dù đă được dặn trước là khi xuống thuyền
phải tuyệt đối yên lặng và trật tự, không được chen lấn căi
cọ, nhưng khi thấy mấy chiếc tắc xi (thuyền nhỏ đưa ra thuyền
lớn), người ta ùa nhau lội xuống nước, tranh nhau leo lên thuyền. Cậu
em tôi đi trước, tay bồng hai đứa con, vợ nó níu lưng đi sau, tôi níu áo
cô ta để khỏi lạc nhau. Chỗ băi đó toàn śnh, ngập đến đầu gối
khiến ai nấy b́ bơm măi mà chưa đến thuyền. > Cậu em tôi phải kéo hai
người đàn bà chúng tôi phía sau nên càng vướng víu, chậm chạp. Mọi người
như những bóng ma âm thầm, chen nhau leo lên thuyền. > Khi cậu em tôi bỏ được
hai đứa nhỏ lên thuyền, đẩy được vợ nó lên, đến lượt
tôi th́ bỗng có tiếng súng, tiếng la hét: > - “Tất cả đứng yên! Đưa
hai tay lên. Ai bỏ chạy sẽ bị bắn bỏ”. > Tôi thấy ánh đèn pin loang
loáng cách chỗ chúng tôi vài trăm thước. Chủ thuyền vội đẩy thuyền
ra. Cậu em tôi chỉ kịp níu lấy be thuyền, người vẫn c̣n ở dưới
nước. Tôi và khoảng vài chục người đành đứng nh́n mấy chiếc
thuyền lẫn vào bóng tối, mờ dần ngoài biển khơi. Lúc đó tiếng súng và
tiếng hô hoán “Đứng yên! Bỏ chạy bắn bỏ” càng như gần hơn
khiến mọi người vội chạy ngược về phía bờ. Như đă dặn
trước: > - “Khi bị bể, phải chạy tránh xa ánh đèn của công an, trốn
cho kỹ, chờ vài hôm, yên tĩnh mới t́m cách ra lộ đón xe về”. > Vậy
là mạnh ai nấy chạy. Tôi bương đại lên bờ, chạy ngược hướng
tiếng súng. Vừa chạy vừa run, miệng niệm: “Nam Mô Đại Từ Đại
Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát”.
Cứ nhắm mắt, nhắm mũi chạy đại, vấp mô đất hay gốc cây
té xuống th́ vùng dậy chạy tiếp. Lúc đầu h́nh như có người cùng chạy
với tôi, quay lại th́ không thấy ai cả! Tôi chạy độ nửa tiếng, thấy
đă xa, vừa hoàn hồn th́ hai chân ră rời, nhấc không lên. Tôi ngồi đại xuống
đất, thở dốc. Lúc đó khoảng một giờ sáng. Tôi nh́n quanh. Một bên là biển
đen ś, ŕ rào tiếng sóng, một bên là bờ rừng, với hàng cây là những khối đen,
cao hơn đầu người, trông như những con ác thú đang chờ mồi. Tôi đoán,
có lẽ công an ŕnh bắt một vụ vượt biên > khác, cách chúng tôi vài ba trăm mét,
chủ thuyền tưởng bị bể, nên bỏ chạy, v́ thế mọi người
mới chạy thoát. > Từ lúc lên xe ở Sài G̣n đến khi về Cà Mau, tôi hoàn toàn
không biết ḿnh đang ở đâu? Bây giờ ngồi bơ vơ giữa đồng không
mông quạnh, chung quanh tối mù, tôi tự hỏi ḿnh sẽ làm ǵ, hay phải ngồi như
thế nầy cho đến sáng? Lúc năy, chạy, người toát mồ hôi, bây giờ, gió biển
thổi vào, tôi lạnh run cầm cập. Tôi thầm ước cho công an đến bắt
ḿnh, có người cùng bị bắt với nhau cũng yên tâm, rồi sau đó muốn ra sao
th́ ra! Cái xách nhỏ trên vai tôi vẫn c̣n. Tôi t́m chai nước lạnh, uống mấy ngụm.
Trong xách chỉ có vài chai nước lạnh, mấy viên thuốc say sóng, mấy hộp sữa
đặc, cái khăn nhỏ, một mớ đô la và vàng cùng quyển kinh Phật. Không hiểu
sao, trong lúc hoảng loạn mà tôi c̣n giữ được cái xách? > Đang ngồi rầu
rĩ, bỗng nhiên, tôi thấy từ xa, có ánh đèn thấp thoáng, có lẽ là đèn dầu
hôi, loại thường thấy ở thôn quê, cách tôi hơn một cây số. Tôi mừng rỡ,
quên cả mệt, đứng lên, nhắm ánh đèn mà đi. Tôi đi như chạy, té lên,
té xuống, mà không thấy đau, cứ nhắm ánh đèn bương tới, v́ sợ người
ta tắt đèn th́ không biết làm sao t́m đến. Độ nửa giờ sau, tôi đến
nơi. Đó là một nhà lá, cửa mở, một cây đèn băo, (loại đèn để
đi trong gió mà không sợ tắt) đặt trên một chiếc ghế nhỏ, để
ngay trước cửa, nhờ vậy mà từ hướng bên trái ngôi nhà, tôi vẫn thấy
được. > Khi đến trước cửa, tôi kêu lên: > - “Có ai trong nhà
không? Cho tôi vào với”. > Có tiếng đàn ông nói lớn: > - “Vào đi! Đừng
sợ!”. > Khi bước vô cửa tôi mới nhận ra là có một người đàn
ông đang ngồi hút thuốc lào, cạnh một cái bàn để giữa nhà. Người
đàn ông đứng lên, ra đem cây đèn băo và chiếc ghế vào. Nghe giọng lơ lớ,
với cách dùng chữ, tôi đoán ông ta là người Bắc giả giọng Nam. Tôi bước vào nhà. Nhà không rộng lắm nhưng đặt
ba nơi ba chiếc giường rộng, có trải chiếu tươm tất. Ông ta chỉ
chiếc ghế: > - “Ngồi đấy đi!”. > Tôi nói cám ơn, v́ áo quần
dính śnh, không dám ngồi, sợ dơ ghế. Ông ta bảo, giọng b́nh thản như việc
nầy đă từng xảy ra nhiều lần: > - “Thế th́ đi tắm đi!
Tôi có sẵn áo quần của bà xă tôi, thay tạm. Áo quần bẩn th́ giặt đi, phơi
ra ngoài gió, sáng mai khô ngay, thay trả lại cho tôi, rồi tôi sẽ đưa ra bến xe, đón
xe về Sài G̣n”. > Nghe nói sáng mai đón xe về Sài G̣n, tôi mừng quính, không ngờ
ḿnh may mắn gặp được cứu tinh. Tôi thấy có cảm t́nh với người
đàn ông tử tế đó, định nói lời cám ơn, nhưng nh́n thấy hai con mắt
của ông ta, tôi rùng ḿnh khiếp sợ. Ông ta khoảng năm mươi tuổi, dáng người
tầm thước, mặt sạm nắng, hai g̣ má cao, tóc ngắn, chân tay gân guốc ... nghĩa
là ông ta đúng là một nông dân, chỉ đôi mắt là khủng khiếp. Tuy đèn dầu
tù mù nhưng đôi mắt vẫn ánh lên những tia sáng lạnh lẽo, vừa uy quyền,
tàn nhẫn vừa như giễu cợt. Tôi sợ quá, cảm tưởng như ḿnh là con
chuột đă bị con mèo chộp được trong móng vuốt nhưng vẫn giữ
đấy chờ con mồi chết khiếp mới từ từ thưởng thức. Thấy
tôi đứng bất động v́ sợ, ông ta cười, giọng dịu dàng nhưng >
vẫn uy quyền, như ra lệnh: > - “Tôi không hại cô đâu. Cô đừng sợ.
Tôi nghe tiếng súng nổ là biết ngay vượt biên bị bể nên thắp đèn lên để
ai chạy thoát th́ đến đây tá túc, sáng mai tôi lấy thuyền đưa ra bến xe
về nhà. Tôi đă cứu hàng mấy trăm người rồi. Ai cũng về nhà an toàn.
Đừng sợ. Để tôi lấy áo quần cho cô thay tạm. Hôm nay vợ tôi ra chợ
thăm đứa con gái, sáng mai, tôi đưa đi, nhân tiện đón vợ tôi về. Đói
bụng th́ có cơm nguội trong nồi với con cá khô trong bếp, lấy ra mà ăn”. >
Ông ta nói nhỏ nhẹ, từ tốn nhưng tôi vẫn sợ, răm rắp theo lệnh.
Ông ta vào buồng đem ra một bộ đồ đàn bà màu đen, trao cho tôi rồi thắp
một cây đèn cầy, chỉ lối đi ra sau chái nhà: > - “Có cái pḥng tắm sau
kia. Sẵn nước với khăn lau. Tắm xong, mặc tạm, c̣n bộ đồ bẩn
th́ giặt đi, phơi lên, sáng mai khô, mặc vào, trả lại bộ đồ cho vợ
tôi”. > Tôi riu ríu cầm áo quần và cây đèn cầy, ra nhà sau, vào pḥng tắm, đóng
cửa lại, gắn cây đèn sáp lên bệ, xây lưng về phía đèn, cởi đồ
ra, dội nước. Tôi làm một cách vô thức, như bị thôi miên bởi cặp mắt
của ông ta, tôi đoán, đang nh́n tôi qua khe hở của vách pḥng. Tôi tắm qua loa, mặc
áo quần vào. C̣n nửa thùng nước, tôi đổ ra cái thau nhỏ sẵn đó, ṿ bộ
đồ dính śnh rồi treo lên một sợi dây kẽm trong pḥng tắm. Khi tôi lên nhà trên th́
ông ta chỉ cái giường, có giăng sẵn mùng: > - “Cô ngủ trên giường
nầy. Tôi ngủ trong pḥng. Ngủ đi cho khỏe, đừng sợ mà thao thức. Mai đi
sớm”. > Tôi nói: > - “Dạ. Cám ơn!” rồi chui vô mùng. Ông ta tắt
đèn, đi vào buồng. > Tôi nằm trên giường, mắt mở thao láo, không dám ngủ.
