|
|

NGÀY 30 THÁNG 4
Tác Giả : TRẦN TRUNG ĐẠO.
Đối với người Việt Tự Do, ngày 30 tháng 4 mang nhiều
ư nghĩa. Trên b́nh diện lịch sử ngày 30 tháng 4 là một ngày đen.
Ngày những chiếc tăng T54 do Liên-Xô chế tạo nghiền nát đường
phố Sài G̣n thân yêu rợp bóng me xanh. Ngày những chiếc trực thăng cất cánh từ
sân thượng của những cao ốc. Ngày có những tiếng loa phóng thanh ra lịnh các
cấp chính quyền miền Nam tập trung, tŕnh diện vang lên trên đường phố.
Ngày với những tiếng hát cao the thé của những nữ văn công miền Bắc vọng
ra từ đài phát thanh vừa rơi vào tay Cộng Sản.
Ngày những Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc
Cẩn, Nguyễn Văn Long và bao nhiêu người con yêu khác của mẹ VN đă ḍ theo bước
chân của Trần B́nh Trọng, Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương mà
lần lượt ra đi.
Trong b́nh diện xă hội, 30 tháng 4 là ngày điêu tàn tang tóc. Mẹ mất
cha, anh xa em, vợ lạc chồng, những đứa trẻ mồ côi lạc loài trên đường
phố, nước mắt ai rơi trên bờ biển, tiếng khóc thét của em bé vừa
sinh ra trên những chuyến hải hành vội vă trong đói khát, lo âu, tuyệt vọng.
Trong b́nh diện đấu tranh 30 tháng 4 là ngày quốc kháng. Ngày khởi
điểm cho một mặt trận mới v́ nhân quyền, tự do và dân chủ. Dù gọi
30 tháng 4 là ngày quốc hận, quốc nạn, quốc kháng hay là ngày ǵ đi nữa, th́ trong
tâm tư của mỗi người miền Nam sống trong ngày tháng đó vẫn là một
tâm tư hăi hùng, lo sợ, bàng hoàng và đau xót.
Tất cả h́nh ảnh đó dường như đang xảy ra trong
phút giây chúng ta đang thở. Tiếng súng như vẫn c̣n nghe. Ngọn lửa như vẫn
c̣n đang nóng.
Thế nhưng đă là 29 năm. Đứa bé nằm trên bụng mẹ
ngậm núm vú lạnh tanh không c̣n một giọt sữa mà không biết mẹ ḿnh đă chết
từ lâu, trong một bức ảnh đăng trong một tờ báo Mỹ, nay đă gần
30 tuổi. Và chúng ta, những người VN may mắn c̣n sống sót, vẫn như em bé kia,
đang ngậm nỗi buồn nơi đất khách.
Dù tự an ủi bằng bao nhiêu bài thơ, bài hát chuyên chở niềm
tin và hy vọng, bao nhiêu tuyên ngôn, tuyên cáo khẳng định lập trường, th́ giấc
mơ VN về một buổi sáng đẹp trời cho dân tộc vẫn c̣n là một giấc
mơ thôi.
Hai mươi chín năm qua đi. Thế giới đă đổi thay
nhanh chóng. Cuộc vận hành của lịch sử văn minh con người không chạy bằng
những chuyến tàu điện nhưng đă chuyển sang thời kỳ của những
máy bay siêu tốc. Tín hiệu Morse đă được chính thức thành lịch sử. Ông
Denis Tito đă mua vé đi du lịch trong quỹ đạo trái đất và trở về b́nh
an. Ông Nelson Mandela đă ra khỏi tù và đưa đất nước ông vững tiến
trên con đường dân chủ. Anh Ismail Darramy cụt hai tay của xứ Sierra Leon đă
cười tươi v́ được quyền bỏ phiếu. Những đồ dùng chúng
ta đang xử dụng trong nhà từ chiếc máy điện toán, chiếc microwave, DVD v.v.
đều không có ba mươi năm trước, hay nếu có, cũng chỉ trong pḥng thí
nghiệm. Nói chung, tiến bộ và văn minh nhân loại đă bước một bước
rất dài.
Nh́n lại đất nước VN, trong mọi lănh vực, sau 29 năm
chẳng những không bước thêm một bước nào; trái lại, về kinh tế,
chính trị, đă lùi xa hơn vào quá khứ, và văn hóa đạo đức th́ đang trở
về gần với thời sơ khai nô lệ, nghĩa là thời kỳ mọi của cải
đều có thể mua bán, trao đổi, kể cả mua bán, trao đổi chính con người.
Và do đó, vấn nạn lớn nhất mà dân tộc VN đang phải đối diện
hiện nay là lạc hậu về kinh tế chính trị và lạc hậu về văn hóa
tư tưởng.
Khi nhận xét rằng VN lạc hậu kinh tế, không ít độc giả
trong nước chưa có dịp tiếp xúc và so sánh giữa tiến bộ của thế
giới và thay đổi tại VN, có thể không đồng ư với tôi. VN có cao ốc mới,
khách sạn mới, cầu mới, đường mới, xe mới, nhà mới, số lượng
du khách ngày càng tăng. Vâng, không ai chối căi điều đó. Thế nhưng, trong một
nền kinh tế thế giới đang toàn cầu hóa, mức độ phát triển của
một quốc gia được xác định không phải bằng các chỉ tiêu riêng của
từng quốc gia nhưng bằng sự so sánh với các quốc gia trong cùng khu vực, cũng
như trong tương quan kinh tế thế giới. So sánh với đà phát triển của
nhân loại, hai mươi chín năm, nền kinh tế VN như người bộ hành già
nua đang đếm từng bước thầm trên xa lộ tân thời. Hăy nh́n bầy kiến
cơng những hạt gạo nhỏ li ti kia, nếu chúng cơng liên tục ba mươi năm cũng
có thể tạo nên một cao ốc đừng nói chi con người. Câu khẩu hiệu
"Với sức người sỏi đá cũng thành cơm" không phải nói lên sự cố
gắng nhưng phản ảnh sự lạc hậu về kỹ thuật, và cũng tố
cáo bản chất bất nhân, tàn nhẫn của một giai cấp thống trị đối
với nhân dân VN.
Hai mươi chín năm qua, nếu không có nhiều tỉ đô-la hàng
năm gởi về từ những người một thời đă bị chế độ
nguyền rủa, trù ẻo để bị chết trôi, chết ch́m trên biển Đông th́
nền kinh tế VN c̣n tệ hại đến mức nào. Hai triệu người Việt
hải ngoại gởi tiền về để giúp đỡ gia đ́nh, bà con, thân thuộc,
trại mồ côi, trại cùi bởi v́ họ là những người đă được
nuôi dưỡng bằng những lời ru đậm đà t́nh thương của mẹ,
bằng những câu ca dao chan chứa t́nh đồng bào "Lá lành đùm lá rách", "Chị ngă em nâng".
Nếu họ được giáo dục bằng hận thù giai cấp, bằng sắc máu đấu
tranh như những người Cộng Sản th́ nền kinh tế VN ngày nay có thể vẫn
c̣n đứng đầu bảng xếp hạng các quốc gia nghèo đói hàng năm của
Liên Hiệp Quốc.
Khi nhắc đến những đổi thay kinh tế tại VN, một
yếu tố quan trọng khác cũng cần lưu ư là những cái mới đó thuộc về
aị Hăy bước ra đường hỏi người lái chiếc xe Nhật đắt
tiền kia ông là ai, bà là ai. Hăy bước vào một cao ốc hỏi ông chủ khách sạn
năm sao nguy nga tráng lệ kia, trong điều kiện xă hội chủ nghĩa th́ tiền
ở đâu ông có để xây một khách sạn nhiều tầng như thế.
