
|

|
|
TRÊN CHIẾN
TRƯỜNG XƯA - (33 năm sau ngày găy súng)
phạmtínanninh
Hơn ba mươi năm sau, cùng với bốn anh em trong đơn
vị xưa, chúng tôi trở lại Kontum t́m thăm nơi an nghỉ của những đồng
đội cũ. Trong những năm 72 và 73, đơn vị chúng tôi đă có hơn
hai trăm anh em vĩnh viễn nằm lại nơi này để giữ vững miền địa
đầu, cửa ngơ quan trọng nhất vào Tây Nguyên, nơi có bản doanh Bộ Tư Lệnh
Quân Đoàn nằm không xa phía dưới - thành phố Pleiku.
Dừng chân dưới chân núi ChuPao, nhớ tới những trận đánh
khó khăn ác liệt với những toán địch quân bị xích chân trong những hầm
núi đá, cố bám trụ những cái “chốt”, nhằm cắt đứt QL 14, con
đường huyết mạch nối liền Kontum với Pleiku, và h́nh dung tới từng
khuôn mặt của những anh em đă không bao giờ c̣n trở lại, một số đă
gởi xác thân lại cho rừng núi nơi này, tôi xót xa khi nghĩ là ḿnh c̣n mắc nợ họ.
Món nợ máu xương không bao giờ trả được.
Ngày ấy chiến trường ác liệt, có nhiều người lính phải
hy sinh ngay khi vừa mới bổ sung cho đơn vị, mà ban quân số chưa kịp nhận
hồ sơ lư lịch. Đa số rất trẻ, độc thân, và gia đ́nh ở tận
những miền xa, nên mồ mả không có ai chăm sóc. Hơn ba mươi năm rồi,
qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, có lẽ hầu hết các nghĩa trang trong
thành phố đă bị giải tỏa từ lâu, và nếu có được cải táng ở
một nơi nào đó, chắc trên mộ bia không c̣n ghi đơn vị cũ. Chúng tôi đến
đây như để t́m lại chút kỷ niệm và mong được vơi đi chút
nào ḷng trắc ẩn, chứ chuyện t́m lại được mồ mả của anh em
– hy vọng rất mong manh.
Cả thành phố Kontum bây giờ đă đổi khác. Khó khăn lắm chúng
tôi mới t́m được các địa danh ngày trước. Những B12, B15, Thành DakPha,
Đồi Sao Mai, Bệnh Viện Dă Chiến. Nơi có những bản doanh, căn cứ từng
mang tên những người anh, người bạn anh hùng của tôi đă nằm xuống
để bảo vệ Kontum: Vơ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm…Chúng
tôi t́m đến một số nhà quen lúc truớc. Tất cả không c̣n. Những người
chúng tôi gặp đa số mới vào từ miền Bắc. Người Kontum xưa giờ
chắc cũng đă tứ tán bốn phương trời. Tội nghiêp cho người dân
Kontum bất hạnh. Bao nhiêu năm tháng hứng chịu chiến tranh, có lúc thành phố bị
mỗi ngày hàng ngàn quả đạn pháo, vậy mà họ vẫn ở lại, vẫn cùng
với những người lính chúng tôi giữ vững thành phố này trong suốt những
thời kỳ ác liệt nhất. Nhưng rồi cuối cùng, giữa tháng 3/75, Kontum bị
bỏ rơi tức tưởi khi không c̣n bóng dáng quân thù. Những người lính ở đây
được lệnh tử thủ, ngăn chặn miền địa đầu tam biên
cho Pleiku di tản. Tôi từng được nghe người Kontum kể lại chuyện
những người lính hào hùng, tự sát vào giờ thứ 25, khi Kontum bị lọt vào tay
giặc. Nghĩ tới đó, ḷng tôi thấy nghẹn ngào, nước mắt cứ trào ra.
Đúng như chúng tôi dự đoán, tất cả mọi nghĩa trang trong
thành phố, nơi bạn bè tôi được chôn cất, không c̣n nữa, người ta đă
giải tỏa để xây lên một số cơ sở công quyền và những khu giải
trí.
Chúng tôi t́m đến Ṭa Giám Mục, cũng là nơi mà đơn vị chúng
tôi đă phải đổ khá nhiều máu xương để tái chiếm trong Mùa Hè Đỏ
Lửa. Một vị linh mục đứng tuổi, tiếp chúng tôi niềm nở. Ông cho
biết là, mồ mả trong các nghĩa trang lúc xưa đă được cải táng và chuyển
đến địa điểm mới, nằm trên cây số 9, đường lên Tân Cảnh.
Tuy nhiên chỉ có những ngôi mộ có thân nhân nhận lănh và tự cải táng th́ mới có
mộ bia, c̣n những ngôi mộ khác th́ không biết ra sao. Ngài c̣n tốt bụng, sẵn sàng
hướng dẫn chúng tôi đến đó. Cây số 9, gần căn cứ Non Nước,
nơi ngày xưa đơn vị tôi đă bao lần cùng với các chiến sĩ thiết
giáp hào hùng của Chi Đoàn 1/8 KB đẩy lui những đợt tấn công biển người
của địch, giữ vững cửa ngơ vào thành phố Kontum.
Mất gần hai tiếng đồng hồ, đi khắp nghĩa trang, chúng
tôi vẫn không t́m ra bia mộ nào có cái tên quen. Nhiều ngôi mộ không có bia. Đưa vị
linh mục trở lại Ṭa Giám Mục, cám ơn và chia tay ngài. Đă hơn 12 giờ trưa,
chúng tôi t́m một nơi nào đó để ăn cơm. Nhớ tới quán ăn Bạch Đằng
và Thiên Nam Phúc ngày xưa, nơi có mấy cô chủ quán dễ thương, mà đám lính tráng
chúng tôi thường ghé lại đây ăn uống sau những tháng ngày dài hành quân trong núi,
một anh bạn hỏi thăm đường đến đó. Nhưng quán bây giờ đă
đóng cửa và những người xưa cũng đă trôi dạt về những nơi
nào đó. Bọn tôi rủ nhau ra bờ sông Dakbla, dọc theo con đường về làngTân
Hương, nơi lúc xưa có mấy cái quán nhỏ để những ngày tương đối
b́nh yên, bọn tôi ra ngồi uống cà phê, ngắm ḍng sông chảy ngược, tạo huyền
thoại một thời này, mà nhớ tới vợ con hay người t́nh đang ở đâu
đó, để rồi sau lúc chia tay chẳng biết ngày mai ai c̣n ai mất. Dọc theo bờ
sông bây giờ là những hotel, nhà hàng, nhà trọ và biệt thự của các ông quan lớn.
Cuối cùng chúng tôi cũng t́m ra được một cái quán ăn b́nh dân, nhưng khá sạch
sẽ, nằm dưới tàng của một cây trứng cá.