Có chiếc mền mỏng, tôi lấy quấn chặt quanh người rồi nằm lắng
nghe, không biết chuyện ǵ sẽ xảy ra? Tôi chỉ mong được ông ta tịch thu
hết số đô la và vàng tôi mang theo rồi tha cho tôi về nhà. Tôi cứ lẩm nhẩm
niệm Quán Thế Âm, cầu Phật Bà cứu khổ cứu nạn. Trong đêm tối, tất
cả im lặng, chỉ có tiếng sóng biển ŕ rầm nghe như tiếng xe chạy rất
xa. Bấy giờ tôi mới thấy người ră rời, vừa mỏi vừa đau ê ẩm
khắp nơi, nhất là những chỗ bị mô đất hay gốc cây đập mạnh
vào khi tôi chạy bị ngă. Suy nghĩ miên man, tôi ch́m vào giấc ngủ lúc nào không hay. >
Khi tôi tỉnh dậy th́ trời đă sáng. Vừa xếp mùng, mền xong th́ ông ta từ trong
buồng bước ra. > - “Ngủ có được không?”. > - “Dạ.
Đi mệt quá nên ngủ say một giấc đến sáng”. > Tôi nói mà không dám nh́n
ông ta, sợ thấy đôi mắt kinh khiếp đó. > - “Cô thay đồ rồi
chúng ta đi ngay. Tôi chở cô ra bến xe ngoài chợ, họ sẽ đưa cô lên bến
xe tỉnh, đón xe về Sài G̣n. Cô viết vào miếng giấy trên bàn kia, tên họ địa
chỉ của cô. Tôi cần biết về cô để sau nầy dễ xác nhận”. >
Tôi ra sau nhà, thay đồ, đem bộ đồ của vợ ông ta để trên giường,
đến chỗ cái bàn, viết tên họ, địa chỉ vào miếng giấy. Ông ta chỉ
cái xách nhỏ của tôi “Đừng quên cái xách tay”. Tôi thấy quyển kinh của
tôi để ra ngoài nhưng không dám lấy bỏ vào xách, mà làm như không thấy, chỉ vơ
vội cái xách, cầm đi theo ông ta. Ra ngoài sân, tôi mới biết, trước nhà là một
con sông rất rộng, có lẽ là cửa sông, c̣n biển th́ nằm bên trái căn nhà, cách một
cây số. Nhà ông ta nằm giữa một vùng hoàn toàn hoang vắng, chung quanh là śnh lầy với
cây đước, vẹt, sú ǵ đó mọc mênh mông, chạy đến mút mắt. Tôi không
hiểu v́ sao vợ chồng ông ta lại đem nhau ra ở chỗ nầy? Không ruộng vườn,
không thuyền bè đánh cá, không có người chung quanh, ngay đến con chim > cũng
không thấy bay qua. Có chăng là mấy con cua c̣ng ǵ đó nằm trên mặt śnh dương
mắt nh́n tôi. Con đường từ nhà ra bến sông được đắp cao, có lẽ
là lối duy nhất đưa ông ta ra chiếc thuyền, đến với xă hội loài người. >
Ông ta xuống thuyền, tôi bước theo. Nhờ mấy miếng bê tông làm thành tam cấp
nên tôi xuống thuyền không khó khăn lắm. Chiếc thuyền nhỏ, dài khoảng sáu,
bảy mét, rộng hơn hai mét, gắn máy đuôi tôm. Ông ta tháo dây cột thuyền, giật
máy, đưa thuyền ra giữa gịng sông. > Chiếc thuyền chạy giữa hai bờ
rừng vắng vẻ, hoang vu. Một lúc thật lâu th́ xa xa thấp thoáng mấy mái nhà sau hàng
dừa nước, rồi vài chiếc thuyền xuất hiện, chạy ngược chiều.
Thuyền ghé vào một bến đ̣, có nhà cửa, quán ăn, một chợ thôn quê nhỏ và
một bến xe lam (xe Lambretta, ba bánh dùng chở khách). Ông ta cột chuyền, ra dấu cho tôi
cùng lên bờ. Mọi người thấy ông ta th́ cúi đầu chào vẻ kính cẩn và sợ
hăi. Ông ta không thèm nh́n ai, đi thẳng đến chiếc xe lam, nói ǵ đấy với người
chủ xe. Người chủ xe khúm núm gật đầu, miệng dạ nhịp, rồi
đến nói với tôi: > - “Mời cô lên xe. Xe chạy ngay bây giờ”. > Ông
ân nhân không để ư đến lời cám ơn của tôi, cũng không nói với ai tiếng
nào, xuống thuyền, giật máy, quay thuyền ra giữa gịng. Khi ngồi trong xe lam, tôi thấy
mọi người đang ṭ ṃ nh́n tôi với vẻ sợ hăi rồi th́ thầm với nhau
ǵ đấy. Ông xe lam nổ máy, chở một ḿnh tôi, ṿng vèo trên đường đất
trong xóm rồi đưa xe ra đường lớn, chạy vào thành phố. Ông ta chạy
thẳng đến bến xe khách, ngừng cạnh một xe đầy khách, mời tôi xuống,
đưa tôi đến ông tài xế, th́ thầm với ông ta. Ông tài xế mời tôi lên ngồi
ghế trước. Tôi lục trong xách nhỏ, thấy gói đô la và vàng c̣n nguyên, lấy ra
một mớ tiền Việt đưa trả cho hai người, nhưng ai cũng khoát tay. >
- “Anh Năm dặn rơ là ảnh sẽ trả tiền xe cho cô, chúng tôi đâu dám nhận”. >
Chiều hôm đó, tôi về đến nhà. > Khoảng một tháng sau, người tổ
chức đến gặp tôi, báo tin là mọi người đến đảo an toàn, thân
nhân sẽ gửi thư sau. Ông ta hỏi tôi rất tỉ mỉ về vụ những người
không kịp lên thuyền, tôi kể lại sự việc. Ông ta bảo những người
kẹt lại đă bị công an bắt, chỉ thiếu hai gia đ́nh, gồm bốn người,
không có tin tức. Hai gia đ́nh nầy th́ tôi biết, họ là thương gia xuất nhập
cảng trước bảy lăm, rất giàu. Trước khi đi, họ đă bán nhà, v́
tin chắc sẽ đi lọt, như vậy, họ ôm của cải theo (vàng và đô la),
phải nhiều lắm. > Chuyến vượt biển lần đó khiến tôi sợ
quá, không dám nghĩ đến, ai rủ đi cũng lắc đầu. > Khoảng một
năm sau, tôi nhận được một lá thư, tên người gửi lạ hoắc.
Tôi hoàn toàn không biết ai đă gửi đến. > Chị ta cầm lá thư đưa
lên “Mấy năm sau, chồng tôi đi tù về. Chúng tôi qua Mỹ theo diện HO. Vợ
chồng tôi qua Canada ở chơi
với gia đ́nh cậu em. Gần mười năm mà tôi vẫn c̣n giữ lá thư nầy.
Để tôi đọc cho quí vị nghe: > - “Gửi bà H. (là tên tôi). Bà c̣n nhớ, lần
vượt biển ở Cà Mau, bị bể và bà được tôi cho trọ qua đêm, hôm
sau đưa ra bến xe, về thành phố Hồ Chí Minh. Tôi biết bà thắc mắc. Tôi
là ai? Tại sao lại ở nơi vắng vẻ? Tôi sinh sống bằng cách nào? > Tôi
cho bà rơ. Tôi là công an, có nhiệm vụ ở đó để đón lỏng những người
vượt biên bị bể chạy thoát được. Công an chúng tôi làm nhà cách nhau một
vài cây số, dọc bờ biển, nơi thường có bến băi vượt biên, có thuyền
con đón ra thuyền lớn. Như vậy, khi công an đến bắt vượt biên, người
nào chạy thoát cũng chỉ quanh quẩn đâu đấy, thấy đèn là t́m đến,
thế là nộp mạng cho chúng tôi. Tôi bảo rằng có vợ ở chung nhưng thật
ra, vợ con tôi đều ở ngoài Bắc, tôi vào đây công tác đă được bốn
năm, khi nào ổn định sẽ đưa gia đ́nh vào thành phố Hồ Chí Minh, v́
chẳng ai có thể ở nơi hoang vắng nầy. > Mỗi công an chúng tôi đă chuẩn
bị sẵn các tiện nghi, nước nôi, lương thực, giường chiếu để
đón những người vượt biên t́m đến nhờ cứu giúp. Tôi cho ăn uống,
ngủ lại, sáng hôm sau, cho họ xuống thuyền, nói là chở ra bến xe để họ
về nhà, nhưng kỳ thực, thuyền đi được nửa đường là
bị công an chận bắt. Tôi cũng bị bắt để không ai nghi ngờ. > Thông
thường, nếu nhiều người t́m đến th́ tôi bảo họ, có ǵ đem theo
nên kê rơ, nhất là tiền bạc, quí kim, để tránh chuyện lấy cắp của nhau.