Hăy bước vào nhà ông chủ tịch huyện Sơn Ḥa, tỉnh Phú
Yên hỏi rằng với đồng lương của cán bộ cấp thấp như ông,
th́ mấy chiếc xe tải và đàn ḅ mấy chục con của ông từ đâu tới.
Hăy bước vào trụ sở Hội Đồng Bộ Trưởng để hỏi các
ông bà ủy Viên Trung Ương Đảng, Bộ Trưởng, với cấp số lương
Bộ Trưởng mà Chủ Tịch Quốc Hội Cộng Sản Nguyễn Văn An than
thở "Lănh đạo VN là những người nghèo nhất" th́ làm sao các ông, các bà có dư
hàng trăm ngàn đô-la để lo cho con sang Mỹ học. Sẽ không ai trả lời. Đơn
giản bởi v́ chẳng một kẻ cướp nào muốn thừa nhận ḿnh là cướp,
nhất là cướp từ những người cùng khổ nhất trong xă hộị Tương
tự, hăy đi bờ sông Thu Bồn, sông Trà Khúc và hỏi những người đang đào
hến, họ đă đào như thế bao nhiêu năm rồi. Hăy bước vào chợ Bến
Thành hỏi những đứa bé đang lượm từng con cá ươn trong buổi chợ
chiều, cha mẹ em đâu, nhà cửa em đâu, trường học em đâu. Hăy lên bịnh
viện Chợ Rẫy hỏi những bà mẹ đang sắp hàng chờ bán máu, trong hai mươi
chín năm qua, bà đă bao nhiêu lần bán máu. Hăy bước ra đường hỏi người
phu đang cong chiếc lưng hốt từng đống rác, bao nhiêu chiếc chổi đời
đă quét xuống lưng ông.
Hăy vào những con hẻm tối hỏi các em thanh niên nam nữ tuổi
hai mươi đang bán á-phiện, ma túy, làm điếm trên những công viên tăm tối
hay đang tự giết đời ḿnh bằng những cuộc đua xe bạt mạng trên
đường phố, hoài băo của các em về cuộc sống hôm qua, hôm nay và mai sau rồi
sẽ ra sao. Họ có thể cũng không trả lời; không phải họ không muốn nói,
nhưng như một Mục Sư làm công tác thiện nguyện tại VN đă viết: "Tuổi trẻ VN ngày nay không biết định nghĩa của hai chữ
hoài băo là ǵ".
Một dân tộc mà thế hệ hai mươi không có một hoài băo
cho đời ḿnh, dân tộc đó sẽ đi về đâủ Một dân tộc với
65 phần trăm tuổi trẻ nhưng không có một cơ hội để tiến thân,
sống trong hoang phí, sống như những tử tù đang chờ chết th́ tương
lai của họ sẽ về đâu? Muốn biết đất nước về đâu,
hăy nh́n thẳng vào đôi mắt sâu chứa đầy nỗi lo âu, chiếc lưng đầy
vết sẹo, bàn tay c̣n hàng trăm dấu chích của họ để qua đó đọc
được cả quá khứ lẫn tương lai của một đất nước.
Đất nước của họ không phải là bài ca anh hùng đánh thắng bao nhiêu đế
quốc nhưng là một địa ngục đày đọa kiếp con người mấy
chục năm qua.
Số lượng du khách đến VN ngày một đông. Vâng. Hăy hỏi
một người du khách, phải chăng bà đến đây v́ ḷng kính phục VN như
một nhà thơ phản chiến Thụy Điển, đă từng viết trong thời kỳ
chiến tranh: "Tôi mơ sáng mai thức dậy biến thành người VN"
, hay chỉ v́ VN là một nơi hưởng thụ rẻ nhất Á Châu. Hăy hỏi ông du khách
phải chăng ông đến VN để t́m hiểu một dân tộc có hơn bốn ngàn
năm văn hiến hay là v́ trên quê hương tôi giá trị đồng đô-la c̣n hấp
dẫn hơn nhân cách con người. Hai chữ đầu tiên trên những tờ quảng
cáo du lịch VN bao giờ cũng bắt đầu hai chữ Hấp Dẫn và Rẻ Tiền.
Hấp dẫn và rẻ tiền chứ không phải nhân phẩm và lịch sử.
Đúng thế. Phóng viên kư tên Tương Lai của báo tuổi trẻ
trong bài viết "Nỗi Đau Từ Những Con Số", đăng vào sáng ngày mùng Một Tết
vừa qua, mô tả số phận của 65 ngàn phụ nữ VN đang sống với những
ông chồng già Đài Loan, bất đồng ngôn ngữ, tuổi tác, học vấn. Họ
bỏ gia đ́nh và quê hương đi làm tôi mọi cho ngoại nhân, chỉ v́ một vài trăm
đô-la. Ngoại trừ VN, có lẽ không có nơi nào trên thế giới, chính phủ lại
cho phép mua bán đàn bà, con gái một cách công khai như thế.
Ngoại trừ VN, có lẽ không một quốc gia nào có một bà Bộ
Trưởng Lao Động Xă Hội và Thương Binh Nguyễn Thị Hằng miệng
cười như hoa nở khi đặt bút kư hợp đồng xuất cảng lao động
ra nước ngoài, thực chất là xuất cảng mồ hôi, máu, nước mắt và cả
thể diện quốc gia.
Phải chăng, sau 29 năm, những định nghĩa của phẩm
cách con người cũng theo đà tiến lên chủ nghĩa xă hội mà thay dần ư nghĩa.
Nhắc chuyện đạo đức, tôi chợt nhớ lại một đêm thật khuya
của mười hai năm trước, ngồi đọc phóng sự của một nhà
báo Mỹ viết về cảnh các cô gái VN vừa mới lớn đang hành nghề măi dâm
trên trên đại lộ Sri Ayuthaya, thủ đô Bankok, Thái Lan. Tôi buồn không ngủ được.
Các em đều trong tuổi vị thành niên. Hầu hết chỉ mười sáu, mười
bảy tuổi.
Lẽ ra giờ này các em phải ngồi trong lớp học, học làm
người phụ nữ VN, học chuyện thêu thùa, may vá, trông con và học cả chuyện
yêu đương, đẹp như trăng khi tṛn khi khuyết. Thế nhưng, nghèo đói
đă xô đẩy em khỏi ngôi trường mà em yêu mến. Nghiệt ngă đă xua em ra khỏi
ṿng tay nuông chiều của me.. Lạc hậu đă xô em xuống gịng sông Chao Phraya nước
đục quê người. Ngày đó tôi vẫn nghĩ hoàn cảnh như thế là đau thương
và bi thảm nhất, như tôi đă viết trong bài thơ:
Sau những lúc đau thương da thịt ră rời
Em có khóc một ḿnh trong bóng tối
Mỗi giọt lệ sẽ mang màu sám hối
Mỗi lời rên chôn giấu những ăn năn
Tóc thu buồn như những sợi oan khiên
Trói lấy cuộc đời em nghiệt ngă
Về đâu em chiều nay trên đất lạ
Về đâu em mưa gió phủ đầy sông
Người con gái VN trên đại lộ Sri Ayuthaya
Đang nhắm mắt nh́n đời trôi vô tận
Lịch sử VN vinh nhục thăng trầm bao nhiêu bận
Nhưng chưa bao giờ đen tối hơn hôm nay.
Ngày đó Internet chưa thịnh hành như bây giờ, nhưng cũng
đă có nhiều khuynh hướng. Có anh chị thích bài thơ, nhưng cũng có người
cho rằng tôi đă bi thảm hóa t́nh trạng VN chỉ nhằm mục đích tuyên truyền
chống chế độ.