- Buổi trưa nên vắng khách. Bà chủ vui vẻ vừa đón chúng tôi vừa
giải thích.
Chúng tôi chọn một cái bàn nhỏ gần bờ sông. Xa xa phía bên kia là làng
Phương Ḥa thật dễ thương ẩn ḿnh dưới những vườn cây. Nh́n
mấy bờ đê bên b́a làng, tôi nhớ tới cái chết của người phi công anh hùng
Phạm văn Thặng. Tôi đă chứng kiến phi vụ thật can trường này. Anh
là trưởng phi tuần gồm hai chiến đấu cơ AD-6 , đánh bom vào một mục
tiêu có nhiều ổ súng pḥng không của địch. Anh lao phi cơ xuống thật thấp
bắn chính xác, tiêu hủy mục tiêu, tạo một đám cháy và nhiều tiếng nổ
phụ, rồi bay lên từ trong đám lửa ấy. Đang trên đường bay về,
anh phát hiện có nhiều đạn pḥng không bắn lên từ một khu vực khác. Anh quay
trở lại, lao phi cơ xuống trút hết những quả bom c̣n lại, rồi bay vút
lên không trung. Đúng lúc ấy, máy bay anh bị trúng đạn. Cánh bên phải phát hỏa. Anh
phi tuần phó bay kèm theo, bảo vệ và hối thúc anh nhảy dù ra. Bộ binh chúng tôi cũng
sẵn sàng tiếp cứu. Nhưng anh từ chối, bảo là nếu anh nhảy dù ra, phi
cơ sẽ rớt xuống khu dân cư trong thành phố. Anh cố gắng bay qua bên kia bờ
sông, đáp khẩn cấp (crash) xuống khu ruộng trống phía dưới. Anh điều
khiển thật tài t́nh, nhưng v́ phi cơ đă hư hỏng, không c̣n theo ư muốn, đâm
vào một bờ đê và phát nổ. Anh Phạm văn Thặng đă anh dũng hy sinh. Điều
cảm động hơn, khi người đại diện của Sư Đoàn đến
nhà anh để chia buồn cùng gia đ́nh và đưa anh đến nơi an nghỉ cuối
cùng, đă kể lại cảnh nghèo nàn của gia đ́nh anh, một trung tá phi công của QLVNCH.
- Mấy ông anh từ xa tới. Chắc tính làm ăn ǵ chứ cái thành phố
này th́ có cái ǵ mà tham quan. Phải không? Câu hỏi của chị chủ quán làm tôi giật
ḿnh. Mấy anh em khác im lặng, nh́n tôi như thầm nhắc cho tôi cái nhiệm vụ trả
lời.
- Không, bọn tôi t́m thăm người quen, nhưng không gặp. - Ở
khu vực nào, có nhớ địa chỉ không ? Tôi sẽ t́m giúp các anh. Tôi là dân ở đây
mà. Tôi mỉm cười :
- Cám ơn chị. Ở trong nghĩa trang thành phố, nhưng đă bị
dọn đi nơi khác rồi, biết đâu mà t́m. Chị chủ quán khựng lại
chưa kịp để thức ăn xuống bàn, nh́n tôi ngạc nhiên :
- Sao lại phải ở trong nghĩa trang ? - V́ họ đă chết rồi.
Chết từ năm 1972 lận. Tôi buồn bă trả lời . - Vậy chắc các anh đây
là lính Cộng ḥa ḿnh ? thuộc đơn vị nào ? Nghe mấy chữ “lính Cộng
ḥa ḿnh” tự dưng tôi cảm thấy gần gũi với người đàn bà xa lạ
này. Tôi thân thiện : - Anh em bọn tôi thuộc sư đoàn 23, trung đoàn 44 chị ạ.
- À, vậy có anh nào ở đại đội trinh sát ? - Không, bọn tôi ở trung đoàn
và tiểu đoàn . Một người trong chúng tôi trả lời.
Sau một khắc yên lặng, chị lên tiếng: - Em có mấy người
bạn ở trinh sát. Lúc trước cũng nằm trong nghĩa trang thành phố, nhưng khi
có lệnh giải tỏa, em đă chuyển các anh ấy lên cây số 9 rồi. Chị chủ
quán tỏ ra thân thiện và thay đổi cách xưng hô.
Chúng tôi vừa bất ngờ vùa xúc động. Sau khi dọn bàn xong, mang nước
trà ra mời chúng tôi, chị kéo ghế ngồi xuống rồi tâm sự. Th́ ra chị là
bạn gái của anh B́nh, trung sĩ B́nh, ở đại đội trinh sát của đại
úy Minh, sau này là đại úy Mạnh. Anh tử trận hồi mùa hè 1972. Ngày đó chị c̣n
đang đi học, nhưng chiến tranh ác liệt quá, trường phải tạm đóng
cửa. Chị ở nhà phụ bán cà phê cùng với người chị ruột. Bà chị này
quen khá thân với Mạnh. Khi ấy Mạnh c̣n là trung úy đại đội phó. Anh B́nh thường
theo Mạnh tới đây, rồi dần dà quen nhau. Từ khi B́nh chết, chị thường
đến thắp hương và chăm sóc mộ phần B́nh và những đồng đội
của anh nằm trong nghĩa trang thành phố.
Năm 1978, nhà cầm quyền Cộng sản ra lệnh giải tỏa nghĩa
trang, chị chạy khắp nơi kêu gọi bà con cùng góp tiền góp sức với chị,
nhưng cũng chỉ kịp cải táng hơn 20 ngôi mộ của những anh em trinh sát về
địa điểm mới. Hầu hết mồ mả của những anh em chiến sĩ
c̣n lại, đă bị san bằng. Chúng tôi cảm động. Không ngờ trong thời buổi
nhá nhem t́nh nghĩa, có lắm kẻ sớm vong ơn, phản suy phù thịnh, vẫn c̣n có nhiều
người Kontum nặng t́nh với lính.