Nếu chỉ một người th́ tôi chờ lúc người đó đi tắm sẽ lục
xách tay, kiểm tra những ǵ đem theo. Tôi c̣n ŕnh nh́n lúc họ đi tắm, cởi đồ
ra, sẽ thấy những ǵ họ lận theo người? > Tôi không bao giờ lấy
của ai bất cứ ǵ, nên khi giải giao họ (đưa lên thuyền để bị
công an chận bắt), công an chấp pháp lấy lời khai, sẽ thấy rằng tôi rất
trong sạch. Tôi từng được công an tỉnh và trung ương biểu dương
nhiều lần về thành tích chận bắt người vượt biên cũng như tinh
thần chí công vô tư, không tơ hào đến của cải, vật chất của người
bị bắt. Nhưng không ai biết rằng, hễ người nào đem nhiều đô
la, vàng ngọc, hột xoàn là tôi thủ tiêu, chôn xác trong rừng. Tôi đào sẵn những cái
hố, muốn giết ai, khuya đó, tôi lận súng trong người, bảo họ đi theo
tôi để tôi chỉ đường mà đi ra đường chính đón xe về. Vào
rừng, tôi bắn chết, đạp xuống hố, hôm sau ra lấp đất lại.
Không người nào thoát khỏi tay tôi, v́ chung quanh toàn > śnh lầy, có bỏ chạy một
quăng là ngập người dưới śnh, tôi chỉ rọi đèn pin, đi t́m và bắn
họ rất dễ dàng. > Tôi có nói bao nhiêu người bị tôi thủ tiêu với bà cũng
chỉ làm bà kinh hoàng chứ chẳng ích lợi ǵ. Tất cả của cải cướp
được, tôi đưa cho vợ tôi đem về quê chôn giấu. Hột xoàn, đô la,
vàng ngọc, châu báu ... Nghĩa là vợ chồng tôi rất giàu. Vợ tôi bảo, có thể
bỏ vốn lập những công ty, mua máy móc để sản xuất hàng hóa xuất khẩu
hoặc mua nhà cửa ở Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh cũng không hết của.
Dĩ nhiên gia đ́nh tôi ngoài Bắc vẫn sống đạm bạc như bao nhiêu người
khác, để tránh bị nghi ngờ. > Tôi dự định sẽ làm thêm vài năm, kiếm
một số tiền vàng nữa rồi xin ra khỏi ngành. > Tính ra, tôi ở đó đă
được bốn năm, cho đến cái đêm bà t́m đến nạp mạng cho tôi. >
Như mọi khi, lúc bà đi tắm, tôi ŕnh xem bà cởi đồ (để biết của
cải lận theo người) rồi lên kiểm tra xách tay của bà. Tôi thấy trong xách có
nhiều vàng và đô la. Như vậy, số phận của bà đă được tôi quyết
định. Bà sẽ bị tôi thủ tiêu. Trong lúc lục xét xách tay tôi thấy có một quyển
kinh, khổ lớn hơn những quyển kinh khác, mà những người vượt biên
khác thường đem theo. Quyển kinh lớn đó khiến tôi ṭ ṃ. Theo thông lệ, tất
cả kinh Phật của những người vượt biên, tôi giữ lại, khi nào lên
tỉnh, tôi tặng cho người bạn đang trụ tŕ một ngôi chùa lớn, gần
chợ. Anh ta là công an, đi tu là công tác, vẫn lănh lương công an. Tôi tặng các quyển
kinh Phật cho chùa để ai đến lễ chùa mà “thỉnh” những kinh đó
th́ biết ngay, người đó sẽ vượt > biên và chúng tôi theo dơi. V́ ṭ ṃ và v́
nghiệp vụ, tôi mở quyển kinh của bà ra, để sát ngọn đèn cho dễ đọc.
Tôi đọc một cách t́nh cờ, một câu kinh nằm ngay giữa trang kinh. Chỉ một
câu thôi. Câu duy nhất đó khiến tôi lạnh toát người v́ kinh sợ. Tôi sợ đến
choáng váng, muốn té xỉu, đến độ ngồi chết lặng một lúc thật
lâu. Tối đó, tôi không ngủ được . > > Hiện nay tôi đă ra khỏi
ngành công an. Tôi đă đi tu ở một vùng núi miền Tây Nguyên, rất hẻo lánh, xa hẳn
phố phường, làng xóm. Ngôi chùa nhỏ được cất bên góc núi. Rất xa, dưới
chân núi, cách nơi tôi ở, thấp thoáng những nhà sàn của những người thuộc
sắc tộc thiểu số. Mỗi buổi sáng, tôi lạy Phật, tụng kinh, rồi
lên đồi cuốc đất, trồng khoai sắn, rau quả. Buổi tối tôi lại
tụng kinh và suy ngẫm lời Phật dạy. Tôi bảo với vợ tôi là tôi làm nhiệm
vụ trên giao, không nên gặp nhau nhiều, thỉnh thoảng lên tiếp tế lương
thực mà thôi. Của cải mà tôi kiếm được (vợ tôi đang giữ), tôi dặn,
nên trích ra một phần, khi nào có thiên tai băo lụt th́ đem cứu giúp người hoạn
nạn, giúp bà con, bạn bè khi họ cần, giúp các người già lăo, bịnh tật, >
không nơi nương tựa, giúp các trại mồ côi, các trại cùi hủi .. > Tôi viết
để bà rơ, nay tôi đă chọn con đường khác. Tôi chỉ muốn biến mất
trên thế gian, nhưng c̣n các con tôi? Chúng là nguồn sống của tôi. Tôi lo sợ cho chúng
... > Nếu bà là một Phật tử, xin bà đến chùa, cùng góp lời cầu xin Phật
Tổ cho tôi sớm t́m được con đường giải thoát. > Chúc bà sức
khỏe.”. > Chị đàn bà giơ lá thư lên và nói: > - “Thư chỉ viết
thế thôi”. > Chúng tôi hỏi: > - “Chị có nhớ ḿnh mang theo quyển kinh
Phật tên ǵ không?”. > - “Đúng ra, lúc nào tôi cũng để sẵn quyển
kinh “Quán Thế Âm Bồ Tát” trên bàn thờ, hễ hô “đi!” là tôi chỉ
việc bỏ vô xách tay và lên đường. Hôm đó, cô em dâu tôi đây, lại lấy quyển
kinh đó trước, tôi vội quá, mở tủ kinh Phật của ba tôi để gần
đó, vơ đại một quyển, nghĩ rằng “Phật nào cũng là Phật,
vị nào cũng phù hộ, độ tŕ cho chúng sinh tai qua nạn khỏi”. Ba tôi, khi c̣n
sinh thời, tu tại gia, nghiên cứu kinh Phật. Ngoài chữ Việt, ông cụ c̣n biết
chữ Hán, chữ Nôm nên thỉnh rất nhiều kinh về nghiên cứu. Thế nên, đến
bây giờ tôi cũng không biết ḿnh đă mang theo quyển kinh nào khi vượt biên. Điều
tôi tin chắc rằng. Chính quyển kinh đó đă cứu mạng tôi và câu kinh trong đó,
như một lời phán của Đức Phật hoặc đấng Hộ Pháp, > bảo
thẳng với kẻ ác hăy ngừng tay lại. Lời phán đó phải có uy lực mạnh
mẽ đến nỗi một kẻ giết người phải khiếp đảm”. >
Trong bọn chúng tôi, chẳng ai là đệ tử nhà Phật mặc dầu, thỉnh thoảng
có đi chùa lạy Phật, tụng kinh trong những ngày lễ, tết. Chúng tôi hỏi nhau
rồi phán đoán đủ thứ. Câu “buông đao thành Phật” quá tầm thường,
chẳng làm ai động tâm. Muốn biết bí mật của câu kinh đó, chỉ c̣n cách
đi hỏi các nhà sư th́ họa may. > V́ bị câu chuyện trên ám ảnh, nên trên đường
từ Canada về lại miền Đông Bắc nước Mỹ, chúng tôi quyết định,
ghé vào một ngôi chùa của sư PT để thăm và hỏi cho ra lẽ. Sư trạc
tuổi chúng tôi, là chỗ quen biết nên rất thân t́nh. Sư PT xuất gia từ lúc mười
một tuổi tại chùa Diệu Đế ở Huế. Vượt biên qua Mỹ, sư
học và tốt nghiệp tiến sĩ Phật học. Tuy c̣n trẻ, nhưng sư PT thông
hiểu Phật pháp và có một cuộc sống rất đạo hạnh. > Trưa hôm
đó, chúng tôi được sư khoản đăi cơm chay. Trong lúc thọ trai, chúng tôi kể
lại câu chuyện trên cho sư nghe và hỏi sư có biết câu kinh nào đă khiến một
người vô thần phải buông đao giết người và đi tu không? Nhà sư suy
nghĩ một lúc và nói: > - “Nếu lư luận theo Phật pháp thuần túy ở đây
th́ không thích hợp với một người cộng sản. Họ đă được
dạy căm thù và được huấn luyện cách giết người, nên dù có cả
một bầy quỉ dữ từ địa ngục chui lên, hay hàng ngh́n Đức Phật
hiện ra thuyết pháp, chưa chắc ông công an nầy phải sợ mà ngưng tay. Ông ta
chẳng thù hận ǵ những người vượt biên, nhưng giết họ để
cướp của, ông ta làm thản nhiên như người đồ tể giết heo, giết
ḅ. Mục đích là để có nhiều tiền của cho con cái được sung sướng.