Theo anh chị đó, đất nước đă chuyển ḿnh sang thời
kỳ mới, nghèo đói đă đi dần vào quá khứ, một tương lai tươi
sáng đang mở ra, hăy để cho nhà nước một cơ hội thay cũ và đổi
mới, v.v.và v.v. Mười hai năm sau, điều mà trước đây tôi bị gọi
là đă làm "thảm hóa" thực trạng VN lại càng thê thảm hơn nhiềụ Những
cô gái 16, 17 tuổi đứng trên đường Sri Ayuthaya hay trên đường phố
Nam Vang ngày nào, bây giờ không c̣n nữạ Các em đă về đâu giữa một thành phố,
mà nơi đó, theo thống kê của cơ quan AIDS Liên Hiệp Quốc, UNAIDS, 44 phần trăm
gái măi dâm mang trong người bịnh AIDS. Các em hoặc đă chết trong một trại AIDS
ở Bangkok, ở Chiang Mai, hay nếu may mắn sống sót trở về được quê
hương cũng chỉ để lây lất ở một góc tối nào đó trong chuỗi
ngày tàn tạ của đời ḿnh. Chỗ của em đứng ngày xưa không phải v́
em chết đi mà bỏ trống.
Chiếc giường tre nơi em đă nằm chờ khách không phải
v́ em ra đi mà bỏ trống. Nơi em đứng năm xưa đă có một bàn chân khác
vừa đứng đó. Trên manh chiếu em nằm đă có người con gái khác đang nằm.
Bàn chân của kẻ đến sau nhỏ nhắn hơn em. Bàn tay như hai búp măng non của
kẻ đến sau hồng hào xinh xắn hơn em. Đôi mắt của kẻ đến
sau đen và tṛn hơn đôi mắt của em. Thân h́nh của kẻ đến sau không lớn
hơn thân h́nh của những con búp-bê Barbie đang bày trên giá của tiệm bán đồ chơị.
Vâng, những kẻ đến sau chính là những Barbie VN. Nói như chị
Nam Dao, chúng là những con búp-bê biết khóc tiếng người. Những kẻ đến
sau chính là những cháu bé, lẽ ra giờ này đang ngồi trong trường mẫu giáo, học
những bài hát tuổi thơ "Ḱa con bướm vàng", "Ông trăng xuống chơi" thay v́ những
tiếng lóng "yum yum", "bom bom" nhục nhă. Nghe các cháu vừa cất giọng bằng tiếng
Việt, tôi cảm thấy như đang một viên thuốc đắng vừa vỡ ra trong
cổ ḿnh.
Tôi chỉ mong các cháu nói dùm tiếng Thái, tiếng Miên, tiếng Lào. Tôi
biết ḿnh nghĩ thế là ích kỷ nhưng vẫn hơn là tiếng Việt. Không, các cháu
nói tiếng Việt. Đau xót, nhục nhă, bất hạnh đă không c̣n đủ nghĩa.
Lâu lắm rồi tôi mới cảm thất mất b́nh tĩnh như thế.
Tôi viết khá nhiều thơ về thực trạng VN, từ những
bà mẹ chết trôi sông cho đến những trẻ thơ lạc loài trên vùng Kinh Tế
Mới, nhưng tôi không đủ can đảm xem hết đọan phim phóng sự về
nạn bán dâm tại Campuchia, đừng nói ǵ đến chuyện cầm bút viết một
bài thơ hay một đoản văn. Tôi sẽ viết ǵ? Ngôn ngữ dù phong phú bao nhiêu cũng
có giới hạn, nhưng sự tủi nhục khi nh́n một đứa bé VN 8 tuổi bán
dâm đă vượt qua sức chịu đựng của tôi. Loài cầm thú c̣n biết chọn
nơi, chọn tuổi đừng nói chi là con người. Khi bàn đến sự lạc
hậu về tư tưởng tại VN, cũng có thể một số bạn trong nước
cho rằng tôi xa nhà lâu năm nên không biết.
VN có tư tưởng chứ. Tư tưởng Mác Lê-Nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh. Đó là những ngọn hải đăng của thời đại. Nhắc
đến Mác, tôi chợt nhớ câu chuyện đọc trên báo cách đây không lâu nhân ngày sinh
nhật 5 tháng 5 của Các Mác. Sáng ngày đó, một bản tin nhỏ được gởi
đi từ nghĩa trang High Gates, nơi có ngôi mộ của triết gia Cộng Sản này.
Bản tin không phải trích lời chúc mừng sinh nhật Các Mác của một chủ tịch
nước hay một tổng bí thư đảng Cộng Sản nhưng trích lời than
thở của người quản lư 166 ngàn ngôi mộ, trong đó có Các Mác, chen chúc nhau trong
nghĩa địa thuộc phía đông thành phố London, Anh Quốc. Trong bản tin, người
quản lư nghĩa địa High Gates than phiền rằng ông không có một ngân khoản nào
để mướn người cắt cỏ hoang trong nghĩa trang rộng 36 mẫu nàỵ
Từ sau khi Liên Xô và hệ thống Cộng Sản thế giới sụp đổ không c̣n
ai buồn thăm viếng Mác, và đương nhiên cũng không c̣n ai đóng góp tiền bạc
để chăm sóc mộ Mác. Nghĩa trang High Gates tiêu điều và hoang vu đến nỗi
một lần đă được chọn để làm ngoại cảnh cho một cuốn
phim ma. Mặc dù nơi chôn cất của Mác là nơi dựng phim kinh dị, câu chuyện về
thiên đường Cộng Sản đă nhiều lần được viết thành hài kịch,
chủ nghĩa Mác đă bị các phần lớn trường đại học thế giới
loại bỏ khỏi giáo tŕnh, thành phố Leningrad đă được đổi lại
tên cũ Saint Petersburg, có một nơi vẫn c̣n con đường mang tên Mác, c̣n công viên mang
tên Lênin, và những bài viết đấu tranh giai cấp đầy sắc máu hận thù của
Mác, Lênin, Stalin vẫn được xem là kinh điển, vẫn mỗi ngày nhuộm đỏ
lên tâm hồn trong như ngọc của tuổi thơ. Nơi đó là VN.
Sau sự sụp đổ của hệ thống Cộng Sản thế
giới, giới lănh đạo Cộng Sản VN không c̣n chỗ dựa về mặt lư luận
nên đă Việt hóa ư thức hệ Cộng Sản bằng việc thêm cụm từ tư
tưởng Hồ Chí Minh sau khẩu hiệu chủ nghĩa Mác Lênin đă không c̣n dụ dổ
được ai. Thật sự làm ǵ có tư tưởng Hồ Chí Minh, một người
cả đời không viết được một tác phẩm lư luận hoàn chỉnh, ngoài
tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ
Tịch kư dưới tên Trần Dân Tiên.
Hầu hết các tác phẩm gọi là của Hồ Chí Minh được
phát hành tại VN luôn bắt đầu với chữ "Về", như "Về Độc Lập
Dân Tộc", "Về Chủ Nghĩa Xă Hội". Đó là những lời phát biểu trong các buổi
mít-tinh được chép lại. Khi gọi những bài nói chuyện, bài viết không đầu
không đuôi của Hồ Chí Minh là tư tưởng độc lập của dân tộc VN,
giới lănh đạo Cộng Sản đă chứng tỏ sự khinh mạn đối với
truyền thống lịch sử dân tộc.
Ư thức độc lập tự do của dân tộc bắt đầu
từ hơn bốn ngàn năm trước chứ không phải từ ngày thành lập đảng
Cộng Sản Đông Dương năm 1930.
Quyền tự chủ của dân tộc VN đă được Trưng
Trắc, Trưng Nhị, Ngô Quyền, Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn
Trăi và vô số anh hùng dân tộc khẳng định từ nhiều ngàn năm trước
chứ không phải từ Hồ Chí Minh.