Theo yêu cầu của bọn tôi, chị cùng chúng tôi đi thăm mộ anh B́nh
và các anh em trinh sát. Hơn hai mươi ngôi mộ được xây bằng đá đơn
giản, nằm bên nhau ở khu phía đông nghĩa trang. Điều đặc biệt trên
các tấm bia, trước mỗi cái tên đều có kẻ hai chữ TS. Chúng tôi thắp hương
cho từng ngôi mộ xong, quay lại th́ thấy chị đang ngồi sụt sùi trước
mộ anh B́nh. Khi thấy bọn tôi, chị lau nước mắt đứng dậy và nói
một ḿnh:
- Thật tội nghiệp, anh ấy hy sinh khi t́m cách chui qua hàng rào để
bắn hạ chiếc xe tăng của VC vừa đột nhập vào chiếm bệnh viện
Tôi nhớ lại trận chiến ác liệt này. Khi VC mở đợt tấn công thứ
nh́ vào thành phố Kontum nhằm rửa hận lần thảm bại ở tuyến tây bắc:
Hơn một trung đoàn bộ và nguyên một tiểu đoàn xe tăng của sư đoàn
320 bị chúng tôi xóa sổ. Lần này chúng dùng mấy chiếc M113 đă cướp được
của Sư Đoàn 22 BB từ khi Tân Cảnh thất thủ, dẫn đầu môt đơn
vị gồm những chiến xa T 54 + T59 có bộ binh yểm trợ, nhằm lừa phi cơ
quan sát của ta, xâm nhập vào bệnh viện dă chiến, nằm cạnh thành DakPha, cách ṿng
đai phi trường chừng 800 mét, với thủ đoạn lợi dụng vào những
thường dân và binh lính bị thương nằm trong bệnh viện, để uy hiếp
lực lượng của ta. Tiểu Đoàn 4/44 do Thiếu Tá Vơ Anh Tài chỉ huy đă đánh
một trận chiến vô cùng gay go ác liệt với một lực lượng địch
đông gấp ba lần, dùng chiến xa T 54 làm nổ lực chính. Xe tăng địch nép
theo những vách nhà bệnh viện. Muốn diệt chúng phải tiếp cận để
có thể dùng những khẩu M 72 hiệu quả, anh Tài cùng toán quân báo đă dẫn đầu
đơn vị, t́m cách chui qua hàng rào bệnh viện, và anh đă hy sinh bởi bị chính
ḿn của ta phát nổ. Người anh cả của Tiểu Đoàn, một sĩ quan xuất
thân từ khóa 16 VBĐL lừng danh, đă nằm xuống dọn đường cho đơn
vị ḿnh cứu nguy bệnh viện, nơi có đồng bào và cả đồng đội
của anh bị địch quân dùng làm bàn đạp trong ư đồ bất nhân của chúng.
Đại Đội Trinh Sát đang bảo vệ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn được
điều động tiếp ứng, đột nhập đánh vào sườn địch.
Trinh Sát 44, một đại đội với bao chiến công hiển hách từ thời đại
úy Trần Công Lâm, Phan công Minh và sau này là Đoàn quang Mạnh, đă đánh một trận thật
tuyệt vời, bắn cháy nhiều chiến xa địch, đuổi đám tàn quân Cộng
sản chạy thoát thân ra khỏi bệnh viện và giữ vững một lần nữa
ṿng đai thành phố. Đại đội Trinh sát này dưới sự chỉ huy tài ba và
gan dạ của trung úy Phan Công Minh, đă từng đánh một trận thần tốc, chỉ
bằng lựu đạn và cận chiến, giải cứu cho một Tiểu Đoàn BĐQ
/BP bị vây trên đỉnh núi ChuPao. Minh bị thương nhưng vẫn tiếp tục
điều quân, vừa phá ṿng vây cứu nguy cho đơn vị bạn, vừa diệt những
cái chốt cuối cùng, khai thông QL 14, để lực lượng chiến xa của Lữ
Đoàn II KB lên tăng cường cho mặt trận và hộ tống đoàn xe tiếp tế,
lần đầu đến Kontum kể từ khi cuộc chiến khởi đầu. Tướng
Trần văn Hai, nguyên Chỉ huy trưởng BĐQ, lúc ấy là TLP/ QĐII đă cùng đại
tá TMT/QĐ Lê Khắc Lư, đến QYV Pleiku ôm lấy người đại đội trưởng
trẻ tuổi tài ba gan dạ Phan Công Minh ngay khi vừa mới được tản thương
về, và gắn lon đại úy cùng anh dũng bội tinh với nhành dương liểu
cho Minh tại đây. Lúc ấy Minh vừa tṛn 25 tuổi.
- Đại úy Mạnh bây giờ ở đâu, các anh có gặp anh ấy không
? Câu hỏi của chị đă cắt mất ḍng hồi tưởng của tôi. Tôi lên
tiếng trả lời chị :
- Anh Mạnh đă chết trong tù cải tạo từ năm 1978 chị ạ.
Im lặng một lúc, tôi lại nghe tiếng chị khóc .
- Chị Hà em, bạn gái của anh Mạnh lúc xưa cũng bị chết
năm 75 khi VC vào chiếm Kontum. Mộ chị nằm ở ngay phía trước đây.
Vừa nói, chị vừa dẫn chúng tôi đến đó. Nh́n bức ảnh
trên mộ bia tôi mang máng nhớ lại người con gái tên Hà ở một quán cà phê nhỏ
nằm trong vườn cây sau nhà, hơn ba mươi năm về truớc.
Nghĩa địa mới này nằm không xa làng Trung Nghĩa. Tôi rủ chị
cùng với chúng tôi ghé lại lại thăm làng và khu nhà thờ. Nơi mà ngày xưa ông cha chánh
xứ đă cùng chúng tôi chiến đấu bảo vệ những giáo dân ngoan đạo .
Nghe nói ngài đă bị tra tấn đến chết trong trại tù cải tạo. Ra khỏi
nghĩa trang, nh́n về phía bắc, rừng núi ngày xưa, dù không tránh được dấu
vết của đạn bom, nhưng vẫn c̣n xanh tốt, giờ sao lại xơ xác điêu
tàn. Tôi hỏi chị bạn gái anh B́nh, nghe tiếng chị thở dài :
- Tham nhũng bây giờ c̣n tàn phá nhiều hơn cả chiến tranh ngày trước
. Tôi nhớ lại những vụ án ở đây, có liên quan đến nhiều ông lớn.
Mới đây bà Thao Y B́nh, Bí Thư Tỉnh Đoàn Kontum đă ăn cướp đến
gần 140 tỷ đồng của dân nghèo, và ông Trần văn Thiên, chủ tịch huyện
Dak Glei đă thông đồng bán bao nhiêu gỗ quí.
Trên đường vào làng Trung Nghĩa, tôi hồi tưởng tới trận
chiến trên tuyến Tây Bắc Kontum. Nơi đơn vị tôi đă thắng một trận
thật lẫy lừng, làm tiêu hao cả sư đoàn 320 mà địch quân thường hănh
diện là Sư Đoàn Thép, mở đầu cho bao nhiêu chiến thắng sau đó để
Kontum, Tây Nguyên không lọt vào tay giặc.