Cán bộ cộng sản thường bảo nhau: > - “Hi sinh đời bố, cũng
cố đời con” là thế. Kinh Phật chỉ nói về cái nghiệp và cái quả.
Ai làm nấy chịu. Nhưng người Việt ḿnh lại có câu “Đời cha ăn
mặn, đời con khát nước”. Cha mẹ thương con cháu th́ ăn ở nhân
đức, để phước cho chúng. Con cháu, nhớ ơn đó mà thờ phụng các
vị một cách thành tâm. Đó là “Đạo Thờ Ông Bà”. Ông công an cộng sản
nầy th́ làm ngược lại, nên ông ta bị ám ảnh bởi việc ác của ḿnh, “quả
báo nhăn tiền”, con cháu sẽ lănh đủ. Có thể, con cái ông ta bị đâm chém hay
bị giết chóc sao đó, khiến ông ta nghĩ rằng “Ḿnh giết người ta th́
con ḿnh bị người ta giết” nên ông ta sợ. “Nhưng Phật đâu có dạy
về chuyện quả báo cho đời con cháu mà ông ta, khi đọc một câu nào đó trong
kinh Phật lại sợ hăi > đến nỗi phải bỏ nghề, đi tu?”. >
“Đa số những người vượt biên đều đem theo người là
kinh A Di Đà hoặc Bạch Y Thần Chú, coi như có Thần Phật hộ tŕ bên cạnh.
Khi gặp chuyện hiểm nguy th́ niệm “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quảng
Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát” chỉ đọc tới đọc lui
câu đó thôi, coi như tiếng kêu cứu, các vị Bồ Tát sẽ ra tay tế độ,
giúp cho tai qua nạn khỏi. Những quyển kinh mà ông ta tịch thu, không nhất thiết
đều giống nhau. Có thể người đàn bà kia đă mang một quyển kinh khác.
Hơn nữa ở một nơi hoàn toàn vắng vẻ, không có ǵ giải trí ngoài việc đọc
các quyển kinh Phật, quả thật, ông ta đang bước về hướng của
giải thoát. Chính cái ư niệm muốn giải thoát khiến ông ta bỏ nghề, và câu kinh Phật
kia chỉ như vật xúc tác, như cái nút điện mà ông ta đang > ṃ mẫm trong
bóng tối, đă bật sáng, cho ông ta thấy được con đường phải đi.
Mỗi người là Phật chưa thành là vậy. Con người dù độc ác, mê muội
đến đâu, cũng c̣n le lói một chút ánh sáng của lương tri. Đúng ra, phải
gọi ông ta là “ông đạo” chứ không phải là “ông sư”. V́ ngoài việc
nghiên cứu, tụng niệm kinh Phật, sư, săi phải có thầy giảng giải, hướng
dẫn trên đường tu tập. “Giả dụ như ông công an đó đến xin
thọ giáo với thầy. Thầy sẽ giảng những ǵ cho một người vô thần
như ông ta hiểu về Phật pháp?”. > Nhà sư cười: > - “Thoát được
“tham, sân, si” là tự giải thoát rồi. > Chính tôi phải học ông ta, làm cách
nào đă bỏ được chữ “tham”? Chữ “tham” đơn giản,
thường t́nh thôi, không cần phải triết lư xa vời. Tiền của vô tay dồi
dào, dễ dàng như vậy mà lại bỏ hết, mấy ai làm được? > C̣n
hai chữ “sân, si”, bản thân tôi như đang nằm trong cái rọ, không biết
bao giờ mới thoát ra! Ông ta là thầy tôi mới đúng”. > - “Thầy có thể
đoán được câu kinh nào nằm trong quyển kinh nào, đă khiến ông ta phải sợ
mà đi tu không?”. > Nhà sư lắc đầu: > - “Chỉ riêng ông ta biết
được mà thôi. Có thể chỉ một câu t́nh cờ, b́nh thường nào đó ông ta
đọc được nhưng giải thích đúng những băn khoăn, thắc mắc,
sợ hăi bấy lâu của ông ta, nó đánh động lương tâm ông ta, hướng dẫn
ông ta t́m con đường giải thoát. Xưa kia, lục tổ Huệ năng chỉ nghe
một câu trong kinh Kim Cang liền ngộ được đạo”. > - “Nhưng
nhất định phải có một câu kinh nào đó. Thầy thử nhớ xem sao?”. >
Nhà sư lắc đầu: > - “Bị hỏi th́nh ĺnh, tôi không nhớ ra ngay. Hay là
thế nầy. Bây giờ mời quí vị ra vườn sau chùa uống trà, ngắm hoa. Tôi
xin được ít phút tập trung tư tưởng, họa may sẽ nhớ được
điều ǵ chăng? Mục đích không phải t́m hiểu mà chỉ như tṛ chuyện
cho vui vậy thôi. Tôi không đủ tŕnh độ để giải thích câu chuyện kỳ
lạ nầy”. > Nhà sư lên chánh điện. Chúng tôi ra sau chùa, vừa chuyện tṛ
vừa lang thang ngắm hoa cảnh. > Có tiếng chuông ngân vang từ chánh điện, rồi
tất cả yên lặng. Có lẽ nhà sư đang lễ Phật và trầm tư ... >
Độ một giờ sau, nhà sư xuất hiện ở ngưỡng cửa với nụ
cười. Sư tiến đến, ngồi xuống với chúng tôi ở một bàn nhỏ
dưới gốc cây. Chúng tôi vội hỏi: > - “T́m được câu kinh nào chưa
thầy?”. > Sư lắc đầu và cười: > - “Kinh Phật chẳng
có câu nào hăm dọa người ta, bắt người ta phải đi tu cả! Để
nói về cái nghiệp báo th́ kinh Thủy Sám Pháp có nói nhiều, nhưng tôi chỉ nhớ chính
xác được vài câu ở các quyển kinh khác, chẳng hạn, trong kinh Đề Bà Đạt
Ma (Devadata-suta) có câu: > - “Những việc ác mà ngươi đă phạm, không phải
là tại cha ngươi, không phải tại mẹ ngươi, không phải tại thầy,
chủ ngươi. Chính một ḿnh ngươi đă phạm, và một ḿnh ngươi phải
chịu quả báo”. > Trong kinh Pháp Cú (Damma-pada) cũng có câu: > - “Dẫu rằng
ngươi chạy lên trời cao, ẩn dưới biển sâu, trốn trong núi thẳm, không
có nơi nào mà ngươi tránh khỏi cái quả ghê gớm về tội ác của ngươi”... >
Nói xong nhà sư lộ vẻ bối rối. > - “Rất tiếc, v́ sự vô minh của
tôi mà câu kinh đó vẫn c̣n là một bí ẩn. Xin lỗi đă làm quí vị thất vọng.
Theo tôi nghĩ, sự thống hối của ông ta quá thành khẩn, đă cảm động
đến đức Phật, và Ngài đă ra tay tế độ, đă khai ngộ cho ông ta. >
Nhưng phải là người thật thành khẩn th́ đức Phật mới làm được
việc đó” > > > > Lời bàn : > Đồ tể buông dao thành
Phật không phải là điều hiếm có, nhưng một con người sắp làm một
hành động cực ác mà v́ một câu kinh Phật phải rúng động tâm can và từ
đó ăn năn hối cải, quy tâm hướng Phật th́ quả là một chuyện
hăn hữu. Chắc hẳn ai đọc chuyện này cũng ṭ ṃ như tôi muốn biết
câu kinh Phật ấy là ǵ, và không được thỏa măn lắm với lời giải
thích của nhà sư trong câu chuyện. > Kinh Phật nhiều không kể xiết, nói chi
đến lời kinh lại càng vô biên vô lượng, làm sao biết được câu kinh
nào có mănh lực nhiệm mầu có thể chuyển hóa được tức khắc con người?
Cố ngồi suy nghĩ để đoán ra câu kinh này có lẽ cũng khó như ṃ kim đáy
biển vậy. > Nhưng nói cho cùng, lời nói chỉ là lời nói, nó có tác dụng hay
không là tùy theo tâm thức người cảm nhận, tùy thời, tuỳ lúc, và tuỳ duyên.
> Hăy thử đặt ḿnh vào hoàn cảnh của những người trong câu chuyện.
> Tâm trạng của người sắp vượt biên là cả một sự sợ
hăi, nhưng cũng tràn đầy hi vọng. Hơn lúc nào hết người ta cần đến
một sự che chở thiêng liêng nào đó. Hành trang đem theo của người ra đi
trong một cuộc hành tŕnh đầy bất trắc hiểm nguy có lẽ không có ǵ hơn
là « phúc đức » và « niềm tin ». Người đàn bà trong câu chuyện đă may mắn
có được cả hai yếu tố này. Phúc đức, hay cũng là « âm đức » được
hưởng từ một gia đ́nh xưa nay biết tu theo Phật, người cha thường
thỉnh kinh về nghiên cứu học hỏi. Niềm tin vững chắc ở năng lực
cứu khổ cứu nạn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Hành trang đem theo
ấy là yếu tố quan trọng nhất đă giúp cho người đàn bà thoát khỏi
một ách nạn ghê gớm nguy hiểm đến tính mạng. > Người công an biên
pḥng tuy làm những công việc cực ác nhưng cũng vẫn là một con người với
những ước vọng b́nh thường muốn t́m kiếm hạnh phúc cho bản thân
và gia đ́nh. Hạnh phúc ấy có thể sẽ được xây dựng bằng những
số vàng lớn cướp được từ những người xấu số. Nhưng
của cải phi nghĩa bao giờ cũng là một gánh nặng, là những con rắn đầy
độc hại và nguy hiểm . Người công an ấy ngày nay không c̣n là một con người
vô sản chuyên chính để không có ǵ phải ǵn giữ và lo sợ, mà đă trở thành kẻ
có tiền của giầu có hơn ai hết. Hắn thường xuyên sống trong tâm trạng
bất an, sợ hăi cho một ngày nào đó tất cả những ǵ có được sẽ
bị người khác cướp đi, và những điều đau khổ đă gây cho
người khác sẽ trở lại với chính > ḿnh. Việc giết người cướp
của đă trở thành quen thuộc đối với hắn, nhưng kẻ sát nhân trước
khi thi hành thủ đoạn nếu bị khám phá cũng không tránh khỏi nao núng và sợ hăi.