Giới lănh đạo Cộng Sản VN đă
cướp đoạt không những chỉ tài nguyên của cải đất nước,
mà cướp đoạt cả những giá trị tinh thần đă hun đúc nên gịng giống
Đại Việt. Mười lăm năm sau ngày đế quốc Cộng Sản Liên Xô
sụp đổ, trên đường phố Hà Nội vẫn c̣n treo khẩu hiệu "Chủ
Nghĩa Mác-Lênin Vô Địch Muôn Năm" để mừng ngày đại hội đảng.
Thật là chuyện mỉa mai, buồn cười và ngu xuẩn vượt thời gian. Nếu
Jay Leno và David Letterman có dịp thăm viếng VN, hai danh hề này sau khi trở về, sẽ
làm khán giả cười nghiêng ngửa với những mẫu chuyện có thực trong đời
sống tại VN.
Hiểu được điều này chúng ta sẽ thấy tại sao
các thế hệ trẻ VN ngày nay không c̣n quan tâm đến trường học, không biết
chọn một hướng đi cho đời ḿnh. Làm sao các em có thể thấy hướng
đi khi bị nhồi sọ bằng những lư thuyết viễn vông mà nhân loại đă
xếp vào ngăn tủ từ bao nhiêu năm trước. Làm sao các em có thể thấy tương
lai, hiểu được t́nh người, khi cả tuổi ấu thơ đến lúc trưởng
thành bị nhào nặn bằng những tư tưởng hận thù giai cấp, bóc lột,
đấu tranh. Tuổi trẻ VN thà chọn lựa những tṛ tiêu khiển hiểm nguy, chọn
lựa đời sống ngoài khuôn thước hơn là phấn đấu để vào đoàn,
vào đảng.
Chúng ta đều biết đến thảm trạng tại VN nhưng
ai sẽ là những người chịu trách nhiệm trước lịch sử và trước
ṭa án lương tâm của dân tộc VN sau nàỷ Đối với tuyệt đại đa
số người Việt yêu chuộng tự do, câu trả lời rất dễ dàng. Thủ
phạm đă gây ra những điêu linh tang tóc, nghèo nàn lạc hậu, làm mất nhân phẩm
của người Việt, đầu độc các thệ trẻ VN, hủy diệt mọi
mầm xanh đang cố gắng vươn lên của dân tộc, không ai khác hơn là giới
lănh đạo Đảng Cộng Sản VN.
Điều đó không sai nhưng tôi vẫn cảm thấy chưa đủ.
Một băng cướp ngân hàng không thể di chuyển hàng tỉ đô-la ra khỏi nhà băng
nếu không có kẻ đưa đường, người dẫn lối, không có tay trong,
tay ngoài, bao che, thờ ơ, dung túng.
Tương tự, đảng Cộng Sản VN sau 29 năm vẫn c̣n
tiếp tục trấn áp nhân dân VN bởi v́, ngoài nhà tù và sân bắn, họ cũng đă được
dung túng, bao che, thờ ơ và thỏa hiệp. Và những người đă thờ ơ, dung
túng cho Cộng Sản trong 29 năm qua không ai khác hơn là những người VN có quyền
hạn tinh thần, có trách nhiệm xă hội, có kiến thức văn hóa, có lương tâm
tôn giáo nhưng đă v́ quyền lợi cá nhân, tổ chức, tôn giáo riêng mà làm ngơ trước
đau thương của đất nước.
Tôi thật sự không tin rằng nhà nước Cộng Sản sẽ
bỏ tù Ḥa Thượng Thích Chơn Thiện hay Linh Mục Nguyễn Công Danh nếu hai ngài
đă từ chối không chịu ra ứng cử dân biểu quốc hội bù nh́n tại VN.
Tôi thật sự không tin Cộng Sản VN dám kết án Ḥa Thượng Thích Trí Tịnh hay
Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đă "âm mưu lật đổ chính quyền nhân
dân" nếu các ngài gióng lên tiếng nói bất b́nh trước cảnh những em bé 8 tuổi
đă phải làm những việc vô cùng thương luân bại lư tại Campuchiạ Cả
nhân loại đều phẫn uất khi biết một em bé VN chỉ vỏn vẹn 8 tuổi
đầu phải phục vụ nhu cầu sinh lư cho những người bằng tuổi
cha, bằng tuổi ông của các cháụ Kư giả Chris Hansen lên tiếng.
Bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ lên tiếng. Bộ trưởng
Tư Pháp Mỹ lên tiếng. Liên Hiệp Quốc lên tiếng. Đức Giám Mục Agustinus
Agus của Nam Dương lên tiếng. Nhưng các ngài th́ không.
Con biết các ngài có trọng trách đối với giáo hội mà các ngài
đang lănh đạo. Con biết mọi hành vi của các ngài có ảnh hưởng nghiêm trọng
đối với tôn giáo mà các ngài đang dẫn dắt tại VN. Vâng, nhưng tôn giáo đó,
giáo hội đó, tín đồ đó từ đâu mà có. Phải chăng đă bắt đầu
từ những tiếng khóc, tiếng cười, trái tim, bàn tay, khối óc của một giống
dân đă vượt qua bốn ngh́n năm gian khổ để tạo thành dải đất
thân thương h́nh cong chữ S hiện naỷ Phải chăng đă bắt đầu từ
Cha Lạc Long, Mẹ Âu Cơ trong một đêm huyền diệu của đất trời
và để lại 80 triệu người con, trong đó có các ngài, hiện diện cùng năm
châu nhân loại như ngày naỷ. Trên con đường các ngài đi c̣n vọng lên tiếng
kêu trầm thống của cả dân tộc chịu đựng khổ đau suốt 29 năm
quạ Hạt gạo, hạt muối mà các ngài ăn là tích lũy của bao nhiêu hy sinh gian
khổ mà dân tộc VN đă đổ xuống trong 29 năm quạ Tất cả đều
từ Dân Tộc VN mà có. Các ngài có trách nhiệm với giáo hội của các ngài th́ ai sẽ
có trách nhiệm với đất nước đâỷ Các ngài quan tâm đến sự thịnh
suy của tôn giáo các ngài, th́ ai sẽ quan tâm đến sự thịnh suy của dân tộc
VN đây? Phát triển tôn giáo là trách vụ của các bậc lănh đạo tinh thần, vâng,
nhưng trách vụ đó không nên và ngay cả không được quyền đi ngược
lại quyền lợi sống c̣n và thiêng liêng của dân tộc VN.
Hôm nay, những tiếng kêu của những con búp-bê VN biết khóc ở
Campuchia vẫn như những viên sỏi nhỏ rơi vào biển cả, không tạo nên chút
sóng lương tâm nào trong ḷng những vị lănh đạo tinh thần cao cấp nhất
VN. Trong lời kinh đêm nay, ngoài việc cầu nguyện các đấng thiêng liêng để
ban cho các ngài cuộc sống b́nh an, pḥ trợ cho tôn giáo của các ngài không ngừng phát triển,
xin các ngài dành một lời cầu nguyện cho những đứa bé 8 tuổi bất hạnh
kia được có cơ hội trở về với lớp học mẫu giáo của các
cháu như hàng triệu trẻ thơ khác trên thế giớị Tôi không tin đảng Cộng
Sản VN có thể đồng loạt bỏ tù hàng trăm nhà văn, nhà thơ một lúc nếu
họ gióng lên tiếng nói ủng hộ nhà thơ Tiêu Dao Bảo Cự, ủng hộ nhà văn
Dương Thu Hương, ủng hộ nhà trí thức phản kháng Hà Sĩ Phụ
Tôi không tin rằng đảng Cộng Sản có thể bỏ tù tất
cả trí thức VN v́ dám lên tiếng chia xẻ quan điểm dân chủ của bác sĩ Phạm
Hồng Sơn, luật sư Lê Chí Quang. Tôi không tin chế độ Cộng Sản VN bỏ
tù tất cả những người cầm bút khi họ viết về cuộc sống khổ
đau của hàng trăm ngàn phụ nữ VN trên đất Thái, Miên, Đài Loan, Nam Hàn. Cuộc
đời họ là những tác phẩm, những vở kịch, những cuốn phim đau
thương đang cần được viết lại, chiếu lại cho các thế hệ
hôm nay để đọc, để xem và và cho ngàn đời sau để tránh. Im lặng
là đồng lơạ Im lặng là dung túng. Nếu một nhà văn, nhà thơ không đủ
can đảm nói lên sự thật, viết lên sự thật của xă hội ḿnh đang sống
th́ liệu có xứng đáng để được gọi là "những phát ngôn nhân thời
đại" hay không?