Đúng vào sáng 30 tết năm 1972, khi chuẩn bị buổi tiệc tất
niên cho các đơn vị tại hậu cứ Sông Mao sau một năm đối mặt
với chiến trường, Trung Đoàn 44 chúng tôi nhận khẩu lệnh của Tướng
Ngô Dzu, Tư Lệnh QĐ II, di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế vị
trí Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước. Vừa đến
An Khê vào chiều mồng một tết, chúng tôi đă cùng với Thiết Đoàn 3 KB tham chiến,
giải tỏa áp lực địch đang bao vây một số căn cứ pḥng thủ của
các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mănh Hổ Đại Hàn dọc theo đèo An Khê nằm
trên QL 19. T́nh h́nh tương đối yên tĩnh, các căn cứ Đại Hàn được
giải tỏa, QL 19 đă khai thông, chúng tôi vừa đảm trách giữ an ninh cho QL19 từ
Pleiku đến B́nh Khê, vừa thiết lâp lại các căn cứ pháo binh, pḥng thủ. An Khê
là một địa danh làm người ta nhớ tới hai đoạn đèo Mang Yang và An
Khê cùng những khúc quanh “tử thần”, mà ngày xưa cả một tiểu đoàn
thiện chiến của đội quân viễn chinh Pháp bị lọt vào ổ phục kích,
để gần như phải xóa sổ.
Ngày 24/4/72, Tân Cảnh thất thủ khi BTL Tiền Phương của
SĐ22 bị tràn ngập. Đại tá Lê Đức Đạt, vị tư lệnh không
được sự ủng hộ của tay phù thủy John Paul Vann, cố vấn Mỹ
QĐII&QK2, đă từ chối lời mời lên máy bay của người cố vấn
SĐ khi pḥng tuyến bị chọc thủng bởi nhiều chiến xa T 54 của địch.
Ông ở lại chiến đấu và vùi thây nơi chiến địa. Căn cứ Tân Cảnh
thất thủ, quận Dakto mất, một BTL/Sư Đoàn bị rơi vào tay giặc mà
không hề có bất cứ sự yểm trợ nào của lực lượng đồng
minh, cùng cái chết của vị tư lệnh liêm sỉ, khí phách hào hùng thời ấy đă
là một trang chiến sử nói lên cái bi phẫn của QLVNCH, báo trước sự bỏ
rơi của người bạn đồng minh Mỹ, đă từng cam kết bảo vệ
miền Nam, tiền đồn của Thế Giới Tự Do.
Căn cứ địa đầu thất thủ, kéo theo sự xáo trộn
của một Sư Đoàn bao nhiêu năm trấn thủ tam biên, tạo thuận lợi để
địch quân tràn xuống uy hiếp Kontum.
Trung Đoàn 44 nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường
Pleiku để được không vận lên Kontum. Lúc này thành phố Kontum đang bất ổn,
VC đă có mặt một số nơi trong thành phố và pháo kích thường xuyên vào phi trường,
một vài phi cơ bị trúng đạn phải nằm ụ tại chỗ. Chúng tôi được
lần lượt không vận vào ban đêm bằng C 130. Khi sắp vào không phận, máy bay tắt
hết đèn. Phi cơ không đáp mà chỉ bay rà qua phi đạo để chúng tôi nhảy
xuống từ cửa phía sau.
Tiểu Đoàn 1 và 2/44 đựơc chở thẳng tới pḥng tuyến
tây bắc, thay thế cho một liên đoàn BĐQ vừa bị tiêu hao quân số. Hai vị
tiểu đoàn trưởng lại là hai người bạn cùng tốt ngiệp khóa 19 VBĐL
thao lược, can trường: Đại úy Đặng Trung Đức và Nguyễn Xuân Phán.
Ngay sau khi nhận khu vực trách nhiệm, từ vị tiểu đoàn trưởng đến
binh sĩ cùng nhau lập pḥng tuyến chiến đấu, đặc biệt là đào những
hầm hố chống chiến xa phía trước.
Vào khoảng 5 giờ sáng, ánh trăng hạ tuần c̣n mờ ảo dưới
màn sương, các toán tiền đồn phát hiện có nhiều chiến xa địch đang
tiến về hướng nam. Các đơn vị được lệnh xuống giao thông
hào, và dỡ bỏ tất cả các lều poncho để tránh sự phát hiện của địch.
Trên hệ thống vô tuyến, tất cả báo cáo đă sẵn sàng. Địch quân tập
trung đánh vào pḥng tuyến TĐ 2 của Đại úy Nguyễn Xuân Phán. Chúng không ngờ
có một đơn vị thiện chiến mới toanh vừa mới có mặt trên chiến
trường này, nên sau một loạt tiền pháo, chúng xua những chiếc T54 dàn hàng ngang,
lực lượng bộ binh ồ ạt theo sau. Mặc dù đây là lần đầu tiên
trực chiến với xe tăng địch nhưng không hề nao núng, mặc cho những
xích sắt tha hồ rú gào đe dọa, Đại úy Phán b́nh tĩnh vừa gọi pháo binh
tác xạ ngăn chặn, phân tán và tiêu diệt bộ binh địch, vừa ra lệnh cho
đơn vị chỉ khai hỏa khi những chiếc T 54 tới gần trước mặt,
trong tầm bắn chính xác hữu hiệu của những khẩu M 72, loại vũ khí chống
tăng duy nhất mà đơn vị được cấp, và một số B40, B41 của
địch thu dược từ chiến trường An Khê. Đó là một quyết định
táo bạo và sáng suốt. Chiếc T54 đầu tiên bị bắn hạ do chính anh Tiểu
Đoàn Phó, đại úy Nguyễn văn Hướng. Ngay sau đó, hàng loạt xe tăng địch
bị bắn cháy. Cả một tiểu đoàn ồ ạt hô xung phong. Cộng quân bị
đánh bất ngờ, khiếp sợ, quay đầu chạy. Một chiếc T54 ủi thẳng
vào hầm BCH/TĐ, bị ta bắt sống cả xe lẫn địch, trong đó có tên đại
đội trưởng. Tiểu Đoàn 1/44 của Đại úy Đức trở thành lực
lượng ngăn chặn hữu hiệu, đánh bất ngờ bên hông địch, đám
tàn quân chỉ c̣n kịp buông súng đầu hàng. Chiến thắng ấy tất nhiên là công
trạng của tất cả mọi người, nhưng sẽ là thiếu sót lớn lao,
nếu không nhắc tới thiếu tá Ngô văn Xuân, vị trung đoàn phó tốt nghiệp
khóa 17 VBĐL hiền lành mà tài năng đảm lược. Lúc nào tiếng nói thật b́nh
tĩnh, trấn an, dặn ḍ, đốc thúc của Bá Ḥa (danh hiệu của anh) cũng vang
trên hệ thống vô tuyến làm nức ḷng chiến sĩ. Ngay sáng hôm ấy, khi khói lửa
chưa an, Thiếu Tướng Nguyễn văn Toàn vừa nhận chức vụ Tư lệnh
QĐII thay thế Tướng Ngô Dzu, bay lên thị sát mặt trận. Ông vẫn đội
bê rê đen, đứng trên xe M113 và đi bộ ngay trên pḥng tuyến, bắt tay từng anh
em binh sĩ, vui mừng với chiến tích đầu tiên của ông và gắn lon thăng cấp
cho vị trung đoàn trưởng. Người ta đă nói nhiều về cá nhân ông, nhưng
ít ai biết được ông là một dũng tướng ngoài chiến trường.