Người khám phá nếu là nạn nhân th́ chẳng có tác dụng ǵ, v́ số phận của
nạn nhân đă được định sẵn trong mưu toan đó rồi. Điều
làm cho kẻ sát nhân kinh sợ là tiếng nói của chính hắn trực diện với điều
hắn đang làm. Tiếng nói ấy không phải từ hắn phát ra, mà từ âm vọng của
câu kinh Phật đánh thẳng vào tâm thức bất an của hắn. > Thế th́ câu
kinh Phật nào đă đánh động được tâm thức của hắn ? Chắc
hẳn không phải là những lời kêu cứu của kẻ đang bị nạn trong quyển
Bạch Y Thần Chú hay kinh Quán Thế Âm, hay những lời diễn tả phong cảnh đẹp
đẽ thần tiên của thế giới cực lạc A Di Đà. Những câu kinh đó
không xa lạ ǵ đối với hắn, v́ hắn đă từng tịch thu biết bao quyển
kinh đó từ những người vượt biên bị bắt. Số mệnh đă run
rủi cho người đàn bà trong câu chuyện đem đi một quyển kinh khác mà bà không
nhớ tên. Quyển kinh đó đă kích thích trí ṭ ṃ của người công an, và khi mở quyển
kinh đó ra, hắn đă nh́n thấy rơ ràng h́nh ảnh của hắn trong đó, giống như
đang đứng trước một tấm kính chiếu yêu vậy. > Trong chiều
hướng tư duy đó, tôi đến bàn thờ chọn một quyển kinh Thủy Sám,
thầm mong Đức Phật gia hộ cho tôi t́m được câu trả lời cho điều
bí mật của câu kinh Phật này. Mở quyển kinh ra, đập vào mắt tôi là những
lời sau đây trong phần nói về « Sám hối ác nghiệp trộm cướp », ở
phần giữa của quyển kinh : > > Trong kinh huấn thị, vật thuộc
kẻ khác, kẻ khác ǵn giữ, với vật như vậy, dẫu một ngọn cỏ
hay một chiếc lá, kẻ ấy không cho th́ không được lấy, huống chi lén trộm.
Nhưng v́ con người chỉ thấy cái lợi trước mắt nên đă dùng hết
cách mà lấy một cách vô đạo, làm cho tương lai phải chịu quả báo của
ác nghiệp này. > Do đó trong kinh đă nói như sau, cái tội trộm cướp làm
cho con người sa vào địa ngục cùng với ngạ quỷ, chịu mọi thống
khổ. nếu sinh súc sinh th́ làm trâu ḅ, lừa ngựa lạc đà hay những thứ cùng
loại, dốc hết sức ḿnh, dốc cả máu thịt mà trả nợ cũ. Nếu
sinh loài người, phải làm tôi tớ cho bao kẻ khác, áo không kín thân, cơm không đầy
miệng, nghèo nàn khốn đốn, lẽ sống con người cơ hồ mất hết.
Ác nghiệp trộm cướp đă có lắm thứ khổ báo như vậy, ngày nay chúng
con chí thành phát lộ, khẩn cầu sám hối. > Đệ tử chúng con, kể từ
vô thỉ cho đến ngày nay, cắp trộm tài sản vàng ngọc của người, bằng
cách hoặc dùng khí giới cưỡng đoạt, hoặc dùng sức lực ép buộc mà
lấy. Hoặc ỷ công oai, hoặc mượn thế lực, gông lớn cùm to, ép uống
lương thiện, nuốt của hối lộ, bẻ thẳng thành cong …. Ác nghiệp
như vậy, ngày nay chúng con chí thành phát lộ, sám hối tất cả. > > Những
lời kinh này đối với những người b́nh thường có thể không có tác
dụng, nhưng ở đây lại là một tiếng chuông vang rền đánh thức một
tâm hồn khắc khoải đang ch́m đắm trong mê vọng. Đối với tôi đây
là câu kinh bí mật, nhưng thực ra kinh vốn không có ǵ là bí mật. Bí mật là những
ǵ đă sắp xếp nên nhân duyên chuyển hóa của ngựi công an biên pḥng này. Nhưng có
lẽ đây cũng là một điều huyền diệu không thể nghĩ bàn của năng
lực cứu độ Quán Thế Âm Bồ Tát. > > > Ngọc Bảo >
(Tháng 9, đầu thu 2008)
TRỞ VỀ ĐẦU TRANG
> > > >
|
|

|

|

|

|

|
|

Non cao tuổi vẫn chưa già
Abstracts This paper seeks to present the theory of continental drift and the plate tectonics, helping to explain
the presence of volcanoes, earthquake and the formation of mountains. The earth‘s lithosphere is broken into huge fragments,
called tectonic plates which are not fixed but slowing moving on top of the mantle of the earth. They may diverge on the ocean
floor, providing space for hot magma from the interior of the earth to emerge as lava which solidify when they meet cold sea
water to form mid -ocean ridges. They may collide, with one plate pushed underneath the other, provoking earthquake and volcanoes.
Plate tectonics help explaining why earthquakes are present in specific zones, namely along the ring of fire along Pacific
ocean and countries around Mediterranean
sea.
1. Tổng quan
Khi nói "non cao tuổi vẫn chưa già" (Tản Đà)
dĩ nhiên là nói tượng trưng, nói theo nghĩa bóng. Nói theo nghĩa đen và nếu so với
tuổi đời người th́ các ngọn núi đều già. Thực vậy, với câu
thơ:
Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy
Cuộc phù du trông thấy cũng nực cười
cho thấy đời người nếu sống đến
100 tuổi th́ cũng dài ba vạn sáu ngàn ngày chứ thực ra, tuổi thọ con người
chỉ chừng 75 tuổi với đàn ông và 81 tuổi với đàn bà. Nguyễn Du há chẳng
phả́ sử dụng chữ trăm năm nhiều lần trong thi phẩm bất hủ
của cụ
-Trăm năm trong
cơi người ta,
-Trăm năm tính cuộc vuông tṛn,
-Trăm năm đo một tấm ḷng từ đây,
-Trăm năm danh tiết cũng v́ đêm nay,
-Trăm năm tạc một chữ đồng đến
xương,
-Trăm năm biết có duyên ǵ hay không-
v.v...Tuy nhiên trong địa chất học th́ đơn vị đo tính tuổi không phải
là 1 năm hoặc 100 năm mà là 1 triệu năm (tức là 1 và thêm 6 con 0 nữa ! ).
Người ta có một thành ngữ
‘già như Trái Đất’. Thực vậy, từ lúc Big Bang "Thuở trời đất
nổi cơn gió bụi " trái đất già đến 4 tỉ năm, sinh ra trong những điều
kiện thiên nhiên rất khác với ngày nay, nghĩa là gió bụi mù mịt. Suốt một khoảng
thời gian rất dài, với nhiều đá phun trào từ ḷng trái đất, với mưa
rơi mưa rơi, bào ṃn, xói lở... Rồi Trái Đất bị ngui lại dần.
Nhiều câu hỏi địa chất thường
nêu ra:
- V́ sao miền Tây nước Mỹ như tại tiou
bang Cali bị động đất luôn mà
miền Đông lại không bị ?
- V́ sao các xứ quanh bờ Địa Trung Hải như
Ư, Maroc, Turquie, Nam Tư thường bị động đất mà các xứ Bắc Âu lại
không ?
- V́ sao có núi lửa ?
- V́ sao miền Bắc từ Vịnh Hạ Long, Ninh
B́nh đến Quảng B́nh th́ rất nhiều đá vôi mà trong Nam lại ít có đá vôi ?
- V́ sao có vài thực vật rất xưa cùng có mặt
cả ở Nam Mỹ lẫn Ấn Độ, Nam Phi là những nơi rất xa nhau về
địa lí ?
- V́ sao trên giăy núi Himalaya lại
có vỏ ṣ ốc bion ?
- V́ sao cấu trúc địa chất ở vùng Tây Phi
Châu giống y như cấu trúc địa chất vài vùng miền Đông Nam Mỹ
Vật đổi sao dời : Hôm nay đất
liền, ngày mai hải đảo (nói hôm nay, ngày mai là nói theo thời gian địa chất).
Hôm nay c̣n bion, ngày mai một ḥn đảo do các phun trào từ ḷng đất dâng trào lên tạo
nên. Và cứ thế, những chuyện vật đổi sao dời từ hàng trăm triệu
năm nay cứ diễn tiến, ảnh hưởng đến sự tiến hoá của sinh
vật, từ động vật không xương sống tiến lên động vật có
xương sống, từ động vật dưới nước tiến hoá lên động
vật lưỡng cư, rồi trên cạn, từ thực vật sơ đẳng tiến
hoá lên thực vật cấp cao, mọc thành rừng dày, ảnh hưởng đến những
vùng có tài nguyên như than đá, dầu hoả, quặng mỏ mà nền văn minh nhân loại
mỗi ngày mỗi cần đến.