Điều kiện chính trị ngày nay không giống như thời Nhân
Văn Giai Phẩm. Để nhận được viện trợ của nước ngoài
và được công nhận như một chính phủ trong cộng đồng thế giới,
Cộng Sản VN buộc ḷng phải tháo lỏng bớt chiếc dây tḥng lọng trên cổ
văn nghệ sĩ. Nhưng tiếc thay những nhà văn, nhà thơ sĩ khí thời nay
lại cũng không nhiều như thời Nhân Văn Giai Phẩm. Một tiếng nói trung thực
chưa kịp vang xa đă ch́m vào im lặng. Một tác phẩm mang tinh thần cách mạng
xă hội vừa ra đời đă bị thu hồi. Tác giả của chúng sau một chuyến
được phép "tham quan" nước ngoài đă tự nguyện biến thành những con
cừu non nằm yên trong một góc chuồng để được chờ chủ nhân sai
bảo như xưa. Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ư nghĩa mà chúng ta đă biết, với
tôi, c̣n là ngày để mỗi chúng ta nh́n lại chính ḿnh, ngày để mỗi chúng ta tự
hỏi ḿnh đă làm ǵ cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận
hành của lịch sử hôm nay. Mỗi người VN có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ
khác nhau, tôn giáo khác nhau, bức xúc khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác
nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước
phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân
loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của
ḿnh hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử
như ḿnh đang đi lùi dần vào quá khứ. Sức mạnh của dân tộc
VN không nằm trong tay thiểu số lănh đạo đảng Cộng Sản VN. Tương
lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lănh đạo đảng Cộng Sản
VN. Sinh mệnh dân tộc VN do chính nhân dân VN quyết định. Và do đó, con đường
chung để đến một điểm hẹn lịch sử huy hoàng cho con cháu, chính là
con đường dân tộc và không có một con đường nào khác. /.

|
|
|
|
|
 |
 |
 |
 |
|
|

QUỐC HẬN 2008
Tác giả : HỒ ĐÍNH
Như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) từng nói ‘ Đất
nước c̣n th́ c̣n tất cả ‘.Bởi vậy sau ngày 1-5-1975, đồng bào Miền
Nam đă mất hết mọi thứ kể cả quyền làm dân, khi chính phủ và quân lực
VNCH không c̣n tồn tại, để gánh vác và bảo vệ họ như hồi Tết Mậu
Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 và trăm ngàn chiến cuộc, khắp mọi nẽo đường
đất nước, cho tới ngay 30-4-1975 bị ră ngủ theo lệnh buông súng đầu
hàng.
Tự
ngàn xưa, quân đội Việt Nam luôn nổi tiếng kiêu hùng, nên đă đạt được
nhiều chiến công hiển hách, trong suốt ḍng lịch sử dựng và giữ nước
của dân tộc, qua các cuộc b́nh Chiêm, phá Tống-Nguyện-Minh-Thanh, khiến các nước
lân bang Lào, Miên và cả Xiêm La phải kinh hồn bạt vía.
Là con
cháu của Tổ Tiên Hồng-Lac, chúng ta dù được sinh vào thế hệ nào chăng nửa,
ra đời trong nước hay nơi hải ngoại, vẫn luôn ngưỡng mộ và hănh
diện, về công đức vĩ đại của tiền nhân, trong đó miên viễn vẫn
là quân đội bao đời,
Với
ư nghĩa thiêng liêng và cao quư trên, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, được h́nh thành trong
giai đoạn đất nước tạm chia (1955-1975), chống lại cuộc xâm lăng
bằng quân sự, của khối cọng sản đệ tam quốc tế, do Việt Cộng
Bắc Việt đảm nhận. ĐÂY LÀ MỘT CUỘC CHIẾN SINH-TỬ, của quân đội
MIỀN NAM, chống lại cuộc xâm lăng của bộ đội MIỀN BẮC, để
giữ lại phân nửa gấm vóc giang sơn của Tiền-Nhân, không lọt vào gông cùm nô
lệ của giặc đỏ.
Cho nên,
đây không phải là một cuộc chiến giữa CỘNG SẢN BẮC VIỆT VÀ NGƯỜI
MỸ, như giới truyền thông phương Tây, thời đó và ngay cả bây giờ,
đă bóp méo sự thật, mục đích đầu độc dư luận thế giới,
làm giảm uy tín của QLVNCH. Có như thế, Cộng Sản và phe ta trốn quân dịch,
mới vừa chửi Mỹ , vừa tô son vẽ mặt cho đạo quân tiền phong cong
sản tại Đông Nam Á, tức Bắc Việt có một chính nghĩa lư tưởng, đánh
đuổi Mỹ-Ngụy cứu nước.
Đây cũng
chính là nổi thảm thê chất ngất của người Lính Miền Nam, trong hai mươi
năm khói lửa. V́ định kiến, v́ buông xuôi, v́ thủ đoạn con buôn quốc tế,
tất cả đă dồn ép QLVNCH vào chân tường, trong cuộc chiến đấu đơn
độc, không hậu phương, không một chút t́nh quân-dân, cá-nước
Hai mươi
năm chiến đấu, đời lính buồn ơi là buồn, trước mặt phải
trực diện với một kẻ thù gian xảo độc ác, mất hết thiên lương
nhân tính v́ đă bị chủ nghĩa nhồi sọ, cho nên chỉ biết có giết người
để đạt mục đích được khắc sâu trong da thịt. C̣n sau lưng
bị thọc bởi hậu phương vô t́nh bạc bẽo và cuối cùng trên đầu
là đồng minh với đại bàng, luôn ŕnh rập để phản bội và bán đứng.
Mới đây có Nguyễn Thuỳ và Vũ Ngọc Tiến, đă dùng bút vẽ lên bức tranh
vân cẩu của cuộc chiến vừa qua, cho ta thấy chỉ có Bộ Đội Bắc
Việt hay Việt Cộng, v́ thèm khát đàn bà, nên chỉ có chúng mới hăm hiếp phụ
nử, chứ người lính VNCH đâu có lư do ǵ, để mà cuồng dẩm cả xác chết
của nử cán bộ VC ?
Cảm
nhận đựợc thân phận nhược tiểu của đất nước và sự
bất hạnh của dân tộc, nên người lính chấp nhận hy sinh đời trai,
để làm tṛn bổn phận cùng trách nhiệm của một con người có tim óc, cho
tới trưa ngày 30-4-1975, khi TT.Dương Văn Minh bắt buông súng đầu hàng.
Sau đó,
cọng sản Hà Nội thẳng tay cướp bóc, chẳng những mọi chiến lợi
phẩm của chính phủ VNCH từ công ốc, ngân khố, quân trang dụng, trong đó có
mười sáu tấn vàng y, của quốc gia, được Nguyễn văn Hảo giữ
lại để nạp dâng công cho Bắc Bộ Phủ. Tệ nhất là VC táng tận lương
tâm, cướp luôn tài sản mồ hôi nước mắt của đồng bào, mà trong số
này, có nhiều mẹ chiến sỉ, đă từng nuôi dấu cán binh bộ đội, ủng
hộ vàng bạc lúa gạo cho chúng, trong suốt thời gian chiến tranh.