Chiến công hiển hách này đă mở đầu cho hằng loạt chiến
thắng khác của tất cả những đơn vị tham chiến để bảo
vệ Kontum và giữ vững vùng địa đầu Tây Nguyên trong suốt Mùa Hè Đỏ
Lửa 1972.
Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu lên thăm Kontum, mừng chiến
thắng. Khi trực thăng ông đáp xuống căn cứ B 12, bản doanh của BTL/SĐ23BB,
đạn pháo của VC thi nhau rót xuống, nhưng vị Tổng Tư lệnh đă xua tay
từ chối nhận chiếc áo giáp từ vị đại tá Tham Mưu Trưởng Sư
Đoàn. Ít nhất ông cũng đă chứng tỏ được cái uy dũng của một
người xuất thân từ lính. Nhân dịp này Tổng Thống đă gắn lon Tướng
cho đại tá Lư Ṭng Bá, Tư lệnh Sư Đoàn. Các anh Tiểu Đoàn Trưởng đều
được vinh thăng một cấp. Riêng vị trung đoàn phó thầm lặng Ngô văn
Xuân được thăng cấp bằng một quyết định riêng sau đó. Anh được
điều về làm Trưởng Pḥng 3 Sư Đoàn và sau này là một trong những vị
trung đoàn trưởng thao lược của QLVNCH.
Trung Nghĩa bây giờ chẳng c̣n môt chút ǵ dấu tích chiến tranh, nhưng
nh́n ở đâu tôi cũng thấy bóng dáng anh em đồng đội cũ, những người
bạn trẻ tuổi can trường của chúng tôi ngày trước. Đặng Trung Đức
đă hy sinh vào mùa hè 1973 khi vừa được trực thăng vận xuống phía bắc
căn cứ Non Nước. Tên anh được đặt cho bản doanh BTL/SĐ. Vợ
con anh đă sang Pháp, nhưng chị Đức đă mất từ năm 1982, hai đứa
con nhỏ phải nhờ ông bà ngoại nuôi nấng. Bà mẹ già góa bụa, mà Đức là
con một, cũng đau buồn mà đi theo Đức chưa đầy một năm sau
ngày Đúc hy sinh. Trần Công Lâm, người bạn cùng khóa thân thiết nhất của tôi
- người sĩ quan chưa hề biết mùi chiến bại, đi hành quân mà chưa gặp
địch là không chịu quay về -, trước khi nắm Tiểu Đoàn 3/44, đă từng
là một đại đội trưởng Trinh Sát lừng danh với bao chiến công hiển
hách, vang dội khắp Quân Đoàn, cũng đă nằm xuống cuối năm 1973 trên đỉnh
Ngok Wang đèo heo gió hú. Nguyễn xuân Phán sau những năm tháng tù đày, hiện lưu lạc
ở một thị trấn nhỏ thuộc tiểu bang Washington bên Mỹ và vẫn hăng
say trong các tổ chức xă hội, cộng đồng. Thỉnh thoảng anh xuống San Jose
gặp gỡ bù khú với anh em, vẫn cạn ly một trăm phần trăm, dễ thương,
vui vẻ như ngày nào. Anh bảo chỉ có những lúc vui với anh em và say mèm mới có thể
quên được nỗi đau. Phan Công Minh th́ đang sống âm thầm ở một thành
phố biển ngoại ô New York. Hơn 10 năm đi cày 2, 3 “job”, để đủ
lo cho các con ăn học, thời gian c̣n lại chỉ đủ để uống rượu
tiêu sầu. Bây giờ tương đối rảnh rang, truyền nghề đánh giặc
lại cho thằng con trai lớn vừa t́nh nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ,
đang hành quân trên chiến trường Irak. Riêng anh Ngô văn Xuân, ṃn mỏi, bệnh hoạn
sau hơn 13 năm tù. Nhưng dường như những vết thương chiến trường,
tù ngục c̣n trên thân xác không làm cho anh đau đớn bằng vết thương trong ḷng.
Nỗi đau của một người đă hiến đời cho binh nghiệp mà giữa
đường phải đành vất cung bẻ kiếm. Bây giờ anh sống lặng lẽ
ở một nơi gần thành phố San Jose, làm thơ Hoa Tâm, nghiên cứu về Thiền
và Phật học. C̣n lại, những đồng đội khác, hoặc đang sống lê
lết khốn cùng ở đâu đó bên quê nhà với thương tích trên người, hoặc
lưu lạc muôn phương, một số đă hy sinh, xác thân nằm ở một nơi
nào đó, giữa núi rừng Kontum này, hay hoang lạnh trong các nghĩa trang, đă dời đi
hoặc bị san bằng, nhưng có lẽ hồn thiêng vẫn c̣n phảng phất đâu
đây. Tôi đốt hết bó nhang c̣n lại chia cho anh em. Chị bạn gái của anh B́nh
cũng xin được chia phần. Chúng tôi đứng nghiêm khấn vái bốn phương
trời. Cầu nguyện hồn thiêng của những đồng đội cũ được
sớm siêu thoát trên chốn vĩnh hằng, và xin tất cả tha lỗi cho chúng tôi, những
người c̣n sống nhưng đă không trả được – dù chỉ một phần
nhỏ nào - món nợ máu xương cho họ.
Suốt đêm hôm ấy không ngủ được, chúng tôi nằm kể lại
bao nhiêu chuyện vui buồn trên chiến trường xưa, nhắc lại từng tên, từng
khuôn mặt bạn bè. Chúng tôi cũng tranh luận thật nhiều về cuộc chiến
đă qua và những cái chết của đồng đội mà thấy ḷng nặng trĩu
những đau buồn với bao điều tức tưởi.
Sáng hôm sau, chị chủ quán, bạn gái anh B́nh, mời chúng tôi ăn sáng rồi
tiễn chúng tôi ra đầu cầu Dakbla. Chị đứng yên lặng không nói một lời
ǵ. Nh́n những giọt nước mắt chảy dài trên má chị, trong ḷng chúng tôi có lẽ
ai nấy cũng đang giữ riêng một nỗi ngậm ngùi. Nh́n ḍng sông Dakbla chảy ngược
qua cầu, tôi có cảm giác như ḷng ḿnh cũng đang chảy ngược về những
nơi nào đó, những chiến trường xưa, mà măi măi vẫn c̣n in bóng dáng hào hùng của
bao nhiêu bè bạn, anh em - những người đồng đội cũ. Tất cả đă
từng có một thời sống rất đáng sống.
phạmtínanninh
_________________ Vietnam Library Network http://www.vietnamlibrary.net

|
|

|

|

|

|

|
|
NGƯỜI
Ở LẠI BÊN KIA Nguyên Nhung
(Photo:Nguoi Chien Si Vo Danh - ảnh Nguyen Ngoc Hanh)
Anh là một phóng viên chiến trường, ngoài phần lương khô
và vật dụng cá nhân trong ba lô mang trên lưng như bao nhiêu người lính khác, anh c̣n phải
đeo lủng lẳng chiếc máy quay phim và cái caméra trước ngực.