V́ lịch sử địa chất xưa như vậy,
nên trong ngành địa chất học, người ta phải chia ra nhiều thời kỳ
khác nhau đo dễ thảo luận (nguyên đại Cổ sinh Paleozoi, nguyên đại Trung
sinh Mesozoi, nguyên đại Tân sinh Cenozoi ), nhưng các nhà địa chất cũng chỉ biết
lịch sử trái đất từ vài trăm triệu năm trở lại đây mà thôi,
do nghiên cứu các hoá thạch và các phương pháp dùng đồng vị phóng xạ để
đo tuổi.
Nhờ các kỹ thuật cổ từ học (paléomagnétisme),
ta được biết "xưa thật là xưa, nhớ mấy cho vừa", h́nh hài trái đất
ta ở không phải có dạng như bây giờ.
2. Thuyết trôi dạt lục địa của
Wegener
Nhà bác học Đức Wegener nhận xét cấu tạo
địa chất bờ biển phía Đông xứ Bresil ở Nam Mỹ cũng tương
tự như bờ biển phía Tây Phi châu và nếu trên bản đồ, ta ráp lại hai bờ
biển của hai vùng th́ hai bờ biển đó dính liền được. Nhiều thực
vật cổ xưa có mặt cùng ỏ Nam Phi, Ấn Độ, Nam Mỹ.
Từ các nhận xét đó, Wegener lần t́m ra nhiều
luận chứng về địa chất, địa h́nh, thực vật chứng tỏ
xưa kia các lục địa ngày nay riêng rẽ nhưng cách đây 220 triệu năm, Nam Mỹ
c̣n dính với Phi Châu, Bắc Mỹ c̣n dính với Âu châu, Ấn Độ ngày nay th́ lúc đó
c̣n tận dưới Nam Phi Châu, tất cả tạo thành một siêu đại lục có
tên là Pangea. Dần dà sau đó, cỡ cách nay 200 triệu năm, Pangea nứt ra thành từng
mảng, đầu tiên ra hai mảng lớn, hai lục địa cổ là Gondwana và Laurasia.
Gondwana gồm các châu Phi, châu Úc, Ấn độ, Nam Mỹ, Nam cực ngày nay c̣n Laurasia gồm
Bắc Mỹ và lục địa Âu-Á.
Sau đó, quăng cách nay 135 triệu năm, các lục địa
trên lại tiếp tục phân rời, nhường chỗ cho các đại dương: châu
Phi và Nam Mỹ tách ra, tạo nên Nam Đại Tây Dương, c̣n Laurasia cũng tách ra, tạo
thành bắc Đại Tây Dương.
Mảng Ấn Độ đă bắc tiến trong đêm
dài của lịch sử địa chất và chỉ đụng phải với mảng Trung
Hoa cách đây chỉ vài chục triệu năm, và sự đụng chạm giữa hai mảng
này tạo ra giăy núi Himalaya và sự h́nh thành các rặng núi Miến điện, rặng núi Trường
Sơn Việt Nam, rặng núi Vân Nam.
Lúc đó, có một biển cổ mà các nhà địa
chất gọi tên là Tethys kéo dài từ Âu châu đến Á châu, phân chia Phi châu với Âu Á, chiếm
cái ngày nay gọi là Ấn Độ Dương. Biển cổ Tethys xưa kia rất lớn,
ngày nay c̣n lại Địa Trung Hải, biển Caspian, Hồng Hải, Hắc Hải mà thôi.
Đó là lề thuyết về sự trôi dạt lục
địa (dérive des continents).
Luận thuyết này gây nhiều tranh căi cho đến
măi thập niên 70, học thuyết mảng kiến tạo (plate tectonics) ra đời, giải
thích được nhiều hiện tượng như sự thành lập các giăy núi, các động
đất, các núi lửa cũng như sự hiện diện các đảo san hô và đất
đỏ miền lạnh, các dấu vết băng hà ở sa mạc Sahara.
Tuy nhiên, trước khi đi vào học thuyết mảng
kiến tạo, ta hăy t́m hiểu cấu trúc Trái Đất.
3. Cấu trúc Trái Đất
Tưởng tượng một trái cam tṛn hơi nhăn
nheo đo trên bàn; Trái đất cũng như trái cam vừa nói v́ gồm 3 phần:
3.1 Lớp vỏ ngoài cùng (crust) này rất cứng, có độ dày từ 5 đến 10km dưới đáy biển
mà ta gọi là vỏ đại dương (croute océanique) và từ 32 đến 70km trên mặt
đất, gọi là vỏ lục địa (croute continentale). Nghe tưởng là dầy lắm
nhưng so với kích thước trái dất th́ nó mỏng manh không hơn ǵ vỏ trái cam: đó
là thạch quyon (lithosphère). Thạch quyon không phải là một khối liên tục mà bị
nứt rạn, chia ra nhiều mảng khổng lồ (plate) dính sát gần nhau, cũng như
trái cam có nhiều múi.
3.2 Bên dưới lớp vỏ này là lớp vỏ
trong, gọi là manti (Mantle), dày từ 70 đến 2700km, ở
trên cùng lớp manti đó có một lớp nhờn hơn, dẽo hơn gọi là nhu quyon (asthénosphère).
Manti bị nung chảy ở thể lỏng gọi là magma. Nguyên do chủ yếu làm cho magma
có lối thoát trên bề mặt quả đất là sự dịch chuyển của lớp
vỏ ngoài cùng trái đất (crust).
3.3 - Rồi trong cùng là một nhân (noyau), nhiệt độ lên hàng ngàn độ.
Các đường nhăn nheo trên vỏ cam là các giăy
núi ; các mụn đen trên vỏ cam là các núi lửa.
Lửa, hơi nóng và vật chất dưới ḷng
đất có thể phun lên cao nếu cấu trúc dưới ḷng đất nơi đó thuận
tiện để nó len lỏi đi lên. Vật chất phun lên từ núi lửa một phần
là chất lỏng, một phần chất rắn và một phần là khí, tất cả đó
được gọi là dung nham (magma). Dung nham gồm những đá núi lửa bazan lần
theo những khe nứt dẫn lên trên đất liền hay miệng núi t́m đường
phun trào ra ngoài, chảy tràn lan như một ḍng "suối lửa".
4. Thuyết mảng kiến tạo.
Trong khoa học về Trái Đất, người ta
đưa ra một lư thuyết giải thích sự h́nh thành đại dương và lục
địa, gọi là thuyết kiến tạo mảng.
Xưa kia, ta cứ nghĩ là trái đất bất động,
vỏ đại dương dưới biển sâu cũng bất động và chỉ là
nơi hứng mọi chất lấy từ các lục địa. Ngày nay, nhờ các thám hiểm
sâu dưới ḷng đại dương, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai,
con người hiểu thêm bí ẩn của đáy biển: người ta nhận thấy
giữa đáy đại dương có những giăy núi ngầm rất dài: giăy núi chạy dài
từ Bắc xuống Nam giữa Đại Tây Dương, giăy núi xuyên Ấn Độ Dương,
giữa Nam Băng Dương và Úc Châu, giăy núi ven bờ Thái B́nh Dương v.v...
Trên các giăy núi ngầm này có những đường
nứt nẻ do các dung nham bazan từ sâu trong ḷng đất nóng bỏng bị phun trào ra. Các
phun trào khi lên đến mặt biển bị ngui dần lại và tràn sang hai bên để
tạo chỗ cho các phun trào bazan tiếp nối phun lên, lâu dần tạo thành các giăy núi giữa
đại dương; nói khác đi, vỏ đại dương phải có tuổi đời
trẻ nhất ở các giăy núi giữa đại dương v́ các đá bazan từ ḷng đất
mới phun ra, c̣n ra càng xa giăy núi này, tuổi của đá càng già cỗi hơn.
Và mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, ḍng bazan cứ trào sang hai bên miệng
núi, lan dần và khi các vật liệu bazan này di chuyển đến ŕa lục địa th́
sẽ bị cuốn hút trong các máng biển sâu thẳm (fosse océanique) để lại trở
về ḷng đất ! Có những máng biển sâu trong ḷng đại dương như máng
Mariannes ngoài khơi Phi Luật Tân, máng Aleoutienne ngoài khơi Alaska
v.v...
Như vậy đáy đại dương luôn luôn ở
trạng thái động và di chuyển chậm chạp, cứ chừng vài cm mỗi năm,
làm các lục địa cũng phải di chuyển theo như tấm thảm lăn (tapis roulant)
ta thường đi lên xuống metro mỗi ngày.
Nói khác đi, trong thuyết mảng kiến tạo th́
không phải lục địa di chuyển như theo thuyết của Wegener mà chính là đáy
đại dương di chuyển nên kéo theo lục địa. Thên thảm lăn, ta chỉ
đứng yên trong khi tấm thảm di chuyển.! Trái đất nổi trôi trên những mảng
kiến tạo (plate) tức những thảm lăn.
Những giăy núi giữa đại dương đă
chia bề mặt rắn chắc qủa đất thành nhiều mảng (plate, plaque) không bằng
nhau. Có chừng 15 mảng lớn nhỏ.