Ngoài
việc cầy mồ người chết để trả thù bị thua VNCH trên chiến
trường, VC c̣n hành hạ những phế binh, cô nhi tử sĩ bị kẹt trong nước,
với đủ thủ đoạn học được từ KGB, mà mới nhất là
chiến dịch ‘ đuổi tận, giết tuyệt ‘ các thành phần trên, đang
sống tại các cḥi, dựng trong Nghĩa Địa Phước B́nh, Sài G̣n.
Th́ ra
cách mạng bảy mươi năm, để giải phóng đất nước, mục
đích cũng chỉ có thế thôi, nên từ đó theo thời gian, hằng ngàn huyền thoại
về ‘ Người Bộ Đội Miền Bắc, Vượt Trường Sơn Vào
Nam Đánh Mỹ Cứu Nước ‘, đă theo lớp son phấn đảng tham nhũng,
tham tàn, tham địa vị, tan biến theo lớp sóng phế hưng của cuộc đổi
đời mạt lộ.
Ba mươi
ba năm tan hàng ră ngũ, quân-dân Miền Nam đă lần lượt đồng hành, qua hết
chín tầng địa ngục trần gian nơi thiên đàng xă nghĩa. Nhưng người
lính Miền Nam, sinh ra trong khói lửa, trưởng thành chốn chiến trường, nên thễ
xác dù đă bị bầm giập tan nát, tinh thần cuả người lính vẫn nguyên vẹn
và không ai có thể thay đổi hay ngăn cản lư tưởng của họ.
‘ dấu binh lửa nước non
như cũ
kẽ hành nhân qua đó chạnh thương
phận trai già rủi chiến trường
chàng Siêu, tóc đă điểm sương
mới về .’
(Chinh Phụ Ngâm Khúc )
NHỚ ƠN ANH : NGƯỜI
LÍNH BẤT HẠNH VNCH
Hai mươi
năm chinh chiến, người Lính VNCH đă có 250.000 gục ngă trước đạn thù
và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh v́ một phần cơ
thể đă gửi lại sa trường. Hiện nay Chính Phủ cũng như QLVNCH không
c̣n nửa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc
đổi đời mạt kiếp, th́ lư tưởng và danh dự của Người Lính
, càng được sáng tỏ, trong niềm hănh diện chung của quân-dân Miền Nam.
Lịch
sử của một quốc gia là những ǵ trung thực , mà người dân của nước
đó đă ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về
cuộc nội chiến của Hoa Kỳ , xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ
của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận,
đă không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận.
Đă vậy, Hoa Kỳ c̣n ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa
nằm xuống trong cuộc chiến, v́ lư tưởng riêng của họ.
Thế
chiến 2 kết thúc, Ṭa Án quốc tế Nuremburg, chỉ kết tội những Đầu Sỏ
trong phe Trục, mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Đức-Ư-Nhật..
Năm 1920, Lănh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta, bị người Ư bắt
và tử h́nh. Nhưng chính Tổng Tư Lệnh Ư tại Bắc Phi , là người đă ở
lại pháp trường, để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya,
vốn là kẻ thù của người Ư lúc đó.
Tại
VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là
thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lănh thủ thành đương thời là Phan Thanh
Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đă oanh liệt tử tiết theo thành mất
và được kẻ thù là người Pháp, tôn kính mặc niệm như chính các tướng
lănh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đă tham chiến
tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên
đă được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lư và danh dự, để họ
hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc ngh́n thu, bên cạnh ông cha, một đời
liệt sĩ. Tất cả đă chết cho lư tưởng quốc gia, sống vinh quang và
yên nghỉ trong danh dự.
Người
lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đă phơi gan trải
mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng
bào, bị cọng sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại
gần hết cuộc chiến, ở đâu có cọng sản khủng bố cướp
bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự diện của người lính Miền Nam.
Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến
nạn, t́m đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng,
để trở về vùng quốc gia, nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến
hay người cán bộ áo đen B́nh Định Nông Thôn, Cán Bộ Xă Hội.. mới biết
được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa
dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người
VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa
khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc
muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót
cho cảnh ba đồng, ba cộc, của kiếp lính Miền Nam.
Trong
nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đă
không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương,
để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân.
Trái lại họ c̣n bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến.
Thật vậy, khi cầm súng th́ cô đơn, nửa đường bị hậu phương,
đồng minh và lănh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về th́ bị
giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.
Tiếp
tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cọng sản,
là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cọng sản
Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một ḿnh một cơi, thao túng vẽ vời
huyền thoại, bóp méo lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN
đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng.
Nhưng rồi gieo gió th́ phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên,
đă đưa toàn bộ đảng cọng sản VN ch́m trong cái vũng bùn ô nhục, khi
bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi
tưởng.
Nhưng
người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến
đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không
quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được
một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, th́ đó cũng chỉ là
sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đă biết được sự
thật cùng ư nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng
để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra
c̣n có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối
với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đ́nh người dân, qua cuộc
đổi đời, cũng đă trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một
chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người
dân coi như thần thành, nên đă công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội,
đồng bào ḿnh.
NGƯỜI LÍNH VNCH BỊ TRÍ
THỨC THIÊN TẢ ĐÂM SAU LƯNG :
Trong
lúc đất nước đang lâm nguy v́ giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần
hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xă hội miền Nam, không
phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai
của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương
chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn
khổ v́ chiến tranh do Hồ Chí Minh và cọng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để
dầy xéo non sông tổ quốc, th́ tại hậu phương Miền Nam có một số
người tự nhận ḿnh là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều
đang độ xuân th́, mập mạnh nhưng lại t́m cách đứng bên lề cuộc
chiến bằng đủ mọi lư do để được hoăn dịch, trốn nghĩa
vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu v́ sợ chết mà trốn đi lính, th́ cũng
c̣n có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để
yên cho đồng bào và đất nước ḿnh, đang trăn trở trong cơn đau
bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết,
ngoài cái lư tưởng đă thu lượm được, qua sách báo tây phương phản
chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xă hội chủ nghĩa,
trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, gái
t́nh và thời gian để đâm thọt, phá hoại.
Ngày nay
ai cũng biết, cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa
dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo
lư tưởng,ai muốn gọi thế nào cũng đều có ư nghĩa riêng với người
trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, th́ đây là một cuộc chiến đấu
chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của
hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương
tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lănh đạo của đất nước.
Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa
để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi
bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng
với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng
trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.
Chính
bọn trí thức thiên tả này, đă lợi dụng tự do báo chí ngôn luận của VNCH,
để viết lách, sáng tác nhạc nhụa bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu
phương, đâm sau lưng chiến sĩ tuyền tuyến, đang liều chết để
bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng kư sinh của chúng.