Hành trang anh chỉ có thế, mũ sắt
trên đầu, cuốn sổ tay trong chiếc túi áo có nắp gắn hai chữ Báo Chí, hai tấm
thẻ bài, một bộ râu tua tuả v́ đă mấy ngày anh theo đoàn quân tiến vào trận
địa. Người lính ra chiến trường đă có cây súng làm bạn, riêng anh, người
phóng viên chiến trường đi vào vùng lửa đạn, chỉ vỏn vẹn có chiếc
máy quay phim, đă ghi lại biết bao nhiêu h́nh ảnh trung thực của người lính
sống thời chiến chinh gian khổ, trên mọi nẻo đường của đất
nước.
Tiếng đạn bay líu chíu ngang đầu, anh thầm nghĩ : " Không biết
sống chết lúc nào ". Chiếc máy quay phim đă thu vào bao nhiêu thước phim giữa mặt
trận khi nóng bỏng, lúc âm ỉ đến lạnh người. Đoàn quân lầm lũi tiến
vào rừng dừa trước mặt, phân tán mỏng theo lệnh người sĩ quan chỉ
huy. Những bóng người lầm lũi bước , đôi giày vải ướt sũng
trên thửa ruộng sâm sấp nước, đói và mệt, chiếc ba lô trên vai anh như
nặng trĩu xuống. Trong bóng chiều nhập nhoạng, thần chết như rập
ŕnh chiếc lưỡi hái trên thân phận người lính, cơn mưa chiều luồn
những giọt tái tê vào ḷng người chiến sĩ. . .
* * *
Anh nhớ
lại trận đánh ở vùng Thới Lai, Cờ Đỏ vào mùa mưa năm trước,
trong một vùng dầy đặc những cỏ lác và sông rạch. Không phải lần nào
quân ta cũng thắng. Đêm ấy, anh bị mất phương hướng, giữa bóng đêm
chập chùng và ánh trăng khuya mờ ảo, anh lần ṃ ra được đường
cái, ở đấy có một ngôi chuà nằm chơ vơ ven quốc lộ. Dưới ánh
trăng mờ, ngôi chùa âm u không một ánh đèn, không một tiếng chuông tiếng mơ, chỉ
có mùi d́u dịu của hoa sứ phảng phất giữa đêm khuya. Đă mấy ngày mà trận
đánh chưa kết thúc, sự yên tĩnh tạm thời để chờ một cuộc
đụng độ tiếp theo, dân chúng hầu như đă tản cư ra quận lỵ,
hoặc chạy theo phía bên kia vào những làng mạc xa hơn.
Ngôi chùa tương đối nằm ở khu khá yên tĩnh giữa hai lằn
đạn, nhưng không có bóng dáng người dân nào ở đó. Trong bóng tối mờ mờ
và yên lặng, anh lần ṃ men theo bụi cây trước cổng chùa, anh nh́n thấy nhiều
thân người nằm la liệt trên sân, im lặng như một băi tha ma. Họ đang ngủ,
quá mệt mỏi cho nên anh chỉ kịp cởi ba lô vứt xuống đất, rồi cứ
thế nằm vật xuống bên cạnh một người lính. Anh cần ngủ hơn
tất cả mọi thứ trên đời, dù chưa ăn uống ǵ nhưng anh không cảm
thấy đói, và chỉ có giấc ngủ mới làm anh tạm quên đi tiếng đạn
réo, tiếng bom rơi, tiếng đại bác rền rĩ trong những giờ phút căng
thẳng của chiến trường. Anh thiếp đi thật mau, trong lúc ngủ mê h́nh như
anh có đạp chân vào người lính kế bên nhưng không nghe tiếng chửi thề.
Hạnh phúc nhất của người lính có lẽ là những phút giây hiện tại, tạm
quên đi nỗi nguy hiểm, cận kề với nỗi chết.
Chưa bao giờ anh có một giấc ngủ ngon lành đến thế. Không
chiêm bao mộng mị, không giường, không chiếu, chỉ có một mặt đất
ẩm lạnh và bầu trời nhấp nháy sao đêm. Gió đêm như được ướp
mùi hương của những bông hoa sứ làm loăng đi mùi ǵ tanh tanh giống như mùi máu.
Sáng ra, ánh mặt trời rọi vào mặt anh khiến anh thức giấc,
chim chóc hót líu lo chào một ngày vừa lên, sự sống của muôn loài vẫn diễn ra b́nh
dị mỗi ngày dù chiến tranh và sự chết đang hiện diện quanh quất, đó
đây. Anh hoàn toàn tỉnh giấc, thèm một ly cà phê và điếu thuốc thơm buổi
sáng. Anh lạ lùng ngó đám người nằm ngủ trên sân chuà, chợt một cảm giác
lạnh toát chạy dài trên sốùng lưng người lính. Giờ th́ anh đă hiểu, đêm
qua anh đă ngủ một giấc ngủ tṛn trịa và yên b́nh bên những người lính
tử trận, xác họ ngày hôm nay sẽ được chở về nhà xác trên tỉnh lỵ,
chờ thân nhân đến nhận.
" Không phải lúc nào ta cũng thắng ", anh nghĩ như vậy khi nh́n những
tử thi nằm lạnh lẽo suốt đêm trên sân chùa. Chiến tranh là vậy, thắng
hay thua th́ bên nào cũng có người nằm xuống, có những giọt nước mắt
của mẹ già, vợ dại, con thơ, chỉ có điều thật buồn khi tất
cả đều là người Việt Nam. Anh nghe có tiếng bước chân nhẹ nhàng của
một tà áo đà lướt bên hiên chùa, và mùi nhang thoảng bay trong gió. Một vị sư
già có lẽ là người duy nhất c̣n lại nơi đây, đang cầm một nắm
nhang ra cắm xuống trước những thây người nằm la liệt dưới
sân chùa, miệng lầm rầm niệm Phật. Đôi mắt nhà sư thoáng một vẻ ngơ
ngác và sợ hăi, khi nh́n thấy một người sống đang ngồi thu lu giữa đám
người chết, cả hai cùng im lặng không nói được lời nào.
* * *
Năm
1969, anh theo cuộc hành quân miền biên giới giữa Campuchia và Việt Nam, Cộng quân đang
cố thủ trong vùng núi Cô Tô, Châu Đốc. Người phóng viên chiến trường hơn
ba mươi tuổi, đang độ chín mùi của nghề nghiệp, hăng say lao vào vùng
lửa đạn khi Cộng quân dùng Campuchia làm bàn đạp thôn tính miền Nam.