Các mảng lớn phải kể: mảng Âu Á, mảng
Thái B́nh Dương, mảng Phi châu, mảng Bắc Mỹ, mảng Úc châu, mảng Ấn độ
và mảng Nam băng dương
Các mảng nhỏ như các mảng Caraibes, mảng
Arabi, mảng Cocos ở ngoài khơi bờ bion phía Tây Trung Mỹ, Nazca ngoài khơi rặng núi
Andes Nam Mỹ, Juan de Fuca gần bờ bion bắc Cali v.v...
Có mảng chỉ gồm có vỏ đại dương
(oceanic crust, croute océanique) như mảng Thái B́nh Dương, có mảng vừa có vỏ đại
dương, vừa có vỏ lục địa (continental crust, croute continentale) như mảng
Âu Á, mảng Mỹ Châu, mảng Phi Châu, mảng Úc Châu.
Các mảng này dày gần cả trăm km., nằm dưới
vỏ trái đất. Các mảng này lại nổi trôi trên nhu quyển (asthénosphère) tức quyển
mềm nằm dưới thạch quyển (lithosphère). Lớp nhu quyển này mềm, dễ
uốn, dễ bị biến dạng. Chính lớp nhu quyển này cơng lớp thạch quyển
cùng 5 lục địa trên lưng của nó. Và chính v́ các mảng di chuyển nên các lục
địa cũng di chuyển theo như tấm thảm lăn.
5. Sự chuyển động của các mảng
kiến tạo.
Như trên vừa tŕnh bày, các lục địa không
đứng yên mà dịch chuyển trên nhu quyển (asthenosphere) nằm ở độ sâu 30-70km
dưới mặt đất. Tương tự như khi nấu nước có đậy
vung, nước sôi sẽ bốc hơi lên trên mặt vung nồi, có khi làm mặt vung rung chuyển
và lại trở về xuống dưới th́ các ḍng đối lưu nhiệt (courant de convection)
trong ḷng trái dất tạo ra năng lượng lớn làm cho các mảng di chuyển. Các lục
địa cũng như đại dương đều di chuyển không ngừng, tuy các
chuyển động ấy rất chậm, nếu tính theo tuổi đời con người:
10km mỗi một triệu năm, nhưng với thời gian địa chất th́ trái đất
di chuyển nhanh lắm. Đă có tiên đoán là Úc Châu sẽ dính liền với Indonesia trong vài chục triệu năm cũng như Đông Phi sẽ
tách ra khỏi lục địa Phi Châu: nhiều xứ Đông Phi như Rwanda,
Uganda, Kenya
trên thực tế đă có nhiều hồ rất lớn ngăn cách với các xứ lân cận!.
Như vậy, các lục địa có thể ví như
những chiếc bè đang trôi dạt cực kỳ chậm chạp trên quả địa
cầu. Qua các sự chuyển động này của các mảng, gây ra bởi các chuyển động
chậm chạp của magma mà tạo ra các đại dương (2 mảng rời nhau) và
xuất hiện các rặng núi (2 mảng chạm nhau).
Như vậy, vỏ trái đất giăn ra chỗ này
th́ phải co rút chỗ kia, chui xuống lại các hố sâu đại dương nên cuối
cùng khối lượng trái đất vẫn giữ nguyên. Hoạt động các mảng
kiến tạo thường diễn ra ở các mặt tiếp giáp như sau:
5.1- Khi các mảng kiến tạo rời xa nhau (divergent
boundary) sẽ tạo ra khe nứt nên dung nham bazan dưới
ḷng đất trào phun lên, tạo ra các giăy núi ngầm dưới đại dương (ocean
ridge, dorsale océanique), với những núi lửa dưới biển hoặc trên cạn như
tại xứ Islande. Xứ Islande này là xứ do toàn núi lửa tạo nên và giăy núi đại
dương ở đây lại nổi lên mặt đất. Ranh giới giữa hai mảng
xa rời nhau ra gọi là ranh giới xây dựng v́ tại đây luôn tạo ra vỏ mới
ở các giăy núi giữa đại dương.
Dăy núi ngầm giữa Đại Tây Dương càng
ngày bị tách ra và do đó châu Âu và châu Mỹ càng ngày càng cách xa nhau.
5.2- Khi 2 mảng đều cùng là mảng lục địa
mà chạm nhau (collisionnal boundary) th́ chúng sẽ nén vào nhau và
nâng lên cao tạo ra các rặng núi, tương tự như khi hai xe hơi đụng đầu
vào nhau th́ sườn xe bị méo mó.
Vài ví dụ :
- giăy núi Himalaya
là do mảng Án Độ đụng đầu vào mảng Âu Á chỉ cách đây quăng 50 triệu
năm; do đó tuy rất cao và c̣n tiếp tục cao lên nữa nhưng tuổi địa
chất c̣n rất trẻ :
Non cao, tuổi
vẫn chưa già,
- Non th́ nhớ nước, nưóc th́
quên non
- giăy núi Alpes khi mảng Phi Châu chạm vào phía nam mảng Âu Á
- giăy núi Appalaches khi
mảng Đại Tây Dương nén vào mảng Bắc Mỹ.
5.3- khi 2 mảng đều cùng là mảng đại
dương mà chạm nhau (convergent boundary) (ví dụ: mảng
Thái B́nh Dương) đụng phải phần đại dương của mảng Âu Á,
mảng Thái B́nh Dương đụng phải mảng Phi Luật Tân) hoặc khi một mảng
đại dương chạm phải một mảng lục địa (ví dụ mảng
Thái B́nh Dương đụng phải mảng lục địa của Nam Mỹ, mảng
đại dương Juan de Fuca đụng phải mảng lục địa Bắc Mỹ)
th́ đáy đại dương sẽ chui xuống mảng lục địa v́ nặng hơn
và tạo ra mt vùng hút ch́m (zone de subduction). Cái mảng bị chui xuống đó sẽ bị
lớp nhu quyển của Trái Đất nuốt tiêu đi tạo ra các phun trào bazan lên mặt
đất, tạo ra núi lửa.
Do đó có một đai dài núi lửa tạo thành ṿng
cung quanh Thái B́nh Dương, từ Nam Mỹ (Chili, Pérou) đến Bắc Mỹ (núi St Helens),
qua đến Nhật, Phi Luật Tân... Chính tại các vùng hút ch́m mới xảy thường
xuyên các trận động đất. như Cali,
Nhật v.v... Các trận động đất ở Guatemala, Mexico, Honduras
cũng là do mảng Caraibes đụng phải mảng Nam Mỹ.
Ranh giới giữa các mảng đụng phải nhau
gọi là ranh giới hủy hoại v́ tại nơi đây vỏ Trái Đất bị tiêu
hủy đi tại vùng hút ch́m.
5.4- Có thể hai mảng trượt bên cạnh nhau,
cọ xát vào nhau. Đây gọi là ranh giới truợt bằng
biến dạng (transform boundary); ranh giới này không huỷ hoại cũng như không tạo
ra vỏ mới. Ngựi ta thường lấy ví dụ đứt găy (fault, faille tiếng
Pháp) San Andreas ở tiểu bang Cali làm ví dụ điển h́nh về loại tiếp giáp trượt
bằng : phía Tây đứt găy này là mảng Thái B́nh Dương di chuyển về Tây Bắc
c̣n phía Đông của đứt găy là mảng Bắc Mỹ di chuyển về Đông Nam. Thành
phố Los Angeles nằm trên mảng Thái B́nh Dương hiện nay cách
San Francisco hàng trăm cây số về phía nam nhưng v́ mảng di chuyển
nên 16 triệu năm nữa sẽ ở phía bắc San Francisco
!
6.Các hậu qủa của sự chuyển động
các mảng kiến tạo: Động đất, núi lửa
Sự di chuyển khi tách rời, khi đụng nhau
của các mảng kiến tạo mới tạo ra các động đất, núi lửa, sóng
thần. Hai mảng kiến tạo rời nhau ra, tạo cơ hội cho sự h́nh thành các
giăy núi lửa ở đáy đại dương và có thể tạo ra những cù lao hay đảo
mới; hai mảng kiến tạo lục địa chạm nhau tạo ra giăy núi. Với thời
gian, núi bị san bằng, thung lũng có thể nâng lên thành núi, thay đổi bộ mặt
của trái đất.
6.1.Động đất Khi có sự dịch chuyển của hai mảng kiến tạo, ranh giới tiếp xúc
của hai mảng trượt chạm nhau nên phát sinh ra động đất.
Động đất thường quanh quẩn
nhiều nhất ở hai vành đai sau đây:
- vành đai Thái B́nh Dương kéo dài từ Nam Mỹ
đến Bắc Mỹ (như Cali) ṿng qua Alaska xuống Nhật Bản, Đài Loan, Phi Luật
Tân và xuống Indonesia
- vành đai các xứ quanh bờ Địa Trung Hải
đến Trung Đông (Iran, Afghanistan), Tây Tạng.
Khi hai mảng chạm nhau sẽ phát sinh ra năng lượng
động đất. Năng lượng này truyền đi ở dạng sóng gọi là sóng
động đất (seismic wawe) làm các vật bị lắc lư, rung chuyển.Các sóng động
đất được ghi lại bằng máy địa chấn (seismograph). Cường
độ rung động đuợc tính theo thang Richter. Cường độ Richter v́ tính
theo logarit thập phân nên cường độ 6 mạnh gấp 10 lần cường độ
5 hoặc gấp 100 lần cường độ 4 v.v... như vậy trên 6 có tho xem là mạnh.
Việt Nam
cũng có những trận động đất liên quan đến các đứt găy (faille)
địa chất như đứt găy Sông Hồng, đứt găy sông Cả, đứt găy
sông Đà.