MỸ BÁN ĐỨNG VNCH CHO CỘNG
SẢN :
Bắt
đầu từ ngày 13-5-1968, Mỹ và Bắc Việt đă lén lút đi đêm với nhau tại
Paris, để t́m cách đổi chác trên thân xác của VNCH. Nhưng kẻ cắp gặp bà
già, nên dù hằng tuần có gặp nhau, Kissinger và Lê Đức Thọ vẫn không đạt được
một thỏa thuận nào. Theo tiết lộ mới đây của Kissinger, trong hồi kư
‘ The Kissinger Transcripts ‘, trong đó đă ghi chép đầy đủ về mọi
mánh lới, thủ thuật của Mỹ để ve văn Trung Cộng, chống lại Liên
Xô vào tháng 1-1972. Cũng theo sách dẫn chứng trên, th́ Kissinger đă làm đủ mọi thủ
đoạn, để đạt cho được mục đích. Trong cuộc, VNCH là con
vật tế thần, mà cặp Nixon và Kissinger đă xử dụng, nên cuối cùng dẫn
tới sự chấp nhận những điều kiện phi lư, mà Hoa Kỳ dùng bùa viện
trợ, ép buộc VNCH phải kư kết trong bản hiệp định ngưng bắn năm
1973. Riêng đối với Bắc Việt, mặt thật cũng đâu có hănh diện ǵ hơn
VNCH, trong cuơng vị làm đầy tớ Nga-Tàu. Bởi vậy, khi Liên Xô thấy Mỹ
và Trung Cộng đă liên kết với nhau, chắc chắn Tàu Cộng sẽ theo Mỹ, bắt
VC ngưng bắn có điều kiện. Bởi vậy, một mặt LX viện trợ tối
đa cho Hà Nội, đồng thời ra lệnh cho VC mở hết mặt trận này tới
chiến dịch khác, mà lần cuối cùng là ngày quốc hận 30-4-1975, đưa cả nước
VN trong ba mươi ba năm đắm ch́m trong cảnh nghèo đói, lầm than, hận thù
v́ vũng bùn ô uế của cái gọi là thiên đàng xă hội chủ nghĩa.
Người
Mỹ đă kư kết hiệp định ngưng bắn Ba Lê, chỉ với mục đích
rút quân và đem tù binh về nước, để Nixon đắc cử thêm một nhiệm
kỳ tổng thống Mỹ và Kissinger tiếp tục giữ chức lớn trong chính quyền
Hoa Kỳ. Ngoài mục đích trên, người Mỹ không cần đếm xỉa ǵ tới
tương lai cũng như số phận của người Việt, nước Việt.
Sau này,
khi VNCH đă sụp đổ, nhiều nhân vật quốc tế liên quan tới cuộc chiến
VN, đều phê b́nh sự tắc trách của Hoa Kỳ, khi dựng lên cái quái thai hiệp định
ngưng bắn, để bán đứng đồng minh của ḿnh. Chính TT. Nixon cũng đă
xác nhận lỗi lầm của ḿnh trong tác phẩm ‘ No More VietNam’ rằng tôi đă
thấy những vấn đề nan giải của hiệp định Ba Lê nhưng quan trọng
nhất trong thỏa ứơc này là đă không bắt buộc Hà Nội rút hết bộ đội
đă xâm nhập về Bắc. C̣n M. Gauvin , đại sứ Canada tại Hy Lap, nguyên chủ
tịch uỷ hội kiểm soát quốc tế (CICCS) tại VN, đă tuyên bố ‘ VNCH
bi sụp đổ hoàn toàn do quyết tâm bỏ rơi của Hoa Kỳ. Riêng cái hiệp định
ngưng bắn kư kết tại Ba Lê năm 1973, đă không phản ảnh được ư
muốn và nguyện vọng của người dân Miền Nam, là muốn sống ḥa b́nh và
không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa cọng sản, nên ngay từ năm 1954, họ
đă phải bỏ miền bắc để vào Nam, chạy trốn VC’. Nhưng phê b́nh
một cách thẳng thắn, là Sir R.Thompson ‘ Sự sống c̣n của Nam VN, đă bị
người Mỹ tước đoạt hay nói thẳng là bán đứng. Có làm như vậy,
Hoa Kỳ mới tránh cho nước ḿnh bị khỏi bị sâu xé tan nát. Một điều
nghịch lư khác là cọng sản Bắc Việt, bị bó buộc tới bàn hội nghị,
không phải để cứu họ, mà là cứu nước Mỹ. Nên dĩ nhiên Mỹ phải
đem đồng minh VNCH ra bán đứng, để đền ơn cứu mạng ‘.
Ngoài
vấn đề phủi tay tại Nam VN sau khi đă đem được tù binh và hài cốt
quân Mỹ về, quốc hội Hoa Kỳ c̣n bội ước, khi liên tục biểu quyết
các đạo luật ngăn cấm can thiệp bằng quân sự của Mỹ tại Nam
VN, cắt giảm dần quân viện, không chịu hoán đổi quân trang quân dụng, như
các thỏa ước đă kư kết . Sự bất công vô lư, đến đổi Tuỳ
Viên Quân Sự (DAO), tại Nam VN, đă phải viết ‘ Người Lính VNCH do đó, đă
phải chấp nhận sống với những nhu cầu, dưới mức b́nh thường,
làm cho tinh thần người chiến sĩ xuống thấp, v́ bị hạn chế các phương
tiên ngăn chống giặc ‘.Chỉ có Robert S McNamara, cựu bộ trưởng quốc
pḥng thời TT.John Kenedy, th́ vẫn ngoan cố để chạy tội, quên hết trách nhiệm
của ḿnh, trong tác phẩm ‘ In Retrospect : The Tragedy and Lessons Of VN ‘, bêu xấu và đổ
hết trách nhiệm làm mất nước cho QLVNCH.
Sự
thật, khi viết về Quân Lực VNCH, hầu hết các nhà quân sử trên thế giới
cũng như các Sử Gia hiện tại của VN như Nguyễn Khắc Ngữ, Chánh Đao,
Phan Nhật Nam, Ttần Đại Sỹ, Phạm Huấn, Nguyễn Đức Phương, Phạm
Phong Dinh, Trần Gia Phụng, Nguyễn Lư Tưởng, Vi Anh, Phạm Trần, Huy Phương..
kể cả Trung Tâm Ca Nhạc Kich Hải Ngoại ASIA do các con chim đầu đàn Trúc Hồ,
Nam Lộc, Việt Dũng điều khiển, đều đứng chung trên quan điểm
ca tụng tinh thần hy sinh và trách nhiệm của người lính VNCH, đối với
đất nước và đồng bào.
Nhờ
thiện chiến, có kỷ luật nghiêm minh, biết bổn phận, nên trong suốt cuộc
chiến hai mươi năm, dù lúc nào VNCH cũng bị Bắc Việt tấn công lén như
Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972.. nhưng Họ đă can trường lật ngược
hoàn cảnh, để chuyển thắng thành bại. Hầu hết lính và các cấp chỉ
huy ngoài chiến trường, đă quyết tử trong giờ thứ 25, tới khi được
lệnh bắt buông súng của Dương Văn Minh, mới chịu ră ngủ.
Mới
đây có nhiều tác phẩm được công bố như The Pategon Papers, Fires In The Lake của
Frances Fitzgeral, The Best and The Brightest của Halberstam và nhất là các hồi kư của Kissinger..
đều cho thấy từ khởi đầu cuộc chiền, đến khi tàn cuộc,
cho thấy người Mỹ luôn luôn là đạo diễn chính trong thảm kịch VN. Trong
lúc cọng sản Bắc Việt, được Tập Đoàn Cọng Sản Quốc Tế
cả Liên Hiệp Quốc, viện trợ quân sự thả dàn, th́ QLVNCH bị Hoo Kỳ qua
Viện Trợ, chèn ép bắt bó tay, nên phải chiến đấu trong nghiệt ngă để
sinh tồn.
Theo Harry
H Noyes, qua tác phẩm ‘ Herdic Allies’, với tư cach là một sĩ quan cao cấp của
Mỹ , đă chiến đấu nhiều năm ngoài mặt trận, bên cạnh QLVNCH, nên
đă có những nhận định rất thẳng thắn, trái ngược với mồm
mép mệng lưỡi bọn nhà báo và chính trị con buôn Mỹ và tây phương. Theo tác giả
trên, th́ thái độ bêu xấu hay bóp méo sự thật, nhắm vào QLVNCH, chẳng qua chỉ
là sự kỳ thị chủng tộc thường thấy của bọn da trắng, lúc
nào cũng tự xem ḿnh là văn minh, đứng trên các dân tộc khác. Một điều quan
trọng khác, là suốt cuộc chiến đẫm máu tại Nam VN, đa số dân tây phương
và Hoa Kỳ, đă bị điệp viên của khối cọng sản, củng như KGB
của Liên Xô, mua chuộc hay tuyên truyền. Do đó lúc nào họ cũng có cảm t́nh với
Bắc Việt, nên cứ bóp méo sự thật, để khinh bỉ VNCH.