Gia đ́nh anh gốc gác miền Bắc, cả một thời ấu thơ
và thanh niên anh gắn bó với quê nhà, may mà năm 1954 anh nhanh chân chạy thoát. Bố anh chết
ngay năm đó, tất cả gia tài, sự nghiệp bỗng dưng mất hết trong một
ngày khiến người cha phẫn chí mà chết. Mẹ anh dẫn ba đứa em dại,
đầu quấn khăn tang lếch thếch lên chuyến tàu há mồm xuôi Nam. Một cuộn
phim của dĩ văng vừa hiện về trong trí anh, căn nhà gạch hai gian bề thế
phố Cửa Tiền, rặng bàng trước cửa, hoa gạo đỏ mùa hè, giếng
nước Tiền Hùng, cái ao sau nhà xanh um khóm chuối ngự. Cả một tuổi thơ
đầm ấm và mối t́nh đầu tuổi thanh xuân nằm lại sau lưng cho một
tất tả bỏ chạy.
Từ trên máy bay trực thăng anh nhảy xuống theo gót chân người
sĩ quan chỉ huy, máy quay phim chạy rè rè thâu vào h́nh ảnh núi non chất ngất, những
người lính chạy lúp xúp nép vào những bờ đá cao tiến tới. Địch bắn
ra như mưa, viên đạn đi ngọt như cắt từ một hốc núi bay thẳng
tới ngực anh, anh chưa thấy đau v́ tầm đạn đi nhanh quá khiến anh
ê ẩm như bị một viên gạch ném tới đột ngột. Cho đến khi anh
thấy ấm ấm và rát bỏng trên ngực áo, máu đă ướt thẫm hai chữ Báo
Chí trên chiếc áo nhà binh. Anh loạng choạng ngă xuống với thước phim đang quay
dở, chỉ kịp nh́n thấy loà nhoà h́nh ảnh người lính cứu thương bế
anh lên chiếc trực thăng tải thương, đang phần phật đôi cánh quạt
trên một vùng cỏ xanh.
Lần ấy viên đạn đi cách tim anh khoảng hai cm, nếu không giải
phẫu kịp, máu ứ đầy phổi có lẽ anh đă nằm xuống ngay tuổi
ngoài ba mươi . Anh thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, phải nằm trong
Quân y viện mấy tháng trời, để được nh́n thấy sự hi sinh và đau
đớn tận cùng của người lính trong thời chiến.Những h́nh ảnh ấy
vương vấn trong hồn anh, măi măi về sau, để tim anh vẫn thắt lại
khi hôm nào bất chợt nh́n thấy trên vỉa hè, người thương binh lê đôi nạng
gỗ, khập khễnh bước khi đôi mắt chất chứa nỗi bất hạnh
cho cả một tương lai.
* * *
Năm 1972, mặt trận lại sôi động
ở vùng biển Long Toàn, Trà Vinh. Bom đạn rền rền át cả tiếng sóng biển
ŕ rào, người dân Khờ Me sống ở những làng mạc hiền hoà với chuà chiền
cổ kính, lại vội vă bỏ vùng quê đi lánh bom đạn. Nhà cửa đổ nát,
vườn tược tan hoang, anh ứa lệ nh́n hai đứa bé lạc mẹ, mặt
mày nhem nhếch nước mắt, nước mũi giữa cảnh khói lửa tơi bời.
Giữa vùng giao tranh, chỉ có lằn đạn líu chíu trên đầu người thường
dân vô tội, quê hương ḿnh sao khốn khổ đến thế.
Anh nhớ lại một ngày năm 54, năm ấy anh mới mười tám
tuổi và đứa em út mới lên sáu, mẹ anh trắng hai bàn tay làm lại cuộc đời
trên miền Nam tự do. Những buổi chiều gió mưa, mẹ con ngậm ngùi nhớ về
quê nhà. Khu phố êm ả có rặng bàng trở màu khi mùa thu đến, những buổi chợ
phiên người trong các làng quê kĩu kịt gánh hàng ra chợ Nghệ.
Người phóng viên chiến trường đâu phải lúc nào cũng ngồi
trên máy bay, đâu phải lúc nào cũng theo đuôi Tư lệnh để quay cảnh chiến
thắng, gắn huy chương lên ngực áo người chiến sĩ. Anh đă phải
ngắm nh́n chiến tranh như phải xem một bức tranh vẽ bằng máu, thâu vào h́nh
ảnh và sự chiến đấu cam go của người lính nơi vùng lửa đạn.
Trong khi ấy, chiến tranh quả là khó hiểu, những bàn tay dấu mặt như mụ
phù thuỷ đang vẽ vời những lời nguyền ruả sấm sét xuống quê hương
anh. Chiến trường này tiếp nối đến chiến trường khác, những
cuộc hành quân liên miên từ tháng này qua tháng nọ, nghĩ đến đời sống gian
khổ của người lính trong vùng đóng quân đầy những rủi ro bất trắc,
anh chỉ ao ước một ngày nào chiến tranh chấm dứt. Một ngày nào đó những
thước phim của anh chỉ là h́nh ảnh nụ cười dễ thương của
trẻ thơ, là nét mặt vui tươi của người lính giữa khung cảnh ấm
cúng của gia đ́nh, là đôi mắt hấp háy của mẹ già không ứa lệ, khi đêm
đêm vẫn th́ thầm cầu nguyện sự an b́nh cho những đứa con.
Anh phóng viên chiến trường giơ ống kính lên, thâu bằng cận ảnh
hai khuôn mặt ngây thơ, bốn con mắt ngơ ngác giữa khói lửa mịt mù của
hai đứa trẻ thơ mà anh bắt gặp, khi cuộc chiến không bao giờ tính toán
được sự bi thảm của nó. Những đôi mắt trẻ thơ sợ hăi,
ngác ngơ khi địch quân dùng khu vực nhà dân làm bàn đạp để tiến quân, hai
đứa bé c̣n lại khi cha mẹ chúng có thể đă ngă xuống bởi những lằn
đạn vô t́nh. T́nh cảm giữa người và người bắt anh phải quên đi
những thước phim, những tấm h́nh giá trị khi lọt vào tay bọn thông tấn
nước ngoài. Hai tay bế hai đứa bé anh băng ra khỏi khu nhà đang rần rật
cháy, giờ phút ấy anh chỉ có một ư nghĩ phải mang hai đứa bé ra khỏi vùng
giao tranh, dù có thể lănh một viên đạn của đối phương.
Suốt một đời làm lính và xông pha nơi những chiến trường
nóng bỏng, anh phóng viên chiến trường đă bao phen đối mặt với tử
thần. Anh c̣n bị thương một lần nữa trước khi chiến tranh kết
thúc, chiếc máy bay trực thăng bị hỏa tiễn tầm nhiệt bắn trúng đằng
sau đuôi, như một khối sắt khổng lồ rớt xuống cánh đồng ngập
nước vùng Đồng Tháp Mười. May là Thượng đế đă che chở anh, đă
cho anh trở về với một xác thân lành lặn.