Các sóng động đất, -c̣n gọi là các sóng địa
chấn-, thường có 3 loại:
- Sóng P (Primary) phát
sinh đầu tiên, truyền trực tiếp từ tâm động đất theo chiều
thẳng đứng, có khả năng đi qua các vật liệu, làm mặt đất bị
xô đẩy nhấp nhô (Push-Pull) và tạo nên âm thanh ́ ầm thường được các
động vật nhạy cảm khiến voi giựt khỏi giây xích, gà, chó có dấu sợ
hăi, hoảng hốt và càng gần thời điểm bùng phát động đất th́ độ
hoảng hốt càng gia tăng.
- Sóng S (Secondary), xuất
phát chậm hơn sóng P đôi chút và di chuyển ngang, làm các vật trên bề mặt bị
lắc lư (Side to Side), con người cảm thấy tự nhiên choáng váng, nước trong
hồ bơi lắc lư như con tàu say sóng. Chính sóng này gây tai hại nhiều nhất: nhà
rung, cầu sập, người chết
.- Sóng L là sóng lan truyền trên bề mặt (lateral)
như khi mặt nước hồ đang tĩnh lặng, có một viên sỏi ném xuống
mặt hồ th́ có nhiều lan truyền. Đây chính là làn sóng gây ra sóng thần khi có động
đất mạnh ở biển; làn sóng này tiến lan gặp nhiều xứ ở quanh Ấn
độ dương cuối năm 2004, gây tai ương mất tích hàng trăm ngàn người
ở các xứ Sri Lanka, Ấn độ, Indonesia, Thái Lan... Sóng L có diện tích lan truyền
lớn nên có tên là Large wave..
6.2. Đơng đất mạnh ngoài biển kéo theo
sóng thần. Do sự lan truyền các sóng chấn động
do động đất ở biển nên kéo theo sóng thần. Ngày 26 tháng 12 năm 2004, động
đất có tâm chấn nằm ngoài khơi đảo Sumatra khoảng
160 km với cường độ theo thang Richter lên đến 9. Vùng này là nơi tiếp giáp
của hai mảng kiến tạo lớn, tức mảng Ấn-Úc chạm vào mảng kiến
tạo Indonesia (một phần của mảng kiến tạo Âu Á ) hai mảng này cọ sát
mạnh, mảng Ấn Độ ch́m hút dưới mảng kiến tạo Indonesia, gây động
đất mạnh, sâu dưới ḷng đại dương. Động đất xảy
ra dưới biển ở cách sâu đáy biển chừng 10km khiến đáy biển sinh ra
các đứt găy (faille), ép lượng nước khổng lồ phun lên tại các vùng hút
ch́m (subduction), và từ trung tâm chỗ động đất dưới biển sẽ tạo
ra những đợt sóng cao, gọi là sóng thần, truyền đi cả ngàn cây số và với
vận tốc hàng trăm km mỗi giờ, tàn phá các bờ biển phía đông Sri Lanka, phía
đông Ấn Độ, nam Thái Lan, Miến Điện... Khi sóng thần tiến vào bờ,
tạo thành một ḍng ngầm cực mạnh, khiến cho nước ven bờ rút vào khoảng
25 phút trước khi sóng ào tới. Nước rút nhanh bất thường và rời xa bờ
khá xa là dấu hiệu của sóng thần sắp tấn công. Sóng thần di chuyển dưới
biển sâu nhưng khi gần bờ biển cạn hơn, bờ tạo thành vật cản
nên khối nước khổng lồ bị trồi lên khỏi mặt nước mỗi
lúc một cao v́ khi làn sóng trước chậm lại th́ nước đàng sau tụ lại,
tạo thành làn sóng có thể cao bằng cao ốc 10 tầng. Vùng Thái B́nh Dương thường
xuyên xảy ra sóng thần nên Mỹ có xây dựng hệ thống báo động sóng thần
(Seismic seawawe warning system SSWS) đặt rải rác nhiều nơi trên biển. Nạn sóng thần
không những gây tang tóc cho hàng trăm ngàn người mà c̣n huỷ hoại luôn môi trường
sống. Thực vậy, ruộng lúa, vườn tược đều bị nhiễm mặn
khi nước biển tràn vào nên phải chờ nhiều năm chất mặn trôi đi mới
trồng tỉa lại được
6.3 Núi lửa. Như
trên vừa tŕnh bày, giữa đáy đại dương có nhiều rặng núi lửa do đá
bazan nóng chảy từ ḷng đất phun ra và sự phun trào ra hai bên chỗ nứt tạo
ra các mảng kiến tạo. Ngoài ra cũng có một loại núi lửa khác do sự va chạm
của các mảng đại dương và mảng lục địa. Trong trường hợp
này, đá phun trào thường là loại andesit (do chữ Andes, giăy
núi ở Nam Mỹ ).
Núi lữa gặp nhiều tại:
-
ṿng đai Thái B́nh Dương, tạo thành
một cánh cung chạy dài từ bờ Đông Châu Á (Nhật, Philippine, Indonesia) cho đến ŕa phía Tây châu Mỹ (như núi Saint Helen).
Ở Việt Nam, cách nay khoảng 1 triệu năm, núi lửa phun trào đă phát triển nhiều
ở Pleiku, Darlac, Lâm Đồng, Long Khánh tạo nhiều vùng đất đỏ bazan rất
ph́ nhiêu.
-
- ṿng đai Địa Trung Hải, chỗ
tiếp xúc giữa mảng kiến tạo Phi Châu với mảng Âu Á như các núi lửa Vesuve,
Etna v.v. Núi lửa Vesuve đă phá hủy chôn vùi thành phố Pompei ở Nam Ư.
Trên thế giới có khoảng 500 núi lửa hoạt
động, tập hợp thành các đai núi lửa, thường đi cùng với các đai
động đất. Thực vậy, hai hiện tượng này đi liền nhau theo thuyết
mảng kiến tạo. Vành đai động đất quanh bờ Thái B́nh Dương, ven
bờ Địa Trung Hải cũng là vành đai núi lửa !
Có nhiều loại núi lửa: núi lửa phun nổ (explosive)
và núi lửa chảy tràn (effusive) Núi lửa khi phun nổ sẽ phóng lên không trung bụi,
tro, khí, gây biến động thời tiết và gió có thể thổi đi xa; bầu trời
bị tối đen, gây ảnh hưởng đến môi trường. Năm 1982, núi lửa
ở El Chichón, Mễ Tây Cơ phun lên không trung bụi giàu chất sunfua rồi gió cuốn tung
bay khắp thế giới cũng như hoạt động núi lửa ở Pinatubo ở Phi
Luật Tân năm 1991.
Núi lửa khi chảy tràn th́ tuôn ra mặt đất
ḍng chảy lửa nóng bỏng nên phá vỡ mọi vật trên đường di chuyẻn;
khi ngui lại th́ bị đông cứng, đất như béton rắn chắc không trồng
trọt được. Tuy nhiên vài ngàn năm sau đó, các tảng đá núi lửa sẽ bị
phong hoá tạo ra nhiều vùng đất đỏ màu mỡ như ở Cao nguyên Pleiku, Lâm
Đồng, Gia Kiệm... Cũng có thể các dung nham khi chảy làm bít kín các thung lũng nên
gây lũ lụt vùng thượng nguồn.
7. Kết luận.
Xưa kia, người ta xem các tai biến tự nhiên
như những phẫn nộ của Thượng Đế : người Hi Lạp cổ
cho rằng sóng thần do thần bion Poseidon; người các hải đảo Thái B́nh Dương
cho rằng nữ thần Pele khi giận lên làm cho núi lửa phun nổ. Nhà văn hào Voltaire
(1694-1778), trong sách mang tên Candide, có viết về trận động đất tàn phá thành phố
Lisbonne ở Portugal năm 1755, cho rằng Thượng Đế trừng phạt thành phố
về sự chơi bời trác táng. Văn hoá Việt cổ cho rằng con cóc là cậu ông
trời, ai mà đánh nó th́ Trời đánh cho v.v...
Ngày nay, nhờ thuyết mảng kiến tạo, con
người hiểu được các bí mật của vũ trụ, cơ chế của
các tai biến tự nhiên như do các năng lượng khổng lồ từ ḷng đất
đă tạo nên những núi lửa, động đất, sóng thần, sự thành lập
các rặng núi v.v... Tri thức luận (épistémologie) đă thay đổi. Trái Đất là một
hệ thống động, thay đổi không ngừng, có tương quan nhiều chiều
giữa di chuyển các mảng đến núi lửa, động đất, h́nh thành non cao,
biển thẳm và ảnh hưởng không riêng ǵ xứ bị tai nạn mà c̣n lan ra khu vực.
Tuy từ nay hiểu được cơ chế của
động đất núi lửa nhưng con ngưỡi vẫn chưa tiên đoán thời
điểm chính xác của sự xuất hiện một trận động đất như
chẳng hạn trận động đất dưới biển ngoài khơi Sumatra
cuối năm 2004. Nhưng một khi hiểu được nguyên nhân, con người sẽ
t́m cách quy hoạch được cách xây dựng nhà cửa, cầu đường một
cách an toàn hơn như ở Nhật, Đài Loan, các công tŕnh cao ốc được thiết
kế với các kỹ thuật hiện đại hơn. Chỉ ước mong khoa học
kỹ thuật ngày nay dần dà khống chế được hoặc ít nhất tiên đoán
được do pḥng ngừa, giảm tổn thất sinh mạng.
|
|

|

|