Bảo
rằng QLVNCH không chịu chiến đấu, trốn trách nhiệm, chỉ muốn khoán trắng
cho quân đội Mỹ, kể cả sự oanh tạc Miền Bắc, là một ngang ngược
và phi lư. Để trả lời, nhiều người đă hỏi ngược lại người
Mỹ rằng ‘ vậy th́ từ năm 1955-1965 và cuối năm 1971-4/1975, khoảng thời
gian đó, người Mỹ hoặc chưa tới hay đă rời VN, vậy ai đă chiến
đấu với bộ đội Bắc Việt ?’. C̣n về vấn đề oanh
tạc Miền Bắc, từ đầu tới cuối có khi nào Hoa Kỳ giao trách nhiệm
cho Không Quân VNCH, cũng như chịu cung cấp cho họ các loại phi cơ chiến đấu
tối tân, để chiến đấu cho có hiệu quả. Một bí mật khác, là người
Mỹ dành độc quyền oanh tạc Miền Bắc, để thi hành lệnh của
Hoa Thịnh Đốn, là đem gần hết số bom đổ xuống biển hay núi rừng
không phải là mục tiêu quân sự cần tiêu diệt. Bởi vậy làm sao dám giao nhiệm
cho KQ.VNCH ?
C̣n trong
thời gian Mỹ tham chiến tại VN, mở các cuộc hành quân tiêu diệt cọng sản.
Tất cả đều là HÀNH QUÂN HỖN HỢP, giữa quân ĐồngMinh-Hoa Kỳ và VNCH, tiêu
biểu như HQ Cedar Faces tại Vùng Tam Giác Sắt (B́nh Dương-Hậu Nghĩa), đầu
tháng 1-1967, tiếp theo là HQ Toledo, mục đích càn quét Chiến Khu C và Cục R, do Lực Lượng
hỗn hợp, gồm Lữ Đoàn 173 Nhảy Dù-Hoa Kỳ cùng 2 Tiểu Đoàn 33-35/Biệt Động
Quân/VNCH đảm trách. Đặc biệt tại Điện Biên Phủ KHE SANH cuối năm 1967,
vẫn có quân VNCH tham dư, đó là TD37- BDQ, thuộc Liên Đoàn 1/BDQ của Quân Đoàn I.
Sau cuộc chiến, để chạy tội bán đứng đồng minh, cũng như
phản bội Tổ Quốc và đồng bào ḿnh, Hoa Kỳ và bọn khoa bảng-trí thức
thân cộng Miền Nam, những người muôn năm trong ḍng sử Việt, được
bia đời phong cho danh hiệu là ‘ TRÍ THỨC CHỒN LÙI’, c̣n các lănh tụ cộng
sản như Stalin, Mao Trạch Đông, kể cả Hồ Chí Minh, coi rẻ hơn CỤC PHÂN
NGƯỜI v́ suốt kiếp chẳng làm được một điều ǵ tốt hay
ích lợi, để giúp cho đất nước và đồng bào. Bọn trí thức này
ôm chân níu áo Người Việt tị nạn khắp các nẻo đường hải ngoại,
trong lúc vẫn sống cao sang quyền thế như lúc c̣n trà trộn trong các Đại Học,
Chùa-Nhà Thờ, Ṭa Báo,sân khấu, pḥng trà.. và trên các trang sách-thơ cuối tuần, vẫn chứng
nào tật nấy, không hề thay đổi lương tâm một chút ǵ, dù phong trần đă
nếm, vinh nhục bề bề và trên hết là vẩn bám vào Người Việt Tị Nạn
Cộng Sản để mà ra báo, làm báo và sinh tồn, dù rằng chúng đă nói là ĐĂ ĐI HẾT
BIỂN NAY PHẢI VỀ NGUỒN nhưng lại không dám bán nhà, bán chùa, bỏ sở và cuộc
sống thừa mứa tại Mỹ, để về sống với Việt Cộng, đạo
pháp để hưởng Vinh Hoa Phú Quư, Tự Do Dân Chủ, tự do tôn giáo, tự do quyên tiền
cúng dường của khách thập phương.. trong Xă Nghĩa Thiên Đàng, như chúng hằng
ca tụng.
Chính
người Mỹ và bọn trí thức-khoa bảng thân cộng này, trước sau vẫn
đổ trách nhiệm làm sụp đổ Miền Nam cho các cấp lănh đạo của
VNCH. Riêng sự bảo rằng VNCH không có lănh đạo xứng đáng, ngang cơ để
đối đầu với cáo già Hồ Chí Minh của Bắc Việt, sau khi TT Ngô Đ́nh Diệm
bị hạ sát vào ngày 1-11-1963, là điều suy nghĩ quá đáng và đâu có khác ǵ việc
Mỹ nói QLVNCH không chiến đấu, mà chỉ giao hết cho quân đội Hoa Kỳ.
Nhưng
mai mĩa nhất vẫn là lời xác nhận của Kissinger , khi cho bạch hóa các tài liệu
cũ liên quan tới chiến cuộc Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975 ) ‘ Mỹ
đă chơi với Trung Cộng từ năm 1972, vậy th́ bán Miền Nam VNCH cho Cộng
Sản Quốc Tế Bắc Việt, qua Hiệp Định Paris 1973, cũng đâu có ǵ lạ
? ‘
Sự
thật, QLVNCH từ 1960-1975, đă có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo
đức, văn vơ vẹn toàn. Họ được đào tạo từ các quân trường
nổi tiếng nhất vùng Đông Nam Á thời đó như Trường Vơ Bị Quốc Gia
Đà Lạt, Trường Bộ Binh Thủ Đức, Trường Đại Học Chiến Tranh
Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành
Chánh và Cảnh Sát.. cũng như Trường Đại Học Quân Sự.
Ngày xưa
người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang,
giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối t́nh xưa :
‘..xin
v́ chàng, xếp bào cỡi giáp
xin v́ chàng giũ lớp phong sương
v́ chàng tay chuốc chén vàng
v́
chàng điểm phấn đeo hương năo nùng..’
( Chinh
Phụ Ngâm ố Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm)
Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, v́ suốt cuộc
chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận th́ chống trả với kẻ thù trong
nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục
và chết trong uất hận nghẹn ngào.
Thử
hỏi trong cơi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Trong lúc đă
có không biết bao nhiêu người hiện nay, đang sống thản nhiên khắp các nẻo
đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn
sống nhờ sự bảo bọc của lính. Trong số này có rất nhiều người
đang dấn thân lo chuyện non nước. Không biết trong tâm tư của họ, có một
giây phút nào, do lương tâm xao động, khiến họ chợt nghĩ tới những
người xưa đă VỊ QUỐC VONG THÂN ? Cũng may hầu hết người Miền
Nam, xưa nay vẫn biết ơn người lính năm nào, nhất là sau ba mươi năm
qua, đă biết hết cảnh đổi đời oan nghiệt.
Xưa
NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an
dân. Nay những người lính già c̣n sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ
của lính năm nào, đă và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một
ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no
ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.
‘..tội
nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đă phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô..’
Xóm Cồn
Mùa Quốc Hận Tháng 4-2008
HỒ ĐINH

|
|
|
 |
 |
 |
|
|
|
|