Ngày chiến tranh kết thúc, một kết thúc bi thảm khiến anh hụt
hẫng. Người lính bại trận trở về miền quê với những vết đau
âm ỉ mỗi lần nhớ đến bạn đồng đội cũ. Trong những
chiều gió mưa, ḷng anh bùi ngùi khi hồi tưởng đến một khoảnh khắc
nào đó, bóng dáng những người lính năm xưa giờ như những bóng ma buồn
bă trong dĩ văng, và anh lặng lẽ nghe những giọt nước mắt buồn tủi
chảy ngược vào tim buốt lạnh.
Từ đây cuộc đời bắt đầu là những chia xa, bạn
bè anh tan tác mỗi người mỗi nơi mỗi ngả. Có những người nằm
xuống trong giờ thứ 25 của cuộc chiến, đă bị quên lăng với mồ hoang
mả lạc. Có những người ra đi làm những cánh chim cô đơn, gậm nhấm
nỗi sầu vong quốc. Có những người đi vào chốn lao tù với đói khát
triền miên, khi trở về chỉ là những chiếc bóng ngác ngơ , sợ hăi cả những
bước chân của chính ḿnh.
* * *
Sau hai mươi năm ngày chiến
tranh kết thúc, người phóng viên chiến trường năm xưa nay đă già, ngồi
bán cá kiểng, cá đá cho trẻ con trước khuôn viên một trường tiểu học,
cạnh ngôi giáo đường cổ kính. Mỗi lần nghe tiếng chuông ngân ban chiều,
anh lại th́ thầm đọc mấy câu kinh cho những linh hồn đă khuất. Gia tài
của anh chỉ có một hồ cá bằng thủy tinh với những con cá đủ màu
bơi lội nhởn nhơ. Cả một xă hội cá quây quần bên nhau lượn lờ
tranh sống, những cọng rong xanh, vài con lăng quăng sót lại từ bữa ăn
chiều. Anh chép miệng, bầy cá đă no rồi, chứ lúc đói chúng nó cũng tranh nhau
đớp mồi như đám người khốn khổ chen nhau chờ phát chẩn. Lúc
này anh đâm lẩn thẩn như thế, chuyện cá chuyện người cứ lẫn
lộn trong con mắt người phóng viên đă hết thời
Lúc ấy trời đă về chiều, hai đứa bé đánh giày độ
trên mười tuổi vào hàng, ngắm nghía mấy con cá lia thia được rọng riêng
trong những chiếc keo thủy tinh trên bệ gỗ, giữa mỗi cái keo đều có một
tấm giấy cứng để che cho chúng khỏi nh́n thấy mặt nhau. Mỗi đứa
chọn một con, chúng tḥ tay vào túi lôi ra những đồng tiền nhàu nát, đưa cho
người bán cá. Hai thằng nhỏ bày ra cuộc đá cá ngay cửa hàng của người
bán cá, tự nhiên anh cũng cảm thấy hào hứng muốn theo giơi trận đá cá của
hai đứa trẻ con. Không biết ở đâu lố nhố mấy đưá trẻ nữa
quần áo bẩn thỉu, chân đi đất, xúm vào bu xung quanh hai thằng nhỏ đánh
giày, khiến anh tự nhiên hồi hộp như ngày xưa mỗi lần theo đoàn quân vào
vùng lửa đạn.
Hai con cá trong một cái keo, không biết thù nhau tự kiếp nào xông vào nhau,
hai cái thân cá ḿnh xanh vây đỏ lúc ấy phồng lên những chiếc vảy óng ánh, ḿnh chúng
như to ra qua thành thuỷ tinh, xoắn lấy nhau đẩy ra những cú húc tơi tả.
Lũ trẻ vây xung quanh nín thở, hai con cá lia thia mê mải tấn công nhau, thỉnh thoảng
chiếc mỏ cá lại va vào thành keo đau điếng. Sau một lúc quần nhau dữ dội,
một con như ngộp thở ngoi lên mặt nước hớp không khí, cái ḿnh cá vẩy
óng ánh màu xanh nay đă nhợt nhạt như màu miếng vỏ dưa cố chạy thoát thân,
lũ trẻ đứng bên ngoài vỗ tay hét rộ lên những tràng cười khoái chí.
Tan cuộc, hai thằng nhỏ đánh giày bỏ hai con cá cho người bán
cá, bưng hộp đồ nghề đi về ngả thành phố, chỗ hotel và mấy
quán rượu có đông người ngoại quốc và đám Việt kiều về thăm
quê. Trời giăng giăng những đám mây đen khiến phố xá chừng như tối
xầm lại, bất giác anh chợt nhớ đến cơn mưa đầu mùa của
tháng tư năm nào làm ḷng quặn lên một nỗi buồn. Tự nhiên, người phóng
viên chiến trường năm xưa cảm thấy ngùi ngùi, tưởng ḿnh như con cá
bại trận manh giáp tả tơi, bị vứt lại bên lề đường một
cách thảm thương.
Tội nghiệp anh, những cuộn phim của dĩ văng như run rẩy
theo làn khói thuốc, anh bập hoài điếu thuốc đen trên môi, những móng tay cáu vàng
ám khói. Cơn mưa chiều đột ngột đổ xuống rơi lộp độp
trên tấm poncho nhà binh che trên vỉa hè, gơ những nhịp trống vào đầu anh khiến
anh nghĩ đến những cơn mưa nơi vùng hành quân năm xưa, khi anh c̣n là một
người lính. Anh tưởng tượng lát nữa đây khi về nhà, với âm thanh hùng
hồn của một ngày nào rất xa, anh sẽ tường thuật cho đứa cháu ngoại
nghe trận đá cá chiều hôm nay trước cửa trường học. Hai con cá cùng một
loại đá nhau chí tử, một con thắng nhưng cũng ê ẩm, ḷng ṿng trong chiếc
keo thuỷ tinh chật hẹp, không hi vọng đá nổi một trận nữa, một
con bại anh quăng ra mặt đường, đă nát ḿnh dưới những ṿng xe lăn.
Phố đă lên đèn, anh thu dọn cửa hàng để về nhà mà ḷng nặng
trĩu một nỗi buồn không tên tuổi. Anh phóng viên chiến trường năm xưa
th́ thầm nói với ḿnh, " Hơn hai mươi năm rồi, chẳng biết c̣n ai nhớ
đến ḿnh không nhỉ ? "
Viết cho anh tôi, một phóng viên
chiến trường
NGUYÊN NHUNG.
_________________Vietnam Library Network http://www.vietnamlibrary.net

|
|

|

|